Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

20 nữ nhân Trung Quốc 🔒

40 trả lời, 6.232 lượt xem — Trang 2 / 2

Vương Ấu Ngọc
 
Tên thực là Chân Cơ, tự là Ấu Ngọc, còn có tên nữa là Trọng Tiên, là một trong ba danh kỹ đất Hành Dương về nhan sắc xinh đẹp, còn về hát múa tài hoa thì Ấu Ngọc còn vượt trên hai người kia. Bởi vậy khách làng chơi đều là các bậc quan to, danh sĩ. Còn những con buôn tuy giàu có ngàn vạn cũng không được để ý. Có viên quan Hiền lương Hạ Ngạc, tự là Công Dậu, tới chơi ở Hành Dương, vị quân hầu ở đó mở tiệc chiêu đãi. Công Dậu nói:
- Tôi nghe nói ở Hành Dương này có ca nữ tên là Vương Ấu Ngọc, dung nhan xinh đẹp, hát múa đều hay là ai thế?
Quan thần là Lang trung Trương Công Khởi bèn bảo Ấu Ngọc ra chào. Họ Hạ nhìn người, than rằng:
- Nếu nàng mà ở kinh đô, thì cũng không thua kém ai. Còn ở đây thì thiên hạ khó biết tới được.
Nói xong sai người mang bút mực tới, viết tặng Ấu Ngọc bài thơ:
Tạm dịch:
Trời đất không thiên vị
Muôn vật đều khoe xinh
Hoa lan hoa huệ kia
Lại ở hang sâu xanh
Gió nhẹ ngầm giúp đẹp
Mưa móc them vẻ thanh
Một sớm ra Thượng Uyển
Đào mận cũng nhường danh.
Nói chung hàng ngày Vương Ấu Ngọc thường không vui. Có người hỏi tại sao. Nàng nói:
- Đây không phải nghề của em. Người ta hoặc đi buôn, hoặc làm ruộng, hoặc đi tu...đều tự nuôi mình. Còn em suốt ngày son phấn, nói khéo, khoe tài kiếm tiền, nên không thích thú gì. Nhưng nếu được thoát khỏi nơi này, được lấy một người chồng tử tế, làm ăn chăm chỉ, xây dựng cơ nghiệp, thì lúc chết còn có đất mà chôn.
Gặp khi có một hào sĩ chốn Đông Đô là Liễu Phú tự là Nhuận Khanh đến chơi. Ấu Ngọc gặp lần đầu đã nói với mấy người xung quanh:
- Người đó đáng là chồng ta đó.
Phú nghe chuyện cũng có ý muốn lấy nàng.
Hai người đối với nhau đậm đà thân thiết, quyến luyến khó rời, thường hẹn hò nhau. Ít lâu sau em họ Ấu Ngọc ghen tức, bèn dọa Phú:
- Anh mà còn bén mảng ở đó, em sẽ kiện quan phủ.
Từ đó Phú không dám bén mảng tới. Một lần, gặp Ấu Ngọc ở trên sông, Ấu Ngọc khóc bảo:
- Lỗi không phải tại thiếp, chàng nên suy xét, nếu như được chàng giao ước hẳn hoi, thì không xảy ra nông nỗi này.
Rồi cùng nhau uống rượu, Ấu Ngọc cắt một món tóc giao cho Phú bảo: "Đây là vật thiếp quý hơn vàng ngọc, chưa bao giờ cho ai sờ mó tới. Nhưng với chàng thì không tiếc".
Phú yêu nàng say đắm, nhưng nghĩ tới chuyện phải ly biệt thì buồn bực và sinh ốm. aun lo lắng nhờ người chăm sóc. Bệnh khỏi, Phú cảm tạ, viết thơ dài tặng Ấu Ngọc.
Nhân Phú xa nhà đã lâu, gia đình cho gọi về, Ấu Ngọc ngầm tiễn biệt. họ uống rượu với nhau ở quán dọc đường và thề nguyền.
- Chàng có tài, thiếp có sắc, gặp nhau quyến luyến nhau cũng là lẽ tự nhiên. Lòng chàng, ý thiếp, xin nguyện thề mãi mãi có nhau.
Nói rồi hai người cùng thề, lấy tàn hương bỏ vào ly uống chung. Đêm ấy cùng nhau ngủ trên sông. Sáng ra khi từ biệt, Phú viết bài "Say rượu lầu cao" tặng Ấu Ngọc.
Phú viết xong, ngâm lên, nhưng xúc động quá không sao ngâm hết bài. Bèn uống rượu, cùng thương xót dàn dụa châu lệ. Về tới nhà, vì cha mẹ già, lại có nhiều chuyện xảy ra, Liễu Phú không giữ lời hẹn ước. Chợt có khách từ Hành Dương đến tìm, đưa thư của aun, và kể chuyện nàng gần đây bị ốm, Phú vội bóc thư xem, thấy cuối bài có hai câu thơ:
Xuân tàm đào tử ti phương tận
Lạp chúc thanh hôi lệ vị can
Tạm dịch:
Tằm xuân tới thác tơ vừa hết
Nến sắp thành tro lệ chửa khan
(những câu thơ này sau này được nhiều người nhắc tới).
Chàng Liễu rất đau lòng, cũng biên thư trả lời. Cuối bài có chép đoạn "thư của nàng" có hai câu:
Xuân tàm đào tử ti phương tận
Lạp chúc thanh hôi lệ vị can
Chúng tôi xin mạn phép làm thành cả bài tám câu như sau:
Sầu thương sông nước ngắm trăng ngà
Dáng mảnh làn đông giá lạnh tràn
Người đẹp Tiêu tương giờ ốm bệnh
Gã tài kinh khuyết cũng lang thang
Tằm xuân tới thác tơ vừa hết
Nến sắp thành tro lệ chửa khan
Muôn dặm núi mây không nói tới
Suông nhờ hồn mộng đến Tương giang.
Một bữa kia, chiều chạng vạng tối, Liễu Phú đang thơ thẩn bên rèm. Chợt thấy bóng người thấp thoáng bên cạnh bình phong. Nhìn ra thì là Ấu Ngọc. Ấu Ngọc nói:
- Thiếp vì nhớ chàng mà sinh ốm, và đã hóa thân rôi, vì muốn gặp nhau, nên cố tới đây. Thiếp vốn bình sinh không có tội ác, nên sau này sẽ đầu thai làm con Trương Toại bán bánh ở cửa thành Duyện Châu. Nếu chàng không quên tình xưa nghĩa cũ, có thể gặp nhau. Thiếp có một vật gửi lại người hầu, chàng có thể đến hỏi người đó mà xin, để có chứng cớ.
Nói xong không thấy đâu nữa. Phú vô cùng thương xót. Một lần khách Hành Dương tới kể chuyện:
- Ấu Ngọc mất rồi, nhưng trước khi mất có gửi lại "một món tóc, mấy chiếc móng tay" cho người hầu và dặn: "Nếu Liễu có tới hỏi thì em giao cho chàng".  

醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-09 17:21:42Vân Trung Tử>
Vương Tường
(Chiêu Quân cống Hồ)


Ngày xưa khi khen ngợi sắc đẹp của phụ nữ, người ta thường dùng thành ngữ "chim sa cá lặn" - nghĩa là người con gái đẹp tới mức chim đang bay trên trời cũng phải ngẩn ngơ vì nhan sắc mà sa xuống chân người đẹp. Cá đang bơi trong hồ cũng thấy cô gái đẹp ra giũ lụa cũng ngượng ngùng xấu hổ mà lặn ngay xuống đáy nước.
"Chim sa" là điển nói về Vương Chiêu Quân, tức Vương Tường. Thực ra trong sách của Trang Tử viết: Vương Tường, Ly Cơ là những người đẹp, cá nhìn thấy mà phải tránh lặn sâu đáy nước, chim nhìn thấy phải tránh bay vút đi. Dần dần dùng ngược lại hóa ra "Chim sa".
Nàng là con gái của Vương Trung, Tri phủ châu Việt (Chiêu Quân từ nhỏ đã xinh đẹp, thông minh. Có người miêu tả: Miệng cười nước đổ thành nghiêng…, đà giỏi như Bá Ấp Khảo (đời Chu), viết chữ vẽ tranh đẹp như Vương Duy đời Đường.
Thời Nguyên đế nhà Hán, Chiêu Quân phải tiến cung. Cung nữ thì nhiều, do đó đặt lệ sai họa sĩ vẽ tranh các cung nữ để dâng vua. Nhà vua ưng ai thì người đó được hầu đêm. Lúc ấy có một trong những thợ vẽ là Mao Diên Thọ người Đỗ Lăng, vẽ truyền thần chân dung rất giỏi trông như người thật. Bởi vậy có nhiều cung nữ tranh nhau đem vàng bạc hối lộ Diên Thọ để được vẽ chân dung mĩ miều hấp dẫn. Riêng có Chiêu Quân không chịu. Vì thế nên Diên Thọ vẽ hơi buồn và lại chấm một nốt ruồi trên gò má (theo quan niệm cũ, nốt ruồi ở gò má có tính chất làm cho chồng hoặc người đàn ông bị hại).
Thời nhà Hán (từ Cao Tổ) vẫn có việc giao hảo với các nước Hồ (Hung Nô, Thiền Vu…), cụ thể là một công chúa nhà Hán được gả làm vợ vua Hồ. Bấy giờ vua nước Thiền Vu là Hô Hàn Tà sai sứ sang nước Hán xin cưới một công chúa làm "Yên Chi" (hoàng hậu), Hán Nguyên đế sai gả Vương Tường (được phong danh là công chúa Vĩnh An). Trước khi đi đưa dâu, Hán Nguyên đế cho vời Chiêu Quân vào gặp mặt. Lúc gặp nàng, vua Hán mới biết Chiêu Quân là một tuyệt thế giai nhân, nhưng việc đã lỡ rồi nên vẫn gả cho vua Hồ (dã sử có chép tối hôm đó vua gặp Chiêu Quân, muôn vàn ân hận, kể cả chuyện có lần nằm mơ thấy Chiêu Quân. Hai người từng thề thốt sẽ lấy nhau…). Chiêu Quân gạt nước mắt ra đi.
Sau khi Chiêu Quân ra khỏi cổng thành thì vua sai bắt tên thợ vẽ Mao Diên Thọ đem chém đầu bêu chợ. Vua thân chinh đi tiễn nàng tới tận Nhạn Môn Quan. Tới đây, nàng vửa gảy tì bà vừa đọc mấy câu:
Vọng quân vương hề hà kỳ
Chung vu tuyệt hề dị vực
Tạm dịch:
Mong gặp nhà vua chừ bao giờ
Cuối cùng rồi lại vùi thân chừ đất lạ
Chiêu Quân sang Hồ, được ít lâu thì Hồ Hàn Tà chết, con trai là Phục Chu lên ngôi. Tục ở Hồ, vợ cha lại lấy con. Lúc đầu nàng không ưng, nhưng vua Hán cho người bảo ở đâu thì theo tục đó.
Tục truyền khi Chiêu Quân mất, cỏ ở các ngôi mộ khác đều màu trắng (vì lạnh quá) riêng cỏ ở mộ Chiêu Quân sắc xanh. Chuyện này mấy nghìn năm sau luôn trở thành đề tài cho văn chương thơ phú…
Đời Tấn (cách Hán Nguyên đế mấy thế kỷ), Thạch Sung viết một bài hát về Chiêu Quân. Tuy vậy, do kiêng tên Tư Mã Chiêu (tức Tấn Văn đế) nên đã đổi tên Chiêu Quân thành Minh Quân hoặc Minh Phi cho người thiếp yêu là Lục Châu hát múa.
Tạm dịch:
Nhà ta vốn nề nếp
Sắp sang đất Thiền Vu
Chưa hết lời
Phía trước đã bay cờ
Hầu tớ dàn dụa lệ
Ngựa xe cũng ngẩn ngơ
Thương nhau quặn gan ruột
Vạt lụa hoen lệ mờ
Ngày lại ngày dầu dãi
Rồi đến cõi Hung Nô
Lều vải làm cung điện
"Yên Chi" đổi xưng hô
đất lạ luôn đau đáu
Giàu sang mà chi giờ
Cha con cùng làm nhục
Vừa sợ lại vừa dơ
Muốn chết không phải dễ
ẩn nhẫn kiếp sống thừa
sống thừa càng tủi cực
Phẫn uất rối tơ vò
Muốn nhờ cánh hồng nhạn
Cưỡi vút nẻo mây mờ
Hồng nhạn cũng hờ hững
Đứng ngồi đều thẫn thờ
Xưa là hộp ngọc quý
Nay là hóa phân khô
Hoa sớm không thỏa dạ
Đành dầu như cỏ thu
Nhắn nhủ người hậu thế
Chớ có lấy chồng xa
Về sau, như để tạ lỗi với Chiêu Quân, vua Hán cho tuyển em gái Chiêu Quân là Thụy Chiêu Quân vào cung.
Ở ta cũng có nhiều thơ từ về Chiêu Quân. Trong tập "Hồng Đức quốc âm thi tập" có mấy chục bài vịnh các cảnh ngộ Chiêu Quân đã trải qua.
Cao Bá Quát cũng viết nhiều, trong đó có những câu thơ nguyên văn chữ Hán, tạm dịch như sau:
Hà cớ mày ngài lệ tủi thân
Thành Hồ sương gió Hán trời xuân
Năm xưa hứa gả Thiền Vu chúa
Đâu biết hồng nhan đẹp tuyệt trần.
Đầu thế kỷ XX, có Nguyễn Thiện Kế cũng có bài lục bát mở đầu bằng:
Cô ơi cô đẹp nhất đời
Mà cô mệnh bạc thọ trời cũng thua
Một đi từ biệt cung vua
Có đâu về nữa đất Hồ ngàn năm.

HẾT
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
0
Truyện 20 Nữ nhân Trung Quốc

Đã được mang vào thư viện

Thành thật cảm ơn Vân Trung Tử đã góp sức cho thư viện

Vậy mời Vân Trung Tử một ly Martell há [8D]

          
0
Nho thở dài đi ra. Trác vào nhà, Điêu Thuyền hỏi:
- Thái sư có điều gì không được vui thì phải?
Trác liền kể lại chuyện Lý Nho đến giục đưa nàng sang chỗ Lã Bố. Điêu Thuyền vừa nghe dứt lời đã khóc òa, sà vào lòng Đổng Trác, nức nở nói:
- Nho với Bố thân thiết từ lâu. Đây là mưu mẹo của Nho.Thân phận thiếp thế nào cũng tan nát vì bọn mày mất thôi.
Trác vội an ủi:
- Nàng đừng lo, mọi việc còn có ta chứ.
Điêu Thuyền thưa:
- dù Thái sư có lòng thương yêu thực, nhưng nếu ở đây lâu, e Lã Bố sẽ làm điều bất trắc.
- Thôi được, để ta đưa nàng về Mi Ổ.
Điêu Thuyền lấy vạt áo lau nước mắt, lạy tạ. Ngay hôm ấy, Đổng Trác ra lệnh đưa Điêu Thuyền về Mi Ổ. Điêu Thuyền ngồi trong xe, thấy Lã Bố đứng xa trông vào xe. Điêu Thuyền giả cách lấy áo che mặt như đang khóc. Lã Bố thấy vậy lòng đau như cắt, rồi ghì cương ngựa, đứng đợi cho xe đi khuất mới quay về. Chợt đâu có tiếng hỏi:
- Sao tướng quân không đi cùng Thái sư mà lại đứng một mình buồn rười rượi thế kia?
- Thôi thế thằng giặc già chiếm mất rồi.
Vương Doãn nói:
- Thái sư chiếm đoạt cái gì?
- Chiếm đoạt con gái của Tư đồ chứ gì nữa.
Tư đồ Vương Doãn giả đò kinh ngạc:
- Mấy bữa nay, người mệt, nên không ra ngoài. Tiện nữ vẫn còn ở chỗ tướng quân cơ mà?
Lã Bố hậm hực nói:
- Nó ngủ với Điêu Thuyền từ hôm đầu rồi.
Vương Doãn ngẩng mặt lên trời, thở dài:
- Ôi! Sao mà có thể như vậy nhỉ?
Rồi mời Lã Bố tới nhà uống rượu. Rượu ngà ngà...Bố liền kể cặn kẽ chuyện gặp Điêu Thuyền ở Phụng Nghi đình.
Vương Doãn đỏ mặt nói:
- Thế là con gái tôi bị người ta làm nhục rồi, còn tướng quân thì mất vợ. Tôi e thiên hạ sẽ chê cười thôi.
Lã Bố hỏi:
- Quan Tư đồ bảo thiên hạ sẽ chê cười ai?
Vương Doãn nói:
- Họ sẽ chê cười chúng ta. Tôi già yếu rồi chẳng lamg gì được chỉ tiếc cho tướng quân là bậc anh hùng lừng lẫy mà cũng phải chịu nhục.
Nghe vậy, Lã Bố bất giác dằn mạnh cốc rượu đang uống dở, quát lên một tiếng.
Vương Doãn giả đò hốt hoảng xin lỗi.
- Tôi chót lỡ lời, mong tướng quân đừng giận.
Lã Bố nói dằn giọng:
- Thế này thì không chịu nổi được nữa, phải giết nó mới thôi.
Doãn vội lấy tay bịt miệng Lã Bố và nói:
- Xin tướng quân đừng nói như thế, lỡ liên lụy đến lão phu.
Lã Bố nói luôn:
- Quan Tư đồ không phải ngại gì. Trượng phu ở đời không thể luồn cúi kẻ khác mãi được. Có điều tôi và thằng giặc già ấy lại có tình bố con, làm thế sợ người ta chê cười.
Doãn mỉm cười rồi nói:
- Thế lúc ở Phụng Nghi đình thì tình bố con để ở đâu? Tướng quân họ lã chứ có phải họ Đổng đâu?
Lã Bố vụt đứng dậy nói:
- Quan Tư đồ không nói thì tôi còn mơ hồ.
Khi thấy Lã Bố đã quyết tâm, Vương Doãn bèn rót rượu mời Lã Bố cạn chén rồi nói:
- Vì nhà Hán mà trừ hại thì tướng quân sẽ được tiếng là tôi trung. Nhưng lão phu e việc lớn lại không thành thì chuốc phải vạ lớn.
Lã Bố bèn rút thanh dao ngắn đeo bên mình, chích máu ở đầu ngón tay cho vào chén rượu, vái đưa cho Vương Doãn và nói:
- Xin quan Tư đồ yên tâm, chén rượu thề này xin làm chứng.
Vương Doãn cũng quỳ theo, nói:
- Cơ nghiệp nhà Hán không đồi bại đều là do tướng quân. Xin tướng quân đừng tiết lộ việc này cho ai. Lão phu sẽ báo với tướng quân sau.
Lã Bố nhận lời, chào từ biệt.
Tư đồ Vương Doãn bèn cùng các quan triều thần thân tín là Sỹ Tôn Thụy và Hoàng Uyển bàn mưu trừ Đổng Trác.
Sỹ Tôn Thụy nói:
- Ta có thể viên cớ nhà vua mệt mỏi, nên muốn được gặp quan Thái sư bàn việc nước, một mặt viết mật chỉ cho Vua trao cho Lã Bố đem quân mai phục sẵn ở Triều đường, đợi Trác đến giết.
Mọi người thấy được, nhưng chưa biết sai ai đi Mi Ổ mời Đổng Trác. Sỹ Tôn Thụy lại bảo:
- Theo tôi Kỵ Đô Úy Lý Túc vốn cùng quê với Lã Bố. Ít lâu nay không được Đổng Trác thăng chức, nên vẫn mang trong lòng oán hận, nay nên sai đi.
Vương Doãn bèn cho người mời Lã Bố đến bàn việc. Lã Bố đồng ý tất cả. Lại cho người đi mời Lý Túc. Khi Túc tới, Lã Bố vái chào nói:
- Ngày trước chính túc hạ khuyên tôi nên trừ Đinh Kiến Dương để về với Đổng Trác, quy phuc triều đình, nay Trác lại cậy thế làm liều át vua, át dân, thần và người đều căm giận. Vậy tôi muốn trừ khử, ông thấy thế nào?
Lý Túc nghe xong bèn nói:
- Tôi không ngờ tướng quân là con người trọng nghĩa đến vậy, vậy tôi xin hết lòng.
Nói rồi Lý Túc lấy một chiếc tên bẻ đôi cùng thề với mọi người. Sau đó dẫn mấy chục kị binh đem chiếu vua đến Mi Ổ mời Đổng Trác. Trác cho vào, hỏi:
- Chiếu chỉ của Thiên tử về việc gì vây?
Lý Túc cung kính nói:
- Nhà vua ốm mệt mới khỏi, nay muốn họp các quan văn võ lại để bàn việc nhường ngôi cho Thái sư, nên sai tôi mang chiếu chỉ tới.
Đổng Trác còn nghi ngờ, bèn hỏi thêm:
- Vậy quan Tư đồ Vương Doãn có ý kiến gì?
Lý Túc nói:
- Vương Doãn trông coi việc đắp đàn "Nhường ngôi", chỉ chờ Thái sư về thôi.
Đổng Trác mừng rỡ, sai các tướng tâm phúc như Lý Thôi, Quách Dĩ, Trương Tế, Phàn Trù ở lại giữ Mi Ổ, Trác bảo Lý Túc:
- Công việc xong xuôi, ta sẽ phong cho ngươi làm Chấp Kim Ngô.
Lý Túc vái tạ. Đổng Trác vào từ biệt Điêu Thuyền, bảo:
- Nàng sắp làm Phi hậu tới nơi rồi. Cứ yên tâm ở đây chờ ta.
Điêu Thuyền mừng rỡ, sụp xuống lạy tạ.
Xe ngựa Trác về Trường An, trăm quan ra đón rước. Chỉ có Lý Nho cáo ốm không đến. Khi Đổng Trác vào Tướng phủ, Lã Bố tới chào, Trác bảo:
- Ta sẽ cho Ôn hầu thống lĩnh tất cả binh tướng thiên hạ.
Lã Bố cúi đầu tạ ơn.
Sáng hôm sau, Đổng Trác hiên ngang lên xe vào triều. Trăm quan đứng đón hai bên đường, Lý Túc cầm gươm trần, đi bộ làm tiên phong.
Tại cửa cung, quân lính của Trác đều đợi ở ngoài. Chỉ có vài chục tùy tùng đi theo. Vào khỏi cửa cung mấy chục bước, Đổng Trác chợt thấy Tư đồ Vương Doãn và những người khác đều cầm gươm trần đứng ở dưới chân điện, Trác hơi nghi ngại, hỏi Lý Túc:
- Những người kia cầm gươm là ý gì?
Lý Túc không trả lời. Bỗng Vương Doãn hô to:
- Phản tặc đã tới, các võ sĩ đâu?
Hàng trăm võ sĩ xông ra đâm Trác. Nhưng áo giáp của Trác dày không thủng, nên chỉ bị thương ở cánh tay và ngã ra ngoài xe.
Trác gọi to:
- Phụng Tiên con ta đâu mau lại đây.
Lã Bố ở sau xe, nghe goi đến tên, bèn nhảy ra dùng kích đâm thẳng vào cổ Đổng Trác. Lý Túc cầm gươm cắt đầu Đổng Trác giơ lên.
Lã Bố liền cầm tờ chiếu chỉ của vua ra và nói:
- Có chiếu chỉ của nhà vua! Chỉ giết phản tặc Đổng Trác, còn mọi người đều không có tội, ai ở đâu xin về đấy.
Quân sĩ reo hò rồi giải tán.
Vương Doãn sai Lã Bố cùng Hoàng Phủ Tung đem quân tới Mi Ổ bắt gia quyến Đổng Trác và tịch thu của cải. Bọn tướng giữ Mi Ổ, nghe tin Trác bị giết, và Lã Bố lại đem quân tới, nên ngay đêm đó trốn đi luôn. Lã Bố tới Mi Ổ, việc trước tiên là tìm tới chỗ Điêu Thuyền.
 
 
 
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
0
Đỗ Thập Nương
 
Thời Minh Vạn Lịch, ở kinh đô có một danh kỹ họ Đỗ tên Ty, đứng hàng thứ mười trong kỹ viện, nên mọi người gọi là Đỗ Thập Nương.
Đỗ Thập Nương tuy mới mười chín tuổi, nhưng nhan sắc xinh đẹp, đã làm nhiều vương tôn công tử tan nhà nát cửa.
Lúc đó trong số học trò trường Quốc Tử Giám có một người họ Lý tên Giáp, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Triết Giang là con của Lý Bồ Chính. Lý Giáp là một phong lưu công tử, mặt mũi khôi ngô, tác phong nho nhã, phong quan. Từ khi Lý và Đỗ gặp nhau, hai bên ân ái ngày càng thắm đượm. Vì theo lệ nộp học phí nên Giáp lại rủ thêm bạn cùng làng là Liễu Ngộ Xuân cùng lên Quốc Tử Giám.
Thập Nương bắt đầu chán cuộc sống nơi kỹ viện, muốn trở lại cảnh thanh bạch thời thơ ấu. Hơn nữa, Lý Giáp là người trung thực, đáng mặt trượng phu có thể nương thân.
Một hôm, Đỗ Thập Nương tỏ ý với Lý Giáp.  Lý Giáp trong lòng muốn vớt đóa hoa tươi, sớm trôi dưới dòng nước, nhưng e ngại cha mẹ không chấp thuận nên chần chừ chưa quyết.
Mụ chủ kỹ viện thấy cặp tình nhân ngày càng khăng khít, ban đầu Lý Giáp còn nhiều tiền bạc nên đón tiếp rất nồng hậu, nay Lý Giáp chỉ còn tay trắng, mụ liền trở mặt...Vả lại, nghe tin con trai ở kinh đô chơi bời đua đòi, cha Lý Giáp là Lý Bồ Chính không gửi tiền lên nữa. Từ đó, mụ càng ra mặt khinh khi.
Về tính chân thật, Đỗ Thập Nương khác hẳn. Thấy Lý Giáp hết tiền, trong lòng bứt dứt, nhất là thấy mụ chủ hắt hủi chàng thì lòng nàng không nỡ.
Một hôm mụ chủ nói với Đỗ Thập Nương:
- Ở nhà này hễ kẻ nào có tiền thì được trọng đãi, kẻ nào không có tiền thì đừng tới. Nếu cứ chiều chuộng mãi cái kẻ túi rỗng kia thì cả nhà phải chết đói hay sao?
Thập Nương nói:
- Trước kia Lý công tử đâu phải là kẻ túi rỗng?
Mụ chủ cười ranh mãnh:
- Nếu quả thật nó yêu mày thì bảo nó đem tiền đến chuộc mày ra, để lấy tiền mua người khác cho kỹ viện.
Đỗ Thập Nương chưa tin, hỏi:
- Quả thực bà bằng lòng sao? Bà định ra giá bao nhiêu?
- Người khác thì phải cần ngàn vàng, nhưng với Lý Giáp nghèo khổ, ta chỉ lấy ba trăm lạng thôi. Nội trong ba ngày không có đủ số tiền ấy mà còn lân la đến đây thì đừng có trách ta.
Thập Nương suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Bắt người không có tiền phải có đủ ba trăm lượng trong khoảng thời gian ba ngày e gấp quá. Xin cho hoãn lại mười hôm.
Mu chủ biết Lý Giáp lúc này không đào đâu ra tiền nữa, nên mụ làm mặt dễ dãi nói:
- Được rồi, ta sẽ cho mười ngày.
Thập Nương e ngại nói tiếp:
- Nếu trong mười ngày, người ta có đủ số tiền ấy mà bà không giữ lời thì sao?
Mụ chủ trợn mắt sẵng giọng:
- Nếu ta nói sai, ta không phải là người.
Đêm ấy Lý Giáp đến, Đỗ Thập Nương kể lại với chàng.
Lý Giáp buồn bã nói:
- Ta có ý định ấy đã lâu, ngặt vì bây giờ tay trắng, không kiếm đâu ra tiền, biết làm sao đây?
Đỗ Thập Nương nói:
- Chàng nên tìm vay mượn nơi bạn bè thân thích, rồi chúng ta sẽ cùng nhau sống đến trọn đời. Thoát khỏi cảnh chim lồng cá chậu này, thiếp xin nguyện làm thân trâu ngựa để báo đền ơn ấy.
Lý Giáp phân trần:
- Bạn bè thân thích hiện nay thấy ta tới lui chốn kỹ viện đều lánh mặt, khó mà mượn được, chỉ có cách là ngày mai ta giả vờ mượn đỡ ít tiền hồi hương, may ra có được ít nhiều.
Hôm ấy Lý Giáp đến các bạn học cáo biệt và hỏi mượn một ít tiền bạc làm lộ phí về quê. Bạn bè đều một mực từ chối.
Luôn trong ba ngày như vậy Lý Giáp không tìm đâu ra được tiền, xấu hổ quá, không dám đến kỹ viện nữa, mới lén qua ngủ nhờ người bạn cùng học là Liễu Ngộ Xuân. Lý Giáp đem câu chuyện với Đỗ Thập Nương kể lại đầu đuôi. Liễu Ngộ Xuân nói:
- Chưa hẳn Đỗ Thập Nương đã thật yêu anh đâu. Nàng là danh ca đệ nhất của kỹ viện nên tôi e mụ chủ chỉ tìm cách gạt anh mà thôi, chứ lý nào mụ lại chịu buông cái con bò sữa ấy.
Lý Giáp nói:
- Không, quả thực tình nàng yêu tôi, và mụ chủ cũng hứa chắc vậy.
Liễu Ngộ Xuân trầm lặng một lúc rồi nói:
- Mà dù anh có yêu nàng thật, dù mụ ta có hứa thật tình như thế thì bây giờ anh kiếm đâu ra tiền, còn với bạn bè, hiện nay anh hỏi vay ba lạng cũng còn không có nữa, nói gì đến ba trăm lạng. Thôi, anh nên chia tay với nàng là hơn.
Lý Giáp thở dài:
- Phải, anh nói rất có lý.
Miệng nói thế nhưng trong lòng chàng lúc nào cũng thấy nóng như bào, qua sáu ngày liền, Lý Giáp vẫn không mượn được tiền.
Thập Nương thấy Lý Giáp mấy ngày không đến, trong lòng buồn bực, chẳng biết công việc ra sao, bèn cho người tiểu bộc đi tìm.
Người tiểu bộc gặp Lý Giáp đang thơ thẩn trên đường, liền kể lại nỗi niềm nhớ nhung của Thập Nương đang ngóng đợi.
Vì xấu hổ, Lý Giáp không dám trở lại kỹ viện, nay có tin nàng Thập Nương dang ngóng đợi, bất giác chàng liều lĩnh theo chân kẻ tiểu bộc.
Khi thấy mặt Đỗ Thập Nương, Lý Giáp cúi đầu e ngại, rưng rưng nước mắt, không nói gì cả.
Thập Nương biết Lý Giáp vì không tìm được tiền nên xấu hổ không đến, bèn ân cần nói:
- Việc ấy không nên để lọt đến tai mụ chủ. Đêm nay công tử đến đây, thiếp có việc cần bàn.
Nói xong Thập Nương đi sửa soạn cơm rượu.
Lý Giáp buồn bã uống say rồi vào phòng nằm nghỉ.
Khi Lý thức dậy, Thập Nương đứng bên bàn nói:
- Trong cái đệm thiếp nằm có hơn 150 lượng vàng vụn. Bây giờ trời đã mờ sáng, vậy chàng hãy mang số vàng đó về để lo thêm cho đủ số. Xin chàng lưu tâm cố gắng đừng để lỡ việc.
Nói xong Thập Nương sai người tiểu bộc cuốn đệm mang theo cùng Lý đến nhà Liễu Ngộ Xuân.
Về nhà Lý Giáp xé đệm ra, đem cân số vàng quả đúng y 150 lạng.
Liễu Ngộ Xuân thấy vậy nói:
- Người con gái này quả thật hiếm có, một tấm chân tình đáng cho anh quý mến.
Lý Giáp nói:
- Thế anh có thể giúp tôi tác thành việc này được chăng?
Liễu Ngộ Xuân gật đầu. Hai ngày sau, Liễu tìm đến bạn bè vay được đủ số vàng còn thiếu, giao cho Lý Giáp và bảo:
- Tôi làm việc này vì tấm lòng của Thập Nương chứ không phải vì anh đâu.
Lý Giáp mặt mày hớn hở, cảm ơn thịnh tình của bạn rồi mang đủ ba trăm lạng vàng tới kỹ viện.
 
 
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-04 15:27:06Vân Trung Tử>
Thấy Lý Giáp mang vàng đến, Thập nương mừng rỡ hỏi ra mới biết Liễu Ngộ Xuân giúp, nàng ấp hai tay lên trán rồi nói:
- Chúng ta mà đạt được nguyện vọng, một phần lớn cũng nhờ lòng tốt hiếm có của Liễu tiên sinh vậy. Hôm nay chàng đã có tiền rồi, thân thiếp như con én xổ lồng, bay lên trời cao.
Hai người ríu rít khen ngợi tình bạn của Liễu Ngộ Xuân, thì mụ chủ đã xô cửa bước vào.
Nhìn thấy cặp uyên ương, mụ chủ nói:
- Sao? Hôm nay là đúng mười ngày, hẳn Lý tiên sinh có mang tiền theo đó chứ?
Lý Giáp vội trao túi vàng cho mụ chủ trước mặt Thập Nương.
Mụ chủ lâu nay tưởng Lý Giáp không kiếm đâu ra tiền, nay thấy Lý Giáp đem trao vàng đủ hẳn hoi, mụ ta sững sờ. Nhưng vì đã hứa trước đành phải nghe theo.
Thập Nương nói:
- Tôi ở nhà bà cũng đã mang cho bà vàng bạc khá nhiều. Nay ơn bà lại cho tôi được giải thoát, xin chúc bà làm ăn phát đạt.
Nói xong hai người dắt nhau ra đi.
Thập Nương nói nhỏ với Lý sinh:
- Chị em hàng viện, thường ngày lui tới đi lại với thiếp, rất là thân thiết, nên đã góp nhau số tiền lệ phí tiến thiếp, vậy trước khi đi, chúng ta nên cảm ơn và giã biệt họ.
Hai người dắt nhau vào viện.
Giữa lúc ấy các bạn của Thập Nương là Tạ Nguyệt Lãng, Từ Tố Tố đang ngồi trong đợi. Thấy Thập Nương đến, bạn bè xô ra ôm Thập Nương vào lòng, lại lấy cả quần áo, đồ trang sức của mình tặng cho Thập Nương nữa.
Tạ Nguyệt Lãng nói:
- Nay chị Thập Nương đã bỏ chúng ta theo chồng, đường xa ngàn dặm, vậy chúng ta phải sửa soạn sẵn hành lý để tiễn nhau gọi là một chút tri kỷ của kiếp phấn son.
Đêm ấy Lý giáp và Thập Nương nghỉ ở phòng Tạ Nguyệt Lãng.
- Hai ta trở về, chàng có thấy gì bất tiện chăng?
Lý Giáp đáp:
- Cha ta nghe tin ta hoang đàng nơi chốn lầu xanh, nên giận dữ, nếu nay lại đưa một nàng ca kỹ về nữa thì e lụy đến nàng.
Thập Nương nói:
- Tình cha con là trọng, không thể làm mất lòng. Vậy chúng ta hãy đến Hàng Châu tạm trú ở đó, chàng về nhà trước cầu cứu với thân bằng , cố hữu đến khuyên giải cha già, nếu cha chấp thuận thì lúc đó em sẽ về nhà ở với chàng cũng khồng muộn.
Lý Giáp khen phải.
Hôm sau hai người dậy sớm đến nhà Liễu Ngộ Xuân để sắp sửa hành trang và chào tiễn biệt.
Thập Nương nói:
- Vơ chồng tôi hôm nay được sắt cầm hòa hợp thật là nhờ tấm lòng hiếm có của tiên sinh.
Ngộ Xuân lễ phép nói:
- Cô nương là người chung tình trên đời có một, chẳng vì nghèo túng mà thay lòng, thực là người đáng noi gương chốn hồng lâu, chút tiền của tôi có gì là quý giá?
Vùa lúc đó kiệu ngựa thuê đã tới giục lên đường. Hai người phải chia tay cùng Liễu Ngộ Xuân.
Tạ Nguyệt Lãng và Từ Tố Tố cũng theo tiễn vài dặm đường.
Nguyệt Lãng nói:
- Chị Thập Nương, nay đã đi lấy chồng, chúng tôi vì quan san cách trở, không thể nào tâm tình với nhau như xưa, vậy chúng tôi có một chút lễ mọn chúc hai người tân hôn giữ mãi mối tình nồng thắm.
Nói xong, gọi người khiêng ra một cái rương thật lớn, phong khóa kiên cố, chẳng biết bên trong đựng những gì. Thập Nương không từ chối, cũng không cần mở ra xem, cảm tạ hai người rồi lên kiệu khởi hành.
Lý Giáp cùng Thập Nương đến Lộ Hà thì gặp được thuyền trở lại Qua Châu, bèn xuống thuyền đi cho đỡ vất vả.
Lý sinh buồn rầu vì số tiền lệ phí của mình thiếu hụt. Thập Nương nói:
- Xin chàng chớ có lo. Chị em kỹ viện đã tặng cái hộp ấy, ắt không phải là thứ không quý giá.
Nói rồi Thập Nương rút khóa mở ra một ngăn kéo thấy có vô số vàng bạc vụn. Còn các ngăn khác đựng những thứ gì, hình như Thập Nương không cần biết đến.
Nàng nói:
- Tặng vật của chị em kỹ viện chẳng những giúp chúng ta có đủ số tiền lộ phí mà còn có thể đủ cho ta ngao du một thời gian dài nữa.
Đêm đó thuyền tới Qua Châu, đậu nơi cửa sông. Trên trời trăng cao gió mát, sóng gợn như những chiếc vảy vàng rung động.
Trước cảnh vật nên thơ ấy, Thập Nương vô cùng hào hứng, nói với Lý Giáp:
- Chúng ta lâu nay yêu nhau trong đau khổ, giờ mới có được phút tự do, ngồi bên nhau nơi đầu thuyền tâm tình đêm nay, chúng ta sẽ đối ẩm với nhau cho say để thỏa lòng mong ước.
Hai người cùng nâng chén.
Lý Giáp nói:
- Đã lâu, ta chưa được nghe giọng oanh réo rắt của nàng, tiện đây xin nàng hát lên vài khúc để nhớ lại những đêm tự tình xa xưa.
Thập Nương chiều chồng, bèn cất giọng hát, âm thanh vang vang trong cảnh tĩnh mịch u huyền...
Gần đó có một chiếc thuyền buôn của một người họ Tôn tên Phúc. Chàng này người quận Tân An chuyên nghề buôn muối, là phú thương giàu có nổi tiếng khắp vùng.
Thoạt nghe tiếng hát véo von, chàng ta nhìn cảnh vật mông lung, lòng say đắm theo nhạc điệu.
Nghe tiếng hát trong đêm trăng quả là một mãnh lực ảo huyền. Tôn Phúc không thể chịu nổi nữa, sai người đi xem thuyền ai có người hat hay đến thế. Bọn đầy tớ dùng thuyền nhỏ bơi chèo một hồi rồi trở lại bảo:
- Thuyền của Lý công tử, còn người ca hát ấy là ai thì không rõ.
Tôn nghĩ thầm:
- Giọng hát này không phải là kẻ khuê môn, hẳn là một ca sĩ. Vậy ta tìm cách gặp mặt mới được.
Đêm ấy Tôn nằm trằn trọc mãi không sau ngủ được. Giọng hát cứ văng vẳng mãi bên tai.
Đến sáng, trời bỗng nổi mưa, tuyết rơi lả tả, bao nhiêu thuyền bè phải vào bến tìm chỗ nấp.
Lợi dụng cơ hội ấy, Tôn Phúc cho thuyền mình ghé sát thuyền Lý Giáp rồi tìm cách lân la chuyện vãn. Nhưng Lý Giáp ở mãi trong thuyền cùng vợ say sưa không ra ngoài.
Tôn Phúc đứng mãi ở đầu thuyền chờ đợi.
Lâu lắm, chàng mới thấy một người phụ nữ có vẻ đẹp chim sa cá lặn, đứng chải đầu bên thuyền Lý Giáp.
Tôn Phúc bỗng nổi cơn khao khát, nhưng làm sao để dụ được Lý Giáp qua thuyền mình nói chuyện.
Ngẫm nghĩ hồi lâu, chàng ngâm nho nhỏ hai câu thơ:
Tuyết phủ núi ngàn cao sĩ ngự
Trăng soi rừng thẳm mĩ nhân về...
Khi nghe hai câu thơ ấy, Lý Giáp bèn ra khỏi khoang thuyền xem ai. Tôn Phúc được dịp vợi vàng thi lễ, rồi làm quen với Lý Giáp và mời qua thuyền mình. Tôn Phúc khiến bày tiệc trong thuyền mình, hai người đối ẩm.
Thừa lúc vắng người, Tôn Phúc hỏi nhỏ Lý Giáp:
- Người nào ca hát trong thuyền huynh thế?
Lý Giáp thật tình đem câu chuyện mình với nàng kỹ nữ yêu nhau, nhưng vì cha già nghiêm khắc không dám đường đột đem về, phải cho thuyền đậu nơi đây để mình về thương lượng trước đã.
Tôn Phúc hỏi rõ ngọn ngành, cười híp mắt nói:
- Huynh tính như thế là sai rồi. Quyền cha già là quyền tuyệt đối, mà tình cha già xũng là tình thiêng liêng, nếu huynh làm thế e bá phụ giận thì nguy. Vả chăng các nàng ca sĩ xưa nay mấy ai mà chấn thành với nghĩa đá vàng đâu? Chẳng qua thấy huynh say mê nên giả vờ để gạt huynh đó. Một thời gian nữa huynh sẽ thấy ,tình nghĩa không bền. Thói đời "ngựa quen đường cũ", chi bằng trả lại cho nàng cuộc đời son phấn, giữ trọn tình nghĩa với cha già.
Lý Giáp trong lòng lo lắng, nghe Tôn Phúc nói vậy, ngồi thừ ra không biết trả lời sao cả.
Thấy thế Tôn Phúc bồi thêm:
- Tôi với huynh tuy mới quen đã nên thân, vì thông cảm với hoàn cảnh của huynh tôi mới nói như vậy. Bây giờ tôi còn một ý nữa, chẳng biết huynh nghĩ thế nào?
Lý Giáp nói:
- Được, xin cứ nói.
Tôn Phúc làm ra vẻ dè dặt:
- Huynh trôi nổi hơn một năm trời, tôn đường giận dữ, cho huynh là kẻ đắm sắc say hoa. Bây giờ nếu huynh trở về với hai bàn tay trắng thì sao nghiêm đường không nghi kỵ?Tôi là một người giàu có, có thể giúp huynh một trăm lạng vàng, đem về nhà, nghiêm dường sẽ không còn ngờ vực chuyện lâu nay huynh chơi bời nữa. Còn nàng Thập Nương, huynh cứ giao cho tôi giữ, chừng nào nghiêm đường cho phép tôi sẽ đưa sang.
Lý Giáp nghe nói rụng rời, phần vì sợ cha già trách mắng, phần vì lo công việc bất thành. Chàng ta sụt sùi nói:
- Lời Tôn huynh dạy rất phải, ngặt vì nàng Thập Nương và tôi đã nặng tình không nỡ xa nhau. Vậy xin để tôi bàn lại đã.
Tôn Phúc ân cần nói:
- Huynh phải dùng lời nhỏ nhẹ mà khuyên nhủ nàng, nếu quả thật nàng yêu huynh thì phải tránh cho huynh những nổi khổ tâm.
Hai người cạn thêm tuần rượu rồi mới chia tay.
Về đến thuyền mình, Lý Giáp thấy Thập Nương thẫn thờ ngồi đợi. Chàng vừa bước vào nàng đã vồn vã nói:
- Chàng đi chơi đâu mà để thiếp mong đợi hoài thế?
Lý Giáp buồn rầu không đáp:
- Hôm nay chàng đi chơi gặp điều gì buồn bã chăng?
Lý Giáp buông tiếng thở dài...Thập Nương lại hỏi đôi ba phen, Lý Giáp đem chuyện gặp Tôn Phúc kể lại.
Thập Nương kinh hoàng, nước mắt đầm đìa, nghẹn ngào không nói được, giây lâu mới hỏi:
- Chẳng hay chàng có bằng lòng theo lời Tôn Phúc hay chăng?
Lý Giáp nói:
- Tình chúng ta nặng như Thái Sơn, biết làm sao phai nhạt được. Tuy nhiên, nếu không nghe lời Tôn Phúc thì ắt mang họa xa tình cốt nhục.
Thập Nương chết điếng, ngồi lúc lâu rồi hỏi:
- Chẳng hay chàng đã nhận một trăm lạng vàng của Tôn Phúc chưa?
Lý Giáp nói:
- Chưa, ta còn hẹn trở về hỏi ý kiến nàng đã.
Như tiếng sét đánh vào tai, nỗi đau đớn đã làm cho nàng như điên dại. Nàng nói:
- Người ấy vì chàng bày kế thật đáng mặt trượng phu, vậy chàng cứ lấy một trăm lạng vàng về sống an vui với gia đình đi, còn thân thiếp, thiếp sẽ tự liệu.
Sáng hôm sau, trời vừa sáng, Thập Nương đã trang điểm cực kỳ lộng lẫy.
Nhìn thấy Lý Giáp vui vẻ, Thập Nương đứt từng khúc ruột.
Lý Giáp thân hành đến thuyền Tôn Phúc để nhận tiền.
Tôn Phúc nói:
- Đưa tiền là điều dễ, nhưng phải có một món gì của Thập Nương để làm tin.
Lý Giáp về nói lại, Thập Nương chỉ chiếc rương lớn và nói:
- Hãy đem của ấy theo tôi.
Khi thấy Lý giáp đã nhận đủ số vàng, Thập Nương ngồi tựa mui thuyền, lấy tay vẫy Tôn Phúc bảo:
- Hãy đưa chiếc rương lại đây, trong đó có giấy tờ của Lý Giáp, tôi cần phải tả hết.
Tôn Phúc tưởng thật, sai đầy tớ khiêng cái rương của nàng trả lại.
Thập Nương mở chiếc rương ra, bên trong có nhiều ngăn nhỏ dầy những ngọc ngà, châu báu, vàng bạc thì vô số. Mọi người dêu hoa mắt trước số tiền của và bảo vật ấy.
Thập Nương không nói gì cả, lẳng lặng hốt từng nắm vàng bạc, châu báu quẳng xuống sông.
Mọi người trông thấy thất kinh, đứng trơ ra như những pho tượng gỗ.
Khi đã ném hết vàng bạc, nàng quay lại mắng vào mặt Tôn Phúc:
- Ta cùng Lý lang trải qua bao cay đắng, nay mới được sum họp cùng nhau vậy mà mi nỡ đem lòng dèm xiểm, mang ý gian dâm, cắt đứt dây tình ái của ta. Ta chết xuống tuyền đài nguyện tố cáo mi với thần linh cho đáng tội.
Mắng xong, Thập Nương quay lại nói với Lý Giáp:
- Lòng thiếp quyết trọn nghĩa, lòng chàng một phút đổi thay, nay thiếp còn sống trên đời này cũng chẳng ích gì, vậy chàng cứ lấy trăm lạng vàng của kẻ phản phúc kía mà sinh sống. Tỷong rương của thiếp có bao nhiêu bạc tiền, nhưng vì mắt chàng không trông thấy nên không được hưởng.
Nói xong, Thập Nương thừa lúc mọi người bất ý, nhảy xuống sông tự vẫn.
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-05 19:50:13Ct.Ly>
Hạ Cơ

Hạ Cơ là con gái Mục Công nước Trịnh, ngay từ nhỏ đã nhan sắc tuyệt vời, môi son má phấn, mắt phượng mày ngài, lại thêm tình tứ, ai nhìn cũng thấy nao lòng. Sau lấy chồng là Hạ Ngư Thúc, làm Tư mã nước Trần, nên gọi là Hạ Cơ.
Hạ Cơ có tài đặc biệt là quyến rũ trong khi ân ái. Trước khi lấy chồng, Hạ Cơ đã tư thông với anh họ mình là Công tử Man. Chẳng bao lâu Công tử Man xanh xao gầy rạc rồi chết. Sau khi lấy Hạ Ngư Thúc, sinh được một con trai là Hạ Trung Thư và chỉ ít năm sau, Hạ Ngư Thúc qua đời.
Vì luôn gần đàn ông, nên mượn cớ để con trai ở lại trong thành để học hành, còn mình thì về ở đất Châu Lâm. Khi đi có mang theo thị nữ Hà Hoa cũng xinh đẹp và tính tình như Hạ Cơ.
Bạn làm quan với chồng Hạ Cơ trước có Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ. Thấy Hạ Cơ góa chồng mà vẫn xinh đẹp nên có ý muốn tư thông.
Một lần Khổng Ninh cùng Trung Thư đi săn, qua Châu Lâm và nghỉ ở đó. Khổng Ninh tìm cách mua chuộc Hà Hoa từ trước, nên tối đó, sau khi gặp Hà Hoa rồi, được đưa vào phòng Hạ Cơ. Thế là hai người dan díu từ đêm ấy.
Khổng Ninh lấy trộm chiếc quần lót bằng gấm mỏng của Hạ Cơ. Một bữa khoe với Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ cũng là loại hiếu sắc, thế là tìm cách tư thông với Hà Hoa và Hạ Cơ. Một tối sau lúc mây mưa, Nghi Hàng Phủ bảo Hạ Cơ:
- Ái nương trước cho Khổng Ninh một chiếc quần lót gấm, nay cũng phải cho ta một thứ gì để làm kỷ niệm chứ?
Hạ Cơ bật cười nói:
- Chiếc quần lót ấy là hắn lấy trộm của thiếp đấy.
Nói rồi ghé bên tai Nghi Hàng Phủ thì thầm:
- Cùng nằm chung giường với nhau nhưng cũng có kẻ khinh người trọng đấy nhé.
Nói rồi cởi ngay tấm áo lụa đang mặc tặng cho Nghi Hàng Phủ. Từ đó, Hạ Cơ có vẻ lạnh nhạt dần với Khổng Ninh. Khổng Ninh sau lúc nỉ non cùng hà Hoa, biết rằng dạo này Nghi Hàng Phủ tới luôn, hơn nữa có bữa Nghi Hàng Phủ cũng đem khoe chiếc áo của Hạ Cơ cho Khổng Ninh xem. Khổng Ninh ghen tức, bèn nghĩ kế... Chúa công vốn cũng là kẻ dâm đãng và cũng nghe đồn về sắc đẹp và bí thuật của Hạ Cơ đã lâu, chi bằng ta dẫn tới đó.
Nghĩ rồi, một hôm vào hầu Trần Linh Công, liền tìm cách gợi chuyện về Hạ Cơ. Trần Linh Công nói:
- Ta cũng có nghe nói từ lâu, nhưng năm nay nàng đã gần bốn mươi, chắc gì còn xuân nữa?
Khổng Ninh thưa:
- Hạ Cơ khéo giữ gìn nhan sắc lắm. Bây giờ trông nàng như gái mười tám đôi mươi, lại thêm cái thuật lạ làm mê mẩn bạn tình.
Trần Linh Công nghe nói đã thích, bèn bảo:
- Khanh có cách gì làm cho ta gặp Hạ Cơ không?
Khổng Ninh thưa:
- Hiện giờ nhà Hạ Cơ ở Châu Lâm, ngày mai chúa công mượn cớ ra đó chơi, sẽ gặp tỳ nữ Hà Hoa, cứ thế, cứ thế...chắc chắn là được.
Trần Linh Công nghe lời, Khổng Ninh bèn cho người báo cho Hà hoa biếtvaf tin cho Hạ Cơ rằng Trần Linh Công sẽ đến thăm.
Hôm sau, Trần Linh Công đến Châu Lâm. Hạ Cơ trang sức lộng lẫy ra đón, quỳ thưa:
- Con trai thần thiếp đi học vắng nhà, nên thần thiếp mạo muội ra chào chúa công.
Vua Trần thấy Hạ Cơ rất đẹp và quyến rũ, bèn vẫy tay bảo:
- Thôi ta miễn lễ.
Rồi hỏi:
- Ta nghe nói vườn hoa nhà khanh đẹp lắm, khanh có thể dẫn ta đi dạo mát một chút chăng?
Và cho phép Hạ Cơ bỏ lễ hục để đi lại cho tiện, xem hoa xong thì trong nhà đã bày tiệc. Hạ Cơ e ngại không dám ngồi chung.
Linh Công bảo:
- Chủ nhân thì phải ngồi chứ? Hôm nay ta miễn cho lễ vua tôi.
Nói rồi cho Khổng Ninh ngồi bên phải, Hạ Cơ ngồi bên trái. Trong khi uống rượu, Linh Công nhìn Hạ Cơ không chớp mắt...Tiệc tàn, trời xâm xẩm tối, đèn nến sáng trưng, Khổng Ninh bỗng ghé tai Hạ Cơ thì thầm. Hạ Cơ tủm tỉm cười. Khổng Ninh ra lệnh cho quân sĩ lui ra ngoài ăn uống và nghỉ ngơi.
Đêm đó, sau khi đưa Trần Linh Công vào phòng Hạ Cơ thì Hà Hoa cầm đèn lồng đi ra. Trông thấy Hạ Cơ đang có vẻ ngồi chờ đợi bên màn, Linh Công không nói năng gì, vào ngay giường ái ân với Hạ Cơ. Thấy Hạ Cơ chẳng khác gì một gái trẻ, Linh Công càng thích thú, hỏi nhỏ Hạ Cơ:
- Ái khanh có phép lạ gì không?
Hạ Cơ thì thầm:
- Phép lạ không thể nói được.
Linh Công thôt ra:
- Đêm nay chẳng khác gì được gặp tiên nữ vậy.
Sức Linh Công đã kém Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ, lại thêm bệnh hôi nách...nhưng Hạ Cơ nghĩ thầm dẫu sao Linh Công cũng là vua chúa nên phải chịu khod chiều chuộng. Do đó nàng làm đủ mọi cách để Linh Công mê mẩn khoái trá. Bỗng Linh Công nói:
- Nay ta gần gũi ái khanh, các phi tần sao so được? Liệu ái khanh có nghĩ tới ta chăng?
Ha Cơ tươngt lầm Trần Linh Công biết mình tằng tịu với nhiều người, bèn nỉ non:
- Xin chúa công tha tội, từ khi phu quân thiếp qua đời, nhiều lúc thiếp không tự kiềm chế được, từ nay xin hầu chúa công, xin thôi tất cả.
Linh Công nói:
- Ái khanh hãy nói ta nghe từ trước tới nay từng giao tiếp với ai?
Hạ Cơ bèn kể chuyện Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ. Linh Công bật cười nói:
- Thảo nào mà Khổng Ninh hết lời ca ngợi tài giao tiếp của khanh. Nếu chưa từng trải qua, sao mà hiểu được?
Sáng ra, Hạ Cơ cởi chiếc áo đang mặc dâng Linh Công và nói:
- Chúa công nhìn vật này cũng như nhìn thấy thiếp.
...Chuyện ái ân giữa ba vua tôi nước Trần, đến mức có lúc cùng tới Châu Lâm, bày các vật được Hạ Cơ tặng và mở hội liên sàng.
Chuyện lâu dần lộ ra, Tiết Giả vào can bị bọn Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ rình ở chỗ vắng đâm chết. Nước Trần có một bài thơ "Châu Lâm" kể chuyện mối tình tay tư tay năm kia.
Hạ Trung Thư sau cũng biết chuyện, nên mỗi khi thấy Trần Linh Công ra Châu Lâm lại kiếm cớ đi nơi khác. Trần Linh Công muốn mua chuộc, nên khi Trung Thư mới mười tám đã cho nối chức Tư mã của cha như trước.
Một bữa trong tiệc rượu, Trần Linh Công, Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ khi đã ngà ngà say liền đùa cợt không còn lễ nghi nữa. Hạ Trung Thư thấy chướng mắt quá bèn lui ra. Lát sau trở lại, sắp bước vào phòng chợt nghe ba người đang đùa nhau rằng Trung Thư giống ai. Nghi Hàng Phủ nói:
- Thần nhìn Trung Thư, hai mắt hau háu rất giống chúa công.
Khổng Ninh cười to:
- Thần thì cho là gã ấy có nhiều bố lắm.
Nghe thế, Hạ Trung Thư bỗng nổi giân, vừa ngượng vừa căm, bèn sai quân sĩ vây quanh phủ, và khóa kỹ phòng Hạ Cơ, rồi tuốt gươm ra khỏi vỏ, dẫn lính vào phòng quát lớn:
- Hãy mau bắt lũ dâm tặc.
Ba kẻ kia hoảng sợ, Trần Linh Công định chạy vào phòng Hạ Cơ, nhưng cửa khóa, vội chạy ra chuồng ngựa, bị Hạ Trung Thư lấy cung tên bắn chết. Còn Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ nhân lúc Hạ Trung Thư mải đuổi theo Trần Linh Công bèn liều mạng vượt rào chạy sang nước Sở, tìm cách xin quân Sở sang dẹp Hạ Trung Thư.
Lúc đó quân Sở có đại phu là Khuất Vu, tự là Tử Linh, vốn nghe tin đồn kỳ lạ về Hạ Cơ, lai có lần sang nước Trần và gặp Hạ Cơ rồi, mới cố nói với vua Sở cho quân Sở sang Trần.
Quân Sở tới nơi, giết Hạ Trung Thư, bắt Hạ Cơ đưa tới Sở Trang Vương. Khi nhìn thấy, vua Sở nói:
- Nước Sở ta cũng nhiều phi tần, nhưng chưa thấy ai đẹp và có duyên như người này.
Và có ý đem về Sở. Khuất Vu bèn quỳ xuống tâu:
- Chúa công muốn làm bá chủ thiên hạ, mà nay lai đem Hạ Cơ về Sở, thì mọi người sẽ cho Chúa công là kẻ hám sắc còn ai theo nữa?
Trang Vương nghe theo, cho Hạ Cơ đi. Lúc đó có Công tử Trắc nói với Sở Trang Vương:
- Tôi đang góa vợ, xin đại vương cho nàng làm vợ tôi.
Khuất Vu lại can:
- Không nên cho.
Công tử Trắc giận lắm nói:
- Sao Tử Linh lại can Chúa công không cho?
Khuất Vu nói:
- Loại người này rất nguy hại, đã làm công tử Man thiệt mạng chết trẻ, rồi cũng chính vì nó mà Trần Linh Công tiêu ma, vì nó mà Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ xiêu bạt.
Công tử Trắc liền nói:
- Thế thì tôi cũng sợ. Hay để Tử Linh lấy mụ ta chăng?
Khuất Vu vội nói:
- Đâu dám, đâu dám.
Sở Trang Vương bèn nói:
- Để loại này không chồng, thì có nhiều kẻ tranh giành, âu là hậu quân có Tương Lão vợ mới chết, ta sẽ cho Tương Lão.
Quan liên doãn nước Sở là Tương Lão và Hạ Cơ lậy tạ lui ra. Khuất Vu không làm sao được, nhưng bụng nghĩ thầm:"gã Tương Lão chẳng chịu nổi Hạ Cơ đâu, giỏi lắm được sáu tháng dến một năm thì Hạ Cơ cũng góa thôi. Bấy giờ sẽ liệu". Một năm sau Tương Lão chết trận qua đời, Hạ Cơ lại tư thông với con Tương Lão là Hắc Sái. Hắc Sái quá mê Hạ Cơ, không đi tìm xác bố.
Thân Công - Khuất Vu (định lấy Hạ Cơ trước kia) bèn cho người bí mật bảo Hạ Cơ:
- Thân Công rất mến nàng, nàng mà về nước Trịnh ngày nào, thì Thân Công sẽ làm đám cưới ngay.
Đồng thời Khuất Vu cho người sang nói với vua nước Trịn rằng:
- Hạ Cơ muốn về nước, sao nhà vua không cho người đi đón?
Trịnh Tương Công sai người sang Sở đón Hạ Cơ. Sở Trang Vương hỏi các quan:
- Vua Trịnh sai sứ xin đón Hạ Cơ để làm gì?
Khuất Vu tâu:
- Vì Hạ Cơ muốn tìm xác Tương Lão nên vua Trịnh có ý muốn giúp đỡ.
Vua Sở nói:
- Tương Lão chết trận ở nước Tấn, vậy vua Trịnh giúp thế nào được?
Vừa lúc Hạ Cơ xin vào chào từ biệt vua Sở để về nước Trịnh, nước mắt như mưa tâu với vua Sở:
- Nếu không tìm được xác Tương Lão, thiếp xin thề không về Sở nữa.
Vua Sở cho đi, Khuất Vu bèn sai người đưa thư kín cho Trịnh Tương Công, xin lấy Hạ Cơ làm vợ. Vua Trịnh thấy Khuất Vu là người đang được vua Sở tin dùng nên muốn kết thân, cũng bằng lòng. 
Có việc cần sai sứ sang Tề và Trịnh, Khuất Vu xin đi. Khuất Vu bèn thu xếp cho gia đình mang hết tiền bạc đi trước, rồi sang nước Trịnh làm lễ cưới Hạ Cơ về nhà quan sứ. Đêm ấy, Hạ Cơ tỉ tê bên gối Khuất Vu:
- Việc này phu quân có tâu với vua Sở không?
Khuất Vu bèn kể chuyện này là mẹo để lừa vua Sở và kể chuyện vua Sở và công tử Anh Tề cũng muốn lấy Hạ Cơ, rồi bảo:
- Ta vì nàng mà tốn bao tâm huyết, nay mới phỉ chí, ta không về Sở nữa. Sáng mai chúng ta sẽ đi trốn ở một nước khác, tìm cách sống với nhau.
Sáng hôm sau, Khuất Vu viết biểu cho vua nước Sở. Rồi cùng Hạ Cơ trốn sang Tấn. Đổi họ tên là Vu Thuấn.

 
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-05 19:50:34Ct.Ly>
Kiều Loan và Trường hận ca thứ hai.
 
Tại tỉnh Quảng Tây vào thời nhà Minh, Đan Miêu nổi loạn. Các nơi đều phải đem binh lính đến đó đánh dẹp.
Lúc đó tại xứ Lâm An, Vương Trung dẫn một đạo binh đến chiến trường, nhưng vì đến chậm, bị nhà vua giáng chức làm Thiên hộ vệ quân tại quận Nam Dương.
Ông có một người con trai tên là Vương Bửu, vì có sức mạnh phi thường, nên bị quan khâm sai lưu dụng trong binh lính. Ngoài ra còn có hai con gái, tuổi cập kê; người lớn là Kiều Loan, người nhỏ là Kiều Phượng. Kiều Phượng kém chị hai tuổi, từ nhỏ được gửi nuôi ở nhà bà ngoại, lớn lên cùng với người anh con cậu đính ước hôn nhân.
Riêng Kiều Loan, tuổi xuân phơi phới,chưa ai lọt vào mắt xanh, năm tháng lặng lẽ trong phong khuê vui với sách đèn thơ mộng.
Nàng rất thông minh, lại được cha mẹ nuông chiều cho nên từ nhỏ đã thông kinh bác sử, văn hay chữ tốt. Nếu là con trai thì đã chiếm được bảng vàng, phò vua giúp nước, danh tiếng lưu truyền thiên thu.
Lòng nàng canh cánh nỗi niềm riêng có ai mà hiểu thấu. Ngày xuân đáng giá ngàn vàng, hoa xuân dẫu tươi đến đâu cũng phải có ngày tàn tạ.
Nỗi niềm đó được một người biết đến, đó là Tào Di. Tào Di là cô của mẹ Kiều Loan, vì góa bụa nên phu nhân đem về nuôi dưỡng.
Một hôm vào tiết thanh minh, khí trời mát mẻ, hoa cỏ xinh tươi, Kiều Loan dắt Tào Di và mấy người hầu gái đến vườn hoa chơi. Hoa xuân bát ngát, cảnh xuân tưng bừng vui vẻ. Giữa lúc ấy, bên vách tường bỗng có một chàng thanh niên, đăm đăm nhìn Kiều Loan không chớp mắt.
Kiều Loan thoắt trông lại, bắt gặp đôi mắt kia, làm cho nàng e thẹn, đôi má ửng đỏ, cúi nhìn xuống đất. Như thấy đôi mắt chàng trai cứ theo mãi mình, Kiều Loan vội núp sau lưng Tào Di và giục Tào Di trở về.
Tào Di thấy Kiều Loan đang vui vẻ bỗng nhiên bối rối, không hiểu vì lẽ gì, nhưng cũng không dám hỏi. Kiều Loan rẽ bước vào phòng, bọn tì nữ cũng theo sau. Cảnh vật trong vườn hoa bỗng hiu quạnh, chàng thanh niên kia thấy không còn ai, mới lần bước đi vào.
Người đẹp đã vắng bóng, nhưng dư hương còn phảng phất đâu đây. Chàng chống tay ngồi trên ghế thở dài, như bâng quơ tiếc một cái gì đã mất. Sắc đẹp của Kiều Loan làm cho chàng thấy cả vườn hoa như không còn tươi thắm nữa.
Đang lơ mơ chợt chàng thấy dưới gốc cây có vật gì trăng trắng. Chàng bước đến gần, xem kỹ thì ra chiếc khăn the, mùi hương còn nồng đượm. Chàng thư sinh bèn mỉm cười rồi nhặt chiếc khăn lên. Chàng nâng chiếc khăn trong bàn tay, mân mê trìu mến.
Bỗng bên vách tường có tiếng động, rồi một bóng thiếu nữ xuất hiện. Chàng thư sinh giật mình núp sau mấy gốc liễu.
Sau khi đoán biết cô gái kia là con hầu của người đẹp đến tìm chiếc khăn the vừa rơi lúc nãy, chàng thư sinh mới lấy tay vẫy nữ tì đến gần mà nói:
- Này cô gái kia! Đừng tìm phí công vô ích, chiếc khăn đã rơi vào tay người khác mất rồi.
Thị tỳ nhìn chàng thư sinh thấy chàng ta có vẻ phong lưu tuấn tú, bèn bước đến kính cẩn chào và nói:
- Thưa công tử, nếu quả thật công tử lượm được chiếc khăn thì xin vui lòng trả lại cho, ơn ấy không bao giờ dám quên.
Chàng hỏi:
- Chiếc khăn ấy của ai đánh rơi mà cô đòi trả lại?
- Thưa, chiếc khăn ấy của tiểu thư tôi.
Chàng thư sinh mỉm cười nói:
- Như vậy thì phải đích thân tiểu thư cô đến đây hỏi xin mới được.
Tỳ nữ ngạc nhiên, nhưng thấy chàng thư sinh có vẻ sang trọng, ăn nói văn hoa, nên không dám sỗ sàng, vội cúi đầu thưa:
- Xin công tử cho biết quý danh, và hiện ngự ở đâu để tôi về thưa lại với tiểu thư tôi.
Chàng đáp:
- Tôi họ Chu tên Đình Chương, người quận Ngô Giang, cha làm Tư giáo học viện, hiện ngụ tại ngay mé sau tôn phủ.
Tỳ nữ reo lên:
- A! Té ra công tử đây ở ngay mé sau phủ mà lâu rồi tôi không biết. Tiểu thư tôi là Kiều Loan, con của quan Vương Thiên hộ, ở phủ đường này.
Đình Chương lại hỏi:
- Tiểu thư của cô tên Kiều Loan, rất đẹp, vậy còn cô tên là gì?
Tỳ nữ e thẹn, chúm chím miệng cười đáp:
- Em tên là Minh Hà.
Đình Chương nói:
- Tên cô cũng đẹp nữa, đẹp cả đôi. Nhưng thôi, bây giờ tôi nhờ cô đem dùm bức thư của tôi trở về trao cho tiểu thư cô được chăng?
Minh Hà không muốn nhận, nhưng e lại làm phật ý Đình Chương, thì chàng không trả lại chiếc khăn, nói:
- Vâng, công tử cứ trao cho tôi.
Nói xong, chàng nhảy qua bờ tường đi mất.
Một lúc sau, Đình Chương trở lại, tay cầm một tấm hoa tiên, trao cho Minh Hà.
Minh Hà chỉ thấy thư mà không thấy chiếc khăn, trong lòng không vui nói:
- Đã không trả lại khăn mà còn bắt trao thư cho tiểu thư, tôi thực không dám nhận.
Đình Chương nói:
- Cô đừng lo, hễ tiểu thư cô nhận thư và phúc đáp thì tôi sẽ trả khăn ngay.
Minh Hà cực chẳng đã phải cằm lấy tấm hoa tiên của Đình Chương bước về nội phủ.
Kiều Loan đang ngồi chờ tỳ nữ ở phòng. Lòng nàng lúc nào cũng như có cái gì bận rộn lắm. Đôi mắt hững hờ dưới làn tóc mây óng ả.
Nàng nhớ lại ánh mắt chàng trai, mong ước được cùng chàng kết tóc xe tơ.
Còn đang suy nghĩ, thì Minh Hà từ ngoài cửa bước vào, Kiều Loan cố giữ vẻ thản nhiên, hòi:
- Sao? Có tìm được khăn không?
Minh Hà nói:
- Thưa tiểu thư, chiếc khăn đó đã lọt vào tay chàng công tử khi chiều...
Kiều Loan thở dài, ngắt lời:
- Chàng công tử khi chiều nào?
Minh Hà luýnh quýnh nói tiếp:
- Chàng công tử khi chiều nhìn trộm tiểu thư ấy.
Thấy Minh Hà cũng rõ việc đó, Kiều Loan giả vờ nghiêm nét mắt nói:
- Thế sao em không đòi?
Minh Hà nói:
- Em có đòi, nhưng chàng ấy lần khần không chịu trả. Đã vậy còn nói chuyện dây cà dây muống nữa mới bực chứ.
- Chàng ta nói những gì?
- Chàng ta tự giới thiệu lý lịch, tên họ và chỗ ở.
Kiều Loan mỉm cười hỏi tiếp:
- Thật quái gở, nhưng chàng ta tự giới thiệu như thế nào?
Minh Hà kể:
- Chàng nói chàng họ Chu tên Đình Chương, người huyện Ngô Giang, cha làm Tư giáo, ngụ sát bên vách phủ đường, chỉ cách có một bức tường thôi...
Kiều Loan nóng lòng hỏi:
- Thế sao chàng không chịu trả chiếc khăn?
- Chàng bảo nếu là khăn của tiểu thư thì tiểu thư phải thân hành đến nhận mới được.
Kiều Loan hỏi:
- Thế em trả lời sao?
- Em nói là để em về thưa lại với tiểu thư để tiểu thư định liệu, mà đã không trả khăn, chàng ta còn nhờ em đem thư này về cho tiểu thư nữa. Nếu tiểu thư trả lời, thì chàng ta sẽ trả thư ngay.
Nói xong Minh Hà rút tấm hoa tiên trong túi trao cho Kiều Loan.
Kiều Loan cố nén xúc động trước mặt nữ tỳ, mở ra xem bên trong có bài thơ:
Phụ xuất giai nhân phận ngoại hương
Thiên công giáo phó hữu tình lang
Ân cần ký thủ tương tư cú
Nghĩ xuất hồng ty, xuất động phòng.
Tạm dịch:
Khăn rơi người đẹp đượm mùi hương
Tạo hóa xúi người dạ vấn vương
Tha thiết, tương tư tình nhắn gửi
Chỉ hồng nối giúp mối duyên thơm.
Đọc xong mấy câu thơ, nàng mới nửa mừng nửa thẹn. Không muốn cho Minh Hà hiểu nỗi lòng của mình, Kiều Loan dặn:
- Từ nay em đừng đòi chiếc khăn ấy làm gì nữa, chớ sinh việc lôi thôi, và chàng ta có nhờ đưa thư cũng đừng nhận nữa, coi như việc đó không có thôi.
Tuy nhiên, tình đầu xúc động, Kiều Loan nằm một lúc song lại ngồi dậy ngay, đi đi lại lại trong phòng, rồi lấy tấm hoa tiên đề thơ phúc đáp:
Bích ngô chỉ hứa lai kỳ phượng
Thúy trúc na dung nhập lão nha
Ky dữ di hương cô lãnh khách
Mặc tương tâm sự loạn như ma!
Tạm dịch:
Ngô xanh chỉ đợi về chim phượng
Trúc biếc đâu cho đậu bóng ô
Nhắn gửi khách xa nơi quán trọ
Dừng gây tâm sự rối như tơ.
Viết xong, Kiều Loan đưa cho Minh Hà, theo ngõ vườn sau không cho ai thấy, trao lại cho Đình Chương.

 
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-05 19:51:00Ct.Ly>
Minh Hà vâng lời, bỏ bức thư vào túi áo, mở cửa sau bước ra. Giữa lúc Đình Chương đang nóng lòng trơ thẩn đợi chờ.
Thấy Minh Hà bước đến, Đình Chương mừng rỡ hỏi:
- Tiểu thư có thư trả lời cho tôi đấy chứ?
Minh Hà tủm tỉm cười tinh quái:
- Có, nhưng công tử phải trả lại chiếc khăn trước đã.
Thấy dáng điệu Minh Hà cũng dễ mến, Đình Chương cũng mỉm cười đáp lễ , và nói đùa:
- Tiểu thư của cô đã phúc đáp, tôi tưởng chiếc khăn kia tiểu thư của cô cũng chưa cần thiết lắm đâu. Hãy đưa thư đây cho tôi xem rồi hẵng hay.
Minh Hà trao tấm hoa tiên cho Đình Chương, chàng mừng rỡ mở ra đọc.
Lời lẽ trong thư khiến Đình Chương phải khâm phục. Tài này sắc ấy ngàn vàng khó mua. Đình Chương bảo Minh Hà:
- Cô chờ đây một lát, tôi có bài thơ xin gửi lại. Nói xong chàng liền chạy về phòng lấy bút ra làm một bài thơ tứ tuyệt đem trao cho Minh Hà.
Bàng cứ đầu môn diệc hữu duyên
Dị hương cô lãn quả kham liên...
Nhược dung loan phượng si thê thụ
Nhất dạ tiêu thanh nhập cửu thiên.
Tạm dịch:
Duyên đâu dun dủi bên nhà
Bước chân lữ thứ ngàn xa vướng tình...
Ví bằng loan phượng ba sinh
Đêm trường tiếng sáo lung linh mộng hồn.
Minh Hà cầm bức thư gắt hỏi:
- Khăn không chịu trả mà cứ thư từ qua lại mãi thế này sao? Nếu không trả lại khăn không nhận thư đâu.
Đình Chương thấy Minh Hà nũng nịu, bèn nói:
- Thì tôi hãy làm ơn cho tôi, nếu công việc thành tôi sẽ đền đáp chứ sao?
Thấy Minh Hà buồn bã không nói, Đình Chương rút trong tay áo ra một chiếc trâm vàng đưa cho Minh Hà và nói:
- Đây, tôi xin đền ơn, chiếc trâm vàng này tôi xin tặng cô vậy.
Thấy chiếc trâm vàng, Minh Hà mặt mày tươi tỉnh hẳn, cầm thư và nói:
- Được, em sẽ cố gắng giúp công tử, còn được hay không, đó lại là việc khác.
Nói xong tì nữ bèn vụt chạy về nội phủ trao thư cho Kiều Loan.
Kiều Loan mở thư ra đọc, nhưng nét mặt không vui.
Minh Hà nói:
- Trong thư không xúc phạm gì đến tiểu thư mà tiểu thư lại có vẻ buồn bã vậy.
Kiều Loan là người con gái kín đáo, mặc dù vui cực độ, nàng cũng không muốn để cho bon tỳ nữ hiểu nỗi lòng mình.
Minh Hà thấy Kiều Loan không vui, ngỡ là mối duyên của chủ mình đang dang dở, trong lòng mừng khấp khởi muốn tìm cách làm cho Đình Chương tuyệt vọng, bèn nói:
- Tiểu thư là bậc kỳ tài, sao không viết một bài thơ trả lời mắng cho gã ấy một trận cho gã chừa cái tính ba hoa, hễ thấy gái đẹp thì toan bề trêu ghẹo?
Thấy Minh Hà lầm, Kiều Loan bèn lấy bút mực viết một bài thơ, có ý khuyên nhủ Đình Chương lo học hành đỗ đạt song cũng đừng quên mối tình đầu chớm nở. Trong đó có hai câu rằng:
Khuyên quân mạc tưởng Dương đài mộng
Nỗ lực công thư nhận hãn tâm
Tạm dịch:
Xin chàng chớ mộng Dương đài vội
Thơ phú sao cho đẹp mọi phần.
Minh Hà nhận thơ đi ra. Từ đó hai người cứ thơ đi thơ lại mãi. Mói tình càng ngày càng khăng khít. Minh Hà cứ phải đi lại mãi, ngày nào cũng phải qua lại vườn hoa để đưa thơ, nhận thơ.
Một hôm vào tiết Đoan Ngọ, Vương Thiên hộ bàt tiệc nơi vườn hoa, để gia đình vui mừng cảnh thanh nhàn.
Đình Chương hôm ấy núp rình bên khe tường, biết Kiều Loan ở trong đó, nhưng không làm sao gửi thư được. Đến cả Minh Hà cũng không có cách gì để thông tin tức.
Một ngày không nhận được thư của tình nhân, Đình Chương thấy dài đằng đẵng như ba năm.
Đương lúc buồn thiu ngồi thừ ra một chỗ, thì bỗng thấy Tôn Cửu, một người thợ mộc phục dịch trong nha môn, đồng thời cũng qua sửa chữa bàn ghế cho trường học, Đình Chương cả mừng bèn viết một phong thư dán kín nhờ Tôn Cửu trao cho tỳ nữ Minh Hà, và tặng cho Tôn Cửu bạc.
Tôn Cửu nhận thư rồi chờ hôm sau có dịp đem cho Minh Hà.
Kiều Loan boc thư ra xem thấy nỗi niềm thuơng nhớ của Đình Chương thống thiết.
"Đoan dương nhật viên trung vọng nương tử bất kiến; khẩu chiếm nhất tuyệt phụng ký.
Phối thành thái tuyến tư đồng kết
Khuynh tựu bồ trường nghĩ cộng trâm
Tân cách Tương giang, khan bất kiến
Cầm quỳ không hữu hướng dương tâm"
Tạm dịch:
"Ngày Đoan dương nấp trong vườn để trông thấy nàng không thấy. chợt nghĩ bài thơ tứ tuyệt xin chép gửi đến:
Mong được mối tình nên đẹp nữa
Bồ đào chung chén nghĩa trăm năm
Sông Tương xa cách không nhìn thấy
Suông mãi hoa quỳ hướng nhật tâm"
Kiều Loan xem xong, chưa kịp cất đi vì đang chải đầu. Giữa lúc đó, Tào Di bước đến, thấy tấm hoa tiên để trên bàn, chữ rất đẹp, nhưng không phải là chữ Kiều Loan, bèn cầm lên đọc.
Kiều Loan băn khoăn, nhưng không biết làm sao, đành yên lặng.
Tào Di xem xong, vui vẻ nói với Kiều Loan:
- Nếu đã có tình ý, sao không tính việc mai mối. Đình Chương là con nhà thế phiệt, lại tinh thông chữ nghĩa, rất đáng giao kết hôn nhân.
Sợ Tào Di mỉa mai mình, Kiều Loan dè dặt nói:
- Tuy có thư từ xướng họa, song chỉ là tình văn chương, không có ý gì khác. Nếu có việc gì cháu đâu dám giấu dì?
Tào Di nói:
- Tình văn chương rồi sẽ đi đến nghĩa tâm giao. Huống chi nỗi lòng thương nhớ của Đình Chương dì thấy rất tha thiết. Vậy nếu cháu thấy chàng là một kẻ đáng kết tóc xe tơ, thì nên bảo chàng nhờ mối lái đàng hoàng thế có hay hơn không?
Thấy Tào Di có vẻ thật lòng, Kiều Loan gật đầu đáp:
- Dì nói rất phải.
Chải đầu xong, nàng viết bức thử gửi cho Đình Chương:
Thâm tỏa xuân khuê thập bát niên
Bất dung phong nguyệt đáo liêm tiền
Tú khâm hương noãn quân tri phủ?
Cẩm trướng xuân hàn chỉ ái niên
Sinh phạ đỗ quyên thanh đáo nhĩ
Dạ sậu hồ điệp mộng lai triền
Đa tình quả hữu tương lân ý
Hảo sảnh băng nhân, phiến ngữ truyền.
Tạm dịch:
Mười tám xuân khuê phòng khóa kín
Gió trăng chưa để lọt bên rèm
Khăn thêu hương ấm ai hay được?
Màu gấm xuân xanh lại nỗi niềm
Nhưng ngại chim quyên lời cạnh gối
Lại e cánh bướm rộng triền miên
Đa tình ví quả hương yêu thực
Mối lái đi về đợi có tin
Đình Chương nhận được thơ này, đắn đo mấy ngày, rồi tỏ lời với cha nàng, nhờ Triệu Học Cửu làm môi giới, đến nói chuyện với Vương Thiên hộ bàn việc hôn nhân. Triệu Học Cửu đến phủ đường trình bày, song Vương Thiên hộ có vẻ không được sốt sắng cho lắm.
Thực ra, về tài mạo Đình Chương thì Vương thiên hộ cũng ưa mến, song Kiều Loan là con gái cưng của ông, hơn nữa ông lại nhờ nàng giúp đỡ mọi việc văn thư bút mực trong phủ, nên nhà thiếu nàng không được, do đó Vương Thiên hộ có ý chần chừ lần hồi mãi. Mấy tháng trời trôi qua mà cuộc hôn nhân vẫn chưa được quyết định.
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-05 19:52:26Ct.Ly>
Yêu đương ngày càng nồng nàn bao nhiêu, thì thời gian kéo dài càng làm cho lòng ngừoi nóng nẩy bấy nhiêu, Đình Chương thấy việc cầu hôn có bề dang dở, liền gửi thư cho Kiều Loan.

"Từ ngày thấy dung nhan, hồn phách cuồng dại. Dẫu chét không thay lòng. vợ chồng là việc tiền định, mối lái không quyết còng mong gì được kiếp này. Phòng khuê thăm thẳm như Đường Minh Hoàng lìa cung trăng suông tưởng Hằng Nga. Bến Ngân chơi dạo như chàng ngâu cách trở sông trời mà khổ mong Chức Nữ, nếu cứ kéo dài ngày tháng, thân này đành gởi nơi sông ngòi. Sống cũng có duyên, chết cũng hờn tủi, viết gượng đôi vần, siết mong thấu nỗi:
Chẳng được tin may thỏa tâm tình
Ngàn vàng khôn đổi nét xuân xanh
Buồn ngồi bên cửa ba ly rượu
Sầu ngắm nhành hoa một khúc đàn
Người ở the phòng yên vắng vẻ
Mộng về giấc tỉnh giọng ca ngâm
Đáng thương một bóng trăng chiếu úa
Liệu thấu tình nhau nỗi khổ tâm?
Tùng lặng, bạn nhỏ Đình Chương".
Kiều Loan xem xong, lòng đau khôn tả, bèn viết thư đáp lời:
"Sen mềm in nước, liễu yếu đan rèm, trăng dọi trước thềm buồn ngóng gió đông nghe tiếng cuốc, to mày trên án, đành cam ngày vắng ngó uyên ương, Đang lúc trang đài buồn não bỗng thơ ai tới bên bàn. Mở xem tâm sự, môn hạ bùi ngùi. Tự thương giai nhân mệnh bac để lỡ tài tử đa tình. Mỗi lần nhìn lại, mỗi lần khiến thiếp những đau thương; mấy độ thơ sang, mấy độ làm người thêm cô quạnh. Chớ vượt tường Đông học thói bẻ hoa, hãy trông bắc đẩu, sớm lo vịn quế; Mắt không mối lái, trong có sách tiên; Tự phổ tâm tình vào nét chữ; đường mơ tin tức nói ai sang. Vâng họa lời hay, mong ơn lượng thứ:
Trăng sáng hoa xuân cũng có tình
Ngàn vàng giá trọng kiếp ba sinh
Hàn lang cửa cấm khôn nghìn mặt
Thôi nữ tường đông động tiếng cầm
Tình thắm đã theo mây khói tỏa
Thơ hay giữa động giọng nào ngân
Đời này kết nghĩa anh em vậy
Kiếp khác xin tròn chữ thủy chung".

Đình Chương đọc thơ, lòng đau như cắt. Nhưng khi đọc đến câu "Kiếp này xin kết anh em vậy" lòng bỗng nẩy ra một kế, chàng ta tự nhủ thầm: "Muốn  được gần Kiều Loan phải liều".Bây giờ hãy tạm kết nghĩa anh em, sau sẽ liệu. Biết bao người trước là anh em sau đổi ra vợ chồng?".
Vương Phu nhân với Đình Chương cũng cùng một họ Chu, đó là điều mà Đình Chương hy vọng có thể tạo thành mối dây liên kết ấy.
Ý định đã quyết, hôm sau nhân lúc cha rảnh rỗi, Đình Chương bèn thưa:
- Tây nha chật chội và ồn ào, vậy xin cha cho phép con tìm một nơi tĩnh mịch để đọc sách.
Chu Tư giáo nói:
- Ý con muốn tìm chỗ nào?
Đình Chương đáp:
- Cha cùng với Vương phu nhân cùng một họ. hẳn là có bà con. Vậy để cha đến làm thân với người, để con có thể nhờ nơi vườn sau để học hành thì tốt biết bao.
Chu Tư giáo chiều con, nên cho sắm lễ vật qua thăm và nhận họ.
Hai nhà từ đó qua lại với nhau. Đình Chương được coi như con cháu trong nhà.

Vương Thiên hộ tuy liêm chính, song cũng có tính thích bợ đỡ ket trên, và cũng thích người khác kính nể, do đó, Đình Chương hết lời khen và nịnh làm cho Vương Thiên hộ vui lòng.
Vương Thiên hộ mở tiệc gia đình gọi là tiệc "Hội thân". Cả nhà họp mặt đông đủ, vui vẻ, nhưng Đình Chương và Kiều Loan trong lòng vui hơn ai hết. Họ chào nhau bằng những cử chỉ rất kín đáo, nhưng đầy hàm ý.
Hôm sau, Vương Thiên hộ sai quét dọn, trang trí phòng ở hậu viện rất đẹp để cho Đình Chương ở đó đọc sách. Tuy nhiên, ông ta cũng không quên đề phòng. Các cửa thông với nhà trong khóa kín, và còn cấm đàn bà không được dạo chơi ở vườn hoa nữa. Từ khi Đình Chương đến ở, trong ngoài ngăn cách. Dù chỉ cách nhau một bức vách mà cứ như xa vạn dặm; đến cả tỳ nữ Minh Hà cũng không còn cách nào để thông tin được nữa.

Cả hai đều ôm một mối sầu. Kiều Loan quá buồn bã, hình vóc võ vàng, chiều chiều chỉ ngồi trong phòng nhìn ra. Có lúc giọt lệ đêm thâu bên ngọn đèn héo hắt.
Một ngày kia Kiều Loan lâm bệnh.

Cơn bệnh mỗi ngày một nặng. Vương Thiên hộ tìm thầy thuốc thang đêm ngày, nhưng vô hiệu. Cả nhà đều buồn, riêng Tào Di và Minh Hà rõ được ít nhiều, song không dám hé môi.

Còn Đình Chương nếu có muốn hỏi thăm cũng chỉ đến Vương ông nghe qua loa về bệnh trạng của con gái, chứ không được phép vào phòng Kiều Loan.

Một hôm, Đình Chương đang thẫn thờ trong phòng bỗng nghĩ ra một kế - bèn vào thưa với Vương Thiên hộ rằng:
- Trước kia cháu ở Giang Nam, có học qua về nghề thuốc, và có thể chữa được nhiều bệnh hiểm nghèo. Nếu bệnh tiểu thư không thuyên giảm, cháu xin phép được vào thăm bệnh thử xem.
Vương Thiên hộ nghe nói, nhưng ngờ vực Đình Chương. Các danh y trong vùng đã nhiều lần được mời tới mà còn chưa trị được, huống chi một gã thư sinh. Tuy nhiên, vì thương con nên không từ chối, ông báo tin cho Vương phu nhân, và bảo Minh Hà báo trước cho Kiều Loan biết.
Chiều hôm ấy, Vương Thiên hộ đưa Đình Chương vào phòng con gái.
Mấy tháng trời xa cách, mặt mày Kiều Loan thay đổi rất nhiều, toàn thân gầy rạc. Đình Chương giật mình, bối rối, ngồi xuống bên mép giường, làm ra bộ lấy tay chẩn mạch, nhưng kỳ thực là vuốt ve nàng.
Trước mặt mọi người, Đình Chương không dám nói  câu nào, nhưng không lẽ cứ ngồi hoài, đành đứng dậy bước ra. Bốn mắt đăm chiêu nhìn nhau.
Ra đến sảnh, Đình Chương thưa với Vương ông:
- Tiểu thư vì tâm hồn không được thư thả mà thảng bệnh, nên cho ra chỗ có không khí thoáng để thư thái và cho những người hầu theo trò chuyện giải khuây thì sẽ thuyên giảm chứ không cần uống thuốc gì hết.
Vương Thiên hộ tuy không tin, nhưng thấy Đình Chương nói một cách giản dị như thế, cũng muốn làm theo để thử, bèn hỏi:
- Nơi đây chỉ có hoa viên là rộng rãi và thoáng khí hơn cả, vậy có thể cho con ta ra đó được chăng?
Đình Chương làm ra vẻ e ngại, nói:
- Nếu tiểu thư giải buồn ở đó thì cháu lại e không tiện. Vậy cháu xin tạm lui về. Chừng nào tiểu thư khỏi bệnh rồi, cháu sẽ trở lại.
Câu nói làm cho Vương ông tin rằng Đình Chương là một kẻ đứng đắn, vội nói:
- Đã là anh em một nhà, có gì mà ngại?
Ngay ngày hôm sau, Vương ông cho truyền mở cửa phòng phía sau, đem chìa khóa giao cho Tào Di cất giữ, lại cho bà theo Kiều Loan ra vườn hoa để trò chuyện cho vui, nữ tỳ Minh Hà phục dịch tiểu thư một bước không rời.
Kiều Loan chỉ vì uất ức mà sinh bệnh, nay được thong thả, tất nhiên mạnh dần, lại thấy hai người đi theo mình toàn kẻ tâm phúc, thì trong lòng càng khoan khoái sung sướng như con chim bị nhốt trong lồng, bây giờ được tung bay.
Mỗi lần Kiều Loan ra vườn hoa đều đi ngang qua phòng Đình Chương.
Ban đầu còn nhìn trộm nói thầm, nhưng qua một thời gian, hai người đã cùng dạo chơi trong hoa viên như hình với bóng. Thỉnh thoảng Kiều Loan ghé vào phòng Đình Chương mượn cớ uống trà để kề vai sát vế với nhau, mặc dù những lần ấy vẫn có mặt Di Nương và Minh Hà.
Di Nương và Minh Hà thấy vậy cũng làm ngơ. mặc cho Kiều Loan tự ý.
Một chiều, trong lúc hai người đang suồng sã, Đình Chương thừa lúc Di Nương và Minh Hà bỏ ra ngoài, nói nhỏ với Kiều Loan rằng muốn sang phòng hương một lần cho biết...
Tiểu thư mỉm cười nhìn Tào Di ở đằng xa, rồi nói:
- Chìa khóa hiện nay ở tay người ấy, nếu chàng cố gắng cầu khẩn may ra sẽ được. Hôm sau, Đình Chương gói một số vàng bạc nhờ Minh Hà đưa đến cho Tào Di.
Tào Di ngạc nhiên, hỏi Kiều Loan:
- Chẳng hay Chu công tử có ý gì mà nhờ người gởi đến cho ta hậu lễ như vậy?
Kiều Loan với vẻ e thẹn đáp:
- Tuổi trẻ có ý cuồng loạn, mong muốn những chuyện vu vơ, nhờ dì che chở đó.
Tào Di ngỡ ngàng nhưng chẳng biết làm sao, đành phải nói:
- Tâm sự của cả hai ta đã hiểu rõ, dẫu có phượng chạ loan chung ta cũng không bao giờ tiết lộ đâu.
Nói xong, đem chìa khóa giao cho Minh Hà. Kiều Loan mừng rỡ viết bài thơ gửi Đình Chương trong đó có hai câu:
Kim dạ hương khuê xuân bất tỏa
Nguyệt di hoa ảnh ngọc nhân lai
Tạm dịch:
Tối đến phòng xuân không khóa kín
Bóng hoa lồng nguyệt đợi chân hài.

Được thơ, Đình Chương như điên dại, trong lòng rộn lên, suốt cả buổi ngồi đứng không yên.
Đêm ấy, vừng trăng vừa ló trên đỉnh núi, bên thềm mấy cánh hoa lay dộng đang chờ hứng những giọt sương đêm. Đình Chương vội vàng nhẹ gót bước đến hiên Tây.

Từ ngày xem mạch Kiều Loan, Đình Chương đã để ý nhớ lối đi, nên đến là đi thẳng ngay. Khi tới cửa phòng, thấy Minh Hà chờ sẵn ở đó. Minh Hà mặt buồn rầu. Cô này cũng đương độ má hồng nên cũng đương bị cuốn hút trước chàng trai tuấn tú ấy.
Kiều Loan lúc đầu đang đi đi lại lại trong phòng, có ý ngóng chờ. Nhưng lúc Minh Hà dẫn Đình Chương đến, thì nàng bỗng nghiêm nét mặt chào hỏi rất lạnh lùng, rồi sai Minh Hà mời Di Nương đến.
Đình Chương trong lòng rạo rực, bỗng thấy thái độ của Kiều Loan nên ngạc nhiên không hiểu sao cả. mặt muũi xám ngắt ngồi thở dài, bao nhiêu nỗi mừng vui vụt tắt và lại thấy e dè nghi sợ.
Kiều Loan thương hại, mỉm cười nói:
- Thiếp vốn là người đoan chính, chàng cũng không phải là kẻ phàm phu. Sở dĩ cho đến hôm nay chúng ta yêu nhau là do sắc tài trở thành keo sơn gắn bó. Đã yêu chàng, thiếp đâu còn tiếc giữ lấy thân. Song chỉ sợ vườn xuân cánh bướm, biết lòng kia có còn giữ nguyên lời ước. Vậy chúng ta phải cùng nhau đối trước thần minh và thế nguyền thủy chung đầu bạc. Nếu không thế, chúng ta sẽ vì ân ái mà quên nghĩa đá vàng.

Giữa lúc đó, Di Nương bước đến, chào Đình Chương và cảm ơn chàng đã tặng tặng vật hôm nọ.
 
 
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-05 19:52:53Ct.Ly>
Đình Chương nhờ Di Nương đứng ra chứng giám lời thề của chàng, nguyện với Kiều Loan trăm năm sắt cầm không hề thay đổi.
Di Nương nói:
- Hai cháu cho ta chứng kiến buổi thề nguyền này thì phải viết lời thề ấy thành bốn bản. Nếu gái phụ trai thì phải bị phạt như thế này, nếu trai phụ gái thì phải phạt như thế kia...Như vậy để tỏ lòng chung thủy. Một bản đốt đi để khấn trời đất quỷ thần làm chứng, một bản lưu lại cho ta làm chứng về sau, còn hai bản thì hai cháu giữ.
Đình Chương không chút e ngại, vội lấy giấy ra viết lời minh ước.
Sau khi Kiều Loan và Đình Chương đã thề nguyền xong, Di Nương đem rượu và hoa quả đến, ba người cùng đối ẩm cho đến canh hai.
Di Nương cáo từ, Đình Chương và Kiều Loan cùng rơi vào cơn say tình ái.
Khi tiếng gà gáy sáng...Kiều Loan thẹn thùng nói với Đình Chương:
- Cuộc đời và thân phận thiếp đã gửi cả cho chàng rồi, nay chỉ mong ở lòng chàng giữ lấy lời thề mà đoái thương đến thân thiếp. Từ nay về sau, nếu có dịp, thiếp sẽ cho Minh Hà đến đón chàng, đừng quá tự do mà sinh tai tiếng không hay.
Đình Chương từ giã. Kiều Loan sai Minh Hà đưa chàng ra cổng. Đôi mặt Minh Hà nhìn Đình Chương cái nhìn kín đáo, khó hiểu.
Ngay hôm ấy, Kiều Loan có gửi Đình Chương hai bài thơ, trong đó có câu:
Cánh hồng ấy mộng yêu đương
Say sưa nghĩ lại gió sương thẹn thùng
Trăng thanh hoa thắm đầu lòng
Mây trôi rời rã thu trong bẽ bàng
Ái ân đằm thắm từ trời xuống
Ao ước muôn vàn được tự do
Nhắn nhủ khách tình qua tối tối
Chớ nên tựa gối ngắm sao Ngâu.

Đọc thơ, Đình Chương họa lại. Cứ hai ba ngày Kiều Loan lại sai Minh Hà mời Đình Chương đến.
Thời gian lặng lẽ trôi, cuộc yêu đương thầm kín cũng êm đềm. Một hôm, Chu Tư giáo nhận được chức huyện lệnh ở Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên. Đình Chương viện lẽ là học hành chưa toại, cần phải nán lại để lo việc sử kinh. Chu Tư giáo vốn chiều con, nên thuận ý. Thế là từ đó Đình Chương càng gần gũi Kiều Loan hơn nữa. Kiều Loan thấy Đình Chương quyến luyến mình như vậy, lại càng thêm khăng khít.
Ít lâu sau, Đình Chương mở xem kỳ báo, thấy có đăng tin cha mình đến Nga Mi nhậm chức chưa được bao lâu, thì vì thủy thổ bất phục nên cáo quan về làng dưỡng bệnh.
Đình Chương trong lòng đau đớn, một đằng tình ái ân ràng buộc, một đằng thì tình phụ tử nặng nề, không biết đi hay ở, suốt ngày buồn bã khôn nguôi.
Khi hiểu được tâm tình, Kiều Loan khuyên Đình Chương nên trở về quê cũ. Nàng nói:
- Tình nghĩa vợ chồng tuy sâu như biển cả, nhưng nghĩa phụ tử lại ví như trời cao! Nay chàng về quê thăm thân đường biết đâu lại chẳng nhân cơ hội ấy mà bàn chuyện nhân duyên của chúng ta. Thành tựu có phải trọn vẹn hiếu tình không?
Lúc đầu Đình Chương vẫn một mực lưu luyến không nỡ dời. Tuy nhiên, ngày hôm sau, Kiều Loan và Di Nương đặt tiệc rượu tiễn buộc Đình Chương phải trở về, Đình Chương đành chào Vương Thiên hộ để cáo biệt.
Vương Thiên hộ cho bày tiệc tiễn đưa.
Tối hôm ấy, tại khuê phòng, Kiều Loan nhắc lại với Đình Chương những lời ước hẹn, và Đình Chương thề thốt nặng lời, thế nào cũng trở lại.
Câu chuyện biệt ly suốt cả canh trường. Khi tiếng gà eo óc, giục kẻ lên đường Kiều Loan nắm tay nói nhỏ với Đình Chương:
- Quê hương chàng thực ở đâu?
Đình Chương hỏi lại:
- Em hỏi làm gì mà kỹ thế?
Kiều Loan bùi ngùi đáp:
- Em hỏi thế nếu chàng về quê có vui với gió trăng mà quên thông tin tức thì em sẽ nhắc chàng nhớ những lời thề ấy.
Đình Chương mỉm cười nói:
- Tổ tiên ta vốn họ Ngô, còn ta họ Chu là họ ngoại, hiện ở tại Ngô Giang bến Diên Lãng. Lòng ta nhớ nhung không lúc nào nguôi. Về quê nhiều lắm là một năm, ít là sáu tháng, thế nào ta cũng cố xin phụ thân ta đến để lo việc cầu hôn. Không bao giờ để người ngọc phải thấp thỏm đợi chờ cho mỏi mòn vóc liễu.
Kiều Loan sụt sùi khóc. Đình Chương ôm nàng vào lòng, rồi hai người dắt nhau ra tận vườn vừa đi vừa đọc mỗi người hai câu thơ hợp lại thành bài thơ liên cú.
Trời vừa tảng sáng, khách tình còn bịn rịn chưa dứt. Ngựa hồng đã trực sẵn trước hiên, chén rượu tiễn của Vương ông đã cạn, thế mà chàng Ngô vẫn đứng chần chừ bên rặng liễu. Kiều Loan thì đứng trước cửa phòng, nhìn theo mãi cho đến khi bóng câu biến dần rồi mất hút sau rặng thông cao, nàng mới chạy vào úp mặt lên gối khóc.
Nữ tỳ Minh Hà cũng ngầu đỏ đôi mắt chạy vào úp mặt lên lưng Kiều Loan mà khóc. Dường như tiếng khóc của Minh Hà còn đau đớn hơn.
Về đến Ngô Giang, Đình Chương  thấy tâm hồn mình thanh thản, vì tất cả những kỷ niệm thời thơ ấu đã trở lại.
Chu Tư giáo từ ngày cáo quan về quê cũ, tuổi già sức yếu, lòng mong ngóng sao cho có được đứa cháu để nối dõi tông đường, vì thế đã cùng bạn đồng hương là Ngụy Đồng đính ước hôn nhân, chỉ chờ Đình Chương trở về là làm lễ cưới. Do đó, lúc thấy Đình Chương trở về, Chu ông mừng vô hạn, đem việc lập gia đình nói với Đình Chương.
Ban đầu Đình Chương không thuận, nhưng sau biết rõ con gái họ Ngụy nhan sắc tuyệt trần, lại giàu có, nên Đình Chương đổi ý, quên hẳn lời thề xưa mà nhận lời kết duyên mới.
Hôn lễ cử hành rất lớn, Đình Chương say sưa với Ngụy tiểu thư, đóa hoa trà my còn phong nhụy, thế là không còn nghĩ gì đến cánh hoa xưa.
Một năm trời đằng đẵng trôi qua, với bao nõi nhớ thương da diết. Bỗng một hôm, Minh Hà chạy đến hỏi:
- Thưa tiểu thư, có muốn gửi thư cho Chu Công tử hay không?
Kiều Loan vội vã hỏi:
- Gửi bằng cách nào?
Minh Hà nói:
- Tôn Cửu nói: Có lính công văn đến Lâm An, như thế Lâm An thuộc Hàng Châu tiện đường qua Ngô Giang lắm.
Kiều Loan bảo Minh Hà:
- Nếu vậy em mau mau cho Tôn Cửu biết, đừng cho người lính công văn về vội.
Nói xong, Kiều Loan viết gấp một phong thư trong đó có mười bài thơ liên hoàn bát cú.
Dưới đây là một trong mười bài thơ ấy:
Đoạn dương nhất biệt miễn vô âm
Lưỡng địa tương khan đối nguyệt minh
Tam vị thung huyên từ hổ vệ
Mạc nhân hoa tửu luyến ngô thành
Du tiên môn nội chiêm ly hợp
Bái nguyệt đình tiền vấn tử sinh
Thử khứ nguyện quân tâm tự tỉnh
Đồng lai dữ thiếp cộng điều canh
Tạm dịch:
Đoan dương một biệt bặt âm thanh
Hai ngả chung soi ánh nguyệt rành
Cha mẹ tạm thăm rồi trở lại
Rượu hoa đắm đuối mãi sao đành
Du tiên của ấy xem tan hợp
Trước đình ngắm nguyệt hỏi tử sinh
Tâm sự những mong chàng tỉnh lại
Lại về cùng thiếp nồi duyên lành
Viết xong, Kiều Loan lấy hai nén bạc tặng cho người lính trạm và căn dặn đưa đến tận tay người nhận.
Thư gửi đến bảy tháng trời vẫn biệt vô âm tín. Thu qua, đông lại, hoa mai đua nở đầy vườn, ong bướm nhởn nhơ trước giậu, oanh vàng sánh đôi líu lo, cảnh vật ấy như reo vào lòng người nhớ nhung một nỗi buồn day dứt.
Tôn Cửu thấy Kiều Loan buồn quá, biết tin có một người lái buôn sắp qua Tô Châu đòi nợ, bèn vội vàng chạy sang báo cho Kiều Loan biết. Kiều Loan mừng rỡ, vội viết một bức thư đầy những lời lẽ thống thiết thảm sầu.
Viết xong,  Kiều Loan lại đưa cho Tôn Cửu nhờ người lái buôn đưa đến Ngô Giang hộ.
Lái buôn họ Trương, tuy là người xa lạ, nhưng rất tận tình. Khi đến Tô Châu đòi nợ xong,chàng thân hành mang thư đến Ngô Giang tìm Đình Chương.
Lúc người lái buôn đang vẩn vơ trên cầu Diên Lãng hỏi thăm đường thì bỗng gặp Đình Chương.
Nghe giọng nói người Hà Nam lại hỏi thăm đường đến Nam Ma, Đình Chương đoán chắc có thư Kiều Loan gửi đến. Không muốn cho người kia đến nhà thấy mình có vợ, Đình Chương vội tự xưng tên họ rồi mời họ Trương đến quán rượu.
Họ Trương gặp Đình Chương vội giao thư và hỏi:
- Đường xá xa xôi, công tử muốn phúc đáp thì để tôi mang về cho tiện.
Đình Chương cực chẳng đã, đành mượn giấy bút viết vài hàng nói dối cha già mang bệnh nặng nên phải túc trực bên giường lo việc thuốc men nên trễ hẹn, và khuyên Kiều Loan đừng trông đợi mà hao mòn vóc ngọc. Lúc nào cha già khỏi bệnh sẽ đến ngay. Họ Trương nhận thư trở về giao lại cho Tôn Cửu.
Tôn Cửu mang lại trình Kiều Loan. Tuy trong thư rất vắn tắt, lại không định kỳ trở lại, Kiều Loan cũng bớt được một phần nào nỗi mong ngóng chờ trông. Nàng vẫn hy vọng, tìm cách để tự an ủi.
Bốn năm trời đằng đẵng trôi qua, Kiều Loan càng hy vọng để rồi càng thất vọng.
Kiều Phượng, em ruột Kiều Loan lại sinh thêm một con nhỏ nữa. Cả nhà đều vui mừng, Kiều Loan càng thêm tủi sầu, nàng thầm trách duyên phận dở dang. Từ đấy mất ăn mất ngủ, nàng chỉ biết khóc mỗi khi nghĩ đến số phận.
Vương ông thấy vậy, muốn kén cho nàng một người chồng, nhưng nàng nhất định không chịu và nguyện sau khi Vương ông qua đời nàng sẽ gửi tấm thân vào chốn chùa chiền cho trọn kiếp hồng nhan bạc mệnh.
Tào Di thấy vậy khuyên nhủ:
- Chu công tử chắc không trở lại đây, nay cháu cũng đã lớn tuổi rồi, tốt nhất là nên tính chuyện chung thân, đừng quá câu nệ lời hẹn ước mà lỡ một đời.
Kiều Loan thưa:
- Đời cháu chỉ một lần thề nguyền, nếu chẳng may Đình Chương phụ cháu thì cháu cam chịu chứ cháu nhất định không nỡ phụ ai.
Giữa lúc đó, bên ngoài có tin đồn rằng Đình Chương đã lấy vợ giàu.
Kiều Loan nửa tin nửa ngờ nói với Di Nương:
- Cháu nghe đồn rằng Chu công tử đã tham giàu lấy vợ. Vả lại đã bốn năm trời biền biệt, sự bạc tình đã rõ ràng, nhưng chẳng biết tin kia có thực hay không?
Di Nương nói:
- Nếu cháu muốn rõ thực hư, nên nhờ Tôn Cửu đến gặp Chu công tử xem sự thật thế nào?
Kiều Loan cho là phải, vội vàng viết phong thư nhờ Tôn Cửu đưa đến Ngô Giang.
Trong bức thư ấy, Kiều Loan viết một bài trường ca rất thống thiết:
Ức tích thanh minh giai tiết thì
Giữ quân giải cấu thành tương tri
Trào phong lộng nguyệt nhậm lai vãng
Bất động vân tình vô hạn ty
Hầu môn duệ đoạn thiên kim tác
Hoà thủ, ai kiên du hoạ các
Hảo bả thanh ty kết tử sinh
Minh sơn thệ hải tình bất bạc
Bạch vân phiêu diểu, thảo thanh thanh
Tài tử tư thân, dục biệt tình
Đốn giác đào tư vô xuân sắc
Sầu thính truyền thư nhạn kỷ thanh
Quân hành tuy bất bài loan ngự
Thắng tự chính nam phụ huynh khứ
Bi bi thiết thiết đoạn trường thanh
Chấp thủ, khiên y lý tiền thệ
Dữ quân thành tựu loan hoàng hữu
Thiết mạc Tô đài luyến hoa liễu
Tự quân chi khứ, thiếp toàn mi
Chi phấn lãn điều, phát hoà chửu
Nhân duyên lưỡng địa tư tương trọng
Tuyết nguyệt phong hoa dữ quân cộng
Khả lân phu phụ chính đương niên
Không sử mai hoa, hồ điệp mộng
Lãng phong, đối nguyệt vô hoan hảo
Thê lương chẩm thuợng hồn điên đảo
Nhất dạ hốt mộng dữ thú thân
Lai triêu bất giác sầu nhan lão
Minh ngôn nguyên tác thân lôi điện
Cửu Thiên Huyền Nữ tương truyền biến
Chỉ quy cố lý vị quy truyền
Hà cố âm dung nan đắc kiến?
Tài lan ý giả, phục ý chân?
Tài tri dịch sử trần đan tâm
Khả lân tam thất tu hoa mạo
Tịch mịch hương khuê tứ bất câm
Tạm dịch:
Nhớ trước thanh minh tròi đẹp tiết
Cùng chàng gặp gỡ nên tương tri
Đùa trăng cợt gió thoả qua lại
Tơ tình ân ái chẳng ngăn gì
Mở rộng cửa hầu ngàn vạn chuốc
Dắt tay kề vai chơi lầu các
Tóc tơ sợi nối kết tử sinh
Chỉ non hẹn biển không phụ bạc
Phau phau mây trắng cỏ xanh xanh
Tài tử mong quê tạm biệt tình
Chợt thấy má đào dần phai nhạt
Buồn nghe tin nhạn nổi lênh đênh
Chàng đi tuy chẳng bày xe ngựa
Cũng hơn chinh nam chuyện thời nọ
Đau lòng dứt ruột nỗi chia ly
Nắm áo cầm tay nhắc thề cũ
Cùng chàng loan hoàng nguyện kết đôi
Những mong hoa liễu không dời đổi
Xa chàng mắt lệ với mi sầu
Son phấn biếng tô, tóc bối rối
Duyên lành hai chốn đều trân trọng
Trăng hoa tuyết gió khôn lay động
Đáng thương ân ái vợ chồng xưa
Bỗng thấy hoa mơ cánh buớm mộng
Nhìn trăng, gió buốt bao sầu não
Trên gối lạnh lùng hồn điên đảo
Một tối chợt mơ chàng phụ nguyền
Sáng ra mặt mày như bà lão
Thề nguyền còn ran như sấm chuyển
Những mong tri phật truyền lời nguyền
Mà sao một đi rồi nuốt hẹn
Trồng lan thực giả ý khôn hay
Lòng dạ ai ngờ chóng đổi thay
Chỉ thương ba bảy thì xuân lỡ
Quạnh quẽ phòng khuê nỗi chẳng khuây.
Kiều Loan viết thơ xong, trao cho Di Nương bảo Tôn Cửu đem đi.
 
 
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
0
«« « 1 2 » »»