Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Trịnh Công Sơn

14 trả lời, 1.942 lượt xem — Trang 1 / 1
TRỊNH CÔNG SƠN : CÁI ĐIỀU CHƯA NÓI
Người Việt Nam
quên mình sống :
Người Việt nhìn nhau xa lạ
Người Việt nhìn nhau căm hờn
(Trịnh Công Sơn:
Ngày Dài Trên Quê Hương)
Ai bảo cho ngươi gánh nạn đời
Thôi mất thì thôi, còn cũng khổ!

(Nguyễn Đình Chiểu)
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS) qua đời cũng đã một tháng. Bây giờ thì những xúc động ban đầu đã có đủ thời gian để lắng xuống, con người đã trở lại bình tỉnh để nghĩ xem do đâu mà mình yêu mến TCS. Có cái gì nơi TCS đã làm cho bao nhiêu triệu người Việt thấy rất bàng hoàng khi nghe tin anh nằm xuống ?
Tôi sống xa quê hương từ khi còn trẻ, có gặp anh Sơn một vài lần ngắn ngủi nhưng không thể bảo là thực sự có quen anh. Cái "quen biết" với anh, đúng ra, cũng chỉ như bao nhiêu người khác là "quen biết" âm nhạc của anh – thu nhận từ một khoảng rất xa – thế thôi . Nhưng trong quá trình mình sống và lớn lên, không nhạc sĩ nào gây được ấn tượng sâu sắc trong tôi như TCS.
Vì nhạc của TCS rất quyến rũ, tại sao thì tôi không cắt nghĩa được. Có lẽ do lời ca rất nên thơ, với những từ dùng rất khéo, và tất cả nằm trong một cái gì tha thiết, nhẹ nhàng. Trong lời ca lại có nhiều tính riêng chung nên đáp đúng cái tình tự sâu kín trong mỗi con người.
Nhạc của anh là nhạc tình. Tình đó là tình yêu, mà cũng là tình thương, và tình dân tộc. Tôi vốn thích nhạc trữ tình, mà nhạc của anh lãng mạn, tình cảm. Anh là người nhỏ nhẹ, lời hát cũng nhỏ nhẹ, cái yêu thương, phẫn nộ hay đau xót cũng nhỏ nhẹ mà nói lên. Vì thế mà thấm thía.
Người Việt vốn đa tình và sống thiêng về nội tâm, mà nhạc của anh rất nên thơ. Lộng trong đó thỉnh thoảng lại có man mác những tư tưởng của Nam Hoa Trang Tử, của đạo Phật (hư vô, cát bụi, vô thường, "chợt thấy trong ta hiện bóng con người” vv…). Trong nhạc của anh ta thấy được bên chữ tâm đậm nét còn có một chữ ngộ nằm tiềm ẩn. Anh lại hướng thượng: TCS không làm những loại Tục Ca bao giờ !
Và bên cái tình yêu lai láng lại có cả một tình lớn dân tộc. Thời của anh, thưở đó, có lẽ là một trong những thời kỳ đau đớn nhất của lịch sử Việt Nam: Chiến tranh với ngoại bang để dành độc lập, đồng thời cũng có những cái nghiệt ngả trong nhau giữa người Việt, để vấn đề càng phức tạp thêm. Thưở đó, từ trong lòng mỗi người, dù ở bất cứ khuynh hướng nào, cũng thấy trổi dậy một niềm thương dân tộc mình: Cuộc chiến tranh vì không tương xứng lực lượng, và không đồng văn hóa, nên đã quá dã man. Các giá trị tinh thần của xã hội miền Nam lại đảo lộn do sự trấn đóng của hơn nửa triệu quân Mỹ. Trong cái ý thức về thân phận nhược tiểu của mình, con người Việt Nam khao khát hòa bình, mong chấm dứt chiến tranh, chém giết.
Niềm đau nói trên, người Việt Nam nào cũng đều có, cọng thêm với cái đau đớn riêng của mỗi kiếp người. Nhân sinh quan Việt Nam do đó mà yếm thế, và cần có tình thương, niềm tin và hy vọng. Tất cả những tình huống này, TCS đã diễn tả được, bằng cả nhạc và lời ca.
*

 Anh Sơn lớn hơn thế hệ của chúng tôi trên dưới mười năm. Ngày anh trình diễn ra mắt công chúng, tôi còn ở những năm cuối Trung Học. Thưở đó, nhạc của anh chưa có gì đặc sắc, nói chung chỉ là những bản tình ca như Hạ Trắng, Ướt Mi vv… Chúng chưa cho thấy có gì mới mẻ hơn những bản Tà Áo Xanh, Hương Xưa, Ai Lên Xứ Hoa Đào vv.. ; còn về mặt tình quê hương thì những Nương Chiều, Tiếng Nước Tôi vv… vẫn còn chiếm địa vị độc tôn. Những bài hát khác, đa số là nhạc phục vụ cho chiến tranh, thì lại đầy nhan nhãn. Không kể mấy bài tầm thường như kiểu "đi quân dịch là thương nòi giống ", những bài khá hơn, tuy mới nghe thì hay, nhưng ngay sau đó lại thấy nhàm :

Anh đi chiến dịch xa vời
Lòng súng nhân đạo cứu người lầm than (...)
Không quên lời xưa đã ước thề
Dâng cả đời trai với sa trường
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề
[ Anh Đi Chiến Dịch ]
Đó là giai đoạn “những năm xáo trộn" sau khi ông Diệm bị giết vào tháng 11-1963. Màn đen của chiến tranh đã bao phủ khắp nơi . Con người sống trong nỗi lo âu, thấy tương lai mơ hồ, trôi nổi . Trong cuộc sống thì hằng ngày gặp hết cuộc đảo chính này đến cuộc đảo chính khác, các thế lực tôn giáo thì chống đối nhà cầm quyền và chống đối lẫn nhau… Rồi quân đội Mỹ đổ vào, xã hội miền Nam thay đổi lớn theo cuộc chiến, với thuốc khai quang, với “oanh kích tự do”, với pháo đài bay B-52 san bằng rừng núi lẫn ruộng đồng … , rồi không quân Mỹ đánh phá miền Bắc, vv…
Trước trạng huống đó, người Việt dĩ nhiên là đau lòng, và một trong những người dám nói lên suy nghĩ của mình là TCS. Giữa một cơn cuồng phong rầm rộ ca ngợi cho chiến tranh, tiếng nhạc của anh vang lên, thiết tha, trăn trở:

Ôi đêm dài và cơn bão rớt
Trên giải đất quê hương khô cằn
Ôi bom đạn cày lên những xác
Trên đồng lúa hôm nay bỏ hoang
Ôi da vàng Việt Nam vỡ nát
Xương thịt đó thiêng liêng vô vàn
[TCS: Đêm Bây Giờ, Đêm Mai]
Tiếng ca nhắc nhở về một thực tại băng hoại, trong đó những chết chóc không chỉ thuần về vật chất nhưng còn thống khổ hơn:

Ngày thật dài trong âu lo
Rồi từng đêm bom đạn phá
Người Việt nhìn nhau xa lạ
Người Việt nhìn nhau căm hờn ...
[TCS: Ngày Dài Trên Quê Hương]
*

Điều đã làm TCS khác xa với các nhạc sĩ khác là những suy nghĩ của anh tiến rất nhanh. Thoạt tiên - với những Diễm Xưa, Tuổi Đá Buồn, Nhìn Những Mùa Thu Đi, vv.., người ta ngỡ anh chỉ là một nhạc sĩ có nhiều nét đặc sắc riêng thôi, và - ngoài tình ca ra - anh sẽ không khác gì số đông văn nghệ sĩ “bềnh bồng " lúc đó:

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ
Một đời người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang vu
[Vũ Hoàng Chương]
Bởi vì khi mới bắt đầu, nhạc của anh đã phản ảnh cái tình huống yếm thế của người Việt, thấy buồn về "thân phận da vàng", trong đó con nguời mang kiếp sống “từng ngày từng xót xa …" [Xin Mặt Trời Ngủ Yên]. Nhưng anh không dừng ở đó mà đi nhanh vào những suy tư về cuộc đời ("ôi quê hương đã lầm than, sao còn, còn chiến tranh"), và trong anh có nhiều nét xây dựng rất tích cực, trong sáng:

Cho tôi đi xây lại chuyện tình
Cho tôi đi nâng dậy hoà bình
Cho tôi đi qua tận gập ghềnh
Nhìn giòng máu trong tim anh
[TCS: Xin Cho Tôi]
Cái đặc điểm của TCS là dưới một hình thức uyên áo gần như lãng mạn viễn mơ, anh đã nói lên được những hiện thực phê phán. Rồi từ hiện thực phê phán, anh bước thêm một bước nữa: dấn thân nhập cuộc. Hãy nghe TCS huy động niềm tin trong lòng người Việt:

Ta bước bước đi, bước bước hoài trên quê hương dấu yêu này
Ta bước bước đi, cất tiếng cười thách đố ai cướp đất này (…)
Đạn bom ơi, lòng tham ơi, khí giới nào diệt nỗi dân ta
Triệu chân anh, triệu chân em, hỡi ba miền vùng lên cách mạng
Hãy xoá hết dấu vết buồn thương,
Ngày mai đây những con đường Nam Bắc nở hoa.
[TCS: Chưa Mòn Giấc Mơ + Huế Sài Gòn Hà Nội]
Chính anh cũng đi tiên phong, tự mình làm một "tiếng kêu trong sa mạc", kêu gọi tình thương dân tộc. Quần chúng yêu mến anh cũng vì trong ý hướng của anh luôn luôn mang ý niệm "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một",. Anh chống lại với cái ác, chống chiến tranh, và cổ vũ niềm hy vọng :

Vì quê hương sẽ có ngày hoà bình
Máu xương hai miền chung lòng thế giới
Ngày hôm nay tôi chưa về Hà Nội
Dù hôm nay em chưa tới Sài Gòn
Nhưng trong lòng em và tôi
Đều nói tiếng: VIỆT NAM
[TCS: Chưa Mất Niềm Tin]
*

Có lẽ không phải tình cờ mà cùng lúc TCS đang tích cực dấn thân với những tác phẩm như "Huê’ Sài Gòn Hà Nội " hay "Nối Vòng Tay Lớn" ... thì trong giới trí thức trẻ ở Sài Gòn cũng đã đưa ra bao nhiêu lời nhắn gọi . Đó là nhạc:

Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn cầm súng với cầm gươm
Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn đi giết bạn bè anh em
Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn bán nước mà làm quan …
[Miên Đức Thắng: Lời Ru]
Hay là thơ:

Cả giống nòi ta đang rên siết từng giờ
Đau ngất núi, oán đầy sông chẳng xiết
Hãy đứng dậy ở bên bờ cõi chết
Cứu nhau thôi, anh chị bạn bè ơi
Cám dỗ, gian nguy, tất cả hẹn nơi người !
[tác giả ?]
Giữa TCS và những người này, ai đã ảnh hưởng ai, chúng ta hãy để về sau cho những nghiên cứu gia tìm tòi. Chỉ biết là những tập Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam vv.. của TCS ra đời từ khoảng 1967 trong khi nhạc của Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập vv... đến với quần chúng cũng phải từ 1970 trở đi . Nhà văn Thế Uyên kể lại (trong một bài ở tạp chí hay sách nào đó, tôi quên mất) [*1], có một nhóm người đã họp nhau tại "Tuyệt Tình Cốc" ở Huế. Theo Thế Uyên, hôm đó có người của đủ các phe phái, “quốc gia”, “cọng sản” vv.., có cả TCS. Họ bảo với nhau là "vạch ruột mà nói" và hứa "không nhìn thấy sao trắng bên này, sao đỏ bên kia" (bản thân Thế Uyên hình như là người của VN Quốc Dân Đảng). Sau này, gặp TCS vào năm 1986, tôi hỏi anh chuyện đó có hay không, anh bảo có. Nhưng anh chỉ nói vắn tắt: “họp nhau rồi chia ra mỗi đứa về làm một chuyện". Hỏi anh làm chuyện gì, anh bảo: "viết ". Tôi định hỏi viết gì, nhưng nghĩ lại những gì anh viết ra đều có xuất bản, ai cũng biết, nên thôi.
*

Một nét đặc sắc khác của TCS là tiếng kêu của anh luôn luôn phát xuất từ 1 con tim yêu thương, nhắc nhủ "Hãy Yêu Nhau Đi", hãy nối lại tình thương đã nhiều đổ nát:
Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay …
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng
Biển xanh, sông gấm, nối liền một vòng tử sinh
[TCS: Nối Vòng Tay Lớn]
Tuy không ai nhận ra một cách rõ rệt, nhưng trong hơi hướm của nhạc TCS, người Việt vẫn cảm được một tình yêu chân thành với quê hương đất nước. Nhạc của anh là nét nối dài của tình yêu nước thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, còn man mác trong lòng mỗi cá nhân qua từng thế hệ :

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dát bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây...
[Nguyễn Đình Chiểu: Chạy Giặc ]

Tò le kèn thổi tiếng năm ba
Nghe lọt vào tai dạ xót xa
Uốn khúc sông Rồng mờ mịt khói
Vắng hoe cồn Phụng ủ dàu hoa
Tan nhà cám nỗi cơn ly hận
Cắt đất than ôi cuộc giảng hoà
[Phan Văn Trị: Qua Vĩnh Long]
Và cái tình dân tộc, trăm con của cùng một mẹ:

Lẽ nào ta lại giết ta !
Có đâu lương giáo một nhà hại nhau ?
[Phan Bội Châu: Hải Ngoại Huyết Thư]
Có mưa có gió có trời
Có non có nước có người có ta
Trước sau Nam Bắc một nhà
[Phan Bội Châu: Trùng Quang Tâm Sử]
Tôi có người yêu chết trận Pleimei
Tôi có người yêu ở chiến khu D
Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà Nội
Chết vội vàng dọc theo biên giới ...
Tôi muốn yêu anh, yêu Viêt Nam
Ngày mới lớn, tai nghe quen đạn mìn
[TCS: Tôi Có Người Yêu]
*

Ở TCS, ta còn thấy được cái chân tình cao thượng. Những năm đi “học tập" về, nhìn đi ngó lại quanh mình bỗng thấy ban bè lần lượt đi "chui" hết, anh sống trong cô đơn. Nhưng anh biết tìm niềm vui cho mình để sống ["mỗi ngày tôi chọn một niềm vui"], đồng thời quên cái cô quạnh để “lấy câu khẳng khái" mà an ủi người ra đi:

Em ra đi, nơi này vẫn thế
Vẫn có em trong tim của mẹ
Thành phố vẫn có những ước mơ
Vẫn sống thiết tha
Vẫn lấp lánh hoa trên đường đi
[TCS: Em Còn Nhơ’ Hay Em Đã Quên]
Tha thiết đến như vậy, nhưng “vô lượng chúng sinh " đã không hiểu, và nhiều kẻ đã hăng hái đi ném cả một cơn phẫn nộ vào anh. Tuy vậy đồng bào trong nước hiểu đươc. Họ biết trong câu nhạc của anh là cả một tấm lòng vị tha truyền thống của người Việt. Lời anh là lời của một người thân trong gia đình, nhắn nhủ với kẻ đi xa rằng kẻ ở lại bao giờ cũng:

Vẫn để lòng theo người lận đận
Vẫn hằng trông đếm bước "em" đi
[Thê’ Lữ: Giây Phút Chạnh Lòng]
Và đại diện cho cả gia đình là TCS, một người lẽ ra phải được hiểu là đã:

Lấy câu khẳng khái tiễn đưa nhau
" Anh " muốn cho ta chớ thảm sầu
Nhưng chính lòng " anh " đương thổn thức
(Buồn kia " anh " dấu được ta đâu !)
[Thê’ Lữ: Giây Phút Chạnh Lòng]
*

Có lẽ cái lẽ sống là điều quan trọng nhất đối với TCS, còn những thứ khác - như anh vẫn luôn nhận định - đều chỉ là cát bụi . Coi trọng lẽ sống nghĩa là luôn đi tìm một lối sống có ý nghĩa, và làm sao đạt được cái ý muốn đó. Nó chắc chắn không phải sống để :

Nỡ nghe tiếng loạn đem tai rửa
Đành thấy thằng gian để mắt trừng
[tác giả ?]
Biết như thế để hiểu được niềm đaucủa con người mang trong mình một nhân sinh quan rõ rệt về lẽ sống; nhưng lắm khi vì hoàn cảnh, phải đành im lặng, ẩn nhẫn, ngậm ngùi.
*

Ta cần nhớ rằng lịch sử Việt Nam là một lịch sử đầy bao trùm của bạo lực. Trước hết là cái "di sản đắng cay" có từ trước, như anh nói:

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
[TCS: Gia Tài Của Mẹ]
Mẹ để lại cho con những gì? Chiến tranh do bạo lực bên ngoài mang đến. Chết chóc, lầm than. Bạo lực này lại tạo ra "một lũ bội tình", để chạy theo nó, áp bức anh em mình. Đó là bạo lực bên trong. Hai bạo lực này chung sức nhau tạo trong đầu óc người Việt những mặc cảm tự ti, sợ sệt, ích kỷ, quên tình nguời, hay thù oán vv… Hiện tượng "tha hoá trên chính quê hương mình" hay tâm lý muốn làm "những kẻ đứng bên lề" là những điều phổ biến mà giới trí thức Việt Nam đã nhận định được trong thập niên 1960-1970. [*2].
Đây không phải là một điều mới . Nó manh nha từ thời Tây mới vào, và đã sớm lan tràn từ thời cụ Phan Bội Châu kia . Các cụ goi nó là cái vạ "chết lòng", nghĩa là "xác tuy còn đó " nhưng tấm lòng đã chết. Cho nên mới có Đông Kinh Nghĩa Thục [ĐKNT] và phong trào Duy Tân đi song song với việc vũ trang giành độc lập, để “gọi hồn nước", gọi quốc dân hãy

"bỏ lòng mê lại, bỏ lòng tham đi
".
Vì các cụ thất bại nên cái "vạ chết lòng " còn sống, và khoẻ mạnh thêm ra ! Vì thế muốn sống có ý nghĩa, trước tiên người Việt Nam phải biết "dám " suy nghĩ, trước khi dám có một thái độ, và hành động.
Người cố gắng khơi dậy lại tinh thần của Phan Bội Châu và DKNT cho cả nước có lại "chút thiên lương" là tiên sinh Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Thời của Tiên Sinh, chế độ thực dân Pháp đã thành công lớn trong việc tha hoá người Việt với mơ mộng, theo mới vv… của Tây Phương qua áo quần, kiểu đầu chải bốp, mốt nhảy Tango và say mê những lãng mạn viễn mơ qua Tố Tâm Đạm Thủy , Lan và Điệp, phong trào "Học Kiều" của Phạm Quỳnh, vv… Nhà thơ Tản Đà, trong hình thức lãng mạn thoát ly hầu tránh con mắt dòm ngó của bạo lực - và cũng để làm viên kẹo bọc đường cho đám đông u tối thấy dễ nuốt - đã khéo léo kéo người Việt lại với cái ý thức non nước:

Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời hẹn nước thề non…
[Thề Non Nước]

Sơn hải hỡi ai lời thệ ước
Gió hiu trăng lạnh tiếng ve sầu !
[Sơ Thu Hoài Cảm]
Hay là

Nọ bức dư đồ ngắm thử coi
Sông sông núi núi khéo bia cười
Biết bao thưở trước công vờn vẽ
Sao đến bây giờ rách tả tơi
Ấy trước ông cha mua để lại
Mà sau con cháu lấy làm chơi
[Vịnh Bức Dư Đồ Rách]
Tản Đà không thành công trực tiếp, nhưng cái hạt mầm Tiên Sinh gieo đã thấm dần qua nhiều thế hệ để sống lại trong một TCS. Nơi TCS, ta có thể thấy được một loại tài hoa trữ tình mênh mông man mác và một ý hướng gắng gỏi rất "Tản Đà". TCS đã có nói về mình: " Tôi chỉ là tên hát rong, đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo" [*3]. Câu này phải được hiểu tương đương với “ta là tiếng kêu trong sa mạc ! " kêu gọi

Hãy yêu nhau đi ( khung trời u tối ) ...
Dù đêm súng đạn, dù sáng mưa bom
[TCS: Hãy Yêu Nhau Đi]
vì - như thế hệ đàn anh của mình - TCS cũng hiểu :

Ngày mai sáng lạn màu non nước,
Cốt nhất làm sao tự buổi này

[Nguyễn Bính: Hành Phương Nam]
Và muốn thế :

Tuổi thanh niên phải đi bằng những bước tiền phong
[TCS: Huê’ Sài Gòn Hà Nội]
Nói cách khác, giống như Tản Đà, TCS đã trang bị tinh thần cho người Việt bằng cách cố gắng làm sống lại cái "thiên lương" trong lòng nguời, và nhắc người Việt suy nghĩ về con người và xã hội . Ta thấy pha lẫn trong cái uyên áo gần như lãng mạn viễn mơ của Gọi Tên Bốn Mùa, Như Cánh Vạc Bay, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng vv... những tác phẩm khác của TCS đều có mang một nội dung tích cực dấn thân theo hướng hiện thực phê phán. Vì nhận định được “thân phận da vàng " của Việt Nam chịu đau khổ do bạo lực chiến tranh, anh chống lại bạo lực, và kêu gọi yêu thương: Hãy biết nhìn lại anh em, tìm hoà bình, thoát cái "u mê nghìn năm ".
Muốn thế, phải có một ước mơ, một niềm tin, một xác định rõ ràng "dân tộc Việt Nam là một " - để biết thương yêu nhau, "lòng Nam trông Bắc, tình dâng trong mắt", và bền lòng chờ tới lúc:

... quê hương sẽ có ngày hoà bình
Máu xương hai miền chung lòng thế giới

Suy nghĩ như thế, và dám công khai lên tiếng, anh có bị quân cảnh Sài Gòn lùng bắt liên tiếp là điều dễ hiểu . Sống trốn chui trốn nhũi, nhưng không vì thế mà TCS bỏ đi những điều ôm ấp của mình.
*

Nhưng – cũng như tất cả chúng ta – anh làm sao biết được đủ mọi thứ? Phải sau 1975 cả nước mới bắt đầu hiểu được những vấn đề xã hội và chính trị ở miền Bắc. Rồi cũng phải rất lâu sau 1975 người người mới hiểu thêm được cái hiện thực khách quan của xã hội nước ta trong gần nửa thế kỷ qua ....
Dĩ nhiên không phải vì thế mà những nhận định và chủ trương của TCS đã không đúng. Nó vẫn cao thượng, vẫn có một giá trị vững chải trong lịch sử của Việt Nam và của nhân loại tiến bộ. Ta thấy được tất cả những điều anh đã làm trước 1975 là việc làm của một sĩ phu Việt Nam sống theo truyền thống yêu nước:

Ở Hán đành lòng phò lợn 
Hán Oán Tần ra sức đuổi hươu Tần 
Trông Nam chạnh tủi cành hoa ủ
Ngó Bắc ngùi thương đám bạch vân

[Phan Văn Trị : Cảm Hoài]
Và:

Cương thường bởi biết nên mang nặng
Hễ đứng làm trai trả nợ đời

[Nguyễn Hữu Huân: Lâm Thì Cảm Tác]
*

Có thể nói khúc ngoặc quan trọng khác trong cuộc đời TCS là giai đoạn anh đi “học tập cải tạo". Đó là bốn năm “dựa lưng cõi chết", vì chính anh đã kể lại: "làm giữa bãi mìn, lâu lâu có người chết... Có hoài! " [*4] . Lòng anh đối với đất nước như thế, với đồng bào như thế, tại sao anh phải đi “học tập"? Đây là câu hỏi của người người khắp chốn, và cũng của mai hậu: Hà tội kiến di ? [= tội gì mà phải đi đày ?] [*5].
Nhưng hỏi như thế là không nhớ lịch sử Việt Nam: trong rất nhiều năm từ 1975 cho đến khi có “Đổi Mới", [nghĩa là giai đoạn anh đi “học tập"], cái định nghĩa chính thức của yêu nước là phải "Yêu Nước Xã Hội Chủ Nghĩa ". TCS là người yêu nước, điều đó ai cũng biết, nhưng chưa chắc anh yêu XHCN. Mặt khác, anh là người có tài, điều này không ai chối cãi, nhưng Thế Lữ, Quang Dũng, Nguyễn Bính, Văn Cao vv.. đều có tài mà vẫn phải "bị lận đận" thì sao? Vả lại, bên những cái to lớn thường có những chuyện nhỏ đi “ăn theo” - và đố kỵ cá nhân thường là một điều nhỏ nhưng vẫn đủ để làm long đong nhiều tuấn kiệt. Chỉ ví dụ một trường hợp của Quang Dũng thôi: ông “lận đận" chỉ vì tài ông sáng chói và được ái mộ hơn người khác. Sau 1975, một nguời bạn của Quang Dũng đi trong Nam về, vừa gặp anh là reo lên: "bài Đôi Mắt Người Sơn Tây của cậu, trong Nam họ thích lắm. Có tới hai bài phổ nhạc khác nhau, bài nào cũng hay cả ". Quang Dũng lật đật bịt miệng anh bạn lại, bảo nhỏ: "suỵt, nói khe khẽ chứ, kẻo khổ tôi" [*6].
Có lần TCS nói về nhạc của mình: "mỗi câu, mỗi khúc riêng thì không có nghĩa gì, nhưng tất cả hợp lại với nhau thì nó nói lên được một cái gì đó " [*7]. Với cái tài như thế, TCS bao giờ cũng có thể viết được một bản nhạc "có gì mà không có gì", nghĩa là không có gì để "buộc" được anh, nhưng hát lên ai cũng hiểu, và đó là điều tốt cho nghệ thuật mà "không tốt" cho chính trị Phải chăng vì thế nên đã có một cái gì đó cho TCS luôn luôn nhớ mà "tự kiểm duyệt " thì... "tốt nhất"? (!)
Vì nhạc đi vào lòng người dễ hơn cả thơ, mà TCS là người đã dám suy tư, và dám dấn thân ! Bên cạnh cái can đảm ấy, cái tài hoa ấy, họ Trịnh lại có được cả mấy chục triệu “tín đồ” trên suốt hai miền Nam Bắc và bạn bè ái mộ khắp năm châu . Mỗi câu, mỗi chữ mà họ Trịnh viết ra, các “tín đồ” sẽ nhớ kỹ trong lòng ...
*

Kết quả là "Từ ấy" không ai còn thấy những nét hiện thực phê phán trong nhạc TCS nữa, tuy anh vẫn còn sáng tác. Những câu:

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười
Và như thế tôi sống vui từng ngày

là cái thông điệp từ anh, được mọi người – bây giờ và các thế hệ mai sau – xem như là một lời nhắn nhủ rõ ràng dứt khoát. Bởi vì TCS, ngay cả những giây phút cuối nằm trên giường bệnh, vẫn còn nhắc lại [qua phỏng vấn của báo chí tại Sài Gòn ] rằng anh xem sự sống là điều quan trọng nhất trong mọi sự.
Nói cách khác, "Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui" và "Tôi Ơi Đừng Thất Vọng" là thái độ sống của anh trong khoảng 25 năm cuối của đời mình. Trong thời gian này, "Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên" là viên kim cương lớn đầy tình người mà anh đã để lại cho hậu thế.
Như đã nói ở các phần trước, con người của anh không thể là con người sống thờ ơ, quay lưng lại với tiền đồ đất nước và hạnh phúc của dân chúng. Trong 25 năm qua từ 1975, xã hội Việt Nam thay đổi rất nhiều, không phải là anh không thấy: thống nhất nhanh chóng, "Học Tập Cải Tạo" ở miền Nam, vượt biên, "Đánh Tư Sản", chiến tranh Campuchia, Trung Quốc xâm lược, hợp tác hoá nông nghiệp với "nén " rồi "bung" , Nghị Quyết 6, Đổi Mới, khối XHCN tan rã, Mở Cửa Kinh Tế, đầu tư ồ ạt, đốn rừng ồ ạt, bão lụt miền Trung vv... Anh sống với giới văn nghệ sĩ là những người nhạy cảm nhất đối với mọi biến chuyển của thời cuộc, chuyện gì anh lại chẳng biết? Kẻ ở rất xa quê hương mà còn sốt ruột theo những thay đổi lớn này [*8], huống chi anh ở ngay trong lòng quê hương ?
Nhưng TCS đã nói dứt khoát: "Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui", ai còn nỡ bắt anh nói gì thêm nữa ? Có ai trong chúng ta đã lúc nào ngừng nghỉ lại để nghe thêm một lần tiếng hát từ anh:

Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì

[TCS: Một Cõi Đi Về]
*

Anh có cái may mắn là gia đình cũng khá giả nên không phải bươn chải kiếm ăn, thành ra không ai có thể dùng trò "thắt bao tử " để lung lay hay ép buộc anh được. Cái tính của anh ai cũng biết rõ ràng: thời trước 1975, thay vì phải trốn chui trốn nhũi, nếu anh muốn có tiền bac và chức tước, với tài năng của mình, ít ra anh không được làm thi bá [hay nhạc bá] để chủ chốt cho một chương trình 1 văn đàn nào đó - thì cũng dễ dàng được cử đi trình diễn ngoại quốc vv… Sẽ có đủ hết, nếu anh chịu đưa ra vài câu tuyên truyền cho giới quyền lực kiểu như " anh là lính đa tình " hay là

Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ đi Tám
Vào nhập ngũ hết buồn

[Phạm Duy: Sức Mấy Mà Buồn]
Thời sau này, nếu cũng vì danh lợi, anh vẫn có thể có hàng vạn cơ hội để “nổi ”. Nhưng suốt đời anh, TCS đã không bao giờ dùng tài năng của mình để mưu cầu lợi lộc, hay lừa gạt dân chúng bằng cách làm mập mờ lịch sử. Không, anh có một nhận định, một chọn lựa, và sống chung tình với chọn lựa đó.
Việc anh không bỏ nước ra đi cũng là một chọn lựa . Nói như thi sĩ nào đó: "con chim cu gáy nó vốn ở đồng". Không phải là anh không đi được, nhưng anh không muốn đi. Một lần ra tiệm uống cà phê với anh [1981], tôi thấy ông chủ quán đến vồn vã bắt tay anh rồi hân hoan khoe với chú bé bán báo bên cạnh: em biết cậu này là ai không? Anh nói với tôi: "mình sống vì mấy cái tình cảm như thế nàỵ Đi quán này, bà chủ quán múc cho một tô bún ngon hơn, đi chỗ kia, có ông bán hàng đưa tay ngoắc ngoắc. Chứ đi đâu mà được mấy cái đó ".
*

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài . Anh có tài - và sống với quê hương, đồng bào, bè bạn - rất trong sáng, trọn vẹn, nên quần chúng thương anh là một điều tất nhiên. Trong những khó khăn của mọi hoàn cảnh, anh đã sống xứng đáng, chung thủy, chọn lựa được niềm vui cho chính mình và trung thành với điều chọn lựa của mình. Khi anh nằm xuống, quần chúng nhân dân làm một quốc táng cho anh - trong lòng họ và trên thực tế - cũng là điều dễ hiểu :

Làm người trung nghĩa đáng bia son
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn
Cơm áo đền bồi ơn đất nước
Mày râu giữ vẹn phận tôi con
Tinh thần hai chữ phau sương tuyết
Khí phách nghìn thu rỡ nước non
Nhớ chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ
Lòng đây tưởng đó mất như còn

[Nguyễn Đình Chiểu]
Anh ra đi, nhưng chúng tôi còn ở lại – luôn luôn nhớ tới anh – và sẽ thuật lại những hoài bảo, những mơ ước của anh. Chúng tôi tin rằng, anh nằm trong đất lạnh nhưng lòng anh không thấy lạnh, vì anh đã gieo hạt mầm tốt trong con tim của cả một dân tộc. Thấm qua bao thế hệ, cái mầm yêu thương - cái tình người - vẫn sẽ còn đó, và sẽ nảy nở, vì nhân tài sẽ phát xuất tự thiếu niên. Nay anh đã ra đi, nhưng "Người đã đi, ngườisẽ tới", đó mới là "Nối Vòng Tay Lớn", phải không anh ?
Văn-Lang Tôn-thất Phương, 05-2001
[email=npttp@yahoo.com.au]npttp@yahoo.com.au[/email]

Chú Thích


  1. Nhà văn Đặng Tiến (hiện ở Paris) cho biết có thể ở tạp chí Bách Khoa (Sài Gòn) số 15-08-1970.
  2. Xin xem loạt sách NHẬN ĐỊNH của giáo sư Nguyễn Văn Trung xuất bản ở Sài Gòn trong khoảng 1965-1970.
  3. Lê Minh Quốc: Giọt Lệ Ru Người (DIỄN ĐÀN, Paris, số 01-04-2001).
  4. Anh nói với tôi vào năm 1980.
  5. Trích từ hai câu trong mật thư của cụ Trần Cao Vân gửi vua Duy-Tân để thuyết nhà vua chống Pháp: "Phụ Hoàng hoàng đế hà tội kiến di, Dực Tôn tôn lăng hà cớ kiến quật".
  6. Hoài Việt: Quang Dũng, Người Và Thơ (Hội Nhà Văn, Hà Nội 1990).
  7. Anh nói với tôi vào năm 1986.
  8. Xin xem Nguyễn Hồi Thủ: Quả Đất – Quê Hương (Chân Mây Cuối Trời, Paris 1999. Tr 9-10).


[Nguồn: Tác giả Tôn Thất Phương gửi tặng - tháng 9 2004]
 
Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết
Quên đi tình yêu quá vô cùng
Đăng nhập để trả lời
0
Bi Kịch Trịnh Công Sơn




Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi chơi với nhau vì cùng tâm hồn thi ca, và bởi vì lúc đó tôi chưa hề là họa sĩ.
Sơn thích thơ của tôi và đã phổ bài "Cuối cùng cho một tình yêu" năm đó. Trước đó, Trịnh Công Sơn đã viết "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi". Ngôn ngữ của "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi" còn nhẹ nhàng, và còn có gì đó ảnh hưởng của Ðặng Thế Phong trong "Giọt Mưa Thu" hoặc "Buồn Tàn Thu" của Văn Cao – nhưng đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương khác, do ngôn ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới. Tôi đã dùng những chữ "đói", "mỏi" trong thơ, mà lúc này Sơn lại thích bài thơ đó.
Tuy nhiên theo tôi, bài Diễm Xưa của Sơn mới là mở đầu của một TCS hoàn toàn mới lạ và cực kỳ hấp dẫn trong nhạc trẻ, giới trẻ hồi đó.
Cuộc đời của Sơn là một bi kịch. Ba của Sơn mất lúc anh đang học ở Chasseloup Laubat - một trường dạy chương trình Pháp - và đang chuẩn bị thi bac thì Sơn phải bỏ học để về chịu tang ba.
Sơn rất giỏi thể thao. Anh tập 10 môn phối hợp rất được chú ý ở trường học. Sơn cũng giỏi về NhuÐạo và Boxing. Trong một buổi dợt với người em là Trịnh Quang Hà - anh đã bị một cú choàng vai, và bị tổn thương phổi rất nặng, nên phải bỏ cuộc, và nằm dưỡng bệnh hai năm. Nếu Sơn không bị những sự kiện đó, tôi nghĩ là Sơn sẽ đi học ở Paris và sẽ trở thành một tiến sĩ, một bác sĩ, một kỹ sư ... chớ không phải là một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Tôi cho biến cố đó đã đặt Trịnh Công Sơn vào tình trạng cô đơn, tuyệt vọng. Sơn tập chơi guitare, tự học guitare với một người bạn, rồi sau đó viết ca khúc "Ướt Mi", "Nhìn Những Mùa Thu Ði".
Khi tôi gặp Sơn, thì anh đã bình phục - Sơn không có điều kiện trở lại Sài Gòn để học tiếp ở Chasseloup Laubat vì gia đình anh bị phá sản,
Sau đó - để tránh cho Sơn khỏi phải đi quân dịch, một số bạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha đã giúp Sơn thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn.
Ca khúc Biển Nhớ đã ra đời tại trường sư phạm Quy Nhơn – trong thời gian này. Và nhân vật để Sơn viết bài Biển Nhớ là một người bạn gái có tên là Khê, nên có cái câu "Ngày mai nối bước Sơn Khê."
Sau đó Sơn lên B'Lao nhận chức trưởng giáo của một trường Thượng có hai lớp, cách nhà trọ khoảng năm bảy cây số. Sơn phải đạp xe vào làng để dạy. Tôi lên thăm Sơn, và đưa Sơn raÐà Lạt để chơi cuối tuần - một căn phòng trọ với bốn bức vách đầy chim và bao thuốc lá Bastos - ở đó Sơn đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của anh với những bài nhưÐàn Bò Vào Thành Phố, như Khi Mặt Trời Ngủ Yên, như Tiếng Hát Dạ Lan. Và đó cũng là thời gian anh viết những ca khúc về thân phận, và những tình khúc.Ðó chính là thời điểm tôi và Sơn gặp Khánh Ly tại một phòng trà ca nhạc nhỏ ở Ðà Lạt.
Thật ra, người hát đầu tiên nhạc Trịnh Công Sơn và làm cho công chúng yêu nhạc Sài Gòn biết đến Sơn không phải là Khánh Ly mà là Thanh Thúy. Sau đó Trịnh Công Sơn viết bài Thương Một Người để tặng cho chị với câu: "thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi vai..."
Tuy nhiên, theo tôi, người giữ lái con đò âm nhạc của TCS trên dòng sông của đất nước chính là Khánh Ly kể từ khi Diễm Xưa ra đời. Cuộc gặp gỡ một cô ca sĩ bé nhỏ trông rất là nhếch nhác ở Ðà Lạt lại là một định mệnh. Sơn đi tìm một người ca sĩ trẻ - hoàn toàn vô danh và Sơn bắt đầu từ giọng hát của người ấy với sự tập luyện của chính anh, bởi vì lúc đó Sơn không quen biết những ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn. Và anh nghĩ dễ hơn là đi tìm một ca sĩ vô danh như Khánh Ly lúc đó. Ánh sáng của định mệnh đã chỉ cho Sơn đến với Khánh Ly - và từ đó Khánh Ly đã tìm được nơi nương tựa và nơi phát triển tiếng hát của mình lên đỉnh cao.
Chúng tôi khuyến khích Sơn về Sài Gòn, bỏ dạy học - một cái nghề không thích hợp và không xứng đáng với Sơn. Tôi có căn phòng rất nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Sơn từ Ðà Lạt về và đã ở lại với tôi trong nhiều năm. Căn phòng đó ở gần chợ Trương Minh Giảng, bên kia đường là nhà của Bùi Giáng - cũng trong một cái xóm nghèo. Nhà tôi là nơi tạm trú đầu tiên của TCS khi anh về Sài Gòn. Chính họa sĩ Ðinh Cường một trong những người bạn rất thân với Sơn - cũng thường ghé đến đó.Ðôi khi ba chúng tôi ngủ chung trong một chiếc chiếu, và đã sống với nhau bằng đồng tiền dạy học của tôi.
Từ đó Sơn gặp anh em văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Anh bắt đầu xuất hiện tại sân trường Ðại Học Văn Khoa ở đường Lê Thánh Tôn nơi có trụ sở của Hội Họa Sĩ Trẻ và sau lưng đó là trụ sở của CPS nơi mà Ðỗ Ngọc Yến, TrầnÐại Lộc, Hà Tường Cát... đã hoạt động chương trình mùa hè ở đó.
Tại sân cỏ này, Sơn đã giới thiệu Khánh Ly và chị đã đi chân trần và hát cho Sinh Viên nghe. Rất nhanh họ trở thành thần tượng của tuổi trẻ Sàigòn, do tính chất mới mẻ và trẻ trung của nó. Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng âm nhạc ngay lúc đó.
Phong trào du ca, của anh Nguyễn Ðức Quang,... đã ra đời cùng thời điểm đó. Tôi cho đó là một thời điểm lịch sử - thật sự bùng nổ về văn nghệ của giới trẻ trong đó có chúng tôi - hội họa sĩ trẻ Việt Nam.
Chính thời đại đã sản sinh ra những hiện tượng như vậy và TCS và Khánh Ly đã là những khuôn mặt nổi bật trong giới trẻ bấy giờ.
Trịnh Công Sơn - nối tiếp cao trào đo ù- đã dấn thân thêm nhiều bước trong lãnh vực âm nhạc của mình gần gũi với xã hội, và thời cuộc đất nước hơn. Những Ca Khúc Da Vàng, rồi đến Kinh Việt Nam ra đời trong giai đoạn này. .
Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn - ở một số ca khúc - là nhạc phản chiến . Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ "phản chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam . Tôi cho là chữ "thân phận" của người Việt thì khái quát hơn.
Một thanh niên Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào, vẫn đầy sự hồn nhiên, và vẫn đầy lòng lương thiện để có một lý tưởng cho dân tộc, cho sự công bằng, cho sự không đổ máu , cho sự đoàn kết, cho sự thương yêu ... và cái chất đó có hầu hết ở chúng ta, và có hầu hết ở các lứa tuổi đang bước vào Ðại Học ... nhưng tuổi trẻ không bao giờ lường trước được những âm mưu của chính trị - cho nên sự hồn nhiên đó phải trả giá.
Trịnh Công Sơn viết những bài Nối vòng tay lớn, Huế-Sài Gòn-Hà Nội 20 năm xa vẫn còn xa ...Ðể làm gì? Ðể ước mơ đất nước hòa bình thống nhất - để ước mơ anh em bắt tay nhau khi mà người di cư đã viết về "Hà Nội ơi ta nhớ...", thì rõ ràng không ai lại không nhớ Hà Nội nếu bỏ quê hương ra đi, không ai không muốn gặp lại người thân ... thì Trịnh Công Sơn đã đứng làm kẻ chịu vác cái thánh giá đó với bao nhiêu bi kịch sau đó .
Tôi và Sơn là hai người bạn, khác nhau hai hoàn cảnh. Tôi là sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Tôi chấp nhận đi Thủ Ðức bởi vì tôi không muốn sự bất hợp pháp. Tôi là một công dân tôi phải làm việc của người công dân, cho dù là chính quyền đó có thối nát, có gì đi nữa - tôi không chấp nhận sự bất hợp pháp cho nên tôi đi lính. Tôi thi hành nghĩa vụ của mình. Còn Sơn thì khác, anh không chấp nhận chuyện đó, Sơn chỉ đi vì lý tưởng của mình.
Bởi vì chúng ta là những con người chọn dân chủ, chọn tự do thì phải tôn trọng tự do của kẻ khác; vì vậy cho nên chúng tôi vẫn chơi với nhau trong tình người, còn việc làm của ai thì người đó đeo đuổi riêng của họ.
Đến ngày 30 tháng Tư thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó, Ðỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ đề nghị Sơn đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ. Tôi rất muốn đi Hoa Kỳ nhưng mà Ðỗ Ngọc Yến lại không hỏi tôi. Sơn ở lại thì tôi cũng đành ở lại. Tôi thì đành thôi và sau đó thì tôi đi học tập ba năm.
Còn Sơn cũng không hơn tôi đâu. Khi các bạn đã rời khỏi đất nước ngày 30 tháng Tư, có lẽ các bạn không biết chuyện gì đã xảy ra cho Sơn. Sơn phải trốn ra Huế sau khi được đánh tiếng là sẽ bị thủ tiêu bởi vì tính chất hai mặt của Sơn trong âm nhạc và tính chất hai mặt của Sơn trong cuộc đời. Bởi vì Sơn là bạn của những nhân vật cao cấp của chính quyền Sài Gòn. Sơn đã từng viết Cho Một Người Nằm Xuống về cái chết của Lưu Kim Cương và đồng thời với Hai Mươi Năm Nội Chiến từng ngày, thì điều đó người cộng sản không chấp nhận. Tôi nghe kể lại cuộc họp ở trong khu người ta lên án Trịnh Công Sơn.
Chúng ta không biết bi kịch đó cho nên chúng ta có những ngộ nhận đáng tiếc. Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi nương tựa bởi vì ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ giúp đỡ mình; nhưng, tránh võ dưa gặp võ dừa, ở đây Sơn còn bị nặng hơn nữa là bị tố cáo tại các trường học, các biểu ngữ giăng lên. Sơn phải lên đài truyền hình Huế nhận lỗi của mình - mà người ta gọi là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo trong bài nhận lỗi đó. Chính Sơn kể cho tôi nghe - Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó, nói phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa?
Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sự kiểm soát. Sơn đã đóng cửa nhà mình, không tiếp Hoàng Phủ Ngọc Tường trong nhiều năm. Sau đó, Sơn phải đi thực tế, tức là đi để biết người nông dân cày bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát chết trong một lần; một con trâu đã cứu Sơn khi nó đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn sẽ đạp.
Bởi vì tài năng âm nhạc của Sơn quá lớn, cho nên trong số những người lãnh đạo đất nước đó, cũng có người khôn ngoan hơn, biết cách thức hơn để giữ Sơn lại bằng cách bao bọc cho Sơn khỏi những tình huống hiểm nghèo như vậy. Họ đã tìm cách đưa Sơn về Sài Gòn, trả lại hộ khẩu cho Sơn, tạo điều kiện để cho Sơn yên tâm sống ở Sài Gòn.
Rất nhiều người nghe nhạc Sơn thầm lén nhất là từ miền Bắc, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản, nhưng không ai dám công khai thừa nhận nhạc của Sơn là tài sản của đất nước và Sơn không được phổ biến âm nhạc lúc đó - hiển nhiên âm nhạc hải ngoại là phản động. Ngay cả Sơn còn không được phổ biến, mà phải đợi một thời gian đổi mới và cải tổ. Vì vậy cho nên, Sơn là một bi kịch thu nhỏ của bi kịch đất nước. Và Sơn đã nghe được những luận điệu chống mình ở tại hải ngoại, nên Sơn rất sợ mặc dù có nhiều lời mời ở các đại học. Sơn đều không dám đi. Sơn từ chối, vì Sơn sợ cộng đồng ở đây sẽ đả đảo sẽ gây ra những nguy hiểm cho Sơn. Cho đến ngày Sơn mất. Có người đã về đề nghị đưa Sơn sang đây để thay gan cho Sơn miễn phí nhưng Sơn cũng từ chối.
Trong thời gian 25 năm sau ngày mất Sài Gòn, tôi cũng kẹt ở lại - tôi đã chơi với Sơn, và tôi đã không làm gì được cho Sơn - để Sơn bị một căn bịnh đã dẫn tới hậu quả tàn khốc, tức là nghiện rượu. Bởi vì buồn, bởi vì cô đơn, bởi vì không biết sử dụng thời gian để làm gì ... vì những ca khúc viết ra đều bị phê bình nặng nề - như bài "Em ra đi nơi này vẫn thế ..." ở bên này cũng kết án bài đó - ở bên kia lại kết án là "Tại sao đất nước đã thay da đổi thịt mà anh lại viết là em ra đi nơi này vẫn thế? Sài Gòn vẫn còn nguyên à?" Người nghệ sĩ luôn đi giữa hai lằn đạn! Có ai hiểu được là Sơn cô đơn như thế nào!
Và trong nhiều sáng tác của anh, nếu chúng ta tinh ý, thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của TCS sau ngày mất nước. Sơn đã viết "Đường chúng ta đi, đi không bao giờ tới ..." Những ca khúc nói lên sự quạnh quẽ, sự tuyệt vọng, sự bất an của mình.Ðó là một dòng nhạc đặc biệt mà có người không hiểu chê là thua những ca khúc anh viết trước 75 để chỉ chấp nhận tình khúc của anh mà thôi. Chúng ta không biết đến một dòng nhạc triết lý và đầy đau thương đã ra đời một cách lặng lẽ âm thầm.
Ngay cả bài Nhớ mùa thu Hà Nội cũng đã bị cấm hai năm - chỉ vì câu - chỉ vì câu gì các bạn biết không? Mùa Thu - chữ Mùa Thu Hà Nội đã trở thành thuật ngữ Cách Mạng Mùa Thu - thì TCS đã viết "Từng con đường nhỏ sẽ trả lời cho ta ... đi giữa mùa Thu Hà Nội để nhớ một người và nhớ mọi Người ..."
Người ta đặt câu hỏi: Nhớ một người là nhớ ai? Và từng con đường nhỏ tại sao lại phải trả lời? Hà Nội, những con đường của Hà Nội tại sao lại phải trả lời? Trả lời cho ai? Trả lời cái gì? Ðó là nhớ Khánh Ly và Khánh Ly sẽ đem phục quốc về ... Với sự suy diễn như vậy , méo mó như vậy, bài hát đó đã bị cấm hai năm. Các bạn có biết cái nỗi đau của người sinh ra đứa con tinh thần như thế nào?
Và chúng ta sai hay đúng, hãy tự soi lấy mình - khoan kết án người khác sai hay đúng - bởi vì trong chúng ta cũng đều bị lừa dối ! Chúng ta đã trưởng thành chưa sau nhiều lần bị lừa dối về chính trị - thì chúng ta đừng trách Trịnh Công Sơn và đừng trách những người nghệ sĩ nhạy cảm và chân thật với cuộc đời với con người.
Tôi xin kết thúc ở đây - để dành thời gian cho các bạn khác - tôi là một người bạn - là một nhân chứng sống trong nhiêu năm với TCS. Những ngày tháng cuối cùng của anh, tôi đã ở bên anh mỗi lần tôi có mặt ở Việt Nam. Buổi sáng, tôi ngồi với anh dưới bóng cây để uống trà, để nhìn nhau cho đỡ nhớ, để nói với nhau một vài thông tin về bạn bè - rồi đi về. Sơn ngồi ở cái vườn trên gác nhà anh, có một cây hoa sứ già 28 năm, một giàn hoa giấy ... nó đã trở thành một cánh rừng nhỏ của Sơn và tôi đã nhìn Sơn tàn phai theo nắng chiều qua những tia nắng hoặc cuối mùa, cuối ngày qua những chiếc lá của cánh rừng bông giấy. Và thỉnh thoảng có vài tiếng chim hót như chia sẻ cái nỗi cô đơn của Sơn. Buổi chiều, tôi và Sơn đi ra ngoài một cái nhà hàng mà các bạn chắc còn nhớ, đó là Givral để nhìn qua bên kia khách sạn Continental để nhìn cuộc đời đi qua, để nhìn những nguời Việt Nam đang hấp tấp vội vã trên đường phố, để nhìn một chút trời xám , để nhìn vài cánh én ... Rồi Ði Về.
Sơn thèm đi ra phố - Sơn thèm hơi của thành phố. Bởi vì chúng tôi là những con người đã gắn bó với Sài Gòn từ lúc trẻ cho nên "Chiều một mình qua phố ..." hay "Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu ..."Ðó là đời sống của chúng tôi, và nó theo chúng tôi mãi mãi. Và Trịnh Công Sơn - hôm nay tôi được dịp để nói về anh, về cái sự tuyệt vời chịu đựng một bi kịch kéo dài cho tới ngày mà căn bịnh quái ác đã đục khoét tinh thần sức khỏe của anh cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì sự cô đơn thật không có điểm tựa để làm việc. Và anh đã chết vì cơn bịnh này.
Trịnh Cung
 
Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết
Quên đi tình yêu quá vô cùng
Đăng nhập để trả lời
0


Rút từ Hồi Ký III : Thời Phân Chia Quốc Cộng
Ðầu thập niên 70 là lúc Nhạc Việt, trong phạm vi ca khúc, phát triển đến tột độ. Có sự thành công của những bài hát thông thường và chỉ được coi là nhạc thương phẩm -- mệnh danh là nhạc vàng -- với những tình cảm dễ dãi phù hợp với tuổi choai choai, với em gái hậu phương và lính đa tình, tuy không được coi trọng nhưng lại rất cần thiết cho vài tầng lớp xã hội trong thời chiến. Rồi có phong trào du ca và tâm ca với những bài hát phi-thương-mại, đi kèm với tình ca quê hương và trường ca, nói lên được phần nào tâm thức của thời đại và được thanh niên sinh viên công nhận.
Trong phạm vi giải trí, phòng trà trở thành cái mốt của mọi người : thương gia, công chức, tư chức, quân nhân, thương phế binh và cả các bà nội trợ nữa... ai ai cũng thích đi nghe nhạc và giúp cho ca sĩ chuyên nghiệp, nhạc sĩ sáng tác, nhạc công đánh đàn thăng tiến trong nghề mình. Cánh tay nối dài của phòng trà là quán cà phê có nghe nhạc, thu hút đông đảo sinh viên, học sinh. Nhạc trẻ ra đời, đem lại cho nhạc Việt một số bài hát mới, sôi nổi, đậm sắc hơn trước. Một rừng nhân tài trẻ trung xuất hiện qua những ban nhạc bốn người (gọi là combo), sử dụng nhạc khí điện tử với âm thanh mới lạ.
Mười năm về trước, ở trong nước chỉ có ba nhà sản xuất đĩa hát. Bây giờ, rất nhiều người -- từ Ngọc Chánh (SHOTGUNS) qua Duy Khánh (TRƯỜNG SƠN) tới những người của các hãng khác (NHÃ CA, HOA MI, SƠN CA, SÓNG NHAC)... làm nghề sản xuất băng nhạc, mỗi tháng tung ra những chương trình nhạc rất hấp dẫn, kể cả cổ nhạc lẫn tân nhạc, nhạc trẻ lẫn nhạc già (nhạc tiền chiến). Hàng trăm, hàng ngàn (hàng vạn, nếu kể cả Saigon và các tỉnh) cửa hàng sang băng, càng làm cho băng nhạc phát triển dữ dội.
Trong bối cảnh sinh động như vậy, phần chính yếu là sáng tác phẩm phải rất phong phú. Vào lúc này, ngoài những người đi trước như Vũ Thành, Cung Tiến, Phạm Ðình Chương, Lâm Tuyền, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Văn Giảng, Ngọc Bích, Hoàng Thi Thơ, Trần Ngọc, Y Vân, Lê Dinh, Anh Bằng, Trúc Phương, Duy Khánh, Trần Thiện Thanh tức Nhật Trường, Lam Phương, Ðỗ Lễ, Phạm Thế Mỹ... đã xuất hiện một số người mới như Thanh Trang, Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu, Lê Uyên Phương, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Nguyễn Ánh 9, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang... Tân Nhạc đã có tới bốn đời nhạc sĩ và có hàng trăm, hàng ngàn ca khúc được soạn ra và hát lên. Trong Hồi Ký này, tôi chỉ nhắc tới những người đánh dấu thời đại một cách sâu đậm bằng tác phẩm của mình.
Người nổi nhất là Trịnh Công Sơn. Trước tiên, người ta biết tới anh nhờ Quán VĂN. Quán do nhóm sinh viên mang tên KHAI HOÁ chủ trương. Nhóm này đã làm nhà xuất bản (QUẢNG HOÁ) rồi khi phong trào phòng trà thịnh hành, nhóm mở quán cà phê ở ngay trung tâm Saigon, trên nền Khám Lớn cũ trong khu Ðại Học Văn Khoa, sinh viên tới uống cà phê nghe băng nhạc và nghe Khánh Ly hát.
Bài hát của Trịnh Công Sơn đươc nghe tại quán VĂN lúc đầu là Lời Buồn Thánh. Cũng như nhạc Ðặng Thế Phong, bài hát tân lãng mạn (néo-romantique) này nói về nỗi buồn. Bài Lời Buồn Thánh thật là buồn, như bài hát buồn làm cho người Âu Châu phải tự tử là Chủ Nhật Buồn tôi đã nói tới trong một chương sách. Trong bài hát của mình, họ Trịnh cũng nói tới ngày chủ nhật buồn:
Chiều chủ nhật buồn
Nằm trong căn gác đìu hiu
Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều
Trời mưa, trời mưa không dứt
Ô hay mình vẫn cô liêu...

Thoạt nghe đã thấy ngay là tiếng hát đau đớn, thấy mưa ảm đạm trong lòng (như thơ Verlaine), thấy sự cô đơn, hoang vắng. Sinh ra ở Ban Mê Thuột (hay Pleiku?), sống ở Huế, mưa ám ảnh Trịnh Công Sơn rất nhiều cho nên cũng vẫn là nỗi buồn của ngày chủ nhật mùa mưa trong bài Tuổi Ðá Buồn :
Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang
Từng ngón tay buồn em mang em mang
Ði về giáo đường, ngày chủ nhật buồn...

Nhạc Trịnh Công Sơn là nhạc nói về QUÊ HƯƠNG, TÌNH YÊU, và THÂN PHẬN CON NGƯỜI. Hãy nói về tình khúc Trịnh Công Sơn, nói về thân phận Người Tình trong giai đoạn quê hương đổ nát này.
Từ khi Tân Nhạc Việt Nam ra đời đầu thập niên 40, đã có những tình khúc của Lê Thương, Lê Yên, Hoàng Giác, Dzoãn Mẫn... Lúc đó là thời bình, khi tình còn xanh và yêu chưa lo sợ. Ngôn ngữ tình yêu thật là bình dị, đối tượng là cô hái mơ, cô láng giềng, cô lái đò, cô hái hoa hay anh Trương Chi. Từ khi nước Việt bị chia đôi, nhạc tình miền Nam đậm sắc hơn và trong mười năm đầu, vì cuộc đời chưa thực sự bị đe doạ, người ta vẫn có những bài hát hữu tình hay thất tình, xinh xinh, hiền lành, lúc đầu còn mới mẻ, dần dà ngôn ngữ tình yêu trở thành sáo ngữ. Tới lúc đời sống trở nên bấp bênh, thanh niên được gọi đi lính rất nhiều (chết trận cũng nhiều) biết bao nhiêu đôi lứa phải xa nhau (có khi vĩnh viễn xa nhau) tình khúc miền Nam thay đổi ngôn ngữ.
Nhạc tình không còn là nhạc lãng mạn, nhạc cảm tính với câu hát đắm đuối hay hờn dỗi nữa ! Bây giờ là những bài hát nhức nhối của những tình nhân yêu nhau trong cơn mê sảng. Nhạc trở thành não nề và đánh vào não tính. Nhạc tình bây giờ là tình ca của người mất trí.
Tình khúc Trịnh Công Sơn ra đời, từ giàn phóng là Quán VĂN được hoả tiễn Khánh Ly đưa vút vào phòng trà, rồi vào băng cassette và chỉ trong một thời gian ngắn chinh phục được tất cả người nghe. So với tình khúc của ba bốn chục năm qua, ngôn ngữ trong nhạc Trịnh Công Sơn rất mới, chất chứa những hình ảnh lạ lùng, quyến rũ như cơn mưa hồng, thuở hồng hoang, dấu điạ đàng, cánh vạc bay...
Tình yêu trong nhạc của anh là những cảm xúc dữ dội như trái phá con tim mù loà, như nỗi chết cơn đau thật dài, như vết thương mở rộng... Cuộc đời là hư vô chủ nghĩa, con người sống trong cảnh Chúa, Phật bỏ loài người. Cuộc đời còn là đám đông nhưng cũng là quán không. Con người là cát bụi mệt nhoài, bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi... Tất cả nói lên sự muộn phiền, đau đớn... Buồn tủi cho thân phận con người nên nhánh cỏ cũng xót xa, phiến đá cũng ưu phiền, và chỉ còn những mưa và mưa để xoa dịu vết thương mở lớn! Hãy nghe thêm những câu hát về mưa trong Diễm Xưa :
Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động
Làm sao em biết bia đá không đau ?
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau...

Diễm Xưa cho thấy rõ tiếng hát đứt đoạn của nội tâm về nỗi đau con người trong tình yêu, thấy thêm sự hoang vắng của tâm hồn. Bị ám ảnh bởi mưa đến độ còn nhìn ra mầu sắc của mưa -- mưa hồng -- Trịnh Công Sơn nói lên nỗi bàng hoàng của con người khi thấy cái chết nằm ngay trong sự sống :
Người ngồi xuống xin mưa đầy
Trên hai tay cơn đau dài
Người nằm xuống nghe tiếng ru
Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ ?

Nguyễn Ðình Toàn gọi nhạc Trịnh Công Sơn là những bản tình ca không có hạnh phúc, những bài hát cho quê hương đổ vỡ. Cũng là phản ứng của người đau đớn trước hoàn cảnh đất nước, nhưng nó là sự chịu đựng và chết lịm hơn là sự nổi sùng và chửi bới. Có lẽ vì tác giả là người lớn lên ở Huế, một thành phố nên thơ, hiền hoà, không chấp nhận bạo động. Tôi vẫn cho người Việt ở ba miền đất nước có những phản ứng khác nhau trước những hoàn cảnh khó khăn. Ví dụ người con gái miền Bắc thất tình thì phản ứng bằng sự điên giả -- CHÈO có vở Vân Dại Giả Ðiên -- hay điên thật rồi nguyền rủa, chửi bới cuộc đời (như ông giáo ở Phú Nhuận nói ở chương trên). Sự phản ứng của người gái Huế là buông xuôi (fatalisme), mất người tình là nàng có thể đâm đầu xuống sông tự tử. Còn ở miền Nam à ? Không oong đơ gì cả, người thất tình sẽ đốt chồng như cô Quờn.
Về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại. Bài hát chỉ cần một chiếc đàn guitare đệm theo, nếu hoà âm phối khí rườm rà thì không hợp với những bài hát soạn theo thể ballade này.
Từ nhạc tình yêu, thân phận con người, Trịnh Công Sơn chuyển qua nhạc thần thoại quê hương. Âm nhạc ở miền Nam trong thời gian này thật phong phú. Vẫn có những bài hát soạn cho tuổi choai choai : Em 16, Em Mới Biết Yêu Ðã Biết Sầu, Túp Lều Lý Tưởng, Người Tình Chung Vách, Người Tình Chung Thủy và cho người lính Cộng Hoà : Lính Mà Em, Lính Dù Lên Ðiểm, Lính Nghĩ Gì, Lính Xa Nhà, Lời Người Lính Xa, Lính Trận Miền Xa, Anh Là Lính Ða Tình, Người Lính Chung Tình, Ðám Cưới Nhà Binh... Và có thêm những bài hát phản ứng trước cảnh tang thương của đất nước. Như đã nói trong chương trước, nhạc tâm ca, du ca lúc này là sự phẫn nộ của thanh niên khi thấy mình bị đưa lên giàn hoả thiêu hoặc phải đi vào quê hương bằng cuộn dây thép gai... rồi xuống vỉa hè và trở thành tục ca.
Bây giờ, ngoài những ca khúc đi vào tình nhớ, tình xa, tình sầu... với cơn chết lịm, với nỗi muộn phiền và niềm xót xa trong cảnh cô đơn mà ta đã biết, nhạc Trịnh Công Sơn phản đối nghịch cảnh bằng cách khác. Nhạc anh đi vào quê hương bằng bước chân của người con gái da vàng, của em bé loã lồ suốt đời lang thang...
Sống cùng thời với những người đi vào quê hương qua nhiều nẻo đường, Trịnh Công Sơn cũng nhận diện lại quê hương. Ði tìm quê hương, phải sống những ngày dài trên quê hương thì phảt hát bài quê hương, phải nhỏ giọt nước mắt cho quê hương khi thấy quê hương hình hài nát dấu bom với xác  người chết hai lần... Phải gặp những người tình có người yêu chết trận Pleime hay chết ở chiến khu D, gặp thêm người già em bé, chị gái anh trai, người phu quét đường, đồng hoá họ là người nô lệ da vàng, ngủ im trong căn nhà nhỏ... chờ ngày quê hương sáng chói, đứng dậy hò reo, chờ Hoà Bình đến tiếng bom im, cho những bước đi trên những con đường không chông mìn, cho đường giao thông chắp nối chuyến xe qua ba miền, ngày Thống Nhất tới cho những tình thương vô bờ...
Nhạc thần thoại quê hương, nhạc tình yêu và thân phận con người của Trịnh Công Sơn có một tư tưởng chỉ đạo khá rõ, dù toàn bộ âm nhạc của anh đẹp như một bức hoạ trừu tượng hơn là tả thực. Cả nhạc lẫn lời, cả xác chữ lẫn hồn thơ, nghe bảng lảng, mơ hồ khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng nếu nghe kỹ cũng tìm ra ý chính : Trịnh Công Sơn muốn nói lên nỗi đau con người trong cuộc sống hiện đại, có tình yêu, có chiến tranh, có hận thù, có cái chết dễ dàng như chết trong mợ Anh ca tụng tình yêu và -- cũng như bất cứ nghệ sĩ nào ở trên đời này -- anh chống bạo lực và chống chiến tranh.
Một, hai năm trước biến cố 30-4-1975, nhạc Trịnh Công Sơn đi vào Thiền, có lẽ cũng giống như tôi đi vào Ðạo Ca, vì lũ chúng tôi, khi nhập cuộc khi xuất thế ... như thể sống lửng lơ giữa thiên đường và điạ ngục.

Phạm Duy
(trích Hồi Ký - Thời Phân Chia Quốc Cộng)
Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết
Quên đi tình yêu quá vô cùng
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-10 15:41:21nguyệt thảo>
Trịnh công Sơn !
từng một thời với tôi là thần tượng . . .
sống trên đời cần một tấm lòng
chẳng cho ai cả
chẳng làm gì hết

chỉ để gió cuốn đi thôi !

(Trịnh công Sơn vô ( ! ) tâm thế đấy !)


Xin được post lên đây một bài viết vừa tình cờ đọc được .
Đây là bài viết của tác giả Ng. văn Ty ( bút hiệu Ng . Th. Ty ) là một nhà giáo đã từng có bốn năm phải nói là ăn cùng mâm / ngủ chung giường / ỡ cùng nhà với con người có tấm lòng chẳng làm gì cả chẳng cho ai hết chỉ đễ gió cuốn đi thôi trong thời gian ông thày giáo cấp một T.C.S còn hàn vi chưa có danh tiếng nhiều . Bài viết đăng trên một trên một trang nét với từng dữ liệu ( tên tuổi / thời gian / sự việc )cụ thể khiến cho tôi khi đọc được cảm thấy sững sờ và thêm một lần nữa buồn cho mình sau một tượng đài P.D. nhơ nhuốc nay đến lượt tượng đài T.CS ( không biết gọi là gì . !!! )
Chỉ e là bài viết này đã có nhiều người đọc ! ngược lại / nay mai tôi sẽ post đày đủ .



một **



Theo chỗ tôi biết, trong số những người viết về cuộc đời của nhạc sĩ họ Trịnh trong thời gian dạy học, chỉ có bốn người mới có thể có nhiều tài liệu sống về Trịnh Công Sơn, còn hầu hết đều cưỡi ngựa xem hoa, hoặc cặm cụi mày mò, đào xới trong các bài viết của nhiều người, cóp chỗ này một ít, chỗ kia vài chi tiết và đem các ca từ của họ Trịnh ra, sợi tóc chẻ làm tám, rồi dùng ngòi bút thần kỳ hô phong, hoán vũ, tô lục, chuốc hồng mà thôi.

Bốn người đó là: Hoàng Phủ Ngọc Tường - Khánh Ly - Trịnh Cung - Đinh Cường.


Thời gian Trịnh công Sơn còn sống, báo chí hải ngoại viết rất nhiều về người nhạc sĩ này, cả khen lẫn chê, nhiều khi đến độ gay gắt. Tôi cố tìm đọc những bài của ông Đinh Cường để xem lập trường của ông, nhưng không thấy. Mới đây ông Nguyễn văn Liễu tức họa sĩ Trịnh Cung có phát biểu một số điều tại Cali trong dịp tưởng niệm Trịnh Công Sơn. Trong đó có một số sự việc ông không phản ảnh đúng sự thật. Tôi nghĩ rằng ông quên hoặc ông suy diễn.

Mãi đến khi tờ Hợp Lưu, số 59, phụ trang đặc biệt Trịnh Công Sơn "Một cõi đi về", tôi mới được đọc một bài duy nhất của ông Đinh Cường. Cả hai ông Trịnh Cung và Đinh Cường đều nói là bạn lâu năm với Trịnh Công Sơn, từng cưu mang, chia ngọt, xẻ bùi cùng nhau cho đến ngày nhạc sĩ họ Trịnh từ giã cuộc đời. Nhưng tuyệt nhiên, người ta không thấy hai ông đả động gì tới vấn đề Trịnh Công Sơn có là Cộng Sản hay không?

Ca sĩ Khánh Ly hết lời ca tụng người nhạc sĩ này là điều đương nhiên, dễ hiểu. Nếu không có nhạc Trịnh Công Sơn chắp cánh cho Khánh Ly bay cao, thì suốt đời Khánh Ly chỉ là một cô bé "nhếch nhác", như lời ông Cung mô tả, ở tại Đà Lạt mà thôi. Ngược lại, nếu nhạc Trịnh Công Sơn không nhờ Khánh Ly "lăng xê chùa" trên Đài Phát Thanh Đà Lạt, ròng rã ba năm liền, từ 1964 đến 1967, và "đi chân đất" về Sài Gòn hát miễn phí cho sinh viên nghe thì liệu nhạc của họ Trịnh có được phổ biến rộng rãi như ngày nay không? Cần nhắc ở đây là trước 1964, từ cái thuở mới mười bảy tuổi, Trịnh Công Sơn đã có những bản nhạc rất hay như "Ướt Mi", "Thương Một Người", "Biển Nhớ", "Nhìn Những Mùa Thu Đi" mà nào có tăm tiếng gì. Có chăng là những bạn bè trong giới Sư phạm hoặc một vài thân hữu chuyền tay nhau hát!
Người có thẩm quyền nhất để giải đáp thắc mắc của nhiều người liệu Trịnh Công Sơn có là Cộng Sản hay không chính là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhưng đến giờ này, tôi không thấy ông lên tiếng xác nhận. Hoặc có mà tôi không biết chăng?

Hai Năm Tại Trường Sư Phạm Qui Nhơn 1962-1964
Tôi học chung một khóa Sư phạm với Trịnh Công Sơn. Khóa I, ngày 22 tháng 4 năm 1962, khóa đầu tiên được mở ra tại thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định. Tên gọi khóa học là "Thường Xuyên", học hai năm, để phân biệt với "Khóa Cấp tốc", học một năm. Tiêu chuẩn tối thiểu để nộp đơn là Tú Tài I. Tuy nhiên khóa đầu tiên ấy đa số đã có Tú Tài II. Một vài người đã có một, hai chứng chỉ Đại học. Sĩ số giáo sinh là ba trăm người. Đa phần là người Huế, tỷ lệ có lẽ chiếm 60%. Số còn lại rãi rác ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa... lên tận các tỉnh cao nguyên Đà Lạt, Lâm Đồng, PleiKu, KonTum...

Trịnh Công Sơn theo ban Pháp văn. Tôi theo ban Anh văn. Hiệu trưởng là thầy Đinh Thành Chương. Ông này rất tôn sùng tổng thống Ngô Đình Diệm. Mỗi sáng thứ hai, chào cờ, Ông thường có những bài phát biểu trước giáo sinh, ca tụng công đức Ngô Chí Sĩ hết lời. Ngược lại, em Ông, giáo sư Đinh Thành Bài lại thiên Cộng. Trong những giờ dạy Sư phạm lý thuyết, thầy thường xen vào những lời ca ngợi chế độ Cộng Sản.

Năm 1963, phong trào Phật Giáo nổi lên, lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Một nhóm giáo sinh tổ chức tố khổ thầy Đinh Thành Chương, buộc Ông phải từ chức. Trịnh Công Sơn cũng bị lôi kéo theo trong vụ này. Mấy tuần sau, Bộ Giáo Dục phải bổ nhiệm giáo sư Mẫn mới từ Hoa Kỳ về, thay thế thầy Chương, nội vụ mới êm.

Còn nhớ, ngày nhập học đầu tiên, thầy Đoàn Nhật Tấn, dạy môn tâm lý giáo dục, đọc tặng học trò hai câu thơ:
Dưa leo chấm với cá kèo,
Bởi con nhà nghèo mới học Normal! (Sư phạm)

Đúng vậy! Đa số chúng tôi lúc ấy đều là con nhà nghèo. Hoặc học hành dang dở, hoặc cha mẹ không đủ khả năng tài chánh để gửi con ra Huế hay vào Sài Gòn tiếp tục học lên Đại học. Vì vậy chúng tôi đều cố thi vào Sư phạm để chắc chắn rằng sau hai năm sẽ có công ăn việc làm cho bản thân và có thể giúp gia đình. Tưởng cũng nên nói rõ ở đây tại sao chúng tôi cố thi vào Sư phạm. Thời gian đó hai ngành Y Tế và Giáo dục rất thiếu nhân viên. Khóa nào vừa đào tạo xong là được bổ nhiệm đi làm ngay. Trong khi các ngành khác như Công Chánh, Nông-Lâm-Súc, Kỹ Thuật Phú Thọ... ra trường, nằm nhà mấy năm vẫn chưa được bổ nhiệm.

Có một nghi vấn ở đây: Không biết ông Trịnh Cung vin vào đâu mà bảo rằng Trịnh Công Sơn vào được trường Sư phạm Qui Nhơn để núp bóng là nhờ hai ông Tường và Kha giúp đỡ. Có lẽ ông Cung đã nghe ông Tường, ông Kha hay là Sơn kể lại chăng?

Nói thêm một chút về chuyện thi vào Sư phạm. Đề thi thật ra không khó, nhưng để lọt được vào cửa ải, mỗi thí sinh phải chọi lại ít nhất mười đối thủ. Tính từ Quảng Trị, Trung Trung Phần đến miền cao nguyên hơn mười bốn tỉnh, Bộ chỉ chọn có ba trăm người. Vậy theo tiết lộ của ông Cung, người ta nghĩ đến hai vấn đề:

1/ Ông Tường hoặc ông Kha đã thi dùm cho Sơn? Hoặc hai ông có chân trong Ban Giám khảo, chấm cho Sơn đậu?

- Tại sao lại phải vào trường Sư Phạm núp bóng mà không là Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế? Nơi mà ông Cung với ông Cường theo học.

Ông Đinh Cường từng xác nhận là Sơn có tài hội họa, vậy thì thi vào Mỹ thuật có khó khăn gì, thi chi vào Sư phạm để phải nhờ đến sự giúp đỡ của hai ông Tường và Kha?

Thứ nữa, ông Cung chê nghề dạy học không xứng đáng với tài năng của Sơn (lúc ấy?). Và ông còn cho biết đã cưu mang Sơn.
Tôi không biết ông nói chữ "cưu mang" với một nghĩa nào. Theo chỗ tôi biết, đem chỉ số lương ra so sánh thì lương của Sơn phải hơn hẵn.

2/ Trịnh Công Sơn vào Sư Phạm để núp bóng. Cả hai ông Cung và Cường đều nói như thế. Vậy Trịnh Công Sơn vào Sư Phạm để núp ai? và núp cái gì? Sẽ có hai giải thích được đặt ra cho hai chữ "núp bóng"

a/ Sơn vào Sư Phạm để tạm thời trốn lính.

b/ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Văn Liễu (Trịnh Cung) và Đinh Cường đã có mưu đồ gài Sơn vào Sư Phạm để thực hiện sách lược "học đường vận"?

Giải thích một: không vững. Lúc đó Sơn đã có Tú Tài I. Đâu phải ở vào trường hợp "Rớt tú tài anh đi trung sĩ". Sơn có thể theo học bất cứ một trường Trung Học tư nào để thi lấy Tú Tài II vẫn được hoãn dịch theo luật định. Nếu cuối năm, thi hỏng, thì a-lê, mời anh vào Thủ Đức, vác Garant M1 đi "ắc ê" chín tháng quân trường. Sau đó mang lon chuẩn úy, đi "mút chỉ cà tha", bốn vùng chiến thuật, trả nợ nước non. Còn nếu anh bợ được cái Tú Tài II, thì anh cứ tà tà lên Đại Học. Chí ít cũng được hoãn dịch bốn năm nữa. Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa đâu có chủ trương lùa hết trẻ, già, trai, gái, lớn, bé đi "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" như ở miền Bắc.

Ông Cường nói vì tình hình, thời cuộc lúc đó... lại càng khiên cưỡng. Những ai sinh từ năm 1940 trở về trước đều biết rất rõ rằng: Miền nam được hưởng một thời gian mấy năm rất thanh bình, kể từ ngày Ông Diệm chấp chánh (54-63) cho đến lúc Ông bị đám "Thập nhị Sứ quân" giết.

Giải thích hai: có lẽ thuyết phục hơn, nếu xét theo bề dày "thành tích" Sơn đã cúc cung tận tụy, phục vụ chế độ sau tháng Tư, bảy lăm. Nhưng suốt những tháng, năm sống chung với Sơn, tôi không thấy Sơn có một hành động cụ thể nào khả dĩ gọi là có vẽ "Việt Cộng". Trừ khoảng thời gian giữa năm 1965, Sơn nhận được nhiều thư từ của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường và tiếp theo là những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc bí mật tại một trang trại ở Phim Nôm, gần Tùng Nghĩa, Đà Lạt với một nhân vật, Sơn dấu tên. Sau đó, Sơn mới vội vã sáng tác tập "Ca Khúc Da Vàng" trong vòng có ba tháng hè năm 1965. Loại trừ hai giải thích trên, Sơn vào Sư phạm với một lý do hết sức đơn giản là:

Dưa leo chấm với cá kèo.
Bởi con nhà nghèo mới học "Sư phạm".

(Cái sĩ diện hão của đa số người Huế cứ mơ về một thời vàng son làm "ôn" làm "mệ" cố che dấu cái hiện tại suy tàn đã đành. Còn ông Liễu là dân Nha Trang-Cầu Đá-Chụt chính tông mà cũng lập lờ "đánh bùn sang ao" quả là chuyện lạ)

Nhắc lại hai câu thơ của thầy Đoàn Nhật Tấn đã dẫn nhập để thấy rằng lúc ấy nhà Sơn đang lâm vào cảnh ngặt nghèo. Cha bị tai nạn mất sớm, gia đình khánh kiệt. Má Sơn phải chật vật lắm mới nuôi nỗi đàn con còn nhỏ dại. Sơn là con trưởng, phải bỏ dở chương trình học để lấy nốt cái Bac II Philosophie, về lại Huế để phụ giúp mẹ. Sư phạm Qui Nhơn là con đường ngắn nhất có thể giúp Sơn đạt được ý nguyện này. Những ngày mưa gió ủ ê, đất nhão, không đi ra ngoài được, nằm khoèo ở nhà, Sơn tỉ tê kể cho tôi nghe về cuộc đời của Sơn nhiều buồn vui lẫn lộn. Trong đó có cả điều thất vọng và thất tình về cô Diễm. Từ đó mới có bài ca thất tình diễm lệ "Diễm xưa".

Dù bất cứ ai, vô tình hay hữu ý, che dấu hay huyền thoại hóa Trịnh Công Sơn trong giai đoạn học Sư phạm và dạy học bằng những lý do rất "mờ mờ, ão ão" để đánh hỏa mù dư luận với mục đích thần tượng hóa đời thường của một nghệ sĩ, cũng cần cơm ăn, áo mặc... như mọi người, đều không giúp ích gì được trong việc cung cấp tài liệu để viết lại tiểu sử một người nghệ sĩ tài ba được nhiều người mến mộ. Có khi lại phản tác dụng.
Trường Sư Phạm và trường Kỹ Thuật Qui Nhơn được ngân sách Mỹ tài trợ, xây cất rất qui mô và tân kỳ. Hai trường nằm gần nhau tại Khu Sáu, sát bờ biển, khoảng giưã đường từ phố Gia Long đến Ghềnh Ráng, nơi thi sĩ Hàn Mặc Tử an nghỉ giấc ngàn thu. Qua khỏi Ghềnh Ráng là làng Qui Hòa, làng dành riêng cho người mắc bệnh cùi. Ở đó có nhiều bà "xơ" hy sinh một đời, tận tụy chăm sóc cho bệnh nhân.

Lúc bấy giờ, 1962, thành phố Qui Nhơn hãy còn tiêu điều xơ xác. Ngay con đường chính Gia Long, chạy dài từ Núi Một (Ga xe lửa) đến bến cảng hãy còn nhiều ngôi nhà vô chủ, đổ nát hoang tàn trong chiến tranh chưa có ai dọn dẹp. Đường Lê Lợi chạy từ trung tâm phố thẳng ra biển còn rất nhiều nhà tranh, vách lá.

Vẽ lại một vài hình ảnh cũ để cho thấy chính phủ lúc ấy có dụng ý khi cho xây cất hai ngôi trường đồ sộ tại đây. Mỗi năm hai trường qui tụ hơn một ngàn giáo sinh và học sinh kỹ thuật khắp nơi đổ về. Nền kinh tế tại đây đã nhanh chóng phục hồi.

Để quảng bá rộng rãi cho nhiều nơi biết về trường Sư Phạm, Ban Giám Đốc nhà trường cho thành lập một ban văn nghệ. Trịnh Công Sơn được bầu làm trưởng ban, chịu trách nhiệm tổng quát. Thanh Hải, phó ban thứ nhất, trách nhiệm về nhạc. Võ Văn Phòng, phó ban thứ hai, trách nhiệm về kịch. Một vỡ kịch thơ dài 45 phút nhan đề "Tiếng Cười Bao Tự" được dàn dựng. Tôi được chọn để thổi sáo đệm thơ. Nhân dịp này tôi mới biết và quen với Trịnh Công Sơn.

Một chương trình đại qui mô gồm đủ các tiết mục ca, múa, nhạc, kịch được Ban Văn nghệ hoạch định. Thêm vào đó là một tổ phụ trách ánh sáng. (Lúc đó rất hiện đại và tân kỳ. Dùng đèn chiếu slide làm hậu cảnh thay đổi mỗi màn trình diễn khác nhau. Dùng đèn quay, chớp chớp đổi màu rất đẹp mắt) Buổi trình diễn được ra mắt đúng ngày "Song Thất" năm đó, chứ không phải ngày mãn khóa như ông Đinh Cường nói.

Trong thời gian này, Trịnh Công Sơn sáng tác trường ca "Tiếng Hát Dã Tràng" hay gọi gọn hơn là "Dã Tràng Ca" để làm tiết mục mở màn. Đây là tiết mục công phu và đặc sắc nhất. Ban hợp xướng gồm năm mươi người gồm nam lẫn nữ do Sơn thử giọng tất cả các mầm non văn nghệ và chọn lọc. Anh đã khổ công tập ráo riết trong ba tháng trời, xen kẻ giữa những giờ học, và đã thành công vượt mức trước sự ngạc nhiên đầy thích thú và khen ngợi của quan khách và công chúng. Tiếng vỗ tay đã kéo dài rất lâu.

Rất tiếc, tôi không có chân trong ban hợp xướng, nên không thuộc trường ca này. Chỉ nhớ lõm bõm vài câu, xin ghi lại cho vui.


Tiếng Hát Dã Tràng hay Dã Tràng Ca.
(Tiếng vọng) Dã tràng... Dã tràng... Dã tràng...
Dã tràng xe cát biển Đông... Dã tràng xe cát hoài công...
(Tiếng trống Bass dồn dập, thúc dục):
Trùng dương ơi... Trùng dương ơi vỗ sóng vào bờ...
....(quên)...
Thôi... còn gì nữa đâu... Còn gì nữa đâu... Đời lên cơn đau! Xuân, Hạ, Thu, Đông bốn mùa làm rét mướt... Tôi gọi tên tôi giữa nước non ngàn...

Tôi chỉ nhớ đại khái vậy. Hiện nay, tại thành phố Lawrence, Mass, có anh Nguyễn Văn Tấn, Cali có chị Hồ thị Nghị trước ở trong ban hợp xướng, chắc còn nhớ. Bốn mươi năm đã qua rồi, còn gì!

Cũng trong thời gian học Sư Phạm, Sơn còn sáng tác thêm những nhạc phẩm khác như "Biển Nhớ", "Nhìn Những Mùa Thu Đi", "Nắng Thủy Tinh". Hầu như tất cả giáo sinh đều biết và ngâm nga những bài này. Ngoài ra Sơn cũng sáng tác một vài bài vui, ngắn để chúng tôi khi đi thực tập tại các trường dạy cho các em hát.

Tôi xin ghi lại đây một bài tượng trưng:
Ông Tiên vui
Ông Tiên vui,
Ông có cái râu dài.
Đêm ông thường ngủ yên trên đỉnh mây.
Ông Tiên vui,
Ông thường hay nhắc đến.
Chốn thiên đình chẳng có tháng ngày vui.
Ông Tiên vui,
Ông có cái căn nhà.
Trên ngọn đồi hằng đêm Ông ghé qua.
Hôm em lên,
Ông chợt đi đâu vắng!
Lúc em về, em buồn đến ngẩn ngơ.

Xin nhắc lại ở đây, Qui Nhơn lúc ấy còn nghèo lắm. Cả thành phố có mỗi quán kem duy nhất, vừa bán kem, vừa bán cà phê, thuốc lá, bia, trà. Đó là quán Phi Điệp, nằm trên đường Phan Bội Châu, đối diện với hội trường Qui Nhơn, nơi đã trình diễn văn nghệ.

Mỗi buổi chiều, chúng tôi, anh chị em nào có chút tiền còm thì kéo nhau vào quán, kêu bình trà, ngồi nhâm nhi nghe nhạc. Khá một chút nữa thì kêu một chai bia với tô bò viên gân, ngầu pín của ông Ba Tàu đậu xe trước quán. Thế là sang lắm rồi. Anh chị nào "bô xu" thì ra biển ngồi ngắm trăng suông. Biển Qui Nhơn là biển bùn nên cát ở đó có màu vàng xỉn trông dơ dáy, không trắng như cát biển Nha Trang. Dọc theo bờ biển là một hàng dương, chạy dài từ khu quân sự đến bệnh viện Nguyễn Huệ. Trước bệnh viện là xóm chài. Bờ biển không có một lều quán hay kiosque nào. Ông Đinh Cường nói cùng Trịnh Công Sơn và Bích Khê ra đó uống cà phê ngắm trăng là nói nhầm.

Ba Năm Tại B'lao (Bảo Lộc, Lâm Đồng)
Sau hai năm, mãn khóa, chúng tôi tốt nghiệp ra trường. Tôi và Trịnh Công Sơn cùng bốn giáo sinh khác là Lê Thị Ngọc Trinh (Huế), Nguyễn Văn Sang, Trương Khắc Nhượng, Đỗ Thị Nghiên (NhaTrang) cùng được bổ nhiệm chung một sư vụ lệnh, đáo nhậm nhiệm sở Ty Tiểu học Lâm Đồng. Sự vụ lệnh mang số 961-GD/NV/38/SVL tạm thời tuyển bổ do Ông Nguyễn Hữu Quyến, Xử Lý Thường Vụ Hiệu Trưởng Trường Sư Phạm ký ngày 14 tháng 8 năm 1964.

Sau hai năm tập sự, chúng tôi được điều chỉnh tuyển dụng bằng Nghị Định mang số 596-GD/NV/BC/QĐ do XLTV Đổng Lý Văn Phòng, Phụ Tá Chuyên Môn, Phạm Văn Thuật ký ngày 6/5/1966.

Đến năm 1967, chúng tôi mới được chính thức bổ dụng bằng Nghị Định mang số 687/GD/NV/3B/NĐ kể từ ngày 01/9/1966 do T.U.N Ủy Viên Giáo Dục Đổng Lý Văn phòng Huỳnh Ngọc Anh ký ngày 7/4/ 1967.

Với chỉ số lương 320 cộng thêm phụ cấp đắc đỏ vùng cao lúc bấy giờ, chúng tôi lãnh được năm ngàn hai trăm đồng ($5.200) mỗi tháng, tương đương với hai lạng rưỡi vàng Kim Thành. Vật giá lại rất rẽ. Tiền ăn, ở mỗi tháng chỉ hết 600 đồng. Chai bia Con Cọp 3 đồng. Một dĩa thịt bò lúc lắc bốn người ăn giá 7 đồng. Tô phở 3 đồng. Cà phê loại ngon, một ly/1 đồng. Cơm bữa với ba món, 6 đồng. Thời gian từ 1964 đến 1967, chúng tôi sống sung sướng, tiêu pha rộng rãi mà vẫn còn rủng rỉnh.

Tôi từ Nha Trang lên, theo đường Nha Trang-Đà Lạt-Bảo Lộc. Trịnh Công Sơn, từ Huế bay vào Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn đi xe đò lên Bảo Lộc.

Không hẹn mà gặp lại nhau trên bến xe vắng vẻ, thưa thớt bóng người. Lâu lâu mới thấy dăm người Thượng lầm lũi nối đuôi nhau, lặng lẽ rảo bước về một bản làng nào đó. Chúng tôi nhìn nhau, lòng thầm nghĩ: Trời ơi! Cái thiên đường mà mình tưởng tượng khi nắm trong tay tờ Sự Vụ Lệnh là đây sao? B"lao-Bảo Lộc là đây sao? Một phố quận vào chiều thứ sáu sao mà vắng lặng, buồn hiu hắt. Chuyến xe cuối cùng đổ khách xuống đây rồi lẫn mất. Ai cũng tản mác về nhà. Chỉ còn trơ lại Sơn và tôi, trơ trọi, cô độc. Trời lại đang mưa lâm râm, lành lạnh. Hai chúng tôi, mỗi người một va li quần áo nhẹ tênh. Lang thang tìm người hỏi đường đến Ty Tiểu Học Lâm Đồng. Lúc bấy giờ, thị xã Đà Lạt thuộc tỉnh Tuyên Đức. Lâm Đồng là một tỉnh chỉ có vỏn vẹn hai quận là Djiring (Di Linh) và B'lao (Bảo Lộc). Trước năm 1960, Tòa Hành Chánh đặt ở Di Linh. Sau dời về Bảo Lộc được mấy năm, trước khi chúng tôi đến.

Khi chúng tôi tìm được đến Ty Tiểu Học thì trời đã sụp tối mặc dù chưa tới sáu giờ. Sương mù bốc lên từ mặt đất, bay là là dưới chân. Ty chỉ cách bến xe non nửa cây số. May mắn, lúc ấy bác lao công đang khóa cửa chuẩn bị ra về. Khi biết chúng tôi là giáo viên mới đổi đến, bác ân cần mời chúng tôi theo bác.

- Mấy thầy cũng may! -Bác nói- Chút nữa là tôi về rồi. Mai thứ bảy Ty nghỉ. Mấy thầy biết trọ nơi đâu. Đi theo tôi, tôi sẽ giới thiệu hai thầy với mấy ông giáo cũng vừa mới đổi tới đây mấy hôm trước.

Chúng tôi theo chân Bác vào ngõ Tiên Dung (gọi là ngõ Tiên Dung vì đầu ngõ có tiệm chụp hình mang tên ấy). Đi sâu vào khoảng hai trăm thước, con hẽm hẹp, trơn trợt vì cơn mưa buổi chiều, xoai xoãi lên dốc dần. Bác dừng chân trước một căn nhà mái tole, vách ván. Trong nhà vẳng ra tiếng cười nói vui nhộn của đám đông. Bác cai bước vào trước. Tiếng huyên náo im bặt. Bác ra hiệu cho chúng tôi vào nhà. Trong nhà chỉ có một chiếc giường gỗ khá rộng. Trên giường bốn mạng đang nằm, ngồi lổn nhổn. Mọi người nhìn bác cai chờ đợi. Bác đưa tay về chúng tôi rồi hướng về một anh lớn nhất trong đám giới thiệu:

- Thầy Lãng à! Mấy thầy này mới đổi tới hồi chiều. Ty đóng cửa rồi, không trình diện được. Thầy giúp dùm cho mấy thẩy ở tạm qua đêm được không? Nhà tôi chật quá, không có chỗ ngủ.
Lãng tung chăn, ngồi dậy, giọng hơi cà lăm:
- Thế à! Được... được! Bác cứ về! Để... để tụi này thu xếp.

Sau khi bác cai quay lưng ra khỏi cửa, tôi với Sơn sực nhớ ra chưa nói lời nào cám ơn sự giúp đỡ của bác, bèn vội nói vói theo:
- Cám ơn bác nghe!
Không thấy tiếng trả lời. Có lẽ bác đã đi khá xa. Chợt Lãng lên tiếng:
- Ối giời! Nhà bác ấy cũng gần ngay đây thôi! Sáng mai, thế nào bác ấy cũng sang đây. Các anh vào đây đã. Sao cứ đứng mãi thế. Để... để cái va li vào góc này!

Chúng tôi theo lời anh đem hành lý đặt vào góc nhà. Thế rồi cả bốn người bu quanh hỏi thăm rối rít.
- Sư Phạm Qui Nhơn hả?
- Vâng!
- À, có anh Sang cũng Sư Phạm Qui Nhơn đây, mới trình diện hôm kia. Còn bọn này Sư Phạm Sài Gòn. Cũng lên trước mấy ngày thôi.

Tôi nhìn qua Sang. Cũng dân Nha Trang, nhưng tôi chưa gặp mặt lần nào tại Qui Nhơn. Sang ốm và cao như cây tre miễu. Nước da đen nhẽm. Mắt tròn xoe, tròng trắng nhiều hơn tròng đen. Còn hai người kia mới thoạt nhìn cứ tưởng là hai anh em. Cả hai đều tròn lẵn, chắc nịch. Da mặt hồng hào, bóng lưỡng. Một anh tên là Nguyễn Đức Hinh, nãy giờ chỉ đứng nhìn chúng tôi cười cười, không nói gì, nét mặt lộ vẽ thân thiện. Còn anh kia là Đỗ Danh Đạo, người hoạt bát, nói năng vui vẻ. Anh giới thiệu với chúng tôi người này, người nọ bằng một giọng đặc biệt Bắc pha Sài Gòn nghe rất tếu:
- Ông này là Nguyễn Tiến Lãng, -anh chỉ tay về phía đầu giường, Lãng đang quấn mền, ngồi dựa lưng vào vách.- Lãng là thổ địa kỳ cựu sáu năm ở đây, có biệt danh là ông Trùm. Đang dạy tại trường Nam Bảo Lộc.
Có lẽ đoán được sự thắc mắc của chúng tôi qua nét mặt ngơ ngác, Đạo giải thích:
- Sở dĩ ông Lãng lên tới chức Ông Trùm là vì ông ở đây lâu, thổ nhưỡng Lâm Đồng tặng cho ông bệnh sốt rét kinh niên. Cứ tới năm giờ chiều là ông phải trùm mền, xoa dầu Nhị Thiên Đường. Ngày nắng hay ngày mưa cũng đều đặn.

Mọi người cười rộ lên qua lời tếu của Đạo. Quay qua cặp mập và ốm ngồi cạnh nhau, Đạo tiếp:
- Còn hai ông này là Sang và Hinh, đang làm vua một cõi tại Lạc An, cách đây bảy cây số. Một tuần về phố một lần để du hí. Tạm trú tại "am" của em và bác Lãng.

Không khí dần dần cởi mở, thân mật. Chúng tôi thấy ấm lòng và quên ngay nỗi buồn nặng nề buổi chiều, mới cách đây có hai tiếng đồng hồ. Chợt Hinh lên tiếng:
- Này ông, ông giới thiệu người khác lung tung, sao ông không nói gì về ông hết?
Đạo đỏ mặt rần lên, phất tay lia lịa:
- Thôi tha cho nhà em, nhà em đâu có gì để mà nói!
Nhưng Hinh đâu có chịu tha:
- Hai anh nè! Hắn là Đỗ Danh Đạo, tự là Đạo Sữa. Hôm mẹ hắn dẫn hắn lên đây giao cho bác Lãng trông nom, có dặn dò bác Lãng nhắc chừng hắn uống đều đặn mỗi ngày ba lần sữa, sữa Guigoze chính hiệu bà Lang Trọc đấy.
Nói xong, anh chỉ cho chúng tôi thấy hai thùng sữa tổ bố nằm dưới gầm bàn.

Thoáng chốc, chúng tôi thấy gần gũi và thân tình như đã quen nhau tự bao giờ. Mọi người dục chúng tôi đi tắm rữa rồi dẫn đi ăn tối. Đi ngược lại hẽm Tiên Dung. Phía bên kia đường là quán ăn Ngọc Hương, nằm bên phải đầu cầu. Buổi chiều, lầm lũi theo bác cai nên chúng tôi không để ý. Cầu có tên là Cầu Đất, vì bên dưới không có sông hay suối gì cả. Người ta dùng xe ủi, ủi đất lấp đầy một quãng, nối liền hai trái đồi, thành một lối đi, hai bên có thành che chắn cho khỏi ngã xuống hố, trông giống như cây cầu. Sương buổi tối đã dâng lên dầy đặc. Cả phố Bảo Lộc thắp thoáng ẩn hiện trong sương giống như cảnh tiên bồng trong xi nê. Quán ăn Ngọc Hương lập lòe ánh điện, văng vẳng tiếng nhạc phát ra, nghe như lúc gần lúc xa. Còn nhớ hình như bản "Những Bước Chân Âm Thầm". Vì lời ca, tiếng nhạc với cái khung cảnh lúc bấy giờ nó hòa nhập vào lòng người lần đầu tiên đặt chân lên miền cao nguyên, sơn cước... Trước mắt tôi, một cảnh trí hoàn toàn lạ lẫm, đầy huyền ão và thơ mộng mà từ thuở nhỏ đến giờ, sống ở miền gió biển, cát trắng, sóng vỗ quanh năm, tôi chưa từng được thấy. Có chăng cũng chỉ là tưởng tượng ra những hình ảnh mơ hồ qua bản nhạc "Ai Lên Xứ Hoa Đào" của nhạc sĩ Hoàng Nguyên mà thôi.

Những hình ảnh buổi chiều đứng co ro nơi bến xe vắng ngắt bóng người, nó ảm đạm thê lương bao nhiêu, bây giờ trở thành thơ mộng, lãng mạn bấy nhiêu. Nào con đường đất đỏ quanh co lẫn khuất dần trong ngõ vắng. Nào sương mù là là bay từng đám dưới chân. Nào những con đường lên dốc, xuống dốc khiến những mái nhà trồi lên, hụp xuống theo, y như những con thuyền tròng trành lượn theo giợn sóng xa xa ngoài biển.

Đang đói suốt một ngày đi đường, tôi và Sơn, vèo một cái, mỗi người đã ăn hết một dĩa cơm sườn nướng một cách ngon lành. Trong lúc mọi người đang nhâm nhi cà phê, nghe nhạc. Họ đã ăn từ chiều. Chúng tôi tiếp tục uống cà phê và trò chuyện. Sơn ít nói, chỉ ngồi nghe. Thỉnh thoảng góp vài câu gọi là. Có lẽ lần đầu còn giữ kẽ chăng? Ba anh: Lãng, Hinh, Đạo chốc chốc lại ngó chăm chăm vào Sơn, nửa như tò mò, nửa như quan sát. Phải chăng cái phong thái nghệ sĩ của Sơn đã gây cho người ta cái ấn tượng đầu tiên? Đối với tôi hay Sang, cái hình ảnh Trịnh Công Sơn, với một khuôn mặt ngăm đen, đôi mắt nhỏ mơ màng sau cặp kính cận khổ lớn, gọng đồi mồi che gần hết nửa khuôn mặt, trong hai năm học tại Qui Nhơn đã quá quen thuộc. Nhưng giờ đây, với những người bạn mới, chân chỉ hạt bột, mới rời ghế nhà trường, lần đầu tiên bước chân ra ngoài xã hội thì hình ảnh một ngươi nghệ sĩ như Sơn tự nhiên với mái tóc thưa, hơi dài, cái trán hói cao, đôi kính cận to quá khổ, hàng ria mép lưa thưa, vừa như râu, vừa như lông, mãnh và mịn khiến người ta thấy lạ nhưng ưa nhìn và có cảm tình ngay.

Gần chín giờ, mọi người dục về. Tôi và Sơn muốn nán lại chút nữa để được hưởng thêm cái hương vị ngọt ngào, đậm đà kỷ niệm của ngày đầu tiên đặt chân lên xứ Thượng. Nhưng anh Lãng cho biết, đúng chín giờ là nhà máy điện sẽ cúp.

Đêm đó, chúng tôi trãi chiếu, chăn xuống thềm nhà, năm người bạn trẻ, trừ anh Lãng nằm trên giường, tuổi sàng sàng từ hai bốn đến hai sáu, cùng nhau trao đổi những chuyện quê hương đi dần từ Sài Gòn ra đến Huế rồi thiếp vào giấc ngủ. Lúc bừng mắt dậy đã chín giờ sáng.

Sáng thứ Hai, trình diện tại Ty để chờ bổ nhiệm, chúng tôi gặp hầu hết các bạn khác từ các nơi cũng đã đến từ thứ Bảy, Chủ Nhật. Sư phạm Qui Nhơn đủ mặt: Lê Thị Ngọc Trinh, Đỗ Thị Nghiên, Trương Khắc Nhượng. Sư phạm Sài Gòn: Nam có Nguyễn Hảo Tâm, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Nghị. Nữ có: các cô Nguyệt, Châu, Hải, Trang... Sư phạm Long An chỉ có một ngoe là Ngô Thanh Bạch.

Ty Trưởng đương nhiệm là Ông Trương Cảnh Ngôn, sắp về hưu. Đỗ Thị Nghiên, Trương Khắc Nhượng, Nguyễn Hảo Tâm và tôi cùng được bổ nhiệm về trường Tân Bùi, xứ Tân Bùi, cách trung tâm Bảo Lộc chừng năm cây số. Lê Thị Ngọc Trinh bổ về trường Nữ Bảo Lộc ngay trung tâm phố. Nguyễn Văn Ba phụ chân kế toán tại Ty. Riêng Trịnh Công Sơn được "biệt nhãn" hơn bổ về một trường Sơ Cấp Thượng, ở sát nách Ty, chừng non cây số. Với chức vụ là Trưởng Giáo. (Xin chú ở đây, theo qui chế Bộ Giáo Dục bấy giờ: một trường chỉ có lớp bốn trở xuống gọi là trường Sơ cấp. Đứng đầu là Trưởng Giáo, phải dạy lớp và không có phụ cấp chức vụ 200$. Trường từ năm lớp trở lên mới được gọi là trường Tiểu học. Đứng đầu là Hiệu Trưởng có phụ cấp chức vụ, vẫn phải đứng lớp. Truờng có từ mười lớp trở lên, Hiệu Trưởng mới được miễn dạy.

Ngạch chúng tôi là Giáo Học Bổ Túc, chỉ số lương tập sự là 320, ngân sách do Bộ Quốc Gia Giáo Dục đài thọ, như đã nói ở trên.
Sau khi phân bổ xong, Ty cho chúng tôi được nghỉ một tuần để thu xếp nơi ăn chốn ở. Thứ hai tuần tới sẽ trình diện nhiệm sở mới.
Khi về đến nhà, chúng tôi bò lăn ra cười với cái chức Trưởng giáo của Sơn. Lần đầu nghe tới chức Trưởng Giáo, ai cũng liên tưởng tới chức Trưởng Lão Hộ Pháp trong Ma Giáo, truyện chưởng Kim Dung.

Mấy ngày thong thả, tôi và Sơn đi dạo khắp nơi để tìm nhà trọ. Thật đúng như lời của một bản nhạc "đi dăm phút đã trở về chốn cũ..." Phố Bảo Lộc nằm dọc theo quốc lộ, chỉ có một đoạn ngắn chưa đầy nửa cây số. Bắt đầu từ trường Nông Lâm Súc, chạy thoai thoải xuống dốc, đến cuối dốc là một cái hồ nước, trông giống như cái lòng chão là hết. Lên dốc, hai bên là những đồi trà ngút ngàn. Lâm Đồng là xứ trà. Xưa kia B"Lao do người Pháp khai khẩn trồng trà và chế biến trà. Họ có nhiều trang trại lớn và có cả sân bay tư nhân. Năm chúng tôi được bổ về đây thì chỉ còn hai người Pháp già lấy vợ Việt Nam là còn ở lại. Những trại chủ khác đã bán lại cơ sở cho người Việt hoặc bỏ hoang để về nước vì không chịu nổi Việt Cộng thu thuế.

Bảo Lộc là đọc theo âm Việt của tên Thượng là B"Lao. Năm 1954, ông Diệm đưa số người Bắc di cư lên đây khẩn hoang lập nghiệp. Họ toàn là người Công Giáo. Dẫn đầu là một cha xứ. Người xứ nào ở ngoài Bắc thuộc làng gì thì lên đây qui tụ lại thành một xứ, lấy tên làng mình ghép thêm chữ Tân để thành tên của xứ mình. Ví dụ: làng Bùi Chu thành Tân Bùi. Theo thứ tự, hướng từ Định Quán lên cao dần, qua khỏi khu vực sông La Ngà là đèo Ma Đa Gui, ranh giới tỉnh Lâm Đồng. Quận Bảo Lộc bắt đầu từ xứ Tân Bùi. Tiếp theo là Tân Hà. Phố Bảo Lộc nằm giữa. Rồi đến Tân Thanh, Tân Phát. Xa vào tận buôn Thượng còn thêm Tân Rai và Tân Lú. Tôi chưa đến đó bao giờ. Chỉ đọc thấy trên bản đồ hành chánh. Mỗi xứ đạo do một cha xứ cai quản, cả phần hồn lẫn phần xác. Phụ tá có các ông trùm. Xứ có lực lượng vũ trang riêng để tự vệ an ninh và đánh trả Việt Cộng. Chung quanh xứ bảo bọc bởi hàng rào tre kiên cố. Kẻ lạ muốn vào xứ phải có người trong xứ quen và hướng dẫn. Xứ được xây dựng theo đồ hình bát quái. Trung tâm là nhà thờ. Dưới mỗi nhà đều có đường hầm ăn thông với đường hầm chính dẫn tới nhà thờ. Đường hầm được đào và xây dựng rất rộng rãi, chắc chắn. Suốt những năm ông Diệm chấp chánh, không một tên du kích nào dám bén mãng đến quấy rối. Nghe nói lúc đầu cũng có vài tên cố thâm nhập nhưng đều bị giáo dân tóm cổ tức khắc. Trong khi đó, tại trung tâm phố, khu tập trung đông đảo dân Nam, Ngãi, Bình, Phú, Thừa Thiên theo đạo Phật đa số thì Việt Cộng lại dễ dàng trà trộn rãi truyền đơn và treo cờ. Kể từ năm 1964, khi chúng tôi dạy học tại đây, trở về sau, những chính quyền kế tiếp không chú trọng đến kế hoạch ấp chiến lược nữa, thu hồi toàn bộ vũ khí của các xứ, nên vấn đề an ninh lỏng lẽo dần.

Trở lại chuyện chúng tôi đi tìm nhà trọ. Suốt mấy ngày, Sơn và tôi lang thang khắp ngõ để tìm nhà thuê, nhưng không nơi nào vừa ý. Nhất là nhà vệ sinh thì khiếp quá. Tất cả các nhà đều đào hố xí sau vườn. Gác ngang miệng hố là hai thanh gỗ. Che chung quanh bằng những tấm cót tre. Không có mái che. Ngày mưa phải đội nón lá mà ngồi. Nhặng xanh hằng ngàn con bay vù vù từ dưới hố lên, bu cả vào người. Dòi bọ trắng nhởn to bằng đầu đũa, bò lổn nhổn khắp mặt đất. Eo ơi! Còn những ngày nắng oi nồng, cái mùi xú uế từ dưới xông lên càng khiếp đảm.

Trong lúc loay hoay tìm nhà, có ai đó mách chúng tôi, ở về phía Ty Công Chánh có ngôi biệt thự vừa xây xong, chủ nhà muốn cho thuê nhưng hơi đắt. Sơn và tôi đến ngay. Nhà rất đẹp, tọa lạc trên một khu quang đãng, thoáng tầm nhìn. Chung quanh hàng rào bao bọc, phía trước có cổng. Nhà có ba phòng ngủ, một phòng khách. Nhà bếp rộng chia làm hai, một nửa là bếp, một nửa là phòng tắm và vệ sinh. Chủ nhà là một người đàn bà tuổi trạc độ ba mươi, người mãnh dẽ. Bà hiện là Trưởng Phòng Kế Toán của Ty Công Chánh Lâm Đồng. Bà sống với đứa con gái nhỏ sáu tuổi tên Đào. Chồng bà đang làm việc ở Sàigòn, bà cho biết. Sau khi nói chuyện độ dăm phút, chúng tôi bằng lòng thuê toàn bộ căn nhà, trừ một phòng cho bà và đứa con gái để ở, với giá 1.200 đồng. Nếu muốn ăn cơm tháng thì bà nấu luôn cho. Ngày ba bữa, mỗi người trả thêm ba trăm đồng. Chúng tôi ra về với lòng thơ thới vì đã tìm được nơi ăn ở vừa ý. Trên đường về Sơn cứ lẩm bẩm: Đàn bà mà tên Phi lại lót Thị, Thị Phi... Thị Phi!

Sơn tủm tỉm cười một mình. Tôi biết Sơn đang nghĩ gì về bà chủ nhà trẻ, sống một mình. Chúng tôi rủ thêm hai người bạn nữa để chia bớt phòng và chia bớt tiền. Hai anh Nguyễn Hảo Tâm và Nguyễn Văn Ba đến xem nhà và đồng ý ngay. Sơn và tôi có công tìm nhà, nên được ưu tiên ở căn phòng trước, có cửa sổ quay ra mặt đường. Tâm và Ba ở căn kế. Bà chủ nhà căn trong cùng. Ba phòng ăn thông ra phòng khách. Phòng khách có cửa hông thông với nhà bếp. Từ lúc chúng tôi về ở, trừ những lúc dọn cơm cho chúng tôi hay những lúc đi làm chạm mặt ở phòng khách, bà chủ cùng đứa con gái đóng cửa im ỉm, nói chuyện rầm rì ở trong buồng, ít khi ló mặt ra ngoài. Mấy tháng sau, bà thuê được một cô người làm. Cô này độ chừng hơn hai mươi, có da thịt, tính tình hiền hậu, hơi quê mùa nhưng dễ thương. Cô giúp bà chủ đi chợ nấu ăn cho chúng tôi. Cô ngủ ở nhà bếp.

Nhớ lại một mẫu chuyện vui. Có lần bà chủ nghỉ phép nửa tháng về Sài Gòn với gia đình, bà yêu cầu chúng tôi tìm chỗ ăn tạm trong thời gian này. (lúc đó chưa có cô giúp việc) Bốn chúng tôi thay phiên nhau đi chợ nấu ăn mỗi người một ngày. Sở dĩ chúng tôi không đi ăn tiệm là vì hai lý do. Thứ nhất là làm biếng đi xa. Từ nhà đến tiệm ăn xa hơn đến chợ. Thứ hai, có cơ hội để thử mình có khả năng tự lực cánh sinh hay không? Đầu tiên, tôi xung phong trước. Bữa ăn có cá chiên dầm mắm tỏi ớt, chắm với dưa leo, rau sống, xà lách. Hội đồng chấm điểm: Tạm được! Ngày thứ hai, Nguyễn Văn Ba. Thịt ba chỉ kho hột vịt ăn với dưa cải và cà pháo muối mặn. Điểm: Khá. Đêm đó chúng tôi lục đục thức dậy uống nước và đi tiểu suốt. Nguyễn Hảo Tâm người Sài Gòn, giả giọng Bắc của Ba, ngâm ư ử chọc Văn Ba:
Em ơi! Mở cửa cho anh ra!
Kẻo anh chết khát trong vại cà nhà em!

Ngày thứ ba, Hảo Tâm vác chiếc bụng phệ đi chợ. Vậy mà thoáng cái đã về, xăn tay áo vào bếp. Trưa hôm đó chúng tôi được thưởng thức món hột vịt luộc, dầm xì dầu ớt chanh, chấm với giá chua, rau sống. Sơn rên rỉ : Chắc cái rô bi nê nước của bà chủ nhà đêm nay hư quá! Văn Ba được dịp trả thù câu chọc tối qua của Hảo Tâm:
- Này ông Tâm! Cái câu "Kẻo anh chết khát trong hủ giá chua nhà em" tối nay đọc nghe trúc trắc quá, ông ráng sửa lại nghe cho êm tai nhá!
Tâm cười giả lả:
- Nè... nè tráng miệng với chuối bồ hương đi! Ngon lắm đó.

Ngày thứ tư đến lượt Sơn. Anh rũ tôi đi cho có bạn. Hóa ra anh chàng mắc cỡ. Anh thủ sẵn trong túi hồi nào không hay một cái bao bằng giấy xi măng. Miệng ngậm ống vố phì phèo, tay chắp sau đít, anh lững thững vào chợ như người đi dạo cảnh. Tôi theo sau không ý kiến, mắt đảo quanh đám người Thượng, xem họ mua bán đổi chác những thổ sản mang từ trên núi xuống. Nhiều nhất là phong lan. Nhưng chỉ là những loại thường như hoàng lan, hoàng điệp, hàm rồng, long tu, địa lan... Mấy thứ này rẽ tiền. Chỉ năm, mười đồng một nhánh. Tháng đầu tôi ham, mua về treo đầy trong phòng. Song nó cứ rũ ra, chết dần. Có người bày cách, phải treo nó ngoài trời cho có đủ sương và nắng gió nó mới sống. Tôi làm theo. Nhưng mấy chục nhánh cũng lần lượt héo sầu, đổi sang màu vàng rồi chết khô. Có lẽ nó nhớ bạn, nhớ rừng chăng?

Sơn xăm xăm đi tới hàng đồ khô, gia vị và nói với bà bán hàng:
- Bà cho tôi một chục trứng gà, một ít củ hành và tỏi. Tính hết bao nhiêu?
Bà bán hàng nói giá tiền và hỏi lại:
- Cậu có cái gì đựng không? Đi chợ mà đi hai tay không vậy?
Sơn nhanh nhẹn rút trong túi quần ra cái bị giấy xi măng đưa cho bà bán hàng và nói:
- Bà bỏ hết vô đây là được rồi.

Trả tiền xong, Sơn quành qua hàng thịt mua một miếng thịt ba chỉ. Trở lại hàng rau mua thêm mấy trái cà chua.
- Xong! Ông thấy tôi có nghề không? Sơn hỏi tôi mà không cần câu trả lời.
Vừa về đến nhà đã thấy hai chàng Tâm và Ba chờ sẵn.
- Nào! Bữa nay coi anh chàng nhạc sĩ của mình nấu nướng ra làm sao!
Sơn cười hì hì:
- Được rồi! Mấy ông vô hết trong này coi tôi trổ tài nghe.

Sơn vào bếp chỉ huy ba chúng tôi, người này lột vỏ hành, tỏi, người kia rửa cà, thái lát mỏng, người nọ cắt thịt ba chỉ thành sợi như chiếc đũa. Chúng tôi làm theo răm rắp. Mọi việc đâu vào đấy. Và giục Sơn ra tay vì trời đã khá trưa rồi. Sơn bắt đầu đổ dầu chiên vào chão. Trong khi chờ đợi dầu nóng, Sơn giảng giải cách làm các món:
- Các ông sẽ được thưởng thức món hột gà "ốp la" và hột gà đổ chả nghe! (Sơn thường đệm tiếng "nghe" ở cuối câu rất nhẹ và rất dễ thương) Phải đợi dầu thật nóng, bốc khói, rồi khử dầu bằng vài tép tỏi đập dập cho thơm-Sơn nói tiếp:
- Bây giờ mấy ông coi nghe!
Sơn cầm lấy một trứng gà bằng hai tay, vừa làm vừa giảng tiếp:
- Mình phải cầm trứng bằng tám ngón tay như thế này, từ ngón trỏ đến ngón út, hai ngón tay cái bấm vào trứng để bóp quả trứng. Nè! Chú ý nè!

Chúng tôi ngó theo bàn tay Sơn, những ngón tay thuôn dài đang ôm lấy quả trứng. Những ngón tay khô, xương và da. Phải cho có thêm một ít thịt thì bàn tay Sơn chắc đẹp không thua gì bàn tay con gái. Sơn bóp mạnh hai ngón tay. Lòng trắng, lòng đỏ trứng gà thay vì lọt vào chão, lại vọt xuống đất đánh "bạch" một tiếng. Một trứng đi đời. Sơn bào chữa:
- Tại tôi bóp mạnh quá!
Chúng tôi khuyến khích:
- Làm lại! Làm lại!
Sơn làm thêm hai lần nữa, tình trạng vẫn y như cũ. Một đống trứng nhầy nhụa dưới chân. Ba la lên:
- Thôi! Thôi! Ông Sơn ơi, làm ơn tránh ra cho chúng tôi làm. Mà ông có biết làm không thì bảo?
Sơn nói:
- Hồi nhỏ tôi thấy má tôi làm như vậy mà!
Tâm hỏi lại:
- Mà ông đã làm thử lần nào chưa?
- Chưa!
- Vậy mà cũng bày!

Tôi chọc quê Sơn bằng cách hát nhại "Dã Tràng Ca": "Thôi! Còn gì nữa đâu! Còn gì nữa đâu! Mà không ăn rau..."
Sơn nổi cáu, xì nẹt:
- Thôi cha! Cha sửa lời làm hư hết bản nhạc của tôi đó cha.

Sau đó chúng tôi đập hết những trứng còn lại vào trong một cái tô lớn. Trộn thêm đường, hành củ, cà chua, thịt ba chỉ, tiêu, xì dầu đánh đều lên thành một món hổ lốn, đổ vào chảo thành hai lượt cho mau chín và không bị cháy phía dưới. Không ngờ bữa cơm ấy lại vui và ngon ra phết. Ai nấy vừa ăn vừa nhắc lại cảnh Sơn bóp trứng mà cười. Dứt bữa ăn, Sơn trịnh trọng đứng lên tuyên bố:
- Bắt đầu chiều nay đi ăn cơm tiệm!
Không ngờ cái lệnh vô tình ấy lại hợp cả cho chúng tôi. Không ai bảo ai, cả ba chúng tôi đồng thanh vừa cười, vừa hô to:
- Ăn cơm tiệm! Đã đảo đi chợ!

Những ngày chúng tôi sống chung với nhau trong "ngôi biệt thự" của bà Trần Thị Phi thật là vui nhộn. Cũng chính trong căn phòng có khung cửa sổ ngó ra con đường đất đỏ của căn nhà này, Trịnh Công Sơn đã sáng tác các nhạc phẩm để đời: "Chiều Một Mình Qua Phố", "Lời Buồn Thánh", "Vết Lăn Trầm"- và "Ca Khúc Da Vàng."




hai**


hai
   Trịnh Công Sơn và Tình Bè Bạn
Sau một tuần, anh em lục tục lên đủ mặt.
Bữa tiệc tẩy trần thật tưng bừng. Chúng tôi thầu hết tầng lầu trên của Câu Lạc bộ. Bây giờ thì ăn nói thoải mái, không còn phải e dè mấy tên du đãng tép riu. Sau vài ly máy nóng, chúng tôi tha hồ kể "chuyện nhà binh". Chuyện khói lửa bốn vùng chiến thuật nguội dần. Có anh sực nhớ tới Trịnh công Sơn, hỏi trống không:
- Có ai biết anh chàng Sơn nhà mình bây giờ ở đâu, làm gì không hè?
Hiện đáp:
- Tôi biết. Sơn bây giờ nổi tiếng lắm. Không những trong nước mà cả thế giới cũng biết.
Bạch không tin:
- Thôi cha! Xạo vừa vừa thôi! Thằng chả trốn lính, làm ăn gì được mà nổi tiếng!
Hiện vẫn bằng cái giọng rề rà bỡn cợt, nửa đuà nửa thật:
- Tôi làm việc ở cơ quan ninh quân đội, địa bàn Sài Gòn- Chợ Lớn, nên biết một ít về ông Sơn nhà mình. Đầu tiên ông ta được một tay có cở trong không quân che chở, cấp cho một cái thẻ "Chứng chỉ tại ngũ" chức vụ binh nhì lèo.
Có tiếng lao nhao:
- Ai vậy? Ai vậy? Ông biết không?
- Sao lại không! Đại Tá Lưu Kim Cương chớ ai vào đây nữa! Cảnh sát biết thừa đi chứ. Nhưng không dám đụng vào ổ kiến lửa.
Hiện cười cười, tợp thêm một ngụm bia rồi tiếp:
- Sau tay này tịch. Cụ Sơn nhà mình bèn làm một bản nhạc để tạ ơn người che chở mình. Bản nhạc có tên là "Cho một người nằm xuống".
Tín nhảy vô vòng chiến:
- Ông rề rà bỏ mẹ! Thế thì tôi hỏi ông nhé! Bao nhiêu năm ông già Thống còng lưng dạy thế cho ông ấy, để ông ấy lo việc công danh của mình, ông ấy có làm bản nhạc nào tên là "Cho một người dạy thế" để tạ ơn ông Thống không?
Hiện vẫn đũng đỉnh:
- Ấy! Cái này thì tôi không biết. Nhưng ông Thống chưa tịch thì làm gì có nhạc để tặng? Còn ông Sơn sẽ làm hay không thì có dịp gặp mặt tôi sẽ hỏi lại rồi cho ông biết sau.
Tín thở hắt ra:
- Nói như ông chán bỏ mẹ!
Đạo sốt ruột:
- Sau khi Lưu Kim Cương chết rồi thì ai là cái ô dù của ông Sơn?
- Cái ô dù hãy còn bé lắm. Phải nói là cây đa cổ thụ mới đúng.
Nói tới đây, Hiện dừng lại, thong thả rót bia vào ly mình một cách chậm rãi để bọt khỏi tràn miệng ly rồi nâng ly lên làm mấy tợp, mặc cho bao nhiêu con mắt đang hau háu chờ đợi.
Nghị nóng nảy văng tục:
- Mẹ! Cứ vờ vịt! Ông đấm buồi vào!
Hiện khà một tiếng sảng khoái, đưa tay chùi mép rồi mới tiếp:
- Cây đa cổ thụ là tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương đấy.
- À ra thế đấy! Nhiều tiếng xì xào.
Lãng từ đầu đến giờ vẫn ngồi im lặng nhâm nhi ly bia lắng nghe anh em kể chuyện "đường xa xứ lạ" thích lắm vì không được cái "hân hạnh", "Tòng quân giết giặc" để "Dong vó ngựa trên đường chinh chiến", bây giờ mới lên tiếng:
- Moa... moa thì "mo phú" tay nào che chở cho ông Sơn. Việc bắt ông Sơn là việc của mấy ông "cớm". Moa... moa thì moa bực cái ông Sơn nhà mình. Bực lắm cơ. Moa có mua mấy tập nhạc của ông ấy khi mới xuất bản. Tập nào cũng ghi tiểu sử có đủ thứ trên đời mà không thấy tập nào ghi lấy một dòng như "dạy học tại Bảo Lộc từ năm 1964 đến 1967" họặc "Học Sư phạm Qui Nhơn" chẳng hạn. Moa bực là nghĩ: Chẳng lẽ ông ta có mặc cảm xấu hổ với nghề dạy học chăng?
. . . .
. . . . . .
Tiếng cười nói lại xôn xao, náo nhiệt. Sực nhớ ra điều gì, Tín vùng nói lớn giữa tiếng ồn ào:
- Này các cụ! Còn em bé Đỗ thị Nghiên "cúng" cây đàn ghi ta cho ông Sơn ba năm có được xơ múi gì không?
Đạo là người rời Bảo Lộc sau cùng nên biết chuyện này, đáp ngay:
- Em Nghiên trước khi theo chồng về Huế có đến đòi lại cây đàn. Cũng còn may! Nếu không thì ông Sơn cũng đã quên.
Tín quay sang tôi móc lò:
- Còn ông mãnh này! Ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu ba năm trời có được xơ múi gì không?
Tôi thật thà trả lời:
- Có! Hồi đầu tiên Sơn có tặng cho tôi và ông Lợi, mỗi người một bản "Chiều Một Mình Qua Phố".
Tín vặn:
- Bấy nhiêu thôi à! Thế mấy tập Tình ca-Ca khúc da vàng không tặng sao?
- Sơn nói nhà xuất bản cho ít quá nên không đủ tặng.
Hiện tiếp lời:
- Mấy ông đừng trách! Ông Sơn bây giờ bạn đông lắm, đếm không hết. Ông ấy bây giờ đi đâu cũng có một đám bu quanh như nhặng xanh bu c. ngựa vậy.
Anh chàng Sang ngồi im từ đầu đến cuối, bây giờ như cóc mở miệng:
- Mấy cha cứ nói chuyện trên trời, dưới đất. Hồi còn ở đây, ông Sơn đã dự đoán sau hai mươi năm nội chiến, những người còn lại đều là một "lũ bội tình". Thì ông ấy có chút bạc ơn với nghề dạy học và chút bạc nghĩa với những người bạn ở cái xứ Thượng heo hút này cũng là chuyện nhỏ trong cuộc đời "vĩ đại" của ông ấy mà thôi. Có đáng gì đâu mà nhắc tới!
Câu chuyện nhạt dần, không khí cũng lắng dần. Có lẽ mọi người đã ngấm say. Lần đầu tiên trở lại Bảo Lộc, sau ba năm, tôi thấy anh Lãng không còn đòi về trước để trùm mền và xoa dầu Nhị Thiên đường như xưa. Có lẽ anh đã từ chức "ông Trùm" rồi chăng? Mừng cho anh.

. . .
. . . .

Giã Từ
Tháng 11 năm 1991, tôi đem hết gia đình vào Sài Gòn để chờ máy bay. Thời gian này, tôi gặp lại Lãng, Hinh, Tâm lùn và Sang. Lãng vẫn tiếp tục dạy học vì anh không có "nợ máu" với nhân dân. Anh được chuyển sang dạy cấp hai. Nay anh đã có vợ và hai con. Tâm cùng vợ bán sữa đậu nành sống lây lất qua ngày. Tối hì hục xay đậu. Sáng hì hục đẩy xe ba gác ra chợ Bà Chiểu bán. Sang cũng tốt nghiệp từ một trại Cải Tạo miền Nam, về vớ được một bà lỡ thì, bán chuối ở chợ Ông Tạ. Ngày ngày phụ với vợ vác những quầy chuối bán từ đầu chợ đến cuối chợ. Hinh cũng đã có vợ và một con. Phụ một chân sai vặt cho "ông bà bô" bán hàng trong một quán cóc ở Gò Vấp, kiếm cơm ngày hai bữa.

Trong một bữa nhậu chia tay cuối cùng gần cổng xe lửa số 6 (bò bảy món Ánh Hồng xưa) thăm hỏi những bạn bè cũ còn lại được những ai, thì được biết Đỗ Danh Đạo vượt biên, nay đang ở Tây Đức. Còn bao nhiêu thất tán trong trận cuồng phong thổi vào Sài Gòn tháng tư, bảy lăm. Bấy lâu không gặp lại một ai. Bữa ăn thật buồn. Tâm lùn cố pha trò nhưng vẫn không đánh tan nỗi u sầu nặng trĩu trong lòng mọi người. Lãng vẫn còn nói lắp:
- Thế... thế, trước khi rời khỏi Việt Nam, ông có định đến thăm Trịnh Công Sơn lần chót không?

Mọi người lúc ấy mới chợt nhớ ra là mình còn một người bạn tên là Trịnh công Sơn. Tôi hơi e ngại chuyện đến thăm. Sợ bị hiểu lầm dựa hơi, nhờ cậy. Tôi kể lại chuyện gặp hai ông Trịnh ở Nha Trang năm 1970, Sơn không thấy tôi hay không nhận tôi. Sang chép miệng:
- Đọc báo thấy nói ổng quen toàn những văn nghệ sĩ từ cái thời Nhân văn Giai phẩm ngoài Bắc như Văn Cao, Phùng Quán, Hoàng Cầm... không hà!
Sang lại chửi đổng:
- Mẹ! Thấy sang bắt quàng làm họ!
Hinh tiếp lời:
- Tôi có lần đến cà phê của anh ta. Chung quanh anh ta lúc nào cũng có một đống bu quanh.
Tâm hỏi:
- Thế anh ta có nhìn thấy ông không?
Hinh tặc lưỡi:
- Anh ta lúc nào cũng bận tíu tít với cái đám bung xung thì làm gì có thì giờ nhìn thấy tôi!
Tâm phấn khích quay sang tôi:
- Ngày mốt ông lên máy bay hả? Được rồi, trưa mai 12giờ, dẹp hàng xong, tôi chở ông lên chỗ ông Sơn ở, ông vào xem thử ra sao! Bây giờ Nhà nước cấp cho ông ta một cái vi la to lắm không biết của ai chạy bỏ lại. Mẹ! Không biết làm đến chức gì mà ngon thế? Tâm lại chửi đời. Các bạn xúm nhau mỗi người một câu, xúi tôi đi thử:
- Ông cứ đi thử cho biết tình đời! Chết thằng tây đen nào mà sợ!

Trưa hôm sau, Tâm chạy chiếc xe Honda cà tàng, xành xạch chở tôi đến vi la của Sơn đang ở. Tâm dừng xe bên kia đường chói chang nắng gắt giữa trưa, bảo tôi qua bấm chuông. Căn biệt thự có tường vây cao quá đầu bao bọc. Dọc bên trong có trồng trúc kiểng cao quá tường. Tôi bấm chuông. Cánh cửa sắt hé mở. Dưới tàn một khóm trúc ngay cổng, hai thanh niên vạm vỡ đang ngồi nhâm nhi. Chai Whisky vơi quá nửa. Một người hỏi tôi:
- Ông hỏi ai? Có việc gì?
- Tôi là bạn của ông Sơn lâu lắm rồi. Đến thăm thôi, không có việc gì cả!
- A! Anh Sơn đang nghỉ trên lầu! Ông đứng đây chờ một chút. Tôi lên thông báo rồi cho ông hay.
Anh ta bỏ ly rượu xuống bàn, bước vào nhà. Độ hai phút trở ra nói:
- Anh Sơn đang mệt cần nghỉ ngơi, sáng giờ uống hơi nhiều. Nếu ông cần gì, xin viết giấy để lại, chúng tôi sẽ trình với anh Sơn.

Nói xong anh ta xé trong tập sổ tay một tờ giấy con đưa cho tôi và cây viết Bic. Tôi lưỡng lự không biết phải viết cái gì. Nhìn qua bên kia đường thấy Tâm đang đưa tay quẹt mồ hôi trán, lòng tôi bất nhẫn. Tôi lia ngay một hàng không nghĩ ngợi: "Anh Sơn! Từ năm 1967 đến nay mới có dịp vào Sài Gòn. Ngày mai tôi sẽ lên máy bay đi Hoa Kỳ, nên ghé thăm anh tí chút, nhưng không được gặp. Thôi, xin hẹn lại kiếp sau". Đưa trả lại tờ giấy cho ngươì bảo vệ, tôi quay lưng đi thẳng.

Trên đường về, Tâm hỏi:
- Sao? Không có Sơn à?
- Có! Nhưng tên bảo vệ nói là Sơn sáng nay uống rượu hơi nhiều nên mệt, cần nghỉ ngơi. Hắn bảo tôi cần gì thì viết giấy để lại.
- Ông có viết không?
- Ban đầu tôi định không viết. Nhưng nhìn thấy ông đứng ngoài nắng nhễ nhại mồ hôi, tôi đâm bực, viết đại một câu cho bỏ ghét. Bây giờ nghĩ lại thấy cải lương quá!
- Câu gì mà cải lương?
- Xin hẹn lại kiếp sau!
Tâm cười ha hả:
- Thì đúng boong! Ông qua Mỹ rồi, làm gì có ngày về lại Việt Nam để gặp lại nhau? Không là kiếp sau à!
Tâm lại hỏi:
- Ông có nghĩ rằng họ sẽ đưa tờ giấy đó cho ông Sơn không?
- Không! Tôi nghĩ là không! Lúc tôi viết mấy chữ đó, liếc mắt thấy nó nhếch mép cười. Tôi chắc rằng khi quay lưng đi, chúng nó sẽ vất vào giỏ rác ngay. Vã lại, với chức quyền như Sơn hiện giờ thì ngày nào lại chẳng có khối thằng đến xưng là bạn để cầu cạnh, lợi dụng. Họ bận tâm làm gì!
Tâm vẫn ức:
- Ông Sơn làm nhạc thì ăn cái dải gì mà cầu cạnh?
Tôi phì cười vì cái ý nghĩ đơn giản của Tâm:
- Bán sữa đậu nành như ông, bán chuối lề đường như ông Sang thì không cần. Nhưng ông viết văn, làm nhạc thì phải khom lưng cười cầu tài đó!
- Sao ông biết?
- Tôi không biết ông Sơn đang nắm giữ chức vụ gì, nhưng cứ suy đoán thì thấy ngay. Này nhé! Cứ đem so sánh với những tay một đời theo đảng, mấy ai đã được ân sũng như thế? Vi la này! Những hai bảo vệ này! Còn vô khối bỗng lộc ngõ trước, ngõ sau thì đủ biết Sơn đang giữ chức vụ lớn và quan trọng lắm.
- Mới tới đây có mấy phút mà nghe ông nói như thánh nói!
- Cần gì phải thánh mới biết! Cứ nhìn đầy tớ gác cổng mà uống whisky thì biết ngay đời sống của thầy!

. . . . . . .







*

Kính xin nhà giáo Nguyễn văn Ty ( bút hiệu Nguyễn Thanh Ty ) lượng thứ cho tôi đã muội mạo trích đăng bài viết này mà chưa xin phép .
Tất cả cũng do buồn và bực bởi cả một thời gian dài ngưỡng mộ Tài và kính trọng Nhân Cách của con người sống trên đời chỉ cần có một tấm lòng chẳng cho ai cả , ( chưa đúng lắm đâu bởi hồi xưa thì lấy gì cho Lưu Kim Cương Nguyễn Cao Kỳ thời nay thì lấy gì cho bác Võ Văn Kiệt ) chẳng làm gì hết chỉ để gió cuốn đi thôi ha ha ha


nguyetthao ( trích lại từ thotre.com )

  



















Đăng nhập để trả lời
0
Trò Chơi
....Khi cảm thấy trò chơi cuộc sống có điều gì đó bất ổn thì hãy tìm đến một nơi tịch mịch, khóa kín các cánh cửa lại và giả vờ thả mình vào một cơn đau mộng mị. Cơn đau có thể tùy thích nhưng không thể không đau. Đau đến mịt mù để cái chết có cơ hội đến nhìn ngắm, thử thách số phận của bạn và vào một lúc tưởng chừng như tuyệt vọng nhất, bỗng những cơn gió lành đến từ các thảo nguyên xa xôi mang theo mùi hương cốm, hương bạc hà của những loài hoa dại đánh thức bạn dậy và làm hồi sinh những mùa xuân đang ngủ quên trong các mạch máu của bạn. Đó cũng là thời gian phục sinh của các sinh vật nhỏ bé trong các đầm lầy và là thời tỉnh thức của các bậc thiện giả trên các đỉnh núi cao hay trong các hang động.
... Trong một tháng mà bạn phải đi thăm năm , bảy bệnh nhân cấp cứu nặng, mười cái đám tang và hai mươi cái đám cưới (trong đó có ngày trong cùng một giờ phải tham dự đến 2,3 cái) thì cái tháng quỷ quái đó không còn bày biện ra một cuộc chơi nữa mà đó là một trò địa ngục. Khi một trò chơi biến thành địa ngục thì không có lý do gì nữa để tiếp tục cuộc chơi, hãy rút lui và cao bay xa chạy.
...Có lẽ trong các trò chơi chung thì trò chơi tình bạn là ít gây phiền não nhất. Nó chỉ có thể vui nhiều hoặc vui ít chứ không thể làm nên những đoạn trường. Nhưng nếu vì không may mà trò chơi tình bạn bỗng dưng gây nên thảm trạng thì hãy từ tốn mở rộng lòng bạn thêm một đôi lần nữa và ngẫm nghĩ. Đừng để ngộ nhận réo gọi thêm ngộ nhận. Đừng để những vết ố của lòng tị hiềm di căn trên niềm tin.
Có những ngôi nhà nền móng không vững chắc nên sụp đổ. Những khu vườn gầy guộc vì thiếu phân bón. Đừng làm nặng thên những gì đã quá nặng bởi tâm trí ta sẽ bị nặng thêm dưới gánh nặng ấy. Hãy biết lãng quên và biết để lại đằng sau những gì không thể cùng ta đồng hành về phái trước.
...Có những trò chơi ta chơi suốt đời không biết chán. Ngược lại cũng không ít trò chơi chỉ tham dự một đôi lần đã không còn hứng thú.Trò chơi uống rượu, uống trà một khi đã lao vào thì khó bề rút lui. Uống trà đã trở thành đạo. Trà đạo thì hầu như ai cũng đã có lần nghe nói đến và nó là một trò chơi thanh nhàn cao cấp của những bậc thượng thừa cao niên. Trò chơi uống rượu gần gũi với đời hơn. Nó là người bạn, người tình, nó là niềm vui và cũng là nỗi buồn, nó là lời an ủi, là niềm phấn khích, nó chia sẻ rồi lại bù đắp. Tóm lại, với người biết uống rượu như một trò chơi tao nhã thì nó là tất cả. Uống rượu để thấy yêu đời, yêu người hơn và thậm chí yêu cả những lập lòe đom đóm ma trơi tình phụ.
Nếu biết giữ đúng lời hứa với những cánh đồng lúa mạch, những cánh đồng nho, thì trò chơi uống rượu không bao giờ gây ra những đổ vỡ. Tôi đã đi qua những cánh đồng như thế, rồi bước qua những ngưỡng cửa đưa vào nơi ăn chốn ở của những thùng gỗ sồi cao chất ngất chứa đầy một chất lỏng màu hổ phách và trong mỗi giọt thơm đó đang hình thành mỗi ngày, cả trong mỗi giây phút một sự sống âm thầm, kỳ bí trong bóng tối tĩnh mịch kéo dài hàng mấy trăm năm. Trong mấy trăm năm ấy rượu không ngủ mà rượu thức. Thức và hóa thân. Hóa thân thành một tấm thân mềm mại trong suốt, vàng óng thơm tho.
Khi trò chơi uống rượu không còn mời gọi ta nữa thì ta tạm thở dài và tự nhủ đây không phải là một sự phụ rẫy. Đây chỉ là một cuộc chia tay ngắn hạn và sẽ không bao lâu những giọt rượu thơm tho lại làm đầy những chiếc ly thủy tinh trong những bữa tiệc đời thầm lặng riêng lẻ hay náo nhiệt đầm ấm cùng bạn bè.
...Có một ngàn lẻ một trò chơi, nhưng với tôi trò chơi tình yêu, cuộc sống và rượu là những trò chơi thiết thân và ngọan mục nhất. Những trò chơi ấy đã chọn tôi và tôi đành nhận lấy. Nhận lấy như một chọn lựa đầu tiên và cuối cùng thứ số phận không màu sắc huy hoàng cũng không u ám. Tôi chạy quanh những trò chơi đó như chạy quanh lòng trắc ẩn. Những trò chơi có khi giải thoát tôi, vực tôi dậy từ những vũng tăm tối quỷ quyệt của sự suy tàn, có khi dìm tôi xuống tận cùng sâu thẳm của trầm luân.
Tôi không vỗ tay hoan nghênh đặc biệt một trò chơi nào cả bởi vì tôi muốn giữ được lòng chính trực và sự khoan dung. Trên lối đi đẫn vào cuộc sống tôi vẫn gặp gỡ tình yêu và rượu. Giờ đây tôi đang nói thêm một lời tạm biệt khác. Tạm biệt những ly rượu nồng nàn sớm, trưa, chiều, tối. Cuộc sống tôi đang trần trụi những trò chơi. Cuộc sống trắng. Trò chơi cuộc sống không màu sắc đã buộc tôi tìm lại chính mình, tìm lại một gương mặt mà tôi nghĩ rằng không còn như xưa nữa.
Trịnh Công Sơn
Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết
Quên đi tình yêu quá vô cùng
Đăng nhập để trả lời
0


Những Định Mệnh Kỳ Lạ
Lên đường, đối với chúng tôi là một tiếng nói định mệnh. 
Hầu như chưa có một dân tộc nào mà lịch sử được chứng nghiệm một hành trình dài lâu đến thế. Dài lâu trong đêm tối máu xương. 
Không phải chỉ cần một đôi chân rắn chắc, bền bỉ và một ý chí không hề mỏi mệt, mòn lụt mà một cái gì khác hơn, trên tất cả những thứ đó: Định mệnh. 
Không phải từ những ngàn năm trước, mỗi một người dân nơi đây đã nhận lãnh “định mệnh đi lên” từ một bàn tay quyền uy nào đó như bây giờ những người lính trẻ nhận tấm thẻ bài và vũ khí để ra chiến trận. Định mệnh đó không biết từ một phép mầu quỷ quái và hiểm độc nào, đã hòa tan trong dòng sữa của những bà mẹ đầu tiên. Đã làm nên máu huyết và mỗi dòng máu chảy ngược về tim là từng nhát búa đánh mạnh vào chiếc cồng làm vang lên những bình minh rực rỡ. 
Và như thế họ đã ra đi cùng với giấc mơ. 
Bàn chân cha mẹ làm thành bàn chân con cháu. Núi cao thành đồng bằng. Đồng bằng thành nhà cửa, ruộng nương phố xá. Đất của mãnh thú thu gọn lại trong những biên giới khiêm nhường hơn. Những giống chân yếu đuối biến mất. 
Hành trình đã được làm bằng máu xương và nước mắt. Bằng vinh quang và tuyệt vọng. Bằng hăm hở và hối hận. Tất cả những kinh nghiệm đã vót nhọn những cơ năng của con người. Và trong mớ tên sắc bén đó, mũi tên quí giá nhất: ý thức đi lên. 
Đi lên! Không còn là một lời kêu gọi nữa mà chính mỗi chúng tôi là sự đi lên đó. 
Cả một dân tộc lên đường rất hồn nhiên. Như những đứa con của sứ mệnh gian truân và cao cả. 
Tôi đã từng qua nhiều nơi trên quê hương sau những trận đánh lớn. Không thể kể hết những tang thương của từng thành phố, từng quận lỵ, từng xóm làng, thôn ấp. Những gì là hình ảnh của đời sống đều biến dạng, rũ tan. Thoạt nhìn, không ai tin nổi về quá khứ của một nơi định cư phồn thịnh, huyên náo. Tất cả đã trở thành sa mạc gạch hồng cao nguyên tro than. Vốn liếng của một đời người tan ra thành tiếng khóc vắng lặng. Một vài nơi gần như không còn một cái gì được tha thức dưới sự tàn bạo khắc nghiệt của chiến tranh. Con người chỉ là trò chơi của một định mệnh rẻ rúng. Chỉ là những mẩu tàn của một người hút thuốc cuồng nhiệt, được vứt bỏ nhẹ nhàng, nhanh chóng. 
Cái chết tự nó dĩ nhiên không biết thở than. Nhưng mọi sự rồi cũng qua đi rất nhanh. Một thời gian ngắn, trên những đổ nát kia đã mọc lên nhà cửa, trường học, bệnh viện. Trên đường đã khua vang những bước chân họp chợ. Tiếng cười nói tung vào đời sống như những thách thức không ngừng với định mệnh. Hồi sinh nhanh chóng. Những con người nhỏ bé, nghèo nàn kia đã thức dậy rất sớm từ cơn đau. Họ không tàn trữ lời thở than. Không cất giữ những xót xa. Họ là những nhà ảo thuật tài tử và tài tình. Họ đã biến những vết tích chiến tranh thành những phần hữu dụng của đời sống. Những hố bom sau cơn mưa là hồ nuôi vịt, cá. Những hố lớn hơn làm hồ tắm cho trẻ con. Những vỏ đạn làm đèn, thành lò bếp. Cuộc sống cứ như thế mà tiếp tục. 
Dường như chúng tôi thoáng biết rằng còn có một cõi hạnh phúc ngoài những bất hạnh mỗi ngày phải biết sống cùng. Phải đi tới mãi và chờ đợi. Nhẫn nại và tiến lên không ngừng. Hai mươi ba năm. Ba mươi năm. Hơn thế nữa và hơn mãi thế nữa. Cho mỗi thế hệ. Đi, đi, đi. Trên mọi ngõ ngách, trên mọi làng mạc, đô thị, người dân chúng tôi, mỗi giờ phút, mang định mệnh trên vai và bước tới. Không quay nhìn lại bao giờ nữa. Đã từ lâu không muốn nhớ những bước chân đã bỏ lại. Phải đi lên. Nhìn về phía trước. Mỗi ngày đã ra đi. Ra đi và nuôi dưỡng hy vọng. Chúng tôi đã đi mấy ngàn năm. Và chưa biết sẽ còn đi đến bao giờ. Chúng tôi không là người thất vọng. Dù mỗi phút trong đời người là những con số mang tên thất vọng nhảy đều trên một chiếc máy. Chiếc máy thảm khốc của thời gian. Nó không ngừng làm chúng tôi hoảng hốt. Mỗi ngày trôi qua là một lời thúc giục. Những bình minh những hoàng hôn chớp nhanh như ảo ảnh bên cạnh những đổ nát và thây người càng ngày càng gia tăng. Mức độ hủy diệt to lớn quá đã gây nên khủng hoảng trầm trọng trên lương tâm chúng tôi. Dù ý lực được phân bón và chăm sóc từng giây, chúng tôi cũng không che giấu nổi sự phiền não hiện ra trong đôi mắt. Những đứa bé đã già đi quá sớm. Những nụ cười chúng tôi kém tươi. 
Sau mỗi giai đoạn nguy nan và chết chóc, mỗi đứa bé là một kinh nghiệm đau thương. Chúng nó biết về địa ngục và vực thẳm như những đứa trẻ Tây phương biết về hạnh phúc. Sự khôn ngoan của chúng đôi khi làm xót xa những nhà hiền triết. Chúng đã sống tận cùng sự sợ hãi. Và cũng đã sống tận cùng cái chết của những người thân. Từ đó chúng tôi biết rằng chúng tôi sinh ra từ vựng thẳm. Và nếu không muốn bị hủy diệt, chỉ có con đường duy nhất là: Đi lên!
 Hy vọng của chúng tôi thường nẩy mần sau mỗi cuộc tang thương. Chúng tôi chỉ có hai mùa để sống. Màu bão tố phải chống đỡ, vượt qua. Và mùa xuân, chúng tôi thổi lửa vào những gốc cây ẩm ướt để làm hồi sinh từng thớ gỗ. Bắt cây phải đâm chồi. Đó là mùa phục sinh của bao nhiêu tâm hồn tan nát. Chúng tôi không ngừng vá lại những rách nát, khâu lại từng vết thương. Và nhờ ơn trời, tất cả đều lành lặn và được bồi dưỡng kịp thời. 
Sau mỗi giai đoạn bình phục chúng tôi lại lên đường. Tuy nhiên, mỗi khởi hành mới lại bớt đi một chút hăm hở. Chúng tôi ít nói về hạnh phúc trong những câu chuyện. Chân những đứa bé đã biết dè dặt hơn trên cách đồng chè, trên những ruộng mía. Những con trâu trên đồng lúa cũng được lèo lái thận trọng trên những vùng đất không đủ an toàn. Thận trọng cũng là một danh từ học được trong hành trình đi lên. 
Có bao nhiêu lục địa trên trái đất này, con người thế giới không đi tới trong thể điệu của chúng tôi. Trên con đường đi tới tiến bộ, họ được chuyên chở trên những chuyến tàu êm ái, không nhọc mệt. Định mệnh họ là “hãy ngồi xuống thật thoải mái” và mệnh lệnh đi tới được chuyển qua đầu máy và động cơ của con tàu. Trong chuyến tàu mọi thứ đều được chuyên chở cùng một lúc. Người, thú vật, và thiên nhiên. Dĩ nhiên tôn giáo hay một cái gì tương tự như lòng sùng bái, đạo lý cũng được mang theo cùng với hành trang của họ. Mọi thứ đó đều có một bộ mặt sáng sủa và mới mẻ như nhau. Mỗi thứ đều được bảo vệ bởi một loại luật pháp riêng tư. Có cả sự bình đẳng và danh dự cho từng loại súc vật. Người ta cũng không quên sáng tạo ra cách cư xử tế nhị đối với chúng. 
Ở đây, trên mặt đất khô héo này, chúng tôi tự chuyên chở đi tới bằng hai chân và bằng ý chí của chính mình. Đó là sự đi lên đầy khổ nhọc, cam go. Sự đi lên ngược chiều với dòng hủy diệt. Dòng hủy diệt chảy xiết như từ một bờ đê vỡ. Tàn phá, đánh chìm. Định mệnh của những con người nhỏ bé nơi đây là đi thẳng vào dòng hủy diệt để vượt qua bên kia đêm tối. “Phải sống còn” là mệnh lệnh tối yếu. 
Có những kẻ may mắn sống còn để tiếp tục hành trình, có những kẻ bất hạnh đã bị cuốn đi. Nhưng tựu trung tất cả đã tranh đấu bằng ý chí siêu nhân. Và sự sống còn không phải là niềm kiêu hãnh mà là bổn phận phải hoàn thành một con đường đến nơi đến chốn do những kẻ chết tiếp sức qua kỷ niệm. 
Đôi khi, bên những thảm cảnh xảy ra hàng ngày, chúng tôi có những phút giây đắm mình trong tuyệt vọng. Chúng tôi tự hỏi về nơi chốn cuối cùng của hành trình. Có thật một biên giới để dừng chân hay không? 
Chúng tôi không còn thì giờ để mơ ước thiên đường hay niết bàn nữa. Đối với tôi đó là sự xa xỉ của những kẻ nhàn hạ vô tư. Mỗi giờ phút là một cuộc chạy đua cam go giành lấy sự sống. Cái chết nơi đây không có hạn kỳ. Tử thần không mang lưỡi hái tao nhã. Nó vồ chụp chúng tôi từ mọi phía, mọi giờ giấc, không bao giờ nương tay. Đó là một cuộc chiến đấu gian nan mà chúng tôi phải tìm đủ mọi cách để tự vệ. 
Chúng tôi phải luôn luôn thay đổi những khuôn mặt. Sáng chế những nơi trú ẩn an toàn. Ngay cả trong giấc ngủ chúng tôi cũng không được nghỉ ngơi. Bóng dáng ác thú vồ chụp tâm não mỗi đêm. Và cuộc chiếc đấu bên trong này thường làm chúng tôi ngã bệnh một thời gian. Những sợi thần kinh dãn ra tệ hại như những sợi thừng tuyệt vọng. Với những lần có tình trạng khốn đốn đó, chúng tôi tự chế ngự và chữa lành bằng rượu. Rượu chính là một kinh nghiệm rất tốt để làm kích thích lại những giác quan tê liệt và cho giấc ngủ. Đó cũng là cơ hội để bằng hữu quay quần với nhau. Bên một dòng sông hay trong những quán vắng. Với rượu, chúng tôi được khôi phục dễ dàng trong chốc lát. Và trong ánh mắt đỏ rực buổi chiều, tiếng nước đá chạm vào ly thủy tinh luôn luôn tạo nên những âm thanh nhã nhặn. 
Cũng không nên bỏ qua những ngày có thời tiết đẹp đẽ. Chúng tôi lợi dụng thiên nhiên tốt lành để làm những cuộc du ngoạn ngắn. Bên cạnh thực tế phũ phàng chúng tôi cần đôi phút thơ mộng. Tạo một chút ảo tưởng bình an và cứ cho là cuộc đời chưa đến nỗi nào. Hẳn nhiên đó không phải là một cuộc chiến chạy trốn thực tại. Chỉ là cách thế để làm trẻ lại tinh thần đấu tranh và để cho sự chịu đựng đừng bị mài nhẵn quá. 
Có những giây phút, hốt nhiên thoái ra ngoài cảnh tượng đời sống chung, chúng tôi không khỏi bàng hoàng và kinh ngạc về chính mình và về những kẻ chung quanh. Phép mầu nào đã cho chúng tôi sự chịu đựng bền bỉ thế? 
Chưa bao giờ chúng tôi từ khước sự hủy hoại. Không hề lẩn tránh. Lầm lì nhận chịu và nuốt cạn đắng cay, tủi nhục vào bên trong. Sự tàn phá của chiến tranh và của thiên nhiên chỉ đủ tạo nên một số ít người mất trí. Họ là những kẻ duy nhất đứng lại giữa hành trình. Hình ảnh họ thỉnh thoảng gợi lại trong chúng tôi về một giống nòi gian khổ. Họ là tiếng khóc của ngày đã qua. Cũng là lời than thở của những giọt máu để rơi lại sau những chuyến lên đường. Không đủ làm nhụt chí nhưng cũng là những vết buồn trên trang sử. Những ngày mùa đông rét mướt họ thường biến mất. Đến những mùa ấm áp hơn lại hiện ra với một khuôn mặt hoàn toàn biến đổi. Có kẻ đã móc mất đôi mắt của mình. Có kẻ vì sự hãi và thiếu ăn, đã mang hẳn khuôn mặt thú. Ở nơi khác, người điên có thể làm trò cười giải khuây thiên hạ. Nơi đây, thấy họ, không ai giấu nổi lòng ái ngại. 
Chúng tôi đã học được những bài học lớn lao về trò dâu bể. Bao nhiêu triều đại đã qua đi. Bao nhiêu đền đài đã sụp đổ. Bao nhiêu mùa màng đã tan nát. Có lẻ nhờ thế dân tộc chúng tôi có những binh đoàn quá đông đảo về thi sĩ. Họ là những binh sĩ của một anh hùng ca dài bất tận. Có cả những thi sĩ trữ tình. Bởi lẽ bên những mộ phần thường có những bông hoa. Học đường chẳng dạy dỗ chúng tôi được bao nhiêu. Chỉ có cuộc đời đã giáo huấn chúng tôi về tất cả. Chúng tôi không tìm hiểu sự phi lý trong những cuốn sách. Chúng tôi sống chính sự phi lý đó. Không hiểu có cần phải bày tỏ sự khôn ngoan của chúng tôi hay không. Tuy nhiên khi đã thấm nhuần được cuộc biển dâu của đời người, chúng tôi đã vượt qua bên kia mọi triết lý.
 Trên con đường đi tới, hành trang của chúng tôi đã nhẹ nhàng hơn thêm mỗi ngày. Không phải vì sự khôn ngoan của một chiến sĩ ở trên sa mạc mà vì sự khôn ngoan của định mệnh đã tước đoạt mất của chúng tôi. Tuổi thanh xuân của chúng tôi bị tát cạn. Ước mơ của chúng tôi bị cắt lìa. Chúng tôi phải đi lên bằng sự già dặn của những kẻ leo núi cao. Vào mùa xuân khi những tàng lá đã đổi màu, chúng tôi có cảm thấy hân hoan đôi chút nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy sự liên quan mật thiết nào giữa tuổi thơ và màu xanh non của lá. Vẻ đẹp của thiên nhiên một phần nào đã được cất ra khỏi chúng tôi những so sách đồng hóa với vẻ già cỗi của tâm hồn chúng tôi. Chúng cũng gian truân không kém. Tôi muốn nói về những cánh rừng tật nguyền, lở loét. Những đồng ruộng tràn đầy cỏ dại và sắt vụn. Mầu mỡ phì nhiêu của đất đai, nhiều nơi hỡi ơi chỉ để nuôi lớn hoang tàn. Điều này cũng xảy ra trên đời sống tinh thần chúng tôi. Những người dân quê dũng cảm hơn họ trung thành sắt son với chính họ. Không có gì lay chuyển nổi. Họ giữ được lòng trung tín với cuộc lên đường như một lời thề nguyền khắc ghi bằng máu. Riêng đám thị dân yếu đuối và hèn nhát hơn. Họ buông mình theo những chọn lựa dễ dàng mới để thủ lợi. Vì thế chúng tôi bắt đầu sợ hãi chọn lựa. Bởi vì mỗi chọn lựa mới thường là một cái bẫy đáng ngại đánh bật chúng ta ra khỏi con đường. Trong hành trình những ai ra khỏi con đường đương nhiên bị loại. Chúng tôi không coi họ là kẻ phản bội mà chỉ dành cho họ lòng thương xót. 
Đã có nhiều biến đổi trong hành trình. Những bước chân của chúng tôi dần dà đã không còn thuộc về con đường nữa. Mỗi chúng tôi chính là con đường. Con đường cưu mang ý hướng đi lên. Trong mỗi người dù ý thức hay vô thức, đang thành tựu một con dốc cheo leo và hiểm nghèo. Con dốc nối liền vực thẳm và côi cao. Có thể đó là quê hương. Nơi chúng tôi phải trở về. Mọi người chúng tôi đang cần ngơi nghỉ. 
Có lẽ chúng tôi sẽ không tìm thấy được gì ngoài chính mình. Nơi một quê hương sẽ có tên gọi. Cái tên đích thực của một giống dân đã soi tỏ được nguồn cội và đã hoàn thành sứ mệnh về nguồn. 
Riêng tôi có lẽ sẽ không đến được. Sẽ không bao giờ giáp mặt được quê hương. Nơi đỉnh cao chờ mong kia, đứa con gian truân không trở về. Bởi một điều quá giản dị: tôi không còn thì giờ nữa. 
Xin chúc phúc cho những kẻ còn đi. 
Vendredi 13.1973
Trịnh Công Sơn
(Trích: Bửu Ý - Trịnh Công Sơn Một Nhạc Sĩ Thiên Tài - 2003)
 
Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết
Quên đi tình yêu quá vô cùng
Đăng nhập để trả lời
0
Nhân Chuyện  T.C.Sơn

Tập viết về hai chữ  Nhân  Cách









một
 
Hồi nào tới giờ , thú thật nguyêtthao mơ hồ lắm về cái từ Nhân Cách , cứ nghĩ nhân cách là nhân cách thôi , rồi buôn chuyện ở đâu cũng đế vào một câu cho ra vẻ am tường : " mệnh phụ phu nhân có nhân cách của bà mệnh phụ phu nhân - cô gái điếm có nhân cách của nàng gái điếm !? )
Cho đến ngày ông tcs mất . trong điếu văn cho vỹ nhân này nguyetthao lượm ra được một từ mới  :" nhân cách lớn " . Á hà té ra nhân cách cũng có nhiều hạng nhân cách : nhân cách lớn , nhân cách vừa vừa , nhân cách hơi nhỏ , nhân cách nhỏ v.v. Thế là lại thêm phần phức tạp rồi , ai làm ơn giảng giải cho nguyetthao biết cách phân biệt các cỡ : lớn , vừa vừa , hơi nhỏ và nhỏ ở đây với .
 
hai
 
Đọc cũng khá nhiều bài viết về vỹ nhân tcs , những minh chứng về thiên tài của ông thì vô số , nhưng tìm mỏi con mắt vẫn chưa ( xin lưu ý chữ chưa )thấy một dữ liệu nhỏ nhoi nào nêu ra được cái nhân cách lớn của ông nhạc sỹ thể hiện ra ở thời gian nào không gian nào hoàn cảnh nào với ai trong trường hợp nào tình huống nào .
Không hẳn thế , cũng có hai lần cái nhân cách vừa vừa thôi được thể hiện ra qua lời kể của hai nhân vật .
* Một là nhà văn Lâm t. Mỹ Dạ kể ràng đã chứng kiến cái nhân cách của tcs thễ hiện vào cái ngày ông nhạc sỹ nghe tin Khánh Ly chết vì vượt biên :  chung quanh chỗ ông ngồi , tràn ngập căn phòng ông ở cơ man những tờ giấy ông nhạc sỵ nghuệch ngoạc hai chữ K.L . –
 Xin được nghiêng mình bái phục , ít nhất trong đời mình cũng đã một lần nguyetthảo thể hiện nhân cách vừa vừa của mình cho thế giới thấy . Đó là cái ngày thằng bồ cưới vợ ,  nguyetthao cũng làm sạch boong một gram 500 tờ giấy y cheng như vậy .
.
 
**Lần thứ hai nhân cách vừa vừa của tcs được thể hiện khi ông thày giáo - thày của lũ Thượng con - dứt khoát từ chối yêu cầu của ông đại tá tỉnh trưởng Lâm Đồng trong một dịp lễ lạc nào đó - Tiếc thay lời kể này chỉ là của một gã thày giáo chưa có được cỡ 1% uy tín so với những người nổi tiếng cùng đẳng cấp tcs như Trịnh Cung - Ng. q Sáng - Trần Long Ân v. v. nên cần phải xem xét lại . Chưa biết chừng cái gã thày giáo cùng đinh này lại chỉ có ý đồ lợi dụng nhân cách lớn của trịnh vỹ nhân để chứng tỏ chút nhân cách nhỏ của mình cũng nên chăng ! Khổ thật ! nhân tài thì dư giả nhân cách còn con người bình thường hơi khó đấy đa .
 
ba
 
Tìm thày giáo cũ , nhờ thày giảng lại cho hai từ Nhân Cách . Giảng tới giảng lui vẫn chẳng thông lại xin thày dẫn chứng cho hai(2)cái Nhân Cách có tên tuổi cụ thể nhất . Thày hỏi tại sao là hai (2) . Thưa : chỉ hai (2) nhưng phải đối nghịch nhau như bà mệnh phụ và cô gái điếm ấy để mai mốt nguyetthảo dễ ứng dụng mà đi loè thiên hạ . Thày kể ( theo thày thì ) :
- Chính phái - tức phe ta ấy - Thày ái mộ nhân cách của anh hùng Phạm Xuân Ân nhất . Con người này có một cuộc sống thượng lưu ngay giữa trong lòng địch ( thời làm pv báo Time ) nhưng tuyệt đối không quên nghĩa vụ đối với tổ quốc mình . Khi đến những ngày sắp chiến thắng lại đau đáu nghỉ đến ( số phận ) những người mà mình đã tưng thọ ân . .
- Tà Phái - tức phe địch ấy - Thày khâm phục nhân cách bà văn sỹ Nhã Ca - chồng học tập . người đàn bà trẻ sống với mấy đứa con thơ trong tình cảnh ngặt nghèo không hề sợ liên luỵ tai tiếng , không hề sợ hậu quả khủng khiêp vẫn dung chứa bao bọc cho người anh , người bạn hồi nào của vợ chồng mình . Chưa hết còn nhường cả cái xuất vượt biên vô cùng đắt đò của con gái mình cho người bạn này nữa ( Đọc hồi ký của nhà văn Hữu Loan thời Nhân Văn Gia Phẩm mới thấy thắm thía nhân tình nhân cách đời con người )
 
bốn
 
Lại hỏi thày về phương pháp đánh giá so sánh lớn nhỏ trong nhân cách - thày lắc đầu - Không còn cách nào khác , nguyetthảo bắt bí thày xem sao : " người ta bảo tcs nhân cách lớn thế thì nhân cách Khánh Ly ở hạng nào , vừa vừa , hơi nhỏ hay nho nho nhỏ ạ "
Thày ngẫm nghĩ thật lâu rồi mới e dè ngài ngại : " So giữa hai người này thì không biết nhân cách tcs lớn tới đâu , tới cỡ nào nhưng có một điều chắc chắn nhân cách Khánh Ly lớn hơn nhân cách tcs một tý chút .'
- Sao lại vậy được thưa thày !
- Cái thời mà tcs uy vũ lừng danh trong nước thì Khánh Ly cũng vẫn giữ được vị thế của mình ở hải ngoại ( phải nói rõ ra như vậy để phân biệt với đám thày giáo -đồng nghiêp của tcs hồi xưa - không khéo có người lại bênh vực bảo Khánh Ly bợ đỡ để nhờ vả dựa hơi họ trinh ) khi bất cứ có ai hỏi đến sự nghiệp ( tcs-KLy ) thì trong trả lời của Khánh Ly luôn luôn là " nhờ tcs , nhờ nhạc tcs mả KL mới có . . . còn ngược lại trong trả lời của vỹ nhân này người ta chưa thấy ông nhạc sỹ mạnh dạn nói đến tiếng nhờ KL , nhờ có giọng ca KL . . Chỉ từng ấy thôi đủ xếp hạng nhân cách ai lớn hơn ai rồi .






nguyetthao  ( thơtre. com )
Đăng nhập để trả lời
0
nguyệt thảo

Thú thực mình không hiểu rõ lắm về cách nhìn của bạn về cố nhạc sĩ TCS nhưng mình có thể cảm nhận được bạn không mấy thiện cảm lắm với ông.Bạn có thể nói rõ hơn lí do vì sao được không?
Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết
Quên đi tình yêu quá vô cùng
Đăng nhập để trả lời
0
Potato thân !
Một thời họ  Trịnh /  đối với nguyetthảo / đã từng là thần tượng  !
Nhưng  mặt trái là thế đấy . Một thiên tài bất nhân bất nghĩa  . . .


Trở lại câu nói làm nên sự " bất hủ ?! " của con người tcs :

Sống trên đời , con người cần có một tấm lòng !
có ai đó hỏi ": để làm gì "
Phải chăng khi đang ba hoa về một thứ đạo giáo tcs nào đó con người ông nhạc sỹ này bất chợt giật mình nhớ đến thuở mình làm thày mấy thằng thượng con , nhớ đến ơn nghĩa của cái đám thày giáo mạt hạng ( bạn bè của tcs thế này ư ) và một chút lương tâm hối hận khiến ( hoặc là sợ hố hàng ) vĩ nhân của chúng ta phán một câu lãng nhách :
" chỉ để gió cuốn đi thôi "
Kính xin các tín đồ của tcs " giải mã " cho "danh ngôn " này . . .


nói đến Trịnh công Sơn tôi nhớ một câu chuyện, khi Khánh Ly ở Hải Ngoại có đăng bài viết ca ngợi về ông, nhưng ông đã lên tiếng trong báo giới trong nước rằng - tôi với khánh ly gặp nhau đó là một cuộc hạnh ngộ trong đời, chúng tôi yêu thương và coi như ruột thịt, nhưng những gì Khánh Ly nói là để ca ngợi về một người đã chết. vâng các bạn thấy đó , đó là sự yếu mềm , sự bé bỏng của một con người có phải không, ( ta thấy ở đây một sự hờn giận và cố tránh đi một tơ lòng sâu nặng của ông).H.L.C. thotre.com

Lại phải chăng con người ta củng có một lúc nào đó phải trở về cái tính bổn thiện của mình . Khi nói câu này chính là lúc vỹ nhân của chúng ta bị lương tâm dày vò cắn rứt khủng khiếp đây .
về một người đã chết !
"
thằng " ngưòi tcs nào đã chết ?
lúc này tăm tiếng và uy thế nhạc sỹ ưu tú` tcs đang lưng danh thiên hạ mà !
chính là "thằng" thày giáo tcs đã chết đấy !



Dầu gì tcs , với tôi  - nguyêtthao   - cũng có một hai điều đáng nể :
- thứ nhất là lúc cực kỳ hiếm hoi sống thật với lòng mình khi dám quẳng vào mặt bạn bè " tấm lòng tôi chỉ để gió cuốn đi thôi ". .
- thứ hai còn một chút liêm sỉ khi dám xác nhận rằng : đã có một thằng bội bạc trong tôi đã chết

nguyetthao

Đăng nhập để trả lời
0
  Quay lưng lại ngay với thần tượng chỉ vì một bài viết của một người , tôi thực sự không hiểu nổi bạn.Bạn đã bao giờ từng đi tìm hiểu xem trong bài viết đó có bao nhiêu % là sự thật không? Tôi thấy bài viết đó không thực sự thuyết phục , nó mang tính chất cá nhân và khá độc đoán.Tôi không thần tượng Trịnh Công Sơn đến mức mù quáng để không tin bất cứ những bài viết nào không hay về ông nhưng thực sự bài viết này có cái gì đó không ổn.
Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết
Quên đi tình yêu quá vô cùng
Đăng nhập để trả lời
0
Hi !
Mỗi người có một cách  cảm nhận  .
Bài viết chi ly cụ thể từng chi tiết tình huống & thời gian &nhân vật &sự kiện &nguyên nhân  & hệ quả . . .
Potato có thể nên copy lind  dưới đây để hiểu xem nguyetthao đã đi tìm hiểu về " thần tượng " của mình  nhu thế nào  và đã tìm ra thần tuợng là một kẻ bất nhân bất nghĩa  ra làm sao
http://diendan.thotre.com/index.php?showtopic=5406

Đăng nhập để trả lời
0
Mình đã đọc bài viết đó rồi nhưng mình không biết nó ra đời trước hay sau khi cố nhạc sĩ TCS mất.Có thể một phần nào đó là sự thật nhưng tác giả của bài viết đã nâng nó nên nhằm đạt được mục đích của mình nói xấu TCS.Nếu bài viêt này ra đời sau khi cố nhạc sĩ TCM mất thì thực sự nó không có chút ý nghĩa nào với mình.Mình coi thường tác giả của bài viết đó.Trong blog người ta có thể viết tất cả những cái gì mình thích.Dựa vào những sự kiện mình cũng có thể viết nhiều điều không đúng sự thật.
Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết
Quên đi tình yêu quá vô cùng
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-21 06:47:46hongngoc48>
(Không hiểu nổi tại sao lại có những mù quáng đến vậy nhỉ !

***************************


TRỊNH CÔNG SƠN,
Con Phù Du Ngụy Nghĩa.
Người Ca Thơ, Trường Tấu Khúc Hai Mang.

HẠC BÚT ÔNG ( thuvientoancau.com )

-------

Ðôi lời trần tình:

Hạc Bút tôi đã tạm gác bút quên đi chén Văn Chương một dạo. Vì lý do riêng. Khi mở ra mục này, người viết đã chấp nhận đương đầu với mọi thứ thị phi, ngộ nhận đến từ bất cứ phía nào. Hy vọng chỉ là đóng góp một phần nhỏ nhoi vốn liếng cho lớp người đi sau muốn tìm hiểu thi ca. (Nhận xét riêng của người viết có thể sai lầm, phiến diện, nhưng với thành ý, lấy công tâm làm chủ đạo).

Sau những loạt bài đầu tiên, chúng tôi nhận được khá nhiều ý kiến khác nhau từ độc giả và bằng hũu. Khen tặng khuyến khích cũng có, dè bỉu cũng có. Nhóm trước ghi nhận sự ích lợi do người viết mở ra một cánh cửa mới giúp họ nhận hiểu và lượng giá về thi ca một cách trung thực hơn. Họ gồm những bậc lão niên từng gắn bó với nghiệp văn nhiều năm. Và cũng không ít lớp trẻ đang mò mẫm vào với thế giới mông lung của thi ca.

Nhóm sau bác khước mọi phân tích của người viết, với những luận cứ thật mơ hồ, hoặc chung chung không rõ nét. Ðại khái như: Thi ca giống người đẹp, cần cảm nhận hơn là bới lông tìm vết. Hoặc, thơ như hoa là để ngắm thưởng từ xa, chỉ có kẻ phàm phu mới tìm cách phân tích hương vị, mầu sắc, cấu trúc của một bông hoa. Hay, thơ như bóng trăng dưới nước, như giọt sương đầu cành, hãy cảm nhiệm cái đẹp là đủ. Ðại cương là lớp người bảo thủ này từ khước những phân tích thi ca. Họ cũng trách cứ người viết quá khắt khe, nặng tay trong phê phán và đi quá sâu vào chi tiết.

Nhóm cuối cùng là bọn côn đồ văn nghệ hàm huyết phún nhân. Bọn hám danh dù chỉ là hư danh, xú danh muốn được nhắc tới dù chê, khen cũng vậy. Bọn thời cơ, phản ứng hàm hồ, thô bạo cố tình bóp méo sự thật, dựng đứng, xuyên tạc ngôn từ để ồn ào xách động vô lối. Sự việc này hoàn toàn nằm ngoài dự liệu và quan tâm của người viết.

Với những góp ý xây dựng, trong tinh thần tương kính, dù không đồng ý với các tác giả ấy, người viết vẫn quý mến, thâm tạ.Với bọn nặc nô chữ nghĩa, Hạc Bút Ông này vĩnh viễn dành cho chúng hai chữ im lặng.

Lần tái ngộ với bạn đọc Chén Văn Chương, Hạc Bút tôi xin mở ra một nghi án về tài hoa và môn võ phản trắc sở trường của một Trịnh Công Sơn, ca sĩ, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà văn.

Có một thời tôi thích nhạc Trịnh Công Sơn. Cũng đôi lần, tôi đứng chung sân khấu trình diễn với họ Trịnh. Thời ấy đã xa, và thời gian đã bôi xoá, rơi rụng chút hảo cảm mong manh đã có, khi xưa với nghệ nhân ấy.

Có thể nói thế đứng của Sơn và tôi luôn đối nghịch. Nó khác nhau như nước với lửa ở bản thể:
Tôi trực diện chiến đấu bảo vệ quê hương, mầu cờ chính nghĩa. Sơn co rút cầu an, trốn lánh nhiệm vụ công dân. (Trong đám văn nghệ sĩ thời ấy, nhiều người đã vào lính. Dù lính ma, lính kiểng, nhưng Sơn thì không.) Anh chọn đứng ngoài cuộc chiến đấu, ngồi xổm trên chính niệm: quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Sơn vẽ hoa lá cành, cho tính yếm nhược của anh bằng cung cách sống hoang đàng. Nghệ sĩ sống chết cho nghệ thuật, vì nghệ thuật. Ði xa hơn nữa, vào thi kỳ chiến cuộc khốc liệt nhất, Sơn theo đuôi, về huà với đám phản chiến quốc tế để tô mầu cho tâm thể khiếp nhược của anh.

Ở bước một, Sơn trốn lính, trốn chạy công luận, lương tâm, với xu hướng cầu an hèn mạt bằng tình ca, và du ca. Anh trốn lính một cách thảnh thơi, an nhàn dưới nách Tá này, Tướng nọ. Anh trốn lính mà vẫn bình yên ca hát tại trà lâu tửu quán mỗi đêm. Dù vô ơn đến đâu, anh cũng khó thể phủ nhận lòng bao dung, vị tha của quân dân Việt Nam Cộng Hoà, khi ấy.

Bước hai, Sơn tự đồng hoá mình với đám ngụy nghiã phản chiến. (Và phản phúc nữa, như Hoàng Phủ Ngọc Tường qua tác phẩm máu ghê tởm là các cuộc tàn sát dân vô tội ở Huế, Mậu Thân.) Sơn thẳng tay đánh phá thành trì tự do dân chủ miền Nam. Hơn ai hết, Sơn hiểu rõ vai trò của VNCH trong cuộc chiến tự vệ. Chúng ta không tự nguyện nhập cảng chiến tranh. Sơn đánh phá chúng ta, Sơn làm lợi cho kẻ thù hiếu chiến. Chỉ giải thích được sự kiện phản phúc ăn cháo đái bát, đâm sau lưng chiến sĩ của Sơn bằng một chiếc nón cối. Sơn tự đội trên cái đầu hèn hạ vô ơn bạc hạnh của y. Như Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đội trên dã tâm khát máu.

Bước ba, Sơn và lũ chính khách hoạt đầu, lũ thời cơ chủ nghĩa đeo băng đỏ Cách Mạng 30, lăng xăng kiếm điểm. Bằng chiếm đài phát thanh hát Nối Vòng Tay Lớn. Bằng trưng dẫn kỳ tích trốn lính, phản chiến, để kiếm điểm lẻ với Bác Ðảng. Thật không mỉa mai, hài hước nào bằng kẻ hèn nhát trốn lính, phản chiến như Sơn lại có ngày qùy mọp xin ân huệ của bọn hiếu chiến.

Bác Ðảng vốn là đỉnh ngu của trí tuệ loài người,nhưng đâu có ngu đến nỗi tin dùng một tên phản phúc như Trịnh Công Sơn. Cái nón cối do Sơn tự đội ở bước hai, và cái băng đỏ Cách Mạng 30, ở bước ba, đã không giúp gì được Sơn. Ngoài bằng chứng hèn hạ, phản phúc, đâm sau lưng chiến sĩ. Nhục mạ cái chính thể từng dung dưỡng và nuôi lớn Sơn:

"... Sau 1975,trong nhiều năm liền anh bị sống trong điều kiện canh chừng ép buộc của chính quyền cộng sản ở Huế. Mỗi năm anh phải dành ba bốn tháng để đi trồng lúa, trồng khoai, trồng sắn trên vùng Cồn Thiên, vùng đất mà trước đó cả hai bên đều chôn rất nhiều mìn bẫy để giết nhau. Vào lúc đi trồng trọt như thế, ai cũng chờ sự rủi ro đạp phải mìn bất cứ lúc nào ..." (Trích tài liệu phỏng vấn Trịnh Công Sơn do Jean Claude Pomonti, đăng trên nhật báo Le Monde ngày 2-3-95. Ðài VOA phát tin tối 11-3-95. Thời Luận đăng tải ngày 19-3-95 tại Los)

Suốt chiều dài cuộc chiến tranh tự vệ hào hùng trong gian khổ đẫm máu của quân dân Việt Nam Cộng Hoà (54-75), Sơn chưa từng đụng cái móng tay cho lao động, sản xuất. Chỉ khi tự đội nón cối, băng đỏ Cách Mạng 30, Sơn mới biết đến ý nghĩa đích thực của "Rủi ro đạn mìn" khi lao tác xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa tại Cồn Thiên. Vậy thì Trịnh Công Sơn nhân danh điều gì, cái gì, để phủ nhận chính thể VNCH đã từng độ lượng cưu mang Sơn ? Sẽ không có hứa hẹn tốt đẹp, chung thuỷ nào đáng kể với những quân phản phúc sớm đầu tối đánh như Sơn. Ðỉnh ngu cs cũng hiểu được điều ấy, nên chỉ sau 1979, nhờ can thiệp đặc biệt của Võ Văn Kiệt, Sơn mới chính thức được coi là một công dân XHCN với một hộ khẩu tại Sài Gòn.

Bước bốn, đây là lúc "Trịnh Công Sơn lần hồi tìm lại được sự công khai hoạt động." (tlđd) Cũng là lúc anh tung ra một số ca khúc mới, nhằm vuốt ve chủ mới, và tìm chân đứng trong hàng ngũ văn nô. Nhiều bài hát gây phẫn nộ và khinh thị của quần chúng đối với tài năng và nhân cách của họ Trịnh như: "Em Ra Ði Nơi Này Vẫn Thế. Em Còn Nhớ Hay Em Ðã Quên". Ánh Sáng Mạc Tư Khoa ...( Bài Ánh Sáng Mạc Tư Khoa được Sơn viết khi thăm viếng Công Trường Ðỏ, và Lăng cha già Lê Nin, được phát thanh trên đài Hà Nội vài lần, và bị dẹp luôn sau sụp đổ của thành trì cách mạng Nga Sô.) Con phù du ngụy nghĩa đã rã đôi cánh mỏng sau bao năm tháng phè phỡn, phủ phê hát trên máu bạn bè. Trịnh Công Sơn đã về thăm đất thánh vô sản đã cất cao tiếng hát nô dịch, thang lưng. Như Tố Hữu đã từng "Thương cha thương mẹ thương chồng, thương người thương một, thương ông thương mười".

Họ Trịnh khoe: "Ðã có lần chính Võ Nguyên Giáp có yêu cầu Trịnh Công Sơn hát cho nghe bài Mùa Thu Hà Nội." (tlđd) Ðiều nhỏ nhít tầm thường ấy mà cũng đáng cho Sơn hãnh diện khoe khoang sao ? Sau bao công sức, thành tích thoa son chế độ XHCN, mãi tới cuối năm 1994 Sơn mới có dịp hát cho công chúng Hà Nội nghe. Kiên tâm và dụng công như vậy có đáng không ?

Theo ký giả Pomonti thuật lại thì "Trịnh Công Sơn, thi nhân của bản chất dịu dàng Việt Nam, là ca sĩ. nhạc sĩ, hoạ sĩ, và nhà văn. Trịnh Công Sơn đích thực là người được nhiều cảm tình nhất của quần chúng trong nước, cũng như của 2 triệu người Việt Nam phải sống tha hương."

Hẳn là họ Trịnh đã không nói đến, có một thời gian khá lâu, tại hải ngoại, quần chúng đã chán ghét nhạc Trịnh Công Sơn. Không ai muốn nghe, không ai thèm hát nhạc họ Trịnh. (Tại một sân khấu ở Nữu Ước, Hotel Carter, trong phần trình diễn của ca sĩ Diễm Chi, một khán giả ngẫu nhiên yêu cầu bài hát của họ Trịnh. Diễm Chi đã phản ứng quyết liệt nguyên văn như sau:

- "Từ lâu, tôi không thèm hát nhạc của thằng phản quốc đó !"

(Hạc Bút tôi tình cờ có mặt hôm ấy, chứ không là nghe kể tam sao thất bổn). Có thật Sơn không biết là tài năng và nhân cách của y đã bị giới thưởng ngoạn đạp xuống bùn nhơ tại hải ngoại ? Hay Sơn biết rõ như vậy mà vẫn hàm hồ phét lác như truyền thống cố hữu của Việt cộng ?

"Thi nhân của bản chất dịu dàng Việt Nam", kể như tạm được.Thì cũng như Trịnh thi nhân đã phán trong bài phỏng vấn này: "Mọi người Việt Nam, hoặc là hầu hết, đều có thể là những nhà thơ. Nhưng trái với xưa kia khi mà thi ca chỉ có từ những mối tình dang dở, thì đối với Việt Nam ngày nay khác hẳn. Bởi bây giờ còn lại những gì là dịu dàng, là sự đầm ấm tình người, là tình yêu".

Xin bái phục Trịnh thi nhân về những nhận định thi ca kiểu ấy. Hèn gì trong nước, và hải ngoại chúng ta đã và đang lạm phát thi sĩ.

Cái ẩn ý của cả một câu lòng thòng này, "nhà văn" họ Trịnh đang muốn nâng bi đảng và nhà nước một cách kín đáo tận tình đấy. Bỏ qua những nhận định ấu trĩ và khẳng định thiếu luận cứ của Trịnh thi nhân rằng xưa kia thi ca chỉ có từ những mối tình dang dở. Hịch Tướng Sĩ, Bình Ngô Ðại Cáo, Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca vốn không phải là thi ca đó sao ?

Thâm ý là Sơn muốn tô son vẽ phấn tuyên truyền cho Việt cộng. Rằng Việt Nam ngày nay (1995) đã khác hẳn, đã thanh bình âu ca như thời Nghiêu Thuấn. Ðã chỉ còn là những gì dịu dàng, đầm ấm tình người, tình yêu.

Sự tuyên truyền bịp bợm lộ liễu hơn, trắng trợn hơn khi Sơn nói với Pomonti thế này:

- Tôi biết nhiều con cái gia đình cộng sản nay trở thành triệu phú, thành tổng giám đốc các công ty. Còn các nhà lãnh đạo hiện nay thì họ sẽ không bao giờ thay đổi được. Nhiều người tỏ ra e dè trước sự đổi mới. Nhưng họ sẽ có những người kế vị họ. Nay thì tâm thức của người kháng chiến cũ đang dần dần bị xoá đi. Ai ai nay cũng nghĩ nhất định không thể làm lại những điều như hôm qua. Cách đây hai ba năm gì đó, khi ông Ðỗ Mười kêu gọi về làm cho dân giầu nước mạnh, thì từ đấy trong đầu mọi người đã có điều gì thay đổi,và từ đó bầu không khí đã trở nên dễ thở hơn.”

Nhà văn Trịnh Công Sơn nói lấp lửng quanh co, vòng vo tam quốc thế đấy. Ðoạn đầu, Sơn muốn nói đám con cái của cán gộc nay đã nhờ buôn lậu tham nhũng mà trở nên giầu có. Giới lãnh đạo thì ù lì, ngoan cố, bám chặt lấy quyền lực. "Nhưng họ sẽ có người kế vị họ" là một câu lấp lửng rất Trịnh Công Sơn. Sẽ có người kế vị là truyện đương nhiên. Ẩn ý trong câu này, ngoài tính chất lô tô may rủi, Sơn còn ngầm báo hiệu tính chất muôn năm trường trị của Việt cộng. Luật của đảng cướp ngày là thay thế lớp già bằng lớp bớt già hơn. Ưu tiên dành cho những người nhiều tuổi đảng, hơn là dành cho người có tài năng đức độ. Sơn tin rằng sẽ chỉ có "kế vị", ngoài ra không có một cuộc đảo chánh, cách mạng nào sẽ xẩy ra hết.

Lại lấp lửng nữa ở "Tâm thức của người kháng chiến cũ đang dần dần bị xoá đi." Người "kháng chiến" cũ là người nào đây ? Người trí thức yêu nước, hay người cộng sản thuần thành yêu đảng ? Tâm thức bị xoá đi là cái giống gì ? Bị tẩy não, loại bỏ ra rìa, hay đã không còn yêu đảng nữa ?

Họ Trịnh muốn nói gì ở câu: "Ai ai nay cũng nghĩ nhất định không thể làm lại những điều như hôm qua."? Ai ai đó không thể tiếp tục bịp bợm, sắt máu như hôm qua ? Không thể tiếp tục cởi trói như hôm qua ? Là Trịnh văn gia võ đoán hay căn cứ vào đâu mà vào đâu mà biết ai ai cũng nghĩ như thế ?

Cùng với cung cách lảm nhảm ấy, họ Trịnh nói: "Cách đây hai ba năm khi ông Ðỗ Mười gọi về làm cho dân giầu nước mạnh"... Ông ÐM gọi ai về, từ đâu về mới được chứ ? Nguyễn Tuân sợ ngay cả cái bóng của chính mình. Họ Trịnh cũng sợ cả cái lưỡi của mình nên đâm ra ngô nghê, ngớ ngẩn thế đó. Họ Trịnh há không biết rằng trước ông ÐM thì "ai ai" đó đã từng "gọi về" giúp nước nghèo khiến mạt thêm, dân xìu xìu ển ển thêm đấy thôi.

Ðọc truyện Người Khách Lạ Xuống Tầu — Ga Xép của Nguyễn Huy Thiệp chưa ? Kỹ sư Nông Lâm Súc từ Ðức về đấy. Thực tài, thiện chí vứt đi. Làm kiệt xác, vẫn bị các đồng chí Giám đốc Nông trường ngu dốt cướp công, trù đập ứ hơi. Cuối cùng phải may mắn lắm mới có thể bỏ đảng chạy lấy người.

Sau cái "gọi về" của ông ÐM "thì từ đấy trong đầu mọi người đã có điều gì thay đổi, và từ đó bầu không khí đã trở nên dễ thở hơn." là một lối nói láo rẻ tiền, lối nâng bi rẻ tiền.Và dốt nữa. Ðã có "điều gì thay đổi" là cái gì chứ ? Chắc là không lạc quan lắm nên Sơn không thể đem khoe mẽ, dù rất muốn. Hẳn cũng chỉ là sau cơn mưa thì trời lại tối om mà thôi. "Bầu không khí đã trở nên dễ thở hơn" là cách nâng bi đảng mà vụng ve, ả lỡ tay bóp dế đảng. Nó minh xác rằng trước khi ông ÐM "gọi về" thì tình hình trong nước bi đát và khó thở vô cùng. Và cụm từ "dễ thở hơn" có nghiã là vẫn còn "khó thở" như thông lệ. Trịnh Công Sơn trí vận, kiều vận kiểu ấm ớ hội tề thế này thì đảng và nhà nước của ông ÐM sập tiệm mấy hồi. Hoan hô Trịnh văn gia một phát !


TRỊNH CÔNG SƠN:
NGƯỜI CA THƠ, TRƯỜNG TẤU KHÚC HAI MANG

"Người Ca Thơ" là chữ của Văn Cao nhằm thẩm định nhạc tài của Trịnh Công Sơn. Họ Trịnh đặc biệt có sở trường về lối viết với ẩn ý hai mang. Khen đó rồi chửi đó. Sơn ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản. Sơn bợ đít Ðảng lại ve vãn Quốc Gia. Chiêu số hai mang tài, xỉu độc đáo này thì chỉ Sơn và Hoàng Cầm thiện nghệ nhất. Hạc Bút tôi sẽ phân tách chi tiết ở phần sau.

Anh cũng có lối nói lấp lửng. Nói mà không nói gì cả như Hoàng Cầm. Qua bài phỏng vấn của Jean Claude Pomonti, đăng trên nhật báo Le Monde ngày 2-3-95, Sơn đang cố gắng giải độc cho chế độ độc tài khát máu của Việt Cộng.

Bị Pomonti gài vào câu hỏi khó, cần minh định lập trường chính trị khi họ Trịnh bị bạc đãi, đầy ải ở Cồn Thiên trong 4 năm:

- "Lúc đó trong tư thế một người nghệ sĩ đã từng nổi tiếng thì anh nghĩ gì ?"

Họ Trịnh thoát hiểm dễ dàng bằng câu trả lời lửng lơ con cá vàng thế này:

"Lúc đó là cơ hội để viết thêm cuộc đời khác".

Ði lúc ấy đã kể như bỏ đi ? Cần phải lột xác phản tỉnh ? Cần phải xám hối với người cũ, đời cũ đã rộng lượng cưu mang ? Cần phải chửi cha Bác Ðảng đã bạc đãi, đầy ải con người, ép buộc con người canh tác trên bãi mìn ? Muốn diễn giải cách nào cũng đúng thôi. Phần sự thật là sau đó, Sơn có dịp viết bản nhạc Ánh Sáng Mạc Tư Khoa. Em Ra Ði Nơi Này Vẫn Thế. Một Cõi Ði Về ... Ðó cũng là cuộc đời ảo, mà con phù du đã mải mê tìm kiếm trong cái nôi dung dưỡng tình tự của miền Nam tự do từ những ngày Ướt Mi.

Trịnh Công Sơn lải nhải nhắc đến tính hiếu hoà, vị tha của dân tộc: "Tha thứ là tiêu biểu của người Việt Nam". Nhưng cái đinh của những bài ca cà cưởng là: Việt Nam đang diễn ra thời buông xả toàn diện. Ðã có sự đoạn tuyệt trong mọi gia đình. Hãy nghe con vẹt Trịnh Công Sơn ca theo chỉ thị: "Sau 30 năm bị dồn ép, đối với tất cả mọi người, nay thì sự bùng lên xả tất cả sự dồn nén ấy là hoàn toàn, kể cả đối với các giới cầm quyền. Ðó là sự buông xả toàn diện. Là giai đoạn tự nhiên, không có gì xấu. Giới cầm quyền biết như vậy, bởi vì đã có sự đoạn tuyệt trong mọi gia đình, kể cả trong các gia đình người cộng sản."

Chúng ta có thêm nhiều dấu hỏi: Có không "thời buông xả toàn diện" như Sơn nói ? Có không "sự đoạn tuyệt trong mọi gia đình"? Mà đoạn tuyệt là cái giống gì chứ ? Ðoạn là cắt đứt. Tuyệt cũng là cắt bỏ. Hai từ đồng nghĩa này khi ghép lại với nhau mang ý mạnh hơn: Hoàn toàn dứt bỏ. Nó dùng cho những liên hệ tình cảm, giữa trai gái nhiều hơn. Hiển nhiên là cách nói của Trịnh văn gia đã cưỡng từ. Họ Trịnh đã cho mọi gia đình "đoạn tuyệt" với quá khứ dồn ép, sắt máu, sợ hãi ?... Những thứ ấy vốn là quà tặng ưu ái của đảng dành cho các đồng chí và nhân dân cả nước. Không lẽ Sơn hàm ý rằng mọi gia đình đều chống lại đảng, đoạn tuyệt với đảng ? Khó hiểu thật !

Trịnh Công Sơn là nhà văn ? Cũng được đi, dù anh ta sẽ tập văn viết, văn nói, bớt sỏi đá hơn. Những mảnh triết vụn, sáo rỗng thường thấy trong lời nhạc của Sơn như cách làm dáng, dễ được tha thứ, chấp nhận. Nhưng nói hoặc viết cần có mạch lạc hơn, không thể ngô nghê, ngớ ngẩn như thế. Thiếu gì những người từng nhận là thi sĩ như Sơn, dù chỉ với dăm bài thơ cóc nhái, hoặc vài cuốn thơ hũ mắm. Rất may là Hạc Bút này chưa có dịp đọc thơ của Trịnh thi nhân. Trịnh Công Sơn là ca sĩ ? Cũng không ai phản đối, ca sĩ Karaoke thiếu gì. Hay dở tuỳ đối tượng.

Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ, tầm cỡ nào ? Ðiều này thì họ Trịnh chưa dám tự khẳng định. Họ Trịnh cần cầu chứng danh vị nơi người khác. Trước hết là với Văn Cao, qua bài tựa ở cuốn Em Ra Ði Nơi Này Vẫn Thế. Văn Cao đã khoan dung mà ban cho nhạc tài của họ Trịnh mấy tiếng để đời: "Trịnh Công Sơn chỉ là một người ca thơ." Người Văn Cao thật hiểm. Ðánh giá một nhạc tài bằng câu đó có khác gì chửi bố đàn em. Lần cầu chứng khác,với tên đồ tể văn chương là Hoàng Phủ Ngọc Tường,qua bài tựa cuốn Em Còn Nhớ Hay Em Ðã Quên, do nhà xuất bản Trẻ in 1993.

Bài tựa vỏn vẹn hơn 30 giòng chữ, được viết từ 3 năm về trước, tháng 3-1991, tại Huế, con đưng Long Não. (Hạc Bút tôi chưa từng nghe có tên con đường này ở Huế ? Hoặc giả là do nhà văn đồ tể này tự đặt ra vì quen dùng băng phiến để tẩy rửa đôi tay đẫm máu ? Hay chữ Long Não có dụng tâm nhắc nhở đến các trại tù đầy tẩy não ? Hoặc tác giả đã hối hận tới long ra từng mảng não sau khi đã lấp đầy các hố xác ở Bãi Dâu, Gia Hội ... tết Mậu Thân ?)

Họ Hoàng này hẳn cũng là loại tai trâu, mắt thịt, nên suốt bài tựa ngắn tủn này, đã không có một câu nào, chữ nào nói về nhạc lý, nhạc tài của họ Trịnh. Chỉ là những lèm bèm lăng ba vi bộ về Phúc âm, về tiên tri, như một thầy bói mù đoán thẻ xâm ở lăng miễu. Thầy bói Hoàng Phủ phán rằng: "Tình ca Trịnh Công Sơn cuối cùng lại là bài kinh cầu bên bờ vực thẳm, lay động ý thức về thân phận ở bất cứ ai mê muội định tìm một chỗ ẩn trốn an toàn giữa cõi đời."

Lỉnh kỉnh thay, và cũng tối nghĩa thay ! Ta nên hiểu thế nào đây ? Tình ca mà cuối cùng biến thành kinh cầu của hãng nhà đòn Tobia ? Tài của họ Trịnh là ẩn trốn thật an toàn dưới mọi nghịch cảnh, mọi chế độ, dù ý thức có lay động, tâm thức có mê muội hay không ? Thầy bói Hoàng Phủ không nhìn thấy sự thật đó sao ?

Hình như mấy anh quản giáo cũng hay phán những lời ngoa ngôn lộng ngữ tương tự: Cuối cùng thì bọn ngụy các mày sẽ phải bị triệt tiêu thôi. Các mày đã bên bờ vực thẳm cả rồi. Các mày hãy hồi tâm chuyển ý, thành khẩn khai báo. Cách mạng đã thấy hết, biết rõ. Ðừng có mà mê muội định tìm cách dấu diếm, tìm cách nín thở qua sông, giả dại qua cầu với chúng ông. Hoặc giả nhà văn đồ tể có ý kín đáo mách nước cho họ Trịnh hãy lo sớm vượt biên, đừng có mê muội tưởng rằng nâng bi Bác, Ðảng là sẽ được an toàn trên cõi đời này ?

Trịnh Công Sơn là hoạ sĩ ? Hạc Bút này chưa từng thấy qua hoạ phẩm nào của y nên miễn bàn. Bây giờ xin nói đến tính phản trắc, ẩn náu trong lời nhạc Trịnh Công Sơn. Phản trắc, bởi Sơn là người ưa đứng núi này trông núi nọ. Ẩn náu, là thái độ khôn vặt, thời cơ, đặt cả hai mang tài,xỉu. Lời nhạc họ Trịnh thường pha một chút sáo rỗng, một chút triết vụn làm nền tảng để ẩn dấu những ý tưởng hai mang. Như một số bài được họ Trịnh viết ra từ sau 75,79. Tạm đơn cử bài "Một Cõi Đi Về" :

Một Cõi Ði Về

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Ði đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đội vầng nhật nguyệt
Rọi xuống trăm năm một cõi đi về
Lời nào của cây lời nào cỏ lạ
Một chiều ngồi say một đời thật nhẹ
Ngày qua

Vừa tàn mùa xuân rồi tàn mùa hạ
Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về
Chốn xa
Mây che trên đầu và nắng trên vai
Ðôi chân ta đi sông còn ở lại
Con tim yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hiện bóng con người

Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa
Mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ
Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ
Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà

Ðường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy
Một bờ cỏ non một bờ mộng mị
Ngày xưa
Từng lời tà dương là vùng mộ địa
Từng lời về sông nghe ra từ độ suối sa

Trong khi ta về lại nhớ ta đi
Ði lên non cao đi về biển rộng
Ðôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi xuống xuân thì.

(Còn Tiếng Hát Gửi Người. Duy Trác/Thúy Nga 54)

Bài hát, thoáng nghe rất hạp nhĩ như lời trần tình của một con người bất hạnh nhìn lại những tuyệt vọng mất mát của đời mình. Thoáng nghe, tưởng như những mảnh kỷ niệm ấy chắp nối, hiện về không ẩn ý. Vẫn là những nhóm chữ sáo rỗng, triết sảng về cái thân phận nhỏ nhoi của một kiếp người với hy vọng và thất vọng triền miên thường thấy trong nhạc Trịnh Công Sơn.

Nghe kỹ hơn, nhìn sâu hơn, sau đám hoả mù, chữ nghĩa âm binh ấy, ta thấy rõ nét những ngữ điệp nhắc lại, nhắn về, phần đời ân nghĩa mà Sơn đã lìa bỏ, đoạn tuyệt.

Ðoạn đầu, tạm giải thích thế này: Bao nhiêu năm rồi mà sao thuyền nhân mãi bỏ nước ra đi ? Ta biết đi đâu bây giờ ? Những vùng vẫy quanh quẩn xó nhà chỉ khiến cho đời mỏi mệt thêm.Trên hai vai ta là Bác Ðảng, lý tưởng hằng cửu như đôi vầng nhật nguyệt soi sáng đời ta. Ta còn muốn đi đâu, về đâu nữa chứ ?

Ðó là những lúc Sơn biện giải bằng lý trí. Chỉ trong cơn say, Sơn mới nghe vang vọng tiếng nói của con tim:

Lời nào "của cây", của bản vị, của miền đất nuôi anh lớn khôn ? Lời nào "cỏ lạ", lý tưởng cách mạng anh tìm kiếm, chạy theo hiển nhiên là mới lạ. Cây đã cưu mang anh thế nào ? Cỏ đã cho anh những gì ? Những chiều ngồi thả hồn trong cơn say, Sơn thấy đã đánh mất tất cả. Chỉ còn lại một đời thật nhẹ, thật vô vị, và Sơn luyến tiếc những ngày vàng đã qua.

Cơn say dắt Sơn về dĩ vãng, về những ngày sôi bỏng của mệnh nước, của tháng Tư đen. Sơn đã nôn nả chờ đợi ngày giải phóng này. "Một ngày đầu thu" chỉ là tá sự, vì nhu cầu của câu nhạc trên đã dùng đến xuân, hạ. Ðầu thu, do đó cũng chỉ là thế vì cho mùa hạ mà thôi. Viết như thế, càng dễ cho chủ đích ẩn náu ý tưởng của Sơn. Ðại khái là ở cuối tháng Tư, Sơn đã nghe được bước tiến quân của những sư đoàn giải phóng vượt trường sơn, từ rừng xa tiến về Sài Gòn. Anh vui mừng đã tìm được đồng chí, tìm gặp lý tưởng. Nỗi hân hoan được cực tả trong câu: "Mây che trên đầu và nắng trên vai" Anh vội bỏ Sài Gòn ra đi, dù với ít nhiều luyến nhớ. Chân bước đi nhưng lòng còn ở lại.

Sơn hăm hở đến với cách mạng, nhưng cách mạng không dùng. Trong bơ vơ đầy ải ấy, Sơn đôi lúc, chợt thấy tiếng nói của trái tim yêu thương, để thấy hiện tại anh chỉ là con vật. Nó, con người trong Sơn, chỉ hiện bóng ra trong giây lát mà thôi.

Những ngày mưa lận đận, đầy ải nơi này khiến Sơn nhớ đến mưa nồng nàn hạnh phúc đã qua. "Trăm năm vô biên" là những đấng lãnh tụ đầy quyền uy, thì Sơn chưa từng được hội ngộ, được diện thánh, được tiến cử. Thế nên Sơn như chó mất chủ cất lên tiếng tru thảm thiết:

"Chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà".

Bây giờ, sau khi sáng mắt sáng lòng, Sơn thấy rõ bộ mặt thật của cách mạng ra sao rồi. Cách mạng tiến nhanh, tiến mạnh đến thế giới đại đồng, vẫn chỉ là khẩu hiệu, bánh vẽ. Sự thực thế nào:




"Ðường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy
Một bờ cỏ non một bờ mộng mị
Ngày xưa."

Mậu Binh, trong tập THƠ ÐEN, biếm thi, 1991 cũng có bài Khởi Hành tương tự với ý này. Không rõ Mậu Binh và Trịnh Công Sơn ai đã thuổng ý của ai ? Hay hai "tư tưởng lớn" đã gặp nhau:

"Tiến lên chủ nghĩa đại đồng
Tiến mau ngựa chạy vòng vòng trường đua
Ngựa nòi vô sản mệt phờ
Bao năm cong đít vẫn chưa khởi hành"

(Khởi Hành, Thơ Ðen, Mậu Binh)


Trở lại với Trịnh Công Sơn,với bầy ngựa vô sản cũng cong đít chạy vòng vòng thế đó. Cái "bờ cỏ non" đảng hứa, đảng mớm vẫn chỉ là bánh vẽ, là một "mộng mị" mà thôi. Và Sơn âm thầm gọi nhớ đến "Ngày xưa yêu dấu !"

Hai câu kế tiếp, Sơn mô tả rõ nét hơn nỗi thất vọng ở trên:

"Từng lời tà dương là vùng mộ địa
Từng lời về sông nghe ra từ độ suối sa."

Sơn thấy đảng đang ngáp, đang thở hắt ra. Những khẩu hiệu mê sảng của đám lãnh tụ "tà dương", sắp ngỏm cù đèo chỉ mau dẫn nhân dân cả nước xuống "vùng mộ điạ" gần kề. Bây giờ Sơn nhớ lại từng lời ca chính khí núi sông của đám ngụy miền Nam mà anh đã nghe từ lúc đầu đời, suối sa.

"Trong khi ta về lại nhớ ta đi
Ði lên non cao, đi về biển rộng
Ðôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi xuống xuân thì."

Trịnh Công Sơn đã sớm nhận rõ sự lầm lạc của anh khi bán linh hồn cho Ðảng quỷ. Anh nghĩ đến việc tìm vào chiến khu để kháng cộng, hoặc vượt biên tỵ nạn chính trị như những anh em bạn bè khác. Nhưng than ôi mọi sự đã muộn màng. Ðảng đã quay lưng và anh em bằng hữu chắc cũng đã tởm mặt Sơn. Ðộ lượng thì cũng một vừa hai phải thôi chứ ! Trời đất bao la, nhưng Sơn đâu còn chỗ nào để dung thân ? Và ngọn gió hoang vu quái đản của đảng cứ tiếp tục thổi nát một đời trai.

Trịnh Công Sơn ! ta đã đoán trúng tim đen anh chưa ? Anh sẽ dùng những ẩn ngữ này để giải thích với đám bạn bè Non Cao, Biển Rừng của anh, sau này. Khi lũ quỷ đảng TÀ DƯƠNG đã nằm yên trong VÙNG MỘ ÐỊA . Dĩ nhiên là anh còn thủ sẵn một lời giải khác với MÂY TRÊN ÐẦU VÀ NẮNG TRÊN VAI, với ÐÔI VẦNG NHẬT NGUYỆT, với TRĂM NĂM VÔ BIÊN của anh. Anh cứ nói là ta hiểu sai, đoán mò, bới lông tìm vết, chẻ sợi tóc ra làm tư làm tám đi. Rảnh ta sẽ bình giải thêm những bài khác của anh. Ẩn ngữ cũng vô số trong bài anh bị thiên hạ chửi nhiều nhất:

"Em Ra Ði Nơi Này Vẫn Thế." Ðương nhiên là anh bị chửi không oan. Bởi cái tà tâm của anh, chứ ăn thua gì mớ ẩn ngữ phải cần đến tróc long, chiếu yêu kính của Hạc Bút ta mới giải được.

Viết thêm:

Hoàng Cầm và Trịnh Công Sơn chỉ là những người đam mê chút cảm giác mạnh. Ngoài cái lợi đi hàng hai, bắt cá hai tay, họ còn có cái thú tội nghiệp là muốn lấy vải thưa che mắt thánh. Nó giống bệnh ăn cắp vặt, bệnh ngoại tình với vợ người ... Ðương nhiên là ta rất xem thường nhân cách các anh. Các anh cứ tiếp tục đóng vai ngụy quân tử đi. Thú thật, nếu phải chọn giữa một chân-tiểu-nhân và một ngụy-quân-tử để bợp tai đá đít, thì ta sẽ chọn các anh.

HẠC BÚT ÔNG

Đăng nhập để trả lời
0
Ai là những con người mù quáng đây?
---------------------------------------
Đi lính để cầm súng bắn vào đồng bào mình , một tư tưởng nhân đạo và yêu nước?
Hoàng Cầm , Trần Dân , Phùng Quán , Văn Cao , Lưu Quang Vũ , Trịnh Công Sơn...là những người phản động , phản bạn , hèn nhát , bắt cá hai tay...? Vâng thời gian sẽ trả lời cho tất cả
Sự dối trá và giả tạo vẫn đang được tiếp tục đến bao giờ?
Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết
Quên đi tình yêu quá vô cùng
Đăng nhập để trả lời
0
Mình đã đọc bài viết đó rồi nhưng mình không biết nó ra đời trước hay sau khi cố nhạc sĩ TCS mất.Có thể một phần nào đó là sự thật nhưng tác giả của bài viết đã nâng nó nên nhằm đạt được mục đích của mình nói xấu TCS.Nếu bài viêt này ra đời sau khi cố nhạc sĩ TCM mất thì thực sự nó không có chút ý nghĩa nào với mình.Mình coi thường tác giả của bài viết đó.Trong blog người ta có thể viết tất cả những cái gì mình thích.Dựa vào những sự kiện mình cũng có thể viết nhiều điều không đúng sự thật. (potato )




Lại cũng là kiểu tranh luận giống như  kiểu tranh luận trước đây của nguyetthao với các nhân vật H.L.C / N.H.Đ nghĩa là chẳng nêu ra gì cả cứ áp đặt suy nghĩ của mình thôi .



*******************************

Ai là những con người mù quáng đây?
---------------------------------------
Đi lính để cầm súng bắn vào đồng bào mình , một tư tưởng nhân đạo và yêu nước?
Hoàng Cầm , Trần Dân , Phùng Quán , Văn Cao , Lưu Quang Vũ , Trịnh Công Sơn...là những người phản động , phản bạn , hèn nhát , bắt cá hai tay...? Vâng thời gian sẽ trả lời cho tất cả
Sự dối trá và giả tạo vẫn đang được tiếp tục đến bao giờ? ( potato )

nguyetthao muốn nhờ  bạn giải thích cho hai câu hỏi này thô
i

* một /
Cứ  theo potato thì  Hoàng  Cầm , Phùng  Quán ,  Văn  Cao , Lưu  Quang  Vũ  . . .  là những anh hùng  , những vĩ nhân  .
Vậy những  kẻ lăng nhục  / hãm hại / giam tù / ám sát / triệt hạ những  vĩ nhân những anh hùng này thì nên tuyên xưng là  gì !? -  Đại  ái  quốc chắc !!
**
  hai  /
Riêng Trinh Công Sơn là  kẻ chuyên nâng bi tuân phục ngợi  ca nhựng kẻ lăng nhục  / hãm hại / giam tù / ám sát / triệt hạ những  vĩ nhân những anh hùng trên ( tức  là nâng bi ngợi  ca những  nhà  đại  ái quốc ! ) thì nen ví họ Trịnh  vào loài  gì ?
Đăng nhập để trả lời
0