Diễn Đàn » Cổ Nhạc

Văn Nghệ Sĩ & Quốc Hương_VDN (Paris)

224 trả lời, 119.484 lượt xem — Trang 8 / 8
Ký giả Việt Khang, Báo Sân khấu đã nhận định về Nghệ sĩ ưu tú Minh Phụng rất chính xác: “Trong thế hệ của mình, có thể coi Nghệ sĩ ưu tú Minh Phụng là hình mẫu đẹp nhất của chàng kiếm sĩ hào hiệp, giang hồ lãng tử, tài hoa, đa cảm. Đủ sức mạnh vượt qua rừng gươm biển giáo nhưng lại yếu ớt dễ thương chìm lụy trong bể ái trời tình, mới hay chữ tình mạnh hơn sức mạnh ngàn quân”.
Nay Nghệ sĩ ưu tú Minh Phụng đã về với thế giới bên kia. Dẫu biết chuyện sinh ly tử biệt là khó mà tránh được, nhưng hôm nay khi nghe tin, giới mộ điệu cải lương vẫn không tin được là mình đã vĩnh viễn mất đi một giọng ca thiên phú. Xin giã biệt ông.
(Thanhnien)

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
Vở diễn đầu đời trong sự nghiệp của NSƯT Minh Phụng đã diễn ra tại rạp Viễn Trường (TP Mỹ Tho) năm 1962, lúc đó anh vừa tròn 17 tuổi



Lúc đó anh đã yêu một cô thôn nữ tại quê nhà, cô gái này có hai người cháu rất dễ thương tên Minh và tên Phụng, vì thế anh quyết định lấy tên hai người cháu của người mình yêu, ghép lại thành nghệ danh Minh Phụng. Và nghệ danh này đã theo anh suốt gần 50 năm gắn bó với thế giới màn nhung.
 
Từ vai lão đến kép đẹp
 
Khác với các nghệ sĩ vào nghề thường đi từ những vai trẻ, Minh Phụng lại vào nghề từ vai lão. Vốn là người thích nghiên cứu, nghiền ngẫm vai diễn, anh thích quan sát cuộc sống để hình thành tính cách nhân vật. Từ vai nhà sư trong vở Bến tang thương, anh đã có thêm một số vai lão để thử nghiệm bước đầu đến với sân khấu cải lương. Có lần anh nói: “Vào nghề có ngay vai lão đã mừng, nhiều anh em còn phải đóng vai quân sĩ, làm hậu đài rồi mới vào nghề diễn viên. Tôi cảm ơn cơ hội đã cho tôi đóng những vai lão đầu đời để thấy mình cần rèn luyện tính kiên nhẫn. Nghề hát mà lụp chụp, tranh giành sẽ không khá nổi”. Sau đoàn Tân Đô, cuộc đời đi hát của anh luân chuyển qua nhiều đoàn hát nhỏ như: Hoa Thảo, Hậu Tân, Thanh Phương... về đến đoàn Thanh Phương, anh mới bắt đầu có vai kép trẻ, đó là dũng sĩ An Dũng Phương trong vở Bên cầu định mệnh.
Đầu năm 1964, anh về đoàn Quốc Việt. Trên sàn diễn này anh đã gặp và yêu nghệ sĩ Kiều Tiên – người vợ sau này của anh. Đến cuối năm 1964, anh về đầu quân cho sân khấu Thủ Đô. Tên tuổi anh được chú ý qua các vở: Sầu quan ải, Hoa chiều hương muộn, Thần nữ dâng Ngũ Linh Kỳ, Mây trôi về phương cũ, Gió bạt ngàn... Tên tuổi anh nổi lên như diều gặp gió, tiền công được ký thời đó lên tới vài trăm triệu đồng. Số tiền này đã giúp cho cha mẹ anh thay đổi cuộc sống, nuôi các em anh ăn học. Năm 1965, sự nghiệp của anh thăng tiến vượt trội với sự kiện ông bầu Long mời anh về diễn trên sân khấu Kim Chung 5 và giao các vai kép chánh diễn chung với các nữ nghệ sĩ tài danh như: Út Bạch Lan (Trinh tiết một loài hoa), Mỹ Châu (Bích Vân cung kỳ án), Diệu Hiền (Thạch Sanh)... Đến năm 1970, khi anh đóng cặp với Lệ Thủy, qua các vở kiếm hiệp kỳ tình: Xin một lần yêu nhau, Kiếp nào có yêu nhau... anh đã tạo cho mình một vị trí sáng chói trong lòng công chúng với các vở tuồng gắn liền với tên tuổi của anh như: Hỏa sơn thần nữ, Băng Tuyền nữ chúa, Mùa thu lá bay, Áo vũ cơ hàn... Năm 1976, anh về đoàn Hương Mùa Thu của ông bầu Thu An, trên sân khấu cách mạng anh đã có vai chính trong các vở: Con cò trắng, Lửa phi trường, Gánh cỏ sông Hàn...
 
Đêm diễn để đời

Tối 27-12-2006, HTV đã tổ chức chương trình Những cánh chim không mỏi – NSƯT Minh Phụng do đạo diễn NSND Huỳnh Nga và NSƯT Bạch Tuyết dàn dựng tại rạp Hưng Đạo. Đây cũng là chương trình khép lại chủ đề Những cánh chim không mỏi của HTV sau 5 năm tổ chức nhằm tôn vinh những nghệ sĩ đã cống hiến cho sự nghiệp sân khấu dân tộc. Trong đêm diễn đó, NSƯT Minh Phụng và các đồng nghiệp đã phối hợp thật ưng ý nhằm giới thiệu đến khán giả những dấu ấn nghệ thuật của anh theo từng giai đoạn. Đó là một chân dung gắn bó với thế giới màn nhung và ôm ấp một hoài bão được bền bỉ với tình yêu sân khấu, cho dù những năm gần đây căn bệnh tim, suy thận đã không cho phép anh có đủ sức khỏe để thể hiện vai diễn mới.
Một ưu điểm mà các bạn đồng nghiệp mỗi khi nhắc đến Minh Phụng đều khâm phục đó là tính hòa đồng, nhã nhặn của anh. NSND Huỳnh Nga đã kể trong đêm diễn: “Một lần, tôi thấy anh Minh Phụng nổi nóng, đó là lần anh bắt gặp một anh hề diễn tục trên sân khấu và đề nghị đoàn phải thay vai của anh hề đó. Đối với Minh Phụng, đã lên sân khấu là phải nghiêm túc, dù đó là một vai chọc cười cũng không được rời xa kịch bản, diễn cương, diễn ẩu. Sáng hôm đó anh đã thức dậy lúc 7 giờ để triệu tập anh em nghệ sĩ và tìm người thay vai anh hề đó. Câu chuyện này cho thấy Minh Phụng rất nghiêm khắc với nghề nghiệp của mình”.
Thật vậy, trong hơn 50 chương trình Những cánh chim không mỏi do Ban Văn nghệ HTV tổ chức, chương trình của NSƯT Minh Phụng đã có một cảnh trí thật ấn tượng và sang trọng. Chính anh đã đề nghị anh em diễn viên phải hết sức chăm chút, cùng anh làm nên một bức tranh đẹp cho cải lương. Anh đã diễn xuất sắc các trích đoạn: Hàn Mặc Tử (diễn với Kiều Tiên và Hữu Tài, Bích Thủy), Lời ru - Mùa thu lá bay (với NSƯT Bạch Tuyết), Xin một lần yêu nhau (với Lệ Thủy), Trả lại tình xưa (với NSƯT Thanh Kim Huệ, Bảo Quốc, Phượng Hằng, Ngân Tâm). Tham gia chương trình còn có các nghệ sĩ: Thanh Tuấn, Trọng Hữu, Chí Hải, La Kính, Linh Hằng, Giang Bình...
Nghệ sĩ Kiều Tiên, vợ của NSƯT Minh Phụng, tâm sự: “Những ngày nằm điều trị căn bệnh suy thận rồi dẫn đến hoại tử các ngón chân, anh thèm được đi hát, cứ nằm mơ thấy hát trễ tuồng. Đêm diễn cuối cùng anh được diễn là live show NSƯT Ngọc Đáng tổ chức tại rạp Hưng Đạo, đêm đó anh đau chân lắm, nhưng vẫn đến sân khấu hát trích đoạn Xin một lần yêu nhau”.
Xin vĩnh biệt NSƯT Minh Phụng – người nghệ sĩ đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp sân khấu cải lương. Ở chốn vĩnh hằng, anh sẽ mỉm cười hạnh phúc vì công chúng không bao giờ quên anh.

Thanh Hiệp
CLVN

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
Ca sĩ Y Phụng hiện định cư tại Mỹ, con gái NSƯT Minh Phụng tâm sự: “Tôi có linh tính không hay về sức khỏe của ba, vì mỗi lần điện thoại về thăm ba cứ cười nói rất vui. Cách đây vài ngày, tôi xin về thăm nhưng ông bảo: “nếu tôi về ông sẽ buồn tôi”. Rồi sau đó ông bảo với mẹ tôi (NS Kiều Tiên) không được nói chuyện ông nhập viện. Tôi điếng người khi nghe mẹ báo ba vừa trút hơi thở cuối cùng. Gần đây ba rất vui khi nghe tôi trình bày ước nguyện thực hiện một Album ca cổ. Ba tôi vui vì tôi biết trân trọng cái nghề đã cho ông tên tuổi, vị trí trong lòng công chúng mộ điệu. Ba tôi còn hứa sang năm 2009 sẽ tổ chức liveshow kỷ niệm 55 theo nghề hát. Trong đêm đó, hai cha con cùng diễn trong một trích đoạn cải lương. Vậy mà…”.

NS Kiều Tiên nghẹn ngào kể: “Những ngày cuối đời, anh Phụng cứ nằm mơ thấy đi hát mà cứ bị trễ tuồng. Ngày 1/11, trong liveshow NSƯT Ngọc Đáng, anh đau chân lắm nhưng vẫn đến hát. Các anh em công nhân hậu đài đã tắt hết đèn trong khán phòng trước khi anh ra sân khấu. Anh không muốn để khán giả nhìn thấy anh xấu. Dù đêm đó anh đau đến chảy nước mắt nhưng vẫn ca với tôi trích đoạn Xin một lần yêu nhau…. Đó là suất diễn cuối cùng của anh Phụng”.

Nhạc sĩ Kiều Tấn, Trưởng Ban Văn nghệ Đài Truyền hình TP HCM cho biết, anh và biên tập Hoàng Vũ Quân đã kịp thời tổ chức chương trình Cánh chim không mỏi tôn vinh NSƯT Minh Phụng. Chương trình do NSƯT, TS Bạch Tuyết dàn dựng đã khái quát rõ nét quá trình hơn 50 năm theo nghề của NSƯT Minh Phụng. Trong đêm diễn đó, ông tái ngộ khán giả các trích đoạn: Hàn Mạc Tử (diễn với vợ và Hữu Tài, Bích Thuỷ), lớp ứng biến ngắn trích đoạn Mùa thu lá bay (với NS Bạch Tuyết), Xin một lần yêu nhau (với NS Lệ Thuỷ), Trả lại tình xưa (với NS Thanh Kim Huệ, Bảo Quốc, Phượng Hằng, Ngân Tâm). Tham gia chương trình còn có các nghệ sĩ: Thanh Tuấn, Trọng Hữu, Chí Hải, La Kính, Lệ Trinh, Giang Bình…Tất cả đã đến bằng tấm lòng và tình cảm dành cho NSƯT Minh Phụng.
Xin thắp nén nhang vĩnh biệt người nghệ sĩ tài hoa đã cống hiến cả đời cho sân khấu cải lương. Tên tuổi và giọng ca, cũng như những vai diễn của ông mãi mãi được công chúng yêu mến, là tấm gương đối với các thế hệ diễn viên.

Thanh Hiệp


Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-03 00:26:43Viet duong nhan>
Vô Cùng Thương Tiếc
Vĩnh Biệt NS Tài Danh Minh Phụng


 

Giọng Ca Đặc Biệt NS Minh Phụng
[themNhac]http://www.esnips.com/nsdoc/6f3c5765-604a-4dab-9635-747a796ca9f5/?id=1228154309859[/themNhac]


Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-03 02:10:48Ct.Ly>
TT- - 50 năm qua, cái tên Minh Phụng đã in đậm trong lòng khán giả mộ điệu... Trong cơn đau nhức hành hạ, anh vẫn ra sân khấu tham gia live show của nghệ sĩ Ngọc Đáng. Đây là hình ảnh cuối cùng, tuyệt đẹp của anh để lại cho sân khấu cải lương.



  NSƯT Minh Phụng từ trần




Sáng 29-11, Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Minh Phụng đã qua đời tại nhà riêng sau khi gia đình cố hết sức giữ gìn những hơi thở sau cùng cho anh trên đường đưa từ Bệnh viện Chợ Rẫy về nhà. Gia đình, đồng nghiệp, khán giả ngậm ngùi tiếc thương anh, mãi nhớ về một nghệ sĩ hào hoa trong hình tượng những “lãng tử-kiếm khách” lay động con tim khán giả...
Vẫn một tâm hồn nghệ sĩ đến phút cuối
Trên chiếc xe ca, người nhà vẫn cố sức bóp bóng hỗ trợ nhịp thở cho nghệ sĩ Minh Phụng nhưng việc ấy chẳng tỏ ra có tác dụng gì. Về đến nhà, anh đã hoàn toàn bất động.


Nghệ sĩ Kiều Tiên òa khóc, nhờ nghệ sĩ Lệ Thủy làm mặt cho chồng như một “tục lệ” trong giới nghệ sĩ. Giữa lúc ruột gan rối bời, thi hài chồng nằm đó, người nhà, bạn bè xúm quanh, nghệ sĩ Kiều Tiên như giật mình, vội vàng chạy đi kiếm cái đầu tóc giả. Chị thổn thức: “Phải đội vô cho đẹp, ảnh sợ xấu lắm. Ảnh nói mình là nghệ sĩ, lúc nào khán giả cũng nhìn vô mình như tượng trưng cho cái đẹp”. Vừa thoa son, phủ phấn cho thi hài nghệ sĩ Minh Phụng, người bạn diễn ăn ý từng được mệnh danh là "cặp đôi Bão biển" trên sân khấu Kim Chung với mình, nghệ sĩ Lệ Thủy vừa nói như dỗ dành: “Rồi nè, đẹp rồi nè, ra đi tươi tắn nghe anh!...”.
Nghệ sĩ Kiều Tiên khóc, kể: “Anh Minh Phụng mất lần này một phần vì ảnh là nghệ sĩ, sợ xấu, sợ phải cưa chân. Cách đây nửa tháng, ảnh đau quá, gia đình mới đưa vào Chợ Rẫy. Bác sĩ nói phải cưa chân mới giữ được mạng sống nhưng ảnh không cho. Qua giới thiệu, gia đình đưa ảnh qua Bệnh viện Đại học Y Dược để một bác sĩ từ Pháp về chạy chữa theo cách khác. Mấy ngày gần đây ảnh đau quá, hôn mê, gia đình lại đưa ảnh vào Chợ Rẫy, quyết định cưa bớt một khúc chân bị hoại tử vì suy tim, suy thận để giữ mạng sống cho ảnh mà ảnh vẫn không qua khỏi. Ảnh đâu có muốn chết, ảnh vẫn mang tâm nguyện được sống thêm hai năm nữa để nhìn đứa con trai út lấy vợ mà...”.
Thẫn thờ, nghệ sĩ Lệ Thủy cho biết cách nay 10 ngày, khi chị vào thăm, nghệ sĩ Minh Phụng vẫn còn rất tỉnh táo. Anh vẫn đau đáu chuyện ca diễn, gặp gỡ khán giả. Anh hăng hái bàn tính với chị Tết này sẽ diễn nguyên tuồng Xin một lần yêu nhau. Anh nói lúc đang trên giường bệnh: “Tôi sẽ hát đến hơi thở cuối cùng. Căn bệnh suy thận hiện nay buộc tôi phải ba ngày trong tuần đến bệnh viện chạy thận nhưng tôi vẫn hết sức lạc quan vì bên tôi vẫn còn đồng nghiệp, khán giả yêu mến mình”.


Và thật, đúng là anh đã hát đến hơi thở sau cùng. Đêm 1-11, trong cơn đau nhức hành hạ, anh vẫn ra sân khấu tham gia live show của nghệ sĩ Ngọc Đáng. Đây là hình ảnh cuối cùng, tuyệt đẹp của anh để lại cho sân khấu cải lương. Còn năm 2005, khi vừa từ cõi chết trở về sau một lần thay tim, còn khá yếu, anh vẫn sóng đôi cùng các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy trên sàn diễn tạo nên những khoảnh khắc vừa mong chờ vừa thỏa lòng người xem...
Nhớ mãi “áo vũ cơ hàn”...
Trong lòng khán giả cải lương hằng bao thế hệ, vở tuồng Tâm sự loài chim biển đã trở nên vô cùng quen thuộc. Thậm chí nhiều người còn có thể ngân nga một vài câu vọng cổ mô tả ngạo khí ngang tàng của một tay kiếm khách nghèo lang bạt nhưng trọng nghĩa, trọng tình có cái tên “Áo vũ cơ hàn”.
Sở dĩ “Áo vũ cơ hàn” có sức sống như thế là nhờ công không nhỏ của nghệ sĩ Minh Phụng. Anh đã thể hiện nhân vật bằng một giọng ca vừa khí khái, vừa u buồn, vừa tha thiết khiến người nghe rất dễ nhập tâm và dễ cảm. Và dĩ nhiên, trong cái dễ cảm, dễ nhớ của những nhân vật lãng tử-kiếm khách không thể thiếu sự hào hoa cùng những mối tình ngang trái. Minh Phụng thường rất thành công trong những vai diễn như thế với một vóc dáng sân khấu sáng đẹp, giọng ca hay trời phú và khả năng diễn được xem là vượt trội so với những nghệ sĩ được xếp hạng là “đào - kép ca” (khác đào - kép diễn) như anh.


Bây giờ những “Áo vũ cơ hàn” trong Tâm sự loài chim biển, Âu Thiên Vũ trong Xin một lần yêu nhau, Mộ Dung Thạch - Kiếp nào có yêu nhau, Trần Tự Tâm - Máu nhuộm sân chùa, hay một Mẫn Vân Lâu - Mùa thu lá bay mang nét lãng tử phong trần, si tình của nghệ sĩ Minh Phụng vẫn sống mãi cùng khán giả. Và bởi các nhân vật của nghệ sĩ Minh Phụng dễ nhớ, dễ cảm quá nên khi nghe ông sức khỏe suy kém, cần thay thận vào năm 2005, đã từng có một người hâm mộ tình nguyện tặng cho ông quả thận của mình...


Vinh quang đến từ cơ cực


Tuổi thơ cậu bé Thiệu trôi qua khốn khó trong gia đình có 10 người con. Từ bảy tuổi, hàng ngày cậu bé đã phải dậy từ 4 giờ sáng để phụ mẹ dọn gánh hàng nhỏ ra chợ bán. Còn nghề chính của Thiệu sau giờ đến trường là bán đậu phộng rang, chuối chiên giúp gia đình. Tuổi thiếu niên, nhờ giọng ca hay, Thiệu được nhạc sĩ Hương Huyền giới thiệu vào gánh hát Tân Đô và được ông bầu đặt nghệ danh là Tân Tiến.
Vai diễn đầu tiên của anh “kép con” Tân Tiến lại là vai một nhà sư già trong vở Bến tang thương. 17 tuổi, kép Tân Tiến đổi tên thành Minh Phụng ghép từ hai cái tên “Minh” và “Phụng” của con một người bạn thân. Từ đó, cuộc đời nghệ sĩ Minh Phụng trôi nổi hơn 10 năm qua hàng chục đoàn hát lớn, nhỏ với đủ dạng vai và cả cái nghề nhắc tuồng để kiếm sống.


Sự gian khổ và lòng kiên trì đã tôi luyện anh kép trẻ ngày một sáng giá hơn để lọt vào mắt các ký giả kịch trường. Từ những năm 1968, cái tên Minh Phụng bắt đầu được báo chí nhắc đến trên sân khấu Thủ Đô. Sau đó, được đoàn Kim Chung mời ký hợp đồng, cũng là lúc giọng ca chín muồi, nét diễn trở nên sắc sảo, từ cơ cực, nghệ sĩ Minh Phụng bắt đầu đón nhận vinh quang của một ngôi sao sân khấu. Cái tên của anh sánh cùng tên những cô đào hạng nhất thời bấy giờ như Út Bạch Lan, Bạch Tuyết, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Phượng Liên, Thanh Kim Huệ... từ lĩnh vực băng đĩa ra đến sân khấu. 50 năm qua, cái tên Minh Phụng đã in đậm trong lòng khán giả mộ điệu...


NSƯT Minh Phụng mất lúc 7 giờ sáng 29-11.
Nhập quan lúc 15 giờ ngày 29-11. Tang lễ được tổ chức tại nhà riêng, số 791/7D Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, quận 7, TP.HCM. Lễ động quan lúc 6 giờ sáng 6-12, đưa đi an táng tại chùa Nghệ sĩ, TP.HCM.
Đăng nhập để trả lời
0
NSƯT Minh Phụng từ trần




NSƯT Minh Phụng - Ảnh: Linh Đoan

Khoảng 7g sáng ngày 29-11, sau hai ngày hôn mê NSƯT Minh Phụng đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Chợ Rẫy TP.HCM, hưởng dương 65 tuổi.

Nhiều năm nay tình trạng sức khỏe của nghệ sĩ Minh Phụng ngày càng sa sút, ông từng phải mổ tim, bị suy thận và những ngày cuối đời căn bệnh tiểu đường có nhiều biến chứng khiến ngón chân của ông bị hoại tử.

NSƯT Minh Phụng tên thật là Nguyễn Văn Thiệu (sau đó đổi tên là Nguyễn Văn Hoài), là người con đất Châu Thành, Mỹ Tho. Ông vào nghề từ khoảng năm 1962 tại gánh hát Tân Đô. Trong thập niên 60, 70 ông nhanh chóng trở thành anh kép cải lương được yêu thích với chất giọng mượt mà, trữ tình rất đặc sắc.

Nhiều hãng dĩa thi nhau mời ông thâu băng cùng các cô đào nổi danh thời bấy giờ như: Út Bạch Lan, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Phượng Liên… Ông từng hoạt động ở nhiều gánh hát lớn như: Thủ Đô, Kim Chung, Hương mùa thu… và được khán thính giả ái mộ đặt cho biệt danh “Hoàng tử cải lương kiếm hiệp” với những tuồng tích ghi đậm dấu ấn: Áo vũ cơ hàn, Kiếp nào có yêu nhau, Xin một lần yêu nhau, Tâm sự loài chim biển, Sầu quan ải




Lần biểu diễn cuối cùng của NSƯT Minh Phụng trên sân khấu trong đêm Ngọc Đáng - 40 năm son sắt với nghề tối 1-11 tại rạp Hưng Đạo. Ông biểu diễn cùng vợ mình - nghệ sĩ Kiều Tiên -Ảnh: Linh Đoan


Trong thời gian lâm bệnh, dù các bác sĩ yêu cầu ngưng biểu diễn nhưng vì yêu sân khấu nên lúc nào thấy hơi khỏe nghệ sĩ Minh Phụng lại đi hát để đỡ nhớ nghề. Nghệ sĩ Kiều Tiên - vợ ông cho biết suất diễn cuối cùng ông tham gia là trong chương trình của NSƯT Ngọc Đáng - 40 năm son sắt với nghề diễn ra vào tối 1-11. Cuối tiết mục vì ngón chân đau không thể đi được nên bộ phận hậu đài phải kéo màn sớm để mọi người dìu ông vào sân khấu.
Linh cữu nghệ sĩ Minh Phụng được quàng tại nhà riêng số 791/7, Trần Xuân Soạn, Q.7, sau đó được đưa đi an táng tại chùa Nghệ sĩ TP.HCM ngày 6-12.
Đăng nhập để trả lời
0
NSƯT Minh Phụng, một nghệ sĩ cải lương tài hoa của làng cải lương miền Nam đã vĩnh viễn ra đi vì chứng bệnh tim và suy thận tại bệnh viện Chợ Rẫy vào lúc 7g ngày 29/11.



NSƯT Minh Phụng tên thật là Nguyễn Văn Hoài, sinh năm 1945, tại Mỹ Tho, Tiền Giang. Sống trong môi trường đờn ca tài tử, anh đã sớm biết ca cải lương, thuộc lòng các bài của nhạc sĩ Thanh Hải, Hữu Phước, thuộc từng chữ của bài Tấn Quỳnh khóc bạn, Tình anh bán chiếu, Gánh chè khuya… của Út Trà Ôn, Út Bạch Lan khi còn rất nhỏ.



Với vóc dáng sáng sủa, giọng ca cao vút, Minh Phụng nhanh chóng được các ông bầu cải lương thời đó chú ý. Vai diễn đầu tiên của anh là vai nhà sư trong Bến tang thương của đoàn Tân Đô năm 17 tuổi. Sau đó anh lần lượt về các đoàn Hoa Thảo – Hậu Tấn, Thanh Phương, Quốc Việt, Thủ Đô, Kim Chung, Hương Mùa Thu… Tên tuổi của Minh Phụng đã lên tới đỉnh vinh quang cùng các bạn diễn Út Bạch Lan, Diệu Hiền, Mỹ Châu, Lệ Thủy…



NSƯT Minh Phụng

Anh để đời với nhiều vai trong các vở tuồng: Bích Vân cung kỳ án, Kiếp nào có yêu nhau, Xin một lần yêu nhau, Hỏa sơn thần nữ, Băng Tuyền nữ chúa, Áo vũ cơ hàn…




Sau lần giải phẫu tim năm 2005, NSƯT Minh Phụng phải điều trị dài hạn chứng bệnh suy thận. Trong lần nhập viện gần đây nhất, các bác sĩ điều trị yêu cầu anh ngưng biểu diễn để giải phẫu tháo khớp hai ngón chân đã bị hoại tử nhưng lòng đam mê nghiệp diễn đã khiến anh bất chấp bệnh tật, diễn lần cuối cùng trong đêm 1/11 trong liveshow của NSƯT Ngọc Đáng tại rạp Hưng Đạo (TP.HCM).




Trong ba con người tài hoa có nghệ danh bắt đầu từ chữ Minh: Minh Phụng – Minh Cảnh – Minh Vương, Minh Phụng đã ra đi để lại bao tiếc thương cho bạn bè, khán giả mộ điệu cải lương.


Lễ nhập quan vào lúc 15g ngày 29/11. Lễ viếng lúc 19g cùng ngày tại nhà riêng số 791/7D Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, quận 7, TP.HCM. Lễ động quan vào lúc 6g ngày 6/12, sau đó đưa đi an táng tại chùa Nghệ Sỹ, quận Gò Vấp.


Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn Ly tu bổ thêm tin tức và bài viết về Cố NS Tài Hoa Minh Phụng[:(].
Chúc Ly & gia đình mùa Giáng Sinh đầm ấm vui vẻ.
Bisous
XX
7_vdn
 

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
NS BT "Thì Thầm".....
_____________________
 
Bầu trời như không có nắng
 
 

Nồng nàn, quyến rũ, chút lơi lả, tiếng hát anh dìu dắt tiếng ca tôi, để ngày ấy, gần ba mươi năm, Hàn Ni của tôi và Mẫn Văn Lâu của anh đã đem đến cho công chúng một câu chuyện tình đẫm nước mắt và duyên kỳ ngộ trong vở Mùa thu lá bay. Năm rồi, trong dịp tái ngộ công chúng tại Mỹ, tôi và anh đều được yêu cầu "hâm nóng" một chút hồi ức của chuyện tình năm xưa, mặc dù "Hàn Ni và Mẫn Văn Lâu bây giờ đã là những ông già bà lão, vì thế chúng tôi xin kể lại chứ không phải là diễn lại...". Anh cười, nụ cười hiền từ như một cậu bé con, tôi "bắt" ngay nhân vật với chút "nhõng nhẽo" của ngày xưa: "Bộ em xấu lắm hả anh Lâu?". "Ông già” Mẫn Văn Lâu lúc ấy dù đang chịu cơn đau âm ỉ bỗng thoắt thành một chàng trai nho nhã, thư sinh từ âm điệu đến thần thái đáp lời: "Đâu có! Em đẹp lắm...". Cả khán phòng chìm ngập trong hoa và tiếng pháo tay... Tôi dìu anh qua lối hẹp vào hậu trường, anh nói nhỏ: "Tôi nợ khán giả nhiều lắm, có đau đến mấy tôi cũng muốn được ra sân khấu Bạch Tuyết à...".
Cái nợ ân tình ấy đã khiến anh không nỡ từ chối bất cứ lời mời nào để đến với khán giả. Những đêm diễn về vùng sâu vùng xa, anh xuất hiện với bộ veston trắng tinh tươm, và vợ anh, NS Kiều Tiên không chỉ là bạn diễn mà còn là đôi chân của anh, dìu nhau ra sân khấu. Giữa trời nước mênh mông, họ cùng ca trích đoạn Xin một lần yêu nhau, thể chất anh không còn khỏe nhưng giọng ca cứ vun vút, nồng nàn...
Tôi và anh có không nhiều cơ hội đồng diễn, nhưng dù chỉ đôi ba lần hội ngộ cũng đủ để lại trong tôi hình ảnh về một nam đồng nghiệp tài năng, đức độ, đào hoa... Minh Phụng có lối diễn xuất cải lương rất... điện ảnh, bay bướm nhưng không màu mè. Giọng ca đặc trưng cao vút, trong trẻo. Từ sàn tập đến sàn diễn, anh hầu như chẳng nặng lời với bất cứ ai. Ngay cả những người phụ nữ đã từng đi qua đời anh, cũng chẳng ai phiền muộn vì anh, họ chỉ biết thương và cảm thông, có chút hờn trách đấy thì rốt cùng cũng là sự san sẻ đầy tử tế.
Vai diễn cuối cùng, cũng là dịp làm việc gần đây nhất giữa anh và tôi là trong vở Trần Nhân Tông (tác giả Lê Duy Hạnh). Đêm Cội nguồn Việt, tôi vào vai An Tư, tìm mãi không biết ai sẽ vào vai Trần Nhân Tông, cuối cùng tôi mời anh. Anh nửa vui nửa lo, tôi chỉ biết nói: "Anh cứ mang nguyên con người hiền từ của anh vào nhân vật này...". Anh hồn nhiên: "Vậy hả Bạch Tuyết? Tôi biết mình không còn sống được bao lâu nữa nhưng có vai diễn nào hay, Bạch Tuyết cứ kêu, rồi hai anh em mình tập...".
Khuya, chúng tôi lặng lẽ trong phòng thu để nghe qua phần nhạc thâu sẵn. Anh lẩm nhẩm ca thử rồi cười như thể mình có lỗi: "Bệnh nên hơi cũng không còn khỏe, ca dễ trật nhịp quá Bạch Tuyết ơi...". Kiều Tiên ứa nước mắt nhìn chồng.
Đêm nay, anh nằm bình yên giữa lòng người thân, đồng nghiệp và bao công chúng. Đau đớn khi nghe Kiều Tiên và Y Phụng bảo, hai ngón chân anh bị hoại tử nên bác sĩ bảo, muốn sống thì phải cưa chân đến đầu gối. Nhưng ai dè, anh lại bất ngờ ra đi vì tai biến...
Anh đã đổi lấy tài năng và cả sự đau đớn, mất mát kia để trả món nợ cho bao khán giả mà anh yêu mến. Giờ thì tôi đang phải đọc một kịch bản... ngược, Hàn Ni - Bạch Tuyết đã phải rời xa Mẫn Văn Lâu - Minh Phụng, ngước nhìn cả một khoảng không "thiếu sao đầy..." mà nghe lòng mình mằn mặn...

NS Bạch Tuyết

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-30 21:24:54Viet duong nhan>
TẾT Dân Tộc Kỷ Sửu 2009
 

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0

Soạn giả Nguyễn Phương vừa gửi cho Ngọc Anh một bài viết thật hay và rõ ràng về NS Tám Vân, tặng các bạn cùng xem để biết thêm. [:(][:(]




Lại Thêm Một Bạn Già Bỏ Cuộc Chơi!
Nghệ sĩ lão thành Tám Vân về cõi vĩnh Hằng…( 1924 – 2009 )

10 giờ tối ngày 18 tháng 01 năm 2009, nữ nghệ sĩ Tú Trinh từ Việt Nam gọi điện thoại qua báo tin nghệ sĩ lão thành Tám Vân từ trần. Anh Tám Vân mất vào lúc 6 giờ sáng ngày 18 tháng 01 năm 2009,( thọ 85 tuổi), tại tư gia số 93B ấp Bình Phước, xã Bình Nhâm, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Vẫn biết rằng việc ra đi của anh Tám Vân là một điều khó tránh vì Tết năm 2006, vợ chồng chúng tôi về thăm quê hương, có đến thăm anh chị Tám Vân tại nhà của anh chị ở ấp Bình Phước, xã Bình Nhâm. Lúc đó thì anh Tám Vân đã mang nhiều thứ bịnh, suy yếu và có phần nào bị lãng trí, nói trước quên sau. Tuy nhiên tôi nghĩ là anh chị Tám Vân được sống trong một ngôi nhà khang trang, chung quanh nhà có vườn cây trái, không khí tốt lành, lại được các con và cháu ở chung chăm sóc thì việc dưỡng bịnh, trị bệnh có nhiều thuận tiện. Không ngờ Tết Kỷ Sữu đến kề bên mà anh Tám Vân lại đột ngột bỏ ra đi…Chúng tôi rất buồn, bàng hoàng đến mất ngủ….

Những kỷ niệm vui buồn trong thời cùng làm việc trong các đoàn hát cứ hiện lên trong trí nhớ…càng nghỉ càng thêm thương Tám Vân, một người nghệ sĩ tài ba, khi về già lui về sống ẩn cư trong thôn xã, chịu cuộc sống nghèo, kham khổ trong khi đó thì có những nghệ sĩ đàn em đàn cháu do anh chị đào tạo, đang sống cao sang với hào quang sân khấu, với những chiếc huy chương vàng, lại quên đi một người thầy nghèo khó nơi đồng quê hẻo lánh.

Tôi và anh Tám Vân là nghệ sĩ của đoàn hát Việt Kịch Năm Châu. Trong dịp Tết năm 1955- 1956, đoàn Việt Kịch Năm Châu lưu diễn tỉnh Bến Tre, hát ở thị xã Bến Tre, sau đó đoàn đi hát thêm hơn tháng trời ở các huyện Mõ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri và Thạnh Phú.

Lúc hát tại quận Ba Tri, anh Tám Vân dẫn tôi về thăm ngôi nhà cũ của Ba Má anh, bấy giờ chỉ còn người chị thứ năm của anh đang ở, chăm lo vườn tượt và gìn giữ phần mộ của Ba Má anh chôn ở trong vườn nhà.

Nghệ sĩ Tám Vân tên thật Lê Văn Tám, sanh năm 1924 tại quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Anh đậu bằng Tiểu Học CEPCI( thời Pháp thuộc) năm 1939, rồi thi đậu vô trường Collège de Mytho( sau là Collège Le Myre de Vilers, đến 1953 đổi tên là trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu). Anh học đến năm 1942, thi rớt bằng Brevet Élémentaire, anh bỏ học theo anh ruột của anh là nghệ sĩ Ba Vân để học nghề hát.

Anh Lê Văn Tám có hai người anh theo nghề hát cải lương. Người anh thứ hai là anh Hai Vân, có lúc làm tài xế xe vận tải của đoàn Việt Kịch Năm Châu. Anh Hai Vân có hai người con là nghệ sĩ: cô Tương Lai và cô Huỳnh Hoa nữ diễn viên đoàn hát Việt Kịch Năm Châu, đoàn Phước Chung. Người anh thứ ba là quái kiệt Ba Vân, nức tiếng trong giới nghệ sĩ tiền phong cải lương.

Đầu năm 1943, nghệ sĩ Ba Vân biết em của anh vừa bỏ học nên giới thiệu cho gia nhập đoàn hát đễ cùng đi với anh trong chuyến lưu diễn ở Hà Nội và đặt cho Lê Văn Tám nghệ danh là Tám Vân.

Tám Vân có học vấn, đẹp trai, hơi ca khoẻ khoắn, cách phát âm chuẩn mực nên chỉ trong sáu tháng học ca cổ nhạc và học diễn, Tám Vân đã đóng được những vai kép nhì, kép đẹp trong các tuồng xã hội phóng tác theo kịch của nước Anh, Pháp của soạn giả Nguyễn Thành Châu.
Năm 1944, đoàn hát trở về Saigon, Tám Vân được bầu gánh hát cải lương Quảng Lạc mời làm kép chánh. Đoàn hát cải lương Quảng Lạc đi lưu diễn ở nước Lào, sau đó vì tình hình chiến tranh sôi động, quận đội Thiên Hoàng của Nhật Bổn vào Đông Dương, phi cơ Đồng Minh liệng bom thành phố Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc. Đoàn hát Quảng Lạc không trở về Hà Nội được nên lưu diễn các tỉnh có người Việt ở nước Thái Lan. Nghệ sĩ Tám Vân thành hôn với nữ nghệ sĩ Bích Châu, đào chánh của đoàn hát. Cả hai chung sống 12 năm, có được hai con.

Đến năm 1954, khi chiến tranh Việt Pháp chấm dứt, nghệ sĩ Tám Vân và Bích Châu trở về Việt Nam, gia nhập đoàn hát Việt Kịch Năm Châu.
Lúc đó tôi đang cộng tác với đoàn Việt Kịch Năm Châu nên khi gặp anh Tám Vân, chúng tôi là đôi nghệ sĩ trẻ, dễ thân thích nhau vì chúng tôi cùng là học sinh trường Collège de MỹTho. Tôi chỉ là một diễn viên phụ, Tám Vân đã đóng được những vai kép nhì, có khi anh được cho thế vai anh Năm Châu, đóng vai chánh, hát cặp với hai cô đào chánh Kim Cúc, Kim Lan.

Tôi liệu sức mình không thể thành kép chánh được nên tôi chọn con đường học sáng tác. Anh Tám Vân hợp soạn với tôi vở Người Mặt Cháy, lấy cốt truyện trong một tờ báo ảnh của Pháp, mua của nhà sách Albert Portail Saigon. Trên sân khấu Việt Kịch Năm Châu, tôi đã sáng tác được các tuồng Chim Vàng Hoàng Hạc Lâu, Người Mặt Cháy, Chiếc Ngai Cuối Mùa. Chiếc Lá Giữa Dòng, Biên Thùy Nổi Sóng.

Nghệ sĩ Tám Vân sáng chói trong vai kép chánh hát cặp với chị Kim Cúc trong tuồng Người Mặt Cháy. Tám Vân thành công trong vai hoàng tử, đóng cặp với nữ nghệ sĩ tài sắc Kim Lan trong vai Ô phê Ly tuồng Hàm Lệ Thái Tử Nước Đan Mạch. Nghệ sĩ Tám Vân cũng được khán giả và báo chí kịch trường ngợi khen khi anh thũ vai chánh trong các tuồng Miếng Thịt Người, Áo Người Quân Tử, Cách Lan Phương Tử, Gió Ngược Chiều, Tây Thi Gái Nước Việt…

Lúc nầy nghệ sĩ Nguyễn Thành Châu đang chủ trương thực hiện một sân khấu “ Thật và Đẹp”, anh đề bảng hiệu đoàn Việt Kịch Năm Châu thay vì đề là đoàn cải lương Năm Châu. Đoàn Việt Kịch Năm Châu tuy là một đoàn hát tuồng cải lương xã hội Tây Phương và tuồng xã hội Việt Nam nhưng đoàn Việt Kịch Năm Châu không giống như phần đông các đoàn hát khác như đoàn cải lương Hoa Sen, đoàn cải lương Phụng Hảo, đoàn cải lương Thanh Minh, đoàn cải lương Kim Chưởng…Vì chủ trương sân khấu “ thật và đẹp”, nên những tuồng hát của soạn giả Nguyễn Thành Châu viết rất ít bài ca cổ nhạc và vọng cổ. Thay vào đó là những lời đối thoại sắc bén, gọn gàng và giống như lời thoại trong một vở thoại kịch hơn là tuồng cải lương.

Các nghệ sĩ trong đoàn được chính nghệ sĩ Năm Châu đứng trực tiếp tập tuồng, dạy cho cách phát âm các đài từ, cách nói một câu thoại trong tuồng. Khi ca cổ nhạc( bài bản lớn thuộc ba Nam sáu Bắc, Bảy bài) hoặc vọng cổ thì dàn đờn cổ nhạc rao hơi cho nghệ sĩ bắt giọng hát cũng rất ít, có khi nghệ sĩ nói lối rồi vô ca, ngay trong nhịp mạnh đầu tiên thì cổ nhạc mới đàn theo. Cách ca như nói chuyện, chú trọng diễn tả nội dung câu ca, tình cảm câu ca và nhạc đệm theo là thứ yếu. Nghệ sĩ đoàn Việt Kịch Năm Châu rất khổ công luyện tập theo sự chỉ dạy của nghệ sĩ Năm Châu, muốn đưa tuồng cải lương đến gần với thoại kịch hơn và bỏ đi những bài bản cổ nhạc mà nghệ sĩ Mộng Vân đã dùng trong các tuồng kiếm hiệp vì anh Năm Châu cho là đó là những bài ca cà chía.

Nghệ sĩ Tám Vân nhờ có học cao hơn các nghệ sĩ trong đoàn Việt Kịch Năm Châu nên anh luôn được Năm Châu khen và dùng Tám Vân như người mẫu trong các buỗi tập tuồng. Đáng lý ra với vai kép chánh trong đoàn hát, nghệ sĩ Tám Vân phải được ưu đải về lương phạn nhưng đoàn hát Việt Kịch Năm Châu tuy được báo chí ngợi khen là một đoàn hát có nghệ thuật cao nhưng khán giả lại không đến xem đoàn hát vì ít bài ca cổ, ít những bài ca vọng cổ mà dân chúng rất thích. Nghệ sĩ đoàn Việt Kịch Năm Châu thường chỉ được lãnh một số lương tượng trưng gọi là lương cà phê. Nghệ sĩ được ăn cơm hội, không sợ đói nhưng không có tiền riêng để chi tiêu những cần thiết cá nhân như nghệ sĩ các đoàn hát khác.
Về tuồng tích thì cốt truyện của những đoàn hát khác không hay hơn tuồng của đoàn Việt Kịch Năm Châu, về văn chương trong tuồng thì nhiều khi ngây ngô, khán giả trí thức nghe nghệ sĩ ca hát đến khó chịu nhưng các đoàn hát đó có những danh ca vọng cổ như danh ca Năm Nghĩa, Bảy Cao, Ba Khuê, Út Trà Ôn, Minh Tấn, Minh Nhị, Kim Anh, Út Bạch Lan, Thúy Nga, Phước Trọng, Kim Chưởng, Thanh Hương…Các đoàn hát có danh ca vọng cổ thì luôn luôn là khán giả nghẹt rạp, đời sống lương tiền của nghệ sĩ thì bao giờ cũng được phát đủ và lương cao hơn nghệ sĩ đoàn Việt Kịch Năm Châu.

Nghệ sĩ Tám Vân là người từ nước Lào và Thái Lan mới về, ở hai nước đó nghệ sĩ hút thuốc phiện và thuốc nẩu( thứ lá thuốc phiện) là một việc bình thường vì thuốc phiện rẻ và dễ kiếm, thông dụng. Lúc đó chánh phủ Cộng Hòa miền Nam đang bày trừ ma túy và thuốc phiện, do đó thuốc phiện bán lậu, giá đắc hơn vàng. Anh Tám Vân rất khổ sở vì phải cai thuốc, đoàn hát Việt Kịch Năm Châu lại chỉ phát lương cà phê hay chỉ có nữa cử lương, không đủ chi phí trong gia đình, lấy tiền đâu mua thuốc hút? Thêm nữa chị Bích Châu, vợ anh là người miền Bắc, khi hát ở đoàn hát Quảng Lạc thì chị là đào chánh, vì hát với những người cùng nói và hát bằng giọng Bắc. Khi vào Nam, gia nhập đoàn Việt Kịch Năm Châu, ông Năm Châu rất nghiêm khắc trong việc sử dụng đài từ trên sân khấu. Khi thủ diễn một vai nông dân miền Nam mà phát âm giọng Bắc thì không được. Trong một vở tuồng xã hội Tây Phương, chị Bích Châu phát âm giọng Bắc trong khi đa số diễn viên khác nói giọng miền Nam là một sự lạc lõng mà ông Năm Châu không chấp nhận, vì vậy chị Bích Châu ít được phân vai tuồng để hát. Cuối cùng, Tám Vân và chị Bích Châu cũng như những cặp nghệ sĩ Hoàng Kinh - Ngọc Đán, Thanh Nam – Tương Lai, Thanh Hương – Văn Chung, Nguyễn Phương đều rời đoàn hát Việt Kịch Năm Châu để tìm đến đoàn hát khác cho hợp với khả năng và sở thích của mình.
Anh Tám Vân đi các đoàn hát nhỏ, tạm sống nhưng gia đình anh tan vở. Chị Bích Châu trở về Hà Nội với hy vọng tìm đến đoàn cải lương Bắc để có thể diễn như các bạn nghệ sĩ Bắc, cùng một thứ giọng nói và hát. Nghệ sĩ Tám Vân không muốn trở ra Hànội nữa, đành chịu mất vợ, anh cộng tác với đoàn hát Kim Chưởng.

Nghệ sĩ Tám Vân có khả năng tiếp thu nhanh nghệ thuật biểu diễn các loại tuồng trên sân khấu với các phong cách diễn xuất khác nhau. Đoàn Việt Kịch Năm Châu diễn các tuồng xã hội Tây Phương, nghệ sĩ Tám Vân thành công dễ dàng với lối diễn như thoại kịch có ca cổ, phong cách đỉnh đạc, sang trọng đúng như chủ trương Thật và Đẹp của anh Năm Châu. Đoàn cải lương Kim Chưởng, dưới sự đạo diễn của nữ nghệ sĩ Kim Chưởng, nghệ sĩ Tám Vân có lối diễn sống động, phù hợp với phong cách hát loại tuồng hương xa. Khi hát cho đoàn Phụng Hảo, Tám Vân biết hát rành các vũ đạo tuồng Tàu và biết ca hơi Quảng.

Nói chung nghệ sĩ Tám Vân có khả năng diễn xuất đa dạng, biết nhiều phong cách hát thích hợp với sở trường của từng gánh hát nhưng nghệ sĩ Tám Vân chỉ có dịp đóng các vai kép mùi, kép chánh khi anh hát trên sân khấu Việt Kịch Năm Châu, đóng tuồng cặp với đôi nữ diễn viên tài sắc thuở đó là Kim Cúc, Kim Lan.

Trên các sân khấu đoàn cải lương Kim Chưởng, Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Phước Chung, nghệ sĩ Tám Vân thủ diễn những vai lão, lão mùi, lão độc, hoặc vai lẵng, vai hề. Không phải do các diễn viên kia diễn hay hơn anh nhưng họ là những danh ca vọng cổ. Những danh ca vọng cổ đó nhờ lối ca vọng cổ mùi, luyến láy hay hoặc có lối ca dài hơi mà khán giả thích nên về trình độ diễn xuất chỉ đáng là học trò của Tám Vân nhưng vai tuồng của họ luôn luôn là các vai kép mùi, kép chánh, có nhiều chổ để ca vọng cổ và các danh ca vọng cổ đó là những sức hút khán giả trong một trào lưu mới: Trào lưu của những giọng ca vàng lấn át vai trò và vị trí sân khấu của những kép diễn!

Tưởng nhớ về nghệ sĩ quá cố Tám Vân, tôi nghĩ là nên vinh danh Tám Vân là một trong những nghệ sĩ hàng đầu trong số những chứng nhân của lịch sử phát triển của nghệ thuật hát cải lương trong hai thập niên 50, 60, thời kỳ nảy sanh ra danh từ “ Kép diễn “ và “ Kép Ca”. Các nghệ sĩ “ kép diễn “cùng trong hoàn cảnh bị thất sũng vì khán giả cải lương ái mộ “ kép ca “ hơn có: nghệ sĩ Tám Vân, Hoàng Kinh, Văn Lâu, Văn Lắm, Ba Sanh, Ba Thừa Vĩnh, Hoàng Giang, Ba Xây, Quang Phục, Văn Ngà, Vinh Sang, Văn Khoe, Minh Viễn, Trường Xuân…

Nghệ sĩ Tám Vân đã từng đóng thế vai Gia Lữ Tế của nghệ sĩ Bảy Nhiêu, vai Gia Lữ Sanh của Năm Châu và vai Duy Bạt của Hoàng Kinh trong tuồng Gió Ngược Chiều. Đây là ba vai hát với ba tính cách khác nhau, rất khó diễn xuất, đó là những vai hát để đời của Bảy Nhiêu, Năm Châu, Hoàng Kinh trong Gió Ngược Chiều mà Tám Vân là người duy nhứt đóng thay được cả ba vai đó một cách rất xuất sắc.

Có thể kể thêm nhiều vai thế tuồng đặc biệt đáng ghi nhớ của Tám Vân như anh đóng vai Phê, người điên trong tuồng Khi Người Điên Biết Yêu, đây là vai hát đã đưa tên tuổi của nghệ sĩ Ba Vân vào hàng quái kiệt trên sân khấu cải lương.
Tám Vân đã đóng các vai tuồng mà trước đó các nghệ sĩ tiền phong Năm Châu, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Ba Thừa Vĩnh, Văn Lâu đã để dấu ấn sâu đậm về nghệ thuật diễn xuất như các vai Ngô Phù Sai, Ngũ Tử Tư, Phạm Lãi trong tuồng Tây Thi Gái Nước Việt,… vai Vương Tư Đồ trong tuồng Phụng Nghi Đình, …vai Tống Nhơn Tôn trong Xử Án Bàng Quí Phi, vai An Lộc Sơn trong tuồng Trường Hận, vai Thái Tử Hàm Lệ trong tuồng Hàm Lệ Thái Tử nước Đan Mạch của tác giả Nguyễn Thành Châu.

Trong thời kỳ cộng tác với ba đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương và Phước Chung, nghệ sĩ Tám Vân vừa là diễn viên dàn bao quan trọng, thủ diễn những vai lão mùi, lão lẵng, lão độc trong nhiều tuồng, làm điểm tựa cho nhiều nghệ sĩ trẻ và Tám Vân cũng là người thầy dạy nghề hát cho các diễn viên trẻ như Thanh Nga, Thanh Thanh Hoa, Mộng Tuyền, Bảo Quốc, Thanh Tú, Trang Bích Liểu, Kim Hoa…

Tám Vân được khán giả ưa thích qua vai ông Đệ tuồng Tấm Lòng của Biển, vai Duy Bạt tuồng Gió Ngược Chiều, vai ông Độ tuồng Tần Nương Thất, vai Tám Hổ tuồng Hai Hình Ảnh Một Cuộc Đời và rất nhiều vai lão mùi khác. Có thể nói là chưa có một bài báo nào của các ký giả kịch trường viết phê bình chê phần ca diễn của nghệ sĩ Tám Vân trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương…

Suốt thời gian tôi ( Nguyễn Phương ) cộng tác với đoàn Việt Kịch Năm Châu, đoàn Thanh Minh Thanh Nga, đoàn Dạ Lý Hương, đoàn Phước Chung và đoàn Thanh Nga sau năm 1975, tôi có nhiều năm sống chung một đoàn hát với vợ chồng nghệ sĩ Tám Vân, những khi lưu diễn có khi vợ chồng tôi cùng ở chung phòng ngủ trong các khách sạn mà các ông bà Bầu mướn dành cho soạn giả, tôi biết khi anh Tám Vân cai thuốc phiện, anh đã phải uống rượu vô để tránh cho cơ thể khỏi bị hành hạ vì thiếu thuốc. Mỗi ngày, trong buỗi ăn sáng, anh Tám Vân phải vô lai rai một xị đế, truớc khi tập tuồng, thêm một xị đế khác. Buổi tối trước khi trình diễn trên sân khấu, lại một xị đế và sau khi vãn hát, ăn tối trước khi ngủ lại một xị đế. Tính ra mỗi ngày ít nhất anh phải uống một lít rượu đế. Đó là năm 1983, 1984, khi tôi cùng cộng tác với Tám Vân trong đoàn hát Thanh Nga do ông Bảy Tâm làm trưởng đoàn.

Với sức khoẻ trung bình, không tập thể dục hằng ngày, chỉ có lao động trên sân khấu những khi tập tuồng và diễn tuồng, ăn uống bình thường như những người khác trong gánh hát, anh Tám Vân còn hát được, và sống được đến 85 tuổi thì phải nói đó là một kỳ tích, vì một người uống rượu nhiều và đều đều trong nhiều năm liên tục như Tám Vân mà ruột gan không bị đốt cháy, không bị ung thư gan, không bị bịnh sơ gan cổ trướng, quả là hi hữu!

Về gia đình thì sau khi anh và chị Bích Châu chia tay nhau, khoảng đầu năm 1960, anh Tám Vân kết hôn với chị Quản Thị Minh Nguyệt tức là soạn giả Nhị Kiều sau này.

Chị Quản Thị Minh Nguyệt sanh năm 1922, sanh quán làng An Thạnh, huyện Mõ Cày, tỉnh Bến Tre. Chị Minh Nguyệt có một người chị tên là Quản thị Trúc Mai, nghe nói là vợ của ông chủ bút hay chủ nhiệm của tờ nhật báo Tiếng Chuông Saigon. Vì tôi không biết rành về giới ký giả và chủ bút của các nhà báo nên tôi ghi theo lời kể của chị Tám Vân về tin tức của chị Trúc Mai.

Chị Minh Nguyệt đi kháng chiến chống Pháp, có chồng là cán bộ Vệ Quốc Đoàn tên là Huỳnh Ngọc Lộ ở trung đoàn 99 tỉnh Bến Tre. Anh Lộ và chị Minh Nguyệt có được hai con.

Năm 1954 anh Lộ đi tập kết miền Bắc. Vài năm sau, chị Minh Nguyệt hay tin chồng đã chết ở miền Bắc, chị và hai con lên Saigon sinh sống. Chị thường đi xem hát cải lương giải khuây, và có dịp gặp nghệ sĩ Tám Vân mà chị rất ái mộ. Hai người cùng cảnh ngộ, một người có vợ bỏ trở về Hà Nội, một người có chồng đi tập kết và chết đâu đó ở miền Bắc, họ gặp nhau, chấp vá hai mãnh đời tan vở thành một khối tình mới, một hạnh phúc mới. Khi hai anh chị Tám Vân mướn nhà ở cư xá Đô Thành( năm 1965) tôi biết anh chị Tám Vân có được một đứa con gái.

Chị Nguyệt học sáng tác tuồng cải lương, khởi đầu dưới hình thức hợp soạn với các soạn giả thường trực trong đoàn hát, anh Tám Vân dạy chị ca và viết bài ca. Chị đã dùng những bút hiệu như Hoàng Thị Nguyệt, Chị Nguyệt, Nhị Kiều.

Năm 1975, ông Lộ từ miền Bắc trở về, gặp lại chị Nguyệt nhưng chị nói không thể bỏ Tám Vân trở về với ông. Lời đồn về cái chết của ông Lộ đã khiến cho chị đau xót và sau đó vài năm, chị bước thêm bước nửa trong đời. Ông Lộ khi ở miền Bắc, ông cũng đã lập gia đình với một người đàn bà khác.

Sau những năm 1990, sân khấu cải lương xuống dốc, anh chị Tám Vân - Nhị Kiều không theo đoàn hát lưu diễn mà trở về quê, sống bằng nghề viết tuồng cải lương cho các show Tivi hoặc băng video.

Riêng anh Tám Vân thì sức khoẻ sa sút. Năm 2006, vợ chồng tôi về thăm quê hương, bao xe cùng với các nghệ sĩ Tú Trinh, Kiên Giang, Huỳnh Công Minh, Ngọc Anh đến Bình Nhâm thăm anh chị, giúp đở một số tiền và thuốc men. Anh Tám Vân tuy quên trước quên sau nhưng vẫn nhớ tên tất cả những bạn đến thăm vợ chồng của anh hôm đó. Anh còn hỏi ngày trước Nguyễn Phương và Tám Vân hợp soạn vở tuồng đầu tiên là vở gì? Tôi nói cho anh nghe tên vở tuồng hợp soạn đầu tiên đó nhưng độ mươi phút sau, anh lại hỏi y như câu vừa mới hỏi.
Chúng tôi ngồi nói chuyện tâm tình với anh chị có đến gần cả tiếng đồng hồ, anh Tám Vân cũng chỉ hỏi tôi một câu duy nhất đó không dưới mười lần.

Anh Tám Vân đã bị bệnh lãng trí! Tôi thấm buồn, ngồi thật lâu trước mặt anh, chụp ảnh với anh và tôi khẻ hỏi: “ Anh có biết anh đang chụp hình với ai đây không?” Anh Tám cười cười, nói:” Nị tưởng tui điên rồi à. Ờ mà nè Nguyễn Phương, hồi đó tôi với ông …mình hợp soạn tuồng gì? Quên rồi…” Anh Tám lập lại câu hỏi mà khi tôi vừa bước vô nhà anh, anh đã hỏi tôi câu hỏi đó.
Một vở tuồng hợp soạn của Tám Vân và Nguyễn Phương từ năm 1955, đến nay đã qua hơn nửa thế kỷ, Tám Vân làm sao mà còn nhớ đến nó được nữa.

Ngày xưa, khi anh nhập vào vai Vua Ngô Phù Sai, hay vai dõng tướng Ngũ Tử Tư, hay khi anh đóng vai tên loạn tướng bạo liệt An Lộc Sơn bên cạnh người đẹp Dương Thái Chân, lúc đó thì nghệ sĩ Tám Vân quá đẹp, quá oai phong, lời ca tiếng hát nghe êm diụ như mật ngọt rót vào tai, hình ảnh đẹp đẻ, rực rỡ oai hùng đó đã làm run động con tim của biết bao nữ khán giả, trong số đó, nữ khán giả Minh Nguyệt say mê một Ngũ Tử Tư, một hoàng tử Ham Lết mà tình nguyện gắn bó cả cuộc đời của cô gái đẹp vùng sông nước Bến Tre với chàng trai lảng tử giang hồ.

Bây giờ… sau hơn năm mươi năm trên sàn diễn, màn nhung khép lại rồi, sao nghệ sĩ Tám Vân lại không gợi nhớ những hình ảnh đẹp của các vì vua chúa, hoàng tử hay loạn tướng, không nhớ những vai người tình rực rở cân đai áo mão và ngát thơm mùi son phấn, nghệ sĩ già Tám Vân chỉ còn mơ hồ lại một chút kỷ niệm khi xưa cùng bàn bạc với Nguyễn Phương sáng tác một vở tuồng đầu tay trên sân khấu Việt Kịch Năm Châu. Tình cảm đó dầu chỉ là một thoáng mơ hồ nhưng làm rún động tâm hồn của Nguyễn Phương. Tôi ngồi kế bên anh, nắm tay anh, tôi khẻ bóp bóp như muốn truyền một chút sinh lực của tôi, của một bạn già 87 tuổi cho anh bạn trẻ 85 tuổi, người đang ngơ ngác nhớ về dĩ vảng quá xa xôi!

Kiên Giang theo dõi câu chuyện của Nguyễn Phương và Tám Vân, anh ngâm nho nhỏ:

Khi cánh màn nhung khép lại rồi,
Chỉ còn hiu hắt nổi đơn côi
Xiêm y trả lại cho sân khấu
Cả những niềm vui lẫn ngậm ngùi.


Chúng tôi định hoan hô anh bạn thi sĩ Kiên Giang nhưng ngay lúc đó tiếng máy hát cassette của con anh Tám Vân từ phía nhà sau vọng đến. Chúng tôi im lặng, lắng nghe, tiếng ca vọng cổ của Út Bạch Lan trong băng cassette nghe như tỉ tê thay lời tâm sự của tất cả các nghệ sĩ già đang hiện diện trong thư trang của vợ chồng Tám Vân:

[color=darkblue]Rồi khi thanh sắc không còn nửa,
Son phấn tàn phai buỗi xế tà
Giã từ sân khấu ai còn nhớ
Một đời nghệ sĩ, kiếp cầm ca ?

5/- Còn nổi buồn nào hơn khi người nghệ sĩ phải xa lìa ánh đèn sân khấu, nơi mà suốt mấy mươi năm, họ đã gắn bó từ tuổi thanh xuân cho đến khi nhan sắc phai tàn…Biết bao nghệ sĩ tài danh nay phải sống cảnh cơ hàn…Trong đời họ đã bao lần được làm ông hoàng bà chúa, oai dũng ngất trời, lộng lẫy kiêu sa. Buồn nào hơn khi bóng xế tuổi già, sống hiu quạnh trong hào quang kỷ niệm. Đời quá vô tình nên người đành quên lãng, nào họ có mơ chi bia đá tượng đồng.
6/- Một chút nghĩa, chút tình sẽ đem lại biết bao niềm an ủi cho tuổi già những nghệ sĩ cô đơn, cho những ai chọn nghiệp dĩ cầm ca, đã cống hiến hết mình trọn đời cho nghệ thuật. Khi thanh sắc không còn họ lặng lẽ lui vào sau sân khấu, nhường lại ánh hào quang cho thế hệ sau mình.- Ai có thể dửng dưng khi nhìn người nghệ sĩ, sức mõi hơi tàn vẫn không rời sàn diễn. Trên sân khấu từng đêm họ vẫn chờ vẫn đợi, dóc cạn sức mình cho khán giả mua vui.[/color]

Tiếng hát của Út Bạch Lan chấm dứt từ lâu, chúng tôi lặng im, mỗi người chìm trong sự suy tư buồn bã. Sau đó chúng tôi từ giả vợ chồng Tám Vân, trở về Saigon.
Hôm nay 18 tháng 01 năm 2009, hai năm sau ngày chúng tôi thăm viếng vợ chồng Tám Vân, ở phương trời Canada cách Bình Nhâm Việt Nam hơn hai mươi ngàn cây số, tôi nghe điện thoại của Tú Trinh báo tin nghệ sĩ Tám Vân, ông bạn già của tôi đã bỏ cuộc chơi mà về cõi vĩnh hằng !
Nghệ sĩ Tám Vân mất lúc 6 giờ sáng ngày 18 tháng 01 năm 2009, sẽ an táng tại Nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp vào lúc 10 giò sáng ngày 22 tháng 01 năm 2009.

Thương thì rất thương cho một đời nghệ sĩ của Tám Vân, nhiều lận đận với sự nghiệp sân khấu, chỉ được những phút vui khi sân khấu sáng đèn, khi màn nhung hạ xuống hàng đêm là anh phải bận bịu những lo toan cơm áo gạo tiền, để rồi đêm sau, khi ánh đèn sân khấu bật sáng, anh lại hóa thân vào những nhân vật cao sang khác, đem lời ca tiếng hát mua vui cho khán giả trên các nẽo sông hồ.

Bây giờ thì anh Tám Vân đã yên phận, nằm thảnh thơi an nghĩ bên các bạn nghệ sĩ đã đi trước anh ở nghĩa trang nghệ sĩ Gò Vấp, chúng tôi xin thắp nén nhang, hướng về Việt Nam xa xôi, nguyện cầu cho hương linh của Tám Vân được về chốn thiên đàng cực lạc.

Vợ chồng Nguyễn Phương xin chia xẻ nỗi buồn đau với chị Nhị Kiều. Cầu mong chị can đảm và đủ sức khoẻ để vượt qua được sự đau thương mất mát xé lòng nầy.

Vợ chồng Nguyễn Phương,
Bạn thân trên nửa thế kỷ của anh chị Tám Vân và Nhị Kiều.
SG Nguyễn Phương tặng cailuongvietnam.com
____________
Nguồn : CLVN [/align]

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
Tám Vân trong lòng nghệ sĩ
 
 

* NSƯT Bạch Tuyết: "Hồi tôi học ở Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, tôi mời bác Tám Vân đến nói chuyện với các giáo sư và sinh viên. Bác nói tiếng Pháp lưu loát, lại trình bày rất giỏi về nghệ thuật cải lương, và còn ca minh họa rất hay khiến ai nấy khâm phục. Bác làm rạng danh cho cải lương, là "người khổng lồ" trong trái tim tôi. Tôi cảm phục hai nhân cách lớn. Một là bác, khi giàu sang không cao ngạo, khi nghèo khổ không than van, cũng không kể lể công trận đã qua. Hai là bác gái Nhị Kiều, một phụ nữ trâm anh mà trót đi theo nghiệp sân khấu nên chấp nhận hoàn cảnh, và một lòng chung thủy tận tụy với chồng".

* Nghệ sĩ Thanh Tú: "Lúc tôi vào đoàn Thanh Nga chung với ông, ông cho tôi ở nhờ nhà ông tại đường Bùi Viện. Tôi sợ ông còn hơn sợ cha tôi, vì ông dạy nghề rất khó tính. Làm không xong là ông hét dữ lắm. Hơi hám ông rất khỏe nên ông hét là tụi tôi hết hồn. Nhưng thương ở chỗ, hễ dạy tại đoàn chưa xong thì ông về nhà dạy tiếp, ăn cơm xong là bắt tôi tập lại, cho tới khi nào được mới thôi. Ông là người thầy tận tụy của nghệ sĩ trẻ chúng tôi, ai cũng thương và kính trọng ông! Mãi mãi ông vẫn là niềm tin yêu của sân khấu và nghệ sĩ".
 
ST

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
Ngày 18.1.2009, nghệ sĩ lão thành Tám Vân đã vĩnh viễn ra đi trong ngôi nhà của ông tại Bình Dương. Sân khấu Việt Nam mất đi một tài năng, một cây đại thụ trong lòng khán giả.
Cách đây gần 10 năm, tôi ra tận Bình Dương viết bài về ông. Đường đi rất ngoằn ngoèo, tôi phải đứng chờ thật lâu ở cổng bưu điện huyện để đứa cháu của ông dẫn vô nhà, nếu không thì đi lạc là cái chắc. Quanh co không biết bao nhiêu ngõ làng xanh um cây lá mới tới nhà ông. Căn nhà cũng ẩn sau một vườn cây xanh um, gió đưa hương đất hương hoa trong trẻo bay vào mũi tôi. Nào cây nhãn, cây mận, cây xoài, mít, ổi... Thật là một nơi "ở ẩn" tuyệt vời cho lão cao nhân gác kiếm giang hồ. Nhưng sự thật, chỉ có ông là "gác kiếm" thôi, còn bà vợ của ông, bà Nhị Kiều, không hề "gác kiếm", nói đúng hơn, là "gác bút". Bà vẫn sáng tác kịch bản đều đặn để có nhuận bút nuôi ông. Hai ông bà xấp xỉ tuổi nhau, năm ấy đã hơn 70, tựa vào nhau như hai cái bóng lặng lẽ sau cánh màn nhung sân khấu.
Ông rất ít nói, tôi hỏi chuyện gì dường như chỉ có bà trả lời giùm. Ông ngồi trầm ngâm ở cái ghế dựa, nhìn ra sân vườn nhạt nắng. Chỗ nào bà không nhớ hoặc nói không chính xác thì ông mới "đệm" vô. Tay ông luôn có điếu thuốc, mà hút cũng rất chậm, hít một hơi rồi nhả ra từ từ như để cho khói ngấm vào lòng. Và tôi cảm giác ông cũng đang để cho sự đời ngấm vào lòng. Dù không nói lời nào, nhưng ông ngấm hết những nhân tình thế thái, những đắng cay ngọt bùi của một kiếp con tằm nhả tơ.
Ông chính là hiện thân của con tằm đã nhả hết tơ, giờ chỉ còn lại cái kén rỗng, nhưng không thể hóa thành con ngài để bay đi được. Con ngài còn có đôi cánh để tung lên cùng bầu trời cao rộng, nhưng con người về già lại cúi xuống gần mặt đất hơn, tủi phận hơn, cô đơn hơn. Dù nghệ sĩ khắp nơi vẫn quan tâm tới ông bà, vẫn quà cáp thăm viếng mỗi khi lễ tết, nhưng họ có công việc của họ, đâu thể thường xuyên kề cận, cho nên ông trở thành kẻ lạc loài sau khi sân khấu đã hạ màn. Ông không buồn, chỉ chấp nhận sự thật của tuổi già. Mà ông có tiếc gì nữa, cả một thời trẻ trung đã tung hoành ngang dọc, lừng lẫy các đại bang, làm thầy của biết bao nghệ sĩ, hét ra lửa đó thôi.
Ông chấp nhận sống trong cái kén rỗng cuối đời, hết đi ra sân ngắm cây lại đi vào nhà nằm trên chiếc giường thong thả nhả khói mơ màng. Chỉ có bà, gầy ốm nhưng rất nhanh nhẹn, hoạt bát, chăm sóc ông từ bữa ăn cho tới quần áo, điếu đóm, không hề than van một tiếng. Bà cười móm mém: "Hồi xưa, chính ổng đã dìu dắt tôi vô nghề, dạy tôi viết, chỉnh sửa kịch bản cho tôi. Có cái tên Nhị Kiều cũng nhờ ổng. Món nợ ân tình đó tôi trả mãi vẫn vui lòng". Ông nghe bà nói, miệng hơi mỉm mỉm một chút, ấy là ông đang cười, đang hạnh phúc. Ông vẫn là người chồng "oai nghi" của bà. Bà nói với ông nhẹ nhàng, trìu mến, chứ không hề gắt gỏng như một số người vợ phải bắt buộc nuôi chồng. Chợt nhận ra một thứ tình vừa là yêu, vừa là bạn, vừa là thầy trò, vừa là sự tri ân.
Ông đã ra đi sau mấy năm nằm liệt giường. Con tằm đã hóa thành ngài hay chưa?..

(Thế giới nghệ sĩ)

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
Nghệ Sĩ Tám Vân

 
Tám Vân và Phượng Liên trong vở Hoa đồng cỏ nội - Ảnh: Minh Châu

Ngày 18.1.2009, nghệ sĩ lão thành Tám Vân đã vĩnh viễn ra đi trong ngôi nhà của ông tại Bình Dương. Sân khấu Việt Nam mất đi một tài năng, một cây đại thụ trong lòng khán giả.
Cách đây gần 10 năm, tôi ra tận Bình Dương viết bài về ông. Đường đi rất ngoằn ngoèo, tôi phải đứng chờ thật lâu ở cổng bưu điện huyện để đứa cháu của ông dẫn vô nhà, nếu không thì đi lạc là cái chắc. Quanh co không biết bao nhiêu ngõ làng xanh um cây lá mới tới nhà ông. Căn nhà cũng ẩn sau một vườn cây xanh um, gió đưa hương đất hương hoa trong trẻo bay vào mũi tôi. Nào cây nhãn, cây mận, cây xoài, mít, ổi... Thật là một nơi "ở ẩn" tuyệt vời cho lão cao nhân gác kiếm giang hồ. Nhưng sự thật, chỉ có ông là "gác kiếm" thôi, còn bà vợ của ông, bà Nhị Kiều, không hề "gác kiếm", nói đúng hơn, là "gác bút". Bà vẫn sáng tác kịch bản đều đặn để có nhuận bút nuôi ông. Hai ông bà xấp xỉ tuổi nhau, năm ấy đã hơn 70, tựa vào nhau như hai cái bóng lặng lẽ sau cánh màn nhung sân khấu.


NSND Tám Vân

Ông rất ít nói, tôi hỏi chuyện gì dường như chỉ có bà trả lời giùm. Ông ngồi trầm ngâm ở cái ghế dựa, nhìn ra sân vườn nhạt nắng. Chỗ nào bà không nhớ hoặc nói không chính xác thì ông mới "đệm" vô. Tay ông luôn có điếu thuốc, mà hút cũng rất chậm, hít một hơi rồi nhả ra từ từ như để cho khói ngấm vào lòng. Và tôi cảm giác ông cũng đang để cho sự đời ngấm vào lòng. Dù không nói lời nào, nhưng ông ngấm hết những nhân tình thế thái, những đắng cay ngọt bùi của một kiếp con tằm nhả tơ.

Ông chính là hiện thân của con tằm đã nhả hết tơ, giờ chỉ còn lại cái kén rỗng, nhưng không thể hóa thành con ngài để bay đi được. Con ngài còn có đôi cánh để tung lên cùng bầu trời cao rộng, nhưng con người về già lại cúi xuống gần mặt đất hơn, tủi phận hơn, cô đơn hơn. Dù nghệ sĩ khắp nơi vẫn quan tâm tới ông bà, vẫn quà cáp thăm viếng mỗi khi lễ tết, nhưng họ có công việc của họ, đâu thể thường xuyên kề cận, cho nên ông trở thành kẻ lạc loài sau khi sân khấu đã hạ màn. Ông không buồn, chỉ chấp nhận sự thật của tuổi già. Mà ông có tiếc gì nữa, cả một thời trẻ trung đã tung hoành ngang dọc, lừng lẫy các đại bang, làm thầy của biết bao nghệ sĩ, hét ra lửa đó thôi.

NSND Tám Vân tên thật là Lê Văn Tám, sinh năm 1924, tại Bến Tre, là em ruột cố NSND Ba Vân, từng là diễn viên và đạo diễn của các đoàn cải lương Việt kịch Năm Châu, Kim Chưởng, Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Phước Chung. Ông còn là thầy dạy nghề của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như Thanh Nga, Bạch Tuyết, Thanh Tú, Bảo Quốc, Mộng Tuyền… Những vở ông tham gia: Tần nương thất, Khói sóng Tiêu Tương, Tấm lòng của biển, Hoa đồng cỏ nội...

Ông mất lúc 6 giờ ngày 18.1.2009, thọ 85 tuổi. Tang lễ tổ chức tại nhà số 93B ấp Bình Phước, xã Bình Nhâm, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Lễ động quan lúc 10 giờ ngày 22.1.2009, an táng tại vườn nhà.

Ông chấp nhận sống trong cái kén rỗng cuối đời, hết đi ra sân ngắm cây lại đi vào nhà nằm trên chiếc giường thong thả nhả khói mơ màng. Chỉ có bà, gầy ốm nhưng rất nhanh nhẹn, hoạt bát, chăm sóc ông từ bữa ăn cho tới quần áo, điếu đóm, không hề than van một tiếng. Bà cười móm mém: "Hồi xưa, chính ổng đã dìu dắt tôi vô nghề, dạy tôi viết, chỉnh sửa kịch bản cho tôi. Có cái tên Nhị Kiều cũng nhờ ổng. Món nợ ân tình đó tôi trả mãi vẫn vui lòng". Ông nghe bà nói, miệng hơi mỉm mỉm một chút, ấy là ông đang cười, đang hạnh phúc. Ông vẫn là người chồng "oai nghi" của bà. Bà nói với ông nhẹ nhàng, trìu mến, chứ không hề gắt gỏng như một số người vợ phải bắt buộc nuôi chồng. Chợt nhận ra một thứ tình vừa là yêu, vừa là bạn, vừa là thầy trò, vừa là sự tri ân.

Ông đã ra đi sau mấy năm nằm liệt giường. Con tằm đã hóa thành ngài hay chưa?...

Tám Vân trong lòng nghệ sĩ

* NSƯT Bạch Tuyết: "Hồi tôi học ở Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, tôi mời bác Tám Vân đến nói chuyện với các giáo sư và sinh viên. Bác nói tiếng Pháp lưu loát, lại trình bày rất giỏi về nghệ thuật cải lương, và còn ca minh họa rất hay khiến ai nấy khâm phục. Bác làm rạng danh cho cải lương, là "người khổng lồ" trong trái tim tôi. Tôi cảm phục hai nhân cách lớn. Một là bác, khi giàu sang không cao ngạo, khi nghèo khổ không than van, cũng không kể lể công trận đã qua. Hai là bác gái Nhị Kiều, một phụ nữ trâm anh mà trót đi theo nghiệp sân khấu nên chấp nhận hoàn cảnh, và một lòng chung thủy tận tụy với chồng".

* Nghệ sĩ Thanh Tú: "Lúc tôi vào đoàn Thanh Nga chung với ông, ông cho tôi ở nhờ nhà ông tại đường Bùi Viện. Tôi sợ ông còn hơn sợ cha tôi, vì ông dạy nghề rất khó tính. Làm không xong là ông hét dữ lắm. Hơi hám ông rất khỏe nên ông hét là tụi tôi hết hồn. Nhưng thương ở chỗ, hễ dạy tại đoàn chưa xong thì ông về nhà dạy tiếp, ăn cơm xong là bắt tôi tập lại, cho tới khi nào được mới thôi. Ông là người thầy tận tụy của nghệ sĩ trẻ chúng tôi, ai cũng thương và kính trọng ông! Mãi mãi ông vẫn là niềm tin yêu của sân khấu và nghệ sĩ".

Hoàng Kim

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0






Đôi vợ chồng nghệ sĩ Tám Văn
và soạn giả Nhị Kiều thời trẻ

Người viết nhiều tuồng nhất Việt Nam


Vợ là một soạn giả nổi tiếng, chồng là kép chính của đoàn Thanh Minh Thanh Nga, một đoàn cải lương lớn bậc nhất ở đất Sài Gòn vào những năm 1950-1970. Đôi vợ chồng nghệ sĩ Tám Văn - Nhị Kiều từng gây nhiều tiếng vang, được nhiều người ái mộ ngày nào hiện có một cuộc sống khá đạm bạc.
Năm nay đã 87 tuổi, vậy mà hàng ngày soạn giả Nhị Kiều vẫn âm thầm đọc sách, viết tuồng. Cuộc sống tuy nghèo nhưng có thể nói bà đã cống hiến hết mình cho nghệ thuật.
Những ký ức khó quên
 
Trong căn nhà nhỏ của mình ở ấp Bình Phước (Bình Nhâm, Thuận An), soạn giả Nhị Kiều đã kể cho tôi nhiều kỷ niệm. Bà mở đầu câu chuyện: “Cuộc đời tôi chẳng khác nào một vở kịch”. Cuộc đời của bà từng có đau thương, tủi nhục, vinh quang… Âu đó cũng là triết lý sống, nguồn cảm hứng giúp bà xây dựng nên những tác phẩm mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Bà tên thật là Quản Thị Minh Nguyệt, quê ở làng An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Vì được sinh ra trên mảnh đất có truyền thống yêu nước nên từ thời con gái bà đã tham gia vào Hội Phụ nữ Cứu quốc. Do có nhiều năm làm công tác tuyên truyền, giao liên mà bà thuộc nằm lòng từng nhánh sông, con rạch trong huyện. Chồng của bà là ông Huỳnh Ngọc Lộ, một anh lính vệ quốc đoàn nhanh nhẹn và mưu lược. Cũng chính vì cả hai vợ chồng hăng say hoạt động cách mạng mà ngôi nhà nhỏ của họ ở An Thạnh bị giặt đốt phá đến ba lần. Những lúc như vậy, cả hai vợ chồng phải sống nương tựa vào bà con lối xóm. Lúc bị giặc truy lùng ráo riết thì sống chui sống nhủi ngoài đồng. Có thể nói, thời gian hai vợ chồng sống bên nhau tuy không nhiều nhưng đầy tình nghĩa, keo sơn.

Năm 1954, ông Lộ lên đường tập kết ra Bắc, để lại cho bà hai người con. Bà cùng với bố mẹ ruột của mình cũng chuyển lên TP.HCM sinh sống. Sau đó không lâu bà thì nhận được hung tin ông Lộ hy sinh giữa đại ngàn Trường Sơn. Cũng chính từ đây, cuộc đời của bà bước sang trang mới. Những tháng ngày buồn bã giữa đất Sài Gòn bà thường tìm đến những rạp hát để giải khuây. Bà bảo rằng lúc đầu cũng chỉ hơi thích ca cổ, cải lương, nhưng xem miết đâm ra ghiền rồi đam mê luôn từ đó. Khoảng thời gian này bà đã gặp và quen với nghệ sĩ Tám Văn, một kép chính của đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga. Họ quen nhau không chỉ bởi tài sắc, mà có chung hoàn cảnh. Hai tâm hồn cô đơn đang cần một nguồn an ủi. Họ đến với nhau như một định mệnh, một số phận dành cho nhau. Trước khi về sống chung với bà, nghệ sĩ Tám Văn cũng đã từng có vợ con. Tám Văn là người Mỹ Tho, ông được sinh ra trong một gia đình giàu có. Vợ của ông là nghệ sĩ Bích Châu, người Hà Nội. Ông và bà Bích Châu quen biết nhau từ những ngày sống chung ở gánh hát Quảng Lạc, một gánh hát thường lưu diễn ở các tỉnh phía Bắc, Lào.

Bích Châu là người miền Bắc nên khi hát cho đoàn Quảng Lạc ở Hà Nội hay ở Lào cho đồng hương người miền Bắc xem thì bà thường được khán giả tán thưởng vì có chất giọng khá đặc biệt. Nhưng từ khi theo chồng chuyển vào Nam, cái chất giọng ấy đã không còn phù hợp nữa. Chính điều đó bà đã quyết định bỏ chồng con ra đi để tìm lại chính mình.

Nhưng cuộc đời thật trớ trêu. Những tháng cuối năm 1975, giữa lúc Nhị Kiều và Tám Văn đang sống hạnh phúc và đã có thêm hai người con thì ông Lộ xuất hiện. Kể đến đây, giọng của bà Kiều như nhỏ hẳn, nước mắt giàn giụa: “Ông ấy đến tìm tôi trên chiếc xe hơi đời mới, vẫn bộ trang phục đồ lính năm nào. Ông ấy không chết, tin đồn năm nào thật oái ăm. Tôi vẫn thương ông ấy nhất trên cõi đời này, nhưng tôi cũng không thể rời xa Tám Văn để về sống với ông ấy. Cũng chính vì thế mà ông ấy giận tôi, đến lúc chết cũng không cần báo với tôi một tiếng”.

Người viết nhiều tuồng nhất Việt Nam
 
Sau hơn 40 năm cầm bút, có thể nói cho đến lúc này bà là soạn giả viết nhiều tuồng nhất. Và cũng là soạn giả nữ đầu tiên của Việt Nam vào những năm 1950, vì trước đó soạn giả đều là nam giới. Bà không chỉ viết nhanh, viết khỏe mà còn phóng tác nhiều tiểu thuyết của những nhà văn nổi tiếng trong và ngoài nước thành tuồng cải lương. Không được đào tạo bài bản qua trường lớp, nhưng bà đã xây dựng thành công nhiều tác phẩm để đời như: Nắng sớm mưa chiều, Tấm lòng cửa biển, Đường về vạn kiếp, Khói sóng tiêu tương… Ngoài những tác phẩm mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, đề cao thân phận người phụ nữ Việt Nam, bà cũng có không ít tác phẩm lịch sử đậm nét. Cũng có những tác phẩm được xây dựng trên một câu chuyện có thực đầy nhẫn tâm, nhưng khi qua bàn tay nhào nặn của bà, nó đã trở nên đầy sức sống, mang tính nhân văn cao như tác phẩm Vụ án 40 năm.

Sở dĩ bà có một kiến thức rộng, một tâm hồn cởi mở để cống hiến cho nghệ thuật là ngay từ bé bà đã biết làm thơ, nói đối. Bà biết làm thơ từ năm 12 tuổi. Sau này, khi chị ruột của bà là Quản Thị Trúc Mai lấy chồng là chủ bút của tờ báo Tiếng Chuông thì hai chị em bà không ngừng làm thơ đăng báo, nên cái tên Nhị kiều cũng ra đời từ đó. Và mấy chục năm nay, bà vẫn luôn giữ một thói quen đọc sách hàng đêm, do đó bà có một kiến thức tổng hợp của nhiều tác giả. Trong căn nhà nhỏ của mình, tài sản quý giá nhất mà bà để lại cho con cháu không có gì ngoài sách. Có nhiều cuốn bà lưu giữ từ năm 17 tuổi đến giờ.

Tuy nhiên, để trở thành một soạn giả chuyên nghiệp, bà cũng đã vượt qua không ít chông gai, thử thách. Vì yêu nghệ sĩ Tám Văn mà bà từng bị bố mẹ ruột của mình từ mặt gần 4 năm trời. Trong những thập niên 50, nghệ sĩ sân khấu bị người đời gán cho là thành phần “xướng ca vô loại”, phải là những người quá đam mê nghệ thuật, bất chấp những đàm tếu trong thiên hạ thì mới có thể sống chết được với nghề. Nam nghệ sĩ phải phấn đấu không ngừng để xóa tan đi cái thành kiến xướng ca vô loại đó. Một cô gái con nhà lành như bà mà dám lao vào gánh hát cải lương, có chồng là kép hát và phải sống như những nghệ sĩ lang thang không nhà, thì phải là một người đảm lược, yêu nghệ thuật còn hơn yêu bản thân của mình. Để viết được những vở tuồng đầu tay, ban đầu bà cũng phải vắt óc mò mẫm từng từ, từng chữ. Cũng từng chịu nhục để được hợp soạn cùng những soạn giả danh tiếng thời ấy. Vậy mà chỉ chưa đầy ba năm sau, bà đã có thể đường hoàng có được cái tên soạn giả thật sự như bao nhiêu người soạn giả đang hành nghề và sống được với nghề. Từ một người vô danh, bà đã trở thành soạn giả số một của đoàn Thanh Minh Thanh Nga trong nhiều năm sau đó. Nói như bà: “Nếu như những soạn giả khác khi viết tuồng phải lên Đà Lạt, ra Vũng Tàu để an tịnh, thì Nhị Kiều dù có nấu cơm, ẵm con cũng viết tuồng như ai”.

QUANG TÁM - BBD


http://www.baobinhduong.org

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 4 5 6 7 8 » »»