Diễn Đàn » Tin Việt Nam

LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM - THỬ TÌM NGUYÊN NHÂN

3 trả lời, 1.536 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-06 19:08:12Ngọc Lý>
LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM - THỬ TÌM NGUYÊN NHÂN
Nguyễn Phương Anh



“Vật liệu xây dựng tăng giá, nhà thầu có nguy cơ phá sản – Vật liệu xây dựng tăng giá chóng mặt, có những mặt hàng tăng gần gấp 3 lần khiến nhiều nhà thầu thực hiện các dự án xây dựng có nguy cơ phá sản vì ký hợp đồng trọn gói không được điều chỉnh giá. Ngay cả hợp đồng có điều khoản điều chỉnh giá, nhà thầu cũng vừa làm vừa run vì chẳng biết có được thanh toán không”.

Đấy là hàng tít lớn, kèm theo những dòng chữ đậm đăng ngay trên trang đầu báo Lao Động số ra ngày thứ tư, 19 tháng 3 năm 2008.

Thật vậy, so với năm 2006, giá vật liệu xây dựng năm 2007 đã tăng đáng kể. Thép tăng 25,75%, gạch tăng 22,8%, cát tăng 18,9%, nhựa đường tăng 17,6% …Đầu năm 2008, những con số này càng phi mã. Thép tăng từ 12.000 lên 20.000 đ/kg, xi măng tăng 40%, gạch tăng gần gấp 3 lần …

“ …Trước đây, khi xăng lên giá, hàng hóa nói chung không đến nỗi tăng chóng mặt. Lần này, hàng ngày, từ hạt gạo, sợi bún, cọng rau, thậm chí đến cả ly cà phê đá nhạt thếch cứ leo thang vùn vụt. Ngược lại, bát cơm, đĩa rau teo dần, nồi canh loãng hơn, miếng thịt ba chỉ thêm mỏng tang. Xóm nhà trọ của công nhân lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn đông người ở nhưng ngày nghỉ không khí hoàn toàn yên ắng, không khói bếp, không âm nhạc …”.

“ …Vào dịp năm ngoái, ngày cuối tuần, anh chị em công nhân thường rủ nhau góp tiền làm bữa ăn tươi, nhưng từ sau Tết đến giờ cái lệ này đã bị phá bỏ. Bữa cơm rau dưa theo đúng nghĩa, giờ đã thành xa xỉ đối với họ. Bởi Tết ra, chưa kịp có thêm khoản thu nhập nào thì rau bắp cải tăng từ 3.000đ lên 12.000 – 13.000 đ/kg, rau muống có lúc lên tới 15.000 – 20.000 đ/mớ, cải cúc từ 500đ lên 1.000- 1.500 đ/mớ...”

“ …Giá các mặt hàng tăng quá cao, công nhân lao động phải thắt lưng buộc bụng nên chợ cũng vắng teo. Bà Hà bán thịt lợn ở chợ cóc gần khu công nghiệp Bắc Thăng Long ( Đông Anh – Hà Nội ) trước đây mỗi ngày bán được 30 – 40 kg thịt, chủ yếu cho công nhân, bây giờ lượng thịt bán ra chỉ vào tầm phân nửa. Bà Hà than thở: “Trước đây, họ có thể mua thịt 2 lần /tuần, bây giờ cả tuần không thấy đâu ” …”.

“ … Các khoản chi, nếu trước đây là vặt vãnh thì nay cũng thành tấm thành món đã được Tuấn cắt bỏ. Có những khi liền một tuần, chàng sinh viên này phải trường kỳ mỳ tôm hay nấu cơm rang mắm. “ Mình vẫn còn khá chứ nhiều sinh viên khác còn phải cơm nắm muối vừng cơ. Có người đã phải cắt điện thoại, Internet, trùm mền máy tính… cho bớt tiền đi” Tuấn tâm sự ”.

Trên đây là mấy đoạn trích trong các bài phóng sự đăng trên báo Lao Đông đầu tháng Ba năm 2008.

Trong hai tuần lễ đầu tiên của năm nay, cả nước có 50 vụ đình công đã xẩy ra.

Giữa tháng Hai, năm ngàn công nhân của công ty Yazaky Eds Vietnam Ltd tại Hải Phòng có chủ là người Nhật Bản, chuyên sản xuất phụ tùng xe hơi để xuất khẩu đã đình công đấu tranh đòi tăng lương vì mức lương 1,1 – 1,2 triệu đồng của họ tuy đã trên mức lương tối thiểu nhưng không còn đủ chi dùng tối thiểu.

Đầu tháng Ba, ở ngoại ô Sài Gòn, khoảng 10 ngàn công nhân đã bỏ việc làm để đình công đòi tăng lương tại hãng Tae Kwang Vina chủ Hàn Quốc chuyên sản xuất giầy cho hãng thể thao Nike của Mỹ.

V v …

Trong bài “ Bỏ rơi con chữ theo cơm áo ” đăng trên Lao Động số 64 ra ngày 21/03/2008 tác giả viết: “Ông Trần Việt Hùng - GĐ Sở GDĐT Sóc Trăng - cho biết: Từ sau Tết Nguyên đán tới nay, theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng khối THPT toàn tỉnh đã có 436 HS chưa ra lớp. Trước đó, tới cuối học kỳ 1, Sóc Trăng có trên 1.000 HS khối THPT và 1.617 HS khối THCS bỏ học. Theo ông Hùng, số lượng HS THPT và THCS bỏ học đều đã tương đương với số HS của một trường... Chỉ ở huyện Mỹ Xuyên sau Tết, khối THCS và tiểu học cũng đã có thêm khoảng 200 HS bỏ học.

Sau Tết, Cà Mau cũng có thêm trên 350 HS bỏ học. Con số này ở Bạc Liêu tròm trèm 300. Còn tại Kiên Giang, Phó GĐ Sở GDĐT Ninh Thành Viên cho biết, năm học 2007 - 2008, Kiên Giang đã có gần 4.500 HS bỏ học, tập trung ở 2 khối THCS (2.582 em) và THPT (1.190 em)..."

… Ông Trần Việt Hùng - GĐ Sở GDĐT Sóc Trăng - cho rằng 3 nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng HS bỏ học ở Sóc Trăng là: "Cuộc sống gia đình khó khăn, sức học của HS yếu không theo kịp chương trình và địa bàn một số nơi đi lại còn khó khăn ”


Đình công bột phát do lạm phát tăng đột biến. Từ năm 1995 đến cuối tháng giêng năm 2006 có hơn 1000 vụ đình công đã xẩy ra trên cả nước., trong đó 300 vụ xảy ra tại các công ty có nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Thực ra, lạm phát đã xẩy ra tù dăm năm trước. Từ năm 2003, trong khi lượng đầu tư tăng khá nhanh, lượng cung thực (đo bằng sản lượng thực cộng thâm hụt thương mại thực ) chỉ tăng dưới 10% / năm thì doanh số bán lẻ danh nghĩa của Việt Nam liên tục tăng với tốc độ trên 20% / năm.

Lạm phát do mức tăng tín dụng, tăng tiền đã xuất hiện từ lâu, ít nhất từ năm 2004, khi mức tăng tiền lên đến 25%, rồi mới đây nhảy vọt tới 35 – 40% nhưng Nhà nước cứ cầm bằng như chẳng có.

Nguyên nhân của lạm phát –

Giữa năm 2007, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định “Quyết không để mức lạm phát cao hơn mức tăng trưởng kinh tế ”. Nhưng rồi, mức lạm phát cuối năm qua đã lên tới 12% trong khi mức tăng trưởng kinh tế vẫn chỉ 8%. !

Chỉ tiêu Quốc hội để ra cho năm 2008 là lạm phát phải được kìm chế dưới mức tăng trưởng GDP là 8,5 – 9% thì chưa hết tháng Hai năm 2008, giá cả đã tăng 6,02%. Hiện nay, lạm phát Việt Nam đã ở mức 15,7%.. 

Có ý kiến quy kết nguyên nhân khủng hoảng Việt Nam chủ yếu do giá xăng dầu thế giới tăng quá nhanh và do hậu quả của khủng hoảng tín dụng địa ốc Hoa Kỳ.

Để cho kinh tế Việt Nam phụ thuộc mạnh vào giá xăng dầu thế giới là một nhược điểm không đáng có. Bất chấp khuyến nghị của các trí thức trong, ngoài nước, khăng khăng quyết định sai lầm, đặt nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Dung Quất có thể xem là tội lớn của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đối với đời sống kinh tế của nhân dân..

Không thể phủ nhận việc tăng giá xăng dầu và một số nguyên liệu sản xuất trên thị trường quốc tế cũng như thiên tai, dịch bệnh trong nước là những nguyên nhân khách quan của lam phát nhưng thử hỏi vì sao cùng chịu ảnh hưởng những nguyên nhân ấy mà mức lạm phát ở các nước trong khu vực đều thấp hơn nhiều. Đài Loan 1,9%; Malaysia 1,9%; Singapore 2,7%; Hàn Quốc 3,4%; Indonexia 6,3%; Trung Quốc 6,5%. Thái Lan, cận kề Việt Nam, tiêu thụ nhiều xăng dầu nhập ngoại hơn hẳn Việt Nam nhưng lạm phát ở Thái Lan chỉ bằng một phần tư Việt Nam (3%) .

Ngoài hai nguyên nhân trên, trả lời phỏng vấn đài BBC gần đây, chuyên gia kinh tế nổi tiếng Lê Đăng Doanh còn nêu thêm: “Điểm thứ ba có liên quan đến chính sách tiền tệ.. Trong năm 2007, Việt Nam đã xuất ra một lượng tiền mặt rất lớn để mua vào 9 tỷ đôla. Theo kinh tế học thì sau khi xuất ra lượng tiền lớn như vậy phải có biện pháp trung hòa như bán trái phiếu và nâng lãi suất ngân hàng để vô hiệu hóa số tiền vừa phát hành đó. Nhưng các biện pháp này chúng ta làm quá chậm, dẫn tới chỉ số giá cả tăng cao. Ngoài ra còn một số yếu tố khác như lượng tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để xây dựng cơ bản, qua một số vòng quay nhất định cũng sẽ ra thị trường và tác động tới tổng lượng tiền. Một yếu tố nữa là giá bất động sản ở Việt Nam cao một cách phi lý và đang có phương hại tới môi trường đầu tư”.

Tiến sỹ Vũ Quang Việt – nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Liên Hiệp Quốc - thì dẫn ra một nguyên nhân lạm phát được đề cập trong hầu hết các sách giáo khoa là: Nhà nước tài trợ chi tiêu quá nhiều cho chính mình và doanh nghiệp nhà nước bằng cách in tiền quá mức. Ông nêu mấy câu hỏi:

-         Ai mua rồi giữ ngoại tệ khi nước ngoài chuyển tiền vào mua cổ phiếu và đầu tư trực tiếp?
-         Bộ Tài chính tài trợ thiếu hụt chi tiêu bằng gì? Bán trái phiếu tài chính cho thị trường hay bán trái phiếu cho ngân hàng nhà nước?

Bán trái phiếu tài chính trên thị trường thì không làm tăng khối lượng tiền vì Bộ Tài chính mượn tiền của dân để tiêu. Ngân hàng nhà nước in tiền để mua tín phiếu thì sẽ làm tăng lượng tiền, tạo lạm phát.

Ông cho rằng: “Hành xử của Bộ Tài chính đã làm suy yếu quyền kiểm soát cung tiền của Ngân hàng Nhà nước nếu Bộ “đòi” NHNN mua trái phiếu của mình … Bộ Tài chính đã làm suy yếu khả năng kiểm soát tiền tệ của NHNN bằng chính sách đôla hóa nền kinh tế … ”.

Nhập siêu cao trong ngoại thương cũng góp phần tạo lạm phát. Nhập siêu cao, nhất là với Trung Quốc, khiến phải tung nhiều tiền để trang trải gánh nặng này. Chỉ nội trong hai tháng đầu năm nay mức nhập siêu đã lên đến 4 tỷ USD ( cao gần bằng cả năm 2006 ). Riêng trong năm 2007 nhập siêu đã lên tới 12 tỷ USD ( * ).

Không thể không kể đến một nguyên nhân khác nữa là, trong khi nền kinh tế còn kém hiệu quả thì lại được hấp thụ một lượng vốn quá lớn. Tổng lượng vốn từ bên ngoài rót vào kinh tế Việt Nam trong năm 2007 lên tới 22- 23 tỷ USD ( * * ), tương đương 30% GDP. Lượng tiền đổ vào quá nhiều nhưng không biết tổ chức hiệu quả để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ dẫn tới tình trạng quá nhiều tiều mà quá ít hàng. Trong 3 năm, từ 2005 đến 2007, cung tiền tăng tổng cộng 135% nhưng GDP chỉ tăng 27%. ( * * ).

Trong khi chỉ với một lượng đầu tư khiêm tốn hơn rất nhiều ( chỉ chiếm khoảng 25% GDP ) mà kinh tế Đài Loan tăng trưởng đến mức 10% liên tục suốt 18 năm thì Việt Nam chỉ tăng trưởng ở mức 7-8% với nguồn đầu tư hàng năm của nền kinh tế chiếm tới 35% !

Nguyên nhân của nguyên nhân –

Câu hỏi đặt ra là, tại sao với nguồn nhân lực dồi dào, với thiên nhiên ưu đãi nhiều hơn so với nhiều nước khác, lại tiếp nhận được nguồn đầu tư rất lớn mà tổng lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chỉ đạt được quá thấp như vậy ?

Do cơ chế ?

Những năm gần đây người ta đã dám vô tư đổ lỗi cho cơ chế.

-         Nhưng, cái gì tạo ra cơ chế ?
-         Cơ chế chính là hiện thân của chế độ chính trị.
-         Ai ngoan cố duy trì mãi chế độ chính trị lạc hậu lỗi thời ?
-         Lãnh đạo đảng CSVN và nhà nước.CHXHCN Việt Nam

Dựa trên 6 tiêu chí: tính hiệu năng của chính phủ, chất lượng chính sách và hoạt động điều tiết, thượng tôn pháp luật, tham nhũng, tiếng nói và trách nhiệm giải trình, ổn định chính trị để đánh giá chất lượng quản trị quốc gia của chính phủ, Ngân hàng Thế giới gần đây đã tiến hành một công trình khảo sát đối với 212 nước và vùng lãnh thổ. Kết quả cho thấy, ngoại trừ tiêu chí “ ổn định chính trị ”, tất cả 5 tiêu chí kia Việt Nam đều bị xếp dưới các nước Đông Á và Đông Nam Á. Chỉ trên Indonexia một số mặt.  

Nói chung các nhà khoa học, các chính khách quốc tế đều thừa nhận Việt Nam là một dân tộc thông minh, tài hoa, cần mẫn, nhưng tại sao chất lượng quản trị quốc gia của Việt Nam kém xa, không phải các nước tiên tiến mà, các nước Đông Nam Á ?

Không có dân chủ thật thì làm sao chọn được người tài lãnh đạo đất nước và đảm nhiệm những chức vụ quan trọng. Đảng cử dân bầu thì gần đây dẫu có khá hơn là đã đề bạt được một số nhiều có bằng đại học và trên đại học nhưng, tiếc rằng chủ yếu lại chỉ là những phần tử lý lịch tốt được đào tạo qua con đường chuyên tu, tại chức mà dư luận đã từng đánh giá: “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”.

Nét đặc sắc của nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam là do Nhà nước đã đổ những khoản đầu tư bất hợp lý vào các tập đoàn kinh tế, xí nghiệp quốc doanh … khổng lồ đến mức … bại hoại cả nền kinh tế.

Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng tỏ rõ nhiều ưu thế vượt trội. Trong năm 2005 tỷ lệ vốn / lao động của các doanh nghiệp nhà nước cao gấp 3 lần so với các doanh nghiệp dân doanh, nhưng doanh số trung bình do một công nhân tạo ra ở DNNN lại chỉ đạt cỡ 44% so với khu vưc dân doanh. Tỷ trọng sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước liên tục sụt giảm so với khu vực dân doanh và FDI.. Khu vực nhà nước hầu như không tạo thêm được việc làm mới. Bên cạnh dó, trừ một số ngoại lệ, các DNNN hầu như không xuất khẩu các sản phẩm chế tạo. Đến nay, kinh tế ngoài quốc doanh đang tạo ra 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp.

Vậy mà, tài sản nhà nước của nhân dân vẫn cứ được đổ vô tội vạ vào các DNNN kém hiệu năng để không chỉ gây nên những khoản nợ không trả được đến hàng trăm nghìn tỷ đồng mà còn tạo điều kiện để họ chi thả cửa, rất hào phóng cho những dự án nhảm nhí. Nhờ tham nhũng bôi trơn, hàng loạt dự án hoành tráng được rầm rộ thông qua từ xã lên huyện, qua tỉnh đến trung ương ngay cả khi chưa đủ hồ sơ kỹ thuật. Nói chung có lập hội đồng chuẩn định đấy, nhưng tất cả đều được phù phép thành các hội đồng chuột.

Ai không sững sờ khi đọc những dòng này trên báo Lao Động số ra ngày 20 tháng 3 năm 2008 :

“Xã Long Hậu (huyện Cần Giuộc) từng biết đến như là xã có số dự án sân golf cao kỷ lục trong cả nước (có thể cả thế giới, với 5 dự án). Cũng chính xã này đang lăm le qua mặt khu đô thị Phú Mỹ Hưng với 2 dự án khu đô thị sinh thái có tổng diện tích gần 800ha (có 1 dự án trải rộng trên 2 xã Long Hậu và Phước Lại). Hai DA này cùng với 5 DA sân golf chiếm gần hết diện tích đất nông nghiệp trong xã. Nằm cạnh dự án sân golf xã Mỹ Phú - huyện Thủ Thừa là dự án khu đô thị sinh thái rộng 300ha.

Cách đó mấy cây số, tại xã Mỹ An (cũng huyện Thủ Thừa) là DA khu ĐTST khác cũng rộng gần 300ha. Ở một huyện nông nghiệp khác là Cần Đước cũng có 2 DA khu ĐTST rộng tổng cộng gần 300ha. Huyện vùng sâu Đồng Tháp Mười là Vĩnh Hưng cũng không thua chị kém em với DA khu ĐTST rộng trên 200ha. Nhưng đáng kể nhất là DA khu ĐTST trải dài trên 2 xã vùng sâu là Thạnh Lợi (huyện Bến Lức ) và Bình Hoà Nam (huyện Đức Huệ) với tổng diện tích gần 2.600ha...

Cho đến thời điểm hiện nay, tỉnh Long An đã có hơn 10 DA khu ĐTST hoặc có ĐTST với tổng diện tích hơn 5.500ha. Ngoài ra còn có hàng loạt các DA khu đô thị "không sinh thái " cũng đang được triển khai. Lạ lùng là các DA khu ĐTST ở Long An hầu như không nằm cạnh các khu, cụm công nghiệp, mà nằm ở vùng nông thôn xa xôi ”.


Hỗn mang chi sơ như vậy chẳng qua chỉ vì “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Muốn khỏi chệch hướng XHCN thi quốc doanh sống chết cũng phải là chủ đạo, phải tập trung dân chủ, Đảng phải, không chỉ lãnh đạo mà còn chỉ đạo toàn diện. Đảng chỉ đạo Nhà nước muốn ưu ái ai thì nấy được, muốn cho ai cái gì thì cho.

Đảng nhúng tay thao túng cả thị trường chứng khoán.

Thị trường chứng khoán lập ra phải là để huy động vốn tiết kiệm vào đầu tư.nhưng ở Việt Nam, đảng CSVN lại dùng nó để vỗ béo các nhà tư bản đỏ của Đảng. Người ta ra lệnh cho Ngân hàng Nhà nước đổ tiền ra cho bọn này vay dể chơi chứng khoán. Thị trường chứng khoán bị biến thành nơi rửa tiền nhằm đầu cơ trục lợi ngắn hạn. Vốn thực sự được huy động phục vụ sản xuất chẳng được là bao. Thắng ở chứng khoán, bọn chúng đổ xô đầu cơ bất động sản. Khi thị trường chứng khoán lung lay, Chính phủ liền ra Chỉ thị 319, lệnh cho các quan tài chính và ngân hàng phải bơm tiền để giữ cho thị trường này không bị sập. Thực chất là để cứu bọn phệ đỏ không bị sút cân.  

Người ta cho rằng ở Việt Nam đang hình thành “chủ nghĩa tư bản thân hữu”. Ở đây bố làm chính trị để giành đỉnh cao quyền lực, từ đấy tạo điều kiện cho con cái làm kinh tế. Quyền lực lãnh đạo của bố đem lại cho con cái những hợp đồng vô giá, những mối quan hệ maphia để chúng phất lên dễ dàng và nhanh chóng. Chẳng mấy chốc, bọn “phượng hoàng đỏ” này đã có thể nắm hết những ngành kinh tế quan trọng của đất nước.

Học giả Trần Đông Chấn vạch ra cái cơ chế maphia ở Việt Nam như sau: “Họ không hình thành nên những phe nhóm riêng rẽ cụ thể nào cả, mà len lỏi có mặt ở tất cả mọi nơi, từ cơ quan đảng đến nhà nuớc, chính phủ đến quốc hội, trung ương đến địa phương, cơ quan hành chính đến các doanh nghiệp. Cũng không có một thỏa thuận liên minh nào được cam kết nhưng bọn họ phối hợp hành động rất ăn ý và đồng bộ nhờ có một mục tiêu chung là trục lợi. Họ không thể hiện chính kiến riêng và luôn hoan nghênh tất cả các nghị quyết của đảng, chỉ thị của chính phủ, dự luật của quốc hội và các quyết định của chính quyền địa phương cho dù là chúng mang tính bảo thủ hay cấp tiến …. Nhưng điều tồi tệ và nguy hại nhất ở đây chính là những kẻ cơ hội này đang được các thế lực nước ngoài hỗ trợ và nuôi dưỡng vì quan hệ cộng sinh và vì những kế hoạch dài hơn”.

Để làm lóa mắt dân chúng, người ta đã quýết định tăng cung tiền nhắm tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao một cách biểu kiến. Nhưng khối lượng cung tiền lớn được sử dụng làm gì. “Một nguyên nhân chính là do tốc độ tăng chi tiêu của nhà nước. Tổng chi tiêu của nhà nước năm 2006 là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 221,8 nghìn tỷ đồng ( hay 45% )  so với năm 2004. Như vậy tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của nhà nước trong giai đoạn 2004 – 2006 là 20,3% / năm. . Cũng trong giai đoạn này thu ngân sách tăng chủ yếu không phải từ nguồn thu nội địa mà là từ dầu mỏ, tiền vay nợ và viện trợ nước ngoài. Thu nội địa năm 2004 chỉ đạt 119 ngàn tỷ, và năm 2006 là 190 ngàn tỷ, tăng có 71 ngàn tỷ. Trong khi đó chi tiêu của nhà nước tăng 131 ngàn tỷ, từ 190 lên 321 ngàn tỷ, tức là gần gấp đôi mức tăng thu nội địa. Khi chi tiêu của nhà nước tăng hơn nhiều so với các nguồn thu ngoài dầu mỏ ( ngay cả khi nguồn thu tăng này đến từ dầu mỏ hay viện trợ ) thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu. Thế nhưng nếu các khoản chi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ đóng góp được chút đỉnh cho sản lượng ( tức là không làm cho tổng cung tăng một cách tương ứng ) thì tất yếu dẫn tới lạm phát”. ( * * )

Muốn vỗ béo bọn tư bản đỏ của Đảng, muốn các quan chức của Đảng sống phè phỡn thì kinh tế phải lạm phát. Lạm phát thì dân chúng thêm điêu đứng ( như đã dẫn ra một phần ở trên ). Nhưng, bọn họ vẫn tiếp tục sung sướng !

Thế đấy, đắng cay và chua chát là ở chỗ người ta đã đổ cả núi xương, sông máu của nhân dân Việt Nam ra mà giành lấy quyền lực. Để rồi, lại sử dụng quyền lực đó để bòn rút da thịt, mồ hôi nước mắt của nhân dân. Có hơn gì bọn ngoại xâm, bọn tư sản mại bản, bọn địa chủ cường hào ác bá….!

                                                                         *

Làm thế nào để chống lạm phát ? Về nguyên tắc là phải tăng cường kiểm soát tiền tệ, làm giảm khối lượng tiền tệ trên thị trường, thắt chặt chi tiêu, đặc biệt là chi tiêu công.

Nhưng, nâng lãi suất ở mức cao hơn lạm phát đề hút tiền vào ngân hàng sẽ làm giảm đầu tư và nhu cầu tiền vốn và tất yếu dẫn đến việc không bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế như mong muốn. Cắt giảm đầu tư của nhà nước và bóp chặt các khoản chi tiêu công sẽ ngăn trở mất điều kiện để tham nhũng và để vỗ béo quan chức….

Muốn chặn đứng lạm phát, bảo đảm cho kinh tế phát triển lành mạnh, bền vững thì không thể không minh bach hơn, công khai hơn và tất nhiên, phải dân chủ thật sự.

Trước mắt, như nhóm giáo sư, chuyên gia kinh tế cao cấp của trường đại học Harvard đã gọi ý, cần thành lập ngay một cơ quan quản lý kinh tế cao cấp. Cơ quan này hoạt động tương tự như Hội đồng Phát triển kinh tế của Singapore và của một số nước khác trong khu vực, được giao nhiệm vụ điều phối chính sách vĩ mô và bảo đảm kỷ cương trong khu vực nhà nước. Cơ quan này phải có thẩm quyền cao hơn các bộ ban ngành, chính quyền địa phương và các tập đoàn kinh tế nhà nươc. Để được bảo vệ khỏi sức ép chính trị và sự tác động của các nhóm đặc quyền đặc lợi, thành phần nhân sự của cơ quan này phải bao gồm một số quan chức và chuyên gia giỏi thuộc bộ máy công quyền đồng thời phải có, khoảng 50%, các chuyên gia, các chính khách không phải đảng viên đảng CSVN, không nằm hoặc không còn nàm trong bộ máy công quyền, đặc biệt là những thành phần đối lâp.

Hà Nội tháng 3 năm 2008

Nguyến Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Điện thoại: (04) 5 534370     


( * ) Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 6-3-2008
( ** )  Lựa chọn Thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai VN  
(Công trình khảo cứu của trường đại học Harvard)


http://www.canh-en.de/index.php?id=187&tx_mininews_pi1




Doanh nghiệp điêu đứng vì ngân hàng
THAM NHŨNG và QUYỀN LỰC ĐEN 
Lựa chọn Thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai VN  
Public Opinion - Walter Lippman  

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-06 19:07:11Ngọc Lý>
VIỆT NAM ĐỒNG ĐANG Ở ĐÂU VÀ SẼ ĐI VỀ ĐÂU
Trần Đông Chấn


Những số liệu được công bố cho biết trong 3 năm từ 2005 đến 2007 tăng trưởng GDP của Việt Nam là 27% (tạo ra thêm khoảng 434 ngàn tỷ đồng giá trị sản phẩm quốc nội) nhưng lượng cung tiền lại tăng tới 135%. Điều này có nghĩa rằng nhà nước đã phát hành thêm một lượng tiền lớn hơn gấp nhiều lần trị giá của cải mà xã hội làm ra được trong 3 năm trên. Nếu lượng tiền đó được lưu thông hết vào thị trường thì sẽ tạo ra khả năng lạm phát lên đến 80% trong quãng thời gian này.

Thế nhưng con số lạm phát danh nghĩa từ 2005 đến 2007 đã được công bố là 27,6% (2005: 8,4%, 2006: 6,6%, 2007: 12,6%), như vậy mức độ lạm phát thêm 52,4% nữa sẽ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào từ đầu năm 2008 trở đi. Nếu loại trừ các yếu tố lạm phát không do tiền tệ (giá đầu vào tăng, kỳ vọng của người dân, v.v..) trong con số 27,6% nêu trên thì mức độ lạm phát tiềm tàng còn cao hơn 52,4% nhiều. Con số này chưa xảy ra vào cuối năm 2007 nghĩa là có trên 600 ngàn tỷ đồng (tương đương 52,4% GDP của năm 2007) đã được phát hành nhưng đang bị ghim giữ bởi một số cá nhân và tổ chức nào đó chưa đẩy cho lưu thông vào thị trường.

Tiền đồng đang ở đâu?

Người dân Việt Nam không có thói quen giữ tiền đồng làm dự trữ an toàn, trong tình hình lạm phát tăng nhanh thì biện pháp này lại càng không được lựa chọn. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì luôn trong tình trạng cần vốn, phải đi vay. Các ngân hàng thương mại không có lý do gì cầm giữ một lượng tiền đồng lớn mà không cho vay ra để phải gánh chịu lãi suất huy động trừ các khoản dự trữ bắt buộc. Khả năng duy nhất là một lượng lớn tiền đồng đang bị ghim giữ bởi các quỹ đầu cơ (hedge fund) buôn chứng khoán tại Việt Nam.

Cuối năm 2006 đến cuối năm 2007 đô-la Mỹ bị mất giá mạnh trên thị trường thế giới, lãi suất của nó liên tục giảm; trong thời gian đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách duy trì tỷ giá tiền đồng thấp; đầu năm 2007 nước ta chính thức gia nhập WTO. Vậy là đã hội đủ các yếu tố cần để tạo thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử sừng mềm – cách gọi của Thomas Friedman dành cho các quỹ đầu cơ tài chính trong thời đại toàn cầu hóa – tấn công trục lợi nhanh tại Việt Nam. Các hedge fund mau chóng được thành lập và huy động vốn bằng đô-la Mỹ với lãi suất thấp để đầu cơ vào Việt Nam.

Những tháng cuối 2006 đến 2007 các quỹ này đã rót khoảng 160 ngàn tỷ đồng (tương đương với 10 tỷ đô-la Mỹ) vào thị trường chứng khoán, bơm giá cổ phiếu tăng đến chóng mặt, tạo ra một ma lực cuốn hút người dân đổ tiền vào cổ phiếu. Ước tính đã có hơn 350 ngàn tỷ đồng bị hút vào chứng khoán từ nguồn tự có, vay mượn và thế chấp của người dân. Giá cổ phiếu ít thì tăng vài ba lần, nhiều thì đến vài chục lần, vượt xa hoàn toàn khả năng tạo ra giá trị thực tế của nó.

Khi mọi người đã đạt đến cơn say ghim giữ cổ phiếu bởi giấc mộng làm giàu nhanh thì tai họa ập xuống. Nhưng tai họa không chỉ đến một lần. Mỗi khi các cổ phiếu được đầu cơ bị bán ra ồ ạt để thu lợi, chỉ số chứng khoán sụt giảm thì ngay sau đó sẽ xuất hiện những thông tin hỗ trợ từ chính phủ, từ nước ngoài và được tuyên truyền quá nhiệt tình bởi các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống. Người dân lại được hâm nóng bằng những hy vọng mới, bầy thú tiếp tục nhồi tiền làm mồi nhử, cổ phiếu lại lên giá, dân lại hồ hởi mua vào. Cái vòng xoáy hút – nhồi ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt năm ngoái đến nay. Tiền trong dân tuôn ra ngày càng nhiều, guồng máy hút – nhồi này lại càng tăng công suất, các ngân hàng trong nước càng nhiều nguy cơ.

Kết quả cuối cùng như thế nào thì giờ đây ai cũng thấy, nhưng thật đáng tiếc là chính phủ vẫn không chịu nhìn thấy, vẫn tiếp tục bị thao túng bởi những kẻ cơ hội để ra những quyết sách tiếp tay cho bầy thú điện tử. Tổng công ty SCIC dễ dàng tuôn ra 5 ngàn tỷ đồng để gọi là "cứu" chứng khoán nhưng thực tế là giúp cho những con thú điện tử bán ra những cổ phiếu sắp chết để mua vào những cổ phiếu có tiềm năng thực với giá rẻ mạt, chuẩn bị cho một sự thâu tóm.

Còn nhớ vào đầu năm 2007, khi mà chứng khoán đang trong giai đoạn bị làm giá bởi bầy thú để đầu cơ trục lợi, đã có ý kiến đề nghị SCIC nhanh chóng bán ra số lượng cổ phần của các công ty niêm yết mà tổng công ty này đang nắm giữ để giảm sốt cho thị trường, tăng lượng tiền dự trữ của chính phủ để dự phòng cho người dân đang bị cơn say ma lực. Là một cổ đông lớn nhất trên thị trường, nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu của rất nhiều các công ty niêm yết có trị giá vốn hóa đến gần 50 ngàn tỷ đồng vào lúc cao điểm, SCIC hoàn toàn đủ sức làm đối trọng để chống những hành vi lũng đoạn thị trường, làm cho nó phát triển lành mạnh. Nhưng họ đã hoàn toàn bất động, trái hẳn với sự năng động xông vào "cứu" chứng khoán vừa rồi.

Giờ đây, khi mà hàng triệu người đã trở về với "cái máng lợn" thì những con thú điện tử sừng ngắn đã tích lũy được những khoản lời kếch xù, ít thì cũng bằng số vốn bỏ vào, nhiều phải đến một vốn bốn lời. Ngược lại, giá trị tài sản của SCIC đã bốc hơi đến vài chục ngàn tỷ đồng, thế nhưng họ vẫn đang tiếp tục "ôm" vào những cổ phiếu sắp chết. Hiện nay các chỉ số chứng khoán đã lùi về thấp hơn mức trước khi bầy thú tham gia vào thị trường, điều này đồng nghĩa với mấy trăm ngàn tỷ đồng không tự mất đi mà chỉ được dịch chuyển từ túi người dân và túi nhà nước vào túi bầy thú.

Các quỹ đầu cơ này đang kiểm soát một lượng tiền đồng khoảng 500 ngàn tỷ và được giữ tại các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam trong khi mức dự trữ trong dân đang dần cạn kiệt. Và đây chỉ mới là khúc dạo đầu của một kế hoạch. Sau giai đoạn chứng khoán bị làm giá rồi rơi tự do, sẽ đến giai đoạn tiền đồng bị làm giá. Đồng tiền quốc gia của 86 triệu dân đã bắt đầu bị lũng đoạn.

Tiền đồng đi về đâu?

Để hỗ trợ cho đầu tư nước ngoài tăng vọt trong năm 2007, ngân hàng Nhà nước đã được lệnh phát hành thêm tiền đồng vượt mức an toàn để mua đô-la Mỹ. Lý thuyết này sẽ khả thi nếu như nền kinh tế trong nước hấp thụ được lượng vốn ngoại đưa vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh làm ra thêm của cải cho xã hội, dòng vốn được lưu thông thì ngân hàng Nhà nước dễ dàng hút tiền đồng về nhanh chóng để tránh lạm phát. Nhưng sẽ thật là mạo hiểm và vô trách nhiệm khi những nhà quản lý vĩ mô không nhìn ra và tiên liệu những tình huống ngược lại như thực tế đã diễn ra.

Áp dụng cách thức này trong lúc các điều kiện cần để tạo ra thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử đầu cơ đã hội tụ, chính là đưa đến điều kiện đủ cho một cuộc tấn công lũng đoạn có thể bắt đầu. Có nhiều chỉ trích rằng ngân hàng Nhà nước đã không tích cực hút tiền về nên làm lạm phát mạnh, nhưng cần hiểu là không thể thực hiện được điều đó khi mà chính ngân hàng Nhà nước đã tự đặt mình vào bẫy, để quyền điều tiết tiền đồng cho bầy thú kiểm soát.

Luồng vốn đầu tư gián tiếp tập kích ồ ạt vào chứng khoán nhưng hầu như chẳng được đưa vào đầu tư thực sự, nó chạy lòng vòng từ người này qua người khác theo cái vòng xoáy hút – nhồi để cuối cùng quay trở lại túi của bầy thú với trị giá được nhân lên nhiều lần. Các doanh nghiệp niêm yết huy động vốn xong lại tiếp tục đổ vào chứng khoán, chẳng có bao nhiêu tiền từ nguồn này được đưa vào đầu tư mở rộng kinh doanh tạo thêm sản phẩm cho xã hội.

Rất nhiều các lãnh đạo doanh nghiệp niêm yết vô trách nhiệm còn tiếp tay cho bầy thú điện tử lừa cổ đông để cùng hưởng lợi. Một tỷ lệ nhỏ tiền văng khỏi vòng xoáy của bầy thú, vào túi những kẻ tiếp tay. Số vốn này cuối cùng được đầu cơ vào bất động sản hoặc được cất giữ an toàn tại ngân hàng nước ngoài. Còn luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2007 chỉ thực hiện được một phần tư so với đăng ký do những rào cản hành chính, yếu kém hạ tầng và thiếu thốn nguồn nhân lực được đào tạo. Triển khai đầu tư chậm, dòng vốn lưu thông ì ạch thì tiền đâu mà ngân hàng Nhà nước hút vào.

An sinh của gần 86 triệu dân hiện nay đang phụ thuộc hoàn toàn vào sự rộng lượng của "những con sói". Nếu vài trăm ngàn tỷ đồng đang bị ghim giữ được tung ra đổi thành đô-la Mỹ thì lạm phát sẽ đẩy người dân đến thảm họa. Lượng đô-la này nếu bị đảo chiều – chuyển ra khỏi Việt Nam – thì toàn bộ dự trữ ngoại hối của quốc gia sẽ bốc hơi trong tích tắc nhưng cũng chỉ là muối bỏ bể trước sự thâm hụt cán cân thanh toán và thương mại quốc tế trầm trọng. Một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất không thua gì vụ giá–lương–tiền hồi giữa thập niên 80 của thế kỷ trước sẽ nổ ra ngay sau đó. Tiền đồng – VND sẽ mất giá và rơi tự do.

Ngay đầu năm 2008, rất nhiều các chuyên gia và tổ chức nước ngoài đệ trình lên chính phủ các giải pháp nâng giá tiền đồng so với đô-la Mỹ, thắt chặt tiền tệ, gia tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các giải pháp này lẽ ra đã phải được khuyến nghị để thực hiện từ giữa 2006 nhằm chống nguy cơ tấn công của bầy thú điện tử trước khi gia nhập WTO, giảm tăng trưởng ảo của nền kinh tế, kiểm soát lạm phát để kéo dần lãi suất ngân hàng xuống nhằm thúc đẩy đầu tư cho sản xuất kinh doanh thực thụ, nhờ đó nền kinh tế sẽ được tăng trưởng dần theo hướng có chất lượng bền vững.

Thật tiếc rằng các giải pháp vĩ mô trong 2006 – 2007 đi theo hướng hoàn toàn ngược lại, các nguy cơ không những không được tháo gỡ mà còn bị làm cho trầm trọng hơn. Chiến lược tăng trưởng nhờ thu hút đầu tư nước ngoài để gia tăng xuất khẩu đã ngăn cản việc nâng giá tiền đồng hợp lý nhằm gia tăng sức mua và nhu cầu nội địa – tức là gia tăng mức sống của người dân, một yếu tố quan trọng để tăng trưởng bền vững.

Việc duy trì tiền đồng yếu trong lúc đô-la Mỹ mất giá trung bình khoảng 20% so với các ngoại tệ khác trên thế giới chỉ tạo ra những sức hút ngắn hạn cho các nhà đầu tư nước ngoài khai thác lợi thế giá rẻ nhờ bảo hộ tỷ giá của nhà nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh nhưng đa số là nhập khẩu nhanh những công nghệ lạc hậu vào Việt Nam rồi khai thác nhân công giá rẻ, nguyên liệu rẻ để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng lợi lớn, lợi kép nhờ tỷ giá. Những khoản lợi nhuận này được để bên ngoài Việt Nam bằng cách khai tăng giá nhập thiết bị và vật tư phục vụ xuất khẩu (thuế suất nhập khẩu bằng 0 hoặc rất thấp). Giá trị còn lại trong nước chỉ là tiền công và nguyên liệu rẻ mạt, đi kèm với môi trường bị hủy hoại do công nghệ lạc hậu, và sự suy yếu sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

Đã có những cảnh báo về các nguy cơ rối loạn kinh tế lẫn xã hội nếu luồng vốn ngoại không cân đối làm suy yếu nội lực trong nước. Nhưng sự tuyên truyền ầm vang không mệt mỏi của các phương tiện thông tin đại chúng ca ngợi sự tăng trưởng ngoạn mục của đầu tư nước ngoài, tô hồng viễn cảnh sáng sủa của nền kinh tế đã át hẳn những tiếng nói có trách nhiệm. Dân chúng tránh sao được sự ảo tưởng và rơi vào vòng xoáy ma lực. Nhiều đề xuất, khuyến nghị chính phủ cần xem xét lại chính sách thúc đẩy xuất khẩu kiểu này nhưng kết luận cuối cùng là càng phải tăng mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu.

Nhưng sự thật trớ trêu là càng xuất khẩu kiểu đó thì nhập siêu càng lớn. Lý do là sức mua của toàn dân sụt giảm nghiêm trọng do tỷ giá tiền đồng thấp hơn thực tế, mà nhu cầu thì ngày càng tăng lên. Trong khi đó lại hoàn toàn thiếu vắng các chính sách hỗ trợ cho việc đáp ứng các nhu cầu nội địa, biểu thuế suất nhập khẩu hàng ngàn mặt hàng (đặc biệt là nông sản) giảm xuống do gia nhập WTO. Lượng nhập khẩu tăng lên là đương nhiên để đáp ứng các nhu cầu trong nước. Giá nhập khẩu cũng phải tăng mạnh do 2 tác động kép của tỷ giá tiền đồng thấp và giá cả thế giới tăng.
Nhập siêu 2007 phi mã đến 12,5 tỷ đô-la Mỹ (hơn 2,5 lần mức 2006) là vẫn còn may mắn. Nếu dầu thô thế giới không tăng giá để mang thêm về cho Việt Nam gần 2,5 tỷ đô-la Mỹ (40 ngàn tỷ đồng) từ xuất khẩu trong 2007 thì tình hình sẽ còn tồi tệ hơn nhiều. Thế nhưng người dân đã không được hưởng gì từ khoản thặng dư của tài nguyên quốc gia này sau khi chính phủ quyết định cắt bỏ 10 ngàn tỷ đồng bù giá xăng dầu trong nước. Sức mua của người dân bị ép giảm sút nặng nề để tăng lợi thế cho đầu tư nước ngoài và xuất khẩu mà ở đó chỉ một nhóm nhỏ các nhà xuất khẩu, chủ yếu từ nước ngoài hưởng lợi.

Giờ đây khi mà tiền đồng đã mất giá thực sự do lạm phát tiền và nội lực trong nước suy kiệt thì các giải pháp nâng giá tiền đồng lại được thực hiện. Lại một cái bẫy. Quyền lợi lại thuộc về nước ngoài. Đầu tháng 3/2008 ngân hàng Nhà nước mới yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc lên thêm 1% (tương đương khoảng 10 ngàn tỷ đồng) và phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng; chỉ hút hơn 30 ngàn tỷ đồng mà đã làm cả hệ thống tài chính ngân hàng điêu đứng, náo loạn đua nâng lãi suất để động viên người dân chuyển đổi ngoại tệ thành tiền đồng gửi vào ngân hàng. Tiền đồng trở nên khan hiếm, đô-la Mỹ bị mất giá.

Người dân lại bị cuốn hút vào một cuộc chơi mới của bầy thú điện tử. Các quỹ đầu cơ này đang cần đổi tiền đồng sang đô-la Mỹ, một tỷ giá đô-la Mỹ thấp sẽ rất có lợi cho họ. Tiền đồng bị siết chặt, biên độ tỷ giá đô-la Mỹ được nới lỏng. Đô-la Mỹ rơi xuống gần 15,5 ngàn đồng/USD nhưng bán cũng không ai mua. Trong tuần thứ ba của tháng 3/2008 này bầy thú điện tử đã tung hơn 30 ngàn tỷ đồng để mua vào khoảng 2 tỷ đô-la Mỹ. Ngay lập tức lạm phát gia tăng thêm 3%, đạt mức kỷ lục 9.2% trong chưa đầy 3 tháng đầu năm 2008. Cùng lúc, các ngân hàng chuẩn bị giảm lãi suất huy động.

Cái vòng xoáy hút –  nhồi, tăng lên – giảm xuống sẽ được lặp lại nhiều lần như chứng khoán, đến khi mà bầy thú đã nắm trong tay một lượng lớn đô-la Mỹ thì sức mua của tiền đồng sẽ rơi tự do không phanh. Chỉ số giá tiêu dùng CPI sẽ tăng thêm cỡ 50% nữa, con số này chưa bao gồm những tác động của việc tăng giá đầu vào và sự mất niềm tin của dân chúng. Yếu tố niềm tin này có thể dẫn đến sự sụp đổ không ai có thể lường hết được, nó sẽ vượt quá nhiều lần mọi tính toán kỹ thuật nếu như người dân nhận ra mình đã bị lừa.

Thâu tóm và thôn tính


Nhưng mục tiêu của bầy thú không chỉ đơn giản như vậy. Bây giờ có lẽ chính phủ đã nhận ra được những nguy cơ của lạm phát sẽ tác động khủng khiếp thế nào đến sự bất ổn xã hội. Nếu không muốn cuộc khủng hoảng này bùng nổ ngay trong năm 2008, chính phủ phải thương lượng mua lại khoản tiền đồng khổng lồ của bầy thú. Quá trình thâu tóm đang bắt đầu.

Nhưng tiền đâu để mua khi mà dự trữ ngoại hối của quốc gia quá yếu ớt. Ngay cả có huy động được mọi nguồn lực để có đủ số tiền này thì bầy thú sẽ nói họ không cần đô-la Mỹ vì họ có thể mua nó dễ dàng từ thị trường. Họ muốn quyền kiểm soát các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là những tập đoàn được hưởng đặc quyền và đầy lợi thế của nhà nước. Các doanh nghiệp này đã được bảo hộ chặt chẽ trong các điều khoản gia nhập WTO để không chịu sức ép cạnh tranh lớn khi hội nhập. Nhưng giờ đây chúng sẽ được trao quyền kiểm soát chi phối bằng sở hữu đa số thông qua các hiệp định song phương đang được đàm phán vội vã.

Dân chúng đừng vội mừng vì hy vọng vào sự tốt lên của các doanh nghiệp này sau khi có bàn tay của nước ngoài. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy trong một đất nước mà thiếu vắng các chiến lược để tạo ra lợi thế  quốc gia trong một hệ thống toàn cầu hóa, và nguồn nhân lực thì thiếu kỹ năng được đào tạo đúng mức, cộng với tham nhũng chi phối các chính sách nhà nước thì bầy thú điện tử sẽ chỉ dùng các doanh nghiệp khổng lồ trong nước được bảo hộ để khai thác thị trường nội địa, buộc người dân phải trả giá cao để có siêu lợi nhuận. Hiệp hội các nhà sản xuất ô-tô (VAMA) vừa vận động nâng thuế nhập khẩu xe hơi để "chống nhập siêu" là một minh chứng cụ thể cho việc đó.

Áp lực đang được gia tăng lên rất mạnh để các điều khoản đảm bảo cho việc thâu tóm dễ dàng đạt được. Bầy thú đang nhả tiếp tiền đồng ra đổi lấy đô-la Mỹ khiến nó lên giá, lạm phát tiếp tục tăng vọt. Trong tình hình này có lẽ những điều kiện cần để thâu tóm sẽ phải hoàn tất trong vòng trên dưới 2 tháng nữa. Từ nay đến đó chứng khoán sẽ tiếp tục hoành hành để gây rối và gia tăng áp lực đàm phán. Đến khi mọi việc được ký kết thì tới lượt bất động sản sẽ được thổi bùng lên, giá trị thật giá trị ảo sẽ lại điên loạn lên một lần nữa – một cuộc chơi mới theo bài cũ. Nó sẽ tạo ra bất ổn đến cuối năm, không chỉ để trục lợi mà còn nhằm lũng đoạn dễ dàng các chính sách vĩ mô để phục vụ cho những kế hoạch tiếp theo.

Nhà nước nếu không cẩn thận thì sẽ bị những kẻ cơ hội  tiếp tục thao túng để bơm ra lượng tiền đồng khổng lồ đã thu hồi về nhờ bán rẻ tài sản toàn dân. Trong lúc rối ren, thật giả lẫn lộn thì không khó gì để viện ra những lý do nghe xuôi tai để làm được việc ấy. Lúc đó sẽ không còn gì có thể cứu vãn được nữa. Đó chính là sự kết thúc.

Nhưng đấy cũng là khởi đầu của sự thôn tính.

Cộng sinh trong toàn cầu


Đất nước ta đang thực sự rất nguy kịch, tiến thoái lưỡng nan mà chỉ có sức mạnh của toàn dân mới có thể giúp vượt qua được. Người dân cần được chia sẻ những thông tin thật để lường trước những khó khăn xấu nhất. Người dân cần được tạo niềm tin từ sự chân thật để cùng nhà nước tìm ra những biện pháp thoát hiểm. Từ trước đến nay dân chúng bị cuốn hút vào những cuộc chơi mà mình không những không có được thông tin đầy đủ mà còn bị làm sai lệch.

Trong khi đó bầy thú thì không thiếu bất kỳ thông tin gì nhờ lấy được từ các định chế tài chính quốc tế như ngân hàng Thế giới (WB), quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Chính phủ phải cung cấp định kỳ cho họ. Thông tin quốc gia là một loại tài nguyên quốc gia quan trọng hàng đầu, nó càng quan trọng hơn trong thời đại ngày nay. Sự thất bại thuộc phía người dân là tất yếu.

Kinh tế học không phải là môn khoa học tự nhiên như toán học, vật lý. Nó là một khoa học dựa vào hành vi con người và hướng đến con người dù rằng nó dùng các công cụ toán học để mô phỏng và phân tích. Các tính toán lý thuyết kinh tế sẽ không có giá trị gì nếu không gắn nó với việc hiểu ứng xử và động lực của con người.

Không thể điều hành vĩ mô một nền kinh tế thị trường thành công bằng bàn tay hữu hình của chính phủ, vì kinh tế thị trường vốn được vận hành theo qui luật của bàn tay vô hình – cách mà các nhà kinh tế học gọi tên một cơ chế thúc đẩy sự vận động kinh tế thông qua việc tác động vào động lực con người. Thật tiếc là các thế lực bên ngoài đã áp dụng cách này thật nhuần nhuyễn ở Việt Nam.

Chỉ khi nào những người cầm cân nẩy mực hiểu được dân, biết được điểm mạnh của dân, nhìn được điểm yếu của dân, cảm được nỗi đau của dân, hạnh phúc vì niềm vui của dân thì mới có thể xây dựng được những chính sách hợp lòng dân. Còn không thì cho dù là lý thuyết nào đi nữa, được ủng hộ bởi những tổ chức danh giá đến đâu đi nữa, dựa vào mô hình thực tế thành công của thể chế nào đi nữa cũng không thể tránh khỏi sự thất bại.

Trong một đất nước mà sự phát triển dân chủ còn rất nhiều hạn chế, nhà nước ở đó phải thương dân như con thì mới có thể xây dựng một nền kinh tế mạnh, xã hội vững chắc. Đầy tớ mà có trách nhiệm thì thật là hiếm hoi, mà dù có trách nhiệm thế nào thì cũng không bao giờ có tình thương với chủ.

Cái giá của một nền kinh tế trọng ngoại như nước ta sẽ còn những tác hại rất lâu dài. Sẽ không có một thần dược ngoại nào có thể chữa ngay khỏi bệnh. Chỉ có niềm tin của dân, sức mạnh tập hợp của toàn dân trong lẫn ngoài nước mới có thể tạo ra một nội lực đủ sức đề kháng với sự tấn công tiêu cực của ngoại lực, rồi tiến tới trung hòa cộng sinh với nó. Lúc đó đất nước mới có thể phát triển vững bền.

Chỉ khi nào nền kinh tế đất nước hội nhập một cách cộng sinh với hệ thống toàn cầu hóa thì lúc đó mới có thể tránh khỏi những cuộc tấn công như vậy. Người ta không thể đánh vào chính mình. Thật buồn là chúng ta đã tự làm như thế. Hội nhập mà không tạo ra những lợi thế tương hỗ, ràng buộc trong một guồng vận hành khốc liệt của toàn cầu hóa thì không khác gì tự biến mình thành một cái hố hứng rác thải của cái cỗ máy ấy mà thôi.

Tham nhũng và sụp đổ


Hơn lúc nào hết, chính phủ phải nhìn thẳng vào sự thật cho dù nó khắc nghiệt đến mức nào. Khủng hoảng toàn diện một cách trầm trọng là không thể tránh khỏi. Tránh né sự thật, trì kéo mua thời gian bằng cách vay mượn tương lai để tạm qua năm tháng hiện tại sẽ chỉ làm cho nó trầm trọng hơn mà thôi. Sự khốn cùng của dân chúng sẽ càng tồi tệ. Nền kinh tế nước ta từ nhiều năm nay đã tăng trưởng theo kiểu vay mượn tương lai cho thành tích hiện tại. Cuộc khủng hoảng này sẽ là một điểm dừng phải có để chấm dứt cái hệ thống vận hành sai qui luật này.

Trái qui luật nhưng nó vẫn tồn tại một thời gian khá dài chính là nhờ tham nhũng. Tham nhũng tạo ra động lực và bị biến thành công cụ cho một nhóm nhỏ những người cầm quyền và bầy thú điện tử. Quyền tạo ra tiền, tiền biến thành quyền, quyền cần có thành tích để củng cố. Thành tích không thể thật vì tham nhũng nhưng phải được tuyên truyền và thổi phồng làm người dân ảo tưởng, chấp nhận chịu đựng vì hy vọng vào những tương lai tốt đẹp mà chính quyền hứa hẹn. Nhưng niềm tin không thể được xây dựng trên những gì giả tạo. Trong sấm Trạng Trình có câu:

Phú quí hồng trần mộng
Bần cùng bạch phát sinh

Thật đúng với thời cuộc. Sự giàu có (phú quí) ở những nơi đô thị (hồng trần) chỉ là ảo (mộng). Đến khi dân chúng rơi vào nghèo khổ cùng cực (bần cùng) thì sự thật (bạch) sẽ phơi bày (phát sinh). Sự sụp đổ niềm tin có sức tàn phá khủng khiếp. Nếu nó không được dẫn dắt bằng lòng nhân ái và quyền lợi dân tộc thì sức mạnh đó sẽ bị lợi dụng cho mục tiêu chính trị ngược lại.

Nên nhớ rằng cuộc khủng hoảng đang xảy ra nhanh chóng vì đã có một sự phá vỡ cái thế cân bằng ảo. Đất nước không được xây dựng để cộng sinh trong hệ thống toàn cầu hóa, nhưng lại hình thành sự cộng sinh giữa những kẻ tham nhũng, cơ hội trong chính quyền với bầy thú điện tử để chi phối các hoạt động xuyên suốt của đất nước mà nhiều người lầm tưởng là sự ổn định. Nhưng giờ đây bầy thú không thể bỏ qua thời cơ tuyệt vời để có nhiều quyền lợi hơn và đứng lên trên cái hệ thống cộng sinh đó. Sự cân bằng bị phá vỡ vì thế.

Sức dân và mệnh nước


Toàn dân cần được chuẩn bị để đối phó với cuộc khủng hoảng mà đỉnh điểm của nó sẽ rơi vào năm sau – Kỷ Sửu 2009. Tất cả những gì nhà nước cần tập trung lúc này là HẬU SỨC DÂN. Làm sao phải gia tăng sức mạnh vật chất lẫn tinh thần cho dân đủ sức chịu đựng khó khăn để vượt qua và xoay chuyển tình thế. Bổ sung sức mạnh vật chất là cần thiết nhưng trong điều kiện hiện nay thì không thể đủ mạnh. Chỉ có sức mạnh của niềm tin và sự đồng lòng mới có thể tạo ra vận thế mới.

Chính phủ đang kêu gọi dân chúng thắt lưng buộc bụng và đề ra các giải pháp "chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô" như vừa rồi thì không thể hậu sức dân. Chỉ đơn cử việc giảm đầu tư công. Các bộ ngành, địa phương đang bàn về cắt giảm ngân sách đầu tư bằng việc cắt bớt các dự án. Giảm đầu tư trong nước tức là giảm nội lực. Cấu trúc hiện nay của nền kinh tế đang phụ thuộc rất lớn vào đầu tư công vì nó chiếm đến 40% tổng đầu tư quốc gia. Trong khi mà chưa có những cơ chế, chính sách để cho phép và hỗ trợ khu vực dân doanh đầu tư thay thế nhà nước thì việc rút giảm đầu tư công sẽ tạo ra một khoảng trống cực kỳ tai hại.

Toàn dân vẫn cần những đầu tư ấy để tạo ra hạ tầng, công ăn việc làm – những thứ mà Việt Nam còn thiếu thốn nhiều một thời gian dài nữa. Việc chính phủ cần làm là đảm bảo hiệu quả đầu tư công, hay nói theo kinh tế học là giảm chỉ số ICOR xuống. Thống kê chỉ số này của nhà nước cho thấy ICOR của đầu tư công là 8 (tức đầu tư đến 8 đồng mới làm ra thêm 1 đồng tăng trưởng). Đầu năm 2007, một thành viên của chính phủ trả lời trước công chúng giải thích rằng chỉ số này cao vì năng suất lao động của đất nước còn thấp.

Nhưng không thấy có ai hỏi tiếp rằng tại sao cùng với những người lao động Việt Nam mà khu vực dân doanh, dù trình độ quản lý cũng chưa hiện đại nhưng chỉ số này chỉ có 4 (chỉ cần 4 đồng đầu tư sẽ tạo ra 1 đồng tăng trưởng), của khu vực nước ngoài là 2.7.  Không hỏi vì ai cũng biết rằng hiệu quả đầu tư công thấp là do tham nhũng.

Chỉ cần làm được như khu vực dân doanh thì cùng một dự án đầu tư nhà nước có thể giảm được một nửa số vốn bỏ ra mà dân chúng vẫn được hưởng thành quả không đổi. Một nửa ấy từ trước đến nay do tham nhũng mà thất thoát. Theo kế hoạch 5 năm từ 2006 – 2010, mỗi năm đầu tư công lên đến 270 ngàn tỷ đồng, một nửa số tiền đó mà tiết kiệm được và dùng để hậu sức dân thì thật là có ý nghĩa. Còn nếu cắt giảm theo kiểu số lượng thì chỉ gia tăng sức mạnh cho những kẻ tham nhũng, cơ hội. Lạm phát sẽ càng tăng dù trị giá đầu tư có giảm. Hiện nay đã bắt đầu xuất hiện tình trạng chạy để được giữ lại các dự án. "Mạnh vì gạo", ai chi nhiều hơn thì sẽ được tiếp tục đầu tư, tỷ lệ thất thoát sẽ càng gia tăng, chất lượng đầu tư càng giảm, lạm phát càng tăng là vì thế. Dân sẽ vẫn lãnh đủ.

Giải pháp hiệu quả nhất hiện nay thật đơn giản mà không đơn giản: triệt tiêu tham nhũng. Làm được việc này thì sẽ gia tăng nguồn lực cho dân, củng cố niềm tin của dân. Chính là hậu sức dân. Nhưng điều này thật quá khó cho chính quyền hiện nay khi mà luật pháp trong nước bị bóp méo bởi những kẻ tham nhũng – cơ hội, và những định chế quốc tế bị chi phối bởi bầy thú điện tử. Một kẻ như Bùi Tiến Dũng lại được ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam khẳng định là không có dấu hiệu tham nhũng để rộng đường cho một phiên tòa chỉ xử tội đánh bạc. Nguyễn Việt Tiến cũng vừa được thả ra và phục hồi quyền lợi mà không qua xét xử. Cái hệ thống cộng sinh này là như thế đấy.

Chính phủ thực hiện các giải pháp vĩ mô như hiện nay sẽ tiếp tục hậu ngoại lực, ép nội lực dù vô tình hay hữu ý. Càng nhiều bàn tay hữu hình thò ra thì càng dễ bị giật dây điều khiển. Chưa hết tháng 3/2008 mà nhập siêu đã phi đến 7 tỷ đô-la Mỹ, bằng 56% của cả năm 2007, vượt xa con số 4,8 tỷ của 2006. Ấy vậy mà nhận định mới nhất của chính phủ trước thường vụ Quốc hội là vẫn tin tưởng cân đối được cán cân thanh toán quốc tế do Việt Nam vẫn đang là điểm sáng của thu hút đầu tư nước ngoài.

Sao vẫn tiếp tục trông chờ vào ngoại lực mà không nhìn nhận thực tế là đất nước này đang còn cầm cự được phần nào trước sự thâm hụt mậu dịch lâu nay là nhờ vào kiều hối 2 tỷ đô-la Mỹ của gần nửa triệu lao động Việt đang phải chịu cực khổ, tủi nhục, cả bỏ mạng ở nước ngoài, 5 tỷ đô-la Mỹ của hơn 3 triệu đồng bào Việt định cư ngoài nước gửi về hàng năm mà không kèm bất kỳ điều kiện và đòi hỏi nào; nhờ vào tiền công lao động rẻ mạt của hàng triệu lao động nghèo trong nước còn giữ lại được từ xuất khẩu; và của hàng chục triệu nông dân bán mặt cho đất bán lưng cho trời làm ra những nông sản để xuất khẩu. Không hề thấy chính phủ phân tích và đề cập đến việc chăm sóc các nguồn lực này như thế nào trong các giải pháp hiện nay và trước đây.

Những người lao động nghèo này chính là lực lượng tiên phong phải đương đầu trước tiên với cạnh tranh toàn cầu, ngay khi Việt Nam gia nhập WTO trong khi chưa hề được chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Họ chẳng hiểu toàn cầu hóa là gì nhưng các cam kết để gia nhập WTO đã dỡ bỏ ngay lập tức trợ cấp xuất khẩu nông sản và hàng dệt may; giảm ngay xuống mức thấp thuế suất nhập khẩu các mặt hàng nông sản, may mặc.

Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước đang kiểm soát hoàn toàn các ngành dịch vụ tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, năng lượng – dầu khí được nuôi dưỡng và hưởng đặc quyền lâu nay, nắm giữ những nguồn lực lớn nhất của quốc gia thì vẫn tiếp tục được bảo hộ theo lộ trình từng bước 3 năm, 5 năm sau khi gia nhập WTO. Tiềm năng phát triển rất lớn của thị trường nội địa trong các lĩnh vực này, thay vì phải được dùng làm hậu phương vững chắc để tiến công ra thị trường toàn cầu, làm lực lượng tiên phong bước ra cạnh tranh để giảm áp lực cho những nông dân, công nhân may mặc cần thời gian để hiểu và chuẩn bị cho hội nhập, thì lại được quây rào để dành cho bầy thú điện tử thâu tóm.

Chuyện này khác gì trong một cuộc chiến, những người dân đen cùng đinh bị đưa ra trước để làm bia đỡ đạn trong khi quân chủ lực vẫn đang còn say sưa chè chén. Đến khi giặc vào tới thì hèn nhát, không phải là bỏ chạy mà là đầu hàng bán rẻ đồng đội. Thế nhưng những kết quả đạt được trong đàm phán WTO được ca ngợi là thành công, là ngoạn mục. Có thể dễ dàng đọc được trên các website của các bộ ngành để nghe họ khen tặng, tâng bốc về cái thành quả này như thế nào.

Hội nhập toàn cầu là một quá trình phải được bắt đầu một cách chủ động từ trước khi ký kết hiệp định quốc tế. Sự thụ động và chạy theo thành tích thì tránh sao khỏi rơi vào những cái bẫy đàm phán. Người ta không cần nhưng vẫn khăng khẳng đòi mở cửa xuất bản ngay. Còn ta thì châm châm bảo vệ sự kiểm soát nó tuyệt đối bằng mọi giá mà không hiểu rằng internet đã thay đổi mọi thứ. Nếu anh muốn giữ chặt cái này thì anh phải nhả cho tôi ngay cái khác: hoặc là nông sản và dệt may; hoặc là các dịch vụ tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, năng lượng – dầu khí. Họ muốn ta nhả cái thứ nhất để tạo bất ổn xã hội, mục tiêu lớn như vậy mà chẳng phải vất vả gì để đạt được. Họ thừa biết các nhóm lợi ích trong các lĩnh vực dịch vụ này dư sức chi phối các quyết định đàm phán cuối cùng.

Đừng nghĩ là chính quyền kiểm soát báo chí, tuyên truyền mà dân chúng không đủ hiểu biết để nhìn ra những vấn đề quá lớn mà các chính sách vĩ mô đã tạo ra cho họ. Người dân thậm chí còn bảo rằng chẳng phải nhà nước mắc bẫy, chẳng qua vì quyền lợi cá nhân mà nhà nước đưa dân vào hoàn cảnh như ngày hôm nay. Luật thuế thu nhập cá nhân sắp có hiệu lực từ đầu năm sau sẽ là một giọt nước tràn ly đối với lòng dân.

So sánh chiến lược về lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia thì bộ luật này, với mức khởi đầu là 5% cho thu nhập 4 triệu đồng/tháng và 35% cho phần thu nhập từ 80 triệu đồng/tháng trở lên, đã đặt Việt Nam vào một quốc gia có tương lai dựa trên lao động giá rẻ thiếu kỹ năng, chứ không phải một nơi nuôi dưỡng chăm sóc cho con người có đủ tri thức để làm nền tảng phát triển vững chắc của đất nước. Chắc chắn rất nhiều nước đã vỗ tay vui mừng bộ luật này. Lại mắc bẫy hay do thiếu hiểu biết, người dân tự sẽ nhận ra và phán xét.

Không củng cố niềm tin thì hậu quả thật khó lường hết bằng các con số. Các tính toán kỹ thuật cho thấy khả năng tiền đồng sẽ nhanh chóng chỉ còn hơn 20 ngàn/USD. Nhưng một khi người dân không còn niềm tin gì vào nhà nước thì con số này có thể là 30 ngàn, 40 ngàn hay cao tới mức mà không ai có thể dự báo nỗi. Nó cũng không khác gì việc đáy chứng khoán được dự báo không biết bao nhiêu lần. Mức trên dưới 500 điểm như hiện nay vẫn chưa phải là đáy. Còn xa mới tới đáy vì bầy thú không chỉ muốn thâu tóm, mà là thâu tóm rất rẻ để dồn tiền cho sự thôn tính chính trị.

Vận nước đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Đây là một biến cố lớn sẽ chắc chắn tạo ra sự xoay chuyển. Con tạo xoay vần, nhưng xoay về đâu, đó là trách nhiệm của tầng lớp trí thức của đất nước. Những con Lạc cháu Hồng ưu tú sẽ tập hợp lại tạo nên sức mạnh của cả dân tộc thuộc mọi tầng lớp để hóa giải thế cờ, xoay chuyển biến cố thành một vận hội mới.

Có một Con đường như vậy.

"Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". Trong họa có phúc.


Trần Đông Chấn
Mùa xuân tháng 3, 2008.

http://www.canh-en.de/index.php?id=187&tx_mininews_pi1








Doanh nghiệp điêu đứng vì ngân hàng
THAM NHŨNG và QUYỀN LỰC ĐEN 
Lựa chọn Thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai VN  
Public Opinion - Walter Lippman  
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-06 19:09:01Ngọc Lý>
.
Tiến sĩ Kinh Tế Ngô Nhân Dụng
Ðảng lúng túng chống lạm phát
Thứ Sáu 04/ 04, 2008



Một bạn đọc mới viết thư than phiền mục này “duy ý chí, không khách quan” khi bàn về nạn lạm phát ở Việt Nam ảnh hưởng tới đời sống người lao động ra sao. Vị độc giả hỏi, “chắc ông hiểu rõ thế nào là chu kỳ tăng trưởng và suy thoái của kinh tế?” Ý nói, lạm phát xẩy ra ở Việt Nam là chuyện tự nhiên trong một chu kỳ kinh tế, không nên đổ lỗi cho đảng Cộng Sản.

Ðọc những ý kiến đó, người viết phải suy nghĩ, tự xét mình. Suy nghĩ rồi, phải trả lời ngay tác giả bức thư trên là: Chúng tôi xin phép không đồng ý với ông. Lý do rất giản dị. Kinh tế cả thế giới đang yếu dần, lạm phát có tăng lên ở nhiều nước Ðông Á. Nhưng chưa có một nước nào mà tỷ lệ lạm phát lại lên tới hơn 18% trong ba tháng đầu năm nay như ở Việt Nam, tức là gấp đôi tới gấp ba các nước chung quanh. Chính nhà nước đẻ ra lạm phát để cho giới tư bản đỏ làm giầu. Rồi khi cứu chữa, thì lại làm cái xẩy nẩy cái ung! Phải kết luận cảnh người lao động nước ta khốn đốn vì vật giá leo thang là do đảng Cộng Sản không điều khiển nổi kinh tế thị trường, họ phải chịu trách nhiệm.

Nước Mỹ cũng đang bước vào một thời kỳ kinh tế thoái trào, cơn khủng hoảng tín dụng sẽ còn tác hại vì những món nợ dưới tiêu chuẩn vay để mua nhà nay không trả được. Không thấy chính quyền Mỹ hô hào dân hãy yêu nước hơn, hãy trả tiền nhà đầy đủ để tránh cho các ngân hàng khỏi thiếu tiền! Nhìn vào các hoạt động của giới lãnh đạo tài chánh và kinh tế Mỹ chúng ta thấy họ đã đi tìm những biện pháp để tránh cơn suy thoái mà không ai muốn bắt dân chúng phải hy sinh vì lòng yêu nước cả. Bộ Tài Chánh đưa ra các kế hoạch. Quốc Hội, do đảng đối lập kiểm soát, đưa ra những kế sách của họ. Trong Thượng Viện, các nghị sĩ hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ nêu lên các dự án khác nhau. Các giáo sư kinh tế ở đại học, các công ty tài chánh tư nhân đều nêu ý kiến, trên báo chí không biết bao nhiêu lời bàn kinh bang tế thế! Tòa Bạch Ốc bài bác những kế hoạch của quốc hội, họ tranh luận với nhau; hai bên đều đưa ra những lý luận biện hộ cho chính sách của mình. Sau vài tuần, hai phe ở Thượng Viện tìm cách thỏa hiệp, bây giờ tới ông Bush cũng ngỏ ý muốn thương thuyết với quốc hội để tìm những giải pháp trung dung. Ông chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, tức Ngân Hàng Trung Ương độc lập với cả Hành pháp lẫn Lập pháp, cũng có những biện pháp tài chánh tức thời để ngăn không cho cuộc suy thoái trở nên trầm trong. Ðầu tuần này, ông Ben Bernanke mới ra tường trình với Quốc Hội để bị chất vấn.

Tóm lại, ở một nước tự do, việc điều hành nền kinh tế quốc dân được bầy ra công khai, được tranh luận rốt ráo, và từ chính phủ tới Quốc Hội, tới giới chuyên môn, ai cũng có cơ hội lên tiếng cho toàn dân được nghe. Sau này, người ta sẽ phán đoán ai khôn, ai dại, ai nói đúng, ai nói sai, không ai giấu giếm được.

Còn ở nước Việt Nam ta thì sao? Chỉ có một nhóm trong đảng Cộng Sản chiếm độc quyền “lãnh đạo!” Khi lạm phát đã lên tới 12% năm ngoái, nhiều nhà chuyên môn đã cảnh báo vật giá còn leo thang nữa. Nhưng khi một chuyên gia kinh tế viết bài cho một tờ báo đề nghị những giải pháp tháo gỡ nạn lạm phát thì tờ báo đã tính đăng rồi lại không dám. Họ xin lỗi tác giả, giải thích rằng “các ông ở trên” thấy những ý kiến đó cũng hay nhưng muốn chờ các ông quyết định trước đã. Nếu có đưa các ý kiến đó ra thì cũng sẽ trình bày như đó là ý kiến của các cụ nghĩ ra, chứ không phải là do con dân đạo đạt lên! Trong khi đó thì các đại biểu Quốc Hội đang ở đâu, đang thức hay ngủ, người dân cũng chẳng quan tâm!

Còn các cụ, ngoài việc lo tha bổng cho ông Nguyễn Việt Tiến thư thái về nhà lo giữ sức khỏe, các cụ đã làm gì?

Ở nước ta, từ mấy năm trước đảng Cộng Sản lãnh đạo kinh tế đã thả cho các ngân hàng thương mại tung tiền ra cho vay; vì các cụ muốn đọc những con số thống kê nói tốc độ kinh tế tăng lên cao! Dân càng có tiền nhiều thi các việc mua bán càng tăng, tha hồ khoe nhà nước giỏi! Ðến giữa năm 2007, tổng dư nợ toàn quốc lên tới 1,000 tỷ đồng, gấp ba lần con số đó năm 2003! Số tiền tăng lên 25% mỗi năm mà số hàng cố gắng lắm cũng chỉ tăng được 7% đến 8%, chính Ngân Hàng Nhà Nước đã thúc cho giá cả tăng lên! Tiền cho vay mua nhà đất lên tới 350 ngàn tỷ đồng vào cuối năm 2007. Nhờ số tiền bơm vào nền kinh tế đó nên giá nhà đất, giá cổ phần trong thị trường chứng khoán tăng vọt, các nhà tư bản đỏ tha hồ làm giầu, các cụ cười thỏa thuê. Ðến giữa năm 2007, lạm phát bắt đầu lên chóng mặt, các cụ mới hơi lo.

Những người nắm chính sách tiền tệ ở nước ta cũng biết rằng lạm phát là do số hàng hóa, dịch vụ không tăng nhanh bằng số tiền tệ chạy đuổi theo hàng hóa. Vì vậy, sách vở nói muốn chống lạm phát thì phải giảm số tiền tệ đang lưu hành. Một biện pháp là buộc các ngân hàng thương mại phải giữ tiền lại, không có tiền dư đem cho vay nữa. Hai là thu tiền của ngân hàng thương mại vào bằng cách bán công khố phiếu cho họ.

Vào giữa năm 2007, đảng ra lệnh Ngân Hàng Nhà Nước bắt các ngân hàng thương mại phải giữ lại tiền gọi là “dự trữ bắt buộc” gấp đôi tỷ lệ cũ. Tháng Giêng năm 2008, điều chỉnh lãi suất cơ bản và chiết khấu để không cho các ngân hàng vay nợ dễ dàng nữa. Ngân Hàng Nhà Nước lại ra lệnh các ngân hàng thương mại giảm số cho những người mua chứng khoán vay, xuống bằng một phần ba tỷ lệ cũ. Những biện pháp đó thắt chặt túi tiền trong hệ thống tài chánh. Nếu đúng như các cụ muốn, thì lạm phát phải nguội bớt đi, ai nấy đều vui vẻ.

Nhưng các biện pháp trên đã tạo nên những tác dụng ngoài ý muốn. Các ngân hàng thương mại thiếu tiền mặt!

Các cụ còn ban hành thêm giải pháp thứ hai: Rút tiền từ các ngân hàng thương mại về. Bộ Tài Chánh muốn đổi tiền đô la Mỹ sang đồng tiền Việt Nam cũng bị Ngân Hàng Nhà Nước từ chối, bèn rút tiền từ các ngân hàng quốc doanh về xài. Ngày 13 Tháng Hai, Ngân Hàng Nhà Nước phát hành trái phiếu, ra lệnh các ngân hàng thương mại phải mua tổng cộng 20,000 tỷ đồng Việt Nam với lãi suất 7.8%, thấp hơn mức lạm phát. Những ai từng sống ở Việt Nam còn nhớ những lần địa lãnh thư bảo đảm hay kiện hàng ở bưu điện đã bị bắt buộc phải mua “công trái.” Bây giờ, vẫn cảnh đó, nhưng ở “tầm mức vĩ mô” và nạn nhân mua công trái phải chịu lỗ nữa! Lệnh ban ra đúng lúc các ngân hàng thương mại đang thiếu tiền, sau khi tỷ lệ tiền dự trữ mới bị tăng thêm 1%! Họ chạy quanh gõ cửa nhà nhau vay tiền rối rít, vì thế mới có cảnh các ngân hàng khi vay lẫn nhau phải trả lãi suất 40%! Trong mấy tuần lễ, các ngân hàng phải thu đủ 20 ngàn tỷ đồng, bằng 10% số lượng tiền tệ đang lưu hành trong nước! Ðúng vào lúc các nơi đều khan hiếm tiền mặt!

Kết quả là các ngân hàng không có tiền để cho các xí nghiệp vay! Nhiều ngân hàng phải từ chối thân chủ. Nhiều xí nghiệp phải giảm nếu không ngưng hoạt động vì thiếu tiền! Kinh tế ngưng trệ!

Bấy giờ các cụ mới nghĩ lại, trong lúc vẫn bận rộn với việc tha bổng cho ông Nguyễn Việt Tiến! Vừa mới thu tiền về, bây giờ các cụ lại cho nó bơm tiền ra! Ngân Hàng Nhà Nước bơm thêm 30 ngàn tỷ đồng vào trong hệ thống, cao gấp rưỡi số tiền 20 ngàn tỷ mà họ đang thu về! Ðó là chính sách tiền tệ của những đỉnh cao trí tuệ loài người!

Khi ngân hàng trung ương một nước làm ăn như vậy thì hậu quả đầu tiên là người dân không tin nữa. Người dân đây gồm cả các nhà kinh doanh. Họ không tin là đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý biết được một tý gì về kinh tế thị trường cả! Mình phải tự lo lấy thân mình thôi! Ðảng càng nói “chống lạm phát” thì cứ lo trước đi, lạm phát sẽ còn tăng lên nữa! Mà nó tăng lên thật. Tin giờ chót: Nó mới tăng lên thành 19% tháng trước!

Tâm lý lạm phát nguy hiểm hơn lạm phát thật. Khi ai cũng lo giá cả mọi thứ đều tăng, không ai muốn giữ tiền trong nhà, sợ mất giá. Người ta lo chạy đi mua, nhà giầu mua vàng, nhà nghèo mua gạo! Làm cho giá càng tăng thêm nữa. Ở Sài Gòn có “Giới Áp Phe A Lô” chỉ ngồi một chỗ gọi điện mua vàng, mua đô la, rồi lại bán ngay, cũng qua điện thoại! Một cô chỉ ngồi trong quán gọi điện thoại, “một ngày nhắm mắt cũng kiếm được vài triệu!” Lương trung bình của các công nhân ở Việt Nam chưa được một triệu đồng một tháng. Một nhà báo kinh tế viết: Chỉ ôm cái a lô mà dựng đại nghiệp!

Vì muốn đổ nước lạnh lên chữa cái tâm lý lạm phát đang sôi sục đó, cho nên ông Nguyễn Tấn Dũng và tập đoàn Mặt Trận Tổ Quốc mới phải cùng đứng ra ca 6 câu xin đồng bào yêu nước hãy ngưng... đong gạo, cho giá cả không lên nữa. Có ai tin được những lời họ nói hay không?

Ðại khái, đó là mấy màn ngắn trong vở tuồng kinh bang tế thế của đảng Cộng Sản Việt Nam trong mấy tháng qua. Chạy đi chạy lại, bơm ra bơm vào, nạt nộ một hồi không xong thì năn nỉ. Cuối cùng chỉ mấy thằng dân chịu khổ chứ còn ông Nguyễn Việt Tiến vẫn có thể chuẩn bị lên đường du lịch vòng quanh thế giới! Nếu mô tả tất cả những cảnh tượng đau lòng đó mà bị độc giả chê là “duy ý chí, thiếu khách quan,” thì cũng đành chịu!
Vậy muốn cho giới lãnh đạo kinh tế một nước không chạy quanh lúng túng làm khổ thằng dân như vậy, thì ai có một đề nghị cụ thể, giản dị nào hay chăng?

Rất giản dị: Phải có tự do. Một nhóm người độc quyền lãnh đạo thì họ không những chỉ nghĩ tới quyền lợi riêng của chính họ, mà họ còn mất cơ hội lắng nghe những ý kiến của người khác. Quốc dân hơn 80 triệu con người, 80 triệu cái đầu, không lẽ thiếu những người biết làm kinh tế thị trường hay sao? Bao giờ người ta mới được tự do phát biểu?


http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=76479&z=7





Doanh nghiệp điêu đứng vì ngân hàng
THAM NHŨNG và QUYỀN LỰC ĐEN 
Lựa chọn Thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai VN  
Public Opinion - Walter Lippman  
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-06 19:09:46Ngọc Lý>
Kiểm soát đầu tư của các "ông lớn"
VŨ THÀNH TỰ ANH
Tiến Sĩ Kinh Tế

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=250307&ChannelID=87


TT - Chiều nay (1-4-2008) Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ họp với lãnh đạo các tập đoàn (TĐ) và tổng công ty (TCT) nhà nước về các giải pháp kiềm chế lạm phát. Điều này cho thấy tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước này đối với "sức khỏe" của nền kinh tế vĩ mô. Trên thực tế, cho đến thời điểm này các doanh nghiệp nhà nước (trong đó chủ yếu là TĐ và TCT) vẫn còn chiếm tới 50% vốn đầu tư của Nhà nước và 40% tín dụng ngân hàng.

Bên cạnh đó, nhiều TĐ đã và đang thành lập ngân hàng, công ty tài chính, đầu tư bất động sản và chứng khoán - vốn là những hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến tính cân đối và ổn định vĩ mô của nền kinh tế. Vì vậy, nếu không kiểm soát chặt chẽ các khoản đầu tư, vay nợ (trong và ngoài nước), chấm dứt việc thành lập ngân hàng và các tổ chức tài chính của các TĐ và TCT thì một mặt sẽ không đảm bảo đồng vốn nhà nước được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, mặt khác sẽ tiếp tục làm công tác điều hành vĩ mô của các bộ ngành trở nên khó khăn hơn.

Theo trang tin điện tử của Chính phủ, Thủ tướng đã yêu cầu Bộ Tài chính soạn thảo qui định về đầu tư của các "ông lớn" này theo hướng "đầu tư vào các ngành nghề kinh doanh chính không thấp hơn 70%; đối với các ngành nghề kinh doanh hỗ trợ khác phải là các ngành nghề liên quan, trên cơ sở điều kiện, lợi thế của ngành nghề kinh doanh chính và không vượt quá 30%". Đây là một chỉ đạo cần thiết, đúng thời điểm, thể hiện quyết tâm của Thủ tướng trong nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô và cải thiện năng lực cạnh tranh để nền kinh tế có thể tăng trưởng bền vững.

Tuy nhiên, cần định nghĩa thế nào là "ngành nghề kinh doanh chính". Hiểu một cách đơn giản, ngành nghề kinh doanh chính của các TĐ và TCT nhà nước đã được thể hiện ngay trong tên gọi của chúng. Chẳng hạn như ngành nghề kinh doanh chính của TĐ Điện lực VN phải là sản xuất, truyền tải và phân phối điện, còn ngành nghề kinh doanh chính của TĐ Dầu khí phải liên quan trực tiếp tới dầu khí. Thế nhưng cả quyết định thành lập và điều lệ của các TĐ nhà nước đều qui định rằng những TĐ này (bất kể thuộc ngành nào) đều được phép kinh doanh dịch vụ tài chính, tín dụng, ngân hàng, quảng cáo, bất động sản, cho thuê văn phòng và các ngành nghề khác theo qui định của pháp luật. Nhiệm vụ của Bộ Tài chính vì vậy sẽ là phải phân định một cách rạch ròi đâu là những ngành nghề kinh doanh chính của các TĐ và TCT căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, lợi thế so sánh và ưu thế về thị phần của chúng.

Việc xác định thế nào là "các ngành nghề kinh doanh hỗ trợ" sẽ trở nên dễ dàng hơn sau khi xác định được ngành nghề kinh doanh chính. Có thể hiểu những ngành nghề liên quan trực tiếp là những ngành cung cấp đầu vào hay sử dụng đầu ra của các ngành nghề kinh doanh chính với một tỉ trọng rất đáng kể.

Vậy đối với những TĐ và TCT nhà nước hiện đang có tỉ trọng đầu tư trong các ngành nghề kinh doanh chính thấp hơn 70% và (hoặc) có những ngành nghề kinh doanh hoàn toàn không ăn nhập gì với ngành nghề kinh doanh chính thì sẽ xử lý thế nào? Đây là một vấn đề hết sức khó khăn và đòi hỏi quyết tâm chính trị lớn, vì nếu kiên quyết xử lý theo đúng chỉ thị chắc chắn sẽ động chạm tới lợi ích thiết thân của các "đại gia" này.

Có lẽ qui chế và chính sách kiểm soát đầu tư cần được xây dựng sao cho tránh được trường hợp để giảm tỉ trọng vốn đầu tư vào các lĩnh vực không phải nghề kinh doanh chính xuống dưới 30%, các "ông lớn" không những không hạn chế đầu tư vào những lĩnh vực này mà trái lại, tìm cách tăng tổng đầu tư. Điều này nếu xảy ra sẽ mâu thuẫn trực tiếp với chính sách kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô của Chính phủ thông qua việc thắt chặt chi tiêu công và giãn tiến độ các dự án chưa hoặc mới khởi công.

Để thực hiện được chỉ đạo của Thủ tướng một cách rốt ráo, điều quan trọng là Bộ Tài chính phải được tiếp cận với số liệu tài chính, kế toán của các TĐ và TCT nhà nước. Đồng thời để thực hiện tốt chức năng giám sát của Quốc hội, của Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan hữu quan, Chính phủ cần yêu cầu các TĐ và TCT công bố kết quả kiểm toán, báo cáo tài chính hằng năm của mình.


VŨ THÀNH TỰ ANH

http://www.canh-en.de/index.php?id=187&tx_mininews_pi1





Doanh nghiệp điêu đứng vì ngân hàng
THAM NHŨNG và QUYỀN LỰC ĐEN 
Lựa chọn Thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai VN  
Public Opinion - Walter Lippman  
Đăng nhập để trả lời
0