Diễn Đàn » Cổ Nhạc

Nữ Nghệ Sĩ Thanh Nga

3 trả lời, 2.188 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-28 08:26:43Viet duong nhan>
:::Ngành Mai:::

CUỘC ÐỜI THANH NGA

[image]local://upfiles/4536/676F15E335DE4F20A5A72EEFC1B99799.jpg[/image]


1


Kể từ ngày cố nghệ sĩ Năm Nghĩa qua đời, cho đến vài năm sau đó đoàn hát Thanh Minh vẫn là đoàn hát có đông khán giả, nhứt là sau ngày Thanh Nga lãnh Giải Thanh Tâm 1958 (nghệ sĩ đầu tiên lãnh giải) và nghệ sĩ Hữu Phước một kép trẻ nổi danh bên địa hạt dĩa hát về cộng tác thì đoàn Thanh Minh quá vững mạnh, khán giả mua vé đi coi nhiều hơn, thành thử ra bà bầu Thơ đâu nghĩ đến chuyện đi lưu diễn xa, mà tiếp tục cho đoàn hoạt động ở vùng Ðô Thành Sài Gòn và phụ cận, hoặc nếu có đi xa lắm thì cũng chỉ Lái Thiêu, Bình Dương, Biên Hòa, Bà Rịa, Vũng Tàu mà thôi.

Thế nhưng, đến đầu thập niên 1960 thì đoàn Thanh Minh gặp phải một đối thủ lợi hại: Ðoàn Thủ Ðô của ông bầu Ba Bản ra đời thu hút gần hết số khán giả, mà từ trước tới giờ đã ủng hộ bảng hiệu Thanh Minh. Không riêng gì ở các rạp lớn như Nguyễn Văn Hảo và Thanh Xương bị trống rạp, mà dọn đi các vùng phụ cận như rạp Thuận Thành ở Ða Kao; rạp Văn Cầm ở Phú Nhuận, hoặc vùng Thủ Thiêm, Tân Thuận v.v.. cũng bị ảnh hưởng. Hằng đêm khán giả thưa thớt, do bởi người coi hát cải lương đã không ngại tốn thêm tiền xe, đã đổ dồn về rạp Thanh Bình đi coi đoàn Thủ Ðô, mà lúc đó chỉ mỗi một tuồng Tiếng Trống Sang Canh của soạn giả Thu An, khai trương hát cả tháng cả ngày lẫn đêm mà người ta cũng vẫn mua vé đi coi đầy nghẹt rạp.

Về phía bên gánh Thủ Ðô thì ông bầu Ba Bản, vốn là con của một đại điền chủ ở Bến Tre, là người giàu có, tiền dư của để, ông nguyên là thầu khoán từng trúng thầu mở con đường từ Thủ Dầu Một đi Ban Mê Thuột. Do là người yêu thích cổ nhạc cải lương nên khi làm xong con đường, ông Ba Bản về Sài Gòn thành lập hãng dĩa hát Hoành Sơn, thu thanh toàn tuồng cải lương, vọng cổ, và đến năm 1959 thì thành lập đoàn Thủ Ðô, một đoàn hát lớn mà từ trước tới giờ chưa có đoàn nào hùng mạnh như vậy. Cơn gió Thủ Ðô thổi bay hết số đông đoàn hát đang hoạt động vùng đô thành, kể cả đoàn Thanh Minh cũng phải chới với.

Trước tình thế đó, lại đang mùa mưa, nếu không đi xa tránh né đoàn Thủ Ðô đang hùng mạnh như vũ bão, thì đoàn hát Thanh Minh sẽ dần dần kiệt quệ không khác gì đoàn Hoa Sen đang sống vất vưởng ở quanh rìa Thủ Ðô Sài Gòn, do đó mà bà bầu Thơ quyết định cho đoàn đi lưu diễn.

Ðoàn Thanh Minh nhiều năm qua chỉ hát quanh quẩn ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh, nên đào kép nhân viên của đoàn hầu như người nào cũng có thêm một công việc nào đó. Ngoài tiền lương được lãnh hằng đêm của đoàn, họ còn hoạt động làm ăn thêm: Người thì có sạp mua bán trong các chợ, kẻ thì có xích lô đạp cho mướn, như trường hợp hề Kim Quang, hề Văn Núi, kép độc Văn Ngà, mỗi người có vài chiếc xích lô cho mướn. Những người khác thì hùn hạp làm ăn với nhiều hình thức khác mà công cuộc làm ăn cần phải có mặt ở Sài Gòn mới giải quyết được. Giờ đây bà bầu Thơ quyết định cho đoàn đi lưu diễn, khiến mọi người trong đoàn ai cũng lo âu, than vắn thở dài và trách cứ đoàn Thủ Ðô đã thu hút hết khán giả, bắt buộc đoàn Thanh Minh phải rời khỏi Sài Gòn đi lưu diễn xa để sống còn, và công việc làm ăn của họ bị xáo trộn.

Trước sức mạnh áp đảo của đoàn Thủ Ðô, bắt buộc đoàn Thanh Minh phải đổi chiến thuật để sống còn, chứ bằng không thì số phận như nhiều đoàn khác phải rã gánh. Tránh đối đầu với một đoàn Thủ Ðô hùng mạnh đang thu hút gần hết khán giả, bà Bầu Thơ thông báo cho nghệ sĩ công nhân đoàn Thanh Minh thu xếp mọi việc đang làm ăn ở sài gòn để theo đoàn đi lưu diễn một thời gian.

Vậy trước khi nói đến sự việc đi lưu diễn của đoàn Thanh Minh, cũng nên đề cập đến vấn đề tiên khởi của nó, nghĩa là do đâu mà ông ba bản bỏ tiền ra để thành lập đoàn Thủ Ðô, cải tiến sân khấu, đưa nghệ thuật cải lương vào thời đại huy hoàng, mà trong lịch sử của bộ môn nghệ thuật này chưa từng có một đoàn hát cải lương nào thực hiện được.

Số là một ngày nọ vào khoảng giữa năm 1959, tại hãng Dĩa Hát Hoành Sơn ở đường Ngô Ðình Khôi, (qua khỏi cầu Công Lý, đường lên sân bay Tân Sơn Nhứt) chủ nhân hãng dĩa là ông ba bản đang đứng trước phòng thâu thanh thì nghệ sĩ Út Trà Ôn chạy đến than trời, cầu cứu nói rằng mình đang bị bà Bầu Thơ đoàn Thanh Minh “đì” quá nặng, và van xin sự giúp đỡ của ông Ba Bản.

Nhiều năm qua Út Trà Ôn là trụ cột của đoàn Thanh Minh, hễ lên sân khấu là đóng vai chánh và thường đóng cặp với đào Kim Chưởng, Thúy Nga, Kim Anh, nhưng từ mấy tháng nay bà Bầu Thơ mời được kép trẻ Hữu Phước về đóng cặp với Thanh Nga, cho Út Trà Ôn ra rìa “hạ tầng công tác” xuống đóng vai lão. Và mới đây bà Bầu Thơ còn bảo Năm Châu viết tuồng xã hội giao cho ông đóng vai lão quản gia, bị kép trẻ (Hữu Phước) bạt tai, đá đít... Dù là vai trò trong tuồng hát nhưng cũng là hình thức làm nhục, khiến cho Út Trà Ôn mất mặt với nghệ sĩ trong đoàn, và ai cũng cười thầm cho rằng đệ nhứt danh ca đã hết thời rồi, nên bị bà Bầu Thơ hạ sát ván.

Nhận vai trò thì bị nhục, mà không nhận thì vi phạm hợp đồng, bà Bầu Thơ đưa ra tòa thì Út Trà Ôn lãnh đủ, (giao kèo Út Trà Ôn ký với gánh Thanh Minh lên tới bạc triệu) do đó mà Út Trà Ôn chạy đến cầu cứu với ông Ba Bản, bởi vì những năm trước đó Út Trà Ôn là danh ca chính của hãng Dĩa Hoành Sơn, từng làm giàu hãng dĩa qua các tuồng mà Út Trà Ôn đã thu thanh. Út Trà Ôn đề nghị ông Ba Bản lập gánh hát để cho mình giữ vai chính, và cũng theo lời của ông thì cái tên Út Trà Ôn vẫn còn ăn khách, vẫn còn là mục tiêu mua vé của khán giả.

Sau lời cầu cứu và đề nghị cũng có lý thì ông Ba Bản gật đầu đồng ý lập một gánh hát lớn để cho Út Trà Ôn giữ vai chánh, (về sau khi tiếp xúc với chúng tôi, ông Ba Bản nói rằng quyết định thành lập gánh hát Thủ Ðô của ông chỉ trong 10 phút mà thôi, nghĩa là sau lời than vãn của Út Trà Ôn).

Thế là ông Ba Bản trao cho Út Trà Ôn 3 triệu đồng, về trả cho bà Bầu Thơ 2 triệu để rời gánh, còn 1 triệu để xài, và bắt đầu về hãng Dĩa Hoành Sơn chuẩn bị tập tuồng cho đoàn hát sắp thành lập.

Tin tức ông Ba Bản thành lập gánh hát được loan truyền nhanh chóng trong làng cải lương, khiến cho giới này dao động mạnh, họ hỏi han nhau tùm lum về sự việc, và cứ mỗi sau một ngày thì lại có thêm tin mới lạ trên trang kịch trường của báo chí lúc bấy giờ, mà chung quy toàn là những tin mà các bầu gánh cải lương hiện hữu nghe qua đều muốn lên cơn sốt. Thí dụ như tin gánh hát mới này trả lương cho nghệ sĩ, công nhân gấp 3, 4 lần các gánh hát khác đang trả, cũng như tranh cảnh, trang cụ, áo quần, hia mão, vật dụng nhu cầu cho gánh hát cải lương toàn đồ đắt tiền, và nhiều đến đỗi phải cả chục chiếc xe hàng mới chuyên chở hết. Riêng xe buýt lớn dành chở nghệ sĩ, nhân viên cũng 6, 7 chiếc, đó là chưa kể những nghệ sĩ đã có tên tuổi sẽ được cho mượn tiền để mua xe hơi, vừa lấy oai với đồng nghiệp, lại vừa tăng cường thực lực cho đoàn hát mới v.v..

Mà thật vậy, trong lúc còn đang tập tuồng thì ông Ba Bản đã phô trương lực lượng, đặt mua trên cả chục chiếc xe vận tải còn mới tinh, tất cả đều sơn trắng, vẽ chữ “thủ đô” và cho đậu một hàng dài trước hãng dĩa hát Hoành Sơn dọc theo đường Ngô Ðình Khôi. Việc này là chiến thuật áp đảo, là đòn tâm lý mà gánh Thủ Ðô đã tung ra trước ngày khai trương đến những 2 tháng.

Cũng cần hiểu thêm, hoạt động sân khấu cải lương lúc bấy giờ, đại đa số gánh hát đều không có phương tiện xe cộ di chuyển, mỗi lần dọn đi phải thuê mướn xe hàng và đào kép công nhân thì đi xe đò, bầu gánh đưa tiền mạnh ai nấy mua vé. Chỉ có đoàn Kim Chưởng là có xe riêng, khoảng 4, 5 chiếc gồm xe hàng và xe đò, cho sơn màu xanh lơ, vẽ chữ “Ðoàn Ca Kịch Kim Chưởng” thật lớn ở bên hông. Khi dọn đến tỉnh nào thì bà bầu Kim Chưởng cho những chiếc xe này chạy biểu diễn trong đường phố, một hình thức quảng cáo lôi cuốn người đi coi. Có lẽ nhờ có mấy chiếc xe này nên đoàn Kim Chưởng dễ dàng đi từ tỉnh này sang tỉnh nọ và được tặng cho biệt danh: “Ðệ Nhứt Anh Hùng Lưu Diễn”.

Trước đó một thời gian, đoàn Hoa Sen của ông bầu Bảy Cao cũng có một số xe vận chuyển như vậy, cũng vẽ chữ Hoa Sen thật lớn bên hông, nhưng sang thời điểm này thì đoàn Hoa Sen đã xuống dốc thậm tệ, đoàn xe bán hết! Còn gánh Kim Chung thì lúc này chưa phát triển, chưa có đoàn Kim Chung 2 và chỉ hoạt động ở Sài Gòn nên cũng không có xe riêng. Tóm lại là phần lớn các gánh hát đều không có xe, kể cả đoàn Thanh Minh là đại ban mà cũng hợp đồng với chủ nhân các xe hàng mỗi lần thay đổi rạp. Trong khi nhiều đoàn hát đang hoạt động không có xe riêng, thì đoàn Thủ Ðô của ông Ba Bản, chưa biết ngày nào khai trương mà xe cộ đã nằm đầy trước hãng.

Giới am tường cải lương thời đó cho rằng soạn giả Thu An đề nghị ông ba bản mua đoàn xe, mục đích chính không phải dùng di chuyển đoàn hát, mà là để thị oai trước khi ra quân, cho các gánh khác khiếp vía: “Ði chỗ khác chơi, chớ sớ rớ gần đây thì từ chết tới chết”! Thu An là người viết vở tuồng Tiếng Trống Sang Canh cho đoàn Thủ Ðô khai trương ra mắt khán giả ở đô thành Sài Gòn vào đầu năm 1960.

Thấy rõ ràng trước mắt như vậy, thử hỏi các gánh hát nghèo làm sao không phát rét chứ! Hầu hết các gánh đều hoạt động trong nợ nần chồng chất, giờ đây lại thêm gánh hát lớn ra đời, thì dĩ nhiên lại càng khổ hơn, bởi khán giả sẽ tập trung về gánh lớn thì gánh nhỏ còn ai muốn đi coi? Tình trạng đó khiến cho các bầu gánh lo âu, ăn ngủ không yên, biết sớm muộn gì cũng bị anh khổng lồ Thủ Ðô đè bẹp, do đó mà trong lúc đoàn Thủ Ðô còn đang tập dượt, thì một số gánh lo thu xếp để đi xa, tránh né một thời gian rồi sẽ tính. Và một số gánh đang mang nợ nhiều, biết khó trả nên đã áp dụng chiến thuật “đương đầu cho chết”! Mà thật vậy, lúc đoàn Thủ Ðô khai trương thì các gánh nhỏ khán giả đi coi đếm trên đầu ngón tay. Sau đó vài ngày thì các gánh này tuyên bố rã gánh để “xù” số nợ ắp lẫm đang mang.

Lúc bấy giờ các gánh lớn ở đô thành, cũng như các gánh nhỏ ở tỉnh hầu hết các đều tiền vay bạc hỏi, sau mỗi xuất hát vừa vãn thì chủ nợ luôn có mặt thu tiền lời (tiền đứng). Gánh nào cũng nợ ngắn hạn, nợ dài hạn ngày một chồng chất thêm lên, gánh nhỏ thì nợ con số vài trăm ngàn, gánh lớn thì nợ vài triệu. Nghe nói bà Bầu Thơ có lúc nợ gần 40 triệu, và với số nợ kia thì sau một đêm hát chỉ đủ trả tiền lời mà thôi, tiền đứng giữ nguyên, cuối cùng Thanh Nga phải có chồng là Ðại Úy Mẫn mới giải quyết được nợ (Ðại Úy Mẫn thuộc trường Bộ Binh Thủ Ðức, biệt phái làm yếu khu trưởng Tân Cảng, cầu Sài Gòn xa lộ Biên Hòa, một chức vụ béo bở lúc bấy giờ). Sự việc đưa đến Thanh Nga làm lễ cưới với Ðại Úy Mẫn sẽ được đề cập trở lại ở phần sau với nhiều chi tiết hơn.

Trong lúc đoàn Thủ Ðô đang tập dượt thì ký giả kịch trường săn tin rất bén nhạy, cứ mỗi ngày đưa lên báo thì có thêm một vài sự mới mẽ mà đoàn hát nầy sẽ đem lại cho khán giả yêu thích nghệ thuật cải lương. Báo thì đưa tin ông ba bản đặt mua từ bên Ðức, cả chục ngọn đèn loại 4000 watt và 6000 watt, để dùng chuyển cảnh, thay vì dùng màn kéo lên bỏ xuống đã quá xưa. Trong khi đó thì hầu hết các gánh khác đang xài bóng đèn loại 100 watt là tối đa, thành thử ra ai cũng bất mãn đoàn hát mà mình đang cộng tác, và mong có cơ hội sẽ về đoàn hát mới.

Cũng có tờ báo đưa tin đoàn Thủ Ðô mướn cả chục thợ may chuyên may đồ hát cho nghệ sĩ, để mỗi lần ra sân khấu là thay một bộ đồ mới lộng lẫy, tức là chỉ một vai trò mà người nghệ sĩ có thể 3,4 lần thay đổi trang phục, y phục v.v.. tóm lại mỗi sự chuẩn bị của đoàn Thủ Ðô đều được các tờ báo có trang kịch trường loan tin mỗi ngày hoặc mỗi kỳ, vừa quảng cáo không công cho đoàn hát mới, lại vừa làm xuống tinh thần nghệ sĩ các gánh khác. Cũng do báo chí nói đến quá nhiều, lại thêm đồn đãi truyền miệng khắp nơi nên ngày khai trương của đoàn Thủ Ðô, người đi coi hát đông như ngày hội, thiên hạ đổ dồn đến rạp Thanh Bình, con đường Phạm Ngũ Lão đầy nghẹt người ta, làm tắc nghẽn lưu thông từ chợ Thái Bình đến ngã ba đường Ðề Thám.

Trước ngày có tin ông Ba Bản thành lập gánh hát, thì hoạt động sân khấu cải lương ở đô thành Sài Gòn, cũng như trên cả nước chỉ có đoàn Thanh Minh của bà bầu Thơ được coi như có tầm cỡ nhứt. Nghệ sĩ của đoàn Thanh Minh đều là tài danh nổi tiếng, và hầu như người nào cũng được ký giao kèo, một hình thức ràng buộc nghệ thuật, mà người ta đã căn cứ vào đó để đánh giá mức độ ăn khách của người nghệ sĩ đó. Theo như sự đồn đãi trong giới cải lương lúc bấy giờ, thì nghệ sĩ đoàn Thanh Minh đã có giá giao kèo như sau:

Riêng một mình Út Trà Ôn giao kèo 2 triệu (vào thời điểm nầy vé số kiến thiết quốc gia bán 10 đồng, trúng độc đắc 1 triệu). Hữu Phước và Hoàng Giang mỗi người 800 ngàn; hề Kim Quang, hề Châu Hí mỗi người 600 ngàn; cặp Việt Hùng, Ngọc Nuôi 400 ngàn. Ðào trẻ Bích Sơn từ bên gánh Thúy Nga về, tuy mới nổi nhưng nghe nói giao kèo rất cao, chỉ đứng sau Út Trà Ôn. Còn các nghệ sĩ giàn bao như Ba Túy, Ba Tuội, Văn Ngà, Văn Núi, Tư Rọm thì người nào cũng giao kèo trên dưới một trăm ngàn. Riêng phần Thanh Nga là con của bà bầu Thơ thì không có giao kèo, do đó không có giá, và trong suốt cuộc đời nghệ thuật, Thanh Nga cũng chưa một lần ký công tra với đoàn hát nào, nên có thể gọi là... vô giá.

Thế nhưng, những tờ giao kèo nầy luôn được ký trong âm thầm và số tiền ghi trong giao kèo chưa chắc gì là đúng với số tiền người nghệ sĩ được nhận, mà trong làng cải lương coi như đương nhiên và chẳng ai thắc mắc cả. Thí dụ kép “A” ký giao kèo với đoàn Thanh Minh, trên giấy tờ thì ghi một triệu, nhưng trên thực tế chỉ nhận có 7, 8 trăm ngàn hoặc 5, 6 trăm ngàn, hay còn thấp hơn nữa. Hoặc đào “B” ký công tra với bầu gánh Kim Chưởng, trên giấy tờ nhận 500 ngàn, nhưng trên thực tế chẳng có đồng nào.

Tuy chịu thiệt thòi như vậy, nhưng người nghệ sĩ vẫn chấp nhận và còn rất vui vẻ đặt bút ký giao kèo, lý do rất dễ hiểu là số tiền kia sẽ không phải trả lại, nếu như cộng tác với đoàn cho tới mãn hạn (thông thường là 2 năm). Chỉ một điều duy nhứt phải trả lại tiền là đi sang đoàn khác, nghĩa là có đoàn hát nào đó muốn “bắt” về thì phải bỏ ra đúng 1 triệu cho bầu gánh để được tự do về với đoàn bên kia, và lúc bấy giờ người ta căn cứ vào đó để đánh giá, và dĩ nhiên người nghệ sĩ coi như nổi tiếng luôn.

Một trường hợp điển hình là hề Văn Hường chưa từng đi hát ở đâu hết, ngày gia nhập gánh Hoa Sen, bầu Bảy Cao đưa tờ công tra 1 triệu cho Văn Hường ký, mà nghe nói hình như chỉ được lì xì cho vài chục ngàn xài vặt, cà phê cà pháo mà thôi, chứ chẳng mua sắm được gì. Sau đó một thời gian bầu Long bắt về tăng cường đoàn Kim Chung thành lập đoàn mới, và dĩ nhiên Bầu Long phải bỏ ra một triệu cho Văn Hường trả cho bảy cao để rời gánh. Cũng cần nói thêm, với số tiền nói trên của các nghệ sĩ cải lương nếu đem so với thời giá lúc bấy giờ thì như sau: Vàng y 4 ngàn một lượng; bao gạo chỉ xanh một tạ 500 đồng; lương lính binh nhì là 514 đồng mỗi tháng. Lúc bấy giờ có câu thơ được phổ biến rộng rãi: “Anh đây là lính binh nhì, năm trăm mười bốn lấy gì nuôi em”.
Riêng phần gánh Thanh Minh của bà bầu Thơ thì kể từ hôm trước Tết Kỷ Hợi 1959 cho đến gần hết Tháng Giêng vẫn còn nằm tại rạp Nguyễn Văn Hảo chứ chưa đi đâu, và hằng đêm con số khán giả cũng tương đối, đủ chi phí còn dư chút ít, nhưng từ mấy bữa nay thì số người mua vé đi coi hát đã ngày một hạ thấp, tệ nhứt là suất hát đêm vừa qua số ghế có người ngồi chỉ nửa rạp, tức là đến mức báo động, bắt buộc phải giải quyết, chứ không thể chần chờ mà xưa giờ phương cách được coi như hữu hiệu nhứt, thường được hầu hết bầu gánh hát áp dụng là thay đổi rạp dọn đi nơi khác, càng xa càng tốt.

Thế nhưng, đối với gánh Thanh Minh thì từ lúc Năm Nghĩa còn sinh tiền đến giờ lại không có kinh nghiệm trong vấn đề đi lưu diễn xa, mà chỉ lẩn quẩn mấy rạp trong phạm vi đô thành mà thôi. Và theo lời một số người trong đoàn thì do chứng bệnh nan y trầm kha mà Năm Nghĩa chưa hề rời khỏi khỏi đô thành, hoặc nếu có đi xa lắm thì cũng chỉ Biên Hòa, Bình Dương, Lái Thiêu, Thủ Ðức... vì nếu đi xa phải đa đoan với nhiều chuyện, rủi bệnh trở nặng muốn về cũng không kịp, do đó mà từ ngày Năm Nghĩa mất tới giờ, bà bầu Thơ cũng theo đường lối đó mà không cho đoàn đi lưu diễn xa.

Ði xa không chắc ăn, mà thay đổi rạp bằng cách dọn đi các rạp vòng quanh ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh thì cũng không ổn, chưa chắc gì con số khán giả sẽ tăng lên, do bởi mấy lúc sau này các loại xe gắn máy như Mobylette - Sachs - Puch từ Âu Châu nhập vào rất nhiều, khán giả cải lương phần nhiều sử dụng các loại xe tiện dụng trên để đến rạp, chứ không nhứt thiết phải gánh hát ở gần mới siêng đi coi như thời gian còn thiếu phương tiện của những năm đầu và giữa thập niên 1950. Bởi lý do trên mà bà bầu Thơ vẫn tiếp tục bám trụ tại Nguyễn Văn Hảo cho đỡ tốn kém phần di chuyển.

Biết rằng sau cái Tết thì hầu hết các gánh cải lương đều bị trống rạp, gánh thì còn trên dưới nửa rạp, có gánh trống trơn thưa thớt người đi coi, đến đỗi phải trả tiền vé lại cho khán giả vì không thể mở màn được. Thậm chí có gánh tạm nghỉ một thời gian chờ thời, nhưng đó là những gánh hát nhỏ, hoặc hạng trung, chi phí không nhiều nên dù có nghỉ hẳn vài tháng cũng sống lại được, chứ còn gánh lớn như Thanh Minh thì chỉ hai ba đêm khán giả dưới nửa rạp, cũng làm cho ai nấy rối lên. Lớn thuyền lớn sóng, gánh lớn thì chi phí nặng, chỉ nội tiền mướn rạp cũng hơn chi phí toàn bộ của các gánh nhỏ. Ngoài ra còn biết bào nhiêu là tiền phải chi ra hằng ngày của một gánh hát lớn đang hoạt động ở đô thành, phải cao gấp trăm lần các gánh nhỏ ở thôn quê. Ðó là chưa nói đến vấn đề công tra của nghệ sĩ, nếu quá thời gian một tuần hay một tháng (tùy theo sự thỏa thuận trong tờ công tra) mà không hát thì nghệ sĩ có quyền đi hát cho đoàn khác. Tóm lại là làm bầu gánh cải lương lớn như bà bầu Thơ thì sự mất ăn mất ngủ luôn luôn rình rập, vui vẻ hay buồn rầu tùy thuộc vào con số khán giả đến rạp hằng đêm đầy rạp hay ghế bỏ trống.

Một vấn đề nữa khá rắc rối, cũng là nguyên nhân khiến cho đoàn Thanh Minh khó giữ được khán giả lâu dài, là do thành phần đào kép cột trụ đã già nua, Út Trà Ôn tuy ca hay nhưng đã ngoài 40 tuổi, đóng vai chánh mãi khán giả sẽ chán. Tuy hiện giờ chưa đến đỗi nào, đoàn Thanh Minh vẫn còn người đi coi, nhưng nếu cứ tiếp tục kéo dài tình trạng phân bố vai trò theo cái kiểu đào kép chánh đều già nua, thì chắc chắn khán giả sẽ ngày một vơi đi, sớm muộn gì cũng xuống dốc thê thảm như hiện tình của gánh Hoa Sen (Bảy Cao già vẫn giữ vai chánh), đang sống vất vưởng ở vùng ngoại ô quanh rìa đô thành, hoặc bi đát hơn là chịu không nổi phải rã gánh như phần đông các đoàn khác, mà thời gian qua bà đã chứng kiến.

Bữa nay khoảng gần 12 giờ trưa, do hoàn cảnh riêng của mỗi người, hầu hết đào kép gánh Thanh Minh đều vắng mặt tại đây, họ tản mác và đến chiều tối mới tập trung về chuẩn bị cho buổi hát. Giờ này chỉ còn vài công nhân ở lại hậu trường rạp hát trông coi đồ đạc, và bà bầu Thơ thì hôm nay lại có mặt ở rạp, bà đi đi lại lại trên sân khấu vắng lặng, đồng thời căn dặn mấy người làm những điều gì đó, xong đi ra ngồi một mình ở tiệm nước phía sau rạp.
Ngồi vào bàn sang trọng của hiệu cao lâu, trong lúc chờ đợi phổ ky đem thức ăn lên, bà bầu Thơ lên tiếng trước:

- Ở đây rất dễ bàn tính công chuyện, không ai nghe sự việc đang bàn, vậy có điều gì hay cho gánh Thanh Minh chú Sáu cứ nói ra đi.

Biết bà bầu Thơ đang nóng ruột, muốn biết nhanh vấn đề mà mình vừa bật mí khi nãy ở Ngã Tư Quốc Tế, nên Thu An cố tình kéo dài thời gian, chậm rãi lấy gói Bastos xanh rút một điếu, ông nói:

- Nãy giờ tôi thèm điếu thuốc quá, xin lỗi chị Năm cho tôi “bập” vài hơi rồi sẽ nói, chị có khó chịu vì khói thuốc hông vậy?

Dù rất bực mình cái lối cà kê của Thu An, bà bầu Thơ vẫn nhẫn nại:

- Không sao, chú Sáu cứ tự nhiên, hồi anh Năm Nghĩa chưa mất mỗi ngày hút hai ba gói melia vàng, nên tôi quá quen với khói thuốc.

- Nghe chị nhắc đến anh Năm Nghĩa, làm cho tôi nhớ lại khi xưa, lúc đoàn Thanh Minh đương đầu với Hoa Sen hùng mạnh, mà lúc bấy giờ trong giới cải lương hầu như ai cũng nghĩ rằng Năm Nghĩa sẽ bị Bảy Cao vật chết!

- Ngay cả tôi cũng nghĩ như vậy đó chú Sáu, lúc đó Hoa Sen có cả hát bóng phim màu, khán giả đi coi nghẹt rạp, vậy mà do tài lèo lái của anh Năm Nghĩa nên gánh Thanh Minh mới sống tới bây giờ.

Hút vài hơi, Thu An bỏ điếu thuốc xuống chiếc lọ gạt tàn, xong ông nói:

- Bởi vậy những người từng làm bầu gánh cải lương, họ rất phục anh Năm Nghĩa, phải chi lúc này mà có ảnh bên cạnh chị thì đỡ khổ biết thế mấy.

- Nếu còn anh Năm Nghĩa thì còn nói gì nữa, hồi đó gánh Thanh Minh mỗi lần gặp khó khăn thì một tay ảnh lo liệu hết, tôi đâu phải khổ tâm như bây giờ.

Ðề cập đến chuyện gánh Thanh Minh từng đương đầu với đoàn Hoa Sen, Thu An không thể không nhớ là lúc đó Thanh Minh có Út Trà Ôn, một cây ca vọng cổ được mến mộ bên địa hạt dĩa hát, thì dĩ nhiên cũng giúp Thanh Minh giữ được số khán giả để tồn tại. Và ông cũng từng nghe nghệ sĩ công nhân gánh Thanh Minh kể lại là bà bầu Thơ nhiều lần đấu khẩu, gây lộn với Út Trà Ôn về những vấn đề liên quan đến sự cộng tác, kể cả thời Năm Nghĩa còn đứng sân khấu, cho đến những lúc sau này khi ông đã mất và bà bầu Thơ thừa kế sự nghiệp. Và sẵn nói về Năm Nghĩa, Thu An cố tình đề cập đến Út Trà Ôn để xem thái độ của bà, đối với anh kép chánh có giọng ca trời cho này ra sao, để tùy tình hình thực tế mà đưa ra kế hoạch, ông nói:

- Khán giả cải lương phần lớn đều biết Út Trà Ôn đi gánh Thanh Minh từ thời còn anh Năm Nghĩa, vậy tánh tình ông Mười Út thế nào vậy chị?

Bà bầu Thơ lắc đầu:

- Trời ơi! Làm khó số một, tôi gây lộn với ổng không biết bao nhiêu lần rồi, mà nói thiệt mỗi làm ổng làm reo hoạnh hẹ thì tôi muốn phát khùng lên vậy.

- Tôi cũng có nghe nói rằng Út Trà Ôn thường hay làm khó dễ với bầu gánh, nhưng tưởng cũng vừa vừa thôi chớ làm gì đến đỗi chị phải phát khùng.

- Ðiên luôn nữa chớ khùng thì còn ít, chú Sáu nghĩ coi, mỗi lần có lời qua tiếng lại thôi, chớ chưa đến đỗi gây lộn là ổng làm khó bằng cách bỏ đi.

- Ði đâu, bỏ hát à!

- Hổng biết đi đâu, tới 8 giờ tối người gác cửa bắt đầu cho khán giả vô rạp để 9 giờ mở màn hát, vậy mà chưa thấy ổng về sắm tuồng.

- Vậy rồi làm sao, ông ta có về kịp để hát không?

- Kịp! Nhưng mà cả đám đều lên ruột, bởi chỉ còn chừng 10 phút là tới giờ mở màn, thì nghe mấy người ở ngoài chạy vô báo là thấy xe của ông chạy về đậu ngoài sau rạp.

- Gần tới hát mới về thì làm sao kịp vẽ mặt, tô son đánh phấn?

- Ổng về tới thì ai cũng tránh đường cho ổng đi vô mở rương, lấy phấn son ra giặm mặt cho kịp ra sân khấu, mà mỗi lần như vậy là tôi lo thiếu điều đứng tim, anh chị em trong đoàn họ cũng lo lắng như tôi.

- Về kịp để đảm trách vai trò, chắc anh chị em trong đoàn mừng lắm hả chị?

- Mừng thì có mừng đó, nhưng ai cũng mệt cầm canh, bởi về phần ông ta thì biết sẽ về kịp, chớ về phần mình và anh chị em đào kép, người làm thì đâu biết ổng có về kịp hay không. Nếu không có ổng, không có kép chánh thì làm sao mở màn, đêm nào trả vé cho khán giả là đêm đó húp cháo chớ làm gì có lương.

- Vậy mà sao chị không có một kép hát khác dự phòng, để mỗi khi không có mặt Út Trà Ôn thì sẵn sàng thay thế?

- Phải được như vậy thì còn nói làm gì, người đi mua vé coi hát đâu có chịu, có vài lần ổng bịnh thiệt, tôi đưa kép khác lên thay thế, bị khán giả la ó và cuối cùng phải bỏ màn xuống cáo lỗi trả tiền vé cho người ta.
Vì là người giữ chìa khóa phòng thâu thanh dĩa hát, Thu An quen biết rất nhiều nghệ sĩ cải lương tên tuổi thời bấy giờ, và họ thường tặng vé đi coi hát cho ông, do đó mà các gánh hát cải lương ông đều có xem qua nhiều lần, trong đó có gánh Thanh Minh. Nhờ vậy mà Thu An biết rõ có những tuồng do Năm Nghĩa đóng vai chánh, sau đó mới giao lại cho Út Trà Ôn, và cũng có những tuồng hai người thủ một vai, như tuồng “Chiếc Lá Vàng” rất ăn khách vào thời đó.

Vở tuồng Chiếc Lá Vàng trước đó hát ở gánh Mộng Vân, về sau Mộng Vân rã gánh giao qua cho Năm Nghĩa hát và khán giả đi coi đông hơn. Tuồng rất dài phải hát hai đêm mới dứt, nên Năm Nghĩa chia cho Út Trà Ôn cùng thủ một vai chánh với mình. Bữa đầu người ta đi xem thì thấy vai chánh do Út Trà Ôn đảm trách, và hôm sau đi coi tiếp thì vai này do Năm Nghĩa đóng trọn cả đêm, có nghĩa là đêm thứ nhì không có mặt Út Trà Ôn mà đâu có vấn đề khán giả phản đối phải trả vé.

Thu An liên tưởng đến sự thể, nhận thấy rằng nếu như lúc này mà gánh Thanh Minh còn Năm Nghĩa thì sự việc khó khăn đang gặp phải sẽ giải quyết không khó, và Thanh Nga sẽ được Năm Nghĩa lăng xê dễ dàng chứ không trở ngại như hiện nay. Có điều trớ trêu là Thanh Nga con của bầu gánh, lãnh giải cải lương đầu tiên (Giải Thanh Tâm) được chính quyền hỗ trợ mạnh mẽ, được Nha Ðiện Ảnh Bộ Thông Tin quay phim thời sự chiếu trên cả nước, vậy mà ngay trong gánh hát nhà, Thanh Nga lại không có đất đứng!

Thu An nắm vững thực trạng của gánh Thanh Minh, và biết rõ cái khó giải quyết của bà bầu Thơ trong lúc này, là Út Trà Ôn đang là trụ cột của đoàn, nếu không có Út Trà Ôn thì vé bán ra giảm sút ngay hơn phân nửa, gánh Thanh Minh sẽ xuống nhanh và cái ngày đi tới chỗ rã gánh sẽ không xa. Do đó mà bà bầu Thơ đang cố tìm một lối thoát, vừa đưa Thanh Nga lên ngôi vị đào chánh, sẵn sàng nắm giữ vai trò nòng cốt về phía đào, mà lại vừa phải giữ cho được Út Trà Ôn để duy trì con số khán giả hằng đêm.

Tuy biết rõ thời gian qua và ngay cả bây giờ, Út Trà Ôn là mục tiêu mua vé của khán giả gánh Thanh Minh, nhưng Thu An cũng hỏi để cho bà bầu Thơ trả lời, hầu nắm lấy đưa ra kế hoạch cải tiến gánh Thanh Minh, ông nói:

- Nghĩa là người đi coi hát chỉ nhắm vào Út Trà Ôn để mua vé phải không chị Năm?

- Gần như là như vậy, những đêm đăng bảng không có ổng thì số vé bán ra thấp hơn phân nửa rất xa, nếu cho mở màn hát thì đào kép chỉ lãnh lương đờ mi mà thôi, tôi có thử vài lần đều như vậy.

Thu An lắc đầu:

- Hèn gì, có vậy nên ông ta mới làm khó dễ với bầu gánh, và mọi người trong đoàn ai cũng ngán ổng hết.

Thu An đề cập đến Út Trà Ôn để xem thái độ của bà bầu Thơ đối với anh kép hát có giọng ca trời cho như thế nào, nếu đúng như sự xét đoán của ông thì bà ta rất bất mãn với Út Trà Ôn. Riêng bà bầu Thơ trước khi về với Năm Nghĩa, bà gần như là một mệnh phụ (vợ bé của ông Hội Ðồng Lợi ở Tây Ninh) nên lời ăn tiếng nói rất thận trọng. Bởi dù cho là vợ bé, bà vẫn mang danh là “Bà Hội Ðồng” như ai vậy! Nhưng từ ngày chắp nối với Năm Nghĩa đi theo gánh hát cải lương, gạo chợ nước sông lâu ngày nên ngôn từ cũng gần giống như đào lẳng trong tuồng hát, và sẵn đang bực mình Út Trà Ôn, bà nói:

- Bởi vậy nên tôi chán quá đó chú Sáu, nếu anh Năm Nghĩa còn sống tôi giao gánh Thanh Minh cho ảnh làm sao đó thì làm, chớ đeo theo miết rồi có ngày cũng chết vì gánh hát, dầu mình không phải đào kép cải lương cũng bỏ mạng sa trường vì cải lương đó thôi!

Thu An cười:

- Sanh nghề thì phải tử nghiệp chứ sao! À, mà hồi xưa mỗi lần Út Trà Ôn làm khó, anh Năm Nghĩa đối phó ra sao vậy chị?

- Ðối với anh Năm Nghĩa thì rất dễ dàng, ông Mười Út đâu dám làm reo nhiều như bây giờ.

- Sao chị không làm theo cách giải quyết của anh Năm Nghĩa?

- Làm thế nào được chớ, tôi đâu có hát được như anh Năm Nghĩa, không có Út Trà Ôn thì ảnh hát thế liền, bởi khán giả cũng mến mộ ảnh.

Phải rồi, khán giả cải lương rất say mê giọng ca anh Năm Nghĩa, có thua gì Út Trà Ôn đâu, chính tôi đây cũng mê giọng ca của ảnh.

- Chắc chú Sáu cũng biết anh Năm Nghĩa từng vô dĩa hát trước Út Trà Ôn đến cả mấy năm, lúc anh Năm Nghĩa vô dĩa Tình Yêu Trong Mộng Tưởng thì Út Trà Ôn còn làm ruộng ở dưới lục tỉnh.

- Ðúng như vậy đó chị Năm, sân khấu phản ảnh cuộc đời, nếu để cho khán giả, báo chí phản đối thì rất khó lấy lại uy tín.

- Do vậy mà tôi lo âu suốt mấy tháng nay, phải chi ông Mười Út mà chịu nhường vai kép chánh lại cho một kép trẻ khác, thì đỡ khổ cho tôi biết mấy!

- Chị Năm có nhờ ai dọ thử ý của Út Trà Ôn chưa, chứ không lẽ ông ta giành vai chánh trẻ suốt đời sao?

- Tôi có nhờ vài đào kép trong đoàn đưa vấn đề ra dọ ý, và chỉ nói xa nói gần thôi chứ chưa đi thẳng vào việc ông ta nên nhường vai trẻ cho người khác, nhưng vừa mở miệng là ông ta làm mặt giận ngay, thành thử ra không ai dám nói thêm lời nào.

- Thiệt rõ ràng cái ông Mười Út này, biết mình lớn tuổi mà cứ ôm vai chánh hoài như vậy, do đó mà đoàn Thanh Minh mới lâm vào cái thế bị động không cải tiến được.

Bà bầu Thơ thở dài:

- Bởi vậy mới khó khăn cho tôi, mà không có cách gì giải quyết.

Thu An cười và nói bằng lời tự tin:

- Khó khăn là đối với chị, với ai kìa, chớ còn tôi thì việc này dễ dàng như trở bàn tay thôi!

Bà bầu Thơ trố mắt nhìn thẳng Thu An:

- Vậy à! Chú Sáu giải quyết thế nào đây mà dễ như trở bàn tay?

- Tôi đã nói ra vấn đề với chị, thì dĩ nhiên tôi phải có kế hoạch để chị giải quyết chớ, nếu như chị Năm chấp nhận ý kiến của tôi.

- Nếu như giải quyết được, tôi giao việc này cho Chú Sáu đó.

- Ðược! Chị Năm cứ giao cho tôi đi, tôi sẽ có cách để Út Trà Ôn nghe theo mà không làm khó dễ gì hết, chị cứ yên trí vì hiện tại rất đúng lúc để chị cải tiến đoàn hát Thanh Minh và đưa Thanh Nga lên ngôi vị đào chánh.

- Tại sao lại đúng lúc, vậy chớ lúc nào không đúng, thật tôi không hiểu nổi!

- Làm sao chị hiểu được nếu tôi không nói ra.

- Thì chứ Sáu cứ nói đại ra đi, tôi nóng lòng muốn nghe.

- Ðúng lúc đây có nghĩa là đưa vấn đề ra nhằm lúc mà Út Trà Ôn bắt buộc phải chấp nhận, chứ bằng không ông ta bác bỏ ngay và đó là không đúng lúc.

- Chú Sáu có chắc là thằng cha Mười Út sẽ chịu từ bỏ vai chánh trẻ hay không?

- Sao lại không chắc, tôi biết hiện giờ Út Trà Ôn rất cần tiền, bởi chủ nợ vừa cho hay sẽ đòi số tiền ông ta đang thiếu.

- Ủa! Sao chú Sáu biết rõ như vậy?

Thu An gật đầu vài cái rồi nói:

- Thì phải biết, phải nắm vững tình hình mới thành công và chị mới tin được chớ.

Sở dĩ Thu An biết được việc Út Trà Ôn đang thiếu nợ và bắt buộc phải trả trong thời gian vài tuần nữa thôi, là do bởi cách đây vài ngày ông Ba Bản chủ hãng dĩa hát Hoành Sơn có tiếp xúc với bà Bảy Nhiễu là người chuyên môn cho vay gánh hát, và hầu như gánh nào, đào kép chánh nào cũng đều là con nợ của bà. Và trong lúc 2 người đang nói chuyện, vô tình Thu An nghe được nên biết rõ con số nợ mà Út Trà Ôn đang thiếu là hơn hai triệu đồng và đã đáo hạn, bắt buộc phải trả.

Nguồn: www.nguoi-viet.com
ĐặcTrưng.net
📎 Thanh Nga

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-18 00:51:50Viet duong nhan>

THANH NGA
(1942-1978)


Thanh Nga - một thời để nhớ


Định mệnh không muốn bà sống thêm tới ngày già nua mà qua đời ở tuổi mãn khai nhan sắc. Hình ảnh bà ghi dấu mãi mãi ký ức mọi người: một Thanh Nga không có vết nhăn thời gian trên mặt và để lại cho đời những giá trị nghệ thuật đích thực.

Với hơn 230 vở diễn trong 28 năm, kể từ khi lên 8 (1950) đến lúc qua đời nghiệt ngã ở tuổi 36 (1978), Thanh Nga cống hiến cho khán giả biết bao phút vui buồn, ngây ngất. Được như thế, bà phải vượt qua nỗi e ấp của một thiếu nữ ở tuổi trăng rằm, để sắm vai "người lớn" trong vở Người vợ không bao giờ cưới: sơn nữ Phà Ca (soạn giả Kiên Giang - Phúc Quyên). Nhập vai ấy, bà đã thổn thức yêu đương, thương nhớ cùng Hữu Phước (vai Mộng Long) lúc mới 15. Nếu giải Thanh Tâm đưa “Phà Ca” sáng lên như ngôi sao mới mọc (1958), thì cũng đưa vào đời một Thanh Nga bắt đầu biết mộng mơ. Và nếu những lời đồn đại, cả giấy mực viết ra, là có thật về chuyện bà thầm yêu soạn giả Hà Triều năm lên 18, thì điều ấy cũng tự nhiên như "triệu đóa hoa hồng".

Đến ngày có Thành Được - rồi xa nhau, sau đó với một uẩn khúc khác, Thanh Nga trong chiếc áo cưới bước lên xe hoa chính thức cùng người chồng là ông Mẫn. Tiệc cưới long trọng tại nhà hàng, có báo chí tới dự rất đông, có nghệ sĩ và các giới... Rượu champagne nổ giòn tan, cuộc vui tưởng lâu bền nhưng chưa được bao lâu đã vội lắng xuống, vì ông Mẫn phải ra tòa, bị bắt giam vì tội dính líu với tiền nong, công quỹ. Bà phải sống những ngày đoạn trường và đối mặt với dư luận. Những rắc rối không đâu cứ ùa đến, có cả việc vu oan, tố cáo. Từ chỗ tưởng như ngã quỵ, bà đã đứng lên với một người bên cạnh: ông Phạm Duy Lân.

Một nhà báo từng quen biết ông Lân, tác giả bài Nữ nghệ sĩ Thanh Nga: một kiếp hồng nhan gian truân đã viết: "Tôi gặp Thanh Nga và anh Lân thường khi, lúc họ dọn về ở cư xá Đô Thành đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ, quận 3). Hai người đi chiếc Honda. Vóc dáng anh Lân to lớn dềnh dàng, cao đến 1m80. Khi lái xe gặp nhau dọc đường, anh Lân hoặc chị Nga thường vẫy tay chào tôi. Có khi, tôi gặp họ chở kịch sĩ Tường Vi (đã quá cố), chắc là đi quay phim, hoặc có lúc chở Vân Hùng... Một điều tôi nhận xét, những năm ấy Thanh Nga tươi vui hẳn ra, có lẽ cô đã được "tự do" sau khi rời chiếc lồng son sân khấu và có hạnh phúc". Sau ngày sinh đứa con trai đầu lòng (và cũng là duy nhất) Phạm Duy Hà Linh năm 1973, vợ chồng Thanh Nga về ở đường Ngô Tùng Châu vào 1974. Đó cũng "là nơi ông Lân mở văn phòng luật sư riêng. Vào chặng này, hoạt động điện ảnh của Thanh Nga rộn rịp và trở thành gương mặt tài tử thu hút khán
giả cạnh các tên tuổi kỳ cựu khác như Kiều Chinh hoặc Thẩm Thúy Hằng".

Thế là, "cô đào thương nhạy khóc" thời nào lần lần "tái sinh" trên màn ảnh, qua nhiều phim của các đạo diễn Lê Dân, Lê Mộng Hoàng, Lê Hoàng Hoa... Bà chuyển từ điệu buồn qua nét vui trong các phim hài thường dựng để chiếu trong các ngày Tết Nguyên đán. Bà có mặt cạnh hề râu Thanh Việt trong Triệu phú bất đắc dĩ hoặc Năm vua hề về làng, Quái nữ Việt quyền đạo với nhiều danh hài: Thanh Hoài, Tùng Lâm, Phi Thoàn, Xuân Phát... Bạn bè của gia đình bà nhận xét, thời kỳ này, có thể gọi là hạnh phúc nhất của Thanh Nga: tiền tài, danh vọng, mái ấm gia đình... đều có đầy đủ. Nhưng nhiều duyên do đã khiến một "tài tử Thanh Nga" rời phim trường, để ngược về nơi mà bà đã rơi nhiều nước mắt: sân khấu! Cải lương và khán giả! Sân khấu là nơi bà đón nhận nhiều tiếng vỗ tay với hàng trăm vở diễn như Sắc đẹp nàng vô tội (của Nguyễn Liêu), Mưa rừng (của Hà Triều - Hoa Phượng), Gió ngược chiều (Nguyễn Thanh Châu)... Nhưng ở sân khấu, bà luôn bị mất tự do vì không được quyền sống đời sống riêng. Hằng ngày, bà phải tiếp nhiều danh gia các giới, tướng tá Sài Gòn, công kỹ nghệ gia, chính trị gia và cả “ngài đại sứ” hâm mộ thanh sắc. Sáng ra là tập dượt, tối lại diễn, chiều muốn chợp mắt một chút là con trai chủ hãng đĩa Asia tới thăm, giám đốc hãng kem Chà Và tới gặp, tặng hoa, tán tỉnh, chuyện vãn...

Thời giờ sống “thật” của bà có lẽ nhiều nhất là... trên sân khấu. Bà có tên là Juliette. Juliette Nga với “một mái tóc đen dài và thẳng tắp mang đầy vẻ thùy mị e ấp của người con gái Việt Nam” như cố nghệ sĩ Ngọc Lan nhận xét, và tiếp: “Khi thủ vai Trưng Trắc trong Tiếng trống Mê Linh, Thanh Nga đang ở tột đỉnh danh vọng. Nhan sắc ở lứa tuổi ba mươi như cô là nhan sắc của người đàn bà mang đầy tự tin. Tôi không còn thấy mặt Thanh Nga thiếu nữ đượm buồn như ngày trước nữa”. NSƯT Bạch Tuyết nêu tương tự qua cuốn Cải lương chi bảo vừa in tháng 4/2004. Và ghi nhận thêm về đoạn Trưng Trắc tế chồng, diễn ở rạp Hưng Đạo: “Hàng ghế khán giả đa số là sinh viên nước mắt ròng ròng. Tôi cũng khóc... Lệ của người đàn bà thay chồng giữ nước trong tình huống ngặt nghèo này đã uất hận chảy ngược về tim”.


Thanh Nga và chuyến xe cuối cùng

Đêm 26/11/1978, diễn xong vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga ở một rạp hát thuộc quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, nữ nghệ sĩ Thanh Nga bước lên chiếc xe định mệnh mang biển số 51A - 48, hiệu Volkswagen sơn màu xám nhạt. Chiếc xe này đưa bà ra đi vĩnh viễn vào lúc hơn 23 giờ khuya hôm ấy, sau phát súng quái ác của một kẻ lạ mặt nhắm vào bà. Viên đạn bắn trúng ngực trái, chưa xuyên ra sau lưng, nhưng đủ kết liễu sinh mệnh của bà năm 36 tuổi.

Ai giết? Và giết vì nguyên do gì? Người bị hiềm nghi và chất vấn đầu tiên là vệ sĩ Nguyễn Văn Các, 34 tuổi, làm nhiệm vụ bảo vệ Thanh Nga, ngồi cùng xe với bà trên chuyến đi cuối cùng đó, đã trình bày trước cơ quan an ninh:

-- Tối ấy, chính chồng của chị Thanh Nga, tức đạo diễn Phạm Duy Lân cầm lái. Thanh Nga ngồi băng ghế phía sau với cháu Phạm Duy Hà Linh, tên thường gọi ở nhà là Cúc Cu, 5 tuổi, con của anh Lân và chị Nga. Xe nổ máy, tôi ngồi cạnh anh Lân, chạy từ quận Bình Thạnh theo đường Đinh Tiên Hoàng hướng về phía ngã sáu Sài Gòn, chỗ có tượng Phù Đổng Thiên Vương, từ từ dừng trước nhà Thanh Nga số 114 đường Ngô Tùng Châu. Tôi xuống trước, định mở cửa xe để Thanh Nga bước ra sau, nhưng khựng lại vì chợt có một chiếc Honda từ đâu phóng tới, dừng gấp trước cổng nghe một tiếng "xẹt", một bóng người vội vã nhảy xuống chìa súng vào gáy tôi, quát: "Đứng im... mày la tao bắn chết".

Hắn tống Các một đạp khá mạnh khiến Các ngã chúi úp mặt vào trong xe, phía trước, buộc phải nằm im. Chưa kịp hoàn hồn, Các đã nghe tiếng ông Lân kêu lên:

-- Đừng có bắt con tôi (cháu Cúc Cu). Các anh muốn gì thì vợ chồng tôi cũng chịu hết.

Dường như hai bên giằng co nhau rồi một tiếng nổ, giọng Lân thều thào nói với Các: "Các ơi, cậu Ba bị bắn chết rồi" Tiếp đó là giọng Thanh Nga, hoảng hốt:

-- Bắn thì bắn chết tôi đi, chớ đừng bắt con tôi.

Lại có tiếng động như chừng giằng qua giằng lại. Mấy giây sau, Các nghe tiếng nổ thứ hai và tiếng cháu Cúc Cu gọi thất thanh ba ơi, má ơi. Một giọng nói lạ vang lên, gấp gáp: "Thôi đi!". Khi ấy, Các có cảm giác không còn bị đè bởi chiếc đệm gối ban nãy nữa nên đứng dậy thì thấy hai bóng người đi xe Honda kia đang rời khỏi chiếc xe hơi đã gây án. Một tên ngồi lên Honda, do ánh sáng đèn đường lờ mờ không thấy rõ mặt, chỉ nhận ra hắn bận chiếc áo lam nhạt màu. Tên kia cầm súng, nước da ngăm ngăm, để tóc dài, khoảng hơn 30 tuổi, cao chừng thước sáu thước bảy, bận quần đen, áo màu gạch đậm. Bấy giờ tuy đã khuya, ở bên kia đường đối diện với nhà Thanh Nga (là nhà số 113 Ngô Tùng Châu) có hai chị em Lương Thị Thu (19 tuổi) và Lương Thị Bích đang học bài trên lầu khi nghe tiếng nổ và tiếng con nít khóc đã nhìn xuống, thấy hai tên đi xe Honda phóng chạy từ cổng nhà Thanh Nga về hướng ngã sáu Sài Gòn mất dạng.

Lúc đó khoảng gần 23 giờ 30.



Những người tình cũ của Thanh Nga



Ông Các, vệ sĩ của Thanh Nga khai rằng, khi chiếc xe chở hai vợ chồng chạy đến ngã sáu Sài Gòn trong đêm xảy ra vụ án, bỗng thấy phía trước có một chiếc xe cùng hiệu Volkswagen với họ chạy chầm chậm, trước mặt, hai người ngồi trên đó nhìn lui nhìn tới, ý chừng muốn dò xét điều gì.

Khi ông Lân chở Thanh Nga và con trai vượt lên khỏi chiếc xe khoảng 20m để quẹo về nhà mình ở đường Ngô Tùng Châu (nay là đường Lê Thị Riêng, quận 1) rồi nhìn lại, vẫn thấy chiếc Volkswagen nọ bám sau đuôi. Những tình tiết đáng ngờ như thế đã khiến lực lượng điều tra ráo riết tiến hành soát xét hàng nghìn chiếc Volkswagen đang lưu hành trên địa bàn TP HCM lúc bấy giờ. Nhưng rốt cuộc, chiếc Volkswagen trên là xe của Đài Tiếng nói Việt Nam II chở phát thanh viên đi công tác về.

Ban chuyên án cũng phải sàng lọc hơn 3.000 người lai Tây có mặt ở thành phố chỉ vì một trong người nghi giết Thanh Nga là lai Pháp. Giai đoạn đầu của cuộc điều tra đã thu thập các chi tiết về đời sống tình cảm của Thanh Nga và không loại trừ khả năng cô bị bắn chết do ghen tuông, mâu thuẫn trong tình yêu, nên ban chuyên án đã hướng sự chú ý đặc biệt tới những người chồng và những người tình cũ của Thanh Nga.

Thanh Nga là vợ của nghệ sĩ Thành Được (ở Đoàn Cải lương Sài Gòn I) trước khi lấy ông Phạm Duy Lân. Theo tài liệu của Tổng cục Cảnh sát nhân dân, Thành Được có một thời yêu say đắm Thanh Nga nhưng không được yêu lại. Ông vẫn đeo đuổi và dùng cả thế lực ngoài đời để lôi kéo người đẹp trên sân khấu về với mình, cho đến lúc Thanh Nga ưng chịu. Dẫu đã nên vợ nên chồng nhưng cá tính hai người vẫn xung khắc nặng nề và cuối cùng chia tay. Khi đã ly thân, Thành Được vẫn mời Thanh Nga đi biểu diễn nhưng bị từ chối. Mặc dù gặp phải thái độ lạnh nhạt của cô song Thành Được cũng khó mà nung nấu ghen tức năm này qua năm khác đến nỗi nhúng tay vào cái chết của người mình từng yêu được. Sau này, nghệ sĩ Thanh Kim Huệ trong một chuyến du lịch sang Mỹ gặp Thành Được bên đó mới hỏi ông rằng: "Nay đã qua ngưỡng thất thập cổ lai hy rồi, ngẫm lại trên đường tình anh thấy thương ai nhất?". Thành Được đáp:

"Đến bây giờ, tôi thương Thanh Nga nhất, cô ấy là một nghệ sĩ có tâm tính hiền lành, trong sáng". Tên ông được loại ra khỏi các đối tượng bị nghi ngờ và ban chuyên án hướng "ống kính nghiệp vụ" đến một gương mặt khác từng là sĩ quan cấp tá chế độ cũ, ông Nguyễn Minh Mẫn, cũng là chồng cũ Thanh Nga.

Ông Mẫn thương Thanh Nga lúc bà đã sáng chói trên sân khấu cải lương. Ngoài đời, Thanh Nga duyên dáng và có sức thu hút. Tuy ông Mẫn không phải là nghệ sĩ, nhưng ông có tâm hồn tài tử.

Theo hồ sơ vụ án, do vung tiền tiêu pha tới mức thâm lạm công quỹ nên phải ngồi tù. Cưới Thanh Nga rồi tan vỡ. Thanh Nga đi lấy chồng khác, ông không tránh khỏi buồn rầu, ghen tức và trả thù? Khi được xét hỏi, ông khai báo khớp thời gian và nơi ở của mình trong đêm xảy ra cái chết của Thanh Nga, xác minh không phải là thủ phạm, ông bảo: "Đã lâu không còn lui tới và cũng chẳng tức tối, để tâm oán ghét gì Thanh Nga nữa".
Và những người khác như thợ chụp ảnh Trần Triệu Bình (có mặt trong lễ khâm liệm và lễ tang vợ chồng Thanh Nga), Chánh Hồng Phước (tức Phước Tây lai - nhân viên hậu trường của Đoàn Cải lương Thanh Minh bị đuổi việc), Trần Phương Quốc (là người lai Pháp sống tại một ngôi chùa ở đường Nơ Trang Long, Bình Thạnh) và một nghệ sĩ nổi tiếng khác cũng thành đối tượng nghi vấn.

Nhưng trước sau tất cả 7 người trong danh sách tình nghi đã giết Thanh Nga bị loại bỏ hết.
Thanh Nga tên thật là Nguyễn Thị Nga, theo đạo Phật, pháp danh Diệu Minh, sinh ngày
31/7/1942 tại Tây Ninh. Chồng bà, ông Phạm Duy Lân, tức Hà Duy, sinh năm 1923. Theo lời một nữ nghệ sĩ thân thiết với bà, Thanh Nga là người tin số mệnh và đa cảm. Bà và ông Lân không sinh cùng ngày, nhưng chết cùng giờ, thậm chí cách nhau chỉ vài phút, cùng một chỗ, một tình cảnh và một hung thủ lạ mặt, cứ y như ứng với câu thơ tiền định: Anh và em sống giữa cõi mây này. Chẳng có lúc nào chẳng nhớ nhau. Như mây bay mãi, bay bay mãi. Sinh chẳng cùng năm - nguyện chết cùng ngày...

Còn Tiếp

ST

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
Cám ơn bạn đã viết và sưu tầm những bài vở hữu ích cho mục diễn đàn Cổ Nhạc. Làm cho những người mê cải lương và cổ nhạc như tui (Thy Tran) được mở mang thêm kiến thức về nền cổ nhạc độc đáo của quê nhà.
Mong được làm quen với bạn.
tvutran@gamil.com
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: karmatran

Cám ơn bạn đã viết và sưu tầm những bài vở hữu ích cho mục diễn đàn Cổ Nhạc. Làm cho những người mê cải lương và cổ nhạc như tui (Thy Tran) được mở mang thêm kiến thức về nền cổ nhạc độc đáo của quê nhà.
Mong được làm quen với bạn.
tvutran@gamil.com

Bạn Thy trân thân mến,
Đây là những bài mình "Sưu Tầm", chứ không phải mình viết.
Cảm ơn Thy Trân vào chia sẻ và cổ võ cho Cải Lương sớm được trở lại như "thuở vàng son"...
Cúc bạn & gia đình an vui
Thân
VDN

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0