Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Trên bờ sông hoang vắng - BORIS POLEVOI

8 trả lời, 2.662 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 12:20:21Ct.Ly>
TRÊN BỜ SÔNG HOANG VẮNG

TÁC GIẢ: BORIS POLEVOI

DỊCH GIẢ: NGUYỄN THANH BÌNH


NHÀ XUẤT BẢN CẦU VỒNG, MOCKBA, 1984

PHẦN THỨ NHẤT

I

Chiếc tàu chở khách "Éc-mác", một chiếc tàu thủy lớn và chậm chạp, chạy trên sông Ôn từ trước cách mạng, rời Xta-rô-xi-biếc-xcơ hôm qua lúc trời gần tối. Nó chạy suốt đêm. Những người ồn ào trên ba tầng boong của nó vẫn chưa thỏa thuê về những điều mới lạ của cuộc hành trình. Mặc dầu gió bấc thổi từng đợt và mang hương vị của cỏ khô từ bờ sông thấp đến, không một ai chịu trở về phòng mình cả. Thỉnh thoảng, vì tò mò, hành khách lại di chuyển từ mạn bên này sang mạn bên kia, không để ý đến phó thuyền trưởng đang khuyên họ nên "phân tán ra cho đều" để tàu khỏi nghiêng.
- Đúng là những con cừu!... Khi một con đi là cả bầy đi theo! Không ai chịu nghe ai cả, anh phàn nàn với thuyền trưởng. - Từ lâu ta không thấy những kẻ khờ khạo như thế này.
Thuyền trưởng A-lếch-xây Ra-cốp, một người đứng tuổi, béo tốt, mặt to và hơi rỗ, vừa xong phiên trực; ông khoác sơ mi ngồi vào bàn, trước một chiếc ấm Xa-mô-va điện và uống trà nóng bỏng.
- À, những người trẻ tuổi ấy... họ tò mò và rất tốt... Và sông Ôn - một con sông ra sông! Ở đâu có được quang cảnh như thế này! - Vừa thổi vào chén trà, mắt không nhìn phó thuyền trưởng, ông nói tiếp: - Đó là nơi họ sẽ đến ở. Nhưng anh nói đúng đấy, coi chừng không họ làm đắm tầu mất... Đúng là những con cừu.
Quả thật, những khúc sông quanh co, hoặc bên bờ trái nhiều núi, hoặc bên bờ phải bằng phẳng, thường xuất hiện những cảnh trí mà chính sự độc đáo, sự tươi mát của màu sắc và sự hùng vĩ của thiên nhiên làm cho hành khách ngạc nhiên, bất kể họ từ đâu đến với miền đất bao la và thưa người này.
Con sông Ôn hùng vĩ luôn luôn thay hình đổi dạng; như một tấm gương soi sâu thẳm, nó phản chiếu những cánh đồng xanh tốt, những khu rừng đầy màu sắc vừa bước sang thu, những mảng trời xanh dịu, rồi nó tỏa ra thành những cánh tay nước luồn vào những cù lao bằng phẳng sum suê; rồi khi tập hợp lại, sông Ôn - tăng thêm tốc độ, uốn khúc, dữ tợn và điên cuồng, phát huy hết sức mạnh của nó. Và đến khúc sông đã trở lại hiền hòa, hành khách có thể thưởng thức trọn vẹn các tia nắng rực rỡ và các màu sắc lấp lánh.
Rừng tai-ga rậm rạp với những ngọn thông xanh chọc thẳng lên trời cao, chạy ra đến mặt nước. Giống như một đám muỗi, những con sa yến lượn quanh những bờ đá ba-zan thẳng đứng màu nâu. Bỗng nhiên, con sông ngoặt lại một cách bất ngờ, tất cả những cảnh đó nhường lại cho những cánh đồng cỏ tốt tươi.
Chỉ thỉnh thoảng, trên một sườn dốc ở bờ trái hay ở phía xa xa của cánh đồng ngập nước bên bờ phải, người ta thấy hoặc đoán ra những làng xóm sầm uất. Chỉ những bến tàu và những con đường to, nhỏ mới gợi tới sự có mặt của các làng xóm đó. Nhưng đây, một thành phố trẻ ở ngay giữa cánh đồng hoang vu ấy. Con tàu "Éc-mác" ghé lại đó khoảng hơn một giờ. Thành phố không có trên bản đồ. Trên những chiếc phao cấp cứu treo vào tay vịn của cầu tàu, người ta đọc: "Bến tàu". Trong lúc những chiếc cần cẩu chuyển lên bờ các kiện hàng, nhiều hành khách trẻ tuổi đã kịp bước lên bờ mặc dầu trời đã tối. Họ trở về, kinh ngạc:
- Có cả xe buýt điện và đèn thủy ngân cao áp các cậu ạ!... Người ta tưởng đây là khu tây-nam Mát-xcơ-va, thật đấy.
Hằng hà sa số những chấm sáng của thành phố vô danh biến mất lúc con sông uốn khúc và tất cả một lần nữa lại trở lại với bóng tối của cảnh sông nước hoang vu, thỉnh thoảng điểm một ngọn lửa của chiếc phao trên sông, hoặc ánh mờ nhạt của một ngôi sao mùa thu lấp lánh. Lúc hành khách vừa bắt đầu tản ra, có ai đó kêu lên:
- Xem kìa, xem kìa!
Sau đuôi tàu, ở phía chân trời hiện lên một chuỗi ánh sáng di động. Một tiếng còi dữ dội, khẩn thiết vẳng lại và chiếc tàu "Éc-mác" trả lời bằng một tiếng hú khàn khàn. Các chấm sáng tiến lại gần, rẽ sang một bên, và một con tàu giống hình chiếc máy bay vượt qua con tàu già cỗi trong ánh sáng màu xanh chói lọi. Nó tung lên mặt mọi người những hạt bụi nước mát rượi, rồi khuất sau khuỷu sông, lặp lại tiếng còi dữ dội để báo cho những chiếc tàu ở phía trước nó.
Trên sông Mát-xcơ-va, trên sông Nê-va hoặc sông Đơ-ni-ép, sự xuất hiện của một chiếc thuyền bay chắc không làm ai chú ý. Nhưng trên sông Ôn mà ban ngày, chiếc tàu "Éc-mác" bình tĩnh đã khôn khéo len lỏi tránh những chiếc thuyền câu cổ lỗ, những chiếc đò bằng gỗ, những chiếc sà lan trát nhựa đường - thì sự xuất hiện đó làm cho hành khách ngạc nhiên đến nỗi nhiều người chạy vội lên boong tàu mặc dù đêm đã khuya. Người thuyền phó phải cầu khẩn họ bằng một giọng khàn khàn, chán ngán:
- Bà con ơi, xin bà con giải tán đi cho!
Một giọng nam cao trẻ và bông đùa, tiếng nghe nặng trình trịch, nhắc lại câu nói mà mọi người nghe đã nhàm tai:
- Bà con hành khách ta phải biết điều chứ. Đừng có làm cản trở bước đi của cái chậu cổ lỗ sĩ của chúng ta.
Và một giọng con gái dịu dàng uyển chuyển nói nhanh:
- Bà con ta đừng tụ tập lại như những con cừu; hãy đi vào các phòng khách, bà con có thể nghe ra-đi-ô, nghe đĩa, chơi cờ, chơi đô-mi-nô.
- Một con tàu! Phải chăng đây là một con tàu? Thế mà đúng là một con tàu thực cơ chứ!
- Thủ trưởng, có phải nó đã chở Gri-gô-ri Sê-lê-khốp(1) đi Mỹ dưới thời nữ hoàng Ê-ca-tê-ri-na II không?
Trong các phòng khách cũng không phải là vắng. Hàng rào ngăn chia các hạng bị lật đổ. Trng phòng hạng nhất, những tấm gương to, đóng khung bằng đồng đỏ, trước đây đã phản chiếu sự ăn uống phè phỡn của bọn buôn vàng, giờ đây soi bóng những chàng thanh niên vai rộng, mũ cát két và áo bông cởi ra, khi thì chậm dãi đi quanh mấy cô gái mặc quần áo trượt tuyết bằng phla-nen màu da cam, đeo kính cận, khi thì điên cuồng giẫm đôi bốt bằng cao su xuống sàn hoặc nhảy một vũ điệu dân ca Nga. Một người kéo phong cầm ngồi trên chiếc đi-văng bọc nhung màu đỏ thắm, mắt lim dim thỏa mãn với một nhóm thanh niên trai gái đang vỗ tay đánh nhịp...
Cứ thế, chiếc tàu "Éc-mác" già nua chở quá đầy trong chuyến đi đặc biệt này, xuôi dòng đã hai hôm nay trong tiếng rào rào rộn rã của những chiếc chân vịt. Hành khách để hết cả tâm trí vào phong cảnh đẹp một cách lạ lùng, suy nghĩ về số phận của họ, về bao nhiêu công việc mà họ chưa biết đang chờ họ ở đâu đấy trong rừng tai-ga, nơi công trường mà họ chỉ biết là rất vĩ đại, phấn khởi được làm quen với nhau, trao đổi trò chuyện với nhau, không để ý đến một người đàn ông to lớn, tuổi không đoán được, bề ngoài có vẻ khác thường, vừa xuất hiện trên tàu "Éc-mác".
Người đó đi một đôi bốt kỳ quái làm bằng da, khâu như một đôi bít tất. Một túi đạn bó chặt chiếc áo thủy thủ chăn bông đã sờn rách. Ông đôi một chiếc cát-két bộ đôi xung quanh viền vải màu sẫm và có lưỡi trai đã tróc hết lớp nhựa bọc. Những mớ tóc vàng sẫm ở trong mũ thò ra ngoài rủ xuống vầng trán rám nắng. Râu dày màu vàng sẫm che phần lớn khuôn mặt. Râu mép lẫn với râu cằm mềm mại chảy xuống ngực hình như chưa từng biết lưỡi dao cạo là gì. Một chiếc khăn tay nằm vắt ngang giữ ở sau lưng một chiếc giỏ đầy nấm. Ông cầm một khẩu súng săn gập lại để trong bao.
Chiếc "Éc-mác" vòng qua một khối đá ba-zan đen cứng sừng sững giữa lòng sông... Dốc núi xếp thành tầng, đầy những tổ chim. Những đàn sa yến bay trên tàu, phát ra những tiếng kêu lo lắng. Đây là cảnh tượng hiếm có. Mọi người tập trung ở phía lái, còn ồng râu xồm ngồi ở bên phải. Ông ngồi trên boong tàu, ở một nơi khuất gió, trải một tờ báo và bắt đầu lau nấm. Người ta thấy ông trong tư thế đó trong lúc con tàu qua khỏi khối đá của bầy sa yến.
- Ô, những chiếc nấm đẹp quá.
- Một mình bác nhặt đấy à? Giỏi lắm!
- Con người này may mắn thật... Những cây nấm của ông ta màu sắc thật hài hòa. Với số đỏ như vậy, ông ta đánh bạc thì chắc chắn sẽ được.
- Đồng chí ơi, ở đây có gấu không?... Có chó sói không?
- Có ma-mút không? Có lôi long không?
Những chiếc nấm thông, chân tròn, tán đầy rêu, xếp hàng trên tờ báo. Ông khách râu xồm, bị thu hút vào công việc, hầu như không nhìn thấy những bộ mặt trẻ láu lỉnh, cũng không nghe thấy những câu hỏi chế nhạo. Ông cũng không ngước mắt lên nhìn. Tuy nhiên người ta cũng nhận thấy ở đôi mắt sáng màu xanh nhạt nằm trong đôi mí rực lửa ấy có vẻ căng thẳng, và đôi bàn tay to lực lưỡng màu nâu đang run.
- Có lẽ ông ấy điếc - cô gái mặc áo màu da cam và mang kính dày nói; đó là cô gái mà anh chàng có chùm tóc trước trán đã quay tròn trong vũ điệu điên cuồng.
- Lời giải của câu đó thật đơn giản, các bạn nhỏ ạ, - một người đàn ông đẹp trai, người tầm vóc, mặt tròn, đỏ hồng như mặt con gái nói nhỏ nhưng để cho mọi người cùng nghe thấy. Người ta biết đó là kỹ sữ Psê-nít-snưi, một người vui tính, thích hát và đã làm quen với tất cả mọi người. Anh than niên hay kể chuyện mính nói rằng anh ta là học trò của nhà thủy lực nổi tiếng Pê-tin, rằng anh ta cùng đi với Pê-tin đến công tác ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê, trong rừng tai-ga. - Đơn giản như nụ cười trẻ thơ, anh ta nói tiếp. - Người lạ bí mật này đang say bí tỉ ấy mà. - Psê-nít-snưi hếch chiếc mũi một cách ngạc nhiên, hít lấy hít để. Chẳng lẽ cái mùi thơm này không làm cho các cậu thèm nhá một quả dưa chuột muối à?
Không ai cười. Một sự im lặng lúng túng. Chắc chắn người râu xồm điếc thật. Bàn tay ông ta vẫn khéo léo nhặt hết chiếc nấm này đến chiếc nấm khác bày lên giấy sau khi cắt bỏ chân cẩn thận. Dần dần người ta quen đi và không chú ý đến ông ta nữa. Chỉ còn một người đàn bà trẻ, da xanh, tóc dày màu hạt dẻ, mặc một chiếc áo săng-đay màu đỏ thắm, một chiếc quần bó sát người và khăn choàng len kẻ ô khoác trên vai, vẫn từ trên boong để ý nhìn ông ta.
Qua Psê-nít-snưi, hành khách được biết đó là vợ của Pê-tin, chị ta cùng chồng chiếm gian buồng sang trọng, thượng hạng duy nhất của con tàu. Chị đã bỏ nhà cửa ở Mát-xcơ-va, bỏ mọi tiện nghi của thủ đô để xông vào những khó khăn của cuộc đời nay đây mai đó. Không phải chỉ những hành khách trên tàu biết điều đó. Bạn bè đã ra bến tiễn họ. Một người béo tốt, đầu cạo nhẵn, với đôi mắt hẹp nghịch ngợm như trẻ con vừa ngắm nhìn bà vợ của Pê-tin, vừa dặn dò thuyền trưởng rc đang đứng nghiêm:
- Đồng chí rc, đồng chí hãy chú ý chăm sóc cho Đina Va-si-li-ép-na Pê-ti-na đến Đíp-nôi-ác-xcôi-ê hoàn toàn mạnh khỏe nhé! Đừng làm ô danh những người thủy thủ trên sông Ôn.
Đi-na, hầu như không khi nào rời khỏi boong tàu, hết sức chú ý đến người hành khách mới. Chị vào buồng, kéo chồng ra khỏi đống giấy tờ mà anh tranh thủ thời gian nghiên cứu dọc đường và dẫn ra ngoài:
- Đúng là một người dân Xi-bi-ri gốc! Anh nhìn xem, đó là hiện thân của Éc-mác Ti-mô-phê-ê-vích(2).
Chị nói khẽ, không ngờ gió lại có thể đem lời nói của chị đến tai người lạ. Người này ngẩng đầu lên và nhìn về phía vợ chồng chị. Đôi mắt của ông ta dừng lại một lát trên người vợ, rồi chuyển qua người chồng. Và, Đi-na thấy rõ ông ta rùng mình và giật ngửa người. Chị tưởng như đọc được trong cặp mắt đó không hẳn là sự ngạc nhiên, không hẳn là sự sợ hãi, cũng không hẳn là sự căm hờn, mà có lẽ là tất cả gộp lại. Rồi ông ta cúi xuống, mải mê với những chiếc nấm. Lát sau, như lại để khẳng định, người lạ quay lại nhìn Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích Pê-tin và người phụ nữ thấy khiếp sợ trước nỗi căm hờn sâu sắc mà chị tưởng như đọc được trong cặp mắt ấy.
Đi-na nép mình vào chồng, nói:
- Anh biết ông ta à?
- Lần đầu tiên anh thấy ông ta. Nói chung, anh không biết ai ở đây cả, trừ đồng chí bí thư thứ nhất Ban chấp hành tỉnh đảng bộ đã đưa tiễn chúng ta.
- Nhưng ông ta biết anh... ông ta biết anh, anh thân yêu ạ, ông ta có một cái nhìn thật lạ...
- Đối với những nhà báo Mỹ, danh từ "Xi-bi-ri" gợi lên những dây thép gai, những tháp canh, những con chó săn; còn đối với em - chắc chắn đó là những bọn vô lại và những tù nhân Xi-bi-ri trốn ra dưới thời Sa hoàng... Không, em ạ, tất cả đơn giản hơn nhiều. Chỗ kia, anh đưa bàn tay màu nâu sẫm chỉ vào khoảng không gian ở đằng chân trời giới hạn bởi bức tường thành màu xanh sẫm của rừng tai-ga, - một vùng rộng mênh mông, giàu có như trong chuyện thần thoại, nhưng hoang vắng, đang chờ những con người dũng cảm và cần cù đến đánh thức nó dậy. Chủ nghĩa lãng mạn xưa chỉ có trong sách vở và trong các bài ca...
- Dù sao thì ông ta cũng biết anh.
- Có thể, Pê-tin nhún vai. - Qua các giai đoạn của cuộc đời, biết bao người đã ở dưới quyền anh... Thôi được, anh về làm việc đây. Anh phải nắm được mọi việc ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê trước lúc anh đến nơi.
Một lát sau, anh trở ra với chiếc áo bành tô của vợ. Anh thấy người vợ mình ở bên kia boong tàu đang ngắm trộm người râu xồm. Đến lượt mình, anh cũng chú ý đến người lạ mà những bàn tay to sử dụng con dao bài như sử dụng một con dao mổ. Chỉếc nấm cuối cùng được lau xong, người lạ bèn cẩn thận xếp tất cả vào giỏ. Bộ râu rậm rạp như chiếm hết cả mặt không cho phép đóan được người lạ bao nhiêu tuổi; có thể ông ta bốn mươi, mà cũng có thể đã sáu mươi.
- Đúng là một mẫu người kỳ lạ... Một nhân vật của Ma-min Xi-bi-ri-ác(3). em nhìn xem, hắn ta nâng niu những chiếc nấm khiếp chưa. Các nông trang đang gặt rộ, thế mà một con người như vậy không thấy gì hay hơn là chạy rông trong rừng.
Môtgi ngọn gió đượm mùi cỏ úa, mùi lá mục, mùicỏ tranh hai bên đường, làm rơi chiếc áo bành tô từ trên vai Đi-na xuống. Người chồng âu yếm nhặt chiếc áo, khoác vào cho chị, rồi choàng tay ôm lấy người chị. Người râu xồm đứng lên và nhìn lại họ. Đôi mắt sáng của người đó không biểu hiện cái gì cả, nhưng Đi-na có cảm tưởng như một cái nhếch mép nặng nề, thiếu thiện chí đang núp sau chòm râu rậm ấy.
- Chà, anh đã thấy chưa? - Chị hết sức xúc động thì thào.
Lần ấy, Pê-tin có cảm tưởng mơ hồ như đã gặp người đó ở đâu. Để giấu sự lo lắng không ý thức đang xâm chiếm lòng mình, anh dẫn vợ sang bên kia boong tàu, ở đó nam nữ thanh niên, mặc quần áo cắm trại, áo bông ngắn, áo blu-dông có khóa kéo, áo săng-đay, đang ngồi sát nhau, ra sức hát:
Bạn hỡi, hãy đến những miền xa xôi,
Chúng ta, bạn và tôi,
Là những người chủ đầu tiên
Của những vùng đất mới
- Họ đó, những người chinh phục Xi-bi-ri! - Pê-tin kêu lên. Anh dừng lại gần lan can, ngay trên đầu những người đang hát. - Vâng lời Đảng, họ sẽ đánh thức vùng đất giàu có này dậy, họ sẽ xây dựng một nhà máy thủy điện khổng lồ và sẽ thắp sáng những thành phố mới. - Ở dưới, bài hát đã chấm dứt, những người trẻ tuổi tò mò nhìn vợ chồng Pê-tin trong lúc nhà thủy lực học vẫn xúc động nói tiếp: - Ở đó sẽ có một biển Xi-bi-ri rất lớn, tất cả những ngọn núi đá này sẽ chìm hết, và trên những bờ biển ở đây không nhìn thấy, sẽ được xây dựng một khu liên hợp công nghiệp kim loại, giấy, ximăng, hóa chất, nhà đúc sẵn, đồ gỗ...
Đi-na ngước nhìn chồng, cặp mắt xám sáng lên ngọn lửa nhiệt tình.
- Em rất vui lòng đã đi theo anh!
- Xuống đây với chúng tôi, đồng chí Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích Pê-tin, - Psê-nít-snưi ở dưới gọi. Anh ta đứng giữa vòng người, chỉ huy ban đồng ca tự phát lúc nãy.
Pê-tin mỉm cười xua tay:
- Các bạn ạ, tôi không có thì giờ.
Khoác tay vợ, anh dẫn chị đi dọc boong tàu.
- Có phải em ngần ngại...
- Không, không, em không sợ, cũng không tiếc. Em không cần nhà cửa, tiện nghi! - Nép mình vào chồng, chị nói thêm: - Anh có biết không, lúc nào em cũng nghĩ rằng nếu không có cái ông Lít-vi-nốp trói chân, trói tay anh lại thì với kiến thức của anh, tính gan dạ của anh, anh có thể làm nên kỳ tích ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê.
- Chậc! Rồi sẽ thu xếp ổn thỏa thôi em ạ. Lít-vi-nốp trước đây vốn là một kỹ sư có những quan niệm rất hay, một nhà tổ chức có khả năng, nhưng tuổi tác... À, nếu ông ta không có tất cả mọi quan hệ: bạn bè cũ, đồng nghiệp cũ, người này, người nọ... Thật ra, ông ta đã hết tài rồi, nhưng nói như những công chức, hồ sơ của Lít-vi-nốp nằm trong ngăn số một. Và nó sẽ ở đó cho đến lúc nào ông ta rơi xuống. Nhưng Lít-vi-nốp thì rơi sao được... Tóm lại, những cái đó không liên quan đến chúng ta. Ông ta cần phải dựa vào cái mới, cái hiện đại. Ông ta cần anh. Em sẽ thấy ông ta đón tiếp chúng ta như thế nào. Em cũng đã thấy đồng chí bí thư thứ nhất chúc chúng ta may mắn. Đồng chí ấy, tất nhiên, sẽ gọi điện cho ông ta... Điều đó cũng có một tác động nào đấy đối với Lít-vi-nốp. Em mơ màng gì đấy, mọi việc sẽ tốt đẹp mà...
- Không, không phải cái đó. Em lại nghĩ đến ông ta.
Đi-na đưa bàn tay mảnh khảnh và giá lạnh chỉ về phía người râu xồm. Ông ta bây giờ để đầu trần, tay chống lên lan can. Gió thổi lung lay mớ tóc lượn sóng của ông hơi thưa phía trên đỉnh đầu. Giỏ nấm để gần bức ngăn. Một em bé gái người to, má phính, khoảng lên tám lên chín, tóc kết thành một bím to màu hung, mũi nhỏ, ngắn, lác đác có những nốt ruồi, đang ngồi xổm ngắm những chiếc nấm. Một cậu bé khoảng mười lăm tuổi, tóc màu hung nhạt, tay gầy gò đang ngắm chiếc túi đựng súng không kém phần thích thú.
- Những chiếc nấm đẹp quá, trông như bằng da thuộc! - Cô bé nói bằng một giọng dễ thương, rõ ràng là để làm cho ông chủ ít nói của những chiếc nấm chú ý. - Một mình ông nhặt được tất cả đấy à? Cháu có thể xem được không ông? - Những ngón tay tò mò đụng vào mũ nấm mát vph mượt như da hoẵng.
- Súng của ông cỡ gì đấy, ông?... Ông nạp đạn ria hay đạn viên? - Cậu bé lễ phép hỏi, kiêu hãnh tỏ ra mình cũng thạo chuyện săn bắn. - Chắc là đạn viên? Bởi vì ở rừng tai-ga bây giờ rất nguy hiểm. Hình như sang thu bọn gấu xấu lắm... - Và cậu giải thích với một giọng biết lỗi: - Cháu đọc... đâu đó.
- Xa-sa! Những chiếc nấm sinh đôi... Không, có lẽ là hai chị em sinh đôi cùng một tán.
Người râu xồm không động đậy. Đi-na cũng tưởng ông ta không muốn bắt chuyện với các cháu bé. Xa-sa bị khẩu súng, bao đạn và cả người râu xồm khêu gợi lòng hiếu kỳ, làm như không để ý đến sự im lặng ngoan cố của ông ta. Còn cô bé, mà cậu gọi là Ni-na, thì ít dè dặt hơn. Em cầm lấy cánh tay người râu xồm lay mạnh:
- Ông ơi! Không trả lời câu hỏi là xấu lắm đấy! - Bỗng em nhận xét bằng một giọng lanh lảnh vang đến chỗ vợ chồng Pê-tin: - Anh Xa-sa, ông ta uống quá chén, say rượu đấy.
Đi-na nhắm mắt, ghê tởm. Nhưng người râu xồm vẫn ngồi im, đầu bù xù gục xuống. Cậu anh cầm lấy tay cô em gái, kéo đi:
- Đồ lắm mồm!
Đi-na không thể kiềm chế nổi sự quan tâm đối với người lạ. Chị đề nghị với chồng:
- Em đi mua nấm nhé. Chúng ta sẽ bảo bếp om với kem như anh vẫn thích.
- Tại sao? Ăn ở đây tốt rồi.
- Em muốn thế, - chị nhấn mạnh. Vài âm đục lẫn trong giọng nói du dương của chị. - Bố em và Vô-li-a đem về những giỏ nấm ấy, mẹ em không biết xử trí ra sao cơ... Em cũng vậy, em thích nấm.
- Thì nói với chị quản lý, chị ta nắm được giá cả. Nếu không thì em sẽ hớ đấy. Em cũng biết bọn con buôn ấy.
- Tại sao phải làm phiền người ta? - Người đàn bà trẻ trả lời, rướn đôi lông mày thanh và chớp đôi mắt nhỏ làm cho nó gần như biến mất trong hàng mi dài. - Đừng có lo, em không để cho làm như thế đâu.
- Anh không lo gì cả. - Pê-tin trở về phòng với bước đi bình tĩnh và đóng cửa cẩn thận.
Còn bực bội vì cuộc cãi cọ nhỏ ấy, Đi-na chạy xuống cầu thang và lại gần người lạ. Nhưng thấy mắt ông ta nhắm lại và những mạch máu xanh nổi hai bên thái dương, chị mất bình tĩnh và không biết nói năng ra sao. Ông ta mở mắt và quay lại. Cặp mắt ông ta thong thả nhìn từ đôi giày cắm trại xinh sắn đến chiếc quần, chiếc săng-đay, rồi dừng lại trên khuôn mặt của người đàn bà trẻ. Một cái nhìn lo lắng, dò hỏi:
- Cái gì? - Ông ta nói giọng trầm và khàn khàn, phả hơi rượu vào mặt chị.
- Xin lỗi, tôi muốn... Ông có thể nhường cho tôi... bán cho tôi một ít nấm đẹp này không? - Điệu bộ của chị như phân trần. Vẻ cứng rắn của cặp mắt bốc lửa như dịu lại: - Tôi là vợ của kỹ sư Pê-tin... Chúng tôi đến Đíp-nôi-ác-xcôi-ê, nhà tôi làm việc ở đó. Nhà tôi thích nấm lắm.
Cặp mắt màu bạc trở nên lạnh giá.
- Không! - Người đàn ông nói, rồi quay đi nhìn vào nơi sâu thẳm của một thung lũng nhiều cây dẫn đến một con suối róc rách chảy vào sông Ôn. Nhưng khi Đi-na tức giận vì lời khước từ tàn nhẫn đó đi lên boong trên, người đàn ông bèn từ từ đưa mắt nhìn theo.
Đúng là Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích bao giờ cũng có lý. Lẽ ra đừng hỏi hắn ta. Có lẽ đó là tàn dư của những người khổ sai mà Ma-min Xi-bi-ri-ác đã mô tả hay, hoặc là một phạm nhân, sau khi mãn hạn tù, đã đi đến nơi hầu như không có ai này, để tránh sự tìm hiểu quá chu đáo về lý lịch. Đây là một bài học bổ ích cho Đi-na. Chị vào phòng để kể lại cho chồng nghe, nhưng chị bỗng dừng lại. Cái gì đây? Vĩ cầm ư? Không có lẽ.
Đúng là vĩ cầm. Một giai điệu quen thuộc. Sôi nổi, say sưa, vui buồn kế tiếp nhau, giai điệu lững lờ trên sông Ôn như những con chim sa yến đầy gợi cảm kia làm tổ trong những hốc đá ba-zan.
Đi-na đi quanh tàu. Các bạn thanh niên nam nữ vẫn tụ tập ở cuối tàu, với một sự pha tạp hỗn độn những quần áo phla-nen, áo bông ngắn, áo va-rơi của bộ đội, áo khoác lính thủy không có cầu vai. Nhóm người ồn ào và vô tư đứng thành một vòng tròn rộng. Ở giữa, một cô gái trẻ, nhỏ và khỏe, mặc quần áo màu da cam và đeo kính đang lướt mã vĩ trên chiếc vĩ cầm dưới cằm. "Trai-cốp-xki! - Đi-na nghĩ - bài Can-xô-nét-ta của Trai-cốp-xki". Cô gái chơi đàn quên hết mọi người. Mặt cô tròn và đỏ hồng, có vẻ kiêu căng và nghiêm nghị. Đôi mắt được kính phóng đại, sáng lên vì xúc động. Điều làm cho Đi-na chú ý nhất là sự say sưa của người chơi đàn phản ánh lên nét mặt tất cả các bạn trẻ, mà bài hát họ lặp đi lặp lại nhiều lần, không khác gì chiếc loa phóng thanh trên tàu, đã khiến chị khó chịu.
Bao nhiêu ngạc nhiên mà cuộc hành trình này đã đem đến cho cô gái Mát-xcơ-va ngày hôm kia đang còn đi dạo trên đường phố Goóc-ki! Sáng nay, dậy thật sớm, chị lên boong tàu để ngắm cảnh bình minh. Dòng sông Ôn mờ đi trong sương mù. Ông mặt trời khổng lồ và đỏ gay nổi lên sau bờ sông dốc đứng. Trong ánh sáng, chị thấy ở phía sau, một tóan người râu ria xồm xoàm, xanh xao, nóng nảy. Họ mân mê những con bài cũ và bẩn, rồi vất xuống những tấm ván. Nhà cái là một gã trai to lớn, trán bóng như bôi mỡ, núp sau mái tóc trẻ con màu vàng. Con mắt ti hí của gã nhìn đám bạn chơi một cách đầy thù địch và nghi ngờ. Xa hơn chút ít, sau cuộn dây, một người đứng tuổi, nước da màu gạch, đang quỳ xuống cầu kinh, mặt hướng về phía mặt trời. Phía bên kia cuộn dây một thanh niên gầy còm, tóc màu hung, mặt dài, mặc một chiếc quần đùi để lộ đôi chân bắp thịt nổi lên cuồn cuộn như những bó thép, đang tập những động tác thể dục rất khó. Tất cả tắm trong ánh mặt trời đang xua tan sương mù và đem lại tươi vui cho những cánh đồng bát ngát chạy ra tận bìa rừng màu xanh sẫm.
Chiếc vĩ cầm như gợi lên trong tâm hồn Đi-na những điều xót xa, khủng khiếp mà chị còn chưa biết, nhưng chị sẽ nhìn thấy, cảm thấy và sẽ sống trong xứ sở hoang vắng này. Chị lại muốn gặp người râu xồm, người Xi-bi-ri điển hình ấy. Chị đi sang bên kia và dừng lại nghe một giọng đàn bà dịu dàng và thánh thót, giọng U-krai-na, từ dưới đưa lên:
- Chào bác!
Một người đàn bà nhỏ nhắn, tóc màu nâu, mặt tròn, xinh sắn đang nói chuyện với người râu xồm. Mắt chị ta đen tuyền, bình thản và dịu hiền. Cô bé gái béo mập lúc nãy khép nép đứng sau chị ta. Người đàn bà bình tĩnh sờ từng chiếc nấm một, với động tác bình tĩnh của người nội trợ đi mua bán.
- Đẹp lắm. Bao nhiêu cả giỏ đây, bác? Các cháu tôi thích nấm lắm, cả con bé lắm mồm này nữa... Tha lỗi cho cháu, nếu cháu đã vô lễ...
Người râu xồm lặng lẽ nhìn hai mẹ con. Hình như ông ta vừa ngủ dậy. Từ trên nhìn xuống, người ta thấy những nếp nhăn trên vầng trán nửa rám nửa trắng giãn ra. Có lẽ sau chòm râu rậm đang nở một nụ cười chế nhạo.
- Thế nào, bác bằng lòng chứ? - Người đàn bà năn nỉ.
- Bán đi ông ạ. Một mình ông thì nhiều quá đó. - Cô bé nói thêm.
- Nhưng giá phải cho phải chăng. Chuyến đi là chúng tôi khánh kiệt. Chúng tôi ở Ux-chi tới, đường xa lắm.
- Lấy đi, - người râu xồm chỉ giỏ nấm nói.
- Bác lấy bao nhiêu đấy?
- Năm.
- Năm mươi rúp à? - Người đàn bà giận giữ kêu lên.
- Năm.
- Năm rúp à? - Người đàn bà bối rối.
- Năm, - người râu xồm nhắc lại, rõ ràng ông ta thích thú về sự phân vân của bà mẹ và cô con gái.
- Năm gì?
- Năm cô-pếch. Một đồng thau. Hay cứ lấy không cũng được... Nhưng phải trả tôi giỏ, cái giỏ không phải của tôi đâu.
Người đàn bà mắt đen vẫn nhìn ông ta không hiểu, nhưng cô bé đã tỏ ra khôn ngoan hơn. Em lấy đồng tiền trong túi áo khoác, nhét vào túi người râu xồm và, như sợ ông ta thay đổi ý kiến, em ôm lấy giỏ nấm, nhấc lên và còng lưng xuống vì nặng, em di lon xon về phía cửa. Bà mẹ còn ngập ngừng, vẫn nhìn người râu xồm với đôi mắt sắc.
- Bác ạ, tôi không biêt giá chợ ở đây. Nhưng năm cô-pếch thì quá rẻ. Nếu bác không đùa thì tôi xin cảm ơn bác và mời bác lên ăn cơm với chúng tôi. Phòng số sáu, phía sau, bác đến nhé! Bố cháu lúc nào cũng dự trữ một chai rượu vốt-ca cho những dịp quan trọng. Bác chưa nghe nói đến cái tên Psê-nít-snưi à? Báo chí, đài phát thanh nhiều lần nhắc đến. A-lếch-xan-đrơ Psê-nít-snưi, thợ máy đào đất, - chị quay gót và đôi chân ngắn thoăn thoắt bước đi.
Trong phòng, Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích Pê-tin đang cúi xuống những bản vẽ.
- ... Anh có biết con người lạ lùng ấy đã làm gì không? - Đi-na nói. Nhưng Pê-tin đã ngước bộ mặt màu hổ phách, một màu xanh bệnh tật, nhìn chị ngạc nhiên. Chị dừng lại nửa chừng, vì một tục lệ đã được thiết lập trong gia đình, cấm nói chuyện, mở máy thu thanh, máy thu hình và nói chuyện trong lúc chồng chị làm việc.
Sau khi đã ghi chép vào sổ tay, cuộn các bản vẽ lại, tháo ống tay áo bằng vải láng ra, anh mới hỏi việc gì xảy ra. Lúc đó, một tiếng gầm làm rung chuyển các cửa kính và chiếc tàu "Éc-mác" rời bến tàu bên bờ cát. Vào lúc ấy, họ thấy người râu xồm lần cuối cùng. To lớn, vai rộng, hơi còng, người đó lao lên con đường sụt lở ở trong cát. Chiếc giỏ không đeo sau lưng, túi đựng súng cầm nơi tay. Chân đi bốt bằng da đạp lên một cách vững chắc. Đến bờ dốc, nơi con đường biến vào trong bóng râm màu xanh của một cây thông, người lạ dừng lại, quay về phía con tàu, và chống súng đứng im. Hình dáng của ông ta, được mặt trời chiếu sáng, nổi bật giữa những thân cây màu vàng.
- Em ạ, anh cũng có cảm giác được gặp người này ở đâu, - Pê-tin nói và cảm thấy một nỗi lo lắng mơ hồ. - Anh không biết ở đâu nữa. Nhưng đã gặp người này.
... Trên bờ sông hoang vắng của dòng Iếc-tư-sơ
Kỹ sư Psê-nít-snưi hát với giọng nam trầm. Và các bạn trẻ lặp lại tuy không dài lắm, nhưng rất hào hứng:
Éc-mác vẫn thức, đắm mình trong suy tư...(4)


Chú thích:

1. Sê-lê-khốp Gri-gô-ri I-va-nô-vích (1747-một795) - thương nhân Nga, người lập ra các khu kiều dân Nga đầu tiên ở Bắc Mỹ, người mở các nghề săn bắn thú biển và thú lông ở các đảo bắc Thái Bình Dương và vùng A-lax-ca. Ông đã tiến hành nhiều chuyến khảo sát địa lý quan trọng.
2. Éc-mác Ti-mô-phê-ê-vích (?-1585) - thủ lĩnh Cô-dắc. Cuộc hành quân năm 1581 của ông mở đầu cho việc nước Nga chinh phục Xi-bi-ri. Éc-mác bị chết trong trận chiến đấu chống người Tác-ta.
3. Ma-min-Xi-bi-ri-ác Đơ-mi-tơ-ri Na-rô-ki-xô-vích (1582-1912) - nhà văn Nga. Trong những tác phẩm của mình, ông mô tả hiện thực những tính cách, phong tục và đời sống ở vùng U-ran và Xi-bi-ri nửa cuối thế kỷ XIX.
4. Một bài dân ca Nga nói về Éc-mác Ti-mô-phê-ê-vích.
 
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện nghe có vẻ hay lắm. Cám ơn Vân Trung Tử đã giới thiệu.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 13:45:17Vân Trung Tử>
II
 
Lúc nấm đã nấu chín và mùi thơm từ nhà ăn lên tận boong tàu, Gan-na Pô-pê-rét-snai-a lấy trong chiếc hộp nhỏ ra một chiếc khăn, rồi trải lên chiếc bàn của boong tàu. Cô bé Ni-na nhanh nhẹn bày lên trên bàn những chiếc đĩa bằng nhựa, phuốc-sét, dao. A-lếch-xan-đrơ Tơ-ri-phơ-nô-vích lấy ba chiếc chén nhựa cũng từ hòm đó và đặt trước từng chiếc đĩa, rồi mở nút chai bằng cách đập mạnh bàn tay nhỏ bé vào đáy và đặt lên bàn. Đưa mắt nhìn lại một lần trước tất cả những thứ đó, anh ra lệnh với một giọng hơi đục:
- Nào, cô bé Tóc Hung, đi tìm ông bạn râu xồm của con đi.
Cô bé đi ra, trong lúc ông bố tì một chiếc bánh mì nhỏ vào ngực, cắt thành miếng mỏng. Anh để những lát bánh vào đĩa, nhặt những mảnh nhỏ bỏ vào lòng bàn tay, rồi hất vào miệng. Sau đó anh rót vốt-ca vào chén, hai chén lớn, một chén nhỏ, và có lẽ thấy một chén chưa đầy, anh lại rót thêm. Mỗi cử chỉ của con người gầy gò, thấp bé, tóc vàng và đẹp như rơm, râu mép ngắn cũng màu đó, cho thấy sự bình tĩnh, đường hoàng của anh. Nó cũng biểu lộ trong cách ăn mặc đứng đắn gần giống bộ đội, trong cái màu trắng của vải lót cổ áo, trong ánh sáng của những chiếc khuy đánh bóng loáng, trong giọng nói từ tốn và phát âm rõ ràng.
A-lếch-xan-đrơ Tơ-ri-phơ-nô-vích Pô-pê-rét-snưi hé mở chiếc bát đựng nấm: một mùi thơm bốc lên làm cho hai cánh mũi cong của anh phập phồng.
- Tóc hung chạy đi đâu rồi?... Cái con bé chẳng khôn ngoan tí nào cả.
gan-na chưa kịp trả lời thì khuôn mặt xinh xắn, tròn trĩnh và tinh nghịch, đỏ bừng vì chạy nhiều hiện lên trước cửa.
- Không có! - Cô bé xúc động nói.
- Không có là thế nào? Biến mất rồi à? - Bà mẹ hỏi.
- Lên bờ rồi. Con tìm ông ta khắp nơi. Thuyền trưởng nói thấy ông ta lên bờ.
- Lên bờ rồi! - A-lếch-xan-đrơ Tơ-ri-phơ-nô-vích rít lên, ân hận. - Chưa nói được một lời cảm ơn với người ta. - Nét mặt khổ sở, anh đổ một chén rượu vào chai. - Chúc em sức khỏe, Gan-na! - Anh chạm cốc với vợ, uống một hơi hết chén rượu đầy, rồi cả nhà ăn nấm mà bà mẹ, chị đã biết tranh thủ tình cảm của người đầu bếp nên được vào tận bếp, nấu nướng bằng một phương pháp đặc biệt, với kem và lá nguyệt quế.
Đã từ lâu, gia đình Pô-pê-rét-snưi di chuyển từ công trường này đến công trường khác. Những chuyến đi đối với nhà họ trở nên quen thuộc. Trên đường cũng như ở nhà, ai cũng biết nhiệm vụ của mình. Đến ga và bến tàu, ông bố và cậu con trai xuống mua lương thực dự trữ. Gan-na coi các hiệu ăn là một sự xa xỉ nên tự nấu nướng lấy, còn Ni-na mà ông bố gọi là Tóc Hung và bà mẹ gọi là Mặt Trời rửa bát đĩa và xếp vào chiếc hòm nhỏ. Chế độ đó đã được thiết lập từ lâu, ai có vị trí và nhiệm vụ của người ấy như các chiến sĩ trong một khẩu đội pháo, làm cho cuộc sống lao động giảm bớt khó khăn một cách rõ rệt.
 Và giờ đây, lúc con tàu chở họ trên một dòng sông Xi-bi-ri mênh mông đến những nơi xa lạ, cả gia đình đi ngủ đúng giờ quy định. Trong bóng tối của buồng tàu, mà nhờ các cửa sổ chỉ đoán được qua một thứ ánh sáng màu đục mờ mờ, người ta nghe hơi thở nhè nhẹ của những đứa bé đang ngủ, và cạnh Gan-na, tiếng ngáy của Pô-pê-rét-snưi hơi đục, nhưng vẫn đều đều và bình thản.
Gan-na không ngủ được. Nỗi hờn giận, như một sự đau đớn mơ hồ, dịu đi ban ngày, lại dầy lên trong sự tĩnh mịch của đêm khuya. Thấy chồng nằm cạnh mình ngủ kỹ, lại còn chép miệng như một em bé, nỗi buồn của chị càng tăng lên và biến thành sự thù oán đối với con người đang nghỉ ngơi vô tư lự. Anh ăn nấm no, xúc miệng rồi lăn ra ngủ... Anh sướng thật! Anh có cần gì biết con tàu cũ kỹ chở họ đến đâu, anh có quan tâm gì đến những điều đang chờ đón họ ở nơi kia, ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê, trong rừng tai-ga, ở đó họ biết chắc chắn rằng họ không có nhà ở, không có trường cho con học, ở đó vào mùa đông, họ phải chen nhau trong một chiếc lều bạt ban đêm, có bao nhiêu quần áo phải đem ra mặc hết, phải cắt bánh từ đêm hôm trước, vì buổi sáng băng giá làm cho bánh cứng lại phải lấy búa bổ mới vỡ ra được, phải rửa mặt bằng nước lạnh, phải gỡ tóc cho khỏi đông kết lại. Đã bao nhiêu lần diễn ra cảnh đó và đã bao nhiêu lần chị nghe lời hứa hẹn: "Hãy chịu khó em Gan-na ạ! Những cảnh đó sắp qua rồi". Và người ta nói đến Đíp-nôi-ác-xcôi-ê. Một bức thư anh nhận được làm cho anh quên hết, bỏ hết. Và thế là họ lại không nhà không cửa, sống cuộc đời lưu động. Đồ lang thang... Đồ Di-gan khốn nạn!
Năm nay, họ đang sống yên ổn, đầy đủ tiện nghi ở U-xchi. Trong bóng tối của buồng tàu, chị thấy lại ngôi nhà mà họ vừa rời bỏ: những gian phòng thấp trong ngôi nhà thiết kế cho bốn gia đình ở; tường của gian bếp được anh ốp bằng gạch men, chiếc ghế bành trước lò sưởi, ngồi đó mà may vá thì thật thú vị. Họ bỏ lại tất cả, bán đi tất cả trừ chiếc giường xếp ghê tởm mà đi đâu họ cũng mang theo. Gan-na không thể rời chiếc ghế bành thân thiết được đem theo cùng các hành lý. Nhưng để nó vào đâu? Trong chiếc lều bạt à? Hay là trong lán gỗ? Rồi cũng phải tống khứ nó đi thôi.
Pô-pê-rét-snưi cựa quậy trên gối và Gan-na nghe anh nói: "... Di chuyển các bánh xe lệch tâm...". Anh lại chép miệng và hơi thở của anh trở lại đều đều. Chị nằm ra xa anh và nhìn khuôn mặt với đôi gò má cao với vẻ ác cảm... Những bánh xe lệch tâm! Ngay khi ngủ, anh cũng chỉ nghĩ đến máy móc... Những nỗi vất vả của chị, những nỗi lo lắng cho gia đình có liên quan gì đến anh đâu, anh không nghĩ gì cả, con người ích kỷ! Chị có cảm giác là con gái đạp tung chăn. Đúng thế. Chị ngồi dậy đắp chăn cho con gái, sửa lại gối cho con trai và nhìn ra cửa sổ. Con tàu chạy dọc bờ phải, trong lúc bờ trái nhiều đá, với những ngọn thông hiếm hoi gầy đét, in lên nền màu xanh lơ lốm đốm trắng đường nét rõ ràng một cách lạ lùng, giống như vẽ bằng mực tàu. Ánh trăng rạch không gian tới tận dưới chân các bờ dốc và nhảy lên mặt nước bị bánh lái tàu thủy khuấy động trông nặng và đen như dầu mỏ. Xung quanh không một ánh lửa. Cảnh âm u gợi lên sự cô đơn làm cho người đàn bà ớn lạnh. Chị luồn vào chăn, nép mình vào người chồng, thủ thỉ: "Anh thân yêu, chúng ta đến đó làm gì? Chúng ta ở U-xchi tốt biết bao!".
Một phần tư ngôi nhà, một mảnh đất, một vườn rau, những con gà mái mẹ và cả những cây anh đào nữa. Chi nhớ lại một hôm Pô-pê-rét-snưi ôm về một bó anh đào như một cái chổi tắm do một người bạn ở Uk-rai-na gửi tặng. Cả gia đình nhìn bó anh đào khẳng khiu, rễ nhỏ như một người bạn thân thiết từ quê hương đến. Những cây anh đào mọc ở Pôn-ta-va, quê của Gan-na cũng như ở Đơ-nhi-ép, nơi Pô-pê-rét-snưi đã sống... "Anh đào! Anh đào!", người ta trồng anh đào, chăm chút ở một nơi đầy nắng và khuất gió lạnh. Về mùa đông, người ta lấy giấy báo bọc chúng lại. Và thế là nó còn sống sót. Năm ngoái, những cây anh đào đó đã ra hoa và còn có quả nữa bất chấp khí hậu có phần khắc nghiệt. Những quả cây anh đào hơi chua, nhưng to. Chỉ có một nắm quả thôi, nhưng rất qúy đối với họ vì chúng đã chín trong một vùng cằn cỗi! Gan-na hình dung khu vườn trước nhà và những cây anh đào cúi rạp trước gió: không ai bọc giấy cho chúng, không ai ủ tuyết cho chúng, mặc cho chúng trơ trọi trong mùa đông rét mướt... Chị nhớ đến Ca-tê-ri-na, bà vợ của người thợ máy dọn đến nhà chị. Chính người đàn bà béo mập ấy đã được chị gửi gắm vườn rau của nhà chị với những chùm cà chua nặng trĩu còn xanh, những quả bí chín vàng trong những lớp lá xanh và những cây non yếu đuối ấy. Chị đã bày cho Ca-tê-ri-na cách chăm sóc cây. Nhưng người đàn bà béo mập ấy trả lời lơ đễnh: "Vâng, vâng, tôi sẽ làm đúng lời chị dặn. Tôi không làm sai đâu, chị cứ yên tâm, chị Gan-na Ga-vri-lốp-na ạ!". Nói thế thôi, chứ chị ta chỉ nghĩ đến ngôi nhà mới của chị, chị ta thầm sắp đặt vị trí cho mỗi đồ vật trong nhà... Chị ta sẽ không biết chăm sóc những cây anh đào!... Gan-na đau đớn như chị đã trao con mình vào những bàn tay lãnh đạm, xa lạ. Chị thổn thức và quay lại để lau nước mắt vào góc gối. Chồng chị trở mình và nhắc lại rành rọt: "Tôi bảo dịch chuyển những bánh xe lệch tâm mà..."
- Lại bánh xe lệch tâm! Hả! - Chị chống cùi chỏ nhổm dậy nhìn thấy anh: anh đang nằm ngửa và thở nhè nhẹ, miệng há ra. - Cứ ngủ đi, nhà cơ khí đáng ghét!
Chị nhớ lại từ mấy tháng nay chồng chị bị cuốn hút vào một công trường mới khổng lồ mà người ta đã khởi công ở một nơi rất xa, xa lắm, và yêu cầu anh di chuyển một lần nữa, lần "cuối cùng"... Cuối cùng anh đã nhận lời. Nhưng hai tháng trước lúc khởi hành, anh cùng đội của anh đến U-ran để chứng kiến một cuộc thí nghiệm chiếc máy đào đất kiểu mới cải tiến theo sáng kiến của anh. Mải mê với những việc gì gì đó ở đây, anh không về nhà đúng hẹn. Một mình chị phải lo liệu mọi việc, bán những đồ gỗ mới mua với biết bao trìu mến, ngồi đóng gói đồ đạc. Còn anh, con-người-không-tim, tối nào anh cũng gọi điện cho chị, nói về những suy nghĩ mới của anh với một giọng thương hại khẳng định nếu không có anh thì họ không xoay xở được. Cuối cùng, chị buộc phải một mình ra đi với các con và hành lý, và mãi tới tận ga Xta-rô-xi-biếc-xcơ, anh mới ra đón chị. Trong niềm vui, chị tha thứ cho anh: tính anh như vậy, anh để cho công việc độc chiếm lấy anh. Nhưng giờ đây chị cho rằng đó không phải là kết quả của một sự ngẫu nhiên, rằng anh chuồn đi Xvéc-lốp-xcơ để đổ lên đầu chị nỗi buồn phải rời bỏ ngôi nhà cũ và những phiền lụy của cuộc hành trình... "Những bánh xe lệch tâm... Máy móc, anh ấy chỉ có máy móc trong đầu mà bỏ mặc gia đình... Cho nên cứ nằm xuống là ngáy ngay được!".
Gan-na giận giữ kéo mũi anh:
- Dậy đi, chán ngấy tiếng ngáy của anh rồi!
Anh giật mình, chống tay ngồi dậy, thấy đôi mắt chòng chọc nhìn mình và trước lúc hiểu được có điều gì xảy ra, anh nghe tiếng thì thào giận giữ:
- Anh ấy chỉ nghĩ đến mình, đến một mình anh ấy. Gia đình anh ấy coi như vỏ hướng dương. Anh ấy ăn hạt, rồi nhả vỏ ra... Đồ mất trí, đồ tha phương cầu thực...
- Khoan đã, em Gan-na.
- Tôi đợi anh mười sáu năm, như thế đủ lắm rồi... Hãy nói anh cần gì, đồ Di-gan... Tiền bạc ư? Anh lĩnh nhiều hơn kỹ sư... Vinh dự ư? Người ta bầu anh vào Xô-viết khu. Anh đã được thưởng huân chương cao quý rồi. Báo chí nói đến anh: Pô-pê-rét-snưi ở đây, Pô-pê-rét-snưi ở đó. Nhưng có bao giờ anh hài lòng đâu, và cái đó lại đè lên lưng tôi. Đồ Di-gan khốn nạn! Anh còn bắt chúng tôi lang thang đến bao giờ nữa?
Chị ngồi bên thành giường, hai chân tròn trĩnh bỏ thõng xuống. Dây đeo áo từ trên vai tuột xuống để lộ ra một bầu vú căng như của một người con gái trẻ và một cánh tay tròn lẳn với một bàn tay nhỏ đang điên cuồng xoắn một góc chăn. Những bím tóc, ban đêm buộc trong một chiếc khăn, bị rối tung, sự giận giữ làm cho cặp mắt huyền của chị sẫm lại.
- Em làm sao thế, Gan-na? Mới khi chiều, mọi việc còn tốt đẹp... Đi đây đó, nghề của anh phải thế. Đã đến lúc em phải tập cho quen. Vả lại có phải chỉ một chúng mình đâu? Đồng chí Pê-tin cùng vợ cũng bỏ Mát-xcơ-va đến đây. Con tàu đầy những người như chúng ta... Thế mà em lại sinh sự với anh giữa đêm hôm khuya khoắt thế này...
Anh nói từ tốn, nhưng nước đâu có dập được xăng bốc cháy.
- Kệ thây con tàu, kệ thây người ta với Pê-tin! Giá anh nghĩ tới vợ anh, con anh lấy một lần. - Sợ các con thức giấc, chị nói thầm và lời nói của chị hình như chua chát hơn. - Người ta, trai, gái, tương lai thuộc về họ... Khi tôi còn là một cô bé, tôi bám diết lấy anh nhưng giờ tôi không muốn như thế nữa, tôi chán lắm rồi. Người khác có chồng tử tế, còn chồng tôi là một kẻ tha phương cầu thực, một tên vong gia thất thổ. Tôi không muốn nữa. Tôi đi đường tôi! Tôi đem con theo và xin chào anh! Một mình, anh tha hồ đi đây đi đó, tha hồ mà sửa chữa bánh xe lệch tâm. Có lẽ người ta sẽ tặng anh danh hiệu Anh hùng Lao động, còn tôi chỉ cần có một người chồng, một người cha cho con cái tôi. Tôi cần một ngôi nhà, thế thôi!
Trong cơn giận, chỉ nhảy xuống giường và đi lại trong căn buồng tàu nhỏ xíu. Anh bàng hoàng nhìn chị. Quen nhìn một cô Gan-na bình tình và niềm nở, anh mất hết khả năng ăn nói trước người đàn bà người đàn bà đang giãy lên trong cơn đau khổ.
- Có thật đây là một cuộc sống không?... Anh nói đến giường xếp, ghế xếp của anh. Một tên nhà báo ngu xuẩn nào đó đã ngẩn ngơ trước những giường xếp, ghế xếp của A-lếch-xan-đrơ Pô-pê-rét-snưi! Anh có biết không, tôi đã khóc khi đọc bài báo đó. Giường xếp! Ghế xếp!... Tôi không thể nào chịu nổi nữa! Anh có nghe không? Tôi ghê tởm anh và cuộc đời trên giường xếp của anh!
Sự thất vọng xuyên qua những lời đó làm Pô-pê-rét-snưi sợ. Đến lượt anh đứng dậy trong bộ quần áo ngủ mảnh dẻ, bé nhỏ giống như một thanh niên, mặc dầu nhiều sợi bạc đã lẫn vào mái tóc màu rạ và bộ râu mép xén ngắn của anh.
- Em Gan-na thân yêu... Đây là lần cuối cùng, anh hứa với em lời hứa của người cộng sản... Chúng ta sẽ không đi một lần khác nữa. Chúng ta sẽ ở một chỗ. Anh thề với em!
Dừng lại trước mặt chồng và nhìn vào đáy mắt của anh với cặp mắt ảm đạm, chị vội vàng nhắc lại:
- Lời hứa của anh! Nó có giá trị gì? Anh đã hứa với tôi bao nhiêu lần! Trên công trường đào sông Vôn-ga Đông, ở thành phố Vôn -xki, ở U-xchi, có đúng không? Tôi không tin anh nữa, một chút cũng không tin, - chị chỉ vào mặt anh. Rồi chị bỗng thì thầm bằng một giọng quyết liệt: - Anh không yêu tôi, anh không yêu con anh, anh là kẻ xa lạ trong gia đình! Ban đêm, anh mơ đến những chiếc bánh xe lệch tâm và anh chỉ nghĩ đến vinh quang của anh: Pô-pê-rét-snưi. Phương pháp Pô-pê-rét-snưi, đội Pô-pê-rét-snưi... Để cho vinh quang tồn tại mãi mãi mà! Hãy xem gương A-lếch-xây Xta-kha-nốp đấy! Trước đây cũng nổi tiếng lắm. Và bây giờ thử hỏi Xa-sa xem anh ta là ai? Xa-sa chưa bao giờ nghe nói đến anh ta.
Gan-na hạ giọng. Chị lại ngồi xuống giường, cúi người xuống, hai tay ôm đầu. Lúc anh đưa tay vuốt tóc chị, chị khóc nức nở và nước mắt của chị còn nặng nề hơn cả những lời trách móc. Anh kéo đầu chị vào ngực mình. Anh biết rằng mọi lời nói đều bằng thừa. Sự bùng nổ đột ngột đó làm anh chưng hửng, hoảng hốt. Gan-na thở dài, lau mắt và chui vào chăn, nói khẽ nhưng kiên quyết:
- Xin lỗi đã đánh thức anh dậy. Nhưng đừng có quên những lời tôi nói. Tôi không nhắc lại nữa đâu. Lần sau tôi sẽ bắt con và bỏ đi, anh nghe không?
Anh không nghi ngờ lời nói của chị. Chị sẽ làm như thế. Anh hiểu rằng một việc mới, đáng lo đã xen vào cuộc sống của anh.
- Gan-na, anh hứa với em lời hứa của người cộng sản. - Anh hứa hết sức trân trọng, nhưng vợ anh không trả lời. Nhắm mắt lại, chị ngủ hoặc giả vờ ngủ, cắt ngang cuộc trao đổi, không cho anh phát biểu ý kiến của mình, khiến lòng anh càng thêm ngổn ngang trăm mối.
Thật hết sức bất ngờ!... Chị vừa ôm lây cổ anh ở ga Xta-rô-xi-biếc-xcơ, nơi anh chờ chị và các con. Quên cả con và hành lý, chị nép mình vào người anh, nhắc đi nhắc lại: "Anh của em, anh của em!". Và trước đây, lúc ở U-xchi, anh nhận được bức thư của kỹ sư Nát-tô-tsi-ép, một người bạn cũ của anh mời anh lên sông Ôn với cả đội của anh, chị chỉ nói: "anh lại dẫn mẹ con em đi đâu à?". Chỉ có thế thôi. Đó là cảm tưởng của anh lúc đấy. Bây giờ anh nhớ lại rất rõ chị đã lắng nghe anh đọc thư với một vẻ mặt lạ lùng như sững sờ. Suốt ngày, chị không nói, và ban đêm, lúc rửa bát đĩa, chị lại đánh rơi một chiếc chén và khóc,mặc dù anh chưa hề thấy chị luyền tiếc đặc biệt các đồ đạc. "Đúng, bắt đầu từ đấy... Cái gì làm cho cô ấy như vậy".
anh thèm hút thuốc. Nhưng Gan-na ghét mùi thuốc lá và chị không ngần ngại đi mở cửa sổ lúc có một người khách hút thuốc ở nhà chị. Anh nhẹ nhành chui ra khỏi chăn, mặc quần áo, rón rén đi ra. Đêm tối như mực, một đêm thu thật sự. Trăng lưỡi liềm mỏng mảnh đã khuất sau những bờ dốc hình răng cưa vẽ thành một đường cong đặc biệt. Những vì sao chói lọi, một thứ ánh sáng tuyệt diệu làm cho nước đen và đặc lại sau lái lóng lánh.
Một phù tiêu lấp lánh ở xa xa. Ánh lửa nhấp nha nhấp nháy của nó lẫn với những tia phản chiếu của các vì sao: người ta tưởng như một thiên thể rơi xuống đất và bốc cháy. Những chiếc chân vịt đập nước dữ dội. Nước reo lên. Một vệt nước nhấp nhô mở rộng từ sau lái đến tận chân trời.
Trời lạnh, và như trên tất cả những con tàu cũ kỹ, người ta cảm thấy điều đó qua mùi tranh sơn dầu, mùi hắc ín, mùi thuốc sát trùng và qua hơi ẩm của dòng sông.
 
 
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 15:36:08Vân Trung Tử>
III

Dừng lại ở nơi khuất gió, Pô-pê-rét-snưi lấy ngay một điếu thuốc lá, máy móc cho vào miệng, rồi lại quên ngay. Anh bắt đầu hiểu sự việc xảy ra không phải là bất ngờ; đó là sự bùng nổ của những gì chứa chất đã từ lâu, nhưng những sự lo lắng cải tiến một cỗ máy khổng lồ đã ngăn cản anh phát hiện ra kịp thời.
Có lẽ anh nên đi trước một mình, làm quen với rừng tai-ga, chuẩn bị một tổ ấm, rồi đem vợ con đến thì hơn chăng? Ít ra cũng tốt hơn là không làm gì hết? Tất nhiên, Nát-tô-tsi-ép là một con người quá nghiêm túc, chứ không phải như những người khác. Không phải vô cớ mà anh được mời đến đây. Quy mô của công trường Đíp-nôi-ác-xcôi-ê thật phi thường. Nhưng anh không còn là một gã thanh niên nữa, buổi sáng còn được, chứ về chiều thì mệt lử. Và còn con cái nữa, nhất là Xa-sa: vừa mới quen với trường mới, vừa mới đuổi kịp chương trình học, điểm số vừa khá lên thì lại phải ra đi. còn Ni-na, làm thế nào để học nhạc. Cả nhà vui thích vì đã mua được một chiếc dương cầm. Để nó ở đâu bây giờ? Ở một cây thông à? Ôi, Gan-na, em Gan-na thân yêu, đúng, một người chồng như anh chỉ làm cho em khổ sở...
Đến ngang phao, chiếc tàu "Éc-mác" khôn khéo đi vòng sang bên phải ngọn đèn. Bây giờ, nó không phải là một ngôi sao sáng đang tắt, cũng không phải là ngọn đèn ấm cúng sau cửa sổ. Đó là một chiếc đèn lồng bình thường nhấp nhô theo nhịp sóng do những chiếc chân vịt tàu làm cuộn lên. Anh lại thèm hút thuốc. Anh sờ túi. Diêm vẫn để trong buồng, anh không muốn trở về đó trước khi ổn định tư tưởng. Trên cầu chỉ huy, dáng người thuyền trưởng già nổi lên trong bóng tối. Từ dưới nhìn lên, người ta tưởng như một pho tượng đang chờ đưa lên đài. Anh vốn tôn trọng những người đang làm việc, không dám quấy rầy ông, nên xuống tìm diêm trong tàu, nơi người ta đang chơi phong cầm.
Tiếng đàn dẫn anh xuống hầm tàu. Đến cuối buồng công cộng rộng lớn, ở đó, người ta nằm xuống những chiếc ghế dài hoặc sàn tàu, áo khoác làm đệm, một chiếc va-li hoặc một chiếc ba-lô con làm gối, một bên con gái, một bên con trai, cách nhau một lối đi hẹp. Ở giữa phòng là một chiếc bàn đặt dưới ánh sáng của một ngọn đèn tán làm bằng giấy báo. Một người đàn ông, mặt dài và sạm nắng, tóc vàng, khoác một chiếc va-rơi lính thủy ngoài một chiếc săng-đay to có in hình con nai, ngồi ở cuối bàn. Trước mặt người đó, là một gã trai to lớn, đầu tròn, mặt bầu và không biểu lộ tình cảm, với mái tóc trẻ con phủ lên trán láng như bôi mỡ. Người khoác áo lính thủy đang đọc báo. Trước mặt anh là một chiếc cát-két chuẩn úy hải quân thanh nhã, lưỡi trai ngắn và một quyển vở để mở. Anh thanh niên có mái tóc trẻ con kéo phong cầm và nghiêng đầu lắng nghe tiếng đàn của mình. Đáp lại lời chào của Pô-pê-rét-snưi, người tóc vàng mà anh thầm đặt biệt danh là "người lính thủy", đứng dậy, nghiêng mình không nói, còn người kia, anh chàng to lớn, nhìn người mới đến bằng con mắt bông đùa:
- Xin kính chào danh nhân!
Pô-pê-rét-snưi đoán ngay giữa hai người có xảy ra một việc rắc rối; anh nhìn thấy trên bàn tay phải của người lính thủy có những mảnh giấy báo dán vào ngón tay và chiếc cằm to lớn của "mái tóc trẻ con" rõ ràng bị sưng một bên. Pô-pê-rét-snưi hiểu hết việc gì đã xảy ra, và thấy có thiện cảm với người lính thủy gầy gò. Anh lại bên, cầm cuốn sách mà anh ta đang đọc lên và đọc ngoài bìa: V. Lu-tsít-ki "Nham thạch học".
- Học sinh đại học à?
- Sưu tập viên của một đội địa chất.
- Anh có diêm không?
- Rất tiếc, không có.
Người kéo phong cầm nghiêng xuống một người đang nằm ngủ trên ghế. Với một động tác nhanh nhẹn, anh ta rút trong túi người đó ra một bao diêm và lắc.
- Danh nhân ơi, cho tôi điếu thuốc!
Pô-pê-rét-snưi khó chịu, nhưng vẫn đưa cho anh ta gói thuốc. Anh chàng lấy hai điếu, cho vào miệng một điếu còn một điều nữa giắt vào tai. Sau khi châm thuốc cho Pô-pê-rét-snưi, anh ta nhanh nhẹn để bao diêm vào túi áo người có bộ mặt sắc sảo, má chảy xuống, đầu hói và to, xuing quanh có những món tóc quăn xoáy ốc thưa thớt. Pô-pê-rét-snưi biết đó là một nhà khảo cổ học ở Xta-rô-xi-biếc-xcơ. Ông ta đến Đíp-nôi-ác-xcôi-ê để nghiên cứu những ngôi mộ cổ trong khu vực công trường. Suốt ngày, ông ta chạy khắp tàu, một nhóm người vây quanh nghe ông ta kể với giọng gà trống khàn khàn những chuyện về đất nước, về những nhà thám hiểm đã thành lập những điểm dân cư đầu tiên ở Bắc Mỹ, về những pháo đài của lính cận vệ thời xưa và những đồn lũy Cô-dắc đang được bảo tồn ở đảo Cri-a-giôi, về những người tham gia vào cuộc khởi nghĩa tháng Chạp(1) đã làm việc ở vùng này "dưới các hầm sâu của miền Xi-bi-ri", về các của cải dưới đất, theo lời nhà nhiệt thành độc đáo đó, "có đủ tất cả các nguyên tố trong bảng tuần hoàn Men-đê-lê-ép".
Thế mà anh chàng có mái tóc đen trẻ con này lại đi lục túi một con người trác việt như thế! Pô-pê-rét-snưi định quở trách anh ta, nhưng anh chàng nặng nề đó có một cái gì gớm guốc như con cóc ngồi sưởi ở bên đường và người qua đường ghê tởm không dám đụng đến.
Đang thích thú rít thuốc lá, anh cảm thấy có người nhìn anh. Đó là người lính thủy. Anh nhìn điều thuốc lá, rồi nhìn vào một nơi xa hơn: tấm bảng: "Cấm hút thuốc" treo ở trên tường. Pô-pê-rét-snưi đứng dậy, "Mái tóc trẻ con" cũng đứng dậy theo và khệnh khạng đi ra cửa. Họ cùng nhau đi lên boong tàu.
Điếu thuốc lá lập lòe trong hơi lạnh giá của ban đêm. Một giọng nghẹn ngào đọc sai cả tiếng:
Tại sao lại lượn quanh nhà ngục,
Tại sao lại đến hành hạ tôi?
Vì em đi dạo cùng ai đó,
Hoàn toàn quên bẵng mất tôi rồi...
- Anh ở từ bao lâu, Pô-pê-rét-snưi hỏi.
- Thưa nhà chức trách, cái đo không liên quan đến ai, luôn tiện thì nói thôi. Chúng ta cùng đi một đường, nhưng không cùng một số phận. Cho tôi một điếu thuốc nữa.
- Còn điếu giắt sau tai.
- Để cho anh bạn tôi. Anh ta cầu chúa cho tất cả chúng ta. Anh ta đang ngủ.
Pô-pê-rét-snưi lấy một điếu thuốc lá, và lúc ngọn lửa của que diêm chiếu vào anh thanh niên, anh thấy một hình chàm trên cổ tay lực lưỡng của anh ta: một chữ thập có con rắn quấn quanh và dòng chữ: "Mẹ tôi không quên tôi".
- Cậu vửa đánh nhau với anh lính thủy à? - Pô-pê-rét-snưi hỏi và chỉ vào chiếc cằm sưng húp của anh thanh niên, nhìn kỹ đã tím bầm.
- Thằng cha ấy có thể tạ ơn Chúa là đang ở dưới tàu. Lên bờ tôi sẽ rạch mặt hắn ra cho mẹ hắn cũng không nhận ra hắn.
- Cậu vội vào nhà đá đến thế cơ à?
- Tôi không phải Đức Chúa Giê-su giơ má phải cho người ta tát lúc đã bị tát vào má trái. Rồi tôi mổ bụng lấy ruột nó nhét vào mồm nó cho mà xem. Lúc anh bạn của tôi thức dậy, anh cứ thử hỏi anh ta xem "Ma-mốt-xca(2)" là ai, và giận giữ kéo chiếc đàn phong cầm, anh hát với một giọng thác loạn, rồi anh đi về buồng không quên vứt mẩu thuốc lá hút dở qua mạn tàu.
Anh lính thủy chép một đoạn sách vào quyển vở to. Anh ngước mắt lúc hai người đi vào, rồi tiếp tục công việc. Anh thanh niên có cái tên lạ lùng "Ma-mốt-xca" chơi nhè nhẹ những giai điệu của bọn bỉ vỏ và Pô-pê-rét-snưi quan sát anh ta với một sự thích thú tăng dần. Anh biết một người kiểu như vậy. Tại một công trường sau chiến tranh, người ta đã cho một phạm nhân hình sự bị giam dài hạn vào đội của anh làm thơ phụ. Anh ta tỏ ra thông minh, tháo vát, chẳng mấy chốc đã thay thế được người thợ máy lúc cần. Pô-pê-rét-snưi đang hy vọng là đánh giá đúng mức công việc của anh ta, anh có thể xin cho anh ta giảm hạn tù, thì lại xảy ra một sự việc hung bạo không tài nào giải thích nổi. Vì thua cuộc hay một lý do gì đó với những người cùng phòng, làm cho anh ta phạm tội sát nhân. Lúc công an đến bắt, anh ta dùng dao tự vệ, đâm bị thương hai người. Anh ta bị kết án tử hình...
- Chúng mình là bạn đường mà chưa quen với nhau, - Pô-pê-rét-snưi nói.
Người lính thủy tự giới thiệu một cách nghiêm chỉnh:
- In-ma Xiếc-mai.
- Pô-pê-rét-snưi, A-lếch-xan-đrơ Tơ-ri-phơ-nô-vích.
Anh bắt tay Xiếc-mai, rồi đưa tay cho Ma-mốt-xca.
- Ai lại không biết anh! - Anh thanh niên chìa bàn tay như cái xẻng đầy lông trắng. Côn-xtan-tin Tơ-rê-chi-ác. Con trai của xứ Bi-ê-lô-ru-xi-a ngập nắng. Chuyên nghề bẻ khóa. Nghề lương thiện: thợ phụ. Đi đến đây để cải tạo tư tưởng.
- Còn các bài hát? Cậu chỉ biết các bài khóc lóc tỉ tê thế thôi ư? - Pô-pê-rét-snưi hỏi.
- Không phải đâu, thủ trưởng. Thủ trưởng hãy nghe một bài liên quan đến tất cả chúng ta nhé.
Anh chàng đưa cùi tay lơ đễnh chỉ những người ngủ trên ghế và dưới sàn. Những ngón tay của anh nhanh nhẹn nhảy trên các phím đàn và chiếc phong cầm như tỉnh rượu đi từ một đoạn nhí nhảnh và trúc trắc đến một khúc điệu sâu lắng. Ma-mốt-xca cất tiếng hát, giọng êm ái, khó nhận ra.
... Những chiếc lá mùa thu
Lìa cành trong bão tố
Gió thổi lá bay đi
Đến nơi nào ai biết
Nhác thấy người lính thủy đẩy quyển vở ra để lắng nghe mình hát, anh ta buông một tiếng chửi và im bặt. Pô-pê-rét-snưi mơ màng ngắm những người đang ngủ. Đám thanh niên ồn ào nhảy suốt buổi tối, giờ đây đã ngủ say. Qua tiếng máy hơi nước ầm vang, người ta nghe tiếng thở đều đều, một hỗn hợp không hài hòa những tiếng ngày khỏe mạnh.
Những chàng trai và những cô gái ấy còn rất trẻ, ngủ trong tư thế vô tư của những đứa trẻ đã chơi đùa thỏa thích. Nhìn họ, Pô-pê-rét-snưi nhớ lại thời anh còn là một chàng trai của một làng Uk-rai-na, khoác bị trên vai, với một ấm đun nước bằng sắt tây, và những chiếc ủng cũ của cha anh treo một đầu chiếc gậy, chính anh thì đi chân đất để khỏi làm mòn đế giày một cách vô ích, theo con đường cháy nắng tháng sáu, anh đến sông Đơ-ni-ép, ở đó đang xây dựng nhà máy thủy điện nổi tiếng - Đơ-nhi-e-prô-xtơ-vôi. Anh chỉ muốn có tiền để mua đôi ủng mới bằng da bò non, một chiếc áo véc-tông mặc ngày chủ nhật, anh bước đi, mà không ngỡ rằng, sau này không bao giờ anh trở về với mảnh đất của quê hương nữa và từ Đơ-nhi-e-prô-xtơ- vôi, số phận đã đem anh đi nơi khác. Tất nhiên những bạn trẻ này có những tham vọng khác. Ý định "kiếm ra tiền" đang lôi cuốn họ từ những thành phố lớn, đông đúc đến với rừng tai-ga. Người xây dựng có kinh nghiệm đều biết những gì xảy ra lúc đãi vàng: lớp đá mỏng bọc ngoài quặng trôi đi, nhiều người bỏ trốn, họ bị mùa đông khắc nghiệt đầu tiên đánh cho tan tác; những người khác, dẻo dai hơn chịu đựng cho hết hợp đồng. Chỉ còn lại giống những hạt bụi vàng quý giá đọng lại qua dòng nước lọc. Họ ít hơn, nhưng như những người lính thiện chiến, đã đắng cay nếm mùi thất bại và đã hân hoan hưởng niềm vui chiến thắng, họ sẽ chọn chỗ trong thành phố mà họ đã xây nền. Và cũng giống như những người lính thiện chiến, một người trong số họ giá trị bằng mười người.
- Toàn đồ trẻ con cả, - Ma-mốt-xca khinh bỉ nói như đoán được ý nghĩ của Pô-pê-rét-snưi. - Những đứa nhóc miệng còn hôi sữa. - Với một sự chính xác kinh người, anh nhổ một tia nước bọt xuống gần hai cái đầu con gái tựa trên hộp đàn vĩ cầm - một cái đầu rồi bù như đầu trẻ con, còn cái đầu kia có một bộ tóc màu tro rất đẹp bao quanh một khuôn mặt nhỏ xanh xao. Họ nằm ôm nhau như hai chị em và có lẽ mới trạc tuổi mười bày mười tám. Mặt họ có vẻ thanh nhã, dịu dàng như mặt trẻ con, và Pô-pê-rét-snưi cảm thấy khó chịu khi nghĩ rằng những cô gái đó đang phải nằm ngủ trên sàn, trước mặt một tên cao thủ chuyên nghề bẻ khóa biệt hiệu Ma-mốt-xca.
- Cái con đen kia chơi vĩ cầm, nó chẳng nhìn thấy gì nếu không đeo kính. Một người chinh phục Xi-bi-ri! Còn thằng kia, - lại một tia nước bọt nữa chính xác rơi xuống phía đầu một thanh niên vóc người khẳng khiu, nước da tai tái, có khuôn mặt xương xương đầy tàn nhang, - nó bị gạt khỏi trường quân sự Xu-vô-rốp vì yếu sức khỏe - nó cũng là giông tố của rừng tai-ga đấy. Thằng bạn tôi bảo: "Đồ cứt thối".
- Còn cậu.
- Thủ trưởng không cần cậu tớ với tôi, chúng ta không cùng chăn lợn với nhau. Tôi ấy à? Anh muốn tôi làm cái gì nào? Nếu tôi tâm sự với anh, thì anh sẽ mơ thấy chiến tranh nguyên tử. Nhưng đối với các nhà chức trách thì - rất đúng thủ tục! Giấy tờ của tôi đây. - Anh ta vỗ vỗ vào túi áo. - Bây giờ, xin anh cứ giáo dục tôi như chính quyền Xô-viết đã ra lệnh.
In-ma xm để quyển sách sang một bên, lắng nghe. Bộ mặt mỏng có chiếc mũi dài, cái cằm nhọn, bình thản và nghiêm khắc. Anh không nói một tiếng. Thế nhưng, Ma-mốt-xca vẫn hạ thấp giọng và nói thì thầm. Đúng là Xiếc-mai còn thức thì các chàng trai và cô gái ở đây chẳng có gì phải sợ hãi cả. Pô-pê-rét-snưi có thể trở về buồng của mình trước khi Gan-na phát hiện ra sự vắng mặt của anh.
Anh len lỏi giữa những người ngủ và đi lên boong tàu. Gió trên các bờ dốc đã thổi tạt sương mù. Lan can, thành tàu, khung đồng của cửa sổ lóe sáng vì hơi nước như mới được đánh bóng. Một người gầy gò, ngồi trên một chiếc ghế dưới ánh sáng của ngọn đèn điện. Giữ một chiếc lồng trước mặt, anh ta chu môi thổi sáo một cách đặc biệt: "Chu-chu-chu...".
- Nó ốm. Người ta để rơi chiếc lồng ở sân bay Xta-rô-xi-biếc-xcơ. Nó đau và buồn, tội nghiệp. - Người đàn ông chỉ cho Pô-pê-rét-snưi một nắm tròn, lông xù, đậu trên một chiếc giá. - Tại sao mày không nói gì cả. Chu-chu-chu... Hỏng quá, nó không ăn uống gì, tôi sợ nó đến chết mất. - Người lạ nhìn Pô-pê-rét-snưi và bỏ chiếc mũ cẩu thả đội trên đầu. Chào anh A-lếch-xan-đrơ Tơ-ri-phơ-nô-vích. Tôi biết anh là người của chúng tôi, nhưng tôi không thấy anh, vì tôi bận chữa chạy cho con bệnh của tôi.
- Do đâu mà anh biết tôi?
- Chúng mình là đồng nghiệp mà! Tôi cũng đào đất, cũng lái một chiếc máy đào đất "U-ra-lết" như anh... Tôi làm việc gần năm năm trên sông Lê-na.
Anh ta có bộ mặt và đôi bàn tay kỳ di, gầy và hồng hồng. Tóc, lông mày và lông mi trắng đến nỗi tưởng như nhìn thấu da. Trên mặt, những nơi vốn dễ đỏ thì lại trắng nhợt. Người ta có thể nói đây là âm bản của một chiếc ảnh. Và vì anh ta không tự giới thiệu, Pô-pê-rét-snưi thầm đặt tên cho anh ta là Âm bản.
- Tôi rất vui lòng khi biết anh cũng đi Đíp-nôi-ác-xcôi-ê.
- Tại sao thế?
- Pô-pê-rét-snưi không bao giờ chọn một chỗ xấu! Nói thật, nơi chúng tôi cũng không đến nỗi tồi! Lương khá, có phụ cấp Bắc Cực, nhưng buồn chết! Đêm Bắc Cực, rượu thả cửa... Người ta không muốn mọc rễ ở đấy, mà đã đến lúc, thật đã đến lúc...
"Lại một người nữa nói với mình về chuyện ổn định đời sống", Pô-pê-rét-snưi thầm nghĩ và nhớ rằng Gan-na đang chờ anh trả lời. Anh không biết trả lời ra sao và không hiểu liệu mình có đủ can đảm để từ bỏ lối sống quen thuộc, để từ bỏ bạn bè và các thủ trưởng, những người đã cùng mình đi từ công trường này đến công trường khác. Tốt nhất là hoãn cuộc trao đổi lại. Trước mắt chỉ còn khoảng hai ba năm nữa thôi. Nhưng anh cảm thấy cần phải quyết định, chứ không phá vỡ một nếp sống thì thật là khó khăn, khó khăn vô cùng.
- Chưa rõ lắm. Cứ đến rồi khắc biết.
- Cánh mình với nhau cả, việc gì anh phải úp úp mở mở? Tôi có phải nhà báo đâu mà lo. - Âm bản trách. - Anh cứ làm như thể anh chẳng biết lợi hại gì, mà dám bốc cả gia đình đi ấy. Có gì mà phải ngượng? Tiền thì đến chủ nghĩa cộng sản cũng vẫn còn. Có điều hiện nay mọi người đều hưởng theo lao động...
- Không, quả thật là tôi chưa biết mà, - Pô-pê-rét-snưi trả lời có vẻ hơi lúng túng. - Chỉ biết rằng không bị thiệt, thế là được rồi.
- Suy cho cùng là thế đó, Pô-pê-rét-snưi mà lại bị thiệt! Anh chứ có phải thằng tôi đâu. Nhưng con cá còn biết tìm chỗ nước sâu, thì người ta cũng phải tìm chỗ ấm no lâu chứ. Đó cũng là điều không thể bác bỏ được.
Làm sao Pô-pê-rét-snưi có thể giải thích cho con người xa lạ này hiểu được cái điều mà ngay đối với Gan-na anh cũng chưa giải thích nổi? Vì rằng không thể đáp lại bằng những câu, những chữ mà các nhà báo có dịp nói chuyện với anh thường nói thay anh qua các bài ký sự của mình: nào là "nghĩa vụ cao cả", "niềm vui sáng tạo", "trách nhiệm đạo đức", và những lời lẽ khác đại loại như vậy, vì chúng quá nhàm tai, đến mức từ lâu chúng bị mất đi cái ý nghĩa lớn lao, cao đẹp ban đầu của chúng. Pô-pê-rét-snưi không thích thú những lời lẽ đó, nhưng anh cũng chẳng nghĩ ra điều gì khác cả. Anh cố lái câu chuyện theo hướng khác.
- Nó biết hót à? - Anh gật đầu về phía con chim đang xù lông ra.
- Xéc-gây à? Có lẽ cả vùng Xi-bi-ri này cũng không có được con thứ hai như nó. Chu-chu-chu... Trời, tội nghiệp! Nó yếu quá, yếu quá mất rồi! Trước đây nó hót rất tuyệt! Chúng tôi gọi nó là Xéc-gây để tỏ lòng tôn trọng ca sĩ Xéc-gây Lê-mê-sép, sáng sáng nó láy những nốt thật điêu luyện... Các món ăn ở đó, ở Đíp-nôi-ác-xcôi-ê, anh cũng chưa biết à? Không sao, tôi và Xéc-gây sẽ đến và thử xem, nếu có gì bất ổn - thì lại quay về với sông Lê-na, nốc rượu và xin đủ.
Điều lạ lùng là cuộc nói chuyện với Âm bản làm cho anh khuây khỏa ít nhiều. Anh hút điều thuốc cuối cùng, vứt mẩu thuốc qua thành tàu rồi đi vào buồng. Anh cởi quần áo trong bóng tối, luồn vào chăn, và lúc cánh tay mập mạp của người vợ ngủ say quàng lấy cổ anh, anh cảm thấy một niềm hạnh phúc dẫn anh vào một giấc ngủ êm đềm.


Chú thích:

1. Những người tham gia vào cuộc khởi nghĩa tháng Chạp - các nhà cách mạng của tầng lớp quý tộc Nga đã phát động cuộc khởi nghĩa chống chính quyền chuyên chế vào tháng Chạp năm 1825. Sau thất bại, các nhà lãnh đạo bị xử tử, những người còn lại bị đày đến Xi-bi-ri.
2. "Ma-mốt-xca" - tên lóng, tiếng Nga có nghĩa đùa nghịch là "người mẹ".
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
Đăng nhập để trả lời
0
IV
 
Đi đường, người ta chóng quên với tiếng động. Tiếng ầm của xe lửa, tiếng vù vù của động cơ máy bay, tiếng rào rào của các chân vịt tàu thủy, ngay cả tiếng còi tàu cũng bị coi như là sự im lặng. Nhưng Psê-nít-snưi phải thức dậy vì một tiếng ồn, khủng khiếp.
Ánh bình minh màu sáng bắt đầu hiện ra sau cửa sổ. Nước vỗ nhịp nhàng, những bước chân rộn rã xen lẫn tiếng người hoảng hốt. Người ta chạy, người ta kêu. Còi tàu rú điên loạn. "Đến dip rồi ư?" - Psê-nít-snưi tự hỏi, tai căng ra. Không, theo bảng giờ tàu thì tàu sẽ đến vào hồi chín giờ, lúc ngày chưa rạng. Bỗng có tiếng nói vội vã từ boong tàu vang lại, anh nghe có tiếng "cháy". Rồi anh nghe có tiếng ai đang chạy và thốt ra một tiếng chửi khả ố: "... Có đến hai mươi cuộn phim ảnh", trong lúc tiếng một người đàn bà hét lên trong hành lang: "Trời ơi, bình chữa cháy đâu rồi?".
Psê-nít-snưi nhảy lên như bị cơn lốc cuốn đi. Anh trấn tĩnh được ngay, thúc vợ dậy và tự kiềm chế nói với vợ giọng bình tĩnh:
- Có cháy ở đây này! Em mặc quần áo vào cho con, rồi mẹ con mang hết đồ đạc lên boong, nếu cần. Anh chạy đi một lát. - Anh lao ra hành lang, chạy về phía lái, từ đó bốc lên mùi sơn cháy khét đến buồn nôn.
Anh từng biết thế nào là một đám cháy trên tàu thủy. Trong chiến tranh, khi anh là một chiến sĩ công binh tại một bến phà trên sông Vôn-ga, anh đã tận mắt chứng kiến một chiếc tàu chở các cháu nhỏ sơ tán khỏi thành phố bị máy bay "méc-xê-mít" bắn bị thương bốc cháy như thế nào. Một khối lửa ngùn ngụt trôi xuôi theo dòng sông, thỉnh thoảng thấy trong đám khói lửa ấy có các cháu lớn, các cô bảo mẫu và các thủy thủ bế các cháu nhỏ trong tay lao xuống nước. Đám máy bay oanh tạc có vẽ hình chữ thập ngoặc đen sì trên những chiếc cánh sơn màu vàng cứ quần đảo mãi trên đầu con mồi đang bốc cháy. Bất chấp lửa đạn, các chiến sĩ công binh trên chiếc thuyền phao và bà con ngư dân trên các thuyền độc mộc vẫn bơi ra vớt những người đang ngoi ngóp trong dòng nước đen ngòm lên, còn đám cháy khổng lồ với những vòi rồng lửa hừng hực nhưng vẫn trôi xuôi. Bức tranh đó lập tức hiện ra trong tâm trí anh, Psê-nít-snưi bị ngập trong một lối đi hẹp đầy khói. Người phó thuyền trưởng mặc một chiếc áo trắng là cẩn thận, nhưng lại đi chân đất, đang cùng với thủy thủ dùng một chiếc bình cứu hỏa ra sức dập tắt ngọn lửa. Trên boong, các hành khách trẻ tuổi, dưới sự chỉ huy của chàng Xiếc-mai ít nói, đang dùng sào cố móc giật những tấm ván bốc lửa xuống. Một giọng hoảng hốt kêu lên sau bức màn khói: "Nước đâu? Nước...". Đám cháy lan ra. Ngọn lửa giần giật hắt vào những người dám lại gần nó một sức nóng hôi thối và những làn khói độc.
Chiếc áo của phó thuyền trưởng bốc khói. Tóc anh đỏ lên. Má anh chảy máu. Psê-nít-snưi dừng lại, áo quần anh thấm mồ hôi lạnh và chân anh đưa anh ra khỏi hành lang đang bốc cháy, đến đầu kia con tàu, nơi gia đình anh ở. Nhưng hiện giờ, gia đình anh vẫn còn yên ổn. Psê-nít-snưi sắp quay lại, thì một người suýt xô anh ngã và càu nhàu bên tai:
- ... Chỉ làm quẩn chân...
Đó là phó thuyền trưởng, anh vứt chiếc bình cứu hỏa đã dùng hết đang còn xì hơi và cầm lấy chiếc khác.
- Tôi làm gì được để giúp anh đây? - Psê-nít-snưi hỏi.
- Đừng làm vướng chân chúng tôi, - người thủy thủ trả lời. - Ti-tốp, Cu-pri-a-nốp, phun ngay vào ngọn lửa. Rồi, chắc chắn đã nhận ra người khách, anh nói với giọng mệt mỏi: - Hỏng, hỏng quá... Không có cách gì để ghé vào bờ đây. - Anh ta trấn tĩnh ngay và ra lệnh: - Nghe đây, xuống ngay hầm tàu, ở đó có một người đàn bà và một cháu bé. Có lẽ bà ta bị gãy chân, vì phải nằm cáng. Giường của bà ta ở trong góc. Đến xem người ta mang bà ta ra chưa.
Còi tàu rúc lên những tiếng khàn khàn, kéo dài, tuyệt vọng. Người ta tưởng như những tiếng hú của một con quái vật thời thái cổ đang hấp hối. Nhưng Psê-nít-snưi không nghe thấy. Anh chạy xuống thang bốn bước một, rồi vào buồng công cộng. Những cuộn khói hăng hắc phụt ra. Cách một mét là không nhìn thấy gì nữa. anh cất tiếng gọi nhiều lần nhưng, hoặc vì tiếng còi tàu át tiếng của anh, hoặc vì gian phòng trống rỗng nên không có ai trả lời. Khói nhiều đến nỗi Psê-nít-snưi nhớ lại cảnh khói lửa trong chiến tranh, anh phải cúi xuống để thở.
- Có ai ở đây không?
Bây giờ, tiếng còi đã tắt, anh nghe tiếng rên. Anh bước lại và suýt vấp phải một người đàn bà nằm dưới đất, chân co lại một cách kỳ quặc.
- Mi-sa, Mi-sa ở chỗ kia... con tôi, con trai tôi ở chỗ kia - người đàn bà nói giọng thều thào, chỉ tay vào góc buồng.
Psê-nít-snưi sờ soạng trong bóng tối và vấp phải một người khác.
- Cẩn thận, tôi đang bế một cháu bé, - tiếng một người con gái nói. - Ra lối nào, dắt tôi lên boong! Tôi không thấy gì cả.
Không hỏi, Psê-nít-snưi bế cả cô gái lẫn em bé, đi loạng choạng giữa những ghế băng. Anh đặt họ xuống boong và dừng lại để thở, đầu tựa vào thành tàu lạnh buốt.
- Đứng đây, tôi chạy đi tìm mẹ nó.
- Tôi theo anh... Cháu Mi-sa, cháu đứng chờ ở đây nhé... Cháu đừng đi đâu cả, mẹ cháu sắp đi đến đây rồi, - cô gái nói với em bé. Mắt em bé mở to vì hoảng sợ, trắng bệch trên khuôn mặt ám khói. Cô gái đó là cô gái kéo đàn lúc tối, nhưng mặt cô như đã thay đổi mà Psê-nít-snưi không đoán ra được nguyên nhân. Họ chạy xuống cầu thang. Bỗng cô nắm lấy tay của Psê-nít-snưi:
- Khoan đã...
- Cái gì thế?
- Tôi không thấy gì cả.
- Mi-sa, con ơi! - Có tiếng kêu trong bóng tối. Người đàn bà đang bò ở cuối buồng, nghiến răng kèn kẹt.
- Bà ấy bị thương. Đỡ lấy chân! - Psê-nít-snưi nâng người đàn bà lên, ra lệnh.
Bế người đàn bà và dắt em bé, họ đi đến buồng của Psê-nít-snưi. Anh đạp cửa. Gan-na và các con đã mặc quần áo, ngồi nép vào nhau bên những chiếc va-li. Thấy Psê-nít-snưi và vật nặng trên tay, Gan-na kêu lên, nhưng chị trấn tĩnh được, và nhanh nhẹn trải chăn lên chiếc giường thấp.
- Để chị ta nằm đây. Nhè nhẹ tay. Chị ta làm sao đấy?
- Chân thế nào ấy. Chị ấy khó thở.
- Chạy đi gọi y tá. - Gan-na bảo con trai, rồi nói với con gái: - Đi lấy nước, con. Lấy bình nước trong phòng khách.
Người ta để người đàn bà nằm trên giường và mở cửa sổ cho thoáng.
- Cháy ở đâu đấy? - Gan-na vừa chăm sóc người bị thương vừa hỏi.
- Ở xa... đằng lái. Người ta đang dập lửa.
- Cái con bé quỷ sứ ấy vẫn chưa về! Còn chị, chị chờ cái gì nữa? Cầm lấy phích, rồi chạy đi lấy nước sôi. - Gan-na nghiêm khắc nói với cô gái mà bộ quần áo màu da cam bị đốt thủng nhiều chỗ.
- Tôi không thấy gì cả! Tôi đánh rơi mất kính rồi... Khiếp quá, thiếu tý nữa tôi chết ngạt mất.
Nước mắt chảy dòng dòng trên má cô. Thấy cô kiệt sức, run rẩy như vậy, người ta khó tưởng tượng được cô vừa xuống âm ty địa ngục để cứu em bé.
- Làm thế nào mà cô phát hiện ra nó? - Gan-na hỏi, một tay ôm ngang người cô gái, một tay bế em bé.
- Tôi để chiếc vĩ cầm của tôi ở đó... Thế rồi... Khiếp quá, tôi lại không biết bơi...
Lúc đó có một nữ y tá to béo chạy vào buồng với một chiếc xác-cốt to có hình chữ thập đỏ đính ở ngoài, cả 3 người tập trung chăm sóc cho người đàn bà bị nạn, Một lần nữa, gia đình Psê-nít-snưi lại hoạt động rất trật tự. Xa-sa đi tìm một tấm vải trải giường, Ni-na mang đến một chậu nước, nhúng các cuộn băng, và mọi người để hết tâm trí vào công việc, không chú ý đến tiếng kêu, tiếng chân giẫm hỗn loạn, tiếng còi rúc từ cửa sổ vào.
- Chẳng cháy đến đây đâu, người ta sẽ dập tắt... - Psê-nít-snưi sốt ruột, đứng ngoài cửa nói.
- Này, em biết rồi - vợ anh cười chế nhạo. - Anh đứng như vậy thì chạy đi giúp họ một tay có hơn không? Khi nào xong thì về, ở đây đủ rồi, anh thấy không? - Chị chỉ người đàn bà và em bé.
Psê-nít-snưi khó khăn lắm mới rẽ được một lối đi giữa những người tập trung giữa tàu, rồi đi lên boong, trời đã sáng rõ.
Ánh sáng màu cam của mặt trời mới mọc chiếu lên một hòn đảo dài và hẹp. Một làng lớn chạy dọc theo bờ đảo lồi lõm như một con rồng. Chiềc tàu "Éc-mác" đi về phía đó. Trong lúc chạy trên boong thượng về phía đám cháy, Psê-nít-snưi nghe tiếng một giọng giận dữ trên cầu tàu.
- Điên thật. Sự bướng bỉnh đần độn này sẽ giết hàng trăm mạng người! Anh có nghe tôi nói không? Anh phải chịu trách nhiệm về từng hành khách trước chính quyền Xô-viết. Về các nhân viên và con tàu... Thả neo ngay và cho ca-nô xuống.
Một giọng khác, nhỏ và yếu ớt như vọng lên từ đáy giếng, nói đơn giản hơn:
- Sang trái, Va-xi-a... Này, Côn-xtan-tin Xéc-gây-ê-vích, mở hết tốc lực đi, mở đi, hết tốc lực.
- Anh điên à? Anh là đồ giết người! Ghé vào bờ ngay! Anh có nghe tôi không? Tôi là Pê-tin! Đồng chí bí thư thứ nhất của tỉnh ủy đã nói với tôi về anh. Ở đây, tôi phải phụ trách hàng trăm người... Ghé vào bờ... các anh ở trong buồng lái kia, ghé vào bờ, nhanh lên!
Một giọng khàn khàn như từ dưới đáy giếng, vọng lên nhè nhẹ:
- Nào, chạy đi! - Và hạ thấp giọng hơn nữa: - Đi đi, Cô-xchi-a, lạy Chúa, còn cậu, Va-xi-a, hướng mũi tàu vào dải cát kia.
Dân cư trên đảo đã được con tàu báo động, hay ít ra họ cũng thấy con tàu bốc lửa. Những chấm đen di động trên con đường khúc khuỷu dẫn đến bến tàu. Người ta đã mở thuyền. Một chiếc máy kéo sơn đỏ, cao lênh khênh, kéo một chiếc xe gì đó đến chỗ một chiếc phà lớn. Nhưng đảo thì ở xa mà lửa đã lan đến giữa tàu, nơi để máy móc nhiên liệu. Những tiếng kêu ở dưới giọng khiếp sợ:
- Các anh còn đợi cái gì nữa?
- Ca-nô... bỏ ca-nô xuống... Các anh muốn quay chín chúng tôi à? Không à?... Đồ quái vật.
Một người đàn bà lên cơn động kinh, giẫy đành đạch.
Ở phía lái, cuộc chiến với lửa vẫn tiếp tục. Phó thuyền trưởng ngồi dưới sàn. Một bức vách đổ làm anh bị thương vào đầu. Máu chảy ròng ròng xuống dưới cổ áo sơ-mi và thấm vào áo vét-tông. Nhưng người mà các hành khách vừa chế nhạo vẫn ngồi tựa vào tường, tiếp tục ra lệnh. Một thanh niên nhỏ bé đôi mũ và mặc quần áo thủy thủ mang những tấm bạt ướt bảo vệ, lần lượt lao vào ngọn lửa hừng hực để điều khiển vòi nước vào giữa lòng đám cháy rừng rực. Ống dẫn nước nhỏ, bơm nước cũ kỹ, hoạt động không tốt. Nhiều nhất là dập được lửa trong phòng máy, chặn được lửa lan đến các buồng nhiên liệu. Toán thanh niên do Xiếc-mai tổ chức giúp đỡ đoàn thủy thủ hết sức mình. Họ đứng thành hai dãy dọc thành tàu, buộc xô múc nước lên, rồi chuyền tay nhau để người đứng gần đám cháy nhất hắt vào lửa. Psê-nít-snưi nhập vào bọn họ. Qua tiếng rú và tiếng kêu lách tách của những ngọn lửa, anh nghe một tiếng kêu thét lên. anh giật nảy mình: Gan-na? Không! Một người đàn bà khác đang kêu cứu.
Psê-nít-snưi vội chạy về phía tiếng kêu và suýt vấp phải Ma-mốt-xca. Lưng đeo một chiếc phao, tay xách va-li to, tay cầm đàn phong cầm, hắn đang đi lên boong tàu, mắt lơ láo. Đụng phải Psê-nít-snưi, hắn đi ngược trở lại. Ở boong trên, Đi-na Va-xi-li-ép-na Pê-ti-na đang đứng gần một đống hành lý. Thấy Psê-nít-snưi mà người ta giới thiệu với chị lúc ra đi, chị ngước đôi mắt xám nhìn anh.
- Nhà tôi, nhà tôi ở đâu? - Cặp mắt nhợt nhạt thì thầm. - Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích... anh ấy đi... Anh ấy không ở đây nữa... Một người tôi không biết là ai... giật mất phao cấp cứu của tôi. Tôi không biết bơi... Ở đây có sâu không? Sâu phải không?... Khiếp quá!... Nhà tôi đi đâu? Ít ra thì anh ấy không việc gì chứ?... Đừng có bỏ tôi, tôi van anh.
Chị bám vào cánh tay Psê-nít-snưi.
- Nào, nào, chúng ta sẽ tìm thấy anh ấy. Anh ấy đang chỉ huy ở trên boong... Bình tĩnh, tôi sẽ đem anh ấy đến cho chị.
Người đàn bà vẫn không buông tay. Chị run lên từ đầu đến chân. Psê-nít-snưi thương hại:
- Vả lại nước ở đây không sâu, và đám cháy sắp được dập tắt rồi. Chị vào buồng tôi đi. Gan-na sẽ làm cho chị yên tâm. Đồng ý chứ?
Vẫn bám vào cánh tay anh, Đi-na ngoan ngoãn bước theo anh. Buồng quá đông người. Đối diện với chiếc giường của người đàn bà bị gãy chân, trên một chiếc giường nhỏ khác, nhà chiều phim trẻ tuổi đang rên rỉ, nghiến răng kèn kẹt. Buồng của anh ta là nơi phát sinh đám cháy. Anh không hiểu lửa đã bắt đầu cháy như thế nào, anh chỉ thức dậy khi nhiều cuôn phim đã bốc lửa. Anh đã cố gắng dập lửa, anh đã vửt những hộp còn nguyên qua cửa sổ, nhưng bị ngạt thở, anh ngã xuống và suýt bị thiêu sống, nếu không có một thủy thủ chạy đến, phát hiện ra và cõng anh đi. Các bà, sau khi đã đặt anh nằm trên giường, cắt áo sơ mi và quần của anh. Người anh đầy những vết bỏng màu bồ quân. Gan-na và chị y tá lấy thuốc mỡ mùi khó ngửi trong chiếc thùng nhỏ và dùng bông đắp lên các vết bỏng. Anh thanh niên kêu la đau đớn úp mặt xuống gối.
Ngồi bệt xuống sàn, gần cửa ra vào, cô gái mặc quần áo da cam ôm chặt lấy đứa bé. Cả hai đều khóc. Nước mắt rạch những vệt trắng trên bộ mặt ám khói của họ.
Thảng thốt, oán giận Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích và cái tên khốn nạn đã lấy mất phao của mình, có lẽ lúc đầu Đi-na không nhìn thấy gì. Về sau, chị thấy tấm lưng trần của người bị nạn, cả thân hình bị hành hạ co dúm lại vì những bàn tay đang lay anh ta. Chị ngập ngừng, can thiệp vào:
- Các chị làm cái gì thế? Như vậy các chị làm tội làm tình anh ta.
Hai người đàn bà đưa cặp mắt mệt mỏi, nhìn chiếc quấn cắt ngắn, chiếc áo săng-đay sặc sỡ, bộ tóc uốn bọc quanh khuôn mặt mỏng.
- Các chị cho phép nhé! - Chị đột ngột đề nghị, và xắn tay áo lên, chị bỏ một ít thuốc mỡ vào bàn tay, nghiền nát ra, rồi xoa nhanh lên các vết bỏng. Một ống tay áo tuột xuống làm vướng chị. - Các chị đợi gì mà không vén lên hộ một tí? - Chị kêu lên.
Bàn tay nhỏ nhắn của chị với những ngón tay được chăm chút, móng tay cắt ngắn, làm rất cẩn thận và mỗi lúc thêm vững vàng. Gan-na làm theo lệnh của Đi-na.
- Y tá, lấy thêm thuốc... Đây là những vết bỏng cấp ba, phải bôi mỡ thật dày... Tại sao các chị lại nhìn tôi như vậy? Tôi là bác sĩ mà!
Đi-na yêu cầu quấn một chiếc khăn mặt quanh đầu mình để cho tóc khỏi xõa xuống mặt. Người ta làm ngay cho chị một chiếc blu bằng tấm vải trải giường buộc chéo ở sau lưng. Sau khi đã đắp gạc lên vết thương cho người đàn ông, chị lại bên người đàn bà đang rên khe khẽ trên một chiếc giường khác. Vải băng bị đứt, thạch cao bị nứt ra. Máu thấm qua chỗ nứt. Chị bảo Xa-sa vào buồng chị tìm chiếc thước chữ T của Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích. Người ta bẻ chiếc thước ra để nẹp và buộc vào bên chân gẫy.
Xa-sa báo tin tàu đang ghé vào đảo, nhiều chiếc thuyền câu đã đến, một chiếc xuống máy kéo và một chiếc phà to tướng chở một chiếc xe và những người lính cứu hỏa đội mũ đồng. Để hết tâm trí vào công việc, các bà phản ứng trước tin đó một cách khá kín đáo. Đi-na vừa bó nẹp cho nạn nhân vừa bảo:
- Tốt rồi! Chúng ta sẽ chuyển chị đến... - Không biết chuyển đi đâu, chị dừng lại. Nhưng rồi chị nói tiếp: - Đến bệnh viện đa khoa.
Đúng lúc ấy, máy của chiếc "Éc-mác" tắt hẳn. Trong sự im lặng đột ngột đó, người ta bỗng nghe tiếng lửa kêu lách tách, tiếng chiếc bơm cũ gầm gừ, tiếng gọi nhau lo lắng, tiếng bước chân vội vã. Một giọng sang sảng, không thật, vang trên loa phóng thanh:
- ... Chú ý! Những người ở trên thuyền, đừng cho thuyền vào bánh lái! Những người ở trên boong, đứng giãn ra!... Và một tỉếng kêu: - Cẩn thận!...
Vỏ tàu phát ra tiếng ken két, tiếp theo là tiếng răng rắc, tiếng ầm ầm, rồi im lặng. Chiếc "Éc-mác" cũ kỹ dạt vào một chỗ cạn với cả khối lượng đồ sộ của nó. Có người nào đó gào lên, một người khác văng tục. Những người đứng trên boong thấy thuyền trưởng to lớn cho đến lúc đó vẫn đứng im, hai chân giạng ra, gần lan can, trông như một pho tượng thể hiện tính bướng bỉnh của con người, hạ thấp chiếc loa cầm tay xuống và bước xuống cầu thang. Mũ cát-két cầm trong tay, ông đưa tay áo lên chiếc trán cạo nhẵn. Người thủy thủ dũng cảm đó bỗng biến thành một ông già yếu đuối chân run cầm cập.
Người điều khiển bánh lái cầm một bình nước chạy đến. Thuyền trưởng dốc ngược bĩnh mãi, rồi đổ chỗ nước còn lại lên đầu. Ông giơ chiếc loa bằng tôn lên, nhưng không đứng dậy.
- Hạ xuồng xuống nước! Cô-xức và Ma-tsen-cô hãy phụ trách việc vận tải... Ê, những người ở trên thuyền, hãy ghé lại gần thang, lần lượt từng người một! Chỉ ngồi sáu người một xuống thôi... Chấm dứt cái trò chen lấn nhau đi!
Rồi ông nói với người thân hình tầm thước, gầy và sạm nắng, mũi chim ưng, ngồi đằng sau một chiếc ca-nô:
- In-nô-ken-ti Xa-va-tê-ích, cảm ơn anh đã nghe tôi gọi... Tôi gào hết hơi, hy vọng anh đến giúp tôi... Này, các cậu thủy thủ trên chiếc phà kia, hãy ghé vào lái đi! Các đồng chí cứu hỏa! Đầu đội mũ đồng mà các đồng chí cũng không hiểu được trước hết phải lùi lửa ra xa máy.
Chiếc bơm lớn trên phà hoạt động. Hai thanh niên mặc quần áo lao động màu xanh và đội mũ đồng có ngù lấp lánh, vững vàng điều khiển những tia nước hướng vào những cửa sổ những căn buồng đang bốc cháy. Những khối nước mới này làm cho màu đỏ của lửa sẫm lại và biến thành những cuộn hơi nước bay tỏa lên trời.
- Này! Các cậu đang chuyển tải, đừng cho người ta xéo lên nhau! Cô-xức, cậu làm cái gì thế? Chú ý đến hành khách!
Những mệnh lệnh đó từ đây trở nên thừa. Người có chiếc mũi chim ưng bình tĩnh và nhanh nhẹn, điều hành những chiếc thuyền rất giỏi, còn Xiếc-mai tóc vàng, với chiếc mũ chuẩn úy trễ xuống bên tai một cách ngang tàng, và Psê-nít-snưi, anh kỹ sư vui nhộn, người góp phần tích cực nhất vào vụ chữa cháy này, đứng bên thang để giúp đỡ các thủy thủ.
- Đừng xuống tất cả cùng một lúc, không thể ai cũng xuống đầu tiên được... Phải biết điều chứ. - Psê-nít-snưi làm nhiệm vụ của người công an, nhẹ nhàng nhắc đi nhắc lại. Và giọng nói hài hước ấy, nụ cười hình như thường trực trên khuôn mặt tươi tắn ấy đã dẹp tất những ham muốn điên cuồng.
Hành khách được một cô gái đang đứng trên một chiếc thuyền tròng trành đón ở dưới, cô ta đi ủng cao su, mặc áo khoác bông, một chiếc khăn trùm đầu của bà già như thể để tăng thêm vẻ tươi tắn của khuôn mặt tròn trĩnh. Bím tóc màu hạt dẻ sáng mà trong lúc vội vàng cô quên quấn lại, giờ lủng lẳng trước ngực làm cô thêm vướng. Cô lắc đầu hất nó ra sau lưng. Đôi lông mày mượt của cô giao nhau ở phía trên sống mũi. Cô làm việc với một sự bình tĩnh hoàn toàn.
Vì cô đang định đỡ một cậu bé trên tay bà mẹ, nên bỗng nhiên cả đoàn bị ùn lại. Anh chàng to lớn có mái tóc trẻ con chen lấn dữ dội để lấn đến thang. Hắn cầm trong tay một chiếc va-li và một chiếc phong cầm. Xiếc-mai chưa kịp chặn hắn, thì hắn dùng cùi tay đẩy bà mẹ và em bé, leo xuống thang định nhảy xuống thuyền. Nhưng cô gái không đưa tay ra đón. Hắn nhảy ra phía sau thuyền, loạng choạng, cố gắng một cách tuyệt vọng để giữ thăng bằng rồi hét lên một tiếng. Rõ ràng là cô gái rụt tay về phía sau lưng. Anh chàng thanh niên rơi xuống nước, tay vẫn ôm của cải. Hắn ngập xuống nước, rồi lại nổi lên, kêu lên một tiếng, tiếng kêu đau đớn của một con thỏ bị chó vồ. Cô gái vẫn không thèm quay lại nhìn.
- Nào, bà mẹ, đưa cháu bé cho tôi.
- Hắn sắp chết đuối rồi đó! - Có người hoảng hốt, kêu lên. Những chiếc phao cấp cứu bay xuống sông.
- Chẳng có gì cả đâu, - cô gái bế cháu bé, thản nhiên trả lời. - Nước ở đây không sâu.
Thật vậy, nước chỉ ngập đến ngực gã to lớn đó. Vung chiếc va-li, mắt nhìn theo chiếc phong cầm đang trôi giạt đi, hắn hướng về chiếc tàu, về những chiếc thuyền và mọi người, kêu lên the thé:
- Bọn khốn nạn, rồi chúng mày sẽ phải trả giá đắt!
Đi-na đứng trên boong tàu, nhận ra hắn ngay. Chính hắn đã chiếm lấy chiếc phao của chị và trơ tráo nói: "Cho tôi, chị giữ chỉ tổ đánh mất!". Giờ đây nhìn thấy hắn đang thụp trong nước, thì chị lại nổi giận khi thấy những chiếc thuyền chở đầy khách tránh xa hắn, đi vào bờ.
- Các người không xấu hổ à?... Đồng chí, đồng chí, - chị gọi người có chiếc mũi chim ưng đang điều khiển việc đổ bộ. - Đồng chí hãy vớt hắn lên ca-nô của đồng chí. Hắn sắp chết đuối rồi!
- Cứt bao giờ cũng nổi cả! - Người kia cáu kỉnh phản đối.
Chính lúc đó chị nghe tiếng chồng chị, vừa vui sướng, vừa lo lắng, sửng sốt. Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích Pê-tin nhìn tấm vải trải giường đẫm máu dùng làm áo choàng cho vợ với con mắt hoảng hốt:
- Em làm sao thê? Bị thương à?
- Không... Em ở chỗ vợ chồng Psê-nít-snưi... Em chạy chữa chút ít cho những người bị thương.
- Thế đấy! - Pê-tin kêu lên, nhẹ nhõm, - anh tìm em khắp nơi... Và thế là em... Anh điên lên vì lo lắng...
- Nhưng em là bác sĩ - Chị trả lời như để xin lỗi.
- Anh Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích rất chi là hốt hoảng, - Psê-nít-snưi đến, nói với giọng hòa giải.
- Va-li kéo ra để trên boong, mà em thì không ở đó. Anh ngỡ có chuyện chẳng lành... Nào, cởi cái này ra ngay đi. - Pê-tin chỉ tấm vải trải giường vấy máu. I-u-ri và anh sẽ đưa em xuống ca-nô ngay không phải xếp hàng, điều này đã thỏa thuận trước với nhau rồi... Ồ, bàn tay em ở trong một tình trạng...
Khi người đàn bà mắt đen và những nạn nhân cần được cứu chữa đã đi xa, sự hoảng sợ lại xâm chiếm Đi-na. "Lửa... lửa vẫn chưa tắt... và những bình dầu hỏa... nếu làm sao". Không dám rời chồng, chị cởi tấm vải trải giường và lau bàn tay giây thuốc mỡ vào đó.
- Nhanh lên, nhanh lên, xuống thuyền. Anh dẫn em đi, em không biết bơi...
Lúc đó, một tiếng hú to đập dồn trên mặt nước và một chiếc tàu sơn đen, hình bàn là, vượt qua đảo. Một luồng khói kéo dài ở phía sau lái như dính vào ống khói ngắn nghiêng nghiêng. Đến ngang chiếc "Éc-mác", nó vòng lại một cách duyên dáng và ghé vào phía đón gió. Pê-tin nhận ra tên gọi ghi trên mạn tàu: "Ê-néc-ghê-tích" và trên phần lái uốn tròn: "Ôn-xtơ-rôi".
- Nó đến đón anh, đón chúng ta đấy. - Anh mừng quá reo lên.
Trong khi đó, chiếc loa phóng thanh trên tàu vang vang:
- Ê, những người trên tàu! Hãy giãn bớt phía lái ra, hãy đi ra khỏi mạn lái...
Trước khi đám hành khách tập hợp gần thang lùi lại được, một tia nước rất căng vọt xuống phần lái đang cháy, xô đổ ghế đẩu, ghế bành và quét hết các phao. Sức mạnh của tia nước làm sập đổ bức vách đã bị thiêu cháy. Một cuộn mây nóng bỏng, như từ ống khói của đầu máy hơi nước, bốc mạnh lên và một làn hơi trùm kín con tàu đang rung lên trước những tia cực mạnh của vòi phun nước.
- Mở toang các buồng đang cháy ra, - một giọng nói vang qua loa ra lệnh, và các thủy thủ này được cả một thác nước giội vào, không còn sợ đám cháy trùm quanh mình nữa, họ mang câu liêm vào các hành lang và dùng các tia nước dọn sạch đi. Các máy bơm từ con tàu nhỏ hoạt động mạnh đến mức khiến cả nỗi kinh hoàng của mọi người cũng phải dịu đi ngay lập tức cùng với ngọn lửa của đám cháy. Những con người tái nhợt, ngái ngủ, còn giật mình trước mỗi tiếng động mạnh giờ đây đã lặng lẽ tập trung cạnh các thang tàu. Những chiếc thuyền của nông trang viên, những chiếc ca-nô cấp cứu lùi ra một khoảng thích đáng. Chỗ những tia nước vọt qua tàu "Éc-mác"giội xuống, mặt nước như sôi lên.
Đến bây giờ, lúc đám cháy đã được dập tắt nhờ sự giúp đỡ tích cực đó, mọi người lại tập trung chú ý vào hai người đứng phía sau lái chiếc "bàn là". Họ không tham gia vào việc chữa cháy. Một người cao lớn, tóc nâu, đội một chiếc mũ cát-két to. Miệng ngậm píp, tay vịn lan can, ông nhìn vào mặt từng hành khách của chiếc tàu "Éc-mác" và thỉnh thoảng lại nghiêng mình sang phía bạn. Người này thấp, béo, to ngang, gần như vuông, khoác một chiếc áo choàng túi chéo và đội một chiếc cát-két lỗi thời, hất ra phía sau, trông như một chú bé ngang tàng. Đứng vững trên đôi chân ngắn, ông cũng đang chăm chú nhìn chiếc tàu thủy. Thấy Pê-tin và Đi-na, ông mỉm cười và vẫy tay:
- Gửi Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích lời chào bôn-sê-vích, - tiếng ông trong mà cao, trái hẳn với thân hình nặng nề của ông. - Kính chào chị.
- Anh chị đến thật quý hóa, - người đàn ông cao lớn nói thêm.
Bằng một động tác cẩu thả, ông đưa hai ngón tay lên thái dương, và với cách chào quân sự đó người ta cảm tưởng như ông đang mặc quân phục lính thủy.
- Đi-na, em thấy không, người ta đón tiếp chúng mình như thế đó... Ông ấy thân chinh đến.
- Lít-vi-nốp? - Người đàn bà nhìn người này sang người khác... - Người nào?
- Người thấp hơn.
- À! - Chị kêu lên, thất vọng.
Trí tưởng tượng của Đi-na hình dung ra một Lít-vi-nốp hoàn toàn khác với ông giám đốc công trường sông Ôn này, người được nhắc đến rất nhiều ở nhà và dọc đường. Chị chờ thấy một người mập mạp, chải chuốt, oai vệ, tiếng nói dõng dạc, một con sư tử già đời, còn người này trông giống như một đô vật về hưu. Một đồng chí tỉnh ủy viên đến đón họ ở Xta-rô-xi-biếc-xcơ nói rằng lúc khởi công, Lít-vi-nốp đã cho làm một tấm bảng bằng gang mang dòng chữ: "Sông Ôn, hãy đầu hàng những người bôn-sê-vích đi!". Sau đó, ông cùng nhiều toán thanh niên, ngồi máy bay lên thẳng, bay trên sông Ôn, đến chỗ thắt giữa hai bờ dốc lèn Kỳ diệu và mỏm Đầu bò để vứt bỏ tấm bảng xuống nơi sẽ xây dựng con đập tương lai. Pê-tin chỉ mỉm cười lúc nghe câu chuyện ấy. Còn Đi-na thì rất thích. Nhưng bây giờ chị không tin con người thấp lùn khoác áo blu-dông bằng da hải ly kia lại có ý nghĩ lãng mạn và ngộ nghĩnh đến thế. Có thể đây chỉ là một con người thích khua chuông giong trống, ưa kể chuyện tiếu lâm và hay thêu dệt... Và thật là bất công, nếu ông ta thì lãnh đạo công trường, còn Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích với trí tuệ minh mẫn và tư duy hiện đại của mình lại chỉ giữ vị trí thứ hai.
Lúc các vòi bơm dập tắt được đám cháy và phần lái bị tàn phá chỉ còn phát ra những tiếng lách tách của những tấm ván bị đốt thành than, chiếc "bàn là" di chuyển lại sát chiếc tàu "Éc-mác". Những ta có thể phân biệt được các khuôn mặt của những người ra đón. Mặt Lít-vi-nốp đấy đặn, cứng rắn với đôi gò má thô kệch. Trán hơi thấp và dô, mũi nhỏ và ngắn. Đôi mắt nhỏ, cách xa nhau, ở dưới đôi lông mày rậm màu xám vàng. Miệng to, mím chặt, cằm có một rãnh nhỏ làm cho đỡ nặng nề. "Một bộ mặt hết sức thô kệch! - Đi-na ngạc nhiên nhận xét. - Nhưng cái gì đã cho nó cái vẻ đặc biệt, ngạo nghễ, tinh ranh, thậm chí chua chát thế? Không nghi ngờ gì nữa, đó là những nếp nhăn sâu và uốn cong quanh miệng như một dấu ngoặc".
- Hoan hô, chị không sợ rừng tai-ga! - Ông kêu lên với giọng nhỏ nhẹ - tôi kính trọng các bà can đảm. Chị ở đây sẽ như nàng Bạch Tuyết giữa những Chú lùn... Với sự giúp đỡ của La-đô I-lích, ông huých khuỷu tay vào người bên cạnh, - tôi đã dựng cho anh chị một chiếc tăng sang trọng không kém gì khách sạn "Mê-tơ-rô-pôn" ở Mát-xcơ-va. Phải không, La-đô I-lích?
Người cao lớn tóc màu nâu điềm tĩnh mỉm cười. Đi-na nghĩ rằng La-đô I-lích không tán thành tính khí vui vẻ của Lít-vi-nốp và xưng hô suồng sã với người đàn bà mới gặp lần đầu. Cho nên chị đưa mắt cảm tạ con người có bộ mặt trái xoan mà bộ ria nhỏ và đen ở đó hình như thừa.
Lít-vi-nốp vẫn tiếp tục oang oang, không chú ý đến những hành khách khác.
- Tôi đánh cuộc rằng người ta đã kể cho chị nghe những chuyện khủng khiếp ở đây. Gấu đi dạo trên đường phố, không à? Đúng là có một con, vào mùa xuân, nó đói, cái con vật đáng thương ấy. Chính sự náo động của chúng tôi đã đánh thức nó trong hang đấy. Nó đã đánh xoáy một con cừu trên một chiếc xe trượt tuyết... Người ta không thấy nó đến nữa vì nó sợ công an... Có lẽ anh chị cho rằng ở đây không có công an? Có, cái đó không thiếu... Chúng ta là công trường xây dựng trên sông Ôn - "Ôn-xtơ-rôi", một cái tên đáng tự hào và nếu chưa ăn mòn thìa ở đây thì chưa nói được: "Ôn-xtơ-rôi".
Đi-na liếc nhìn chồng. Đứng đắn, dè dặt, ghét sự thân mật thái quá, rõ ràng anh đang mỉm cười một cách miễn cưỡng. "Ồ! Anh ấy mà giao thiệp với con người thô lỗ này thì thật là gay go đấy!". Mà chị cũng phải làm ra vẻ niềm nở: biết làm thế nào, dân tỉnh lẻ mà!
Trong lúc đó mặt trời đã lên.
Hòn đảo lớn, mà các thủy thủ và ngư dân tiếp tục chở dần các hành khách và đồ đạc của họ lên, phô ra trước mắt mọi người chiếc áo rừng màu nóng, màu đỏ thắm, màu nâu, màu hung, màu vàng tươi, đó đây điểm những ngọn thông màu xanh nhạt.
Các thủy thủ đưa chiếc cáng khiêng người đàn bà bị thương xuống ca-nô. Gan-na bận rộn, bế bé Mi-sa, còn Psê-nít-snưi và Xa-sa thì cầm sắc và các gói đồ mà bây giờ người đàn bà bị thương chú ý hơn là cái chân gãy của bà và con trai bà, Cái đêm khủng khiếp đó làm cho Đi-na gần gũi gia đình này. Chị đang định chạy đến đón họ, thì chiếc "bàn là" chạm phải mạn tàu chiếc "Éc-mác" làm cho nó chao đảo.
- Lại đây, em, người ta đang đời chúng mình, chồng chị dịu dàng nói và cầm lấy tay chị, rồi quay lại Psê-nít-snưi, anh nói: - I-u-ri, nếu không phiền anh nhiều quá, thì nhờ anh trông va-li giúp tôi.
Không chờ buộc dây thuyền, Lít-vi-nốp nhảy lên boong tàu "Éc-mác" một cách nhẹ nhàng không ngờ. Ông bắt tay Đi-na chặt đến mức chị suýt kêu lên, rồi ôm Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích và đặt lên má ba chiếc hôn theo tục lệ.
- Cảm ơn. Thiếu anh thật là gay go. Tôi phải một mình làm lấy mọi việc... Bây giờ đã bắt đầu rối tinh rối mù lên! - Ông đẩy người cao lớn tóc nâu về phía Pê-tin: - La-đô I-lích Ca-pa-nát-dê, bí thư đảng ủy của chúng ta, một cựu thủy binh. Tuần dương hạm của đồng chí ấy đã phải đem bán cho đồng nát. Đồng chí ấy chưa quen xoay sở trên đất liền, nhưng vẫn còn biết cách động viên mọi người, chứ chưa quên. Động viên ra trò đấy!
Ca-pa-nát-dê, lúc nào cũng tươi cười, mở tờ giấy lụa trên gói cầm tay. Đó là một bó hoa dại chọn rất nhã làm cho nó đẹp không kém gì hoa vườn.
- Đây là của La-ma-ra của tôi gửi tặng chị, - ông giải thích bằng giọng Gru-di-a không trộn vào đâu được và hôn tay Đi-na.
- Ồ! Chị ấy đáng yêu quá! Làm sao chị ấy có thì giờ hái những bông hoa này, vì các đồng chí đến đây để cứu chúng tôi kia mà?
- Không, chúng tôi đến chờ anh chị trên bến. Gri-sa, con trai tôi, đứng chờ với chúng tôi, nhưng tiếng SOS đã hủy mất cuộc tiếp đón long trọng.
Trong khi đó Lít-vi-nốp bắt đầu kiểm tra chiếc tàu và nói với thuyền trưởng lúc nào cũng đứng một chỗ. Rồi hai tay làm loa, ông nói cái gì đó với người có chiếc mũi chim ưng. Đi-na căng tai nghe.
- ... In-nô-ken-ti Xa-va-tê-ích, người ta bàn giao chị ấy cho anh đây. Hả, không lâu đâu... Anh nói gì? Không! Chị ấy có vẻ không khó chịu đâu.
Đi-na đỏ mặt. Làm sao ông ta lại dám nói thế chứ! Nhưng rồi chị làm lành với Lít-vi-nốp ngay.
- Không, tôi không nghĩ rằng chị sẽ có quá nhiều điều phiền muộn. Không phải người đàn bà nào cũng quyết định đi theo chồng "đến tận hầm sâu của miền Xi-bi-ri" như nàng quận chúa Vôn-côn-xcai-a(1) xưa kia.
Con người có bộ mặt nhìn nghiêng hình chim ưng mà người ta định đem bà giao chị là ai? Có lẽ đó là một thủ lĩnh địa phương. Ngư dân nghe lời ông ta. "Quận chúa Vôn-côn-xcai-a". Ông già hay khôi hài!... Đi-na nghĩ đến bài thơ của Nê-cra-xốp(2), đến người đàn bà kiên nghị đi khắp các thảo nguyên hoang vu và các nẻo đường của rừng tai-ga trên chiếc ki-bít-ka(3), sự hà hiếp dã man của quan tổng trấn tại nhà trạm... Quyền lực tuyệt đối của sắc đẹp phụ nữ... "Đúng là cái ông hình vuông này không ngây thơ đến thế. Nhưng ông ta sẽ gây khó khăn cho Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích!". Họ đứng bên nhau. Lít-vi-nốp nói không nghỉ, còn chồng chị thì kiên nhẫn gật đầu. Họ nói với nhau về cái gì vậy? À, về một kỹ sư tên là Nát-tô-tsi-ép. Cái tên buồn cười thật, nhưng chị đã nghe qua... Họ nói với nhau những gì?
- Tôi biết anh ấy, anh Phê-đo Gri-gô-ri-ê-vích ạ. Theo tôi thì anh ta không đứng đắn. - Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích nói.
Đôi lông mày rậm của Lít-vi-nốp rung rinh và dịch lên phía trên chiếc trán dô. Đôi mắt của ông, một màu xanh thẳm nhìn Pê-tin chăm chú, môi dưới căng ra.
- Các anh làm việc với nhau lâu rồi à?
- Chưa lâu lắm.
- Anh đã khổ sở vì miệng lưỡi của anh ấy phải không? - Nếp nhăn ngạo mạn quanh miệng càng rõ rệt.
- Miệng lưỡi của anh ấy? Không... Quan điểm của chúng tôi không giống nhau về những vấn đề nguyên tắc. Có lần, kỹ sư Nát-tô-tsi-ép quên rằng chúng ta đang sống trong một nước xã hội chủ nghĩa, và tôi, với tư cách là một đảng viên và là cấp trên của anh ấy, tôi phải làm cho anh ấy hiểu...
- Thôi được! - Những dấu ngoặc trên má lại sâu hơn. - Đừng phiền lòng, Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích ạ. Chúng ta sẽ không để cho anh ấy tái diễn, chúng ta sẽ có cách...
Lít-vi-nốp nói nghiêm túc, nhưng Đi-na thấy trong lời nói của ông một giọng ngạo mạn như giọng người lớn nói với trẻ con. Bỗng dưng chị nhớ là đã nghe chồng chị nhắc đến tên Nát-tô-tsi-ép lạ lùng. Hình như đó là một tùy tùng của Lít-vi-nốp, được ông ta kéo đi khắp nơi và còn định nâng lên hàng phó giám đốc... Trời, biết bao nhiêu sự phức tạp chờ đón Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích, với tính nết cương nghị và thận trọng của anh, với sự nghiêm khắc và thẳng thắn của anh.
Năm người, kể cả Psê-nít-snưi, rời con tàu bị nạn bước xuống chiếc ca-nô nhỏ do con người có bộ mặt chim ưng cầm lái. Hầu hết hành khách đã được chở lên đảo. Ở đó họ được sắp xếp lên những chiếc ôtô buýt lớn do công trường điều đến. Con tàu bị nạn giống như một đống tro tàn bị bỏ mặc đó. Có vài người đi đi lại lại trên mặt boong để tìm lại những đồ đạc bị thất lạc lúc nhốn nháo. Từ buồng tàu vọng ra tiếng của một người phụ nữ... Nỗi đau kinh hoàng vừa qua dường như còn lơ lửng đâu đây. Mùi cháy khét lẹt trùm lên con tàu. Đi-na cố không ngoái lại.
Lít-vi-nốp giới thiệu người ở bên chiếc ca-nô.
- In-nô-ken-ti Xa-va-tê-ích Xê-đức, chủ nhân đảo Cri-a-giôi, chủ nông trang "Người thợ cày đỏ".
Xê-đức, đội mũ cát-két bộ đội, mặc áo va-rơi, thắt lưng sĩ quan, lặng lẽ gật đầu. Mặt ông, vốn màu nâu, xám lại vì sống ngoài trời. Lúc ông bỏ mũ ra để ra hiệu cho người lái xe đang thận trọng cho chiếc xe to màu đen xuống bến, người ta thấy trên trán ông giới hạn rõ rệt của nước da rám nắng và những sợi bạc trong bộ tóc đen như sương giá bám trên than.
- Triệu phú, nhưng không ai keo kiệt bằng, - Lít-vi-nốp nói tiếp. - Anh ta bẻ đồng xu làm tư, như người ta nói. Còn câu lạc bộ, anh vẫn xây dựng chứ, In-nô-ken-ti Xa-va-tê-ích?
- Sau câu hỏi đơn giản đó, Đi-na đoán có một cái gì quan trọng hơn.
- Vâng, vâng, Phê-đo Gri-gô-ri-ê-vích... - Xê-đức trả lời, phật ý - Tôi xây dựng tất cả những gì nông trang cần và ban quản trị đã phê chuẩn.
- Anh không sợ lãng phí tiền bạc à?
- Ai sống cho ngày mai người ấy sẽ thấy.
- Tôn-sa không nhất trí. Anh ấy nói phải xây dựng ngay lập tức ở Nô-vô Cri-a-giôi...
- Đến hội nghị, chúng tôi sẽ cho anh ta xông giải cảm một trận cẩn thận.
Với bàn tay điêu luyện, hầu như không nhìn xuống nước, Xê-đức điều khiển ca-nô chạy lách giữa những chỗ nước cạn.
Đi-na không hiểu được ý nghĩa của cuộc tranh luận. Nhưng chị hiểu rằng giữa hai người này hoàn toàn khác nhau này - giám đốc một công trường khổng lồ và chủ tịch một nông trang trên đảo - có mối quan hệ chặt chẽ hơn sự quan hệ công tác yêu cầu.
Dọc cầu tàu bằng ván, gần đó có những chiếc thuyền tròng trành như những con cá mắc câu, một người thấp hơn, blu-dông da, tay cầm găng da, đang núng nính bước những bước chân rất mềm mại làm cho những tấm ván tuy oằn xuống mà vẫn không vỗ xuống nước. Mặt dày, mắt màu hạt dẻ, môi đỏ thắm, người đó có một vẻ hiền lành và láu lỉnh.
- Xin phép báo cáo, - anh đứng nghiêm trước mặt Lít-vi-nốp nói, người ta không biết anh làm như vậy là đùa hay thật. - Phòng của họ - anh ta hất đầu chỉ những người mới đến, - đã sẵn sàng. Gla-phi-ra đã chuẩn bị bữa trưa: canh cá, mằn thắn, bánh sữa thơm lựng. Chất đốt thả cửa. Đúng như chỉ thị.
- Xách chiếc va-li kia bỏ vào hòm xe. In-nô-ken-ti Xa-va-tê-ích sẽ cho người trẻ tuổi này đi cùng, - Lít-vi-nốp chỉ Psê-nít-snưi nói.
- Jawohl(4)! - Người đàn ông mặc áo blu-dông khóa sáng nói.
Khéo léo cắp hai chiếc va-li dưới nách, xách hai chiếc khác trong tay, anh ta nhanh nhẹn leo lên những bậc đất sét của bờ sông.
- Tài xế của tôi. Ai cũng gọi anh ta là Pê-tơ-rô-vích. Bản thân anh ta cũng quên mất họ tên. - Lít-vi-nốp trìu mến nhìn theo người lái xe đang khuất sau bờ đất. - Rất tháo vát và khi cần là có một giọng lạ lùng... Chốc nữa trong bữa cơm các bạn sẽ nghe anh ta nói...
Nói rồi, Lít-vi-nốp giơ bàn tay đầy lông, ngón tay ngắn ngủn cho Đi-na. Nhưng lúc ấy, Đi-na bước hụt chân. Chị kêu lên và chắc chắn sẽ ngã xuống nước, nếu không có đôi bàn tay sắt nắm lấy chị, nhấc chị lên một cách dễ dàng và đặt cẩn thận trên bờ sông phía bên kia cầu tàu. Chị còn như trong mộng thì Lít-vi-nốp như không có gì xảy ra, quay đầu vào cầu tàu để giúp đỡ Vi-a-tsét-sláp A-na-ê-vích, mặt tái xanh vì lo cho vợ.
Giám đốc công trường ngồi ở ghế trước xe, Pê-tơ-rô-vích vừa mở cửa cho Đi-na vừa nói, với cái nhìn vỗ về, quá vỗ về nữa:
- Bitte(5)!
 
 
Chú thích:
 
1. Vôn-côn-xcai-a Ma-ri-a Ni-cô-lai-ép-na (1805-1863), vợ của X.G. Vôn-côn-xki, người tham gia cuộc khởi nghĩa tháng Chạp và do đó bị tù khổ sai. Vôn-côn-xcai-a đã đi theo chồng đến Xi-bi-ri.
2. Nê-cra-xốp Ni-cô-lai A-lếch-xan-đrô-vích (1821-1877) - nhà thơ dân chủ Nga.
3. Ki-bít-ka - xe ngựa có mái che.
4. Jawohl - tiếng Đức nghĩa là "tuân lệnh".
5. Bitte - tiếng Đức nghĩa là "xin mời".
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-11 11:14:38Vân Trung Tử>
V

Chuyến bay từ Mát-xcơ-va đối với vợ chồng Pêtin, hầu như không có. Đi-na ngủ khi máy bay cất cánh và thức dậy khi máy bay lượn trên sân bay. Một phi công đã có tuổi tươi cười đứng trước cửa ca-bin.
- Chúng ta đã đến Xta-rô-xi-biếc-xcơ.
Hành khách lặng lẽ đứng dậy, như đến một ga nào đó ở ngoại ô Mát-xcơ-va, mặc áo mưa và cầm lấy hành lý xách tay. Không mỏi mệt, Đi-na đánh lại phấn, mỉm cười với những người không quen biết, dáng chắc nịch, đang chờ họ dưới thang. Hai ngày trên tàu "Éc-mác" cũng trôi qua một cách nhanh chóng, có thể nói như vậy. Chỉ ở hòn đảo Cri-a-giôi, trong một phòng nhỏ của nhà Xê-đức, đồ đạc lạ lùng, chị mới cảm thấy bị đem đến nơi cùng trời cuối đất: việc lấy lại đồng hồ bắt đầu làm chị khó chịu.
Đêm tối mịt. Chủ nhà ngủ đã lâu. Qua bức tường, nghe thấy tiếng thở của cô con gái Va-xi-li-xa, tiếng ngáy nhè nhẹ của cậu con trai I-van mà bố mẹ cậu lúc thì gọi là Va-ni-át-sca, lúc thì gọi là Van-sa, nhưng Đi-na vẫn không nhắm mắt được.
Mãi sáng ra, chị mới ngủ được và thức dậy lúc làng đã vắng vẻ. Lèn Kỳ diệu, trên đỉnh có một cây thông bù xù, in rõ nền trời xanh của ban trưa.
Chị thấy Va-xi-li-xa từ ngoài sông về và nhận ra cô ta ngay. Đó là một cô gái tóc vàng xinh đẹp có bím tóc dày, có nước da sáng, đã giúp chuyển tải hành khách và đã không đưa tay ra đón người đàn ông đã cướp giật của Đi-na chiếc phao cấp cứu.
Chị có thiện cảm ngay với cô gái, lúc thì quá thận trọng, lúc thì thật thà như trẻ con, lúc thì vui vẻ, lúc thì trầm tư, và Va-xi-li-xa chấp nhận với một tư thế đường hoàng, bình thản tình bạn mà người ta đem đến cho cô. Nếu gia đình Xê-đức ai cũng có nước da nâu, ai cũng hiếu động, thì cô là một "con sáo trắng" nói theo từ ngữ của cô. Dù cho bộ mặt của cô không chịu rám nắng, dù cho hai má cô nhuộm hồng rất thanh nhã, bàn tay cô vẫn to, da thô rám và nẻ ra ở đầu ngón tay.
Một cơn mưa dầm kéo dài từ sáng sớm và kéo dài suốt cả ngày. Mọi người không sang bên Da-rê-tsi-ê thu hoạch được. Đi-na ngồi cả ngày với Va-xi-li-xa và trong một ngày ngắn ngủi đó chị đã biết thêm nhiều về thiên nhiên Xi-bi-ri và về những tập quán của vùng này rõ đến mức trước mắt chị, một người con gái lớn lên từ miền Trung nước Nga, lại lớn lên ở trong lòng Mát-xcơ-va, hiện ra cả một thế giới mới lạ. Nhưng đến hôm sau cơn mưa bỗng tạnh đột ngột, như lúc nó bắt đầu vậy. Từ rạng sáng gia đình Xê-đức đã dùng xuồng máy bơi sang cánh đồng Da-rê-tsi-ê, và người phụ nữ trẻ phải ở lại nhà một mình trong ngôi làng hầu như vắng lặng.
Tuy nhiên, chị vẫn còn may. Ở cuối sân, trong một căn nhà thấp làm bằng thân cây thông to bóc trụi vỏ, với một cái cửa gỗ sơn có những hình cổ kính, rèn bằng sắt, có nhà khảo cổ vùng Xta-rô-xi-biếc-xcơ, đã đi cùng họ trên chiếc tàu "Éc-mác" bất hạnh.
- Xta-nít-xláp Xi-ghi-xmun-đô-vích Ô-ních, người láng giềng tình cờ của chị, - ông nói với cô gái Mát-xcơ-va, và phác một kiểu chào hết sức kính cẩn với một chân đi bốt cao su to tướng của ông. Ông phô ngay ra rằng ông là cháu nội của Ôn-đơ-ghi-ép-xki, một tù nhân Ba Lan bị đày và là cháu ngoại của Bê-xtu-giép trẻ, người đã tham gia cuộc khởi nghĩa tháng Chạp. Người ông Ba Lan, làm phóng viên cho các tờ báo tự do ở Vác-sa-va và Mát-xcơ-va, lấy bút danh là Ô-ních, nghĩa là người sống trên sông Ôn. Xta-nít-xláp Xi-ghi-xmun-đô-vích Ô-ních là người cuối cùng của dòng họ, vì ông vẫn chưa có vợ. Là nhà khảo cổ làm việc ở bảo tàng tỉnh, ông đã chuẩn bị một luận án về những người dân Nga đầu tiên khai khẩn ở đây. Bây giờ, ông vội vã thu thập mọi di tích của quá khứ trong lưu vực con sông, vì tất cả vùng này - ông quay lại để đưa bàn tay vẽ thành một vòng tròn chỉ các vật xung quanh - tất cả vùng này ít lâu nữa sẽ biến thành biển Xi-bi-ri.
- Đúng là nó sẽ không rộng bằng biển Ca-xpi, nhưng lớn hơn biển A-dốp. Đúng đấy, đúng như tôi đã nói với chị.
Người nhỏ, giống như khỉ, với một chiếc đầu hói bóng láng xung quanh có một vòng tóc xoăn chải chuốt, hay nói dai và nhiệt tình, Ô-ních là một người bạn lắm chuyện đến dễ sợ vì bản thân Va-xi-li-xa, tuy rất tò mò nhưng cũng phải tránh mặt ông. Nhưng Đi-na, ngày càng bị miền đất độc đáo này lôi cuốn, lại là một người nghe chuyện say mê nhất của ông...
Nơi xa, những động cơ của các xuồng máy của nông trang đã im tiếng. Đi-na ăn nhanh bữa sáng mà người ta để dành cho chị ở trên bàn, rồi đi qua ngôi nhà chính và các ngôi nhà phụ, ra chiếc sân che ván bốn bề kín mít. Ô-ních bỗng nhiên xuất hiện sau chiếc cửa bằng gỗ sến, lon xon đi đến, tay giấu một cái gì đó sau lưng.
- Chị Đi-na Va-si-li-ép-na, chị sắp bị xúc động hết nhẽ cho mà xem! - Ông giơ cánh tay và một "cái gì đó" té ra là một thanh sắt gỉ. - Một thanh đoản kiếm Mông Cổ thế kỷ XIII. Tôn-xa gửi cho tôi hôm qua. Lúc đào hầm, họ phát hiện ra một ngôi mộ cổ rất hay, mộ của một võ tướng nổi tiếng. Tôn-xa viết cho tôi...
- Tôn-xa là ai?
- Chị không biết anh ta à? Đó là nhà nông học của nông trang. Chính anh ta đã xây dựng Nôvô Cri-a-giôi bên bờ sông I-a-xtai-na.
- Nô-vô Cri-a-giôi là cái gì?
- Chị hỏi là cái gì à? Đã đến lúc chị phải biết. Đó là một làng kiểu mới, xã hội chủ nghĩa. Tất nhiên người ta không gọi nó như vậy. Người ta chỉ gọi nó một cách đơn giản là đội thanh niên "Người thợ cày đỏ". Chị hãy tưởng tượng rằng họ đã phát hiện ra một ngôi mộ cổ. Chưa bao giờ thấy một ngôi mộ cổ nào trong vùng này phong phú như thế... Tôi mới chỉ nhận được thanh đoản kiếm đẹp như thế này. - Ông nhìn thanh sắt gỉ với con mắt trìu mến. - Chị có biết anh ta đem đến cho tôi như thế nào không? Trong một bao súng săn lót dạ. Một thanh niên thông minh, một sự thông minh hiếm có, vâng... vâng...
- Ai cơ?
- À, chị lại chế nhạo tôi rồi! Anh ta chứ ai nữa? A-na-tô-li Xư-bô-tin, tức Tôn-xa, chồng chưa cưới của cô Va-xi-li-xa xinh đẹp của chúng ta. Tên Va-xi-li-xa rất hợp với cô ấy. Thực ra, chị Đi-na Va-si-li-ép-na ạ, tôi đã phạm một sai lầm nghiêm trọng: tôi chưa hôn bàn tay xinh xắn của chị, ông tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi.
Cẩn thận đặt thanh sắt gỉ lên sàn nhà, Ô-ních lau bàn tay phải vào tà áo khoác bằng vải thô kêu sột soạt và áp đôi môi dày nóng hổi lên bàn tay của Đi-na lâu hơn nghi lễ hiệp sĩ quy định.
- Hôm nay, nhân viên của tôi ra đồng cả. Xê-đức nói sắp có băng giá, nên huy động đến cả trẻ con. Kể từ các cháu học lớp năm. Việc khai quật phải tạm nghỉ, cho nên tôi hoàn toàn thuộc sự sai khiến của chị. Thật đấy, chị muốn tôi làm gì cứ bảo. - Ông lại cúi đầu chào trong sự sột soạt của chiếc áo mưa.
- Rất hân hạnh. - Đi-na thành thật trả lời.
Bên dòng sông Xi-bi-ri nước trong vắt và giá lạnh từ trên đỉnh núi Xai-an chảy xuống, nhanh đến nỗi nếu nhìn chăm chú thì cứ tưởng hòn đảo, giống như một con tàu, đang trôi ngược lên, trong có vài ngày người đàn bà trẻ đã có bao nhiêu là cảm tưởng; chị nhớ đến ngôi nhà ở Mát-xcơ-va, nơi cha mẹ chị ở, vào buổi tối, trước khi đắm mình trong hơi ấm của chiếc chăn bông. Mọi thứ ở đây đều khiến người ta phải ngạc nhiên vì quy mô của chúng. Điều bất ngờ ở ngay nơi cánh cổng được ghép theo kiểu cổ, chạm trổ hình nan quạt và được cài bằng một chiếc then nặng nề.
Hồi trước chiến tranh, khi còn là con gái, có lần Đi-na được đi cắm trại ở vùng ngoại ô Mát-xcơ-va. Sau khu nhà tập thể của công nhân nhà máy dệt Tơ-ri-go-rơ-nai-a Ma-nu-phác-tu-ra, nơi gia đình Đi-na có một căn phòng thì cảnh vật ở vùng ngoại ô đó đối với cô thật kỳ diệu: một con sông nhỏ bị những doi đất vàng chói cắt ngang, những đồng cỏ được rào lại bằng những cây sào, một khu rừng thông, những vạt rừng bạch dương vui tươi với những vòm lá mềm mại, lung linh khiến cô nhớ lại đám bạn gái trong buổi vũ hội tốt nghiệp ở trường phổ thông, không khí oi bức dưới những gốc thông cay nồng mùi cỏ lạ. Đi-na đi chân không, bàn chân bị đâm lỗ chỗ, mặc quần thể thao, khăn đỏ thắt ngoài cổ áo sơ-mi trắng, sẵn sàng chạy nhảy từ sáng sớm đến chiều tối trên mặt cát ẩm, trên lớp lá kim trơn tuồn tuột ở trong rừng, hít thở mùi nhựa thông, say sưa trước một chùm quả việt quất tươi mát, chưa chín mà mới chỉ bắt đầu chuyển sang màu hồng và sẵn sàng thức dậy từ lúc bình minh để ngắm nhìn những ngôi sao cuối cùng tắt đi trên bầu trời xanh nhạt. Thế giới cây rừng đối với cô lúc này sao mà hùng vĩ, chói lọi và hào phóng đến thế!
Nhưng đến đây, vùng Xi-bi-ri này, thì cái thế giới cây rừng lúc đó được tái hiện lại thật nhỏ bé và nghèo nàn quá thể.
Cri-a-giôi, hoàn toàn không giống như các làng mạc ở nước Nga với những ngôi nhà ghép bằng gỗ súc, còn ngôi nhà mà chị đang ở khác xa ngôi nhà ở làng quê chị. Đó không phải là một ngôi nhà mà là một mảnh sân có ván bao quanh lấy nhà cửa. Chỉ có mặt trước và cổng là nhìn ra đường phố. Ở bên phải là chuồng bò, bên trái là chuồng ngựa, ở trong cùng là nhà kho, nơi Ô-ních ở, gần nhà kho là một dãy nhà lợp bằng ván mỏng, cột bằng gỗ, ở đó hiện nay người ta phơi lưới và treo dụng cụ đánh cá. Tất cả đều chắc chắn, dùng được hàng thế kỷ. Cửa nào cũng có những đinh khuy to bằng sắt để móc các ống khóa. Khung cửa sổ, nóc nhà và cổng chính đều được chạm trổ một cách thô kệch.
- Một làng của các tín đồ cựu giáo, các chủ trại, - Ô-ních giải thích. - Mọi thứ của họ đều rất chắc chắn. Dân cư là con cháu của các tín đồ bị tù đày. Chị có nhớ những lời của nhà thơ Nê-cra-xốp không?
Ô-ních ngâm to:
Những người chống lại Nga hoàng
Bị đày tới chốn thâm sơn cùng cốc
Trên mảnh đất được cấp
Họ tự do làm ăn...
Một năm sau
Trước mặt các nhà chức trách,
Một làng hoàn chỉnh hiện ra,
Có nơi chứa thóc,
Có nhà để xe,
Có kho các thứ bộn bề,
Lò rèn vang tiếng búa bê sớm chiều...
Nửa thế kỷ dần trôi,
Thị trấn lớn ra đời.
Tự do, lao động của người,
Thật có uy quyền kỳ diệu...
- Vâng, vâng. Kỳ diệu. Chúng tôi, những người dân Xi-bi-ri gốc, chúng tôi là những con người đặc biệt, vững vàng. Chúng tôi không bao giờ biết sự nô lệ, dân chúng tôi sống tự do. Rồi có sự chọn lọc tự nhiên. Vâng, vâng, theo kiểu Đác-Uyn: người ốm, người yếu, người hèn nhát chết dọc đường. Chỉ có những người khỏe mạnh cả thể xác lẫn tâm hồn mới sinh cơ lập nghiệp được trên đất này.
Làng Cri-a-giôi trải dài theo dãy núi trên đảo. Các ngôi nhà-pháo đài, mặt trước được chạm trổ và quét sơn, đứng biệt lập nhau. Màu sơn đã bị gió mưa hủy hoại, có chỗ bị tróc ra, nhưng cả làng vẫn giữ nguyên vẻ tươm tất của nó, và ở cánh cổng của mỗi ngôi nhà, chủ nhân của nó thậm chí còn vẽ đậm hình bóng của một kỵ sĩ đội mũ lông cao đang thúc ngựa phi dọc sườn núi in trên nền trời xanh thẳm - đó là hình họa theo vỏ bao thuốc lá "Ca-dơ-bếch".
- Dù sao thì những hàng rào này, cửa ngõ này, then chốt này cũng hơi sầu thảm, - Đi-na nói. - Tôi thích những ngôi nhà gỗ của chúng tôi ở miền Trung nước Nga hơn; có vườn rào kín, có những cây dã anh, có bờ giậu thưa, có giếng thơi...
- Chị Đi-na Va-si-li-ép-na, thực tại quyết định ý thức. Một thực tại khó khăn. Trước kia, người nông dân ở đây đi đâu cũng mang theo một chiếc rìu. Đơn giản thôi, vì không còn cách nào khác. Chị cho tất cả các bài hát về những kẻ lang thang là dối trá cả à?... Chị biết không, chiếc quần đàn ông này rất hợp với chị, chị tha lỗi cho nhé. Tôi ghê sợ những người đàn bà mặc quần áo đàn ông, nhưng nó hợp với thân hình của chị lắm...
- Cám ơn lời khen của anh, nhưng hãy trở lại những người dân Xi-bi-ri...
- Một lời khen, trời! Đó chỉ là một sự nhận xét hoàn toàn chân thật, không phải chứng minh. Nếu ngày nay người ta còn đấu súng, thì một phần tư dân cư Đíp-nôi-ác-xcôi-ê sẽ phải "ngã trước mũi súng" vì sự xuất hiện của chị.
- Anh nói Va-xi-li-xa là một người có chồng chưa cưới?
- Ở nông trang, người ta nghĩ như vậy. Vâng, vâng, kể cả ông bố đáng trọng của cô ấy. Còn về ý nghĩ của cô ta, tôi không thể nói gì với chị được. Là một nhà sử học, tôi có thói quen chỉ phân tích những sự việc đã hoàn thành. Đối với In-nô-ken-ti, thì trước hết đó là một cuộc hôn nhân đã được xếp đặt sẵn. Tôn-xa là hai nhà nông học xuất sắc, con của một người bạn cũ. In-nô-ken-ti quả là mê anh chàng đó và muốn buộc anh ta vào nông trang "Người thợ cày đỏ", để rồi trao cho anh ta cả gậy chỉ huy lẫn quả địa cầu. Nhưng đó chỉ là giả thiết, không hơn không kém. Còn Va-xi-li-xa thì né tránh vấn đề. Cô ấy bảo tôi: "Năm năm đại học, từ đây đến đó, quê hương sẽ có bao nhiêu thành phố mới. Ai biết được việc gì sẽ xảy ra.". Nhưng bây giờ cô ta thi trượt môn tiếng Đức, vấn đề sẽ phải đặt lại.
- Chẳng lẽ người ta lại cưỡng ép cô ấy lấy chồng hay sao? - Đi-na hỏi. Câu chuyện của nhà khảo cổ làm chị hoảng sợ. Chị thấy cô gái ấy thật là khác thường.
- Có lẽ chị bị ảnh hưởng tiểu thuyết của Ma-min Xi-bi-ri-ác? - Ô-ních chế nhạo. - Chị nên biết đàn bà ở sông Ôn luôn được kính trọng, ngay cả thời xưa... Họ không nhiều, không cô nào sợ bị bỏ cả vì họ tìm ngay được người thay thế... Cưỡng ép?... - Ô-ních cười nấc lên làm cho trán chảy mồ hôi và mớ tóc xoăn nhảy lên. - Chị biết không, ở đây người ta dùng cách nhúng nước. Nếu một ông chồng cứ đánh vợ mãi, các bà láng giềng sẽ tập hợp nhau lại, bắt người chồng cho vào một chiếc túi buộc dây quanh người, rồi thả xuống một lỗ nước ngay giữa mùa đông. Một lần, hai lần, ba lần... Rồi người ta lôi anh ta ra, và mặc ai nấy chạy! Đúng là thuốc tiên. Vâng, vâng, đúng như tôi nói với chị. Người ta đã thiết lập ra quyền bình đẳng nam nữ mà không cần đến những ngày lễ mồng tám tháng Ba.
- Mắt cô ấy đẹp lắm, một màu xanh trong,. - Đi-na đăm chiêu nhận xét.
Đã hơn một giờ họ đi dọc phố hai bên có những ngôi nhà-pháo đài với những vườn rau ở phía sau, họ thấy ở đằng xa những đỉnh rừng chỉ một màu xanh nhạt và qua những thân cây lúc bên trái, lúc bên phải, họ thấy dòng sông lấp lánh.
- Mắt chị còn đẹp hơn! Ô-ních nói: - Tưởng như gương nước nhỏ trong vùng đầm lầy. Ở đây người ta gọi là "tsa-ru-xa". Một tấm gương nhỏ đáng tôn kính viền xanh, nhưng hễ đặt chân vào đó là bị sa lầy ngay.
Ngày hôm ấy, họ đến bên bờ đảo và thăm những vọng lâu của bộ binh thời I-van Hung bạo, những công trình đồ sộ bằng thân cây, có những lỗ châu mai. Họ trèo qua lỗ châu mai để vào phía trong vách gỗ, và nhà khảo cổ kể rằng sau này, khi biên giới của quốc gia Nga đã mở rộng về phía đông và đã được củng cố vững vàng, thì các tòa thành này bị biến thành các nhà tù, và ở nhiều thòi kỳ khác nhau, đó chính là nơi đày đọa những con người đã từng có tên tuổi trong lịch sử. Bấm chiếc đèn pin bỏ túi, Ô-ních soi sáng lên những thân gỗ đen, gần hai người ôm mới xuể được đẽo qua loa, làm hiện lên những mẫu tự Xla-vơ được khắc trên đó, cũng như những dòng chữ, những ký hiệu và những hình thánh giá của những người ly giáo đã bị lên meo. Đi-na chẳng hiểu gì cả, còn Ô-ních thì đọc to lên theo trí nhớ những dòng chữ đó. Ô-ních hy vọng rằng sau khi hoàn thành biển nhân tạo, người ta sẽ chuyển những vọng lâu đó cùng những công trình khác về Xta-rô-xi-biếc-xcơ để dựng trong một công viên trên bờ sông Ôn, cho các thế hệ sau chiêm ngưỡng.
- Nhưng chúng sẽ biến thành bụi hết, - Đi-na phản đối, mắt vẫn tò mò theo dõi chùm sáng của ngọn đèn pin. - Tất cả đều mục rữa thế này.
- Mục rữa à? - Ô-ních cười ầm lên, rồi lấy trong áo mưa sột soạt ra một chiếc rìu nhỏ, đưa cho Đi-na. - Chị hãy chém vào một chiếc cột, thật mạnh vào. Nào, chém đi, chém vào phía dưới thử xem.
Chị làm theo, cảm thấy cánh tay đau dội lên, tưởng như lưỡi rìu vừa chém phải một hòn đá. Nhà khảo cổ lại cười nấc lên:
- Đây là gỗ cây lạc diệp tùng! Thời gian và mưa nắng chỉ làm nó cứng thêm. Ở đây tất cả đều chắc chắn. Cụ Xa-va-tê-ích khập khiễng, thân sinh của In-nô-ken-ti, chị không biết cụ, hiện sống tại một trại nuôi ong. Mặc dù tuổi đã tám mươi, cách đây hai năm, cụ còn giết được một con gấu. Chính tôi đã được ăn thịt con gấu đó. Vâng, vâng, tôi đã ăn...
Họ trở về lúc mặt trời lặn sau lèn Kỳ diệu. Bờ dốc như dát vàng từ chân đến đỉnh, ở đó, Đi-na nhận ra rằng cây thông bù xù giống như một đám mây nhỏ, đen và im lặng.
Mọi người đã về nhà. Qua cửa sổ để mở, người ta thấy bộ mặt tiều tụy với nước da màu nâu và đôi má ửng đỏ của Gla-phi-ra. Xê-đức nói ở máy điện thoại: "... Chúng tôi sẽ không phụ lòng tin, vâng, sẽ không phụ lòng tin! Chỉ mong sao không bị quấy rầy, và được lấy vài ngày không bị người khác chỉ huy... Những gì chúng tôi đã cam kết - đều sẽ nộp đủ... Vượt mức à? Chà, tôi không hề hứa là sẽ nộp vượt mức. Hừ! "Người thợ cày đỏ" sẽ không bao giờ làm thay những kẻ ngay lưng khác đâu. Không bao giờ, tôi nói vậy đấy". Va-xi-li-xa cởi săng-đay và áo cánh, rửa ráy trong một chiếc chậu bằng đất nung trước bậc thềm. Ô-ních đứng ngắm những đường nét của chiếc cổ, đường cong của hai vai và đôi cánh tay tròn trĩnh của cô. Tâm trí để vào sự tắm gội, cô không để ý, nhưng khi bắt gặp cái nhìn ngẩn ngơ của ông ta, cô vội vàng lấy khăn mặt phủ lên vai và quát:
- Cút đi!
Trước sự ngạc nhiên của Đi-na, con người lắm mồm đó đã ngoan ngoãn, lon ton bước về phía nhà kho của mình.
- Đồ chuột beo! - Cô gái khinh bỉ nói, rồi cô biến đổi bộ mặt xinh đẹp của cô, nhe răng ra để bắt chước.
- Chuột beo là gì?
- Là một con vật bé nhỏ. - Va-xi-li-xa giải thích, và một lần nữa Đi-na phát hiện ra khả năng của cô so sánh những người quanh mình với những con thú trong rừng, với chim muông và gia súc... Cho nên, cô đã gọi Gla-phi-ra là "vạc", Pê-tơ-rô-vích là "chồn", vì đến mùa thu con chồn béo đến mức không buồn gãi nữa và rất phàm ăn.
- Còn tôi thì giống con gì? - Đi-na đi cùng cô vào nhà và hỏi.
Va-xi-li-xa tươi tắn, hồng hào, treo chiếc khăn lên móc, để xà-phòng và bàn chải lên bàn, rồi nhìn người phụ nữ Mát-xcơ-va, một ánh ranh mãnh ẩn trong đáy mắt xanh. "Không, Ni-cô-lai Cu-dơ-mích, đó không phải là lý sự. - In-nô-ken-ti Xê-đức hét vào ống nói, - người thì cầm cày, kẻ thì cầm thìa, thế là cái chủ nghĩa xã hội gì? Chủ nghĩa xã hội, đó là khi mọi việc phải tính theo lao động. Tôi đã học và tôi biết... Không phải tôi, không phải tôi, mà chính những người viết thông báo của các đồng chí đã làm hỏng các nông trang bằng những con số bình quân đó. Tôi sẽ giao nộp những thứ bằng đúng những điều cam kết, còn hơn thế - thì xin miễn thứ cho. Tôi còn phải xây dựng cho mình nữa chứ. Huyện ủy ấy à? Thì đồng chí cứ mời lên huyện ủy. Có điều là tôi biết cả đường lên tỉnh ủy nữa...". Xê-đức đặt ống nói xuống và giận dữ nhổ nước bọt.
- Lại bị bắt nộp thay cho bọn ngay lưng, hả bố? - Va-xi-li-xa vừa hỏi, vừa lấy chiếc giẻ tẩm dầu hỏa lau tay đầy dầu mỡ đen ngòm.
- Không phải việc của mày. Hãy tập im lặng đi. Ông nội nói rất đúng. Kẻ nói là kẻ gieo, người nghe là người gật. Tốt nhất là hãy giúp bác Gla-phi-ra khiêng cái nồi gang kia kìa.
Va-xi-li-xa vẫn mải nhìn Đi-na, còn chị thì đang chờ. Không biết vì sao chị cứ muốn nghe xem cô gái đó bảo chị giống con gì.
- Thế nào?
- Chị không ghét em chứ?... Em không thể nói với chị. - Và Va-xi-li-xa lấy trong tủ đựng đồ ăn ra đĩa, thìa, nĩa, tiêu, muối...
Chiều thứ bảy, Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích ở công trường về. Lúc anh hiện ra trước cửa, mặt Đi-na như nở hoa. Chị dẫn chồng đi thăm làng, kể cho anh nghe những điều mà chị đã nghe được ở Ô-ních và Va-xi-li-xa. Lo nghĩ về công việc của mình, anh nghe vợ nói chuyện một cách lơ đãng. Sau đó họ ngồi dưới gốc thông, ngay dưới bờ dốc đứng, trên những rễ cây xù xì, ngắm cảnh hoàng hôn êm ả báo hiệu ngày mai sẽ đẹp trời. Lũ muỗi dồn cục lại trên không. Đi-na cứ nói luôn miệng, còn chồng chị thì chẳng ra nghe, chẳng ra không, những nếp nhăn hiện rõ trên trán anh.
- Còn công việc của anh không làm cho em thích tí nào à?
- Có chứ. Anh ở như thế nào? Những người cộng tác mới của anh ra sao? Và cái ông Lít-vi-nốp buồn cười ấy nữa?
- Ông ấy chẳng buồn cười em ạ... Anh vẫn chưa biết ông ta là người thế nào, nhưng có một điều chắc chắn: trong các công việc hành chính, đó là một tay chơi cờ tính trước được năm nước đi.
- Sao? Lại thủ đoạn à? - Đi-na hỏi, lo lắng. - Những ông già lúc sắp chết lúc nào cũng đầy rẫy tự ái, họ sợ bị lấn át... Có phải thế không?... Phải cẩn thận anh ạ.
- Không... bây giờ thì ông ta chưa làm khó dễ gì anh, - Pêtin nhếch mép cười. - Ông ta cần anh. Nhưng I-u-ri Psê-nít-xnưi nói, ông ta muốn tự bồi dưỡng bằng cách biến những suy nghĩ của anh thành những suy nghĩ của ông ta. Ông ta rất dễ dàng. Ông ta ứng tiền trước cho anh. Nhưng khi anh xuất trình danh sách những người mà anh cần ở đây, ông ta nói: "Tôi không thể chịu được những cán bộ kéo theo những cái đuôi...". Tuy nhiên, ông ta cũng chấp nhận I-u-ri, Gu-ri-a-nốp và Vla-xốp là những người vừa mới đến. Này, I-u-ri bắt chước ông ta tuyệt lắm. Rồi em sẽ thấy.
- Còn chiếc tăng sang trọng của chúng ta?
Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích mỉm cười.
- Về tiết mục này thì Lít-vi-nốp rất giỏi. Người ta vừa làm xong cho ông ta một ngôi nhà nhỏ, ông ta liền có một cử chỉ hào hiệp: nhường cho chúng ta và đến ở trong nhà bạt. Ít ra là anh được lệnh truyền đạt với em điều đó với cả tấm lòng kính trọng  của ông ấy.
- Thế thì ông ấy dễ thương đấy chứ?
- Dễ thương? Em chỉ là trẻ con, Đi-na ạ. - Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích vuốt ve mái tóc vợ. - Chúng ta sẽ không phải là những người mác-xít, nếu chúng ta không nhận ra cơ sở hạ tầng dưới cái vỏ kiến trúc thượng tầng dễ thương đó. Mà cái cơ sở hạ tầng đó thì có thật. Ông Lít-vi-nốp đó có tham vọng xây dựng một thành phố xhcn để quảng cáo: Đíp-nôi-ác-xcôi-ê với những đại lộ, những quảng trường, sân vận động, thậm chí cả xe điện. Đúng, xe điện giữa rừng tai-ga. Và nói chính xác, ông ta chẳng làm được cái gì ra hồn cả. Để khỏi phải chịu tội về những ý nghĩ ngông cuồng của mình, ông muốn sống qua mùa đông trong chiếc lều bạt của thành phố Xanh, "không xa rời quần chúng". Âm mưu: tôi sẽ chia sẽ những sự gian lao vất vả với những người của tôi... Và với cử chỉ hào hiệp của ông ta, ông ta tưởng rằng người ta sẽ cho đó là biểu hiện của lòng kính trọng của ông ta đối với em.
Những lời nói có ý nghĩa ấy, đúng như vậy. Nhưng Đi-na lấy làm tiếc về suy nghĩ của chồng mình. Còn Pêtin, anh tỏ ra dễ thương, quan tâm, tử tế đối với người chủ nhà và anh ở lại nhà chủ đêm đó. Chiếc đệm lông của gia đình Xê-đức được đem trải trên sàn nhà. Đi-na ngủ một giấc ngon lành và chỉ thức dậy sau khi chồng chị và chủ nhà đã đi làm. Chị thấy một mẩu giấy trên bàn: "Công việc cần anh. Cố gắng dọn nhà nhanh. Tối nào anh cũng sẽ gọi điện cho em. Đừng lo cho anh. Không có khó khăn nào mà người bôn-sê-vích không vượt qua được..."
Tối đến, trên những chiếc phà chở nông trang viên ở bờ bên kia về, Đi-na tiếp tục câu chuyện bỏ dở với Va-xi-li-xa.
- Thế nhà tôi giống con gì?
Cô gái mệt mỏi không chịu ăn cơm. Rõ ràng cô phải cố gắng lắm mới nở được một nụ cười.
- Anh ấy thì em không biết, còn chị, để chị khỏi giận... Chị giống con mèo con, một con mèo xinh xắn mà ai cũng muốn vuốt ve.
- Một con mèo con? - Đi-na im lặng, phân vân.
- Chị lại giận em rồi, - Va-xi-li-xa uể oải nói. Cô đứng dậy, vươn vai: Chúc chị ngủ ngon. Em sẽ ngủ một giấc như thế nào đây...
"Một con mèo con, cô ta tìm đâu ra thế không biết?". Đi-na trầm ngâm trở về chiếc đệm lông của mình.
Lần về thăm ngắn ngủi này của chồng chị đã gợi lên nhiều suy nghĩ, chị không ngủ được. Năm năm sống chung với nhau, họ chưa bao giờ xa nhau lâu. Và bây giờ, chị thấy vắng chồng: một sự trống trải hình thành, không gì bù đắp được và ngày càng thấm thía.
Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích Pêtin đi vào cuộc đời chị lúc chị còn là một cô bé. Chị và mẹ chị gần như đã cùng một lúc nhận được hai giấy báo tử: Va-xi-li và Vla-đi-mia Da-kha-rốp, một người là binh nhất, một người là binh nhì trong quân đội tự vệ Mát-xcơ-va, cả hai đều hy sinh trong những trận chiến đấu quanh Vi-a-dơ-ma. Đi-na còn chưa kịp tin là cha và anh mình đã hy sinh thì một quả bom Đức một góc ngôi nhà ở to lớn của công nhân dệt, nơi có căn phòng của gia đình chị.
Trong chiến tranh, ở Mát-xcơ-va, những người bị nạn được phân phối vào các nhà bỏ không. Bà thợ dệt và cô con gái được nhận chìa khóa nhà ở của một kỹ sư đi sơ tán đâu đó với học viện. Họ ở gian phòng của người phục vụ của chủ nhà. Nhà máy trang bị cho họ hai giường sắt, một đôi ghế đẩu, một cái bàn và một cái tủ. Gia đình cô đơn này, dù không có đủ mọi tiện nghi, cũng coi như là hạnh phúc, nếu không có sự lo lắng một ngày kia chủ nhà sẽ trở về. Hoàn toàn không biết gì về ông chủ đó, họ có ác cảm với ông, và chuẩn bị để chống lại, để khiếu nại nếu ông đuổi họ...
Ngập trong hơi ấm của chiếc đệm lông, Đi-na nhớ lại lần xuất hiện đầu tiên của người chồng tương lai.
Một hôm, lúc ở nhà ăn về, họ mở cửa ra và đứng lặng đi: có ánh sáng ở lối vào. Những chiếc va-li, một cái giá treo áo măng-tô, những chiếc hòm chống vào một góc rất trật tự. Một mùi thịt lợn hộp thơm bay trong không khí. Ông ấy đã về.
Ông chủ ở trong buồng tắm ra và bước lại đón họ. Anh mặc một chiếc áo choàng sặc sỡ, chân không bít tất đi một đôi dép, mặt cạo nhẵn, tóc chải mượt, thơm mùi xà-phòng trước chiến tranh.
- A, ra bà và cô ở nhà tôi? - Giọng nói bình tĩnh dễ thương làm họ ngạc nhiên. - Chào bà và cô, tôi là Pêtin, Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích Pêtin. Rất hân hạnh được làm quen với bà và cô...
Hôm nay, sau bao nhiêu năm tháng, Đi-na vẫn nhớ lại giây phút ngắn ngủi đầy cảm kích ấy. Sau đó, mẹ chị xuống bếp pha chè Gru-di-a hảo hạng mà bà đã trân trọng gói cẩn thận và cất dưới đệm nằm. Anh lấy ra những quả mơ khô và biếu Đi-na một tấm sô-cô-la "Dô-lô-tôi I-a-rơ-lức". Bà mẹ nói rằng sẽ không ở mãi ở đây: bà và con gái sẽ dọn đi ngay khi nhà máy dệt "Tơ-ri-go-rơ-nai-a Ma-nu-phác-tu-ra" làm xong nhà ở cho công nhân.
- Tại sao lại đi? - Anh trả lời. - Tôi có thể bắt bà và cô dọn đi ngay, tất nhiên là thế, vì chức vụ của tôi cho phép tôi được ở một mình một nhà. Nhưng để mà làm gì? Chiến tranh mà. Chúng ta phải giúp đỡ nhau hết sức mình. Vì vậy tôi rất sung sướng được giúp ích cho bà và cô... Bà và cô cứ ở đây cho đến hết chiến tranh, sau đó... Nhưng bây giờ chưa hết chiến tranh, chẳng bao lâu nữa tôi sẽ nhập ngũ, chắc chắn là như vậy.
Bà mẹ và cô con gái chấp nhận với lòng biết ơn... Đúng là sau đó Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích nhập ngũ. Anh đi ra tiền tuyến. Theo nguyên tắc, phòng của anh phải khóa lại, nhưng hai mẹ con vẫn quét bụi và tưới các cây hoa trong đó. Sau chiến tranh, chủ nhà phục vụ cho một đơn vị đóng ở xa. Nhưng anh có thể bất thần trở về, tra chìa khóa vào ổ, với lòng tin sẽ tìm thấy ngôi nhà sạch sẽ và mến khách, thấy sự ân cần của một người đàn bà tóc đã hoa râm có giọng nói mạnh mẽ và thấy đôi mắt xám mơ màng của một cô gái tóc hung hay trộm nhìn anh và đỏ mặt lên lúc anh nói với cô.
Gà gáy trong đêm khuya. Gợi lại các kỷ niệm đó, Đi-na có cảm tưởng Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích không già đi, anh không hề thay đổi kể từ ngày anh chào chị lần đầu. Trái lại, trước con mắt anh, chị đã thay đổi. Cô bé khỏe mạnh có khuôn mặt tròn trĩnh, có bộ tóc dày màu hung, có đôi mắt xám, hơi xếch theo kiểu Á Đông, đã trở thành một thiếu nữ bẽn lẽn, chân tay quá dài, rồi sau đó là một cô gái nhu mì mảnh dẻ, duyên dáng theo học trường đại học y khoa.
Đăng nhập để trả lời
0
VI
 
Từ nhỏ, chị đã quen coi Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích như một người bà con có vị trí giữa người anh cả và người chú, một người cùng chia sẻ với mình sự vui đùa và chuyện phiếm, một người dìu dắt, một người bạn tâm tình... Lạy Chúa, chị thật dại dột, đã có lần chị thú nhận với anh về nỗi đau khổ của... trái tim. Thật lạ lùng, con người vốn bình tĩnh và dè dặt đó xúc động, gắt gỏng, buồn rầu. "Phải chăng anh động lòng trắc ẩn", - chị nghĩ thế. Về sau, khi anh mang đến cho chị một cành trinh nữ, khi anh đem quà tặng nhân kỷ niệm ngày sinh của chị, - một đôi giày, một chiếc đồng hồ đeo tay, một cái trâm cài đầu, - khi anh mời chị đi dự hòa nhạc hay đi xem bóng đá, chị chỉ cho đó là sự biểu lộ của lòng tốt tự nhiên. Đôi khi, anh đem xe đến đón chị ở học viện để đưa chị đến nhà hát hoặc hiệu ăn. Chị không giận mà còn thích thú khi các bạn gọi Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích là "người của mày".
Bà mẹ thở dài, hoảng sợ, nổi giận. Bà bảo con gái rằng đã đến lúc phải thoát khỏi sự săn sóc của anh và nghĩ đến hậu quả có thể xảy ra, đến những nguy hiểm mà chị sẽ gặp phải. Nhưng nguy hiểm gì? Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích, con người rất ân cần, và phong nhã đến mức hơi buồn cười, người chú tốt bụng, người anh cả thông minh đó có thể làm điều gì có hại cho chị... Lúc nhảy với chị ở hiệu ăn có đủ hạng người, anh dẫn dắt chị như dẫn dắt một nàng công chúa trong chuyện cổ tích, chứ không phải là một nữ sinh đại học chen chúc trong các giảng đường... Cho đến một hôm, lúc ngồi cùng xe về nhà, anh lấy một lý do nào đó để cất tấm kính giữa ghế trước và chiếc băng ở ghế sau, cầm lấy tay chị và thú nhận rằng anh yêu chị từ lâu, hy vọng cưới chị, thì chị bối rối và trả lời vụng về:
- Còn việc học của em thì sao?... Vả lại em sẽ là một người vợ vụng về. Mẹ em bảo em không biết làm gì cả...
- Đối với anh, em sẽ là người vợ lý tưởng. Anh hứa với em rằng anh sẽ bồi dưỡng cho em thành một người vợ lý tưởng. Chúng ta sẽ sống hạnh phúc...
... Chiếc đồng hồ trên tường gõ tích tắc! Hai con dế thi nhau kêu ở hai đầu ngôi nhà gỗ... Hạnh phúc! Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích lúc nào cũng đúng. Và mặc dầu những tuần lễ đầu sau ngày cưới, chị không dám vào phòng anh, nếu không gõ cửa và giật mình mỗi khi xưng hô với anh một cách tôn kính, anh vẫn bằng lòng. Chị trở thành một người vợ hiền, nhưng cũng phải hy sinh một vài điều, đó là chuyện tất nhiên. Chồng chị phản đối chị đi làm ở bệnh viện đa khoa của khu phố sau khi tốt nghiệp. Anh nói chị có thể chờ một chỗ tốt hơn. Anh hứa sẽ chạy chọt cho chị. Nhưng chẳng có gì xảy ra, chị vùi mình vào công việc nội trợ... Rồi chị cũng có một việc làm ở bệnh viện. Vừa lúc đó có dịp đi Đức dài hạn... Các bạn của Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích khuyên chị nên theo học lớp ngoại ngữ để nắm thật vững tiếng Đức. Người ta đánh xe đem chị đến lớp học. Chị học chăm và tốt nghiệp trước kỳ hạn. Khi chị nhận bằng "loại giỏi" - việc này làm chị rất hãnh diện, thì đoàn đi Đức bị hủy bỏ... "Nói thực, không phải là nghề nghiệp đè lên vai", - trước đó, bố Đi-na hay nói như vậy. Tấm bằng thứ hai đến gặp tấm bằng thứ nhất ở trong hòm... Mặc, rồi cũng dùng được... Trái lại, Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích hãnh diện có một bà vợ thông thái!... Và lúc người đàn ông dũng cảm và tận tụy ấy nói với chị như để hỏi ý kiến... rằng anh muốn đi Xi-bi-ri, vào rừng tai-ga, trên tuyến đầu xây dựng chủ nghĩa cộng sản, thì chị không ngập ngừng nói:
- Em đi theo anh!
Bây giờ anh ở công trường, công việc ngập đầu, chịu đựng vất vả, không tiện nghi, xa cách vợ, trong lúc đó thì chị ngồi dưng ở Cri-a-giôi như về nông thôn nghỉ mát, không giúp đỡ gì được anh. Có cần phải xa mẹ, rời bỏ mx, bay đến cuối trời, để đi lang thang từ sáng tới chiều giữa những người xa lạ mà ai cũng có nhiệm vụ của người nấy không?
- Ôi, nóng, - chị nói to và lật chiếc gối đến bao nhiêu lần không biết nữa. - Không có cách nào ngủ được.
Chị nhảy khỏi giường và mở toang cửa sổ. Không khí tươi mát của mùa thu thoang thoảng mùi phân bón và ét-xăng, đầy lùi ý nghĩ lo lắng của chị. Đi-na kéo chăn và ngủ thiếp đi. Lúc thức dậy vào buổi sáng, chị nghe thấy tiếng nói rất gần vang lên ngay bên cửa sổ.
- Thiếu anh thật là gay go, anh Pa-ven Va-xi-li-ê-vích ạ! Cứ như là anh đã chặt mất cánh tay phải của tôi, - tiếng của In-nô-ken-ti Xê-đức nói. - Đi-ê-den đem về, phải cho nó chạy, mà chúng tôi thì cứ loanh quanh như mèo cạnh đĩa cháo nóng. Va-ni-a đã thử mở hòm, nhưng tôi củng vào đầu nó: thôi đi, đừng có sờ vào nó trước khi Pa-ven Va-xi-li-ê-vích về... Cám ơn anh về không chậm quá.
- Ồ!... Chính tôi phải cảm ơn anh, - một giọng trả lời, hơi khàn, hình như quen thuộc với Đi-na. Nhưng anh không cho Va-ni-a sờ vào máy Đi-ê-den là sai lầm. Nó có mọi khả năng của một người thợ máy, nó hay tôi cũng thế...
- Còn xem đã, Pa-ven Va-xi-li-ê-vích ạ. Pho tượng và cái xẻng đều bằng gỗ cả, nhưng tượng thì để cầu nguyện, mà xẻng thì để xúc phân... Nào, anh đã thấy ông ta rồi chứ, ông Pê-tin ấy?
- Vâng, ông ấy ở trong nhà anh đi ra xe, - người lạ trả lời và thở dài. - Ông ấy vẫn thế. Loại người đó không thay đổi, họ có trong huyết quản của họ, thay cho máu, là chất chống đông kết.
Đi-na bò khỏi giường. Chị nhón chân đi lại gần cửa sổ, bám lấy khuôn cửa, đầu ló ra và suýt kêu lên. Trong ánh sáng của ngày mới rạng cho phép nhìn thấy rõ mọi vật trong sân, chị thấy hai cái đầu: một cái đen, một cái to, rậm rì, màu hung. Đó là con người râu xồm đã tàn nhẫn không bán nấm cho chị, mà lại đem cho không Gan-na Pô-pê-rét-snai-a. Những câu sau đây quất vào con người chị như một ngọn roi:
- ... Còn người trọ ở trong nhà anh, chị ta thế nào?
- Tôi tin rằng chị ấy không xấu. Chị ấy kết thân với Va-xi-li-xa. - Im lặng một lát, In-nô-ken-ti nói: - Dù sao thì Pê-tin đem chị ta đến đây cũng là một sai lầm... một bông hoa ở trong nhà, chỉ cần ngọn gió đầu tiên cũng lay rụng.
Tựa vào khuôn cửa sau bức màn che khuất, Đi-na cắn môi. Thì ra họ nghĩ về chị như vậy đấy. Cc trò chuyện vẫn tiếp tục.
- Tôi đã thấy chị ta, - người râu xồm nói. - Chị ấy đẹp.
- Đồ quỷ xứ, vợ người khác thì khi nào chẳng hấp dẫn.
- Không phải thế, chị ta làm tôi nhớ đến nhà tôi... - Một tiếng thở dài. - Khi Ôn-ga còn là nữ sinh đại học và mối tình của chúng tôi mới bắt đầu... Ôi, thôi, nghĩ mà làm gì?
- Anh nói phải. Nỗi buồn là người tham mưu tồi... Người ta mất nhiều thì giờ vì anh, anh Pa-ven Va-xi-li-ê-vích. Hãy lấy lại đi.
Cố gắng đi thật êm, Đi-na trở về giường, ngồi xuống, đắm mình trong hơi ấm của chiếc đệm lông, chân co lại, tay ôm đầu gối, suy nghĩ: "Mèo con... hoa trong nhà...". Họ chỉ đánh giá con người qua ngày công ư? Tại sao ông ta ghét Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích đến thế? Chắc chắn những người nham hiểm chỉ nhận được những gì xứng đáng với họ. Nhưng trong ông ta có cái gì bắt chị phải nghĩ đến cc gặp gỡ trên tàu và câu chuyện lúc nãy. Một con người uy lực, có một vẻ đẹp khỏe mạnh mang bản chất Nga. Một người Xi-bi-ri chính cống!... và Xê-đức nói với ông ta với bao kính trọng!...
Đi-na mặc quần áo trong nháy mắt và thu xếp phòng ngủ. Chị ngồi ăn cùng gia đình. In-nô-ken-ti Xa-va-tê-ích đã đi làm.
- Sáng nay, ông cụ nói chuyện với ai ngoài sân đấy?
- Chắc là với Pa-ven Va-xi-li-ê-vích Đi-u-giép, người thợ máy của chúng em đấy. - Va-xi-li-xa vừa trả lời vừa chấm bánh vào một cốc sữa đặc, hấp trong lò, có một lớp vàng màu nâu óng ánh. Và lúc Va-ni-a sốt sắng định nói thêm điều gì thì cô đưa mắt ngăn lại. Cô chỉ nói lùng bùng: "Vua cơ khí".
- Ông ấy có chuyện gì với vợ à?
Hai chị em nhìn nhau. Va-ni-a đứng dậy, mặc quần áo bảo hộ lao động.
- Chúng tôi không biết, chúng tôi không phải là văn phòng đảng ủy.
Họ đi ra bằng xe đạp. Đi-na ở nhà một mình, buồn bã. Ngoài sân vắng lặng, thậm chí cả Ô-ních cũng biến mất tăm. Không khí khẩn trương ngoài đồng ruộng của nông trang "Người thợ cày đỏ" đã dịu đi, và nhà khảo cổ đã tổ chức được một nhóm em học sinh lớp bảy, ông cùng với các em ngồi lên một chiếc xe tải do Xê-đức bố trí để đến Nô-vô Cri-a-giôi tiếp tục khai quật.
Chị đi quanh mảnh sân vắng vẻ. Lớp gỗ lát sàn kêu cót két dưới mỗi bước chân. Những cánh cửa dày cộp... những ổ khóa nặng nề... những then cài. Nhưng không một nơi nào phải khóa cả. Thậm chí cả cánh cổng rào, hai chị em cũng quên không khép, khiến cho gió đung đưa làm những chiếc bản lề to tướng kêu kẽo kẹt. Đi-na sập cái then ngang lại. Sau đó chị quay vào trong ngôi nhà còn đang pha tạp lẫn lộn mùi gỗ cũ đã khô, mùi lúa mì mới gặt, mùi thóc đang sấy trên bếp lò với mùi ét-xăng nồng nặc. Rồi chị đi vào nơi làm bếp của gla. Ở đây, tất cả đều toát lên sự sạch sẽ, mọi vật đều trật tự, ngăn nắp. Bà chủ nhà ít nói đã nhóm lò, chuẩn bị cho bữa ăn và nhẹ nhàng tránh đi như thường lệ. Bà khác hẳn với mọi người trong cái gia đình hay chuyện trò, tâm sự này. Đi-na đẩy cửa một căn nhà nhỏ, một căn nhà kho nồng nặc mùi cỏ khô. Ánh sáng lọt qua một lỗ nhỏ giữa hai song cửa sổ. Khi đã quen với bóng tối, Đi-na thấy một chiếc giường nhỏ giản dị, và ở trong góc là một bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh. Bức tượng cũ đến mức dưới ánh sáng lung linh của một ngọn đèn nhỏ, khó mà nhận ra được khuôn mặt gầy và xám, khắc khổ và kín đáo như khuôn mặt của chính gla. Những bó cỏ khô treo trên những chiếc đinh đóng dọc tường để hong khô. Từ đó bốc lên một mùi nồng nặc khó tả... "Lạ thật. Một chủ tịch nông trang, một huyện ủy viên mà trong nhà lại có ảnh thánh, có cỏ mê giấu trong một cái kho bí mật", - Đi-na nghĩ bụng. Chị lấy làm áy náy, thật ra chị đâu có muốn đi sâu vào bí mật của người khác. Một người đàn bà có bộ mặt khô khan từ trong khung ảnh nổi bằng bạc đã sạm lại nhìn chị, như thể đã hiểu và phê phán các suy nghĩ đó của chị.
Đi-na vội vã đi ra và chạy về phòng mình, mang theo mùi cỏ khó chịu. Chị có cảm tưởng toàn bộ ngôi nhà là rừng cây và đồng nội. Những câu nói nhiệt tình của Ô-ních tái hiện trong tâm trí chị: "Một địa phương tuyệt diệu, độc đáo, thật đấy, rất độc đáo..." Và những con người ở đây cũng độc đáo. Thí dụ, Đi-u-giép râu xồm... Ông ta đã gặp Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích ở đâu? Giữa họ có chuyện gì?
Chị biết chồng chị không phải lúc nào cũng được người ta yêu mến. Chính anh đã nói với chị điều đó. Một số người không mến anh vì anh thẳng thắn, thận trọng và không bao dung đối với sự mềm yếu của con người. Nhưng anh là người mới đến đây và thật ra anh chưa bao giờ công tác ở nông thôn. Thế thì anh quen biết người thợ máy nông trang này ở đâu?.. "Chị ta đẹp"... Ông ta hiểu sắc đẹp của phụ nữ như thế nào? Tuy nhiên, Đi-na vẫn lại gần chiếc gương soi. Chiếc gương soi rất thật mặt, với những đồ đạc đơn sơ của nhà Xê-đức thì chiếc gương được lồng trong khung gỗ hồng sắc có chạm trổ đó dễ đập vào mắt mọi người. Có thể là nó lọt vào ngôi nhà này từ hồi người ta thanh toán dinh cơ của bọn địa chủ chăng? Mặc dù Ô-ních nói rằng ở vùng này trước đây không có địa chủ. Một bộ mặt xanh và mỏng, một mớ tóc gợn sóng, màu hạt dẻ đã gây cho chị bao nhiêu khó chịu hồi còn học ở trường phổ thông. Bọn trẻ con gọi chị là con bé tóc hoe. Một chiếc mũi hếch phơi hai lỗ mũi. Mắt thì khác... Đôi mắt lúc nào cũng làm chị khoan khoái, thích thú. Đôi mắt là răm một màu xám xanh, hơi xếch theo kiểu Á Đông, làm cho nét mặt của chị có một nét hấp dẫn huyền bí, chị cho là như vậy... Đẹp... Chắc chắn là không. Tuy nhiên, ngay cả người nối dõi của những người tham gia cc cách mạng tháng Chạp ấy... "Ít ra thì vợ người khác bao giờ cũng hấp dẫn, như ông già thông minh In-nô-ken-ti Xa-va-tê-ích đã nói rất đúng. Nhất là những người vợ mà chồng đi xa và bận việc?... Suỵt, mình nói bậy!...". Những câu chuyện tình cờ nghe được đó cứ giày vò chị. Chị vừa giận, vừa buồn, vừa lo.
Bỗng tiếng chuông điện thoại ngắt dòng suy tư của chị. Tiếng nói ấm áp của Psê-nít-xnưi vang lên trong máy:
- ... Chị Đi-na Va-xi-li-ép-na, hôm nay chị phải dọn đi... Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích đang bận họp. Anh bảo tôi nói với chị rằng xe đã lên đường. Chị biết không, ngôi nhà của anh chị... - Chắc là anh ta định nói một câu gì đó thật dễ chịu, nhưng người ta cắt mất.
Đi-na không chờ nối liên lạc. Chị chạy vào phòng và vất đồ đạc lộn xộn vào va-li một cách không thương tiếc, kể cả chiếc áo dài đẹp nhất của mình. Chị hát to bài hát mà chị nghe mãi trên tàu:
... Bạn hỡi, hãy đến những miền xa xôi,
Chúng ta, bạn và tôi
Là những người chủ đầu tiên
Của những vùng đất mới...
 
 
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
Đăng nhập để trả lời
0
VII
 
Những chiếc va-li khóa xếp trước cửa. Khi những người trong gia đình Xê-đức đã trở về ăn bữa trưa, và mọi người ngồi vào bàn, thì cửa kính kêu lanh canh và một chiếc xe nhẹ nhàng dừng lại trước ngôi nhà gỗ. Không phải là một chiếc xe com-măng-ca chạy được trên mọi địa hình đã đưa Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích đến đây như lần trước, mà là chiếc xe hòm màu xanh đen của Lít-vi-nốp, bùn sét bắn đầy. Pê-tơ-rô-vích từ trong xe chui ra, và bước lên thềm. Chiếc blu-dông da, đôi găng có tấm da che cổ và ngay cả bộ mặt tròn trĩnh, hồng hào cũng có những vết bùn đỏ nhợt. Mặc dù lúng túng, nhưng anh vẫn làm ra vẻ ung dung:
- Chúc cho ngôi nhà này bình an lố, - anh nói, bắt chước người địa phương hay dùng từ "lố" trong ngôn ngữ. - Xin lỗi chị, - anh nói với Đi-na. - Tôi phải khổ sở vì đống bùn bẩn thỉu ấy. Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích muốn lấy chiếc xe com-măng-ca, nhưng Phê-đo Gri-gô-ri-ê-vích đã thay bằng chiếc xe hòm, cho nên tôi phải lội bì bõm trong bùn lầy...
Trong lúc đó Gla-phi-ra đặt trước mặt Pê-tơ-rô-vích một chiếc thìa gỗ và một bát cháo cá đầy, khói bay nghi ngút.
- Bà là người hiểu tôi lố! - Người khách thốt lên và cho vào mồm một thìa súp nóng bỏng một cách thú vị. Rồi anh lại nói đùa: - Bà hiểu tôi lố, nhưng chưa hiểu hết lố... Còn thiếu một cái gì lố...
Gla-phi-ra khẽ nhếch đôi môi mím lại, như thể không biết mỉm cười.
- Anh sẽ không phải ngồi một mình trong xe đâu, đồ lắm mồm ạ...
Pê-tơ-rô-vích thở dài, nhẫn nhục.
- Đúng đấy... - Sử dụng chiếc thìa rất mau lẹ, anh vẫn tìm được thì giờ để nói chuyện: Phê-đo Gri-gô-ri-ê-vích và tôi đã ăn cá ở khắp nơi: cá sông Đơ-ni-ép, cá sông Bu-gơ và cả cá sông Đa-nuýp... ở đấy người ta gọi là soóc-ba. Và ngay cả trên sông Sprê-a này, ma bắt nó đi, người ta nấu thứ kindersuppe(1) gì đó với cá dày xương... Canh cá ở trên sông Vôn-ga cũng không đến nỗi tồi... Nhưng ở đây, canh cá do bà Gla-phi-ra Pô-ta-pốp-na, nhà đầu bếp lão luyện thì... Mein Gott(2)! Hai tay chắp lại như cầu kinh, anh ta ngước cặp mắt láu lỉnh lên trời và buông một tiếng rủa.
Ăn xong, anh ta đứng dậy, lịch sự nói "Danke Schön(3)". Và khi mở cửa xe cho Đi-na, anh ta lặp lại hai tiếng "Bitte" muôn thuở của anh. Anh nói chuyện không ngớt và luôn liếc nhìn chị. Nhưng khi chị thử hỏi một cách khôn khéo về những công việc hành chính, về các bạn đồng sự của chồng chị, và về sự đón tiếp mà người ta đã dành cho anh ấy, thì Pê-tơ-rô-vích trả lời: "Làm sao mà tôi biết được, nghề của tôi là quay tay lái và nuốt thức ăn".
Tay lái thì anh ta quay vào loại tuyệt diệu. "Anh lính Xan-tsô Pan-xa(4) ư? - Đi-na nghĩ. Chị thích liên hệ những suy nghĩ của chị với các nhân vật văn học. - Xan-tsô Pan-xa... Không, hay là anh lính Svây(5)? Cũng không phải. Anh ta có nét gì đó của cả hai người ấy. Nhưng nói chung, lại khác, một con người độc đáo và kỳ lạ".
- Anh có vợ chưa, anh Pê-tơ-rô-vích?
- Chưa.
- Tại sao?
- Chị Đi-na Va-xi-li-ép-na ạ, theo điều tra dân số thì phụ nữ nhiều hơn nam giới hai mươi triệu người. Phải chăm sóc họ chứ, đó là một nghĩa vụ quan trọng.
- Anh chưa bao giờ có vợ cả à?
- Có lẽ đã. Tôi cũng không nhớ nữa.
- Anh có nhà ở cố định không?
- Trời, tôi mang theo nó trên mình như con ốc sên. Trong chiến tranh, tôi mang nó ra tiền tuyến, sau đó lại lên các công trường. Nhà của tôi là chiếc xe thổ tả của tôi... Càng hay. - Rồi anh quay lại, nói: - Tôi muốn sống một trăm năm, chị biết không?
"Một con người nham hiểm! Hắn nói chuyện huyên thuyên mà không thể moi được cái gì ở hắn. Thế nhưng mình cứ tin chắc chắn rằng hắn biết hết, cái anh chàng quỷ quyệt này!"
- Anh lái xe cho Phê-đo Gri-gô-ri-ê-vích đã lâu rồi à?
- Vâng, cũng khá lâu rồi. Chúng tôi đã để lại bao nhiêu vết sẹo trên quả địa cầu. "Vết sẹo" là danh từ của Ông cụ... Ông cụ thích để lại các vết sẹo...
- Ông ta là người như thế nào? - Đi-na hỏi. Chị cười thầm ngay vì biết rằng các tài xế riêng chỉ nói về thủ trưởng của mình những điều có thể nhắc lại cho ông ta.
- Ông cụ ấy à? Một người như mọi người... Ông cụ có hai chân.
"Không, Va-xi-li-xa ạ, sự so sánh của cô nông cạn lắm. - Đi-na suy nghĩ, nhớ lại người con gái đó đã ví Pê-tơ-rô-vích như một con vật lố lăng và tham ăn. - Không, em bé ạ, anh ta không đơn giản như bề ngoài của anh ta đâu". Chiếc xe theo một con đường có lẽ mới mở xuyên qua rừng. Những tia nắng màu xanh nhạt xuyên qua tán là làm lóa mắt. Những đoạn rễ nhọn va vào bánh xe. Đi-na cắn răng lại để khỏi cắn vào lưỡi. "Cô nhầm rồi, Va-xi-li-xa ạ. Và đối với tôi, cô cũng nhầm nốt, một đâu có phải là một con mèo con... Tôi muốn biết cô em nói gì về người thợ máy Đi-u-giép".
- Pê-tơ-rô-vích, anh có biết chất chống đông kết là gì không?
- Chất chống đông kết à? - Pê-tơ-rô-vích nhìn chị ngạc nhiên. - Đó là một chất lỏng. Lúc trời quá lạnh, người ta đổ nó vào các bình chế hòa khí cho xăng khỏi đông lại. Chị hỏi làm gì?
- Chẳng làm gì cả. Tôi nghe nói đến danh từ đó.
Rừng chấm dứt một cách đột ngột. Chiếc xe như đi ra khỏi đường hầm. Mặt trời đã xuống thấp hắt ánh nắng vào mặt Đi-na làm cho chị phải nhắm mắt lại. Lúc chị mở mắt ra, chiếc xe đã chạy trên một con đường rất tốt cắt ngang một cánh đồng phẳng lỳ bằng máy gặt đập liên hợp. Ở phía chân trời, hai chiếc máy kéo như hai con bọ rầy khổng lồ  đang bò, biến màu vàng của rạ thành màu nhung đen của đất cày. Người ta nghe tiếng động cơ nhịp nhàng của chúng. Một chiếc máy kéo thứ ba mắc lưỡi cày đang chờ ở bên lề đường. Cạnh nó, một chiếc mô-tô và một người đang đứng quan sát một vật gì đó bằng kim loại. Nghe tiếng xe, anh ta quay lại và Đi-na cảm thấy tim ngừng đập: đó là người đàn ông râu xồm mà chị vừa nghĩ tới.
Chiếc xe hòm dừng lại. Pê-tơ-rô-vích thò bộ mặt tròn trĩnh ra ngoài cửa xe:
- Pa-ven Va-xi-li-ê-vích, - anh khẩn khoản, - cho một ít xăng nào! Tôi chạy đến "Người thợ cày đỏ" của anh. Anh biết đường đi như thế nào rồi đấy... Tôi đốt hết xăng rồi, bình xăng cạn, xe tôi chạy được nhờ phép lạ.
Người đàn ông thong thả bỏ tấm kim loại xuống và chùi bàn tay vào một nắm giẻ sạch. Thấy người khách trên xe, mặt ông ta như sa sầm lại, nhưng rồi ông ta cũng cúi đầu chào. Rồi thò đầu vào cửa xe, nhìn vào bảng báo, ông ta bình tĩnh và quả quyết nói:
- Đi đi!
- Đồ ba bị! - Pê-tơ-rô-vích nổ máy, nhưng giọng anh ta lúng túng hơn là giận giữ.
- Ai đấy? - Đi-na hỏi, giọng chị ra vẻ lãnh đạm.
- À, một tên thổ dân, một kẻ bủn xỉn nhất vùng! Một tên say rượu kinh tởm! Và hắn có cách riêng, buổi tối hắn về nhà, nửa sống nửa chết, sớm mai dậy, hắn tươi như hoa hồng. Lúc nào say thì hắn say luôn cả tuần: súng cầm tay và tiến vào rừng! Xê-đức ký cho hắn những tờ công lệnh đề lùi ngày tháng lại để bao che cho hắn. Có lẽ họ là bạn chiến đấu cũ thì phải?
- Gia đình ông ta lủng củng lắm thì phải?
- Hắn có gia đình đâu? Hắn sống độc thân. Hắn cũng không có nhà, hắn ở nhà một bà già, được bà cụ lo cơm nước, giặt giũ cho...
- Ông ta là người Xi-bi-ri phải không?
- Ai? Đi-u-giép ấy à? - Pê-tơ-rô-vích chế nhạo. - Hắn chẳng hề là người Xi-bi-ri, hắn là người vùng Vôn-ga.
Chiếc xe chạy qua cánh đồng, và phong cảnh hoang dã kỳ quái, lạ mắt đối với một người ở miền Trung nước Nga, mang dấu vết lãng mạn của những không gian rộng lớn, những lối mòn chưa khai phá, những con vật không biết sợ người. Ngắm chán phong cảnh luôn luôn thay đổi đó, Đi-na nhắm mắt lại và thấy rõ ràng Đi-u-giép, do sự xui khiến của số mệnh, lúc nào cũng xuất hiện trên mọi nẻo đường của chị. "... Hắn có chất chống đông kết chảy trong huyết quản". Chất chống đông kết làm cho chất lỏng không đông kết. Như vậy có ý nghĩa gì? Chị đi đến chỗ nghĩ rằng anh chàng Đi-u-giép này phải chịu đựng đau khổ nhiều và trong chừng mực nào đó có phần do chồng chị gây nên. Nhưng sự thật là thế nào? Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích được mọi người quý mến lẽ nào lại làm hại một người vô tội? Vậy là Đi-u-giép đã phạm tội gì đó... Chị quyết định sẽ nói điều đó với Vi-a-tsét-sláp A-na-ni-ê-vích. Anh hãy cố gắng nghĩ lại đi. Điều đó rẩt cần cho sự an toàn của anh. Biết đâu con người râu xồm ấy đang có âm mưu gì? Ở cái xứ này, việc gì cũng có thể xảy đến...
Đi-na thiếp đi. Xe phanh đột ngột làm chị bừng tỉnh. Một người thân hình to lớn, đầu trần, đứng bên đường, tay giơ lên. Anh ta đeo ngang cổ một khẩu súng như một chiếc kèn đồng và sau lưng là một chiếc túi hình như nhét đầy lông chim sặc sỡ. Một vài con chim khá lớn treo bên túi đạn. Dưới chân anh ta, một con chó đen, lông dài và mượt, tai quặp xuống, lưỡi thè lè, nằm nghỉ trên cỏ.
- Chào anh Xác-cô I-va-nô-vích, chúc anh bắn giỏi. - Pê-tơ-rô-vích kêu lên và hạ cánh cửa xuống. - Vịt à?
- Bảy con. - Người đi săn nói, vẻ tự đắc. - Cho đi nhờ được không?
Trong lúc Pê-tơ-rô-vích đưa mắt nhìn Đi-na, thì người đi săn đến mở cửa xe và tự giới thiệu:
- Một người có họ lạ lùng là Xác-cô và có tên còn lạ hơn là Nát-tô-tsi-ép. - Không đưa tay ra, anh cúi đầu, mớ tóc đen rủ xuống trán, Đi-na trông anh ta giống như Mai-a-cốp-xki. Miệng anh ta ngậm một điếu thuốc lá. - Còn chị, thì tôi biết. Chị là "người đàn bà Nga" noi gương quận chúa Vôn-côn-xcai-a mạo hiểm theo chồng đến tận cùng của xứ Xi-bi-ri. Ông cụ chỉ dùng những lời lẽ văn hóa lúc nói đến chị.
- Làm thế nào mà anh biết được tôi? - Đi-na hỏi. Qua câu chuyện của chồng chị, chị hình dung Nát-tô-tsi-ép hoàn toàn khác.
- Tôi sẽ kể cặn kẽ cho chị nghe, nếu chị cho tôi cùng đi... Nếu chị khát, thì ở chỗ kia có mạch nước, hơn hẳn mọi thứ nước suối trên thế giới.
- Tôi khát lắm. - Đi-na xuống xe. - Nhưng dòng nước không đun sôi, và chỗ ấy là đầm lầy, có can gì không?
- Mọi nguồn nước sôi đều ở Mát-xcơ-va cả. - Nát-tô-tsi-ép nói và gạt chiếc ca nhôm mà Pê-tơ-rô-vích đưa cho anh. - Thời xưa, có người nói: nếu ai có thể uống được nước ở nguồn thì không uống nước ở bình.
Nguồn nước lẫn trong cỏ xanh tốt điểm một màu vàng tươi. Đó là những bông hoa gia-rơ-ki. Có ai đã chôn ở đây một thùng ton-nô không có đáy bằng gỗ sên. Nước đổ vào đầy thùng, rồi róc rách chảy vào một con suối nhỏ lòng đầy cát, khuất trong cỏ, chỉ có cây cỏ ở đây rậm rạp hơn ở chỗ khác mới cho phép người ta đoán được sự có mặt của nó.
- Cúi xuống và uống đi. - Nát-tô-tsi-ép nói.
Nước lạnh buốt ê cả răng. Mặc dù những mẩu vỏ cây, những lông ở trái cây, những cành cây nhỏ quay lộn trên mặt nước, nó vẫn có vị rất ngon. Đi-na tươi tỉnh hẳn lên. Chị vốc nước rửa mặt, rửa tay.
- Đừng bao giờ làm như vậy trước mặt những người Xi-bi-ri. Rất khó coi. Muốn rửa mặt thì xuống suối. Còn nguồn thì chỉ để uống. Mà chỉ uống bằng miệng thôi. - Anh cúi xuống và uống một hơi dài.
Sự nhận xét của anh xúc phạm đến Đi-na.
- Cám ơn lời giáo huấn của anh, - chị lạnh lùng nói.
- Không dám, - anh trả lời. - Chị còn nhiều cái phải học. Ở đây có những tập quán hay mà miền Trung nước Nga không có.
Nát-tô-tsi-ép lơ đễnh ném những chiến lợi phẩm vào xe và ngồi vào ghế sau. Con chó không xin phép cũng nhảy lên theo. Lông con chó lấp lánh như sơn mực tàu. Đi-na cảm thấy ngay và qua cửa kính chiếu hậu của chiếc xe chị nhìn thấy hai đôi mắt sẫm, một của người và một của chó đang nhìn chị một cách quá sỗ sàng. Chị đổi tư thế. Những cặp mắt biến mất.
- Tại sao? - Có tiếng hỏi chị ở phía sau.
- Tôi không thích người ta nhìn tôi.
- Không đúng.
- Thế nào? - Đi-na nổi giận kêu lên.
- Những người đàn bà đẹp bao giờ cũng thích người ta chú ý đến mình. Chị là một người đàn bà đẹp. Nhưng khung cảnh này...
Chiếc xe chạy trên một con đường rộng vừa mới trải nhựa. Dấu vết những chiếc xe ủi đất vẫn còn in lại trên cát hai bên lề đường. Sau dải cát bị cày xới ấy, rừng tai-ga hoàn toàn một màu đen thẫm. Cây cối bị cháy trụi cả cành, đứng sừng sững như những cây mộc tặc thời thái cổ.
- Khung cảnh này không hợp với chị. Nó chị hợp với một mụ tóc đen có cái miệng đỏ loét của một con dơi khổng lồ, hút màu... Còn chị, chị phải ngồi trong một chiếc ghế bành, dưới chân trải thảm, đầu gối phủ áo choàng, phải đưa mời chị một ly nhỏ thứ rượu gì đó không mạnh lắm và mở máy thu hình cho chị... Tôi sẽ đăng ký tên tôi vào danh sách những người ngắm chị. Danh sách đã dài lắm chưa? Tôi số mấy?
"Anh ta quả là buồn cười và không độc ác. Anh ta còn mua vui cho mình nữa". - Đột nhiên, chị đề nghị:
- Chúng ta hãy làm bạn với nhau.
- Tôi không tin ở tình bạn giữa đàn ông và đàn bà. - Không cần đến tay, anh lấy răng đưa điếu thuốc lá đã tắt từ mép bên này sang mép bên kia.
- Tôi thì tôi tin. Tôi có những người bạn nam giới rất tốt.
- Khuôn hàng thịt giống giăm-bông và xúc-xích như đúc, nhưng không ăn được. Phải không Bu-run? - Anh hỏi con chó. - Không, chị hãy xem người bạn tốt của tôi: những con mắt này, cái nhìn này! Nếu nó là người, thì đó là một ca sĩ giọng nam cao rất được hoan nghênh. Những cô gái ngờ nghệch và lắm mồm quá sẽ tổ chức liên đoàn bu-run-nít và vừa sủa vừa xé gi-lê và mùi-xoa của nó để giữ lại các mảnh làm kỷ niệm.
Nát-tô-tsi-ép im tiếng, còn Đi-na thiếp đi... Lúc chị mở mắt ra, người đàn ông đang hát, vẻ suy tư. Pê-tơ-rô-vích, tiếng nhỏ mà trong, còn Nát-tô-tsi-ép giọng trầm:
Kẻ giang hồ rủa nguyền số phận
Bước trên đường chiếc bị sau lưng...
Họ hát nhẹ nhàng, chị mơ màng ngủ. Khi bị xe xóc lay tỉnh, chị thấy các bạn đường đang tranh luận. Chị ngồi im lắng nghe, mắt nhắm kín. Họ nói về những người mà chị không quen biết và Nát-tô-tsi-ép không kìm được những câu chế nhạo: "... Lại một người nữa gãi tai trái bằng bàn tay phải...", "... Tiến sĩ khoa học kỹ thuật gì hắn! Thậm chí cũng chưa phải là một y sĩ nữa", "... người này chỉ hát những điều người ta biết, người kia chỉ biết những điều người ta hát. Hắn ta thuộc loại sau này...".
Đột ngột mở mắt ra, Đi-na hỏi, giọng không có gì là ngái ngủ cả:
- Thế anh Xác-cô I-va-nô-vích, không có một người nào tử tế quanh anh cả à?
Điếu thuốc lá đã tắt từ lâu, rời khỏi môi Nát-tô-tsi-ép và rơi xuống đầu gối. Anh thẹn đỏ mặt.
- Chị ta đã tóm được chúng mình, - anh nói lúc đã bình tĩnh. - Coi chừng nhé, Bu-run...
- Còn câu hỏi của tôi?
- Thế thì... Về thực vật như chị thấy đấy, hết sức phong phú, còn động vật thì tạm vậy... Nào, ta cùng hát tiếp chứ, Pê-tơ-rô-vích?
Và hai người đàn ông lại cùng nhau hát, lần này là về hồ Bai-kan mà những người dân Xi-bi-ri gọi là biển của mình, và tại đây, trên con đường mới mở xuyên qua rừng tai-ga rậm rạp và chưa thể phóng xe một cách thoải mái được, thì cái bài hát mà hồi chị còn nhỏ, cả người cha quá cố cùng với anh trai của chị và những người hàng xóm trong khu nhà tập thể vẫn thường hát đó, đã vang lên một cách xúc động lạ thường. Và mặc dù không có giọng hát, - trong đội đồng ca ở trường phổ thông, chị bao giờ cũng xếp ở hàng cuối, - Đi-na cũng bất giác hòa giọng với tốp song ca đó. Lúc này chị có cảm giác mình đã quen biết từ lâu với anh chàng Pê-tơ-rô-vích phục phịch và láu cá cùng với những kỹ sư có nét gì đó giống Mai-a-cốp-xki này.
- Vì sao mà anh lại có cái tên Xác-cô khác đời làm vậy?
- Thế thì chị không thấy các cụ thân sinh ra tôi biểu lộ rõ tình đoàn kết quốc tế vô sản đấy sao? Tôi và anh tôi, - anh ấy ra đời trước tôi mười lăm phút - không may lại sinh đúng vào cái ngày mà ở Mỹ người ta buộc hai nhà lãnh đạo công đoàn bị kết tội oan phải lên ngồi ghế điện. Tôi như vậy cũng còn khá may mắn đấy; ông anh tôi còn được đặt tên là Oan-xét-ti kia. Oan-xét-ti I-va-nô-vích! Đọc được cái tên ấy quả là muốn gãy cả lưỡi! Ở trường phổ thông hai anh em tôi được gọi là đôi bút chì, - chị có biết nhà máy bút chì Xác-cô và Oan-xét-ti không?
Con đường leo qua một đụn cát, rồi lại đi vào hẻm cắt ngang một ngọn đồi. Lòng đường rất tốt, nhưng hai bên chỉ còn trơ lại những gốc cây to bị đào bật lên lúc mới rạch đường, với những rễ cây chằng chịt trông như những con bạch tuộc mắc cạn. Một đám cháy, người bạn ghê gớm của các công trình xây dựng ở rừng, đã tàn phá rừng tai-ga từng chỗ, hủy hoại mọi màu sắc trừ màu đen. Đất, thân cây trơ trọi, gốc cây, tất cả đều một màu tang tóc. Gió thổi bay qua đường một đám bụi đen sẫm, ngả màu xám xanh, cuộn xoáy, rồi bay vút lên trời xanh.
- Người ta chẳng cho đây là một cảnh trên sao Hỏa ư? - Đi-na mơ màng nói khi thấy Nát-tô-tsi-ép đã thay đổi chỗ ngồi để lại nhìn chị qua kính chiếu hậu.
- Chẳng có gì đáng sợ cả... Con tàu vũ trụ của chúng ta đang bay giữa các hành tinh để trở về với trái đất... Sự thật chị có đôi mắt xanh và sắp đặt như mắt của một vị phật bà, có một vẻ đẹp... Chị là người Phương Đông phải không?
- Tôi là người Mát-xcơ-va.
- Nói thật, ở Mát-xcơ-va, người ta cũng gặp những người Mông Cổ. - Đôi mắt ảm đạm của Nát-tô-tsi-ép nhìn Đi-na chăm chú, và bây giờ, cái nhìn đó làm chị bối rối hơn là giận dữ.
Ra khỏi con đường hai bên đầy gốc cây, ngày như sáng hơn. Nền cây xanh lóng lánh trong ánh hoàng hôn.
Pê-tơ-rô-vích hát với giọng nam cao nho nhỏ, hòa với giọng trầm của Nát-tô-tsi-ép.
Trên bờ sông hoang vắng
Của dòng I-ếc-tư-sơ...
- Chị Đi-na Va-xi-li-ép-na, hãy ngắm nhìn "bờ sông hoang vắng" này đã! - Người kỹ sư ngừng hát kêu lên không phải không có phần kiêu hãnh. - Pê-tơ-rô-vích, để chị ấy xem chứ?
Chiếc xe dừng lại ở bên đường, cả ba cùng xuống xe. Đứng trên đỉnh dốc, tầm mắt trải rộng đến tận chân trời. Từ khắp mọi nơi, cây chạy đến chiếm những ngọn đồi, nhưng sau ngọn cây nhấp nhô, sông Ôn nhuộm màu như tĩnh mạch của một cánh tay lao động nhiều. Dưới hạ lưu, nước con sông ùa vào thác Ôn ào và vượt qua đỉnh nó như những xoáy nước điên cuồng. Một chiếc cầu vồng rực rỡ uốn cong ở phía trên, trong ánh mặt trời sắp lặn. Những người làm đường đã bóc lớp da của ngọn đồi, nhưng trong cát bị xéo nát còn sót lại một mảnh đất nguyên, làm bệ cho một cây lạc diệp tùng đứng sừng sững, rễ ăn sâu xuống lòng đất. Có ai đó đã đóng vào thân cây một tấm biển, không cẩn thận lắm, hơi nghiêng nữa. Người ta đọc được những chữ viết nguyệch ngoạc: "Chủ nghĩa cộng sản là Chính quyền Xô-viết cộng với điện khí hóa toàn quốc. Lê-nin". Để hết tâm trí vào chiếc cầu vồng, Đi-na không để ý đến tấm biển mà mưa gió đã làm cho đen lại.
- Nhìn kỹ mà xem. Đây là công trình của ai đó trong toán đầu tiên đi mở đường trong rừng tai-ga... Ông cụ cấm đụng vào nó. Nó là đài kỷ niệm những người xây dựng đầu tiên.
- Ông cụ là ai?
- Là Lít-vi-nốp của chúng ta. Người ta goi ông ta như vậy. Chị Đi-na Va-xi-li-ép-na, chị có biết không, ông ta thấm nhuần chủ nghĩa lãng mạn. Tất cả những người đi đầu đều thế cả. Trong lý lịch của họ, lẽ ra phải viết thẳng thắn: Nghề nghiệp? Nhà lãng mạn.
Những lời nói thật sự đáng ngạc nhiên, xuất phát từ miệng của Nát-tô-tsi-ép.
- Anh cũng là một nhà lãng mạn chứ? - Đi-na hỏi và chị thấy anh ta đỏ mặt.
- Không, tôi chỉ là một kẻ thô tục và vô liêm sỉ. Một kẻ vô liêm sỉ có tầm quan trọng địa phương, - anh trả lời, rồi nhổ mẩu thuốc lá trong miệng ra xa, anh nói thêm, cau có: - Chị đừng ngắm cầu vồng nữa, hãy nhìn nơi kia. Cầu vồng, chẳng qua chỉ là một trò chơi! Anh ta đưa tay chỉ về phía hạ lưu.
Dòng sông Ôn, tăng dần tốc độ, phi nước đại giữa hai bờ dốc đứng khổng lồ khép chặt nó lại. Nhờ ngọn cây thông rậm rạp mọc trên một bờ dốc giống như một đám mây đứng một chỗ, Đi-na nhận ra đó là lèn Kỳ diệu. Bờ kia trông giống như một con bò rừng đang cúi đầu để húc nhau. Đó là mỏm Đầu bò.
Mặt nước cuộn sóng lấp lánh dưới ánh mặt trời và những đám bọt ngầu đặc cho thấy dòng sông chảy xiết. Xung quanh đất bị xới lên, đảo lộn, băm vằm ngang dọc. Trên mỏm Đầu bò, một công trình bằng kim loại trang trí tuyệt đẹp soi mình xuống nước. Ở khoảng cách ấy, người ta không nhìn rõ người, nhưng thấy được những chiếc xe tải chở đầy chạy đi chạy lại... Giống như một tổ kiến, nơi đấy chen chúc những giống côn trùng kỳ lạ đang vội vã hoàn thành một nhiệm vụ hàng đầu đối với chúng, nhưng không thể lý giải nổi đối với con người.
- Công trường đâu? - Đi-na hỏi.
Người lái xe và người kỹ sư nhìn nhau. Mắt họ chăm chú nhìn người phụ nữ trẻ: chị không nói đùa đấy chứ? Không, chị hỏi nghiêm túc. Chồng chị đã nhiều lần nhắc lại rằng họ đến một trong những công trường vĩ đại nhất. Hòn ngọc của kế hoạch bảy năm! Công trình đó thật hùng vĩ. Công việc đã bắt đầu hai năm rồi. Chị vội vã đến xem. Nhưng giờ đây, chị chỉ thấy có dòng sông, bờ đất và những con kiến đang bò khắp nơi trên mảnh đất bị xáo trộn...
Pê-tơ-rô-vích, lúc nào cũng lịch sự, cúi xuống như muốn nhặt cái gì đó để giấu một nụ cười, còn Nát-tô-tsi-ép chắp hai tay lại theo điệu bộ sân khấu: "Ôi! Các bà! Các bà!".
 
 
Chú thích:
 
1. Kindersuppe - tiếng Đức nghĩa là súp.
2. Mein Gott! - tiếng Đức nghĩa là "Lạy Chúa".
3. Danke Schön - tiếng Đức nghĩa là "rất cám ơn".
4. Xan-tsô Pan-xa - nhân vật trong tác phẩm "Đôn Ki-hô-tê" của văn hào Tây Ban Nha Xéc-van-tét.
5. Svây - nhân vật trong tác phẩm "Những cuộc phiêu lưu của anh lính Svây" của nhà văn tiệp khắc I. Ha-sếch.
 
Đăng nhập để trả lời
0
VIII
 
Lần di chuyển này của gia đình Psê-nít-xnưi không phải bơ vơ lâu. Ở trong một dãy nhà bạt lớn được gọi là thành phố Xanh, người ta dành cho họ một "góc" riêng biệt của khu "gia đình". "Góc" dài sáu mét, rộng bốn mét. Một chiếc cửa sổ nghiêng trổ vào vải với một cửa thông gió nhỏ xíu, ở lối ra có một lò sưởi bằng gang. hai vợ chồng vốn biết những công trường ở những nơi hoang vu bắt đầu từ đâu, cho nên thế là hạnh phúc rồi.
Chẳng bao lâu, một chiếc xe tải chở hành lý và một bộ đồ gỗ xếp nổi tiếng của họ đã từ chiếc tàu bị nạn đến. Người cha và cậu con trai lắp xong trong một tối. Khác với những người khác ở trong nhà bạt phải bằng lòng với một chiếc giường nhỏ, một chiếc bàn ở đầu giường, một chiếc ghế hai chỗ ngồi và một chiếc bàn công cộng để ở giữa, gia đình Psê-nít-xnưi có đủ cả đồ dùng cần thiết cho cuộc sống  gia đình, kể cả niềm kiêu hãnh của "bộ đồ Di-gan" này: chiếc giường của hai vợ chồng ban ngày xếp lại như chiếc giường ngủ trên toa xe lửa và không chiếm mất nhiều chỗ.
Một buổi tối, Nát-tô-tsi-ép đến hỏi ý kiến người bạn cũ về việc tiếp nhận máy móc ở U-ran đến, nhưng không gặp anh ta ở nhà. Trong "góc" gia đình chỉ có Gan-na và cô con gái bé. Người kỹ sư ngạc nhiên dừng lại trước ngưỡng cửa. Một chiếc khăn thêu căng trên cửa sổ thu nhỏ lại. Những tấm thảm màu sặc sỡ phủ trên sàn nhà còn gồ ghề. Một ấm đun nước bằng điện đang reo trên bàn. Người đàn bà thấp và béo mập, tươi tắn như ngôi nhà, bím tóc màu nâu cuộn vòng trên đầu, nói với giọng dịu dàng:
- Chào anh!
- Ông chủ không ở nhà à? - Người kỹ sư nói, anh vẫn ngẩn ngơ trước cái tổ ấm chỉnh tề đó trong một chiếc nhà bạt tầm thường, không có gì là hấp dẫn, không sạch lắm, ở đó, thường xuyên ánh sáng yếu ớt xuyên qua cửa sổ chiếu lờ mờ những chiếc giường tồi tàn, những đôi giày chất quanh lò sưởi phảng phất mùi hôi của những chiếc xà cạp, của mồ hôi, của rẻ rách và của thức ăn thừa.
- Bố cháu ở gần đây thôi, - người đàn bà nói. Chị lấy tạp dề lau sạch chiếc ghế vốn đã sạch: - Mời đồng chí ngồi chơi, đồng chí Nát-tô-tsi-ép.
- Chị biết tôi à?
- Biết chứ... - Nét mặt tròn trĩnh của người đàn bà sa sầm xuống. - Chính đồng chí đã quyến rũ chồng tôi và đảo lộn sinh hoạt của gia đình tôi. Tôi tin rằng thằng Xa-sa vẫn không có chỗ để học.
- Còn con thì phải từ bỏ âm nhạc, - cô bé nói và hất bím tóc ra sau lưng với một động tác bất thường. - Chiếc dương cầm của con vẫn đóng hòm để đó...
Bà mẹ biết tự kiềm chế. Một nụ cười làm nét mặt của chị tươi lên.
- Mời đồng chí ngồi. Tôi sẽ đi pha trà mời đồng chí uống. Nào, Ni-na, chạy đi tìm bố về. Nói với bố là đồng chí Nát-tô-tsi-ép đến chơi... Đồng chí uống trà đi, đừng có sợ thất sắc như thế, đồng chí vốn khỏe mạnh...
- "Cứ uống cái đã" - con mèo con mà người ta định dìm trong xô nước nói thế, - ông khách nháy mắt cho cô bé, nói đùa. - Ông bà bày biện đẹp lắm, bà chủ ạ.
- Như những người Di-gan, ván đã đóng thuyền rồi - đây là nhà của bạn đấy! - Người đàn bà thở dài.
- Ông chủ đi đâu?
- Bố cháu à? Anh ấy và cháu Xa-sa đang làm một cái nhà hầm.
- Nhà hầm? Tại sao? Ở đây không tốt à?
- Tốt? Đồng chí đùa đấy chứ? Mùa đông không thể ở chung nơi này được! Hoặc là chết cóng cùng với tất cả mọi người, hoặc là sưởi ấm cho tất cả mọi người. Hoặc là cứ lù lù như bị xích ở nhà, hoặc là sẽ bị mất cắp hết...
Thành phố Xanh bên tả ngạn ở giữa rừng tai-ga, người ta đã chặt cây, cho máy kéo gỗ đi, đánh gốc cây bằng cần cẩu hoặc chất nổ, san đất bằng máy ủi và dựng lên, những cây phúc bồn tử, trên một vùng đất lác đác những cây lê rừng đỏ, những dãy nhà bạt lớn mái bằng hai lần vải với những bức mành trước cửa. Những cây thông, những cây lạc diệp tùng, cây linh sam vẫn tiếp tục rì rào trên quê hương của chúng.
Về phía đông, giới hạn là một khe sâu, có một con suối lắm điều và hoạt bát chảy đến dòng sông Ôn. Chính ở nơi đây, dựa vào bờ khuất gió từ phương bắc thổi đến, A-lếch-xan-đrơ Psê-nít-xnưi đã quyết định đào nhà hầm.Là một người từng trải, anh biết rằng những con suối lắm điều như thế này sẽ không đóng băng ngay cả vào mùa đông ác liệt. Có thể lấy nước một cách dễ dàng từ những lỗ đục trên mái băng. Gỗ thì quanh đây không thiếu, tha hồ dựng vách và lợp mái. Anh chiến sĩ công binh Psê-nít-xnưi đã từng làm biết bao nhiêu nhà hầm kiểu này bên bờ những con sông của nước Nga, Bi-ê-lô-ru-xi-a, Ba Lan, Đức!
Anh rất thạo công việc. Hơn nữa con trai anh đã lớn, có thể giúp anh. Gầy gò, không cân đối, cánh tay dài, chân to, Xa-sa có một sức khỏe trên tuổi của em, và thừa hưởng được của bố lòng yêu thích lao động. Trong lúc ở nơi kia, trong vùng U-ran, người ta lắp ráp những chiếc máy đào đất kiểu mới theo sáng kiến của Psê-nít-xnưi, trong lúc người ta tháo chúng ra để trên các toa bằng và chở đi, thì hai người đại diện phái mạnh của gia đình Psê-nít-xnưi đào hai nhà hầm: một cho họ và một cho cả đội. Họ ra sức đào, tranh thủ từng ngày nắng ấm. Người cha, lần đầu tiên cảm thấy có sự giúp đỡ có hiệu quả của con, cảm thấy hết sức sung sướng. Anh có ý định nếu trường học chưa xây dựng được trong mùa đông này, anh sẽ cho con vào đội của anh, làm việc không công: nó sẽ giúp lắp máy và làm việc cho quen tay.
Căn hầm đào cho ngôi nhà thứ nhất đã gần xong. Lúc đào, Psê-nít-xnưi đã ngắm trước chỗ làm tường bằng thân cây để cho một cửa sổ và một cửa lớn quay về hướng nam, không để cho cái rét khủng khiếp ở xứ này lọt vào. Mọi việc hình như trôi chảy cả. Thế nhưng anh vẫn không yên tâm. Sự lo lắng nảy sinh trong câu chuyện trao đổi tối hôm qua với vợ vẫn tồn tại trong anh. Gan-na không nhắc lại vấn đề đó nữa. Nhưng qua nhiều chi tiết khác nhau, qua cách nhìn rất lâu tấm ảnh ngôi nhà mà họ đã rời bỏ, qua cách nói: "Ở nhà ct ở U-xchi" và có một hôm nghe chị nói với giọng quả quyết: "Thôi được, đây là lần cuối cùng", thì anh hiểu rằng chị chẳng quên gì cả. Và anh nghĩ: "Cô ấy đúng, lang thang đủ rồi".
- Thôi, được rồi! - Psê-nít-xnưi bật thành lời để ngăn dòng suy tư nặng nề lại.
- Bố bảo sao ạ? - Xa-sa đang hất đống đất do ông bố đào lên xuống sườn dốc, quay nhìn sang, vẻ phân vân.
- Sao sao cái gì, đầu óc để đi đâu! - Psê-nít-xnưi bực mình, chộp lấy cái mai. Cây cối rì rào với vẻ trầm mặc, khôn ngoan, chim chóc ít lên tiếng vào mùa thu, chiếc xẻng kêu leng keng một cách giận dữ, nhưng trước mắt Psê-nít-xnưi bỗng hiện ra một đôi mắt tròn to thân yêu, đầy buồn thương và hờn giận. "Có lẽ anh cứ lang thang cho đến già. Rồi người ta sẽ phong cho làm Anh hùng" - anh thấy văng vẳng bên tai. "Úi chà! Gan-na, Gan-na, sao em lại nói thế? Chúng mình đã sống với nhau mười sáu năm trời, mà em lại có thể nghĩ như vậy về chồng mình sao?.., Anh hùng".
Thế rồi những suy nghĩ xa lạ cứ xô đẩy len nhau vào đầu óc anh. Không phải tiền của, không phải vinh quang, thì cái gì dồn mi đến vùng tai-ga này? Vì sao mi lại đánh đổi ngôi nhà ấm cúng lấy cái hang thú này? Vì sao, nào?
- Thử hỏi xem, vì sao mi lại lao vào cảnh tha phương cầu thực này? - Anh lại thốt lên thành lời.
Xa-sa ngoái nhìn lại. Nhưng em không nói gì nữa. Những ngày gần đây, em thấy bố có vẻ gì đó là lạ. Hay giận dữ, hay cáu kỉnh, cứ lẩm bẩm nói chuyện một mình. Bây giờ cũng lại thế...
- Già đời rồi, còn nhảy choi choi, như bọ chó múa bấc, thật ỡm ờ...
Không, tốt nhất là đừng có hỏi. Cả mẹ cũng vậy. Cả bố, cả mẹ đều cùng giấu nhau chuyện đó. Trán bố hồi này mới nhiều nếp nhăn làm sao! Trước đây chỉ thấy có, khi nào bồ mệt mỏi, còn bây giờ thì cứ như ai cầm dao rạch vào vậy.
- Nhanh tay lên, Xa-sa, không có bố làm sụt cả bây giờ! - Psê-nít-xnưi vừa hét lên, vừa hất những hòn đá đang rơi xuống dưới. Nhưng rồi anh lại đứng thẫn thờ, tì ngực vào chiếc cán xẻng bằng gỗ, ngước mắt lên, không hẳn để ngắm những ngọn cây linh sam, cũng không hẳn để nhin những áng mây thanh khiết, như vừa được giặt sạch, đang lướt trên đầu họ. Nhưng nét mặt anh không có vẻ thanh thản, hoặc mơ mộng như khi người ta ngắm nhìn bầu trời, mà đượm vẻ lo âu, bối rối.
Trước kia, lời giải thích thật đơn giản: "Cta phải xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, phải hy sinh vì nghĩa lớn". Nhưng chẳng phải chủ nghĩa cộng sản cũng đang được xây dựng ở U-xchi, nơi anh ra đi, nơi anh có nhà ở, có nghề nghiệp, có tiếng tăm đó ư? Có lẽ Gan-na nói đúng: để cho thanh niên, để cho những người chưa xây dựng gia đình? Nhưng có phải chỉ một mình anh sống ở thành phố Xanh này, nơi người ta có thể hái được những quả việt quất, những quả mâm xôi lúc làm việc đâu? Biết bao nhiêu người anh đã gặp trên sông Đơ-ni-ép, sông Vôn-ga, sông I-ếc-tư-sơ, nay lại có mặt trong số những người tình nguyện xây dựng công trình sông Ôn. Còn ông cụ thì sao? Ông ta đã đến tuổi sáu mươi rồi...
Tiếng của cô bé vang lên ở trên:
- Bố ơi, bố! Mẹ bảo con đến. Bác Nát-tô-tsi-ép đang ở nhà ta. Bác ấy bỏ ba miếng đường vào chén, mẹ bảo bố về ngay...
- Thôi, Xa-sa... Bố về ngay đây, tóc hung ạ.
Mặt trời đã lặn xuống sau ngọn cây. Hoàng hôn sực nức mùi hương từ lòng khe tỏa lan cùng với sương mù bốc lên thành cuộn, bám vào những bụi cây phỉ tử. Những tia sáng hồng chọc thủng bóng tối lờ mờ, chiếu xuống đất, làm sáng lên đó đây một chiếc lá khô, một cành cây nhỏ, hoặc một tán nấm độc màu đỏ. Khí lạnh chiều hôm tăng thêm mùi thơm của nhựa cây và tiếng vi vo chói tai của đàn muỗi. Không kể sự mệt mỏi của cơ thể đối với anh lúc nào cũng dễ chịu, Psê-nít-xnưi cảm thấy đầu nặng trĩu như vừa qua một ngày hội họp buồn chán, trong một gian phòng đầy khói thuốc, chứ không phải ở trong rừng tai-ga với chiếc xẻng cầm tay.
Anh vội bước về nhà bạt. Nát-tô-tsi-ép không để phí thời giờ. Anh đến đây không phải để làm một người khách bình thường, uống một chén trà xã giao. Thật vậy, người kỹ sư vừa nhận được một bức điện báo tin các cuộc thí nghiệm máy đào đất ở nhà máy đã hoàn thành. Sự cải tiến vượt quá sự mong chờ. Người ta đã tháo ra để gửi đi. Vầ đây, hai người, một kỹ sư và một công nhân, cúi xuống trên chiếc bàn trải tấm bản đồ nhà ga hàng hóa, còn chưa có đường sắt để tránh. Phải tiếp nhận những cỗ máy rất to, dỡ xuống và lắp ráp lại. Sau khi thảo luận một hồi lâu, họ nhất trí với nhau là phải lắp ráp tại chỗ. Từ đây máy đào sẽ tự đi đến địa điểm quy định. Do đó phải mở một con đường đến các công trường đá. Họ tranh luận, vẽ, xóa. Và trong bầu không khí hơi nặng nề của ngôi nhà, hình như đã tự tiêu tan đi những ý nghĩ không quen thuộc và những vấn đề chưa giải quyết được đang giày vò Psê-nít-xnưi.
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回.
Đăng nhập để trả lời
0