Diễn Đàn » Tác giả người ngoại quốc

Shiba Ryou Tarou và một số Chambara ngắn

6 trả lời, 482 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-31 11:14:49đánh đổ bạo tàn>
Dịch giả Phạm Vũ Thịnh giới thiệu về Shiba Ryou Tarou
 
Nguồn: http://erct.com/2-ThoVan/PV-Thinh/Shiba_Ryotaro.htm
 



Shiba Ryotaro (1923-1996) là tác gia bậc thầy trong văn học đại chúng Nhật Bản, tác giả của những bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng nhất ở Nhật. Ông ngưỡng mộ sử gia Trung quốc Tư Mã Thiên nên lấy bút hiệu Shiba Ryotaro (Tư Mã Liêu Thái Lang) hàm ý là một hậu sinh cách xa Tư Mã Thiên theo nghĩa thời gian, địa lý hay tài năng.
Shiba Ryotaro tên thật là Fukuda Tei-ichi, sinh năm 1923 ở Osaka, con thứ của một chủ nhà thuốc. Năm 1940, ông vào học khoa Ngôn ngữ Mông Cổ ở Đại học Ngoại ngữ Osaka (đọc Sử Ký của Tư Mã Thiên vào thời kỳ này). Năm 1943, bị trưng binh, sang Mãn Châu học trường huấn luyện quân sự và trấn đóng với chức tiểu đội trưởng. Năm 1945, trở về Nhật, đóng ở tỉnh Niigata rồi Tochigi.
Từ năm 22 tuổi, bắt đầu viết văn dưới hình thức thư cho chính mình. Sau Thế chiến, vào làm ký giả cho tờ Shin Sekai rồi Nhật báo Sankei, ở đấy đã có nhiều bài viết xuất sắc, và thăng lên các chức vụ cao cấp.
Năm 1955 xuất bản "Meigen Zuihitsu - Sarari-man" (Tùy bút danh ngôn cho các tư chức) với tên thật. Bút hiệu Shiba Ryotaro bắt đầu được dùng từ tác phẩm "Perusha no genjutsushi" (Nhà ảo thuật xứ Ba Tư) năm 1956 được giải thưởng Kodan Club, mở đầu giai đoạn được độc giả yêu chuộng tán thưởng. Cùng năm đó, đã sáng lập tạp chí văn học "Kindai setsuwa" (Cận đại thuyết thoại).
Năm 1959, xuất bản "Fukuro no shiro" (Thành quách của chim cú) được Giải Naoki, giải thưởng Văn học cao quý nhất chung cho các thể loại văn học của Nhật Bản. Hai năm sau, ông nghỉ việc ở toà soạn Nhật báo Sankei, trở thành tác gia chuyên nghiệp.
Thoạt đầu, ông đã viết những tiểu thuyết truyền kỳ và thử viết cả truyện trinh thám nữa, nhưng từ năm 1962, các bộ truyện "Ryoma ga yuku" (Long Mã lên đường), "Moeyo ken" (Kiếm ơi, cháy lên) đã được nhiệt liệt hoan nghênh, mở đầu sự nghiệp lớn của một tác gia truyện lịch sử bậc nhất Nhật Bản.
Năm 1966, được giải Kikuchi Kan; 1972, được giải Yoshikawa Eiji với trường thiên "Yo ni sumu hibi" (Những ngày sống trên đời); 1976, được giải thưởng của Viện Nghệ thuật Nhật Bản; 1981, trở thành hội viên của Viện Nghệ thuật Nhật Bản; 1991, được vinh danh là người có công lao văn hoá đối với quốc gia; 1993 được Huân chương Văn hoá.
Năm 1996, chết vì vỡ động mạch ở bụng, hưởng dương 73 năm. Lễ truy điệu ông đã có 3 ngàn người tham gia, và ông được truy tặng hàm Tòng Tam phẩm. Năm 1997, giải thưởng văn học Shiba Ryotaro được thiết lập, rồi năm 2001, viện bảo tàng Shiba Ryotaro được khánh thành.
Số in tất cả các tác phẩm của ông ở Nhật Bản đã đạt mức vài trăm triệu cuốn.
Nhiều tác phẩm trường thiên của ông: "Kunitori monogatari" (Chuyện cướp nước), "Ryoma ga yuku" (Long Mã lên đường), "Moeyo ken" (Kiếm ơi, cháy lên), "Saka no ue no kumo" (Mây trên đường dốc),... đã được thực hiện thành những bộ phim lớn như loại phim-bộ Taiga Drama (Đại Hà Drama - phim kịch tràng giang, cần nhiều tiền quay và giờ chiếu) trình chiếu trên đài Truyền hình Quốc gia Nhật Bản NHK. Ông còn viết nhiều tiểu luận về lịch sử địa dư được yêu thích, trong đó có bộ sách những tiểu luận du ký "Kaido wo yuku" (Đi trên đường cái quan) đồ sộ, ghi lại những tư liệu, cảm nghĩ, nhận định về các nơi ông đã đến thăm ở Nhật Bản và nước ngoài.
Ông là một tác gia có sức sáng tác mạnh, đọc nhiều hiểu rộng, có quan sát và suy luận tinh tế, đã đưa ra nhiều quan điểm mới có tính thuyết phục về những sự kiện lịch sử Nhật Bản, đặc biệt là các giai đoạn loạn lạc, chuyển biến kinh thiên động địa như thời Chiến quốc, cuối thời Mạc phủ, hay thời Minh Trị Duy Tân.
Trọng tâm của phần lớn các tác phẩm của ông là những anh hùng thời loạn, tự lập thân từ cảnh ngộ khốn cùng, có cá tính mạnh mẽ, đầu óc sắc bén và hành động cách mệnh. Ông mô tả những nhân vật anh hùng ấy với lòng ngưỡng mộ lẫn yêu mến thân cận, truyền nhiễm sang độc giả. Ông chuộng lối dùng sự kiện để mô tả nhân vật chứ không tập trung trình bày tâm lý hay cá tính. Chi tiết chính sử luôn luôn kèm theo những giai thoại dân gian, truyền thuyết, cả những kinh nghiệm và kiến giải sử quan của tác giả giúp cho tác phẩm thêm sống động. Lắm lúc, những chi tiết bên lề hay sự việc xảy ra trong thời hiện đại có dính dáng ít nhiều đến nhân vật hay con cháu của họ cũng được đưa vào, như để giữ sự liền lạc giữa lịch sử và hiện thực. Các địa phương, các dữ kiện địa lý được ông điều tra nghiên cứu thật kỹ để dùng làm bối cảnh rất thuyết phục cho câu chuyện ông kể.
Có thể nói Shiba Ryotaro có sắc thái học giả đậm đà hơn là nhà tư tưởng, bởi ông chuộng việc khảo chứng sự thật lịch sử bằng tư liệu, di tích, di vật, kiến văn, hơn là lý thuyết hay quan niệm về lịch sử. Bất bình với lập trường của Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai, ông thiên về chủ nghĩa hợp-lý-hoá đối lập với những xu hướng giải thích lịch sử ra dáng triết học theo chủ nghĩa thần bí mà ông cho là phi luận lý và bất hợp lý. Vì thế mà ông ưa chuộng những nhân vật thể hiện được chủ nghĩa hợp-lý-hoá ấy, chẳng hạn trong tác phẩm "Moeyo ken" (Kiếm ơi, cháy lên), tuy cùng là đầu não của Shinsengumi (đội võ trang truy diệt chí sĩ Cần Vương cuối thời Mạc Phủ) cả, nhưng nhân vật chủ tướng Kondo Isami đến cuối đời vẫn còn băn khoăn về sự lựa chọn giữa tư tưởng Cần Vương (phò Thiên hoàng) và Tá Mạc (phò Mạc Phủ Tokugawa), không được Shiba Ryotaro chú trọng bằng nhân vật phó tướng Hijikata Toshizo là người có đầu óc thực dụng triệt để.
Trong một cuộc phỏng vấn của đài ti-vi NHK, ông cho biết thời trẻ đã thấy tình trạng Nhật Bản chiến bại mà mang nghi vấn tại sao người Nhật Bản lại trở nên kém khôn ngoan như thế, hẳn là ngày xưa phải khôn ngoan hơn, do đó từ năm 22 tuổi (1945), đã bắt đầu viết văn dưới hình thức thư cho chính mình, trong cố gắng tìm hiểu bản chất của người Nhật Bản từ những sự kiện và nhân vật lịch sử, từ đó mới có các tác phẩm "Ryoma ga yuku" (Long Mã lên đường), về thời động loạn dẫn đến Minh Trị Duy Tân, hay "Saka no ue no kumo" (Mây trên đường dốc) về chiến tranh Nga Nhật,...
Trước Shiba Ryotaro, tiểu thuyết lịch sử Nhật Bản phần nhiều nhắm vào mục đích mua vui cho độc giả bằng cách cường điệu những chi tiết ly kỳ thậm chí huyền thoại hoá. Shiba Ryotaro đặc biệt chú trọng việc khảo chứng, dùng sử liệu khả tín yểm trợ để tiểu thuyết lịch sử của ông có thể được cả giới độc giả trí thức Nhật Bản tin cậy mà thưởng lãm. Ông được biết là tác gia điều nghiên dẫn dụng một số tư liệu lớn lao cho mỗi tác phẩm của mình. Tác phẩm của ông, nhất là các bộ phim ti-vi tràng giang trên đài NHK, đã khiến độc giả, khán giả ưa chuộng và tin tưởng đến mức dễ đồng lòng với lối giải thích lịch sử nay đã nổi tiếng là "sử quan Shiba". Và mặc dù Shiba Ryotaro đã khẳng định tác phẩm của mình là "tiểu thuyết", nhưng nhiều chi tiết truyền thuyết trong tác phẩm của ông lắm khi cũng được độc giả tin tưởng như sự thực lịch sử, là điều mà các nhà phê bình lên án, nhưng cũng phần nào cho thấy mức độ thành công của Shiba Ryotaro là một tác gia tiểu thuyết lịch sử.
Shiba Ryotaro là tác gia được giới doanh gia Nhật Bản hâm mộ nhất; họ tìm thấy trong tác phẩm của ông sự khích lệ, động viên tinh thần, và nhiều chiến thuật chiến lược có thể áp dụng vào kinh doanh.
Ông là người có tài biện thuyết, thường được mời đến các buổi đàm thoại, hội thảo văn học, lịch sử. Lòng ham mê thu tập tư liệu của ông đã trở thành huyền thoại. Người ta đồn khi nào Shiba Ryotaro tìm kiếm tư liệu về đề tài gì thì sách cũ về đề tài đó biến mất hết từ các nhà sách cũ. Có lần ông đã mang xe tải nhỏ đến tiệm sách cũ, vào trong tiệm lục lọi, đọc loạn lên rồi chất đống lên xe tải mà mua về.
Shiba Ryotaro đã xuất bản hàng trăm tác phẩm, trong đó vài chục tác phẩm đã được quay thành phim-bộ ti-vi và phim chiếu ngoài rạp.
"Ryoma ga yuku" (Long Mã lên đường) là tác phẩm nổi tiếng nhất của Shiba Ryotaro, viết về con người và cuộc đời của nhà cách mệnh Sakamoto Ryoma (Long Mã), một trong những chí sĩ đã mở ra kỷ nguyên Duy Tân, trong bối cảnh cuối thời Mạc Phủ Tokugawa, áp lực của các nước ngoài khuấy động xã hội và thể chế chính trị của Nhật Bản, khiến nảy sinh hai khối tư tưởng và thế lực Cần Vương Nhương Di (phò Thiên hoàng đánh đuổi người ngoại quốc) đối lập với Tá Mạc (phò Mạc Phủ Tokugawa nhân nhượng ngoại quốc). Ryoma đã là một sĩ phu của phiên trấn Tosa, chuyển từ việc lập thân bằng kiếm thuật sang việc sáng lập tập đoàn mậu dịch tổng hợp Kaientai, qua chuyện kinh doanh mà liên kết các phiên trấn Satsuma, Choshu, Tosa,... xây dựng thành liên minh Cần Vương, cuối cùng đánh đổ Mạc Phủ, chấm dứt gần 300 năm cai trị của nhà Tokugawa, mở đường cho Minh Trị Thiên hoàng bắt đầu công cuộc Duy Tân. Ryoma đã sớm nhận thức được là phải bỏ ý hướng đánh đuổi người ngoại quốc mà mở cửa du nhập học vấn, kỹ thuật Tây phương vào Nhật Bản. Ông dâng "Thuyền trung bát sách" (8 kế sách nghĩ từ trong thuyền) làm nền tảng cho các cải cách chính trị kinh tế thời Minh Trị Duy Tân. Tư tưởng Cần Vương của Ryoma còn hàm ý "vạn dân bình đẳng", dưới Thiên hoàng chỉ có thần dân, không còn sự phân chia giai cấp "sĩ nông công thương" ngặt nghèo thời trước nữa.
"Moeyo ken" (Kiếm ơi, cháy lên) là chuyện đời của Hijikata Toshizo, phó tướng  của Shinsengumi là đội võ trang do Mạc Phủ chiêu mộ các võ sĩ mất chủ tướng (ronin) mà lập ra để truy lùng tiêu diệt các chí sĩ Cần Vương mượn cớ đánh đuổi người ngoại quốc để mưu đồ đánh đổ Mạc Phủ, thực tế là đã khuấy động kinh đô Kyoto. Về sau, Mạc Phủ yếu thế phải giao trả chính quyền lại cho triều đình, rồi bị thảo phạt, quân Mạc Phủ thua trận, phải chạy về Edo. Chiến tranh giữa quân triều đình thảo phạt và quân cựu gia thần của Mạc Phủ bùng nổ khắp vùng phía đông Nhật Bản; Kondo Isami, chủ tướng của Shinsengumi đầu hàng và bị xử tử; phó tướng Hijikata Toshizo lưu lạc theo bại binh phe Mạc Phủ lên Hokkaido tiếp tục kháng chiến rồi tử trận ở đấy.
"Yo ni sumu hibi" (Những ngày sống trên đời) viết về thầy trò Yoshida Shoin và Takasugi Shinsaku. Yoshida Shoin là một trong những nhà trí thức nổi danh nhất cuối thời Mạc Phủ, đã mở trường dạy binh học và chính trị, đào tạo nhiều chí sĩ sau này đã góp sức hữu hiệu vào việc đánh đổ Mạc Phủ và đổi mới nước Nhật. Takasugi Shinsaku là học trò cưng của Yoshida Shoin, đã cải tiến quân đội phiên trấn Choshu trong liên minh Cần Vương đánh đổ Mạc Phủ, và khởi đầu việc lập các lực lượng võ trang từ những người chí nguyện không thuộc giai cấp võ sĩ. (Ito Hirobumi 4 lần làm Thủ tướng Nhật Bản, cũng là học trò của Yoshida Shoin).  
"Kashin" (Thần hoa) là chuyện đời của Omura Masujiro (Murata Zoroku), con của một thầy lang vườn ở Suo, phiên trấn Choshu, đã theo đuổi y học Hà Lan, sau này vừa dạy kiến thức Tây phương vừa xây dựng, cải tiến binh bị của phiên trấn Uwajima, rồi trở thành phiên sĩ (sĩ phu, võ sĩ có chức vị) của phiên trấn Choshu, làm cố vấn cải cách binh bị theo kiểu Tây phương. Thời Minh Trị, làm đến chức Thứ trưởng Bộ Hải-Lục quân, ông được xem là người khai sáng quân đội hiện đại Nhật Bản.
"Kunitori monogatari" (Chuyện cướp nước) thuật chuyện thời Chiến quốc, Nhật Bản loạn lạc vì nạn các sứ quân tranh đoạt lãnh thổ, Saito Dosan lập thân từ một nhà sư  chuyển sang buôn dầu rồi cướp chính quyền xứ Mino, thành Lãnh Chúa một phiên trấn lớn. Sau này con rể của ông là Oda Nobunaga đã thực hiện được giai đoạn đầu của việc thống nhất Nhật Bản, chấm dứt thời Chiến quốc của các sứ quân.
"Saka no ue no kumo" (Mây trên đường dốc) là chuyện lớp người trẻ Nhật Bản thời Minh Trị Duy Tân đã ý thức được nghĩa vụ xây dựng quốc gia đồng thời xây dựng chính mình, trong hoàn cảnh lịch sử cam go khi nền tảng quốc gia cũ đã đổ vỡ hoàn toàn. Với khí phách của những người tiên phong khai phát, họ đã cần mẫn và dũng cảm đối đầu với mọi khó khăn để khai thông những đường tiến mới, cải cách hải quân, kỵ binh, văn học nghệ thuật hiện đại, đặt nền tảng mới xây dựng một quốc gia Nhật Bản tân tiến. Chiến tranh Nga-Nhật chiếm một phần quan trọng trong tác phẩm, như thực chứng cho thành quả của công cuộc Duy Tân. Những quan điểm của tác giả trình bày trong tác phẩm này (sử quan Shiba) rằng chiến tranh Nga-Nhật thực chất là chiến tranh tự vệ của Nhật Bản; trong trận tấn công Lữ Thuận, sở dĩ quân Nhật thiệt hại nặng đến như thế là vì tướng chỉ huy và các tham mưu bất tài,...... đã gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu lịch sử.
.........
Nhiều tác phẩm của Shiba Ryotaro đã được dịch và yêu thích ở Hàn quốc, Trung quốc. Một số tác phẩm của Shiba Ryotaro đã được dịch ra tiếng Anh, trong đó có "Drunk as a Lord: Samurai Stories" (2001), "Kukai the Universal: Scenes from His Life" (2003), "The Last Shogun: The Life of Tokugawa Yoshinobu" (2004), "The Tatar Whirlwind: A Novel of Seventeenth-Century East Asia" (2007),...
Shita Ryotaro để lại cho đời một số lượng đồ sộ những tác phẩm dài hơi, xây dựng công phu, vừa có giá trị tư liệu lịch sử vừa có giá trị nghệ thuật, lẫn giải trí, xứng đáng là tác gia hạng nhất của Nhật Bản về tiểu thuyết lịch sử.
 
Phạm Vũ Thịnh
Sydney 03-2008

[email=t4phamvu@hotmail.com]t4phamvu@hotmail.com[/email]
Tham khảo :
[1] Shiba Ryotaro - Wikipedia : bản tiếng Nhật
http://ja.wikipedia.org/wiki/%E5%8F%B8%E9%A6%AC%E9%81%BC%E5%A4%AA%E9%83%8E
[2] Ryotaro Shiba - Wikipedia : bản tiếng Anh : http://en.wikipedia.org/wiki/Ryotaro_Shiba
[3] Shiba Ryotaro Dokuhon : Gendai sakka kenkyukai (Hội nghiên cứu tác gia hiện đại - bản Shiba Ryotaro), Tokuma Bunko xuất bản 1996.
[4] Shiba Ryotaro ni aitai (Muốn gặp Shiba Ryotaro - chương trình của đài NHK) :

[5] Saka no ue no kumo - Wikipedia :
http://ja.wikipedia.org/wiki/%E5%9D%82%E3%81%AE%E4%B8%8A%E3%81%AE%E9%9B%B2
Ta muốn sống an bình. Nó chà đạp ta. Ta phải đánh đổ nó. Nó kềm kẹp ta. Ta phải đánh trả nó. Muốn đánh trả ư? Làm sao được khi ta còn không có chí đánh? Làm sao được khi thân ta còn lo sợ an nguy, sợ hãi cái chết?

(Trích Karl Marx)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-26 06:31:55đánh đổ bạo tàn>
Nhất Như giới thiệu về Shiba Rou Taro
 
Shibaryou Tarou (司馬遼太郎)(1923~1996) tên thật là Fukuda Teiichi (福田定一) sinh tại Osaka và là một trong những tiểu thuyết gia lịch sử vĩ đại nhất Nhật Bản. Ông được biết đến nhiều qua thể loại tiểu thuyết lịch sử, truyền kỳ với lịch sử quan độc đáo và thể loại tùy bút, bút ký và Essay về lịch sử, văn hóa Nhật Bản, Đại Hàn và Trung Hoa. trong thời gian còn làm ký giả cho các tờ báo. Các bài Essay của ông được xuất bản thành bộ, trong đó có tập “Kaidou wo yuku” (街道をゆく)(đi trên đường) rất nổi tiếng ghi chép lại những chuyến đi vòng quanh Thế Giới của ông, qua nhiều nước và thông qua đó nói lên cách nhìn nhận của mình về lịch sử, văn hóa mỗi nước mà ông đi qua. Một tập Essay khác là “Ningen no shudan ni tsuite” (人間の集団について-suy nghĩ về tập đoàn người) kể lại chuyến đi thực tế của ông đến Sài Gòn trước năm 1975 và qua đó, dĩ nhiên, nêu lên nhận định của mình về tình hình chiến tranh Việt Nam.
 
Shiba là một cây đại thụ trong làng văn học đại chúng, nhân vật trung tâm và là một trong ba người được nhà phê bình Kawamoto Saburou đề cao là “Ichi Hei ni Tarou” (một ông Hei, hai ông Tarou. Ông Hei ở đây là Fujiwara Shuhei, hai ông Tarou là Shiba và Ikenami Shou Tarou). Shiba được nhiều người đánh giá cao ở cái nhìn về lịch sử, lịch sử quan của ông thể hiện qua những trường thiên như “Ryouma ga yuku”, “Moeyo Ken”. Dĩ nhiên khi viết về lịch sử thì bị hạn chế rất nhiều về kết cấu, kết thúc và sự kiện. Nhưng Shiba cố gắng thổi một luồng gió mới vào thể loại tiểu thuyết lịch sử khi nhìn nhận nhân vật lịch sử ở những góc độ khác nhau. Ông thường bảo khi quan sát ai đó thì phải trèo lên cao nhìn xuống tổng thế. Còn nếu đứng ngang hàng nhìn mặt thì sẽ phát sinh nhiều ngộ nhận. Vì vậy, lý giải một nhân vật, sự kiện lịch sử là đặc điểm của Shiba. Nói Shiba là một con gà mắn đẻ quả không sai vì ông viết liên tục về sự thay đổi của Nhật Bản tập trung vào cuối thời Edo đến đầu Meiji. Số lượng tác phẩm của ông vô cùng lớn và hầu như người Nhật nào cũng đều đọc ít nhất một tác phẩm của ông.
 
 

Kinh lịch:
 
 

Shibaryou Tarou chỉ là bút danh, Tarou là một cái tên phổ thông của nam giới. Shibaryou ở đây có nghĩa là “còn lâu mới bằng Shiba”. Shiba mà ông ngưỡng mộ ở đây là Shibasen (Tư Mã Thiên)(司馬遷 )sử gia Trung Hoa với bộ “Sử ký”. Shiba là con thứ của một chủ hiệu thuốc ở Osaka. Đời ông nội vốn là nông dân ở tỉnh Hyougo. Năm lên 2 tuổi thì anh trai mất, còn lại một em gái và một chị gái. Thuở nhỏ rất tinh nghịch, ghét đi học. Năm 1930 vào trường tiểu học ở Osaka, gần nhà mẹ có nhiều di tích thổ ngẫu thời tiền sử và cậu bé Teiichi bắt đầu thu nhặt những mảnh vở đồng, đá của các di tích. Có lẽ sự quan tâm đến lịch sử bắt đầu từ đây?
Tháng 4 năm 1940 Shiba vào khoa tiếng Mông Cổ trường Đại Học Ngoại Ngữ Osaka (Osaka gaidai) và trong thời gian này rất thích đọc văn học Nga và “Sử ký” của Tư Mã Thiên. Năm 1946 vào tờ báo Shin Nihon shimbun và trong khoảng thời gian này bắt đầu nghĩ đến chuyện viết tiểu thuyết. Thời gian này ông viết các ký sự về đại học, tôn giáo nhưng 2 năm sau tờ báo phá sản, Shiba vào đầu quân cho chi nhánh ở Kyouto của tờ Sankei shimbun, một trong những tờ báo lớn nhất thời đó. Năm 1955 cho ra đời tập tùy bút Salaryman sử dụng tên thật. Mấy tác phẩm sau này ông cũng dùng tên thật, sau được người bạn thân Terauchi Daikichi khuyên viết tiểu thuyết và tháng 5-1956 cuốn tiểu thuyết “Perusha no genjutsu shi” (Pháp sư Ba Tư) nhận được giải thưởng câu lạc bộ Koudan lần thứ 8. Đây là cuốn sách đầu tiên sử dụng bút danh Shibaryou Tarou. Sau đó cùng với Terauchi lập ra tạp chí “Kindai setsuwa” và liên tục gửi tác phẩm về nhiều tờ báo khác. Tháng 7 năm 1958 cuốn sách mang tên Shibaryou Tarou lần đầu tiên được xuất bản, là cuốn “Shiroi Kankiten”. Lúc bấy giờ ông được chú mục nhiều về các tác phẩm truyền kỳ cũng Yamada Fuu Tarou nhưng không nghĩ rằng mìng lại trở thành tiểu thuyết gia lịch sử. Sau đó bắt đầu viết “Fukurou no iru tojou” (sau này sửa thành “Fukurou no shiro”, tác phẩm này trở thành đề tài khai thác cho điện ảnh sau này) đăng liên tục trên báo và cho ra đời tập “Osaka samurai”. Năm 1960 cuốn “Fukurou no shiro” nhận được giải thưởng Naoki lần thứ 42, một giải thưởng văn học cao quý. Năm 1961 nghỉ việc ở tờ báo Sankei và bắt đầu cuộc sống của tác gia chuyên nghiệp.
 

Thời gian đầu ông viết nhiều truyện truyền kỳ và tiểu thuyết thời đại (xem bài tiểu thuyết thời đại) như “Osaka samurai”, “Kaze no bushi”, “Kazegami no mon” và một ít truyện trinh thám nhưng từ năm 1962 đăng tải “Ryouma ga yuku”, “Moeyo Ken” và từ năm 1963 là “Kunidori Monogatari”, Shiba đã bắt đầu nổi tiếng trong lãnh vực tiểu thuyết lịch sử. Có thể nói “Ryouma ga yuku” là kiệt tác để đời của ông. Bộ trường thiên này kể về cuộc đời của Sakamoto Ryouma, một võ sĩ sống vào cuối thời Edo và là nhân tố quan trọng để công cuộc Minh Trị Duy Tân thành công. Nhật Bản dưới sự cai trị của Tướng Quân Tokugawa đã bế quan tỏa cảng hơn 200 năm, vì vậy khi người phương Tây đến Nhật thì nhiều người nhận ra sự thua sút của mình với thế giới bên ngoài. Dân chúng sống trong 200 năm đóng cửa đã nuôi dưỡng nên một cái nhìn sợ sệt đối với người nước ngoài. Cuối thời Edo, họ Tokugawa đồng ý mở cửa giao thương với Mỹ và một số nước Châu Âu nhưng nhiều người chống lại điều này. Họ lập nên phái “Sonnou Joui” chủ trương lật đổ Tokugawa, trả lại quyền lực cho Thiên Hoàng và đuổi người ngoại quốc ra khỏi Nhật Bản. Một phái khác ủng hộ chế độ Mạc Phủ của Tokugawa và hai phái này đã gây ra cuộc nội chiến thảm khốc. Đương thời cảnh ám sát giữa ban ngày là chuyện bình thường. Sakamoto Ryouma, một con người có lương tri nhận ra rằng cần phải thay đổi, cần phải học theo phương Tây để bảo vệ Tổ quốc, để đuổi kịp trình độ của Thế giới.

Dĩ nhiên Shiba không phải là nhà nghiên cứu lịch sử mà chỉ là tiểu thuyết gia. Tác phẩm của ông là tiểu thuyết chứ không phải luận văn nghiên cứu. Nhưng có lẽ Shiba là bậc thầy trong cuộc sống (Jinsei no tatsujin) nên mọi góc nhìn của ông về lịch sử đều rất độc đáo. Shiba là người giỏi nói chuyện, lại là người giỏi lắng nghe. Các tập truyện đối thoại của ông rất nhiều. Shiba còn nổi tiếng với tài đọc nhanh. Một hôm có người bạn đến nhà chơi vừa uống cà phê vừa nói chuyện. Trong lúc người bạn vừa uống hết ly cà phê thì Shiba vẫn vừa nói chuyện và đọc xong một cuốn sách dày. Mô tả lại chính xác những gì đọc được nên mọi người đều kinh ngạc.
 

Năm 1981 trở thành hội viên hội nghệ thuật Nhật Bản và được chọn là người có nhiều cống hiến cho văn hóa năm 1991. Đến nam 1993 Shiba được nhận huân chương văn hóa. Ngày 12 tháng 2 năm 1996 mất tại bệnh viện quốc lập Osaka, thọ 72 tuổi. Kỳ lạ là nơi ông mất cũng chính là nơi nhân vật Omura trong cuốn tiểu thuyết “Hanagami” của ông mất. Ngày 10 tháng 3 có hơn 3000 người tham gia vào ngày hội “tiễn đưa Shibaryou”. Năm 2001 nhà tưởng niệm Shibaryou Tarou được thành lập . Phòng kỷ niệm Shibaryou ở văn học quán Himeji mỗi năm vào ngày sinh nhật mùng 7 tháng 8 đều mở cửa đón khách tham quan. Shibaryou Tarou là người kết bạn với các nhân vật lịch sử!
 
 

Các giải thưởng:
 

1956: Giải Koudan Kurabu lần 8 với “Perusha no Genjutsu shi”
1960: Giải Naoki lần 42 với “Fukurou no shiro”
1966: Giải Kikuchi kan lần 14 với “Kunidori Monogatari” và “Ryouma ga yuku”
1967: Giải thưởng nghệ thuật Osaka và giải thưởng nghệ thuật Mainichi với “Junshi”
1968: Giải thưởng độc giả Bungei shunju 30 với “Rekishi wo kikou suru”
1970: Giải thưởng văn học Yoshikawa Eiji với “Yo ni sumu hibi”
1976: Giải thưởng viện nghệ thuật Nhật Bản lần 32.
1981: Giải thưởng văn học Yomiuri 33 với “Hitobito no Kyoon”
1982: Giải thưởng Asahi
1985: Giải thưởng phát thanh văn hóa, giải thưởng văn học Nhật Bản lần 16 với “Namban no michi” trong series “Kaidou wo yuku”
1986: Giải thưởng văn học Yomiuri 38 với “Roshia ni tsuite”
1988: Giải thưởng Meijimura 14 vớI “Dattan Shippuroku”
1991: Người có công trong lãnh vực văn hóa
1993: Huân chương văn hóa
1996: Giải thưởng Ihara Saikaku lần thứ nhất.
 
 

Các tác phẩm chính:

·Toàn tập, tuyển tập:
 

Shibaryou Tarou zenshuu ( 68 cuốn- Shibaryou Tarou toàn tập)
Shibaryou Tarou tampen zenshuu ( 12 cuốn – Shibaryou đoàn biên toàn tập)
Shibaryou Tarou ga kangaeta koto (15 cuốn- Những điều Shibaryou nghĩ)
Shibaryou Tarou taiwa senshuu ( 5 cuốn – Shibaryou đối thoại tuyển tập)
 
 
 Trường biên tiểu thuyết :
 

Fukurou no Shiro (1959)- 梟の城
Kamigta Bushi (1660)―上方武士
Kaze no Bushi (1961) ―風の武士
Sen’Un no yume (1961)―戦雲の夢
Kazegami no Mon (1962)―風神の門
Ryouma ga Yuku ( 1963)―竜馬がゆく
Moeyo ken (1964)―燃えよ剣
Shirikurae Magoichi (1964)―尻啖え孫市
Koumyou ga Tsuji ( 1965)―功名が辻
Shiro wo torubanashi (1965)―城をとる話
Kunidori Monogatari (1965)―国盗り物語
Hokuto no Hito (1966)―北斗の人
Sekigahara (1966)―関が原
Juuichi banme no shishi (1967)―十一番目の志士
Saigo no Shougun ( 1967)―最後の将軍
Junshi (1967)―殉死
Natsugusa no Fu (1968)―夏草の賦
Shinshi Taikouki (1968)―新史太閤記
Yoshitsune ( 1968)―義経
Tooge (1968)―峠
Miyamoto Musashi (1968)―宮本武蔵
Saka no ue no Kumo (1969)―坂の上の雲
Youkai (1969) ―妖怪
Saigetsu (1969)―歳月
Yo ni sumu Hibi (1971)―世に棲む日々
Jousai (1971~1972)―城塞
Hanagami (1972)―花神
Tobu ga Gotoku ( 1975~1976)―翔ぶが如く
Kochou no Yume (1979)―胡蝶の夢
Hạng Vũ- Lưu Bang (1979)―項羽と劉邦
Hitobito no Kyoon (1981)― ひとびとの跫音
Nanohana no Oki (1982)―菜の花の沖
Hakone no Saka (1984)—箱根の坂
 
 

 Tiểu thuyết trinh thám:
 

Buta to Bara (1960)
Kojienjou (1962)
 
 

Đoản biên tiểu thuyết:
 

Osaka samurai (1959)―大阪侍
Shinsetsu Miyamoto Musashi (1962)―真説宮本武蔵
Bakumatsu (1963)―幕末
Shinsengumi Keppuu roku (1964)―新選組血風録
Yotte Sourou ( 1965)―酔って候
Toyotomike ho hitobito ( 1967)―豊臣家の人々
Orewa Gongen (1982)―俺は権現
 
 

Essay, đối thoại
 

Kaidou wo Yuku (1971)―街道をゆく
Rekishi wo kikou suru ( 1962)―歴史を紀行する
Ningen no shuudan ni tsuite (1973)―人間の集団について
Choan kara Pekin e (1976)―長安から北京へ
Rekishi no Butai (1984)―歴史の舞台
Amerika no sobyou (1986)―アメリカの素描
Sougen no Ki―草原の記
 
 

Essay, tùy bút, bình luận


Rekishi no naka no Nihon (1974)―歴史の中の日本
Rekishi to shiten (1974)―歴史と視点
Roshia ni tsuite―ロシアについて
Kono kuni no katachi (1990)―この国のかたち
Rekishi to fuudo (1998)―歴史と風土
Ningen to iumono (1998)-人間というもの
 
 
Có lẽ Shiba là tác gia lớn nhất viết về đề tài lịch sử từ trước đến nay trong phạm vi nước Nhật. Sau này khó có người nào thay thế được vị trí của ông. Dưới đây xin giới thiệu một số Chambara ngắn với giọng văn bác học hàn lâm của ông.
Ta muốn sống an bình. Nó chà đạp ta. Ta phải đánh đổ nó. Nó kềm kẹp ta. Ta phải đánh trả nó. Muốn đánh trả ư? Làm sao được khi ta còn không có chí đánh? Làm sao được khi thân ta còn lo sợ an nguy, sợ hãi cái chết?

(Trích Karl Marx)
Đăng nhập để trả lời
0
ANH HÙNG
 
Nguồn: http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=7064
 
 
Nghe người ta bảo thời bây giờ, nếu muốn theo đường học vấn ở Edo[1] thì đến học ở trường của thầy Koga Sakei là tốt nhất, Suzuki Torataro đã từ đất Tsu phiên trấn Ise vào học ở đấy năm 16 tuổi, niên hiệu Ansei thứ 6 (1860).
Torataro là người sau này mê Thiền rời bỏ thế tục, không xuất gia nhưng đã học Thiền theo sư So-en ở chùa Enkaku xứ Kamakura và sư Bokurai chùa Kennin ở Kyoto, lấy danh hiệu cư sĩ là Mu-in (Vô ẩn). Cuối đời, sống ở lô đất số 39 xóm Otsu, thành phố Tsu thuộc tỉnh Mie, đến năm Minh Trị thứ 32 (1899) thì mất. Câu chuyện sắp kể ra đây dựa vào nhiều chỗ trong di cảo của cư sĩ Mu-in này.
Thầy Koga Sakei ấy là một vị quan xuất thân nho sĩ, và là cháu nội của nhân vật lịch sử nổi tiếng Koga Seiri (1750-1817, học giả Nho học). Trong đám nhà nho, ông là một người hiếm hoi học cả Lan học[2] ít nhiều, do đó đã lãnh chức Viện trưởng Viện điều nghiên sách sử trong Phủ Chúa Tokugawa (Mạc Phủ). Quan nhà nho mà lại có mắt nhìn rõ thời thế, lúc bấy giờ, trong khi tư tưởng Jo-i (Nhương Di, đánh đuổi kẻ man di mọi rợ là người Tây phương) đang là cao trào thời đại, ông đã nhiệt thành cổ xướng “ba nhiệm vụ phải làm ngay” là:
- Nước ta hiện nay thì việc binh bị phải dùng súng ống chứ không còn gì khác,
- Việc kinh tài thì phải dựa vào mậu dịch với nước ngoài chứ không còn gì khác,
- Đất nước có biển bao quanh thì phải nhờ vào tàu thuyền mà hành động chứ không còn gì khác.
Ông mở trường, đặt tên là Kyukeisha (Cửu kính xá). Lớp người trẻ có chí ở khắp các phiên trấn ngưỡng mộ danh tiếng của ông, tranh nhau mà nhập học. Cậu Mu-in 16 tuổi cũng là một người trong đám đó. Trường tư này được lập ngay trong tư dinh của Koga, diện tích trường ốc chừng 160 mét vuông.
Thầy dạy là gia thần của Phủ Chúa, lại giữ chức Viện trưởng Viện điều nghiên sách sử nữa, nên 10 ngày mới có một lớp giảng của thầy. Do đó, các buổi đọc sách luân phiên thì trưởng tràng chỉ dẫn, và học trò mới thì bám theo học trò cũ mà học hỏi. Các buổi đọc sách chung, học trò ngồi vào chỗ nhất định, bên cạnh Mu-in luôn luôn là một người lớn tuổi cỡ 30, làm học trò e có phần trễ quá.
Dung mạo anh ta khiến người ta thoáng thấy phải lấy làm thắc mắc chẳng biết là người như thế nào. Lông mày trông giống như lông măng màu nâu trà, tròng mắt lồi ra ngoài, đáy con ngươi sáng loáng. Có lẽ là thứ mà sách tướng viết là “mắt có màu kỳ dị”. Mắt to nhưng thỉnh thoảng nhíu lại nhỏ xíu tưởng như đang ngủ. Đến sau cuộc Minh Trị Duy Tân, Mu-in mới nghĩ ra là có thể anh ta bị cận thị không chừng. Mũi to, lỗ mũi thấy thật sâu, miệng cũng rộng hết cỡ nhưng không lắm lời. Nói tóm lại, khuôn mặt có vẻ áp đảo người nhìn đấy.
Người đàn ông này ít nói. Thấy anh ta có dị tướng như thế nên vừa vào học, Mu-in đã xưng tên họ mình, định hỏi về thân thế anh ta ngay.
“Tôi người xứ Seishu, tên là Suzuki Torataro, hiệu là Mu-in. Xin gọi cho là Mu-in thì tôi vui mừng lắm.”
Nghe vậy, anh kia chăm chú nhìn mặt Mu-in rồi bật cười. Lúc anh cười thì khuôn mặt trông có vẻ trẻ con dễ thương khác hẳn với tuổi tác.
“Cậu Mu-in kia à!”
Có vẻ mới 16 tuổi mà đã xưng là Vô ẩn thì tức cười thật. Nhưng anh ta có vẻ khoái lối chào hỏi ấy, nên nói:
“Còn ta là Soryokutsu đây. Tên tục là Kawai Tsugunosuke, xuất thân từ phiên trấn Nagaoka vùng Echigo.”
Vào học được vài ngày, Mu-in dần dần hiểu thêm được về nhân vật này. Anh ta đường đường là phiên sĩ (sĩ phu, võ sĩ có chức vị) của phiên trấn Nagaoka, phiên trấn nhỏ nên bổng lộc cũng ít, nhưng thuộc dòng dõi một nhà võ sĩ lâu đời. Có vẻ là nhà giàu, tuy là học trò nhưng áo quần sang trọng, hai thanh kiếm dài ngắn cũng chẳng phải là thứ thô tạp. Tuy là thân võ sĩ làm việc ở xứ nhà, nhưng trước đây cũng đã là môn sinh của các danh sư Saito Setsudo, Sakuma Zozan, và đã có thời vào học ở trường Kyukeisha này rồi, nên là môn sinh trở lại học, hơn là mặt mới. Thành tích học vấn thì quá tệ! Không phải là học dốt, nhưng có vẻ chỉ chú tâm nhiệt thành vào môn học nào mình thích mà thôi.
Thật là người kỳ lạ. Mu-in nghĩ thế khi trường ra đề làm thơ. Mọi môn sinh phải làm thơ theo đề chỉ định đấy, nhưng anh chàng Kawai Tsugunosuke đáng tuổi chú bác của Mu-in đã quay sang nói:
“Cậu Mu-in này, ta đãi cậu 16 xu khoai nướng, cậu làm hộ ta bài thơ này đi!”
Mu-in sửng sốt. Chứ chẳng phải đến trường là để học làm thơ làm văn đó sao? Vả lại, Mu-in chỉ là cậu học trò 16 tuổi, thơ thì mới ra sức học cho thuộc mấy cuốn sơ đẳng như “Thi ngữ túy kim” (Lời thơ vàng vụn) hay “Ấu học tiện lãm” (Bản ghi sẵn cho các em học) đây thôi.
“Tôi làm hộ không được đâu. Trước nhất, thứ thơ non nớt của tôi mà xưng dối là thơ của anh Kawai, thầy biết được thì là chuyện đáng xấu hổ cho anh đấy. Khoai nướng thì cảm ơn lắm, nhưng tôi phải từ chối thôi.”
“Cậu khờ quá!” Ông học trò ở tuổi chú bác này nháy mắt bảo. “Cứ vẽ chuyện thơ với văn cho rộn ràng thế, chứ thơ văn có dở đi nữa, cũng chẳng dính dáng gì đến giá trị của con người cả. Đại loại, những kẻ theo đòi Hán học gì đấy, mà cả thế gian này nữa, đều cứ nhập tâm rằng thơ văn giỏi là đủ thành học giả đáng kính nể rồi. Suy nghĩ như thế mà làm chuyện lớn trong thiên hạ được hay sao?”
Có vẻ anh chàng học trò dở này có định nghĩa hơi khác đời về chuyện học vấn rồi. Chẳng làm sao hơn, Mu-in đành làm thơ giúp cho anh ta.
Có lần thấy Mu-in vừa bận rộn lật tìm trong bản chú thích vừa đọc cuốn Tam Quốc Chí, chàng học trò dở cảm thán:
“Cậu còn nhỏ mà cũng gắng đọc sách kiểu ấy, không thấy chán sao chứ? Thật đáng nể!”
Và vì nể phục quá nên hỏi tiếp:
“Vì lý do gì mà cậu đọc sách ấy thế?”
“Vì thích thú đấy mà.” Mu-in thành thực đáp. Nghe thế, Kawai nói:
“Nếu vì thích thú mà đọc sách, thì chi bằng đi xem diễn kịch hay đi nghe kể chuyện cười còn thích thú hơn nhiều.”
Anh này nói lạ! Mu-in nghĩ thế. Nhưng gặp nhau mỗi ngày, riết rồi Mu-in dần dần bị thu hút bởi anh chàng học trò dở này, cuối cùng, đã chịu phục mà tôn anh ta làm “thầy”. Ở trường này, môn sinh chọn trong lứa đàn anh ra một người hướng dẫn trực tiếp thay thầy. Mu-in là học trò ưu tú hạng nhất trong đám môn sinh nhỏ tuổi của trường, nhưng Mu-in đã chọn anh chàng học trò dở lớn tuổi này làm “thầy” hướng dẫn trực tiếp mất! Ông thầy này lại còn là người viết chữ xấu cùng cực, đến nỗi cả trường đều biết: “Kawai không phải viết chữ, mà là khắc chữ đó!” Quả thật, Mu-in cũng đã thấy Kawai khổ nhọc lắm khi viết chữ, trông thật giống một ông thợ mộc-bản cặm cụi khắc chữ lên bảng gỗ. Vậy mà lại hay viết chữ, và có thói quen hay sao chép lại các cuốn sách.
Quan niệm về học vấn của anh ta là: học vấn phải là thứ tạo nên sức mạnh hành động cho mình mới được.
Có lần trên đầu anh ta có chỗ sưng lớn, rất đau đớn mỗi khi cử động. Mu-in khuyên:
“Hay là anh nghỉ học ít buổi ở nhà trị bệnh cho xong đi!”
“Ta muốn thử thách chuyện học vấn của mình đấy mà!”,
ra cái điều chuyện đấu tranh với sự đau đớn từ mụn nhọt ấy là học vấn của mình vậy. Còn chuyện giải thuyết chi li về thơ văn, kinh điển thì chẳng phải là học vấn!
Có vẻ anh ta say mê chủ nghĩa hành động của phái “Dương Minh học” (học theo Vương Dương Minh, thuyết Tri hành hợp nhất), cùng một khuynh hướng tư tưởng với Oshio Heihachiro trong biến cố Tenpo-no-ran (Loạn Thiên Bảo 1841-43). Thời bấy giờ, Chu-tử-học là lối học chính quy trong nước, chủ trương trước hết phải tìm hiểu tận tường về lý thuyết rồi mới có thể chuyển sang hành động, do đó, hành động không được trọng bằng tri thức. Ngược lại, tư tưởng Nho học của Vương Dương Minh là: Hiểu biết và hành động là một! Tri thức phải là năng lượng hành động mới được, học vấn chính là để đào tạo chính mình là chủ thể của hành động. Lời dạy của Vương Dương Minh đã lưu truyền rộng rãi đến thành như lời nói bình thường rằng: “Phá giặc trong núi thì dễ, phá giặc trong lòng mình mới khó.”
Có lẽ anh chàng người xứ Echigo này coi việc đấu tranh với nỗi đau đớn từ mụn nhọt trên người cũng đúng là học vấn theo thuyết của Vương Dương Minh rồi. Người xứ Echigo bao giờ cũng có lối suy nghĩ độc đáo về chuyện đời.
Trưởng tràng ở trường này là một ông Odagiri gì đấy. Mặt coi có vẻ hào phóng sẵn sàng đãi người khác, nhưng đến lúc trả tiền thì mằn mò hoài trong túi, không dễ gì mà rút tiền ra. Một hôm, môn sinh 8 người, có cả Kawai và Mu-in, cùng đi xem hoa mai nở ở Ginsekai phía trước phố Shinjuku, rồi vào uống rượu ở quán ăn nhỏ gần đấy. Đến lúc trả tiền, Odagiri lục lọi trong túi một hồi rồi nói:
“Ủa, chỉ còn hai tiền vàng chẵn thôi! Ai có tiền lẻ sẵn thì trả hộ đi.”
Kawai liền nói: “Thế thì tớ trả cho”, rồi gọi cô phục vụ đến chi trả, xong mới nói: “Nhưng mà, phần của Odagiri thì cậu tự trả lấy đi!” Nói xong, anh dẫn cả bọn về mất, chỉ để Odagiri ở lại đó. Có vẻ đây cũng là cách phán đoán ứng xử theo Dương Minh học đấy.
Càng ngày Mu-in càng hứng thú tìm hiểu về Kawai, may mắn lại làm quen được với một người cùng xứ với Kawai, nên hỏi cặn kẽ thêm. Người kia cho biết: “Một tên khùng đấy thôi.” Nhà ở lô đất số 1 xóm Naga gần thành Nagaoka, bước qua cổng là thấy hai cội tùng cổ thụ bề thế. Anh ta trưởng thành ở đấy. Ông cha ngán ngẩm cho cậu con duy nhất tướng thư sinh da trắng trói gà không chặt, mà lại lười học, nên từ năm cậu 9 tuổi đã bắt tập võ nghệ. Học cỡi ngựa với Miura Jibuhei, học kiếm thuật với Kito Rokuzaemon, đều là những vị thầy tài giỏi danh lừng phiên trấn.
Kawai Tsugunosuke thì khi lớn lên cũng vẫn khinh thị rằng: “Bắn cung, cỡi ngựa, đánh kiếm, đánh thương, những thứ đó chỉ là loại kỹ năng bậc thấp của người võ sĩ mà thôi”, nên ngay từ đầu đã chẳng thèm học theo lề lối thầy chỉ vẽ, mà nhất định làm theo cách của mình. Thầy dạy cỡi ngựa có mắng thì cãi là “Ngựa thì chỉ cần cỡi chạy được là đủ rồi”, còn đối với Kito dạy kiếm thì diễu cợt mà bảo là “Kiếm thì chỉ cần chém được là quá đủ.”
Chẳng qua là người có tính cách chiều theo các thói tật của mình quá mạnh; những lý lẽ ấy hay quan niệm về học vấn cũng vậy, đều được nghĩ ra để biện minh với chính mình đó thôi.
Về sau, Mu-in còn đến viếng phiên trấn Nagaoka, gặp những người quen biết Tsugunosuke, hỏi thăm nhiều chuyện nữa, mà ai cũng nói:
“Ông ấy, cho đến tuổi trung niên thì chẳng có chuyện gì cả. Chúng tôi cũng chẳng đặc biệt quan tâm đến ông ấy”
Mu-in đã đến thăm cả nhà Kawai nữa. Gặp người cha là Shiroemon, người mẹ Tei, và người vợ Suga, để hỏi chuyện thì biết là năm 18 tuổi, Tsugunosuke đã lập đàn tế theo nghi thức Nho giáo ở trước sân nhà, cắt cổ gà nhỏ huyết mà thề nguyền gì đấy bằng những lời quyết liệt.
Kết cuộc, năm Mu-in 16 tuổi, ở trường Kyukeisha ấy, đã tiếp xúc với Tsugunosuke hiệu là Soryokutsu chỉ trong 6 tháng. Đến tháng 6 năm đó, Tsugunosuke bảo:
“Ở phiên trấn Matsuyama đất Bitchu có một nhân vật ta rất hâm mộ.”
rồi nghỉ học mà đi mất.
Trong đời, chưa có lúc nào Mu-in cảm thấy buồn như hồi đó. Lúc chia tay, Mu-in hỏi Tsugunosuke hai điều.
“Ở trường này, thầy Kawai đã thu hoạch được những gì?”
“Ta đã đọc được một kỳ thư.”
Một hôm, Tsugunosuke lục lọi trong kho sách của trường Kyukeisha, tìm ra một bộ sách 12 cuốn, ngay cả đề sách cũng hầu như chẳng học giả nào biết, đó là “Tập sách của ông Lý Trung Đỉnh” . Càng đọc, anh ta càng vui mừng đến như điên cuồng, rồi đã bỏ công sao chép trọn bộ trong 10 tháng trọ học ở trường.
Lý Trung Đỉnh là danh thần cuối đời Tống. Những năm cuối đời vua Huy Tông, rợ Kim xâm lược, triều đình bàn tính xin hoà. Nhưng Lý Trung Đỉnh khăng khăng giữ thuyết chủ chiến, thống thiết tâu lên vua rằng chịu hoà mà đầu hàng thì sẽ đưa đến mất nước. Đời vua Cao Tông, ông đã thi thố tài năng hiển hách trong cương vị một nhà hành chính và cả trong chức vụ tư lệnh quân đội dã chiến nữa.
Tsugunosuke thấy mình đang sống trong tình thế náo động cuối thời Mạc Phủ, nên lòng cũng đã quyết rằng: “Cuộc đời ta cũng phải như Lý Trung Đỉnh mới được!”
Người đàn ông này chỉ đọc sách nào hợp với khí chất của mình mà thôi, nhưng có vẻ không có sách nào khiến anh ta cảm động đến như bộ sách ấy cả.
Mu-in còn hỏi thêm:
“Sau này thì tôi nên học theo vị nào ở trường này?”
“Tsuchida Shohei thì tốt nhất.” Tsugunosuke đáp.
Mu-in sửng sốt.
Tsuchida là người còn học dở gấp mấy lần Tsugunosuke nữa, sắp 30 tuổi rồi mà sách chữ Hán còn đọc chưa được nữa là! Anh ta là người xứ Dewa, đã rời Kyoto năm 25 tuổi, theo học Fujimoto Tesseki về sau này là thủ lãnh của nhóm Tenchugumi (nhóm võ trang Cần Vương cực đoan), nghe đâu anh ta đã bị Tesseki mắng cho là ngu dốt, mới bắt đầu chịu đọc sách.
Tsugunosuke đi khỏi Edo rồi, Mu-in tìm đến Tsuchida, cúi đầu xin hướng dẫn. Khiến Tsuchida sửng sốt:
“Kawai thật là kẻ quái dị. Cùng học ở trường này nhưng chưa hề nói chuyện với nhau lần nào, vậy mà Kawai bảo như thế thật sao? Nhưng mà, tớ đã chu du thiên hạ các nơi, thấy được đủ loại nhân vật rồi, thế nhưng, người đến như Kawai thì chưa từng thấy bao giờ. Tớ đã thấy ông ấy đánh cờ tướng một lần. Đánh cờ mà hào khoái được đến như ông ấy thì quả thật là chưa từng thấy.”
Tsuchida kể rằng lúc đánh cờ, Tsugunosuke hầu như chẳng để mắt gì đến chuyện thắng bại, ngón tay cứ thoăn thoắt di chuyển quân cờ, vậy mà vẫn thắng được nhanh chóng.
“Không chừng là người anh hùng trăm năm mới có được một người đấy. Thế nhưng, phiên trấn Nagaoka của ông ấy thì chỉ có 74 ngàn hộc[3] ...” Tsuchida suy nghĩ một hồi. “Quy mô nhỏ quá! Phiên trấn nhỏ mà lại có một nhân vật tầm cỡ đến như thế thì là vận may hay rủi, chỉ có Trời mới biết được.”
Tsuchida nói, nghe cứ như là lời sấm đoán trước tương lai. Về sau, Kawai Tsugunosuke đã tạo ra biến động lớn lao đến mức đảo lộn trời đất ở địa phương Hokuetsu, còn Tsuchida Shohei thì không có dịp chứng kiến để xác nhận lời dự đoán ấy, vì đã tham gia vào biến cố Tsukuba-no-ran, lưu lạc chiến đấu ở nhiều nơi, cuối cùng đã chạy đến phiên trấn Nakamura vùng Iwaki mưu đồ tái khởi nhưng đã bị bắt và xử chém vì tội ủng hộ Mạc Phủ.
Nói gì đi nữa, Kawai cũng là người kỳ dị đấy. Anh ta nghĩ gì, định làm gì, Mu-in chẳng làm sao đoán ra được. Thời còn học ở trường Kyukeisha, sở thích của Kawai chỉ là đến xóm Yoshiwara mua gái, và lớn đầu rồi mà thích chơi trò kéo gối thi. Đó là trò hai bên dùng ba ngón tay kẹp hai đầu của cái tráp gối đầu hình hộp mà kéo xem ai giữ được, thế thôi. À, còn trò nhìn đèn sáp nữa chứ. Thắp đèn sáp lên, mở mắt nhìn không chớp vào đèn sáp ấy, ai chớp mắt trước là thua. Nhiệt tâm vào những trò con nít như thế. Mà hai trò ấy, trò nào Kawai cũng thắng tất cả các môn sinh trong trường. Đến nổi tiếng khắp trường rằng Kawai nhìn mặt trời cũng chẳng chớp mắt nữa.
Trong thời gian trọ học, Kawai có lần thình lình thu dọn án thư, đèn lồng, cho sách vở, chăn mền vào hành lý, ra đi. Mọi người kinh ngạc hỏi:
“Anh bỏ trường mà đi đấy à?”
Kawai đáp: “À, cũng tương tự thế.”
Về sau mới rõ ra rằng năm ấy là Ansei thứ 6 (1860), do vấn đề phê chuẩn hiệp ước bất bình đẳng với ngoại quốc mà quan hệ đối ngoại căng thẳng. Mạc Phủ ra lệnh cho các phiên trấn chư hầu chia nhau canh giữ vùng duyên hải gần Edo. Phiên trấn Nagaoka phải phái quân đến canh giữ cảng Yokohama, và Kawai được cử làm đội trưởng đội quân ấy. Vì vậy mà Kawai phải tạm thời bỏ học. Nhưng chỉ vài ngày sau, chẳng hiểu sao lại thấy xách sách vở, chăn mền, đèn lồng, án thư,... trở lại trường.
“Sao thế anh?” Mu-in hỏi.
Kawai im lặng không đáp. Sau này, Mu-in hỏi chuyện các môn sinh cùng xứ Nagaoka với Kawai mới biết được sự tình. Khi nhận được lệnh làm đội trưởng đội quân canh giữ cảng Yokohama, Kawai đã nói với quan Gia lão[4] trú nhậm ở Edo rằng:
“Đã gọi là đội trưởng đội quân canh giữ cảng Yokohama, thì không khác gì phải ra chiến trường rồi. Vậy thì đội trưởng ắt là được giao toàn quyền sinh sát đấy chứ?”
Kawai muốn xác nhận như thế, khiến quan Gia lão kinh ngạc. Thấy ông ngần ngừ, Kawai nói:
“Vậy thì, xin miễn cho”
rồi trở về trường.
Vài ngày sau, lại được gọi vào dinh trú nhậm của phiên trấn ở Edo. Đến nơi thì quan Gia lão bảo:
“Lời anh yêu cầu là đúng lắm. Vậy thì ta cho toàn quyền sinh sát đối với đội viên, anh nhận làm đội trưởng đi”
Kawai nhận lời. Cỡi ngựa, dẫn quân sĩ rời dinh phiên trấn ở xóm Atago. Ra đến trước lầu xanh Dozo Sagami ở Shinagawa, Kawai xuống ngựa, đưa cương ngựa cho phu ngựa giữ, rồi bảo mọi người:
“Ta được giao cho toàn quyền điều khiển đội quân này. Vì vậy, ta truyền lệnh khỏi đi Yokohama nữa. Ai muốn trở về Edo thì về. Còn ta vào lầu xanh này, ai muốn đi cùng thì theo ta.”
Nói xong, quay lưng đi thẳng vào lầu xanh ấy thật. Sáng hôm sau, về lại trường Kyukeisha thì thấy có sứ giả của phiên trấn xanh mặt chờ sẵn ở đó rồi. Kawai nạt lớn:
“Ta đã được giao cho toàn quyền sinh sát rồi kia mà. Giải tán quân sĩ hay không là quyền tự do của ta!”
Có vẻ anh chàng này có cái lý của anh ấy, chủ ý muốn diễu cợt chính sách của Mạc Phủ bên trên phiên trấn nữa.
“Bọn ngoại quốc chỉ mới hăm doạ thôi chứ chẳng muốn gây ra chiến tranh. Địch không có ý muốn đánh, mà phía mình chỉ mới nghe tiếng gió thổi chim kêu đã run lên, phái ngay binh lính ra trấn giữ Yokohama, thì còn gì là uy nghiêm của quốc gia nữa!”
Cuối cùng, Kawai cũng đã bỏ học ở trường Kyukeisha, đi Bitchu, đến thăm và nhập môn Yamada Hokoku là học giả chủ trương thực học, có tham gia vào chính quyền của phiên trấn Matsuyama vùng Bitchu. Hokoku tên thật là Yamada Yasugoro, vang danh thiên hạ là nhà cải cách thể chế phiên trấn. Xuất thân là con nhà nông, thời niên thiếu đã nổi tiếng khắp nơi về tài học, được Lãnh Chúa Itakura tước Suo-no-kami cấp học bổng du học Kyoto, Edo, về sau nhậm chức Giám học ở trường của phiên trấn, rồi thăng lên chức quan lo về tài chính, rồi Chưởng quản Địa phương, Nhiếp chính, và đã làm giàu cho tài chính của phiên trấn.
Lúc Kawai tìm đến thì Hokoku làm chức vụ nhiếp chính nhưng không ở trong dinh cơ gần thành mà ra ở đất dinh điền Nagase thuộc làng Nishikata, để chỉ huy đám võ sĩ cấp thấp trong công tác khai khẩn. Kawai cùng ở đấy học và làm việc chung hơn một năm. Hầu như chẳng đọc cuốn sách nào. Một ngày nọ, Hokoku hỏi, có vẻ ngán ngẩm:
“Sao cậu không đọc sách?”
Kawai im lặng một hồi, rồi đáp:
“Thưa, tôi đến để học cách thầy làm việc.”
Về sau này, Kawai làm quan Nhiếp chính ở phiên trấn Nagaoka, đã chuyển biến nền tài chính thâm thủng của phiên trấn Nagaoka thành giàu có, giúp phiên trấn cỡ nhỏ này vũ trang hoàn bị đến như quá mức như vậy được, có lẽ phần lớn cũng nhờ vào những gì đã học hỏi được trong thời kỳ tập việc với Hokoku.
Tổng cộng 3 năm ở lại đất Bitchu, Kawai đã đến xem và học hỏi ở các phiên trấn phía tây như Choshu, Saga,... đã sớm trở thành những xứ có nền công nghiệp hiện đại. Như Choshu là cỡ phiên trấn chừng 30 vạn hộc, mà bấy giờ đã thu hoạch trên 100 vạn hộc rồi. So với các phiên trấn phía tây ấy thì các phiên trấn ở Hokuriku, Kanto, Tohoku,... phía đông vẫn còn giữ nông nghiệp làm trung tâm kinh tế y nguyên như cũ từ thời Chiến quốc, nên tài chính của các phiên trấn này càng năm càng suy thoái, nay đã xuống đến mức chẳng còn sức để làm gì được nữa cả. Sự cách biệt giàu nghèo giữa các phiên trấn phía tây và phía đông như thế đã hiện rõ trong mắt Kawai Tsugunosuke lúc đi tham quan các nơi, đến nỗi Kawai phải kinh ngạc vì sao cùng một nước Nhật Bản mà lại có thể khác nhau đến như thế được! Kawai nghĩ hẳn là sẽ có ngày sự giàu có của các phiên trấn hùng mạnh phía tây sẽ lấn áp các vùng phía đông và phía bắc dưới hình thức võ lực cho mà xem.
Kawai còn đi tiếp đến Nagasaki, thuê người thông ngôn, thường đến thăm các nhà của người ngoại quốc ở đấy để hỏi về tình hình các nước. Những cảm tưởng thu hoạch được trong lần chu du các xứ phía tây ấy, Kawai đã viết cho người anh vợ đang ở gần thành Nagaoka là Nagino Kahee (là anh của Suga, vợ Kawai) như sau:
- Tình thế thiên hạ như thế này thì sớm muộn gì cũng sẽ xảy ra biến động to lớn, không tránh được. Hiện nay, tình hình thế giới không khác gì thời Chiến quốc.[5] Những nước ngoài như nước Nga đã nảy ra Đại đế Peter chẳng hạn, đang có uy thế khủng khiếp đến không thể tưởng tượng nổi, do đó chuyện Nhật Bản đòi đánh đuổi người ngoại quốc như lối Nhương Di ấy là hành vi ngu xuẩn.
- Quan hệ giữa Kyoto (Thiên hoàng) và Edo (Mạc Phủ) cũng thật đáng lo buồn. Đã thấy bọn hai phiên trấn Satsuma và Choshu len vào giữa với mục đích tư lợi cho phiên trấn họ mà có hành động ly gián, sàm tấu lên Thiên hoàng. Phía Kanto cũng không nên mắc mưu bọn ấy mà đối ứng một cách khinh xuất.
- Thiển nghĩ khai quốc là xu hướng tất yếu rồi. Trong tình thế ấy thì chẳng còn ý nghĩa gì chuyện phân biệt công khanh của Thiên hoàng với võ sĩ của Mạc Phủ nữa. Phải trên dưới đồng một lòng mà gắng sức làm cho nước giàu binh mạnh. Phía Kanto cứ tin tưởng rằng Phủ Chúa Tokugawa sẽ đời đời cai trị thiên hạ được mãi thì là lối suy nghĩ thiển cận cùng cực, thật đáng buồn.
- Phiên trấn Nagaoka thì nói gì đi nữa cũng chỉ là một phiên trấn nhỏ, chẳng thể nào có sức để kéo đại thế của thiên hạ theo được. Từ đây, chỉ có thể chỉnh đốn chính quyền phiên trấn, nuôi dưỡng thực lực, nhận thức tình thế cho đúng, cố gắng tránh sai lầm to lớn, chứ không còn kế sách nào khác.
Đầu mùa hè năm Manen nguyên niên (1860), Kawai thôi học ở nhà Yamada Hokoku. Nghe đâu sau đó, Hokoku đã nói với người khác rằng: “Người như vậy mà ở phiên trấn nhỏ như Nagaoka thì chẳng hiểu là phiên trấn ấy được lợi hay bất lợi”, rồi lắc đầu với vẻ mặt khó hiểu.
Trở lại Edo, Kawai lại vào học trường Kyukeisha lần thứ ba. Cũng chẳng có vẻ gì là ham học. Có hôm cứ ru rú trong phòng riêng, gối đầu lên tráp sách bọc da, suốt ngày lăn qua lật lại. Khiến Mu-in lo lắng, mới hỏi:
“Anh không trở về nhà ở Nagaoka sao?
Bởi Mu-in nghĩ mà thương cho người vợ của Kawai ở nhà. Kawai lăn đầu trên gối là tráp sách bọc da ấy, nhìn Mu-in chòng chọc mà nói:
“Bé con không hiểu được đâu.”
Ở trường cũng có người bảo là:
“Nghĩ thân làm vợ của Kawai thật là tội nghiệp!”
Cũng có người kể:
“Nghe đâu khi ra đi, anh chàng Kawai ấy đã bảo vợ: ta lên Edo tí đây. Người vợ hỏi: Edo thì cách Nagaoka bao xa?. Kawai nói: có gì đâu, cứ đi ngược sông Shinano là đến Edo rồi, khi nào muốn gặp thì cứ lên đấy là được. Vì vậy, người vợ cứ đinh ninh như thế mà an lòng một cách ngây thơ lạ lùng. Thật tội nghiệp!”
và tỏ vẻ vì nghĩa mà giận Kawai.
Có lần Mu-in được bạn học trong trường rủ đi xem hoa diên vĩ (iris) ở Horigi. Nghe đồn là danh thắng ở Edo đấy nên Mu-in định đi xem cho biết. Thấy Mu-in sửa soạn áo quần sắp sửa đi, Kawai từ trong phòng nhìn Mu-in chăm chú mà nói:
“Xem về thì cho biết ra sao nhé.”
Mu-in ra đi theo bạn. Nhưng phương hướng đường sá thì không quen. Trên đường về, Mu-in bị dắt vào khu chơi bời Yoshiwara, lôi vào nhà chứa mà không biết.
“Đây là chỗ gì vậy?”
Mu-in hỏi thì cả bọn cười ngất. Chúng bạn bảo đây là “bất dạ thành” (thành không có đêm) vang danh thiên hạ đấy.
“Cậu thì chưa khai bút chứ gì, phải không nào? Lúc như thế này thì phải ngoan ngoãn nghe theo lời đàn anh mới được đấy.”
Mu-in mới 17 tuổi, sợ quá. Nỗi sợ hãi ngây thơ của tuổi trẻ đấy, nhưng một phần cũng vì lo sợ không biết người hướng dẫn là Kawai sẽ nói gì nếu biết được là anh đã đến chỗ ác ôn thế này. Mu-in quyết liệt từ chối mà bỏ về. Lập tức vào phòng Kawai báo cáo. Kawai gật gù:
“Thế thì tốt lắm. Ta thấy bọn này gồm những đứa xấu thì đã định cản cậu đừng đi, thế nhưng nghĩ lại cậu cũng đã 17 tuổi rồi, nên làm thinh đấy. Ta mới mua sẵn nhiều bánh bao lắm, ăn đi”
rồi cho luôn cả bao bánh.
Mu-in được Kawai khen ngợi thì cảm động đến muốn rơi nước mắt. Anh tin rằng người như Kawai hẳn là không đến những chỗ ác ôn như thế.
Nhưng vài ngày sau, Mu-in nghe người ta nói:
“Không ai đi chơi nhà thổ nhiều bằng Kawai cả.”
Mu-in nổi giận, nhân thể còn lại 2, 3 chiếc bánh bao nhận được mấy ngày trước, bèn xách tới trả lại. Kawai vẫn gối đầu lên tráp sách bằng da ấy, chẳng lộ vẻ gì là ngạc nhiên hay lúng túng cả.
Kawai có bộ não lạ lùng. Có vẻ là đã đoán trước được sự việc sẽ xảy ra, giống như đoán được nước cờ tướng (Nhật Bản) vậy. Như chuyện Mu-in đi xem hoa diên vĩ xong thì sẽ như thế nào, ghé lại xóm chơi bời Yoshiwara thì chắc chắn sẽ bỏ về, đoán như thế nên Kawai mới mua bánh bao để sẵn. Mà cả đến việc Mu-in nghe lời đồn, tức mình mà trả bánh lại, có vẻ Kawai cũng đoán được trước nữa.
Kawai chẳng lộ vẻ gì, chỉ vươn tay đón lấy bánh bao cho vào miệng, chầm chậm nhai kỹ, nuốt xuống họng, rồi nhỏm người, bật khoá lưỡi liềm, giở nắp tráp lấy ra một cuốn tập nhỏ.
“Sách gì thế?”
“Sách ghi chi tiết xóm Yoshiwara đây.”
Mu-in cầm cuốn tập giở ra xem. Thấy in rõ ràng chi tiết giá cả và bình phẩm về từng cô trong số ba ngàn 8 trăm 15 gái làng chơi trong xóm Yoshiwara ấy.
“Dấu hiệu này là gì thế?”
Mu-in chỉ vào các dấu hiệu bằng mực đỏ mà Kawai đã ghi phía trên tên của các cô.
“Các cô mà ta đã mua đấy.”
Đáng ngạc nhiên là bằng vào các dấu hiệu ấy thì hẳn là Kawai đã mua dâm từ tất cả các cô nổi tiếng ở Yoshiwara rồi, không chừa cô nào.
Dấu hiệu thì có ba loại: hình tam giác, vòng tròn đơn và vòng tròn kép. Có dấu hiệu đã bị xoá đi. Mu-in hỏi về ý nghĩa của các dấu hiệu ấy thì Kawai chỉ mỉm cười nhẹ mà không giải thích rõ ràng. Chỉ nói:
“Đã mua như thế rồi đấy. Đối với đàn ông, các cô có dấu vòng tròn kép đó chẳng phải là thứ địch thủ dễ thắng. Ta đã thường cho rằng chỉ có những tên đàn ông yếu đuối về tình cảm mới mê say đàn bà mà thôi. Nhưng thật chẳng phải thế. Có thể những tên đàn ông yếu kém thì mê say các cô cỡ dấu hiệu tam giác hay vòng tròn đơn ấy thôi. Còn bậc anh hùng hào kiệt thì mê đắm các cô có dấu vòng tròn kép ấy. Bảo là mê đắm, nhưng chẳng phải vì các cô khéo chiều chuộng, nâng áo khoác vào người cho mình hay vỗ lưng âu yếm mình gì đâu. Cái tình của các cô này có chút hơi hướm gì đấy không thể gọi tên là gì được, thế mà cả lòng lim dạ sắt của người đàn ông phải tan chảy vào đấy lúc nào không hay. Mà bậc anh hùng hào kiệt thì lại càng dễ đắm đuối hơn người thường nữa...”
“......”
“Vì thế nên ta đã thử xem cho biết. Và cuối cùng đã đi đến tận chỗ không còn đi thêm được nữa, thì hiểu ra rằng đàn bà là quý lắm đấy. Đến có thể làm tim mình run lên được. Cả đến bây giờ, ta cũng nghĩ như thế.”
Màu mắt Kawai chợt biến đổi. Có lẽ chàng ta đang tưởng nhớ tha thiết đến một cô nào có dấu vòng tròn kép ấy rồi.
“Từ đó, ta ngừng hẳn. Ta là kẻ trù liệu trước đại khái cuộc đời của mình mà sống theo đó. Quả thật nhà ta lãnh bổng lộc không bao nhiêu, phiên trấn của ta chỉ là một phiên trấn nhỏ, nhưng cũng chính vì nhỏ nên phiên trấn sẽ có ngày cần đến ta. Và quả thật, đằng nào cũng chỉ sống được một đời, thì lòng lim dạ sắt có tan chảy vì đàn bà đi nữa, cũng có thể là điều thú vị. Tuy nhiên, con người không thể sống hai cách sống cùng lúc được. Ta phải sống cho đúng với sự trù liệu trước của mình đó thôi.”
Sự trù liệu mà Kawai nói đó hẳn là cố gắng xây dựng cốt cách người anh hùng trong con người của anh ta. Giống như lời thơ mà Kawai đã làm:
“Thập thất thiên thệ phù quốc nghĩ”
(17 tuổi, ta thề với trời sẽ mưu tính chuyện giúp nước)
Anh chàng này có lẽ đang tiếp tục cố gắng suy tính nhiều phương cách để đạt tới mục đích ấy.
Không bao lâu sau, Kawai Tsugunosuke trở về quê hương là phiên trấn Nagaoka vùng Echigo. Qua năm sau, Bunkyu thứ nhì (1862), ngày 24 tháng 8, Lãnh Chúa là Makino Tadayuki được lệnh nhậm chức Đại lý cho Mạc Phủ ở kinh đô Kyoto. Tadayuki rời Nagaoka ngày 15 tháng 9, đến dinh của phiên trấn ở phường Nijo, Kyoto ngày 29.
Kawai lưu lại Nagaoka. Một ngày nọ, không hiểu là đã nghe được gì trong thành mà vội vã về nhà gọi vợ:
“Suga ơi, dọn cơm ra!”
Suga lập tức dọn cơm nước, và hỏi chồng:
“Lần này, anh đi đâu đấy ạ?”
“Em hiểu được thế à!”
Đang và cơm, Tsugunosuke chợt ngưng đũa.
Suga im lặng mỉm cười. Sống với chồng lâu ngày thì chỉ cần nhìn dáng điệu chồng cũng hiểu ra được.
“Đi lên kinh đô đây.” Tsugunosuke đáp rồi tiếp tục và cơm.
Suga cười khổ sở, đi chuẩn bị hành lý cho chồng ngay. Từ năm 16 tuổi rời nhà Nagino vào làm dâu nhà này đến giờ, chưa có lúc nào thấy chồng ở yên trong nhà được đến một năm. Tuồng như Suga vào làm vợ Tsugunosuke chỉ để sửa soạn hành lý cho chồng mà thôi vậy.
Tsugunosuke đến Kyoto, vừa vào đến dinh cơ của phiên trấn, đã xin vào gặp quan Đại lý ngay. Tsugunosuke thưa lên rằng quan Đại lý nên từ chức ngay mà về xứ thì hơn.
“Chức Đại lý này, lúc Mạc Phủ còn có uy quyền thì chẳng nói làm gì, chứ tình thế đã như thế này, thì chẳng còn ích lợi gì nữa cả. Hiện nay, các phiên trấn mạnh là Satsuma và Choshu cử binh canh giữ các cửa hoàng cung, mượn oai triều đình mà chẳng coi Mạc Phủ ra gì, còn trong kinh đô thì bọn võ sĩ mất chủ tướng tha hồ tung hoành coi như chẳng có các sở cảnh sát. Trong thời thế này, muốn trị an kinh đô thì phải có uy thế binh bị của một phiên trấn cỡ một triệu hộc kia. Chứ phiên trấn nhà giỏi lắm cũng chỉ ở mức 74 ngàn hộc thì thấy rõ trước mắt là sẽ sa lầy mà chẳng làm nên chuyện gì cả.”
“Ăn nói vô lễ quá!”
Quan tham chính Mima Yasuemon ngồi bên cạnh đánh cây quạt vào đầu gối mà mắng.
Nhưng Tsugunosuke không thèm để ý. Yasuemon lại càng nạt lớn hơn.
Tsugunosuke quay nhìn, ra vẻ như mới chợt để ý có Yasuemon ngồi đấy, rồi lắc đầu nhẹ mà nói:
“Chẳng lẽ ngài nghĩ rằng nạt nộ người ta thì lay chuyển được thời thế sao chứ?”
Tsugunosuke lập tức bỏ về phiên trấn.
Quan Đại lý cũng nghĩ ý kiến của Tsugunosuke là đúng nên tháng 7 năm sau đã từ nhiệm mà trở về Nagaoka. Nhưng Mạc Phủ vẫn cất nhắc Tadayuki lên chức quan Lão Trung.[6] Nghe tin ấy, Tsugunosuke đang ăn bữa trưa liền vất đũa, nói:
“Thật là điên khùng!”
Suga nhặt đũa lên, hỏi:
“Anh lại sắp đi xa nữa à?”
“Không, ta lên thành đây.”
Vào yết kiến Lãnh Chúa, Tsugunosuke lại thưa:
“Lúc này, thân làm Lãnh Chúa một phiên trấn nhỏ thì chẳng nên nhận chức quan Lão Trung gì đấy của Mạc Phủ. Thế nào cũng xin từ tạ đi cho.”
Ý kiến của Tsugunosuke là thời thế này, việc gắng sức làm sao cho xứ giàu binh mạnh trong phiên trấn của mình mới là việc khẩn cấp nhất. Chứ làm chức quan Lão Trung gì đấy đi nữa, lúc này Mạc Phủ đã đến hồi không còn cựa quậy gì được nữa rồi, thì chỉ tốn công quỹ của phiên trấn vào việc vô ích mà thôi.
“Nhưng ta đã nhận lãnh rồi mà.”
Tadayuki đáp, rồi cho Tsugunosuke đi ra, nhưng ấn tượng mãnh liệt từ gã đàn ông tướng tá kỳ dị ấy vẫn còn lưu lại rất lâu. Tadayuki nhậm chức xong, liền ra lệnh cho Tsugunosuke theo lên làm việc ở Edo, đề bạt cho làm chức vụ Hành khiển cho cả phiên trấn lẫn Mạc Phủ. Việc đề bạt như thế thật hiếm có.
Tsugunosuke vui vẻ lên Edo làm việc, lần này lấy cương vị công vụ mà khuyên Lãnh Chúa từ nhiệm, mỗi ngày vào yết kiến lại thuyết phục như thế. Hàm ý của Tsugunosuke vẫn là: ngày nay Mạc Phủ đã đến lúc không còn sức sống nữa rồi, có giúp vào cũng vô ích thôi. Trong khi đó, việc quan trọng cần kíp là làm sao cho phiên trấn Nagaoka sớm được xứ giàu binh mạnh. Được như thế thì cũng là giúp cho cả nước Nhật Bản vậy.
Cuối cùng, Tadayuki đã chấp nhận ý kiến của Tsugunosuke mà xin từ nhiệm vì lý do bệnh hoạn.
Nhưng Mạc Phủ đoán được rằng đấy là bệnh giả, nên cho Lãnh Chúa Makino Sadaaki của phiên trấn Kasama vùng Joshu, là phiên trấn vệ tinh của Nagaoka, đến dinh Lão Trung ở Tatsunokuchi để viếng bệnh mà thuyết phục Tadayuki bỏ chuyện từ nhiệm. Tadayuki đành phải ngồi nghe thuyết phục, bên cạnh có Tsugunosuke.
Tsugunosuke thì lúc nghị luận, chẳng cần biết ai là ai cả, nhiệt liệt phản luận, đến mức mắng cả vào mặt Lãnh Chúa Makino Sadaaki tước Hầu đất Kasama ấy. Vì vậy Tsugunosuke bị đuổi ra ngoài, tức thì sau đó đã viết biểu xin từ chức mà trở về Nagaoka, chấm dứt 5 tháng làm việc ở Edo.
Suga ra cửa đón ông chồng tiến thoái quá ư bận rộn này. Đêm đó, cha Tsugunosuke là Shiroemon ái ngại nói với vợ là Tei:
“Con dâu Suga nhà mình thật là tội nghiệp!”
Bởi chồng cứ rời nhà ra đi lúc nào chẳng biết. Nghĩ lại từ lúc hai người lấy nhau, Suga 16 tuổi, Tsugunosuke 23 tuổi, đến nay, chưa có lúc nào Tsugunosuke an vị ở nhà quá 6 tháng.
“Cứ như thế thì làm sao mà có thời gian để có con cái gì được chứ!” Đã có người trong đám thuộc hạ của Lãnh Chúa nói lén như thế. Mà thật, hai người chưa có lấy một đứa con.
Shiroemon cười khổ sở:
“Con dâu nhà mình lấy phải thằng chồng như thế thì chịu khổ nạn đã đành, mà cả Lãnh Chúa cũng phải chịu thêm gánh nặng này nữa. Bao nhiêu lần lãnh chức này chức nọ rồi mà chức nào cũng từ nhiệm ngay thôi. Cả đời, định làm gì chẳng biết nữa!”
Nói vậy chứ chẳng phải là ông bất mãn về con mình.
“Tsugunosuke là người có chủ trương quá mạnh về chuyện phiên trấn Nagaoka này phải như thế nào. Người như thế không thể làm một viên quan nhỏ trong phiên trấn được đâu. Trên mình mà có một người cấp trên thì thế nào cũng xung đột. Tsugunosuke thì chỉ có thể làm chức quan Gia lão cao nhất trong phiên trấn mà thôi.”
Lời Shiroemon nghe ra như tự trào. Bởi nhà Kawai xưa nay chẳng phải là nhà làm quan cao. Đừng nói chi đến chức quan Gia lão cao nhất, ngay cả chức quan Gia lão thường đi nữa, cũng chưa có ai trong gia hệ này đạt tới cả. Có lẽ rồi Tsugunosuke cuối cùng cũng chỉ là thứ con mồ côi trong đám thuộc hạ của Lãnh Chúa mà thôi.
“Vậy cũng xong.”
Shiroemon nửa như chịu thua số mệnh về chuyện có được đứa con kỳ lạ này.
Nhà Kawai tuy lãnh bổng lộc ít, nhưng cũng đã được cấp đất phong, và từ đời tổ tiên đã mua sẵn nhiều ruộng đất. Cho dù không có chức vụ gì đi nữa, cũng có gia sản đủ để sống tự lập thoải mái.
“Cứ để mặc nó muốn gì làm nấy thôi!”
Từ ngày trên Edo trở về, Tsugunosuke đâm ra mê mải chuyện tập bắn súng mỗi ngày. Người này thì ngày trước đã gõ cửa Sakuma Zomon mà học về súng pháo Tây phương, đã có đầy đủ kiến thức rồi, nhưng loại súng ống đó thì khó mà vào tay được ở xứ Nagaoka. Vì vậy, Tsugunosuke đã cho chế tạo khẩu súng có dây mồi lửa bắn đạn 10 mon (chừng 40 g), vác lên vai đến bãi tập bắn của phiên trấn mà tập luyện, cuối cùng bia bắn xa cỡ 90 mét thì không trật phát nào.
“Tây phương có thứ súng gắn lưỡi lê, nếu ta mà chỉ huy được một đội quân chừng ngàn người cầm súng gắn lưỡi lê ấy thì bất cứ địch quân kiên cố đến đâu cũng phá được.”
Tsugunosuke nói như thế với mọi người, và không chỉ nói, mà còn tưởng tượng hình dáng mình đang chỉ huy đội quân ấy, và làm cả thơ nữa:
“Kiếm súng thiên binh phá kiên trận”
(Ngàn binh trời cầm súng gắn lưỡi lê phá tan địch trận kiên cố)
Lời thơ ấy, Tsugunosuke bắt một người giỏi viết chữ trong phiên trấn viết và lồng khung đẹp đẽ mà treo trong thư phòng. Mỗi ngày ngắm nghía mà mộng tưởng hình dáng mình đang chỉ huy đội bộ binh vũ trang theo kiểu Tây phương, trong khói súng mịt mù!
Tsugunosuke bước đi trong các xóm quanh thành, lưng không đeo kiếm mà lại có vẻ đắc ý lắm. Người nào chặn hỏi thì được dịp trình bày thuyết của mình rằng:
“Võ sĩ thời nay không cần đeo kiếm nữa. Kiếm thì dùng gì được trong chiến tranh từ đây về sau?”
và nói thêm:
“Người ta còn bảo võ sĩ phải giỏi cung tên nữa. Chừng nào còn nói như thế thì chưa ngóc đầu lên được. Từ nay về sau, chỉ có những người biết cách dùng súng ống đạn dược, biết thuật hàng hải thì mới đáng được gọi là võ sĩ mà thôi.”
Chẳng bao lâu sau, Lãnh Chúa Tadayuki từ chức Lão Trung trở về Nagaoka, liền cho gọi Tsugunosuke vào để hỏi phiên trấn này nên có phương châm như thế nào. Tadayuki đã nghe đồn về lời thơ khẩu khí “Kiếm súng thiên binh phá kiên trận” rồi nên đoán trước là Tsugunosuke sẽ khuyên “phải trang bị binh sĩ phiên trấn theo lối Tây phương”, thế nhưng Tsugunosuke lại thưa:
“Trước hết, cần làm giàu cho nền tài chính của phiên trấn. Mọi việc khác thì khi nào có vàng trong tay hẵng nghĩ đến. Thiển nghĩ ngoài việc ấy ra, mọi kế sách khác đều vô ích trong lúc này.”
Phiên trấn Nagaoka công xưng là cỡ 74 ngàn hộc, nhưng thực tế thu hoạch được đến 20 vạn hộc. Thế nhưng, tiêu phí vô bổ quá nhiều, đến nỗi nợ nần chồng chất như núi, nền tài chính của phiên trấn bị sa lầy không làm gì được cả. Lãnh Chúa bèn hỏi tiếp Tsugunosuke về chuyện tài chính. Tsugunosuke thưa chuyện thật dài dòng, tỉ mỉ.
Vài ngày sau, Tsugunosuke được cất nhắc lên chức quan trọng yếu là Chưởng quản Địa phương. Lập tức, Tsugunosuke hạ lệnh cho tất cả các quan quản lý ở các địa phương phải nghiêm cấm tham nhũng, không được nhận hối lộ từ các làng xã. Tsugunosuke thực thi nhiều cải cách về kinh tế tài chính và hành chính, trong đó có cả việc bãi chức một số quan lại địa phương đã móc nối với các nhà thầu gạo để đục khoét gạo nạp thuế của dân.
Lãnh Chúa quá đỗi vui mừng về tài năng hành chính có phần bất ngờ của Tsugunosuke nên qua năm sau, Keio thứ 2 (1866), đã cho Tsugunosuke kiêm cả Chưởng quản Thủ phủ Edo ngoài chức Chưởng quản Địa phương, rồi năm tiếp đó, cho kiêm luôn chức vụ cố vấn thâm niên của Lãnh Chúa. Do tay của Tsugunosuke, nền tài chính của phiên trấn được phục hồi nhanh chóng như phép lạ, không chỉ trả sạch được tất cả các món nợ cũ, mà đến cuối năm Keio thứ 3 (1867), trong kho bạc của phiên trấn đã có 99.960 lạng vàng dư dùng, là số vàng mà ban Kế toán của phiên trấn Nagaoka chưa từng được thấy bao giờ.
Ngày trước, Tsugunosuke có lần đã nói:
“Ta là võ sĩ đấy, nhưng về việc kinh tài vẫn muốn thành một kẻ có khả năng như người quản lý hiệu buôn Echigo kia.”
và thực tế, Tsugunosuke đã đến trú ngụ nhà Yamada Hokoku ở phiên trấn Matsuyama vùng Bitchu cũng để học hỏi việc kinh tài ấy. Những điều học được quả thật đã đem lại kết quả tuyệt vời.
Lãnh Chúa Tadayuki đã vui mừng khôn xiết nên tháng tư năm sau, Keio thứ tư, cũng nhằm vào Minh Trị nguyên niên (1868), đã phong cho Tsugunosuke, người đã tạo ra 99.960 lạng vàng dư dùng ấy, chức quan Gia lão, rồi ngay tháng sau, tháng tư nhuận, đã thăng cấp thành quan Nhiếp chính tức là Gia lão hạng nhất của phiên trấn.
Tính từ ngày Tsugunosuke nhậm chức Chưởng quản Địa phương, chỉ chừng 4 năm mà đã thăng đến chức quan cao nhất, thì quả là sự thăng tiến dị thường.
Người vợ là Suga vui mừng nói với mọi người:
“Dạo này ông ấy không còn đi xa qua các xứ khác nữa, nên cũng đỡ cho tôi lắm.”
Tsugunosuke dần dần trở thành nhà độc tài ở phiên trấn Nagaoka. Suga thì vui mừng vì ông chồng ở nhà chứ không còn đi xa nữa, nhưng phiên trấn Nagaoka 74 ngàn hộc thì từ khoảnh khắc ấy, đã chọn cho mình một định mệnh bất tường.
 
*
 
Kawai Tsugunosuke nắm chính quyền phiên trấn Nagaoka vào tháng tư nhuận năm Keio thứ tư, nhưng ngay từ đầu năm, khoảng Tết năm đó, đã xảy ra trận giao tranh ở Toba-Fushimi vùng kinh đô, khiến quân chủ lực của Mạc Phủ thua chạy về Edo; đến tháng 2, Thiên hoàng hạ sắc lệnh thảo phạt nhà Tokugawa; tháng 3, Đông chinh Đại Tổng đốc tư lệnh quan quân triều đình đã vào thành Sunpu; tháng 4, tiếp thu thành Edo, rồi đến tháng tư nhuận thì tên hiệu thần-thánh-hoá của Toyotomi Hideyoshi là Hokoku Daimyojin (Phong quốc đại minh thần) bị phế bỏ suốt gần 300 năm Mạc Phủ Tokugawa, đã được phục hồi.
Nhưng Tsugunosuke không nghĩ là thời thế đã thay đổi. Tsugunosuke là một nhà tư tưởng về chính trị giỏi, nhưng có điều không phải là nhà cách mệnh. Bởi lẽ, người đàn ông có thể nói là nhạy cảm nhất đối với thời thế là Tsugunosuke lại không hề nghĩ đến khái niệm chính trị “xây dựng quốc gia thống nhất lấy trung tâm là triều đình ở Kyoto.” Tsugunosuke lại nghĩ biến động này chỉ là “âm mưu của liên minh hai phiên trấn Satsuma và Choshu” mà thôi. Sự thực, thời thế đã đến như thế này cũng quả là do hai phiên trấn Satsuma và Choshu đã tận lực thực hiện âm mưu mà ra, thế nhưng âm mưu đó không phải là loại âm mưu của thời Chiến quốc mà Tokugawa Ieyasu đã dùng để diệt nhà Toyotomi Hideyoshi để giành chức Shogun (Tướng quân). Âm mưu thời này chẳng phải để đưa nhà Shimazu (phiên trấn Satsuma) hay nhà Mori (phiên trấn Choshu) lên làm Chúa - Shogun, mà là để xây dựng một quốc gia thống nhất mới.
Tsugunosuke đã không hiểu điều đó. Mà cũng chẳng có gì đáng trách. Bởi ngay cả Saigo Kichinosuke (Saigo Takamori 1828 - 1877, một trong những nhân vật lịch sử nổi tiếng nhất cuối thời Mạc Phủ đầu thời Minh Trị), người chỉ đạo phiên trấn Satsuma, một trong hai phiên trấn thế lực nhất trong khối phò triều đình ở kinh đô Kyoto (đối lập với khối phò chính quyền Mạc Phủ ở Edo) cuối thời Mạc Phủ này, ngay trước giờ ký mật ước liên kết hai phiên trấn Satsuma và Choshu, cũng vẫn chưa dứt được ý nghi ngờ rằng “Phiên trấn Choshu chẳng phải là nhắm đến chuyện lập Mori lên làm Shogun đó sao?” Xem thế thì người ở địa phương Hokuetsu là Tsugunosuke có quả quyết điều đó mãnh liệt như thế cũng phải nói là chuyện đương nhiên đó thôi.
Lại nữa, phiên trấn Nagaoka không chỉ là danh môn đời đời là gia thần của Mạc Phủ Tokugawa, mà ông tổ nhà Makino ấy là Yasunari đã là một trong 17 đại tướng thân tín của Tokugawa; đời con là Tadanori, tức là ông nội của Lãnh Chúa hiện thời, đã là tướng giữ thành Ushikubo của phiên trấn Mikawa là đất khởi nghiệp của nhà Tokugawa nữa. Tự nhiên là rất nhiều phiên sĩ của phiên trấn Nagaoka là hậu duệ của những võ sĩ cùng quê Mikawa với nhà Tokugawa, đến có thể nói là phiên trấn Nagaoka được cai trị bởi một tập đoàn võ sĩ gốc Mikawa đó. Trí não Tsugunosuke do đó cũng bị hạn chế bởi hoàn cảnh như thế. Giá như người đàn ông này mà sinh ra ở phiên trấn Satsuma hay Choshu, Tosa, thì có khi đã làm được chuyện chuyển đổi cả thiên hạ còn hơn Saigo, Katsura, Sakamoto không chừng.
Từ khi nghe tin Đông chinh Đại Tổng đốc thống suất quan quân triều đình rời kinh đô, Tsugunosuke đã trở thành năng động dị thường đến nỗi được gọi là người “mọc cánh sau lưng.” Tsugunosuke bảo: “nếu cảng Yokohama lọt vào tay liên quân Satsuma-Choshu thì chuyện giành thiên hạ chấm dứt mất”, nên vội vàng đi cả ngày lẫn đêm không ngừng nghỉ đến Yokohama để tom góp súng đạn võ khí Tây phương trước khi quan quân triều đình tiến đến phía đông.
Đương thời, Yokohama đầy những người ngoại quốc đến bán võ khí, từ các nước lợi dụng nội loạn ở Nhật Bản, đặc biệt các nhà buôn nước Anh là nhiều và có thế lực nhất, hơn nữa, công sứ quán Anh quốc còn ngầm chỉ thị kiếm khách giàu có từ các phiên trấn phía tây Nhật Bản mà dẫn đầu là Satsuma, Choshu và Tosa. Còn bán võ khí cho các phiên trấn ở Kanto, Tohoku chủ yếu là Edward Schnell, một nhà buôn quốc tịch Hà Lan gốc Thụy Sĩ.
Tsugunosuke bước vào văn phòng của Schnell bên cạnh Khách sạn Anh quốc. Vẫn chẳng mang kiếm đeo lưng.
“Tôi là Kawai Tsugunosuke ở phiên trấn Nagaoka.”
Tsugunosuke đưa danh thiếp cho người Nhật hầu phòng. Rồi được đưa vào phòng tiếp khách. Vốn là người ưa điều nghiên nên trước khi đến đây, Tsugunosuke đã tra cứu đầy đủ về nhân vật Schnell này. Rằng Schnell đúng là dân Hà Lan rành các thói xấu của quan lại Nhật Bản; nổi tiếng về chuyện giỏi đút lót các quan lo việc thu mua của các phiên trấn, để bán hàng được giá cao vượt bậc; và khó chơi nhất là có thói hễ gặp khách hàng ngây thơ là kiếm cách bán tháo các thứ súng cũ lỗi thời. Nạn nhân loại này là các phiên trấn phía đông hay phía bắc, chỉ trừ vài phiên trấn miền nam, phần đông đã mua nhằm thứ súng Goebel mà lục quân Âu Mỹ đều phế bỏ, không còn nước nào dùng nữa. Khổ là các viên chức thu mua của các phiên trấn này đều chẳng có kiến thức bao nhiêu về binh khí tân tiến, nên dễ thoả nguyện, cứ nghĩ là mua được “súng Tây phương” là đủ để biện minh khi về lại phiên trấn nhà. Thế nhưng kiểu súng Goebel này thì chỉ có khác ở chỗ bộ phận phát hỏa dùng đá lửa thay vì dây dẫn hoả, chứ vẫn nạp đạn đằng đầu, và phía trong nòng súng thì vẫn trơn tuột, chẳng hơn gì loại súng điểu thương Tanegashima cổ hủ cả. Vì vậy thao tác phát hoả rất là mất thì giờ, súng Goebel chờ cho nổ được một phát thì những kiểu súng khác mới hơn đã bắn được mười phát rồi. Tsugunosuke hiểu được chính sự khác biệt này đã là yếu tố quyết định thắng bại trong trận Toba-Fushimi giữa quân Satsuma-Choshu và quân Aizu.
Schnell bước vào phòng. Người đàn ông này biết nói tiếng Nhật. Thêm nữa, đã điều nghiên trước rất kỹ về người khách đến gặp là Kawai: nhân vật như thế nào, tình hình của phiên trấn Nagaoka ra sao, có khả năng chi trả hay không,..., do đó đã biết rằng người khách đang đứng trước mặt mình, lông mày màu nâu này là “thủ tướng” của phiên trấn Nagaoka. Và Schnell căng thẳng lắm vì “thủ tướng” ấy đích thân tìm đến để mua súng.
“Tôi muốn xem các mẫu súng.”
Tsugunosuke nói, không cả mỉm cười nữa.
Schnell lập tức ra lệnh cho người làm bày ra các súng mẫu. Quả nhiên, ông ta không ngu dại đến nỗi bày kiểu súng Goebel ra trước mặt Tsugunosuke. Trước tiên, Schnell trình bày kiểu súng Minier mà quan quân triều đình và liên quân Satsuma-Choshu sử dụng, và nói:
“Xạ trình súng này rất xa.”
“Tôi biết.” Tsugunosuke đáp.
Sau đó, Schnell trình bày các kiểu súng Enfield, Schneiden, Sharps, Shaspo, Spencer,... Schnell hăm hở khuyến dụ mua súng Sharps chế tạo ở Mỹ. Nòng súng ngắn, dễ thao tác, độ chính xác cao, nạp đạn ở cuối nòng súng,...
“Loại súng này hẳn là giá rẻ rồi.” Tsugunosuke nói.
Schnell vội nói: “Không đâu, giá cao đấy, chẳng phải là thứ rẻ đâu!”
Tsugunosuke tức thì lấy ống mực và giấy mang theo sẵn, vẽ ra địa đồ đại lục Mỹ châu, rồi hỏi:
“Đây là bản đồ nước nào, ông biết chứ?”
“Thưa, nước Mỹ.” Schnell đáp, có vẻ bị khí phách của Tsugunosuke áp đảo.
“Đúng rồi. Theo niên hiệu của chúng tôi mà nói thì năm Bunkyu nguyên niên (1861), ở nước này đã xảy ra nội loạn là Chiến tranh Nam Bắc. Nay thì sắp sửa chấm dứt rồi. Những võ khí đã chế tạo ra trở nên dư thừa quá, vì vậy mới tràn ra nước ngoài. Cả thế giới đâu cũng thấy bán vô số. Vậy mà ông cũng nói là giá cao được sao?”
Schnell làm thinh.
“Hơn nữa, tôi không thích kiểu súng Mỹ này. Nòng súng ngắn quá. Có lẽ ở xứ họ, súng này được dùng cho kỵ binh. Nhưng trong trường hợp đánh cận chiến thì súng phải làm phận sự của thương kích, mà chiến thuật dùng thương kích của Nhật Bản thì xưa nay vẫn là nhất thế giới đấy. Cho nên, súng nòng dài thì tốt hơn. Tôi chọn súng Minier.”
Đó là loại súng chế tạo ở Anh mà liên quân Satsuma-Choshu sử dụng, ở Anh thì chính thức không còn dùng trong quân đội nữa nên giá rẻ. Tsugunosuke hứa sẽ mua hàng loạt loại súng ấy. Dự định là sẽ trao cho tất cả các nhà võ sĩ trong phiên trấn, từ võ sĩ cao cấp nhất cho đến bộ tốt, mỗi nhà một khẩu.
Thêm vào đó, Tsugunosuke còn nói đến súng Enfield. Cũng chế ở Anh quốc, là loại Minier cải biến, nạp đạn ở cuối nòng súng, vì là kiểu mới nên giá cao hơn. Mà số lượng có sẵn ở các cảng Yokohama, Thượng Hải, hay Hongkong cũng chẳng bao nhiêu.
“Lấy cả loại súng ấy nữa.”
Tsugunosuke nói số lượng muốn mua. Định dùng loại súng này để trang bị giống như bộ binh của Pháp. Hẳn là sẽ phát huy được uy lực trong các trận đánh quy mô nhỏ.
Tsugunosuke ra giá, ngã ngũ xong liền trao tiền đặt cọc do người tháp tùng mang theo sẵn. Việc mua bán võ khí thời bấy giờ ở Yokohama đều dùng tiền mặt cả.
“Số tiền còn thiếu thì sẽ trao ngay khi nhận được hàng. Hải cảng chỉ định là nơi nào?”
“Thưa, Niigata.”
“Được rồi. Chính tôi sẽ đến đấy nhận hàng. Ở hải cảng ấy, mong sẽ gặp ông hoặc là người đại lý của ông.”
Schnell bắt tay Tsugunosuke, nói rằng: đến Nhật Bản và Trung quốc lâu nay mới gặp được một “thương nhân” đúng điệu. Theo cách nói của Schnell, “thương nhân” hàm ý tán dương cao quý nhất.
Tsugunosuke còn đặt thêm bốn cỗ đại bác nữa. Schnell thấy người “thủ tướng” của phiên trấn Nagaoka này đặt mua lượng võ khí còn nhiều hơn cả các phiên trấn hùng mạnh nhất ở phía bắc, phía đông bắc Nhật Bản, thì hiểu được rằng đúng như tiếng tăm bao lâu nay, đây là một phiên trấn tuy nhỏ nhưng giàu có; đồng thời Schnell hiểu được chỗ đặc sắc trong con người của Tsugunosuke, nên nắm chặt bàn tay Tsugunosuke mà nói:
“Trong công cuộc chuẩn bị chiến tranh của quý phiên trấn, tôi sẽ xin hết lòng giúp sức.”
“Không phải chuẩn bị chiến tranh đâu, chỉ là việc cải cách chế độ binh bị. Tôi chỉ muốn thay đủ số thương kích đang dùng trong phiên trấn bằng súng Minier đó thôi.”
Tsugunosuke đáp, với vẻ mặt bình thản như chẳng có gì đáng kể, nhưng Schnell chỉ dang rộng hai tay ra mà cười, không nói gì thêm. Schnell là kẻ đã bước đi giữa khói thuốc súng khắp các miền đất Á Châu rồi, nếu không có năng lực đánh hơi trước được mùi thuốc súng đây đó thì chẳng làm nghề buôn súng này được.
Tsugunosuke lập tức trở về Nagaoka. Không bao lâu sau, thuyền của Schnell cập bến Niigata. Thuyền loại schooner có nhiều cột buồm dọc, trọng tải 400 tấn, tên là chiếc Kaganokami, giương cờ Hà Lan. Rồi 2 tháng sau, cũng chiếc Kaganokami này lại cập bến Niigata, rộn ràng bốc giở lên bờ những súng ống, đại bác, đạn dược và các thứ phụ tùng. Sau đó, hầu như cứ cách tháng lại thấy chiếc tàu này cập bến. Schnell không chỉ bán cho phiên trấn Nagaoka, mà còn dùng cảng Niigata này làm căn cứ để bán võ khí cho các phiên trấn ở phía đông bắc nữa.
Cảng Yokohama thì chẳng bao lâu đã bị quan quân triều đình bao vây. Nhưng các xứ phía bắc và đông bắc thì chỉ cần đến Niigata là mua được võ khí từ Schnell nên cũng chẳng bị khó khăn gì. Phiên trấn Aizu đã trả cho Schnell 7.200 đô la, Yonezawa trả 56.250, Shonai trả 52.131,... nhưng hẳn là phiên trấn nhỏ nhất trong bọn là Nagaoka đã trả cho Schnell nhiều nhất rồi.
Để có tiền mua võ khí như thế, Tsugunosuke đã thực thi chính sách thu thuế và tiết giảm kinh phí thật hiệu quả, ngoài ra còn phát huy khả năng kinh tài đến mức thiên tài nữa, khiến cho giới kinh doanh quanh thành Nagaoka phải thán phục mà kháo nhau rằng:
“Ngài Kawai làm võ sĩ thật là uổng phí!”
Sau khi Mạc Phủ trả lại chính quyền cho triều đình, các chư hầu rời bỏ Edo, Tsugunosuke lúc đó mới bán hết gia bảo đồ đạc trong dinh cơ nhà Lãnh Chúa Makino ở Edo cho người ngoại quốc ở Yokohama, thu được vài vạn lạng vàng; và cho chở gạo trong kho của phiên trấn Nagaoka lên bán được giá ở Hakodate; thêm vào đó, để ý thấy giữa Edo và Niigata, một lạng vàng có giá khác nhau đến 3 tiền, nên đã mua 2 vạn lạng vàng, cho thuyền chở lên Niigata bán cho các nhà buôn chuyên đổi tiền trên đó để lấy được món lời lớn, đến như phiên trấn Nagaoka trở thành nhà thầu đổi tiền vậy.
Tất cả các món lời thu được đều dùng vào việc mua võ khí cả. Và tất cả võ khí mua được là từ Schnell. Chiếc thuyền Kaganokami chạy bằng hơi nước của Schnell bận rộn đi tới đi lui giữa Yokohama và Niigata đến như máy tàu bị đốt hoài sắp cháy tiêu đến nơi.
Trong số võ khí được bốc giở lên bờ cho phiên trấn Nagaoka, có cả một thứ tối tân đáng kinh ngạc. Đó là khẩu đại bác bắn nhanh chế tạo ở Mỹ, loại binh khí xuất hiện vào cuối cuộc Chiến tranh Nam Bắc Mỹ, một khẩu loại tối tân này có uy lực bằng cả 20 khẩu đại bác loại cũ, đương thời ở toàn Nhật Bản chỉ có 3 khẩu, đều do tay Schnell bán vào cả. Trong đó, Tsugunosuke đã mua 2 khẩu, mỗi khẩu 5 ngàn lạng vàng. Đến lúc này thì giấc mộng “Kiếm súng thiên binh phá kiên trận” của Kawai Tsugunosuke đã thực hiện được ở quy mô gấp trăm lần rồi.
Tsugunosuke mê man trong chuyện trang bị cho quân đội phiên trấn. Ngày xưa, chàng thư sinh Tsugunosuke có thuyết trang bị binh lính để chống ngoại quốc, nhưng bây giờ, đã chuyển qua đối phó với địch thủ trong nước. Cũng giống như tay chơi cờ bạc. Đối với tay chơi cờ bạc thì cờ bạc tự nó là mục đích rồi, còn đối thủ là ai thì cũng chẳng sao cả. Đối với chính trị gia, một khi đã mê say chuyện trang bị quân đội rồi thì địch là ai đi nữa cũng chẳng sao cả, chính việc trang bị binh lính tự nó là đối tượng của nhiệt tình chính trị, riết rồi cứ thế mà sa lầy đắm đuối trong việc tăng cường võ trang đến không thể dừng lại được nữa. Tsugunosuke đã tin rằng việc tăng cường võ trang quân đội phiên trấn chính là “nhiệm vụ giúp nước” đối với Lãnh Chúa của Nagaoka.
Ngay sau khi triều đình ban sắc lệnh thảo phạt nhà Tokugawa, Tsugunosuke đã tức thì đặt được phiên trấn Nagaoka vào thể chế sẵn sàng chiến đấu. Có thể nói đây là một khả năng có tính cách mệnh. Quân đội phiên trấn Nagaoka được cải tạo theo cơ cấu ba binh chủng: bộ binh, kỵ binh và pháo binh kiểu Tây phương, đồng thời Tsugunosuke thực thi chính sách bình quân mức lương bổng của quân sĩ. Chế độ binh bị truyền thống đã dựa trên quy tắc thời Chiến quốc định rằng nhiệm vụ quân dịch được bù đắp bằng 100 hộc, nhưng đổi qua binh chế Tây phương thì không còn như thế nữa, mà chuyển thành quy định người lãnh bổng lộc trên 100 hộc thì bị giảm bổng, trong khi người lãnh dưới 100 hộc thì được tăng bổng. Chẳng hạn, người lãnh 2 ngàn hộc thì giảm còn 500 hộc khi thi hành quân dịch, còn người lãnh 20 hộc được tăng thành 50 hộc. Chính sách bình quân hoá lương bổng binh sĩ như thế đã giúp tăng cường sự đoàn kết trong quân đội.
Từ trước, Tsugunosuke đã thiết lập sở Binh học ở xóm Tono gần thành để đào tạo sĩ quan theo kiểu Tây phương, lập bãi thao luyện quân sĩ ở xóm Nakashima phía tây của thành, chọn lọc con cháu của võ sĩ thuộc hạ Lãnh Chúa, sung vào 8 đại đội, bắt tập luyện thật gắt gao các kỹ thuật xạ kích, hành động cá nhân, tập hợp, phân tán, tiền sát, đóng quân giữa trời, đánh trận lúc hửng sáng, đánh ban đêm,... Lập ra đội vận lương, bắt các hiệu bánh quanh thành chế ra loại bánh mì dễ mang đi.
Thuộc hạ của Lãnh Chúa không hiểu rõ tại sao lại phải gắng chịu đựng những cải cách và huấn luyện gắt gao đến mức như thế, nhưng tin tưởng vào Tsugunosuke mà phục tùng y lệnh. Có người còn tâm phục đến nỗi khen Tsugunosuke là “Kenshin tái sinh.” Mà quả thật, đất trời vùng Hokuetsu này 300 năm trước đã có danh tướng Uesugi Kenshin, rồi ngày nay lại có Kawai Tsugunosuke. Hai nhân vật này có nhiều điểm chung kỳ dị đáng ngạc nhiên.
Kenshin là người đã thề với thần thánh và Thiên tử là suốt đời dứt bỏ chuyện nữ sắc, bù lại chỉ xin được luôn luôn thắng trận. Và thực tế, đã lao vào chiến đấu không phải vì tham vọng chiếm đoạt lãnh thổ, mà có thể nói là đã chiến đấu vì ý hướng ham muốn nghệ thuật (quân sự), và đã luôn luôn thắng trận. Kenshin là người xem chiến đấu là nghệ thuật hoặc là tôn giáo. Chắc chắn cũng đã có điểm tương tự như thế trong khí chất của Tsugunosuke. Nói gì đi nữa, đất trời vùng Hokuetsu này, 300 năm sau Kenshin, đã lại sản sinh ra được một tập đoàn quân sự tinh xảo tuyệt vời, tuy quy mô có nhỏ hơn. Và đã xây dựng được chỉ trong thời gian ngắn 4 năm.
 
*
 
Quan Tổng đốc đạo quân bình định của triều đình theo ngả Hokuriku đã vào thành Takada ngày 7 tháng 3 năm Keio thứ tư (1868). Đến tháng tư nhuận, khi Tsugunosuke trở thành quan Gia lão cao nhất của Nagaoka, thì trên toàn vùng Echigo đã có quân phiên trấn Aizu, đội quân xung phong của bộ đội Mạc Phủ cũ, và binh lính phiên trấn Kuwana xâm nhập và xung đột với quan quân triều đình trên nhiều mặt trận ở các nơi. Vùng Echigo, ngoài một phần là lãnh địa của nhà Tokugawa, còn chia ra thành 11 phiên trấn. Lớn nhất là phiên trấn Takada cỡ 15 vạn hộc của Lãnh Chúa Sakakibara, tiếp đó là phiên trấn Shibata 10 vạn hộc của nhà Mizoguchi, phiên trấn lớn thứ ba là Nagaoka, sau đó là phiên trấn Murakami 95 ngàn hộc của nhà Naito, còn lại là các phiên trấn nhỏ chỉ từ 1 vạn cho đến 3 vạn hộc mà thôi. Phiên trấn Takada đã sớm ngả theo quan quân triều đình, các phiên trấn nhỏ hơn cũng đã hùa theo đó rồi, toàn cõi Hokuriku chỉ còn một phiên trấn chưa giương ngọn cờ nào rõ ràng, đó là Nagaoka, lại là phiên trấn duy nhất có quân đội võ trang theo kiểu Tây phương.
Tsugunosuke vẫn luôn luôn xem đạo quân của Tổng đốc bình định theo ngả Hokuriku thực chất chỉ là bọn liên quân Satsuma-Choshu giả dạng quân triều đình đó thôi, nên 8 giờ sáng ngày 17 tháng 4, đã triệu tập toàn thể võ sĩ trong phiên trấn Nagaoka, dưới sự chứng giám của Lãnh Chúa, để huấn thị cho mọi người thấu triệt chủ trương của mình. Tsugunosuke giải thích rằng liên minh Satsuma-Choshu là “gian thần đã sàm tấu với Thiên hoàng để hãm hại Mạc Phủ”, do đó “phiên trấn chúng ta dù nhỏ nhưng vẫn dựng ngọn cờ đầu của phiên trấn chính nghĩa, cố thủ nền độc lập, báo đáp ân điển 300 năm của nhà Tokugawa, đặt sự tồn vong của phiên trấn vào mệnh Trời.” Nhưng mặt khác, vẫn không thuận theo lời thúc hối gia nhập vào liên minh Ouetsu của phiên trấn Aizu để cùng chiến đấu chống quan quân triều đình, mà chỉ muốn giữ vững lập trường trung lập.
Điểm này đã bộc lộ giới hạn của Tsugunosuke. Trí óc minh triết của Tsugunosuke quả thật là thích hợp với việc phân tích thời thế, nhưng cuối cùng cũng chỉ ngừng lại ở đấy. Trong khi bộ phận đầu não của liên minh Satsuma-Choshu muốn thay đổi thể chế cho hợp với tình thế mới, thì phiên trấn Aizu chỉ muốn quay lại chính thể có trung tâm là Mạc Phủ Tokugawa. Cả hai bên đều đi từ lý tưởng quốc gia cả, còn Tsugunosuke thì chỉ chú tâm đến phiên trấn Nagaoka của mình, mà ông đã nhiệt tâm mê mải võ trang binh bị cho. Quan niệm về thế giới của Tsugunosuke đã thu hẹp vào việc dựng phiên trấn Nagaoka này lên thành ngọn cờ chính nghĩa duy nhất và cuối cùng trong nước Nhật, truy điệu sự sụp đổ của Mạc Phủ Tokugawa.
Phiên trấn Nagaoka đã tái sinh do bàn tay xây dựng độc sáng của Tsugunosuke về binh bị cũng như hành chính, chính trị; phiên trấn Nagaoka đổi mới chính là tác phẩm độc đáo của ông. Tsugunosuke đã yêu thích cùng cực tác phẩm riêng của mình. Chính vì vậy mà tuy thấy như cùng có chủ trương Tá Mạc (phò Mạc Phủ Tokugawa) với phiên trấn Aizu, nhưng khi phiên sĩ của Aizu là Sagawa Kanpee đem quân đến thành Nagaoka định bắt ép phải gia nhập liên minh Ouetsu kháng chiến, thì Tsugunosuke đã trả lời rằng:
“Nếu thật tâm muốn chiếm thành Nagaoka, chỉ cần đem quân mạnh từ Aizu-Kuwana đến thì thâu được thành như cơm bữa, chứ có khó gì đâu, xin cứ dùng võ lực mà chiếm thành, khỏi phải khách sáo.”
Rốt cuộc, phía Aizu đành phải chấp nhận lập trường trung lập của Nagaoka mà rút quân về. Sau này, Sagawa Kanpee đã nói về cuộc đàm phán này với người cùng phiên trấn Aizu rằng:
“Tsugunosuke là người có lối nói chuyện khó có ai dám sơ hở.”
Lúc bấy giờ, đội trưởng đội xung kích của quân Mạc Phủ là Furuya Sakuzaemon đã thống suất 400 bộ tốt xâm nhập thành Niigata, khuấy động bên trong thành. Tsugunosuke dẫn một bộ hạ, cỡi ngựa đến Niigata, vào phố thì thấy một đám bộ binh Mạc Phủ say rượu đang đập phá cửa chống mưa của một hiệu buôn lớn, định cướp của. Tsugunosuke từ trên mình ngựa trợn mắt trừng trừng, bọn kia thấy mắt nhìn dũng mãnh ấy đâm khiếp hãi mà chạy tứ tán mất. Tsugunosuke cứ thế vào đến lữ quán Kushiya, cho gọi đội trưởng quân Mạc Phủ cũ là Furuya đến mà nói, như ra lệnh rằng:
“Hãy tập trung binh lính ở xóm Tera, đừng cho vào trong thành”
Furuya thuận thảo làm theo lời.
Đến tháng tư nhuận, các trận đánh giữa quan quân triều đình với quân dưới trướng phiên trấn Aizu dần dần tăng phần ác liệt khắp các nơi trên đất Echigo, và chiến trường lan rộng gần đến phiên trấn Nagaoka. Dưới danh nghĩa “chỉ là việc canh giữ bên trong phiên trấn mà thôi”, Tsugunosuke phái đi khắp bốn phía của lãnh thổ phiên trấn, các đội quân mà Tsugunosuke đã gầy dựng và chi vào đấy những món tiền khổng lồ. Trước hết, đặt bộ tư lệnh dã chiến ở làng Setsuya bên ngoài thành, tự mình làm tổng chỉ huy trấn đóng ở đấy. Trận địa trong thành thì có quan Gia lão Yamamoto Tatewaki làm đội trưởng một đại đội có hai khẩu đại bác. Biên giới phía nam là trận địa cảnh bị có một đại đội cùng 8 cỗ đại bác. Làng Kusauju có 2 đại đội và 3 cỗ đại bác, làng Zao cũng 2 đại đội và 3 cỗ đại bác. Ngoài ra còn có quân du kích gồm 3 đại đội và 3 cỗ đại bác. Trong số các cỗ trọng pháo này, ngoài khẩu đại bác bắn nhanh chế ở Mỹ như đã nói đến, còn có 3 khẩu đại bác bắn nhanh chế ở Pháp, đều là thứ đại bác có độ chính xác cao hơn đại bác của quan quân triều đình, trong đó có hai khẩu nạp đạn phía sau đáng gọi là đạt đến tiêu chuẩn quốc tế cao nhất thời bấy giờ.
So với hoả lực đến mức này thì quân phiên trấn Aizu chẳng kể làm gì, ngay cả quân triều đình cũng còn kém xa. Có lẽ quân đội phiên trấn Nagaoka của Tsugunosuke thì về trang bị lục quân đã đạt đến mức cao nhất trên thế giới vào thời đó rồi.
Tsugunosuke có lẽ đã thành tâm tin tưởng rằng với trang bị binh lực như thế này, có thể cố thủ ở vùng Hokuetsu, trở thành thế lực đứng giữa điều đình cho cuộc xung đột đông tây; mà nếu gặp thời thế thuận lợi, còn có thể hô hào nghĩa sĩ khắp thiên hạ khởi nghĩa để tiêu diệt bọn gian thần Satsuma-Choshu kia nữa.
Mà không, cũng có thể Tsugunosuke đã không tin tưởng như thế. Nếu Tsugunosuke chỉ là một tư nhân bình thường, thì đầu óc sắc bén đến như thế, hẳn là đã thấy thời thế biến chuyển mà hiểu rằng không còn cách gì xoay ngược lại được nữa, thế nhưng “sức mạnh võ trang” mà bản thân Tsugunosuke đã nuôi dưỡng gầy dựng lên đã ban phát ra những mệnh lệnh khác hẳn với những gì đầu óc cá nhân Tsugunosuke suy xét. Đó là sức mạnh khẳng định “làm được!” Khẩu đại bác bắn nhanh chế ở Mỹ đã khiến Tsugunosuke tin là “làm được!” Khẩu đại bác lắp đạn phía sau chế ở Pháp đã khiến Tsugunosuke tự tín là “làm được!” như thế. Võ khí đã trở thành đầu não của Tsugunosuke mất rồi.
Tsugunosuke nghĩ: Ngày xưa, Kenshin đã cố thủ ở đất Hokuetsu này để xem chừng động tĩnh trong thiên hạ, vậy mà có sức kiềm chế khiến cho Takeda ở Kai và Oda ở Owari đều không thể chiếm trọn thiên hạ một cách dễ dàng được. Mà lúc bấy giờ, Kenshin làm gì có được hoả lực đến mức như mình đang có?
Suốt tháng tư nhuận, Nagaoka giữ vững lập trường võ trang trung lập được vô sự. Trong khoảng thời gian đó, quan quân triều đình mặc kệ Tsugunosuke suy tính gì, đã bắt đầu chiến thuật bao vây, chia quân làm hai đạo mà hành động. Một đạo là bộ binh 1500 người với 2 cỗ đại bác do Iwamura Sei-ichiro (Takatoshi) chỉ huy. Nhiệm vụ của đạo quân này là trước nhất chiếm thành Koidejima của phiên trấn Aizu, tiến đến Ojiya, vượt sông Shinano, chiếm Enoki-toge rồi tấn công thành Nagaoka. Đạo thứ hai do Miyoshi Guntaro chỉ huy gồm bộ binh 2500 người và 6 cỗ đại bác, cùng hai quan Tham mưu là Kuroda Ryosuke (Kiyotaka, sau này thành Thủ tướng thứ hai của Nhật Bản 1888-89 thời Minh Trị) và Yamagata Kyosuke (Aritomo, sau này hai lần làm Thủ tướng 1889-1891 và 1898-1900 thời Minh Trị) tiến theo đường biển chiếm Niigata. Ngày 21 tháng tư nhuận, hai đạo quân triều đình xuất phát từ Takada. Nửa đường, đạo quân theo đường biển đã đánh bạt quân thuộc phiên trấn Aizu, rồi ngày 28 chiếm đóng thành Kashiwazaki; còn đạo quân theo đường núi do Iwamura chỉ huy thì một ngày trước đó đã chiếm được Ojiya cách 6 dặm (khoảng 24 km) phía bắc thành Nagaoka.
Phía Tsugunosuke cũng đã có quyết tâm sẵn sàng. Ngày 1 tháng 5, Tsugunosuke cho sứ giả đến bản doanh quân triều đình ở Ojiya, thưa rằng quan Nhiếp chính Kawai Tsugunosuke xin gặp vì có điều muốn thỉnh nguyện. Quan quân chấp thuận. Qua ngày sau, Tsugunosuke dẫn một bộ hạ thân tín cùng một phiên sĩ, lên kiệu rời thành Nagaoka. Trong bụng đã có kế sách rồi. Sẽ thuyết phục quan quân về cái hại của việc thảo phạt nhà Tokugawa, và hứa sẽ đứng ra làm trung gian giúp quân triều đình và quân Aizu điều đình với nhau. Chẳng hiểu được Tsugunosuke có thật sự tin rằng phiên trấn Nagaoka chỉ cỡ 74 ngàn hộc mà chen được vào giữa làm trung gian điều đình cho hai thế lực lớn đang hầm hè tóm thu thiên hạ này hay không?
Bản doanh của quân triều đình đóng ngay ở căn cứ cũ của quân Aizu ở Ojiya, tư lệnh là tướng Iwamura Sei-ichiro, 23 tuổi, xuất thân là phiên sĩ của phiên trấn Tosa. Sau cuộc Duy Tân, đã kinh lịch các chức Tỉnh trưởng Saga, Tỉnh trưởng Kagoshima, Bộ trưởng Nông Thương, tuy chẳng phải là người có tài năng gì xuất chúng.
Tsugunosuke tạm dừng ở bờ sông Shinano, thay sang bộ lễ phục bằng vải trên kiệu, rồi đến chùa Jigen là nơi quan quân triều đình đã chỉ định. Iwamura cùng vài người sĩ quan tùy tùng ra nghênh tiếp. Tsugunosuke nhìn Iwamura thấy chỉ là một cậu trai trẻ thì trong bụng có phần khinh thường. Tsugunosuke lại càng tin chắc rằng: cuộc đại loạn lần này càng ngày càng lộ rõ ra là bọn con nít của ba phiên trấn Satsuma-Choshu-Tosa mượn cớ phù lập một vị vua còn thơ ấu để rải binh khuấy động thiên hạ chơi mà thôi.
Về sau, Iwamura thuật lại rằng: “Kawai đánh tiếng là có điều muốn thỉnh nguyện mà đến, nhưng thái độ thì ngạo nghễ, lời nói có giọng cật vấn về chuyện to lớn bao trùm thiên hạ.”
Mà lúc bấy giờ, Iwamura cũng quả thật chỉ là một cậu nhỏ. Đương thời, nếu là người có ít nhiều kiến thức về tình hình các phiên trấn thì hẳn đã biết đất Hokuetsu này có danh sĩ là Kawai Tsugunosuke, thế nhưng cậu nhỏ xuất thân từ chốn thôn làng hẻo lánh ở phiên trấn Tosa ấy hoàn toàn chẳng biết gì về đối thủ cả. Nên đã hống hách ra uy quan quân triều đình.
Kết cuộc, điều Kawai muốn nói là: Xin tạm thời ngưng tấn công. Được như thế thì phiên trấn Nagaoka sẽ thống nhất được ý kiến mọi người thành chủ trương của toàn phiên trấn, đồng thời sẽ thuyết phục liên minh Aizu-Kuwana để có được một kết quả hoà bình tốt đẹp cho mọi phía. Để làm được như vậy, Tsugunosuke ra điều kiện: Hãy ngừng cuộc chinh phạt nhà Tokugawa (Mạc Phủ cũ). Chứ nếu không thì không thể tránh được loạn lạc ở khắp vùng phía đông Nhật Bản.
Phía Iwamura làm thinh. Chỉ nghĩ rằng quan Gia lão nhà quê này hẳn là đang nổi cơn điên khùng với những lời lẽ như thế. Mà quả thật, nếu Tsugunosuke thật lòng định thỉnh nguyện như thế thì đúng là đã nổi điên rồi. Trong văn thư thỉnh nguyện ấy đã có lời lẽ như thế này: “Chĩa mũi giáo vào nhà Tokugawa là đại ác vô đạo!” Cứ như là khiêu chiến vậy! Hơn nữa, còn bảo Iwamura chuyển thư ấy lên quan Tổng Đốc chinh phạt là đại diện của triều đình ở Kyoto nữa!
“Từ khước!” Iwamura trả lại thỉnh nguyện thư.
Tsugunosuke vẫn còn nhắc lại ý muốn tận lực làm trung gian điều đình cho hai bên, vì vậy xin tạm chờ cho vài ngày. Iwamura nghĩ rằng thỉnh nguyện kiểu câu giờ như thế chỉ là mưu kế để phiên trấn Nagaoka kịp chuẩn bị chiến đấu đó thôi.
“Dù gì đi nữa, quý phiên trấn cũng đã không phụng lệnh triều đình. Vậy thì chỉ còn cách giải quyết bằng binh mã mà thôi.”
Iwamura đã đơn phương chấm dứt cuộc hội đàm sau chừng 30 phút, đứng lên bỏ đi mất. Đối với Iwamura thì đã chẳng có điều kiện gì có thể chấp nhận được cả. Lời thỉnh nguyện của Tsugunosuke đầy những công kích đối với quan quân triều đình, và điều hài hước là quan Gia lão của một phiên trấn nhỏ sắp sửa bị tấn công mà lại đề nghị “để tôi đứng ra giúp điều đình với phiên trấn Aizu.” Rõ ràng là quan Gia lão nhà quê này cố tình diễu cợt quan quân triều đình rồi. Có vẻ tự tín quá trớn vào trang bị quân đội hoàn bị nhất Nhật Bản phía sau lưng mình. Ngay cả trong thỉnh nguyện thư cũng đã có câu rằng: nếu quan quân triều đình không nghe theo lời thỉnh nguyện này thì “sẽ chịu thiệt hại to lớn”, hàm ý đe doạ võ lực.
Cuộc hội đàm đổ vỡ, Tsugunosuke trở về trận địa của mình. Nửa đường đã cười mà nói:
“Quan quân triều đình là bọn ngu xuẩn! Sao không bắt trói ta lại ngay tại đấy chứ?”
Trong lòng Tsugunosuke lúc ấy hẳn là đã rộn lên hưng phấn vì chiến tranh, bất chấp thắng hay bại.
Trở về thành, Tsugunosuke tổng hợp ý kiến trong phiên trấn, gửi thông điệp đến các đội quân gia thần của Mạc Phủ Tokugawa là Aizu và Kuwana, tuyên bố cùng nhau chiến đấu, rồi đưa gia đình cha con Lãnh Chúa di tản khỏi thành Nagaoka, và ngày 4 tháng 5, tiến quân chiến đấu.
Đã đến mùa mưa. Hai bên giao chiến trong mưa ở các nơi, phần lớn thì liên quân Nagaoka-Aizu chiến thắng, đánh bạt quan quân triều đình về căn cứ ở Enoki-toge. Rồi ngày 11 đã chiếm được căn cứ địch ở Enoki-toge, ngày 13 đại phá quân triều đình ở trận Asahigawa, giết quan tư lệnh Tokiyama Chokuhachi.
Từ phía Kashiwazaki, quan Tham mưu Yamagata Kyosuke phải vội vã tìm đến, trực tiếp chỉ huy tác chiến. Đại bác của quân triều đình đã phải bắn đến 150 phát mỗi ngày, binh sĩ tận lực chiến đấu, nhưng thế thua vẫn không lật ngược lại được.
“Tại sao lại không bắt giữ Kawai ngay trong cuộc hội đàm ở chùa Jigen ấy chứ?”
Yamagata lại quở mắng Iwamura như thế vào khoảng này. Tướng tá quân triều đình lúc này đã bắt đầu hiểu ra rằng đang phải chiến đấu với một địch thủ có thiên tài về quân sự. Một sĩ quan của quân triều đình là Nikaido Yasunori đã ghi lại như sau:
“Tsugunosuke vốn là kẻ sĩ cương ngạnh, chuyên quyền, áp đảo đồng liêu. Phiên trấn Nagaoka nương nhờ vào Tsugunosuke, chỉ một người này mà thôi. Nếu bắt giữ được Tsugunosuke thì chắc chắn là đã chiếm được thành Nagaoka mà không phải mất một người lính nào rồi. Vậy mà đã thả con cọp ấy về rừng mất!”
Trong hồi ký của chính quan Tham mưu Yamagata Kyosuke, sau này viết về cuộc chiến ở Hokuetsu này cũng có đoạn như sau đây:
“Thắng thì đắc ý, tự hào về mình; bại thì mất khí lực, lo sợ đủ điều, là chuyện hầu như không thể tránh được trong bất cứ quân đội nào. ...... Cá nhân ta đã dựa vào việc đội kỵ binh (của phiên trấn Choshu) vốn đã có ít nhiều kiến thức, nên ngăn cản được quân sĩ bại trận không đến nỗi mất hết khí lực, nhưng các binh sĩ còn lại thì phần đông đã sinh lòng khiếp hãi, đến nỗi ngay cả đội trưởng của quân sĩ Satsuma cũng đã bảo rằng tạm thời rút lui khỏi mặt trận này là đắc sách nhất.”
Tsugunosuke đi vòng vòng thị sát trận địa của quân mình mỗi ngày. Binh lính của phiên trấn tất cả đều mặc áo ống tay suông đuột bằng vải màu xanh dưới áo khoác ngắn, quần ống thụng, trên lưng áo có dấu hiệu hình cái thang 5 bậc. Chỉ có Tsugunosuke mặc một lớp áo màu xanh nhạt, quần ngắn, đi guốc gỗ, mưa thì cầm cây dù. Khẩu đại bác bắn nhanh chế ở Mỹ đã nói đến trước đây được cho theo đội quân trấn thủ trận địa phía nam thành Nagaoka dưới sự chỉ huy của Yamamoto Taito. Tsugunosuke mỗi ngày đến bên cạnh cỗ pháo này, sờ tay vào như chào hỏi nó, hoặc tự mình thao tác thử. Cỗ đại bác này hình thù dị thường, có đến 6 họng súng, người ta gọi là “Gatling gun”, có lẽ dịch là “súng đại bác máy” thì sát nghĩa nhất.
Tsugunosuke bảo pháo thủ: “Để ta bắn thử một phát xem sao nhé.” Vừa nói đùa như thế, Tsugunosuke vừa lấy ngón tay cà sạch mấy vết bùn bám trên đuôi súng. Lối chăm sóc âu yếm như tuồng đã phát khởi chiến tranh chỉ vì muốn dùng thử cỗ súng đặc biệt này không bằng!
“Có gì đâu, quan quân triều đình sắp sửa phải chạy trốn ngay đây thôi!”
Theo tính toán của Tsugunosuke, chỉ cần đánh lui được quan quân triều đình ở Hokuetsu này thì các Lãnh Chúa gia thần thân tín của Mạc Phủ Tokugawa trước đây đã quay lưng bỏ chạy khi thấy quân triều đình đến, nay sẽ phấn khởi mà trở mũi giáo chống lại triều đình. Người khác nghe vậy thì có lẽ cho là ảo vọng chẳng thực tế chút nào, thế nhưng đối với Tsugunosuke lúc bấy giờ thì đã là yếu tố chiến lược trọng yếu nhất. Phiên trấn ta có pháo binh hùng hậu vô địch ở toàn vùng phía bắc Nhật Bản, đó là nguồn gốc của mọi suy nghĩ tự tín của Tsugunosuke, từ đó phát sinh ra đủ thứ hy vọng. Nếu người bạn Mu-in ở trường Kyukeisha ngày trước mà nghe thế, ắt hẳn không thể nào tin nổi rằng Tsugunosuke đã mất thăng bằng trí não đến mức như thế được. Tất nhiên, bản thân Tsugunosuke thì không nghĩ rằng mình đã thay đổi. Giống như Napoleon, mà Tsugunosuke đã học được ở Kyukeisha, đã nghĩ đến chuyện chinh phục toàn thế giới từ khi có được đội pháo binh mạnh vô địch, bụng Tsugunosuke lúc bấy giờ hẳn là đã đầy những 27 cỗ đại bác kiểu tối tân nằm chật trong đó rồi. Tất cả các cỗ đại bác trong bụng Tsugunosuke đã suy tính tiền đồ của phiên trấn Nagaoka đó. Đưa tới địch một thư thỉnh nguyện đầy những lời lẽ doạ nạt ấy là đám các cỗ đại bác này, mà đánh bại quan quân triều đình phải trốn chạy đúng như dự tính, cũng là do các cỗ đại bác này đấy.
Thế nhưng, một mặt, đạo quân triều đình theo đường biển do phiên sĩ Choshu là Miyoshi Guntaro chỉ huy đã tiếp tục tiến quân đúng dự định, ngày 15 đã vào được thành Izumozaki. Yamagata định dùng bộ đội ấy để phản công Nagaoka, nên cấp tốc đến gặp Miyoshi để bàn tính. Kế sách này đã lập được kỳ công bất ngờ.
Sáng sớm ngày 19, rủi cho phía Nagaoka là sương mù dày đặc phủ đầy lưu vực sông Shinano. Khi quân Nagaoka chợt để ý đến thì trong sương mù đã đột ngột xuất hiện quan quân triều đình đến cả 2 ngàn người, rồi tiếp đó là đội quân thứ hai sang sông. Bộ đội Nagaoka canh giữ mặt này bị đánh bất ngờ, thua chạy trốn vào thành. Quân triều đình đuổi theo, đột nhập vào dưới thành từ ba mặt, tấn công với binh lực hùng hậu.
Tsugunosuke thống suất đội quân của Yamamoto Taito ra trận, tự mình thao tác khẩu đại bác bắn nhanh, từ 6 họng súng ấy rải đạn cà-nông về phía địch, nhưng rồi cũng bị trúng đạn nát vai bên trái. Tsugunosuke đành phải tạm thời trở vào thành Nagaoka, nhưng đội quân chủ lực lại đang đóng ngoài thành, nên trong thành không đủ sức cố thủ, phải tập họp bại binh chạy khỏi thành, rút về Tochio. Tức thì, quan quân triều đình phóng hoả đốt khắp các xóm quanh thành, cháy đỏ thành một khối lửa, lửa cháy lan vào lầu các trong thành, không bao lâu tất cả thành quách Nagaoka đều chìm trong biển lửa.
Thành Nagaoka mất, nhưng Kawai Tsugunosuke chưa chết, đó là điều được nêu lên để cổ vũ quân sĩ. Vả lại, quân Nagaoka vẫn còn đủ võ khí dã chiến. Kawai trở thành con quỷ chiến đấu đơn độc. Định đem tất cả tài trí của phiên sĩ đất Nagaoka đánh cược vào một trận chiến không thu được lợi lộc gì. Thành bị chiếm ngày 19, Tsugunosuke chạy thoát đến Tochio ngày 20, nhưng ngày 21 đã chỉ huy các đội quân Nagaoka tiến đến Kamo, ở đó, triệu tập các tướng trong toàn quân, mở hội nghị tác chiến; đến ngày 2 tháng 6, bắt đầu tấn công, đánh đuổi quân triều đình, liên tiếp phá đổ các lũy phòng thủ mà Yamagata đã cho dựng lên ở các cửa Yasuda, Hondo, Nakanoshima, công phá bản doanh của quân triều đình ở Imacho, phá cửa Ote mà vào thành.
Trận đánh ở Imacho này, Tsugunosuke đã cho đại bác bao vây, từ ba phía nã đạn xối xả vào, nên nhà cửa trong xóm đã do tay chính quân phiên trấn mình mà trúng đạn đại bác nổ cháy tan nát, bên đường la liệt những xác đàn ông đàn bà lăn lóc, óc não tung toé, banh bụng đổ ruột gan ra ngoài; tán loạn khắp nơi những xác thường dân thiếu tay chân hay đầu cổ. Thấy rõ uy lực của các cỗ đại bác kiểu mới ấy thật sự kinh khủng đến mức như thế nào.
Tsugunosuke tiến quân đuổi quân triều đình đến tả ngạn sông Kariyada, tiếp tục nã đạn đại bác giết địch gần như tuyệt diệt, xong tạm thời trở lại bản doanh dã chiến ở Tochio cho quân nghỉ ngơi, rồi đến ngày 19 tháng 7 lại bắt đầu hành quân, chọn trong quân phiên trấn Nagaoka ra mười tiểu đội lập thành bộ đội tập kích ban đêm. Tsugunosuke tự mình chỉ huy bộ đội này rời Tochio ngày 24, ban đêm tiến đến vùng đất đầm lầy tục gọi là Hatcho-oki phía đông bắc thành Nagaoka, đánh úp quân phòng vệ mà vào thẳng xóm ở chân thành, rồi ngày hôm sau, 25, kịch chiến đánh đuổi quân triều đình mà thu hồi được thành Nagaoka.
Thế nhưng, cuộc chiến đấu này đã khiến Tsugunosuke bị trúng đạn nát chân trái từ đầu gối xuống, không thể tiếp tục chỉ huy chiến đấu được nữa. Vì vậy, sĩ khí quân Nagaoka suy thoái nhanh chóng, ngày 29, thành Nagaoka lại bị quan quân triều đình chiếm lại, Tsugunosuke phải được khiên trên ván gỗ chạy trốn. Sau đó, chạy đến Aizu, ngày 16 tháng 8, Tsugunosuke chết vì vết thương làm độc. Sự đề kháng của phiên trấn Nagaoka chấm dứt theo cái chết của Tsugunosuke.
Ngày trước, có người bạn của Tsugunosuke là Koyama Ryo-un thấy chính sách cải cách chính trị phiên trấn Nagaoka quá ép uổng, đã lo ngại là Tsugunosuke có thể bị ám sát, nên cảnh cáo như thế, thì Tsugunosuke cười mà bảo:
“Có thể bị ném vào vũng bùn hai ba lần, chứ võ sĩ trong thành thì chẳng có người nào có đủ khí phách để ám sát tớ cả. Nếu có được người nào như thế thì phiên trấn này cũng vui nhộn biết mấy!”
Năm Minh Trị thứ hai (1869), chính phủ mới đã báo thù Tsugunosuke bằng sắc lệnh “Dứt bỏ mãi mãi họ tên nhà kẻ chủ mưu phản loạn là Kawai Tsugunosuke.”
Mãi đến năm Minh Trị thứ 16 (1883) mới ban ân điển cho phục hồi nhà Kawai.
Khi thành Nagaoka bị hạ, vợ Tsugunosuke là Suga cùng cha mẹ chồng chạy nạn về làng Muramatsu thuộc huyện Koshi cách thành chừng 2 dặm (khoảng 8 km) về phía nam, sau đó năm Minh Trị thứ hai, được cho phép trở lại xóm cũ gần thành Nagaoka, đã cháy rụi đến không còn vết tích thời trước nữa. Lúc đó, đã đem hài cốt của Tsugunosuke từ chùa Kenpuku ở Wakamatsu phiên trấn Aizu về cải táng ở chùa Eiryo thuộc hệ chùa Bodai (Bồ đề) ở Nagaoka. Danh hiệu pháp giới là Trung Lương Viện Điện Hiền Đạo Nghĩa Liễu Cư Sĩ. Từ khi bia mộ dựng xong, người ta không ngừng đến lấy roi đánh vào bia ấy. Phần lớn là di tộc của những người đã chết trong chiến tranh. Người vợ của Tsugunosuke không thể chịu đựng mà sống nổi ở Nagaoka nên đã nhờ họ hàng giúp dời lên sống ở Sapporo (Hokkaido), đến năm Minh Trị thứ 27 (1894) thì mất ở đấy.
Bia mộ của Tsugunosuke ở chùa Eiryo sau đó đã nhiều lần bị người ta đập nát. Người bạn Mu-in cho đến cuối đời đã thỉnh thoảng đến viếng chùa Eiryo, hễ thấy bia mộ Tsugunosuke bị đập phá thì cho sửa lại, mà nói:
“Chẳng phải tội ở người ấy. Đối với người ấy thì phiên trấn quá nhỏ mà thành ra như thế.”
Có vẻ anh hùng là thứ mà Trời đặt sai chỗ sai thời thì gây hại đến mức kinh khủng như thiên tai.
 
Phạm Vũ Thịnh dịch
Sydney 03-2008
t4phamvu@hotmail.com
 
-----------[/align]Nguồn: Tạp chí Bungeishunju [Văn nghệ Xuân Thu], số Đặc biệt tháng 12 năm 1963.[/align] 
 
Ghi chú của người dịch: [/align] [/align]Truyện ngắn “Eiyuji” [“Anh hùng nhi”] của Shiba Ryotaro, được dịch từ nguyên tác là truyện thứ 1 trong tập truyện Bajo shonen sugu [Thiếu niên cỡi ngựa chạy qua], bản bỏ túi, do nhà Shincho Bunko tái bản lần thứ 24 tháng 5 năm 1987. [/align] [/align]Shiba Ryotaro còn viết một truyện dài về nhân vật Kawai Tsugunosuke đăng từng kỳ trên nhật báo Mainichi từ năm 1966 đến 1968, sau này xuất bản thành bộ truyện Toge [Đèo núi]. [/align] [/align]Chuyện đời Kawai Tsugunosuke đã được quay thành phim bộ ti-vi với tài tử Nakamura Kanzaburo thủ vai chính, năm 2005.[/align] [/align] [/align]Kawai Tsugunosuke[/align](1827-1868)[/align] 
 
_________________________
Chú thích:
[1]Edo: trung tâm cai trị của Phủ Chúa Tokugawa, bây giờ là Tokyo.
[2]Lan học: Rangaku, học theo Hà Lan là nuớc được phép buôn bán với Nhật thời bấy giờ.
[3]Hộc: Koku, đơn vị đo lường, khi dùng để tính bổng lộc của võ sĩ, hay lực kinh tế của phiên trấn thì khoảng 150 kí gạo, khi dùng để tính dung tích thuyền bè thì khoảng 180 lít.
[4]Gia lão: Karo, cấp quan cao nhất giúp Lãnh Chúa cai trị phiên trấn.
[5]Thời Chiến quốc: 1467-1568, các sứ quân cát cứ các nơi đánh nhau hỗn loạn, cho đến khi Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu tiếp nhau hoàn thành cuộc thống nhất, mở ra thời Phủ Chúa Tokugawa.
[6]Lão trung: Roju, cấp quan cao nhất trong chính quyền Mạc Phủ (Phủ Chúa) Tokugawa.
Ta muốn sống an bình. Nó chà đạp ta. Ta phải đánh đổ nó. Nó kềm kẹp ta. Ta phải đánh trả nó. Muốn đánh trả ư? Làm sao được khi ta còn không có chí đánh? Làm sao được khi thân ta còn lo sợ an nguy, sợ hãi cái chết?

(Trích Karl Marx)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-26 06:11:52đánh đổ bạo tàn>
Hoạ sĩ quậy


sáng tác - truyện ngắn

Tác giả: Shiba Ryotaro   

25.04.2008



Phạm Vũ Thịnh chuyển ngữ


Nguồn: http://damau.org/index.php?option=com_content&task=view&id=3758&Itemid=5




Thời bấy giờ ở Edo[1] có hoạ gia mang hỗn danh là "Baikei quậy". Baikei (Mai Khê) là tên hồi còn trẻ của Tazaki So-un đó. Tương truyền mặt ông ấy dài đến 2 shaku (khoảng 60 cm) thì hẳn là khác thường lắm. Được cái là thân người và tay chân đều to lớn tương ứng nên không tạo ấn tượng quái dị gì mấy. Từ thuở niên thiếu, ông đã có mắt nhìn dữ dội đến nỗi người ta kháo nhau là: "Ai thấy cũng run lên khi bị Baikei vặn hỏi điều gì".

Ngày nay vẫn còn hình chụp ông ấy. Trong cuốn Đại từ điển Bách khoa do nhà Heibon xuất bản cũng có hình ấy, quả thật trông ông không có vẻ gì là hoạ gia cả. Có nhìn cách nào đi nữa, cũng thấy đó là khuôn mặt của một vị tướng thu đoạt thiên hạ từ trên lưng ngựa.

Cho đến tuổi trung niên, ông sống trong xóm nhà lá Sanya ở phường Asakusa. Chuyện truyền tụng về Baikei thì nhiều lắm.
Khi nào ông bảo vợ: "Kiku à, hôm nay có hội Thư hoạ đấy" thì vợ ông là Kiku hiểu là sẽ có chuyện gì xảy ra. Thế nào ông cũng vác thân người máu me bê bết mà về nhà.

[/align]Hội Thư hoạ thời ấy thì cứ nghĩ như hội triển lãm hoạ phẩm ngày nay là được. Chỉ khác ở chỗ hội trường là ở các tửu quán thôi. Thường thì các tửu quán hạng nhất được chọn; ở đó, các hoạ gia, các nhà thư pháp tụ tập, trưng bày tác phẩm của mình, hoặc vẽ hay viết ngay tại chỗ. Tất nhiên có cả đám người ái mộ thư hoạ của họ nữa. Tụ họp nhau, vừa uống rượu vừa mua qua bán lại các tác phẩm ấy.


[/align]Tazaki Baikei, à không, từ đây xin dùng cái tên thông dụng về sau này của ông ấy là So-un (Thảo Vân), So-un ra khỏi nhà với trang phục võ sĩ: quần ống ngắn, dắt thanh kiếm dài, tay cầm cây quạt sắt, dáng ông không khác gì người võ sĩ lên đường tu luyện kiếm thuật.


[/align]Ông quen miệng bảo người ta rằng: -"Ta không phải là người vẽ tranh đem bán mà sống đâu nhé!". Bởi ông đường đường là võ sĩ, dù chỉ ở cấp bộ tốt mạt hạng. Mà dù là bộ tốt đi nữa, võ sĩ cũng vẫn là võ sĩ chứ! Ông cứ thế mà ra oai. Và nếu trong hội Thư hoạ mà có tên nào chê bai tác phẩm của ông, thì So-un nhảy ngay qua mâm cỗ, túm lấy cổ áo tên ấy, vật ngã xuống sàn mà đấm đá. Gặp phải kẻ mạnh, ít nhiều cũng xứng tay đối thủ, thì hoá thành trận hỗn chiến, quần thảo nhau cho đến lúc áo quần tả tơi, cuối cùng thì cũng thường ném được đối thủ ra ngoài vườn. Rồi cứ thế mà mang thân hình xác xơ ấy về cho vợ là Kiku ở xóm nhà lá kia.


[/align]Nhưng Kiku không hề than trách một lời nào. So-un dựa vào đó mà càng được trớn, thường nói lời khoa trương rằng:


[/align]-"Hội Thư hoạ đúng là chiến trường của hoạ gia đấy".


[/align]Thời đó, trong đám người được kể là danh vật ở các hội Thư hoạ này, còn có "Undo bợm rượu" là hỗn danh của một nhà thư pháp kiêm thi sĩ. Ông này cũng có cánh tay mạnh lắm. Undo có họ là Takeuchi. Đương thời, là học trò của Yanagawa Seigan chủ toạ nhóm thơ Gyokuchi Ginsha (Ngọc trì Ngâm xã) ở xóm Tamagaike (Ngọc trì, ao ngọc) phường Kanda. Nghe đâu ông ta tập Nhu đạo đã lãnh được ấn chứng phái Sekiguchi, chưa từng thua một cuộc ẩu đả nào ở các hội Thư hoạ cả. Thêm vào đó, lại nghiện rượu nữa.


[/align]Có lần trong một hội Thư hoạ, Undo đột nhiên trừng mắt nhìn khắp mặt hoạ gia ngồi đầy trong phòng mà gằn giọng nói:
[/align]
-"Ở đây có kẻ nào đáng được gọi là hoạ bá không?"
[/align]
Mọi người im thin thít.
[/align]
Undo được thế, nói lấn lướt:
[/align]
-"Từ ngày Tani Buncho chết đi rồi, Edo này không còn hoạ bá nữa. Tất cả chỉ là thợ vẽ mà thôi!"
[/align]
Lúc đó, chợt có người ném mạnh chén rượu xuống. Đó là Tazaki So-un. Khắp phòng đầy người, cả hoạ gia, thi nhân lẫn khách hàng hâm mộ, ai nấy đều nín thở, nuốt nước bọt.
[/align]
-"Đúng thế đấy". So-un nói. -"Undo nói không sai. Buncho tiên sinh chết đi rồi, bọn hoạ sĩ trong thiên hạ tất thảy chỉ còn là thợ vẽ cả. Nhưng mà này Undo, ngươi nói vậy chứ còn ngươi thì sao nào? Chỉ là tên thợ làm thơ chứ gì nữa? Thợ thơ mà đi cười thợ vẽ được à?"
[/align]
Thế là hai bên đá nhào khay rượu, mâm cỗ, xông tới đấm đá nhau. Vách tường đổ ngã, hai người lăn lộn ra hành lang, nhào cả vào hồ nước ngoài vườn mà vật lộn, cuối cùng Undo phải la lên: "Chịu thua!" Mặt Undo đỏ loét máu mũi.
[/align]
-"Chịu thua rồi à?"
[/align]
-"Baikei! Không thắng nổi ngươi được, xin chịu làm đàn em!"
[/align]
Undo cũng là gã đàn ông có khí phách, từ đó, luôn luôn theo phò So-un. Hội Thư hoạ nào cũng đến chung mà bảo với mọi người:
[/align]
-"Đất Edo này, hoạ đàn, thi đàn không có ai địch nổi hai chúng tớ cả!"
[/align]
Tất nhiên, đó là nói về sức mạnh của cánh tay họ đấy.
[/align]
Vậy thì, hãy nói về So-un. Tên thật là Kaori. Con một nhà võ sĩ bộ tốt ở phiên trấn Ashikaga vùng Shimotsuke. Phiên trấn Ashikaga có Lãnh Chúa thuộc dòng nhà Toda tước Ooi-no-kami, thu hoạch chỉ chừng 11 ngàn hộc [2], không xây nổi thành quách gì cả. Thay vì thành thì chỉ có một tư dinh nhỏ xây kín đáo ở đất Karin Koji thuộc Ashikaga, có đào hào chung quanh.
[/align]
Ở trong phiên trấn nhỏ mà lại chỉ là thân phận bộ tốt nên không thể sống chỉ bằng bổng lộc hàng năm mà thôi được, nên nhà nào trong dãy nhà chung ấy cũng phải làm thêm cả. Mà việc làm thêm của cha So-un cũng khác đời. Ông xưng hiệu là Sui-un (Túy Vân), bán tài vẽ tranh của mình mà độ nhật.
[/align]
Thực tế thì thê thảm lắm. Ashikaga là vùng đất có nghề dệt máy làm ra vải vóc Ashikaga nổi tiếng nên có nhiều nhà giàu trong giới công thương hay cả nông dân nữa. Người cha là ông Sui-un, thân là sĩ phu của phiên trấn đấy, mà phải ra vào các nhà giàu có này, vuốt ve điếu đóm họ để được đặt vẽ tranh Nhật Bản lên các tấm bình phong, các vách kéo trong nhà họ. Vì vậy, trong ngoài thành đều có kẻ gọi lén dè bĩu ông là "thợ vẽ xuất thân bộ tốt".
[/align]
Người cha Sui-un này thường dặn con là So-un thời niên thiếu rằng:
[/align]
-"Có tài vẽ nửa vời mà thành ra bị coi như ăn mày. Con chớ có học nghề vẽ này".
[/align]
Do đó, So-un đã theo học kiếm thuật phái Takanawa và binh pháp phái Naganuma. So-un đã tin rằng học võ nghệ và binh pháp để lập thân võ sĩ là con đường nhanh chóng nhất để thoát ra khỏi cảnh nghèo túng, nhục nhã, hơn là học nghề vẽ. May mắn là So-un có được tài năng thiên phú. Về kiếm thuật thì năm 17 tuổi đã được truyền thụ kiếm pháp, 19 tuổi đã nhận được ấn chứng của võ đường, đến năm 20 tuổi thì trong đám thuộc hạ của Lãnh Chúa không có ai bằng được tài kiếm của So-un. Tuy vậy, vốn cũng chỉ là thứ kiếm thuật ở xứ quê mùa mà thôi.
[/align]
-"Lên Edo đi!"
[/align]
Thầy Yamabe Sobee dạy kiếm trong phiên trấn đã khuyến khích như thế. Muốn lập thân bằng kiếm thuật thì chỉ có cách là làm sao được xếp hạng trong những võ đường lớn trên Edo mà thôi. Thầy Sobee đã chạy chọt ở các sảnh đường của phiên trấn, cuối cùng đã lấy được cho So-un giấy phép của phiên trấn "biệt phái lên Edo để tu tập kiếm thuật". Nhưng phiên trấn không cấp chi phí lưu học, mà bảo phải tự túc.
[/align]
Trong nhà làm gì có tiền, nên So-un đành bó tay.
[/align]
Cuối cùng thì con nhà bộ tốt lại cũng chỉ thành bộ tốt mà thôi! So-un nghĩ thế mà đâm ra oán trời. Nhưng trời ấy đã cho chàng trai này một dị tài khác. Đó là tài năng hội hoạ. Từ thuở nhỏ, khi nào So-un hí hoáy vẽ tranh là bị cha quở mắng, nhưng dù vậy, So-un vẫn thường lấy trộm các bức hoạ của cha ra mà bắt chước vẽ những tranh hoa điểu sơn thủy, thật là xuất sắc. Đến năm 18, 19 tuổi thì ngay cả người cha cũng không bén được đến gót chân người con, đến nỗi các nhà nhuộm vải khắp xứ Ashikaga khi nào cần bản vẽ mẫu thì lại đến nhà, nhờ:
[/align]
-"Không phải Sui-un tiên sinh, mà xin nhờ cậu nhà vẽ giúp cho!"
[/align]
Rồi ông Sui-un nhuốm bệnh nặng, lúc hấp hối đã dặn con:
[/align]
-"Đừng trở thành hoạ sĩ. Con vốn là kẻ có thể tóm thâu thiên hạ được đấy!"
[/align]
Đó là lời trăn trối cuối cùng của Sui-un.
[/align]
Có lẽ lúc bấy giờ, những chuyển động của thời thế đã dậy sóng áp đến cả vùng đất Ashikaga này rồi. Uy thế của Mạc Phủ (Phủ Chúa Tokugawa) đã suy yếu hẳn. Để tự vệ, phiên trấn nào cũng dồn sức vào việc khởi dụng nhân tài, chỉ cần là người có học vấn, võ nghệ hay kiến thức, cho dù xuất thân là bộ tốt, võ sĩ mạt hạng đi nữa, cũng có nhiều hy vọng được chọn làm sĩ phu hạng cao trong phiên trấn.
[/align]
Tóm thâu thiên hạ kia à? So-un nghe mà kinh ngạc. So-un quay nhìn lại mình, cảm thấy mình cũng có thể là người tài trí đến như thế chứ. Nhưng dù vậy, xứ này chỉ là một phiên trấn nhỏ, nếu cứ ở mãi quê nhà thì cuối cùng cũng chỉ có thể thành con ốc trong ruộng mà thôi. Về sau này, So-un đã thuật lại như thế về thời kỳ đó.
[/align]
Phải đi thôi. Phải sống ở chỗ trời đất to rộng mới được. So-un đã quyết chí như thế.
[/align]
Người cha chết đi, chỉ còn lại người mẹ kế và đứa em khác mẹ. So-un nối nghiệp nhà làm bộ tốt chỉ một năm, rồi đưa đơn xin quy ẩn, nhường chức lại cho người em. Làm thế cũng tốt cho cả người mẹ kế nữa.
[/align]
-"Thế anh định làm gì nào?" Người mẹ kế là Orie hỏi.
[/align]
-"Em con thì phải nối nghiệp nhà mới sống được. Còn con thì có nghề riêng".
[/align]
-"Võ nghệ đấy à?" Bà mẹ có vẻ lo âu. Bà biết rõ rằng kiếm thuật phái Takanawa mà So-un học được chỉ là loại võ nghệ của một môn phái nhà quê, khó mà thu đồ đệ để mưu sinh được.
[/align]
-"Thưa, nghề vẽ đấy". So-un đáp, có phần buồn bã.
[/align]
Vẽ tranh thì cho dù có vụng về đôi chút, cũng còn nhiều nhu cầu nhờ vẽ mẫu vải hay tranh dán tường.
[/align]
Muốn mưu sinh thì phải lên Edo thôi. So-un quyết ý như thế mà ra đi.
[/align]
Lên Edo, lúc đầu anh học theo Yamazaki Baion. Baion là loại hoạ sĩ chỉ giỏi chiều theo thị hiếu khách hàng mà sống, kiểu thợ vẽ như Undo đã chỉ trích đấy. Nên So-un ra khỏi cửa đó ngay để theo học Kanai Ushu, rồi đổi qua Tani Buncho, sau khi Buncho chết thì theo học Haruki Nanmei. Trong khoảng thời gian đó, So-un ra vào các nhà buôn vật liệu xây cất, kiếm việc vẽ tranh dán tường để sống.
[/align]
So-un đến trú ở vùng Asakusa từ thời vào làm môn đệ của Tani Buncho. Khoảng đó, anh đã cưới Kiku là con gái nhà võ sĩ bộ tốt cũng của phiên trấn Ashikaga. Đêm cưới, Kiku mới thấy được mặt chồng. Và cảm thấy sợ hãi hơn là thân cận.
[/align]
-"Ta không phải là thợ vẽ đâu". So-un nói, tay ôm cẳng chân dài ngoằng đầy lông lá. -"Em cứ nghĩ là đã về làm dâu nhà võ sĩ là được".
[/align]
Quả thật, mặt mày người chồng có vẻ đúng là võ tướng. Vả lại, lúc bấy giờ, So-un thường đến võ đường nhỏ dạy kiếm pháp phái Itto (Nhất đao) dòng Nakanishi của một võ sĩ không có chủ tướng (ronin) tên là Koshiba Denbee, So-un không phải làm môn đệ, mà là vị khách ghé đến đấy dạy kiếm. Tài nghệ So-un còn vượt hẳn thầy kiếm chủ võ đường ấy là Denbee mấy bậc nữa.
[/align]
Nhưng thực tế mưu sinh thì công việc chính của So-un vẫn là thợ vẽ, chuyên vẽ tranh dùng trong dụng cụ xây cất vớ vẩn.
[/align]
Người này là người gì đây nhỉ? Kiku không khỏi hoang mang về chồng mình.
[/align]
Kiku lãnh việc liên lạc với các nhà buôn vật liệu xây cất. Ngay trước cổng sau của chùa Senso có hiệu buôn Higo của Jubee chuyên bán tranh của các môn sinh của Tani Buncho. Cô vợ mới cưới là Kiku mang 5, 6 bức tranh hoa điểu của chồng đến đấy. Ông quản lý mở tranh ra xem rồi nói:
[/align]
-"Baikei tiên sinh cũng vụng tay quá nhỉ!"
[/align]
tuy chỉ lầm bầm nho nhỏ gần như không nghe ra được.
[/align]
Tranh của anh ấy chỉ đến mức như thế thôi à? Kiku bối rối.
[/align]
Mà thật tình, thời bấy giờ người ta đồn rằng:
[/align]
-"Tranh của Baikei thì chim cút vẽ ra bộ dạng như chim ưng. Đến khi vẽ chim ưng thì khí hồn tràn lan ra khỏi khung tranh, trông thô bạo quá".
[/align]
Không phải là vẽ dở, mà cách biểu hiện có phần quá trớn, thiếu tiết độ. Hào hứng quá đà nên tranh như phá tung cả lên.
[/align]
So-un cũng biết là người ta phê phán như thế. Đâm ra bận lòng, nên khi Kiku về, So-un đang lau chùi thanh kiếm liền hỏi:
[/align]
-"Quản lý hiệu ấy nói gì nào?
[/align]
mà mặt lộ vẻ yếu đuối khác thường.
[/align]
Kiku không dám nói, chỉ cúi gầm mặt xuống. Nhưng So-un cật vấn mãi, Kiku đành thưa thật:
[/align]
-"Thưa, ông ấy bảo gì như là vụng tay, hay gì đấy..."
[/align]
Tức khắc, So-un nắm thanh kiếm, phóng chạy vọt đi, trong lúc Kiku còn ngỡ ngàng.
[/align]
So-un chạy vào hiệu Higo, nắm lấy cổ áo người quản lý mà vật xuống nền đất, mắng lớn: "Thứ nhà buôn như mày mà đòi hiểu tâm cảnh hội hoạ của bậc đại phu võ sĩ được à?" rồi lấy lại các bức tranh của mình, ném trả tiền tranh xong, phóng đi như giông gió.
[/align]
Mà chẳng phải chỉ có thế. Về đến nhà, So-un bảo vợ:
[/align]
-"Kiku à, ta đi du lịch đây!"
[/align]
Rồi bắt vợ sửa soạn hành lý, ngay hôm đó, đến nhà việc của phiên trấn, lãnh tiền đi đường, rồi ra khỏi Edo như đi trốn, lên đường vân du các nơi. Đơn gửi phiên trấn thì, sau này cũng làm nhiều lần như thế, viện lý do là : "Để điều nghiên về kiếm thuật".
[/align]
Người như thế nên cô vợ mới cưới là Kiku có hoang mang "người gì thế nhỉ?" thì cũng chẳng có gì lạ. Riết rồi, Kiku hiểu ra là ông chồng mình, hễ có chuyện gì uất ức về hội hoạ là quay sang chìm đắm mê mải cứ như là lên cơn điên vào chuyện võ thuật, điều đó đã trở thành thói quen kỳ quái của So-un rồi.
[/align]
Các cuộc vân du tu tập kiếm thuật của So-un thường hướng về phía Joshu, Hitachi, nhưng cũng có khi xoải chân đến cả các vùng xa, từ Suruga đến tận Mikawa nữa. Trong hành lý có sẵn bút vẽ, nên So-un kiếm thêm tiền đi đường không khó khăn gì. Cứ đến các nhà giàu có trong làng mà trọ lại và vẽ tranh dán vách những phong cảnh trong vùng. Và nhân tiện, nếu vùng đó có võ đường thì thách đấu và học hỏi.
[/align]
Nghe đâu So-un chưa bao giờ đấu thua ai cả. Tuy sự thực thì có lẽ chẳng phải thế, bởi cũng đã có lời truyền tụng rằng So-un đã thua trận đấu với Ogawa Heibee phái Shinto Munen, chủ võ đường ở chùa Kyorin, phiên trấn Maebashi ở vùng Joshu. Xóm quanh thành Maebashi khi nghe có hoạ gia Baikei đến viếng, đã có lắm kẻ trong đám kiếm khách địa phương tìm đến lữ quán So-un trọ. Vùng đất này vốn là nơi võ thuật hưng thịnh. Liên tiếp không chỉ 2, 3 người, mà đã có rất nhiều kiếm khách xin "chỉ giáo", nên So-un đã nhận đấu ở vườn một nhà nông kia. Tất cả các kẻ thách đấu đều bị So-un áp thắng dễ dàng như đấu với trẻ con. So-un đắc ý cười rằng:
[/align]
-"Quanh thành Maebashi xưa nay được tiếng là thủ đô về võ nghệ, thế mà chỉ đến trình độ này thôi sao?"
[/align]
Và như thường lệ, một mặt So-un vẽ tranh độ nhật.
[/align]
Một buổi chiều nọ, So-un đang ngồi ở hiên nhà một phú nông, giở giấy hoa tiên, vẽ tranh "Quan Vũ ra trận", thì đột nhiên bị che mất ánh sáng. Ngẩng mặt lên nhìn thì thấy có một nông phu trung niên đang đứng chắn, còn mặc áo quần làm ruộng.
[/align]
-"Che mất ánh sáng rồi. Đi chỗ khác đi!"
[/align]
So-un ve vẩy bút lông, xua đi.
[/align]
-"Đẩy đi thử xem!". Nông phu có vẻ ngờ nghệch ấy mỉm cười nói.
[/align]
So-un nghĩ thầm: tên này chẳng phải tầm thường, rồi vừa cảnh giác, vừa im lìm ôm bút giấy vẽ dời qua góc hiên khác.
[/align]
-"Thầy vẽ định trốn đấy à?". Nông phu nói.
[/align]
So-un vẫn im lìm chăm chú vẽ tiếp Tướng quân Quan Vũ.
[/align]
Nông phu lại đến gần che mất ánh sáng, quấy rầy tiếp. Lần này So-un không thèm nói gì, chỉ im lặng vẽ cho xong thân thể tay chân Quan Vũ, cho đến lúc chỉ còn phải vẽ khuôn mặt nữa mới đặt bút xuống mà nói:
[/align]
-"Lão kia, coi chừng đấy!"
[/align]
rồi vào trong nhà lấy ra hai thanh kiếm tre, ném một thanh cho người nông phu kia. Nông phu chộp lấy thanh kiếm thật gọn gàng. Đúng như So-un đã đoán ra, người nông phu đó chính là một kiếm khách địa phương cải trang, đã bị lộ rồi.
[/align]
Hai người khởi đấu, không cần mặt nạ hay bao tay che chở.
[/align]
-"Mà này, quên chưa hỏi danh tính. Người nào, thuộc môn phái nào đấy?". So-un hỏi.
[/align]
-"Chỉ là nông phu thôi".
[/align]
Vừa đáp thế xong, hình dáng người nông phu như tăng lớn gấp đôi, thâu ngắn khoảng cách, áp đến như gió cuốn, thanh kiếm múa thẳng lên phía trên đầu.
[/align]
-"Ủa?". So-un kinh ngạc, nhưng không phải vì thanh kiếm ấy, mà vì khuôn mặt người nông phu sao lại giống hệt như khuôn mặt Quan Vũ mà tâm trí So-un tưởng tượng ra định vẽ xuống. -"Đúng là khuôn mặt này rồi!"
[/align]
Vừa nghĩ như thế, So-un đã lãnh ngay một nhát kiếm mãnh liệt vào ngay đỉnh đầu... rồi không còn nhớ gì nữa cả.
[/align]
Theo lời những người đã mục kích trận đấu ấy thì So-un vẫn đứng nguyên đấy, đột ngột vất kiếm tre đi rồi lảo đảo quay lại mái hiên. So-un cầm bút lên, thoăn thoắt vẽ khuôn mặt Quan Vũ nhanh chóng dị thường, rồi bước vào trong nhà, cứ thế mà ngủ luôn một giấc mê man. Nghe đâu lúc So-un thức giấc thì đã là chiều tối ngày hôm sau, vị chi đã ngủ suốt một ngày một đêm. Cứ như là bị mê man bất tỉnh vậy.
[/align]
Người trong lữ quán thưa với So-un rằng đó là Ogawa Heibee tiên sinh, chủ võ đường ở chùa Kyorin, khi từ biệt đã có nhờ nhắn lại là xấu hổ vì việc mình đã làm. Bên cạnh gối So-un nằm còn có một giỏ khoai núi Heibee gửi đến để chuộc lỗi.
[/align]
Tương truyền rằng về chuyện này, chính Ogawa Heibee đã nói:
[/align]
-"Baikei ở Edo đã lấy chuyện thắng dễ dàng những tay kiếm non nớt quanh thành này mà khi dễ kiếm thuật của phiên trấn Maebashi. Vì vậy, ta đã cải trang đến thách đấu để ngăn chận việc chê cười ấy, may mắn sao đã chém được một nhát đấy, nhưng ngược lại, mặt mình đã bị đoạt lấy mất ngay trong khoảnh khắc ấy mà vẽ xuống giấy rồi. Chưa bao giờ ta lâm vào một trận đấu ghê rợn như thế".
[/align]
Trận đấu hiếm có này nổi tiếng khắp vùng Maebashi, đến nỗi khi Baikei đã rời đi rồi, Lãnh Chúa Matsudaira Naokatsu nghe chuyện đã truyền lệnh: -"Ta muốn thế nào cũng phải xem bức tranh Quan Vũ ra trận ấy mới được", nên người chủ lữ quán mới dâng bức tranh ấy lên. Và Lãnh Chúa cho triệu cả Heibee lúc bấy giờ chỉ là một võ sĩ không có chủ tướng đến để so sánh với bức tranh, thì quả thật khuôn mặt giống hệt nhau. Lãnh Chúa phán rằng: -"Trông ngươi có dung mạo khiến liên tưởng đến Quan Vũ thật đấy", rồi cất nhắc Heibee lên làm thầy dạy kiếm thuật cho toàn phiên trấn. Cũng từ lý do đó mà Heibee sùng kính So-un:
[/align]
-"So-un tiên sinh là ân nhân của nền võ đạo của phiên trấn chúng ta".
[/align]
Đến sau cuộc Duy Tân thời Minh Trị, Heibee cũng còn lấy lễ trò đối với thầy mà viếng kính nhà Tazaki So-un.
[/align]
Nói chuyện bên lề thì đời sau, con thứ của Heibee là Shuzo nối nghiệp cha. Rồi con của Shuzo là Heizaburo thì lại không học kiếm thuật mà sang Mỹ học kỹ thuật làm giấy xong, vào làm việc trong hãng giấy Shoshi là tiền thân của công ty giấy lớn Oji Seishi ngày nay, trở thành "vua giấy", lập nên tài phiệt Ogawa đó. Tất nhiên, chẳng có dính dáng trực tiếp gì đến nhân vật So-un trong truyện này.
[/align]

*

Ngay cả sau khi đứa con thứ hai được sinh ra ở căn nhà nhỏ hẹp trong xóm Sanya phường Asakusa ấy, tâm tính "Baikei quậy" của So-un vẫn không thay đổi chút nào.
[/align]
Thôi thì cứ coi như một cậu bé to xác là được. Kiku không khỏi thầm nghĩ như thế. Riết rồi Kiku cũng lý giải được đến mức đó mà yêu thương chồng mình.
[/align]
Thỉnh thoảng, So-un lại ngồi thẫn thờ ở góc hiên nhà mà lẩm bẩm:
[/align]
-"Ta cũng chẳng hiểu được mình nữa là!"
[/align]
Xem thế thì chẳng phải mỗi mình Kiku, mà ngay cả chồng bà cũng chẳng hiểu được chính mình, Tazaki So-un, là cái giống gì!
[/align]
-"Trong người có thứ gì quái lạ cứ tích tụ đầy cả lên, mà thứ này lại chẳng dính dáng gì đến hội hoạ hay kiếm thuật gì cả. Chẳng biết là cái thứ quái gì".
[/align]
Nghe chồng nói thế, Kiku cũng chịu, chẳng hiểu là thứ gì.
[/align]
Có lần So-un hỏi vợ:
[/align]
-"Này Kiku à, em thấy anh là tay kiếm khách, hay là người vẽ tranh?"
[/align]
-"Em chẳng hiểu. Chỉ thấy là chồng của Kiku mà thôi".
[/align]
-"Em nói cứ như là người đã giác ngộ ấy! Anh thì chẳng hiểu anh là thứ người gì nữa".
[/align]
Thời ấy có hoạ gia tên là Rankei (Lan Khê), ưa vẽ tranh sơn thủy, người đời gọi là "Cụm gai xứ Echigo" vì tính tình nhiều góc cạnh gai góc. Xưa nay chủ trương chỉ có tranh sơn thủy mới đáng gọi là hội hoạ thôi, và khinh khi mọi hoạ gia vẽ tranh nhân vật hay hoa điểu. Một ngày kia, có hội Thư hoạ ở tửu lâu Manpachi xóm Yanagihashi, Rankei đến trễ, mới ngồi vào chỗ, đã đưa mắt nhìn quanh một vòng rồi nói:
[/align]
-"Ha Ha Ha! Bọn vẽ tranh hoa điểu, nhân vật lại lì lợm chường mặt đầy ra đấy nhỉ".
[/align]
Thời bấy giờ, So-un vẽ toàn là tranh hoa điểu, nên không nhịn được, mới quát lớn:
[/align]
-"Rankei, có giỏi nói lại xem nào!"
[/align]
-"Nghe đây! Vẽ tranh sơn thủy hay hoa điểu, nhân vật mà cũng cứ xếp hạng ngang nhau, ai cũng là hoạ gia cả, nên cõi đời này mới sinh ra lộn xộn thế đấy. Cứ lấy theo 4 hạng sĩ nông công thương mà so sánh xem. Tranh sơn thủy tạo ra hình thể hùng vĩ thanh cao của trời đất mới xứng đáng là cấp sĩ đấy. Vẽ tranh hoa điểu thì chỉ đáng gọi là người thạo nghề vẽ. Còn vẽ nhân vật thì cứ xem tranh phong tục Ukiyo-e cũng hiểu, chỉ là hạng hoạ công, thợ vẽ mà thôi".
[/align]
-"Nói vậy thì Rankei, ngươi là bậc sĩ đấy à?"
[/align]
-"Kết luận là như thế đấy".
[/align]
-"Đi ra kia!". So-un nắm kiếm, đứng bật dậy. "Có thật ngươi là sĩ không, để ta thử bằng kiếm là biết ngay. Ra phía trước đi!"
[/align]
-"Chuyện đó với chuyện này thì khác nhau chứ!"
[/align]
-"Cùng là sĩ cả thì sĩ hồn có khác gì nhau đâu!".
[/align]
Vừa dứt lời, So-un đã rút phắt thanh kiếm ra. Lưỡi kiếm lượn một vòng cung, sướt qua chót mũi Rankei, chém sả xuống cắt đứt đôi mâm thức ăn ngay trước đầu gối của Rankei. Thế mà canh tương trong chén không đổ ra một giọt nào, và bầu rượu cũng chẳng ngã xuống, chỉ có cái khay gỗ bị cắt ngọt ra làm hai mà thôi. Thật là một ngón nghề siêu phàm!
[/align]
Rankei thì đã đạp ngã bức vách kéo, chạy trốn qua phòng bên cạnh rồi.
[/align]
-"Coi được một cảnh thiệt đã con mắt!". Có người xưng tụng So-un. -"Cứ nghe đồn hoài rằng tài kiếm của So-un được kể vào hạng mười người giỏi nhất đất Edo, nhưng cảnh vừa xảy ra trước mắt đây thì quả là chưa từng được thấy bao giờ. Hội Thư hoạ hôm nay thật là hạnh phúc nhất cho đôi mắt của tôi rồi".
[/align]
Nhưng So-un thì vừa tra kiếm vào vỏ vừa nghĩ:
[/align]
-"Nói gì thế không biết? Hội Thư hoạ có phải là hội trình diễn võ nghệ đâu nào!".
[/align]
Bởi So-un thấu hiểu sự thực là như thế.
[/align]
Vụ này vậy mà đã sinh ra hậu quả bất ngờ: đột nhiên từ đó, chẳng còn ai đặt So-un vẽ tranh nữa cả. Nguyên nhân thì sau đó đã hiểu ra ngay: "Cụm gai Rankei" đã đi vòng các hiệu buôn vật liệu xây cất mà loan truyền bịa đặt rằng So-un đã phát điên lên rồi. Giới thưởng lãm thích tranh của dị nhân độc đáo, nhưng đâu có muốn mua tranh của người điên!
[/align]
Thằng khốn dám hại ta! So-un tức giận hầm hầm. Nhưng rồi nghĩ lại: Chẳng lẽ mình điên thật sao chứ?
[/align]
-"Kiku à, em nghĩ sao?"
[/align]
-"Nghĩ sao gì?". Kiku đành trả lời. -"Đối với em thì vẫn là chồng em đấy chứ có gì thay đổi đâu?"
[/align]
-"Chắc em kiếp trước đã là nhà sư toạ thiền hay sao ấy chứ!"
[/align]
Các hội Thư hoạ cũng không còn mời So-un nữa. Gia kế So-un lâm vào cảnh khốn cùng. Đám bạn là nhà thơ Undo, hoạ gia Gyozai phải bôn tẩu khắp nơi để vận động giải độc, cố gắng phục hồi danh dự cho So-un, nhưng không có hiệu quả gì mấy. Gyozai cũng phải cười khổ sở mà tự trào:
[/align]
-"Hay là tại bọn mình vận động mới ra nông nổi này không chừng!"
[/align]
Gyozai được người đời gọi là "Đười ươi bợm rượu" vì thói quen uống rượu như hũ chìm. Có lần uống rượu thi với So-un, đã uống hết hơn 5 lít (3 sho, mỗi sho 1.8 lít) rồi mà chưa ai gục. Vừa uống, Gyozai vừa trãi giấy vẽ ra, múa bút say vẽ tranh đười ươi múa, chỗ lạc-khoản thì khoanh tròn một vòng, trong đó vẽ một bầu rượu, ngay giữa bầu rượu viết: "Đười ươi bợm rượu Gyozai", ra cái điều tự hào rằng mình thắng cuộc.
[/align]
Thấy vậy, So-un dù đã say líu lưỡi rồi cũng gắng giật bút vẽ chồng lên tranh đười ươi múa ấy một con rùa to tướng rồi ký tên "Rùa xanh Baikei". Thời bấy giờ, giới động vật học cho rằng loài rùa xanh là uống rượu được nhiều nhất.
[/align]
-"Sao nào? Chịu thua chưa?" So-un hỏi.
[/align]
-"Chịu thua! Chịu thua!"
[/align]
Gyozai đành đầu hàng. Bởi liều mình tranh đua với So-un hơn thế nữa, thì sẽ không chỉ vẽ đùa, mà chắc chắn còn bị ăn đòn tay chân nữa kia.
[/align]
Một ngày nọ, Gyozai và Undo đến chơi, cho So-un xem một bức hoạ xưa. Tranh thủy mặc vẽ một con cò.
[/align]
-"Gì thế này? Chẳng phải là tranh của một kẻ tay mơ nào đấy sao?"
[/align]
-"Thế à?". Hai người bạn có vẻ kiệm lời, như tuồng có mưu đồ gì đấy.
[/align]
-"Ai vẽ thế?"
[/align]
-"Niten đấy bạn ạ!"
[/align]
-"Ồ!". So-un kinh ngạc, nhìn lại bức tranh con cò.
[/align]
Niten (Nhị thiên) là tên hiệu của Miyamoto Musashi, kiếm hào vang danh cuối thời Chiến quốc [3] sang đến đầu thời Edo. Ông còn là một hoạ gia xuất chúng, để lại cho đời nhiều tác phẩm sớm được đánh giá cao, đến cuối thời Edo thì đã được giới thưởng lãm yêu chuộng lắm rồi.
[/align]
Đây là tác phẩm của Niten à? So-un lần đầu tiên được thấy tác phẩm của Niten. Xem xét kỹ thì quả thật chẳng phải là bức tranh tầm thường.
[/align]
-"Cho gửi lại đây đi". Hai người bạn nói, rồi ra về.
[/align]
So-un treo bức tranh ấy lên ngay tokonoma, hốc tường trang trọng nhất trong phòng khách, mà ngắm nghía. Cứ ngắm nghía bức tranh ấy suốt ba ngày trời. Kỹ thuật thì không thể gọi là giỏi được. Nhưng con cò trong tranh trông sống động vô cùng. Không chỉ sống động, mà còn có thần lạ lùng, đến như thần thái được tôi luyện hoàn hảo đã hoá thân thành con cò ấy mà bay vào giữa trời đất. Chẳng còn là bức tranh thông thường như hàng trăm bức tranh trên đời, mà rõ ràng chính là nghệ thuật hiện thân đấy.
[/align]
Qua đến ngày thứ ba, So-un gầy đét ra. Bởi có ăn uống gì đâu.
[/align]
-"Kiku à, thấy được bức tranh này thì rõ ra rằng mấy bức tranh của ta vốn chẳng khác gì trò lấp liếm của bọn thợ vẽ". So-un bảo vợ. "Cuối cùng, ta đã hiểu ra được rồi. Có lẽ ta chỉ là tên đàn ông hễ vẽ tranh thì là thợ vẽ, mà hễ nắm thanh kiếm lên thì chỉ là người quen tay cầm kiếm đó thôi".
[/align]
So-un đã thấm thía sự khác biệt giữa mình và Musashi. Musashi đã được trời phú cho thiên tính là khí hồn cao rộng, khí hồn ấy biến thành kiếm thuật, thành tranh. So-un cũng đã được sinh ra với khí hồn trác việt so với người thường, nhưng khí hồn đi đường khí hồn, kiếm thuật đi đường kiếm thuật, kỹ thuật hội hoạ đi đường kỹ thuật hội hoạ, riêng rẽ rời rạc, không hoà hợp được làm một như trường hợp Musashi. Vì vậy, khí hồn bay riêng đi nơi nào rồi, ở hội Thư hoạ, tranh So-un vẽ không biểu hiện được khí hồn trác việt ấy, mà chỉ chăm chú vào khía cạnh kỹ thuật vẽ tranh mà thôi, còn khi So-un thi triển kiếm thuật thì chỉ là sự xảo diệu trong cách quơ kiếm quơ gậy đó thôi, chứ khí hồn thiên bẩm hiếm có kia chẳng hàm chứa chút gì trong kiếm thuật ấy cả. So-un nghĩ thế mà bảo vợ:
[/align]
-"Kiku à, ta hiểu ra được đôi phần rồi".
[/align]
Từ đó, suốt khoảng một tháng trời, So-un thẫn thờ, không vẽ một bức tranh nào mà cũng chẳng hề động đến thanh kiếm. Một tháng trôi qua, đột nhiên So-un cầm bút lên vẽ. Nhưng vẽ một bức tranh trông xấu tệ đến Kiku cũng phải ngạc nhiên.
[/align]
So-un nói: -"Từ đây, ta tập luyện trở lại, quên hết mọi kỹ thuật cũ, coi như mới được tái sinh".
[/align]
Gia cảnh càng ngày càng bần cùng hơn. Không chỉ thế thôi, lại nhằm lúc Edo có dịch tả hoành hành, Kiku bị nhuốm bệnh. Tay chân lạnh ngắt, rồi tê liệt, liên tục thượng thổ hạ tả, chỉ trong một ngày là chết.
[/align]
So-un bỏ ăn bỏ uống. Đối với người có tính khí bạo liệt như So-un, việc mất đi người vợ như Kiku ắt hẳn là nỗi đau khổ khủng khiếp lắm. Đổi danh hiệu thành So-un là đúng vào thời kỳ này. Trước bài vị của Kiku, So-un đã thề nguyện bỏ tên cũ Baikei, tái sinh thành một người khác, bỏ rượu, bỏ thói hung bạo cũ.
[/align]
Chỉ có rượu thì sau một tháng trời gắng nhịn không uống một giọt nào, So-un đã phải xin trước bài vị của Kiku để được uống trở lại.
[/align]
Từ đó, bắt đầu dần dần được mời đến các hội Thư hoạ trở lại, rồi may mắn nhất là được Fujido tước hầu Izumi-no-kami, Lãnh Chúa phiên trấn Tsu ở đất Ise vời đến cấp cho bổng lộc tương đương với 25 hộc. Tất nhiên không phải trong cương vị kiếm khách, mà là hoạ gia của phiên trấn đấy. Thế nhưng So-un đã từ chối ngay:
[/align]
-"Tôi biết ơn ngài đến sa nước mắt, nhưng việc này thì không thể nào bái lĩnh được".
[/align]
Lý do đã hiểu ra là: đã bao nhiêu năm rồi bắt vợ là Kiku chịu cảnh sống cơ cực, rồi lại nhìn vợ chết đi trong cảnh khốn cùng, nên So-un không sao đành lòng mà hưởng phú quý khi vợ mình vừa mất. Vả lại, tuy thân phận là người đã quy ẩn, nhưng vẫn còn giữ hộ tịch ở phiên trấn Ashikaga, đó là lý do So-un đã đưa ra để từ tạ.
[/align]
Sự việc này được người ta biết và cảm phục, nên giá trị tác phẩm của So-un tăng cao, và các hội Thư hoạ tranh nhau mời So-un. Người ta tán thưởng tác phẩm của So-un là: "nét vẽ thô sơ nhưng chứa đựng khí chất to lớn". Thật ra, khí hồn thiên phú trác việt của So-un vẫn chưa biểu lộ được đầy đủ trong tác phẩm. Bởi kỹ thuật hội hoạ So-un đã tập luyện được thì quá xảo diệu, lấn át mất phần khí hồn, nên dù có cố công gói ghém khí hồn vào đi nữa, tác phẩm cũng chỉ đạt được đến một mức độ nghệ thuật nhất định. Không đạt đến mức của Niten được. Bản thân So-un hiểu được điều đó hơn ai hết.
[/align]
Hai người bạn Gyozai và Undo không chỉ làm biến đổi phong cách hội hoạ, mà còn làm biến đổi cả cuộc đời của So-un nữa. Bởi Undo là môn đệ của Yanagawa Seigan (1789 - 1858, nhà thơ). Seigan là chí sĩ Cần Vương (phò Thiên hoàng) quá khích, đến nỗi bị phái Tá Mạc (ủng hộ Mạc Phủ) gọi là "tên bán sỉ những âm mưu hiểm ác", đã chết bệnh ngay trước khi sắp bị bắt vì biến cố Ansei-no-taigoku (1858 - 1860). Undo làm thơ không hay, nhưng chí hướng thừa kế từ sư phụ thì rất nhiệt thành, nên chẳng biết từ bao giờ, đã cảm hoá được cả So-un thành một người theo thuyết Cần Vương. Để rồi sau này, So-un trở thành một chí sĩ Cần Vương còn nhiệt thành hơn cả Undo nữa.
[/align]
Theo với tình hình sôi sục cuối thời Mạc Phủ, So-un đã bôn tẩu bốn phương, đặc biệt là đã kết thân với các chí sĩ Cần Vương thuộc liên minh Choshu-Mito; đám này thỉnh thoảng lại hội họp bí mật ở tửu lâu Manpachi dưới danh nghĩa hội Thư hoạ cũng là do So-un sắp xếp cả. Có lần So-un đã nói với Katsura Kogoro thuộc phiên trấn Choshu rằng:
[/align]
-"Phải chi tôi sinh ra ở phiên trấn của ngài, thì hẳn là giờ này đã kết hợp các phiên trấn phía tây lại thành đạo quân đi đánh Mạc Phủ, nổi trống ba quân mà tấn công thành Edo rồi. Chứ phiên trấn Ashikaga của tôi thì chỉ cỡ 11 ngàn hộc, chẳng làm gì nên chuyện cả".
[/align]
Thật ra, thuyết Đảo Mạc (đánh đổ Mạc Phủ) của So-un thì có phần trẻ con.
[/align]
Thời bấy giờ đã có chuyện truyền tụng như thế này: một hôm ở tửu lâu Manpachi ngoài hội Thư hoạ còn có một nhóm khách khác đang ăn uống ồn ào ở phòng bên cạnh. So-un cũng biết mặt bọn ấy, là đám môn sinh nhà Iba thuộc phái kiếm Shingyo Itto. Nhà Iba đời đời là gia thần của Mạc Phủ nên trong đám môn sinh của nhà ấy có nhiều con cháu của thuộc hạ Mạc Phủ, võ đường của họ nổi tiếng là cao sang. Thêm vào đó, bọn này ưa làm ra vẻ hùng dũng nên trang phục quần cộc võ sinh dắt hai thanh kiếm dài ngắn lồ lộ chĩa ra ngoài, ai thoáng thấy họ bước đi trên đường cũng nhận ngay ra được là môn sinh nhà Iba đấy.
[/align]
Trong đám ấy có Hattori Kanae, con nối dõi chức Hatamoto, bộ tướng của Chúa Tokugawa, lãnh lương ba ngàn hộc, lại là người bảo trợ cho "Cụm gai Rankei", đã cùng nhau loan truyền bịa đặt chuyện So-un phát điên lúc trước. Hôm đó, tên Hattori này từ nhà cầu trở lại, đã đi ngang qua So-un, rồi gây sự rằng So-un đã chạm vào vai hắn. Có lẽ hắn ỷ vào số đông bè lũ, định xúm vào cho So-un ăn đòn hội chợ.
[/align]
-"Thợ vẽ, tránh ra!". Hattori quát lớn.
[/align]
Thói thường, người thường đi ngang qua một vị có vai vế cỡ Hatamoto trên hành lang, thì cho dù là ở tửu điếm đi nữa, cũng phải ép người qua một bên mà khom lưng chờ vị đó đi qua, mới đúng lễ nghĩa. So-un thời đó đã bỏ thói loạn bạo rồi, nên chỉ nói: "Xin thất lễ", rồi định bước qua êm thấm. Nhưng thái độ ấy đã chạm nọc Hattori, hắn quát:
[/align]
-"Đồ bộ tốt mạt hạng!".
[/align]
So-un quay phắt lại:
[/align]
-"Thì đã sao nào? Bộ tốt, hay cao quan, chẳng qua cũng chỉ là danh xưng giả hình trên đời này. Thiên tử ở kinh đô đó kìa, cũng đâu có phân biệt bộ tốt hay cao quan, ai cũng là thần dân, bình đẳng cả đấy chứ, phải không nào?".
[/align]
So-un đưa thuyết Cần Vương đang thịnh hành ra giảng cho đối phương, nhưng toàn thân đã rúng động vì giận dữ.
[/align]
-"Bước ra cổng đi!" Hattori quát lớn.
[/align]
Đã có phe của hắn, 8 người vây lấy So-un.
[/align]
-"Ra ngay đây!" So-un nói.
[/align]
Nhưng nghe thế, "Undo bợm rượu" và "Đười ươi Gyozai" đã vội vàng phóng đến, giữ chặt So-un, kéo vào trong phòng mà năn nỉ đến rưng rưng nước mắt: "Van cậu! Nhẫn nhịn tí đi mà!".
[/align]
So-un cũng hiểu chứ. Công lao khó nhọc của hai người bạn đã bôn ba khắp nơi để vận động cho So-un được chấp nhận trở lại hoạ đàn, không khéo lại trở thành vô ích, nếu xảy ra chuyện ẩu đả ngay đây, làm cho So-un trở lại thành người điên trong mắt người ta.
[/align]
-"So-un, khiếp sợ rồi à?".
[/align]
Bọn Hattori mở toang cánh cửa, từ ngoài hành lang mắng chửi vào.
[/align]
So-un nằm vật ra chiếu, hai bàn tay bịt kín tai, mắt nhắm nghiền lại.
[/align]
-"Ê, bộ tốt, sao nào?" Bọn Hattori mắng nhiếc. "Ngươi nói lời dối trá rằng dưới Thiên hoàng thì thần dân bình đẳng gì đấy, chứ tuy cũng là đao kiếm cả, nhưng tay kiếm của điện hạ nhà ta thì làm sao mà giống cho được củ cải đê tiện bọn ngươi được chứ! Thế nào, so thử xem sao nhé?"
[/align]
-"Không nghe!". So-un vẫn bịt kín tai, hai chân dẫm đành đạch.
[/align]
Bọn Hattori bước vào phòng, vây So-un lại, rồi một tên trong bọn đá vào mặt So-un. So-un né tránh, nhưng việc đó đã khiến So-un nổi điên lên như ngày xưa. So-un bật dậy, chạy nhảy trong phòng, luồn lách dưới mấy lưỡi kiếm, đến lúc cướp được thanh kiếm từ tay một tên nào đấy thì đã bị thương đến nhỏ máu xuống chiếu rồi.
[/align]
-"Bọn khốn kiếp! Ta chém chết hết tụi bây!"
[/align]
So-un gầm lên. Lưỡi kiếm dưới tay So-un loáng sáng, cánh tay phải của Hattori Kanae bay bổng lên không rồi rơi bịch xuống chiếu, bàn tay vẫn còn nắm thanh kiếm.
[/align]
Thời ấy, thế chém vào cổ tay địch của So-un đã vang danh khắp Edo, ngay cả những tay kiếm xuất sắc lắm khi so kiếm với So-un cũng phải thủ kín chỗ bao tay cầm kiếm.
[/align]
So-un chỉ chuyển mình từng chút thôi, nhưng mỗi lần chuyển động, lưỡi kiếm vút đi sáng loáng, trong khoảnh khắc đã có ba người bị chém đứt cổ tay. Cả bọn hoảng sợ, hè nhau chạy trốn ra hành lang, dồn đống ở đầu cầu thang, rồi 2, 3 tên ngã lăn đùng xuống cầu thang.
[/align]
-"Mang cánh tay đi nào!" So-un nhặt mấy cánh tay rơi rụng ấy lên, ném từ cầu thang xuống.
[/align]
Vụ náo động này vậy mà đã không thành to chuyện. Đối với tửu lâu Manpachi, cả hai bên đều là khách quen, nên đã dặn người làm giữ kín miệng. Tất nhiên, chẳng phải làm thế để giúp gì cho So-un, tuy đương nhiên, chủ tửu lâu cũng đã nghĩ về hậu quả của việc bọn Hattori, những kẻ quyền quý như thế mà bị thương tích, nên cũng cám cảnh cho So-un có thể bị xử phạt, nhẹ lắm cũng phải mổ bụng, còn nặng thì bị tước bỏ thân thế võ sĩ mà giáng cấp đời đời làm thứ dân.
[/align]
So-un nhờ Gyozai thay áo quần cho, rồi ra khỏi tửu lâu bằng cửa sau. Undo đưa theo, bảo:
[/align]
-"Hãy tránh đất Edo một thời gian!"
[/align]
-"Ừ". So-un gật đầu. "Tớ trở về Ashikaga đây"
[/align]
-"Rồi sẽ có ngày tình hình sẽ khá hơn mà".
[/align]
Undo an ủi như thế, nhưng cũng hiểu là có lẽ ngày đó khó mà có được. So-un rời bỏ Edo lần này coi như biến mất khỏi hoạ đàn vĩnh viễn rồi. Thật đáng tiếc cho một tài năng xuất chúng! Undo nghĩ như thế.
[/align]

*

So-un rời bỏ Edo, trở về phiên trấn Ashikaga đất Yashu vào mùa xuân năm Bunkyu thứ ba (1863). Phiên trấn này hậu đãi So-un là người danh tiếng lừng lẫy ở chốn thị thành Edo. Tuy thân là một võ sĩ quy ẩn không có bổng lộc gì của nhà Tazaki cấp bộ tốt, nhưng So-un được Lãnh Chúa Toda tước Ooi-no-kami gọi bằng "Tiên sinh", bất cứ lúc nào muốn gặp là vời vào gặp ngay. Có thể xem như là làm cố vấn cho Lãnh Chúa đấy. Mà chẳng phải là cố vấn về chuyện vẽ tranh, Lãnh Chúa hỏi ý kiến So-un về quốc sự, về tình hình chính trị kia.
[/align]
Trong tình thế lúc bấy giờ, tất cả các phiên trấn nhỏ đều hoang mang về xu hướng thời thế, không biết sẽ ra sao. Đương thời, trong nội các của Phủ Chúa Tokugawa cũng đã có khuynh hướng muốn dời cả về vùng kinh đô, Osaka, để hợp tác với Thiên hoàng ở Kyoto, cùng các Lãnh Chúa có thế lực mà gắng gượng điều hành việc nước. Huống hồ phiên trấn nhỏ cỡ Ashikaga chẳng có lấy dinh cơ trú đóng ở kinh đô Kyoto, thì nhà Lãnh Chúa Toda như hoàn toàn bị bịt tai bịt miệng trong tình thế bất trắc ấy. Thế nên, tự nhiên mà cả phiên trấn dần dần phải nương nhờ vào sự phán đoán tình thế của So-un là người hiểu nhiều biết rộng việc đời.
[/align]
Tiếng gọi là phiên trấn chứ thật sự, nhân số thuộc hạ của Lãnh Chúa Toda chỉ gồm có khoảng 30 gia thần trú ngụ tại xứ, với khoảng 60 người trú nhậm ở dinh của phiên trấn trên Edo, thêm chừng 100 người bộ tốt nữa mà thôi, nên còn thua cả lãnh tụ của một băng đảng tội ác nào kha khá, có đông bộ hạ một chút. Đã vậy, trong phiên trấn cũng đang chia thành hai phe Cần Vương, và Tá Mạc; đám võ sĩ trú nhậm ở Edo thì theo phe Tá Mạc, đám gia thần trú ngụ trong xứ thì Cần Vương, không khác gì tình trạng của các phiên trấn khác. Tuy nhiên, cuối cùng So-un đã thu tóm được mọi người theo về cùng một chủ trương chung cho phiên trấn Ashikaga vào khoảng năm Keio nguyên niên (1865): Trong mọi việc, phải trọng sắc lệnh của Thiên hoàng hơn là mệnh lệnh của Mạc Phủ. Có thể nói là Ashikaga đã trở thành phiên trấn duy nhất theo phe Cần Vương trong số 8 phiên trấn nhỏ ở địa phương Kanto.
[/align]
Lúc bấy giờ, lệ bắt các Lãnh Chúa phải năm nay trú nhậm ở Edo, năm sau về xứ (lệSankinkotai, do Phủ Chúa Tokugawa đặt ra) đã bị bãi bỏ, kinh phí đáng lẽ đã phải dùng cho việc dời đổi chỗ ở đó, bây giờ được chuyển sang dùng vào việc tăng cường binh lực sẵn sàng cho việc đánh đuổi người ngoại quốc (Jo-i, Nhương Di, đánh đuổi kẻ man di mọi rợ). Lãnh Chúa mới đem việc ấy ra hỏi So-un:
[/align]
-"Lãnh địa này thu hoạch không bao nhiêu, mà cũng chẳng có của cải sẵn. Tiên sinh có mưu kế gì giúp cho không?"
[/align]
-"Tiện nhân nghĩ chế độ binh bị của Choshu có thể áp dụng được". So-un đáp.
[/align]
Phiên trấn Choshu gom góp quân chí nguyện từ các lực lượng võ trang không chính quy, gồm những người không thuộc giai cấp võ sĩ, để huấn luyện chiến đấu theo cách thức Tây phương. Thế mà dùng vào chiến đấu thực tế thì quân chí nguyện này lại chứng tỏ khả năng cao hơn cả những đội tiên phong của quân chính quy gồm những người thuộc giai tầng võ sĩ cao cấp hơn.
[/align]
Tuy nhiên, trong trường hợp của phiên trấn Ashikaga thì phương sách mà So-un đề xướng nghe chỉ là luận thuyết trống không. Bởi súng Tây phương mỗi khẩu giá 25 lạng vàng, mà phiên trấn thì chẳng có bao nhiêu vàng.
[/align]
-"Không sao, tiện nhân có kế sách rồi. Xin cứ giao cho So-un này, phiên trấn sẽ có ngay một đội quân 200 người võ trang theo Tây phương mà khỏi phải xuất một đồng nào cả".
[/align]
Lãnh Chúa bằng lòng giao việc cho So-un. Nhưng cũng có kẻ phản đối:
[/align]
-"Đề án của So-un nghe có vẻ là diệu án đấy, nhưng không thực tế chút nào cả".
[/align]
Vì vậy, So-un bực bội mà bỏ qua kế sách ấy.
[/align]
Hai năm sau, nhằm vào tháng 10 năm Keio thứ 3 (1867), Chúa Tokugawa lúc bấy giờ là Tướng quân Yoshinobu thình lình giao trả chính quyền lại cho triều đình Thiên hoàng mất. Có thể nói đó là hành vi độc đoán hoàn toàn từ phía Tướng quân (Shogun), làm cho tất cả gia thần của Phủ chúa ở Edo và cả 300 Lãnh Chúa chư hầu đều bàng hoàng, vì thực chất là họ bị bỏ rơi giữa chợ. Vì thế, các phiên trấn đã trở lại tình trạng sứ quân cát cứ từng địa phương của thời Chiến quốc, ít nhất thì cũng tạm thời cho đến khi chính phủ của Minh Trị Thiên hoàng được xác lập.
[/align]
Trước nhất, phiên trấn phải tìm cách tự vệ. Phiên trấn Ashikaga nhỏ bé ấy cũng thấy lo sợ vì thực lực phòng vệ chỉ có khoảng 100 võ sĩ trong tình hình chính trị đầy bất trắc như thế này. Thế rồi, ở đất Toba-Fushimi vùng kinh đô, liên quân ba phiên trấn Cần Vương mạnh nhất là Satsuma, Choshu và Tosa đã xung đột với quân phò Mạc Phủ, khiến Tướng quân Tokugawa thua trận phải chạy về Edo. Lãnh Chúa của phiên trấn Ashikaga phải chắp tay khẩn khoản So-un cứu giúp. Và thế là từ đó, quyền chấp chưởng binh mã của phiên trấn Ashikaga đã được giao trọn vào tay một hoạ gia xuất thân võ sĩ tầm thường là Tazaki So-un. So-un năm đó 52 tuổi.
[/align]
Diệu kế của So-un có lẽ đã thành công được chính là nhờ vào tình trạng đặc biệt của phiên trấn Ashikaga. Bởi lãnh địa này tuy chỉ là một phiên trấn nhỏ, nhưng lại là đất công nghiệp có nghề dệt máy lừng danh thiên hạ nên có rất nhiều nhà buôn giàu có. So-un soạn ra một bố cáo gọi là "Cương lĩnh về việc thiết lập đội quân Thành tâm Chí nguyện" rồi lấy danh nghĩa của Lãnh Chúa mà Ba-tư biến khắp trong phiên trấn. Người nào hưởng ứng gia nhập vào đội quân Thành tâm Chí nguyện này thì bất kể xuất thân từ giai cấp nào, cũng được chấp nhận danh phận võ sĩ. Mà không phải chỉ ở cấp bộ tốt mạt hạng, mà được kể vào cấp võ sĩ cận thần của Lãnh Chúa nữa. Có điều, muốn được như thế, phải tự chi phí mà sắp sửa quân trang cho mình, kể cả một khẩu súng kiểu mới, nạp đạn ở cuối nòng, và hai thanh kiếm dài ngắn. Chẳng phải là thứ rẻ! Súng giá 25 lạng vàng, đạn dược hết 3 lạng, ngoài ra hai thanh kiếm và quân phục đẹp đẽ cũng mua luôn vào thì tổng cộng có thể lên đến 200 lạng vàng.
[/align]
So-un đi vòng vòng viếng các nhà buôn giàu có vốn là khách mua tranh của mình, thuyết phục họ gầy dựng cho con em, cho cháu họ trở thành võ sĩ samurai (là giai cấp cao nhất thời bấy giờ). Tất cả đã hoan hỉ hưởng ứng, con số chiêu mộ được lên quá dự định 200 người. So-un cho người đi Yokohama mua súng đạn, vũ khí về bắt bọn lính mới trả tiền.
[/align]
Tư lệnh đội quân mới này chính là So-un. Quân trang của binh sĩ tuy vẫn là quần áo thùng thình, ống quần ống áo suông đuột, nhưng vì toàn quân là sĩ quan cả, nên bên trên còn khoác thêm chiến bào đủ kiểu hào hoa oai vệ, dắt hai thanh kiếm nạm vàng nạm bạc, đầu đội nón trận màu hạt dẻ có ngù đỏ phía sau, có vành che nắng viền hoa văn bằng vàng, cột dưới cằm bằng dây luạ trắng.
[/align]
-"Nhìn xem! trông cứ như là cấp Hatamoto cả ấy!"
[/align]
So-un vui sướng mà nói như thế, trên mình ngựa trong ngày tập trận đầu tiên của đội quân mới. Sau đó, cùng với sự sụp đổ của Mạc Phủ, đây đó có những đám cướp nổi dậy, So-un cỡi ngựa, thống suất quân sĩ đi các nơi dẹp yên được cả.
[/align]
So-un đắc ý vô cùng, nghĩ rằng phải chi Kiku còn sống để khoe với vợ:
[/align]
-"Kiku em ơi, nghĩ cho cùng thì ta không phải là thầy vẽ mà cũng chẳng phải là tay võ nghệ gì. Ta là như thế này đây!".
[/align]
Trong số 8 phiên trấn nhỏ ở địa phương Kanto này, không có lãnh địa nào có được lực lượng quân sự trang bị đầy đủ súng ống đến mức như Ashikaga cả. So-un phóng ngựa tung hoành, chỉ huy ba quân, hạ lệnh bắn súng đồng loạt, nghĩ mình chẳng khác gì những võ tướng oai hùng thời Chiến quốc. Ngay cả khuôn mặt So-un lúc này cũng thay đổi. Không còn hung hãn nữa, mà có vẻ nhu hoà. Có lẽ bản chất nguyên sơ của So-un đã sống lại bên trong So-un rồi.
[/align]
Sau đó không bao lâu, đội quân cũ một ngàn tám trăm người của Mạc Phủ đóng ở Edo không chịu phục tùng lệnh Mạc Phủ thần phục chính phủ Thiên hoàng mới, đã do Tư lệnh Bộ binh Furuya Sakuzaemon chỉ huy, thoát chạy khỏi Edo, định dùng bạo lực mà trấn áp toàn vùng Kanto. Nói gì đi nữa, đây cũng là một đạo quân lớn mạnh, trang bị đầy đủ vũ khí theo lối quân đội Pháp, nên tiến lên phía bắc là khiến cho các phiên trấn vùng Kanto run sợ. Đã có những phiên trấn như Oshi mở cửa thành đón quân ấy vào. Quân Furuya tiến lên hướng Hanyu vùng Musashi, sắp sửa tấn công phiên trấn Ashikaga. Có lẽ chúng định chiếm lấy vàng bạc của dân giàu trong phiên trấn này làm quân phí.
[/align]
Furuya Sakuzaemon cho quân xích hầu trà trộn vào phiên trấn Ashikaga để do thám tình hình. Báo cáo về đã làm mọi người kinh ngạc. Bởi quân sĩ thủ bị ở đó đều là võ sĩ cao cấp đội nón trận có ngù đỏ phía sau cả, mà cả thảy có tới khoảng 200 người! Sĩ quan đến 200 người thì phải là quân lực của một phiên trấn cỡ 5, 6 vạn hộc! Đương nhiên còn phải có bộ tốt nữa, theo đó mà ước tính thì có thể có đến trên 500 bộ tốt?
[/align]
Nhà Toda phiên trấn Ashikaga này thì giỏi lắm cũng chỉ khoảng một vạn hộc chứ gì? Furuya không tin được nên đã tự mình đi xích hầu dọ thám, thấy được tận mắt quả như thế thật nên lại càng kinh ngạc. Toàn quân là sĩ quan cao cấp võ trang bằng súng ống Tây phương cả, mà súng lại là kiểu mới nạp đạn cuối nòng, đúng là kiểu súng Minier tối tân!
[/align]
Furuya bèn thay đổi chiến thuật, chờ cho bộ đội đi sau đến tăng viện, tạm thời đóng quân ở xóm quán trọ Yanada cách Ashikaga hơn một dặm (khoảng 4 km) về phía đông nam, sai sứ giả đến Ashikaga ra lệnh phải đầu hàng.
[/align]
Trong phiên trấn Ashikaga, phái chịu đầu hàng cũng đông. Bởi địch thủ là đại quân 1800 binh, làm sao mà địch cho lại. Nhưng So-un không muốn đầu hàng, chỉ gửi một sứ giả giỏi biện thuyết đến trại quân Furuya nói rằng: -"Cũng muốn làm theo lời ngài, nhưng trong phiên trấn, ý kiến chưa thống nhất được, đang ở trong tình trạng bất ổn. Xin chờ cho ít lâu, sẽ thống nhất ý kiến mà mở cửa rước quân ngài vào", mục đích là để câu giờ.
[/align]
Lúc bấy giờ, So-un đã biết được tình hình là quan quân của triều đình phái đi bình định các địa phương phía đông dưới sự chỉ huy của Itagaki Taisuke, sĩ phu của phiên trấn Tosa, đã chiến thắng đạo quân Tá Mạc của Kondo Isami ở phiên trấn Katsunuma vùng Koshu, đang tiến về phía đông, sắp sửa đến vùng Takasaki rồi. Lúc đó là ngày 3 tháng 3 năm Mậu Thìn (1868). Quả nhiên đến ngày 5, đã có một tiểu đội tiên phong của quân triều đình vào đến Tatebayashi.
[/align]
So-un muốn cấp tốc liên lạc với đạo quân này nên một mình một ngựa rời Ashikaga, đột nhập khu vực bản doanh của Furuya là Yanada, khéo léo luồn lách mà qua được xóm quán trọ này, nhắm hướng Tatebayashi phóng chạy. Lúc đó, quân Furuya đã hay được, một trăm tay súng bắn vói sau lưng So-un, một phát trúng yên ngựa, một phát trúng bao kiếm, nhưng So-un kịp phóng chạy vô sự mà đến được Tatebayashi để liên lạc với quân triều đình.
[/align]
Sáng ngày 8 tháng 3, quân triều đình, là bộ đội liên hợp của các phiên trấn Cần Vương Tosa, Satsuma, Choshu, Ogaki, Hikone đã chiến đấu và đánh tan quân Furuya ở Yanada.
[/align]
Lãnh Chúa Ashikaga chắp tay bái tạ So-un:
[/align]
-"Được thế này là nhờ công lao của So-un tiên sinh đó".
[/align]
Trận đánh ở xóm quán trọ Yanada đã có trên trăm binh sĩ của quân Furuya chết hay bị thương, quân triều đình chỉ có 3 người bị thương. Còn phiên trấn Ashikaga nhờ vào đội lính kiểng 200 người của So-un mà không cần bắn một viên đạn, không ai chết hay bị thương cả mà vẫn đạt được chiến thắng đáng gọi là "không cần đánh vẫn thắng" ấy.
[/align]
"So-un là danh tướng" trở thành sự thực được loan truyền lên đến tận Edo, lọt vào tai hai người bạn Undo và Gyozai. Undo sửng sốt:
[/align]
-"Người ấy đã thay đổi đến thế kia à?"
[/align]
Chứ nếu vẫn như là thời kỳ "Baikei quậy" trước đây thì trong hoàn cảnh như thế, hẳn là Baikei ấy đã rút kiếm xông ngay vào trận địa của địch mà chém giết náo động, khiến cho nhiều người cả hai bên chết hay bị thương rồi.
[/align]
Thời Minh Trị mở ra. So-un trở lại thành hoạ gia. Vẫn lưu lại Ashikaga, không hề lên Edo. Khi nào hứng thì vẽ tranh, còn bình thường thì chỉ là một ông già chuyện trò cười nói bình thường với người lân cận mà thôi. Tác phẩm của Tazaki So-un bắt đầu truyền lại được cho đời sau là từ thời kỳ đó. Phong cách hội hoạ đã khác hẳn với thời kỳ ở Edo, lúc này tranh của So-un bắt đầu đượm một khí vị kỳ vĩ khác hẳn trước. Tuy không chú tâm như thế, mà dù lối vẽ có khác nhau, nhưng dần dần tranh của So-un bắt đầu hàm chứa cảm giác sống động lạ thường, tương tự như người ta thường cảm nhận được từ tranh của hoạ bá Niten mà cũng là kiếm hào Musashi.
[/align]
Chính đương sự So-un thường cười bảo người chung quanh rằng:
[/align]
-"Thời thế Duy Tân náo động ấy đã giúp ta giải độc được hết sạch rồi".
[/align]
Nghĩa là quá trình trở thành Đại tướng tư lệnh quân đội trên thực chất của phiên trấn Ashikaga ấy đã giải trừ được tất cả độc khí của thân phận một "tay vẽ tranh xuất thân bộ tốt" từ lâu tiềm tàng trong con người So-un. Dù gì đi nữa, có vẻ là vào thời kỳ ấy, tuy chính bản thân So-un thì không để ý, nhưng võ nghệ, kỹ thuật hội hoạ và khí hồn của So-un đã hoà chung làm một trong bản thể là Tazaki So-un ấy rồi.
[/align]
Edo đã trở thành Tokyo (Đông kinh). Hoạ đàn của chốn đế đô này đã quên lãng So-un mất rồi. Tuy sự thực thì chính hoạ đàn cũng chịu ảnh hưởng của thời thế biến động vì cơn sốt Duy Tân mà lâm vào tình trạng gần như đóng kín cửa. Mãi đến năm Minh Trị thứ 8, 9 (1875, 1876) mới trở lại náo nhiệt được như cũ.
[/align]
Tháng 5 năm Minh Trị thứ 9, ở tửu lâu vùng Asakusa, lâu ngày mới có một hội Thư hoạ khai mạc, hầu như tất cả các nhân vật danh tiếng trong giới thư hoạ đương thời đều tham gia. Hội Thư hoạ ấy có triển lãm một bức tranh không có ấn ký của tác giả. Tranh vẽ con ngựa. Chỉ là một bức tranh nhỏ, nhưng phẩm cách kỳ vĩ đến nỗi tạo được cảm giác áp bách lên toàn thể hội trường, khiến người xem nín thở nghẹn lời. Nhưng chẳng biết tác giả là ai.
[/align]
Người ta bàn tán náo nhiệt một hồi rồi Gyozai bước vào nói:
[/align]
-"Vẽ tranh đến được mức độ này thì ngày xưa có Niten, còn đời bây giờ thì chỉ có So-un ở xứ Ashikaga chứ chẳng ai khác được".
[/align]
Mà quả thật đó là tác phẩm của So-un.
[/align]
Gyozai ngắm bức tranh ấy một hồi thì đâm nhớ người bạn cũ lạ lùng, nên tức khắc sai một người chuyên cung cấp dụng cụ hội hoạ lên đường đi gấp đến phiên trấn Ashikaga. Để chuyển lời khuyên So-un hãy trở lại Tokyo, chứ sao lại phải chịu mai một tài năng ở cái phiên trấn nhỏ bé quê mùa ấy.
[/align]
Thế nhưng So-un không chịu dời đi. Giữ người sứ giả ấy lại làm bạn rượu, So-un uống một trận thoả thích, rồi nói:
[/align]
-"Có sao đâu. Tokyo thì đã có gã đàn ông cỡ Gyozai, một người là đủ quá rồi. Đâu cần đến ta phải lên đó làm gì nữa".
[/align]
Đến cuối đời, So-un cũng không rời đất Ashikaga, đến năm Minh Trị thứ 31 (1898) thì mất, thọ 83 tuổi.
[/align]
Người đời sau gọi ông là "Niten của thời Minh Trị". Nghĩa là kiếm thuật không bằng được Musashi, nhưng kỹ năng hội hoạ thì xấp xỉ Niten rồi.
[/align]
Sau khi chết, So-un được truy tặng hàm Tòng Ngũ phẩm do công trạng trong công cuộc Duy Tân.

[/align]

(Tạp chí Shosetsu Shincho - Tiểu thuyết Tân triều, số tháng 7 năm 1964)
[/align]
[/align]

Phạm Vũ Thịnh dịch
Sydney 03-2008
[/align][email=t4phamvu@hotmail.com]


[/email]


Chú thích:
[/align][1] Edo : trung tâm cai trị của Phủ Chúa Tokugawa, bây giờ là Tokyo.
[/align][2] Hộc : Koku, đơn vị đo lường, khi dùng để tính bổng lộc của võ sĩ, hay lực kinh tế của phiên trấn thì khoảng 150 kí gạo,
[/align]khi dùng để tính dung tích thuyền bè thì khoảng 180 lít.
[/align][3] Thời Chiến quốc : 1467-1568, các sứ quân cát cứ các nơi đánh nhau hỗn loạn, cho đến khi Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu tiếp nhau hoàn thành cuộc thống nhất, mở ra thời Phủ Chúa Tokugawa.


[/align]Ghi chú của người dịch:
[/align]Truyện ngắn "Kenka So-un" (So-un ưa đánh lộn) của Shiba Ryotaro, được dịch từ nguyên tác là truyện thứ 3 trong tập truyện "Bajo shonen sugu" (Thiếu niên cỡi ngựa chạy qua), bản bỏ túi, do nhà Shincho Bunko tái bản lần thứ 24 tháng 5 năm 1987.
[/align]
 

[/align][/align]
Ta muốn sống an bình. Nó chà đạp ta. Ta phải đánh đổ nó. Nó kềm kẹp ta. Ta phải đánh trả nó. Muốn đánh trả ư? Làm sao được khi ta còn không có chí đánh? Làm sao được khi thân ta còn lo sợ an nguy, sợ hãi cái chết?

(Trích Karl Marx)
Đăng nhập để trả lời
0
Chân thuyết Miyamoto Musashi
 
Nguyên tác: Shiba Ryou Tarou
Người dịch: Nhất Như
 
 
Lời người dịch:
 
Không thể phủ nhận được rằng Miyamoto Musashi là kiếm khách vĩ đại nhất trong lịch sử Nhật Bản, nếu không muốn nói trên phạm vi rộng hơn. Tuy nhiên cuộc đời của bậc kiếm hào này còn ẩn chứa nhiều điều bí ẩn. Có nhiều thuyết về nhân vật này nhưng tựu trung là không thống nhất với nhau về một số điểm. Trong số đó, Shiba Ryou Tarou đã dựng lại hình tượng kiếm khách Miyamoto Musashi qua truyện ngắn "Chân thuyết: Miyamoto Musashi" được in trong tập tiểu thuyết thời đại cùng tên do Koudansha xuất bản năm 1983.
Trong số nhiều tư liệu để lại về nhân vật này thì Shiba đã chọn lọc những tư liệu mà mình tin tưởng nhất. Hay nói cách khác đây là "sáng tác" mang chủ ý của tác giả chứ không đơn thuần là một bài khảo cứu về nhân vật lịch sử. Và tuy gọi là tiểu thuyết nhưng Shiba cũng không đi quá xa sự kiện lịch sử. Làm bạn với nhân vật lịch sử và có những cách lý giải độc đáo về nhân vật đó là những đặc điểm của Shibaryou Tarou. Đừng nghĩ rằng những điều được viết ở đây là đúng hay không so với lịch sử. Chỉ nên tiếp nhận nó với thái độ trung dung, người đọc sẽ thấy được cái nhìn độc đáo của tác giả về quá khứ.
Một điều xin lưu ý là những thuật ngữ như “binh pháp”, “binh thuật” nghiêng về nghĩa võ nghệ, kiếm thuật nhiều hơn là chỉ khả năng về mặt quân sự trong thời kỳ đó.
 
 
 

Một

Ngày nay ở khu Ozuka thuộc quận Bunkyo thủ đô Tokyo có ngôi chùa Gokokuji (Hộ Quốc Tự) vốn được sinh mẫu của Tướng Quân đời thứ năm Tokugawa Tsunayoshi là Kei Shouin phát nguyện xây dựng từ những năm Genroku (1). Có thuyết nói rằng ngôi chùa này mô phỏng theo lối kiến trúc của chùa Kiyomizu Dera ở Kyoto nên khu phố trước cổng chùa có tên là Otowa. Otowa vốn là tên của một ngọn thác nổi tiếng trong lành từ thời cổ ở bờ vực phía nam chùa Kiyomizu Dera ở Kyoto. Cho đến bây giờ thì giới thưởng trà ở Kyoto vẫn hay đến đây lấy nước về pha trà.
Đương thời, khu vực Ozuka này có nhiều đồi núi nhấp nhô giống Omuro ở Kyoto mà hoa anh đào núi cũng mọc nhiều nên rất được giới văn nhân mặc khách trong thành ưa chuộng, cứ xuân đến là người thưởng hoa từ khắp nơi đổ về đây. Thật không khác những nơi dân dã ở Musashino là mấy.
Mấy năm sau niên hiệu Genroku, vào thời Houei (2)  thì trước chùa Gokokuji xuất hiện một mái am của một lão nhân ẩn cư. Năm đó lão nhân được một trăm hai mươi tám tuổi.
Lão tên là Watanabe Kouan, chính là nhân vật vào cuối đời để lại tập sách "Kouan Taiwa" (đối thoại với Kouan). Và nghe đâu lão Kouan này sinh vào năm Tenshou (3) thứ mười trong cùng tháng khi Oda Nobunaga bị thuộc hạ Akechi Mitsuhide tạo phản sát hại ở chùa Honnou (4). Tuổi tác của lão quả là đáng ngạc nhiên và trở thành đề tài bàn tán cho dân trong thành Edo.
Nhưng kinh lịch của lão nhân này chẳng phải là tầm thường, lão vốn là một Hatamoto (5) được Tướng Quân Tokugawa Ieyasu sủng ái, sau đó phục vụ cho Tướng Quân đời thứ hai là Hidetada và trở về cai trị thành Fushimi vào những năm Keichou (6). Lão Kouan này cũng đã từng xuất chinh trong trận mùa đông và mùa hè công thành Osaka, lập được công trạng nên sau cuộc chiến được phong tước Yamashiro Nokami (nghĩa là quan đầu xứ Yamashiro), sau trở thành quan giám sát cho chúa thành Suruga là Dainagon Tadanaga (con thứ của Tướng Quân Hidetada), bổng lộc một vạn hộc. Song sau đó chủ nhân Tadanaga bị anh trai mình là Iemitsu ngầm hại, họ Tokugawa ở Suruga tuyệt diệt nên Watanabe Kouan trở thành Samurai vô chủ. Theo như lời đương sự sau này thì lão đã chu du sang Trung Hoa, lang bạt qua các miền rồi trở về nước ba mươi năm sau. Sau khi về nước lão Kouan dựng am ẩn cư trước chùa Gokokuji.
Lão nhân Kouan mất vào năm Houei thứ tám, được một trăm hai mươi tám tuổi. Hai năm trước đó, vào mùa xuân năm thứ tám cùng niên hiệu có chúa phiên Kaga một trăm vạn hộc (7) là Thái Thú Maeda Tsunanori nghe tin đồn về kinh lịch của Kouan nên cho hầu cận thân tín là Sugiki Sannjou đến thăm viếng và ghi chép lại những chuyện về nhân vật này.
Khi Sugiki Sannjou đến thăm Kouan thì rất đỗi ngạc nhiên vì dung mạo của lão không khác người ở tuổi bảy mươi là mấy. Răng hãy còn cứng, tai hãy còn tinh tường như người trẻ tuổi. Chỉ có đôi chân là hơi yếu, khi đi lại gặp chút khó khăn.
Từ đó trở đi Sugiki đều đến thăm Kouan đều đặn trong vòng hai năm cho đến lúc mất. Những điều nghe được ghi chép thành tập chừng trăm tờ giấy. Đó là tập "Kouan Taiwa" còn sót lại đến ngày nay.
Nội dung của tập đối thoại này là những điều Kouan tai nghe mắt thấy trong suốt cuộc đời kéo dài hơn một thế kỷ của mình, có những chuyện đàm luận lịch sử, chiến trận, mà cũng có cả những câu chuyện truyền miệng khôi hài như

- Gongen sama (chỉ Ieyasu) viết chữ xấu như thằng không biết chữ.

Kouan nói.

- Gongen sama học chữ ở chùa Hozouin xứ Mikawa nhưng ngay cả những chữ cơ bản nhất viết cũng không nên. Mà chữ ký cũng bẩn thỉu lắm.

Đấy là chuyện của hơn chín mươi năm sau từ khi Ieyasu qua đời.
Đáng lý ra không nên châm chọc những chuyện xấu của cố chủ, nhưng con người ta khi đã sống đến một trăm hai mươi tám tuổi rồi thì còn cần gì đến e dè hay đàm tiếu của thế gian.
Nhân vật Watanabe Kouan này hơn Miyamoto Musashi hai tuổi và sống hơn nửa thế kỷ kể từ khi Musashi mất. Trong suốt cuộc đời hơn trăm năm này, Kouan đã từng thực tế quan sát Miyamoto Musashi. Ký sự về Musashi cũng xuất hiện trong tập đối thoại này.
Đến đây, tại sao tôi lại viết dài dòng về lão Kouan này, là vì tôi nghĩ rằng để quyết định hình tượng kiếm khách Musashi còn chưa rõ ràng này thì "thực kiến" của Watanabe Kouan là đáng tin cậy nhất. Vả lại những chuyện về Musashi thì chính ông có viết lại trong cuốn "Gorin no sho" và trên văn bia do dưỡng tử Miyamoto Iori dựng, "Niten koji bumi" (văn bia Nhị Thiên cư sĩ. Nhị Thiên là hiệu của Musashi sau này) và sau này có nhiều chuyện do hậu nhân viết lại nhưng nếu dựa vào giải thích của những tư liệu này thì cũng có thể hiểu Musashi chẳng phải là một kiếm hào vĩ đại đến thế. Thật ra thì những thuyết như thế này nhiều lắm.
Musashi trong cuốn "Gorin no sho" có viết về kiếm lịch của mình rằng

- Ta từ nhỏ đã để tâm đến binh pháp, chu du qua nhiều xứ, gặp nhiều binh pháp giả, đấu hơn sáu mươi trận nhưng chưa một lần thất bại.

Đúng là mình nói về mình thì sao cũng được. Nhưng "binh pháp giả" mà Musashi nhắc tới là những ai? Trừ danh môn Yoshioka ở Kyoto ra thì bọn Musou Gonnosuke, Ose Hayato hay Tsujikaze gì gì đó chỉ lạ bọn kiếm khách hạng hai, hạng ba mà thôi. Musashi sống vào đầu thời Edo, là thời đại hoàng kim của trong lịch sử võ nghệ Nhật Bản và Edo chẳng phải là nơi tập trung anh hùng hào kiệt, danh nhân thiên hạ sao? Có thể kể qua một vài cái tên ở Edo, như Yagyu Tajima Nokami Munenori, thế sao Musashi không một lần ghé đến?
Dĩ nhiên Yagyu Munenori là quan tổng giám sát (Ometsuke), trọng thần của Mạc phủ , là một Daimyou một vạn hai ngàn năm trăm hộc, lại giữ chức "Kiếm thuật chỉ nam" cho nhà Tướng Quân Tokugawa thì chẳng có lý gì nhận lời thách đấu của một kiếm sĩ giang hồ lang bạt như Musashi cả. Nhưng trong số bọn môn đệ của nhà Yagyu thì có những người được thừa nhận là danh nhân thiên hạ như Kimura Sukekurou, Shouda Kizaemon, ngoài ra còn có Kamiya Denshin phái Shinkage Ryu đời thứ năm, Onojirou Uemon phái Ittou Ryu,.... Musashi mấy lần đặt chân đến Edo nhưng không hề thấy dấu tích gì của việc đến thăm viếng những kiếm khách có kiếm lịch rõ ràng này. Thế là tại sao?
Từ nghi vấn này, hiện tại xuất hiện thuyết Musashi "phi danh nhân". Luận cứ của thuyết này chỉ là "vì Musashi không đấu với những danh gia này". Tại sao Musashi không giao đấu với những bậc danh nhân được thiên hạ công nhận này và ghi chép kiếm lịch của mình rõ ràng hơn? Để trả lời câu hỏi này thì chắc chỉ có cách hỏi đương sự đang nằm dưới lòng đất mà thôi.
Nhưng cho dù những ghi chép rõ ràng về Musashi không nhiều thì cũng không thể phủ nhận tài năng về kiếm thuật của nhân vật này được. Ở đây tôi dẫn ra nhân vật Watanabe Kouan sống cùng thời đại với Musashi và chỉ hơn hai tuổi là có lý do. Watanabe Kouan này trước đây là gia thần của Mạc phủ, theo học binh pháp với bạn đồng liêu Yagyu Tajima Nokami Munenori và nhận được ấn chứng của phái Yagyu Ryu. Vả lại vào những năm Houei này thì cả Musashi lẫn Munenori đều đã ra người thiên cổ, Kouan đã sống đến từng tuổi này thì chẳng còn e dè ngại ngùng gì. Vì vậy có thể nghĩ là nhận xét của Kouan là đáng tin cậy. Lão Kouan nói với gia thần của phiên Kaga rằng

- Ta vốn là đệ tử của Yagyu Tajima Nokami, nhận được ấn chứng của kiếm phái Yagyu Ryu. Lúc đó có bậc danh nhân Takemura Musashi, người này tự học và rèn luyện mà hội đắc kiếm pháp. Nếu so sánh với Tajima thì như trong ván cờ, Musashi chấp quân mà vẫn mạnh.
 
Chấp quân mà vẫn mạnh. Nghĩa là Kouan đánh giá Musashi cao hơn cả chức "Kiếm thuật chỉ nam" của Tướng Quân.
Đoạn sau chắc Kouan chau mày mà thêm vào

- Người đó vốn ghét rửa chân, cả đời không bao giờ tắm gội.

Chuyện Musashi ghét tắm gội thì tư liệu nào cũng có ghi nên chắc là sự thật. Hình dung bụi bặm bẩn thỉu chắc là trở thành đề tài đàm tiếu đương thời.
Musashi đôi khi chỉ vắt khăn mà lau chùi mình mẩy. Y phục thì bất kể xuân hạ thu đông, suốt bốn mùa chỉ mặc độc một bồ đồ bằng vải gai thô. Vì muốn che giấu cáu bẩn nên chọn loại vải đỏ đồng màu không có hoa văn gì. Vào cuối đời cũng chẳng mấy thay đổi, cho dù là cáu ghét thì cũng vẫn bình thản chẳng để tâm, thường mặc Hakama nhuộm hoa văn Uzuramaki và chiếc áo chẽn không tay.
Tóc tai cũng chẳng chỉnh trang gì. Thuở nhỏ trên đầu mọc mụt nhọt nên không thể cạo đầu để kiểu tóc Sakayaki như các Samurai khác được. Tóc Musashi buộc thành búi sau gáy, thời còn trẻ đã dài đến thắt lưng, khi về già thì thòng qua vai. Nhưng mắt Musashi như tròng trứng, thân cao năm thước tám thốn (9), cốt cách to lớn mà không có ria mép. Người ria mép thưa xuất hiện nhiều ở vùng Kinki, Chuugoku và là đặc trưng của hệ Triều Tiên, Mông Cổ.

- Vì vậy mà không đến gần bậc quyền quý.

Kouan nói. Vì Musashi là kiếm sĩ giang hồ không vợ con lại không tắm gội nên ngại đến chỗ quyền môn danh sĩ. Nhưng cũng không thể nói là vì dung mạo nhếch nhác mà không giao thiệp với các kiếm khách bậc nhất mà chỉ tìm giao đấu với bọn kiếm khách hạng hai quê mùa được.
Tức là, thời trẻ Musashi không đến những chỗ quyền quý có lẽ xuất phát từ tính cách cương mãnh cao ngạo mà cô độc gần như người cuồng của ông.
Và lão Kouan này gọi Miyamoto Musashi là Takemura Musashi.
Không rõ là trí nhớ của lão Kouan có chính xác hay không, hay là lúc lên Edo Musashi lấy họ giả là Takemura. Thực ra vào đương thời, họ tên không phải là thứ đăng ký hộ tịch về mặt pháp luật như thời nay. Tùy vào hoàn cảnh gia hệ mà cùng một nhân vật có thể có rất nhiều họ. Những trường hợp này không hiếm trong xã hội Nhật cũ. Về mặt gia hệ thì Musashi thuộc dòng Fujiwara (có thuyết nói là Sugawara), có ba họ là Hirata, Shinmen, Miyamoto, đôi khi nghe thấy cả họ Hirao nữa. Cái nào cũng là họ huyết thống của Musashi. Còn về tên thì là Musashi, Masana và sau này đổi thành Masanobu. Vì vậy mà xuất phát nhiều thuyết về nhiều nhân vật Musashi. Theo những thuyết này thì có những nhân vật loằng nhoằng giống nhau như Hirata Musashi, Takemura Musashi, Shinmen Miyamoto Musashi, lại còn còn Musashi Masana, Musashi Harunobu. Những nhân vật này chu du qua nhiều nước, giao đấu với nhiều người và hậu nhân dựa vào những truyện truyền kỳ, tung tích của những nhân vật này mà tổng hợp thành thuyết Miyamoto Musashi thông dụng như ngày nay.
Lại có một thuyết lạ lùng nữa là có người thợ rèn kiếm ở Mimasaka, nơi Musashi sinh ra, vì muốn quảng bá cho kiếm của mình nên cho mấy người xưng tên Musashi đi khắp nơi trong nước. Nhưng dù sao thì thuyết này cũng không mang tính thuyết phục lắm.

- Musashi chẳng những tinh thông võ nghệ, mà thi ca, trà đạo, cờ vây cờ tướng, chư nghệ chư năng thảy đều tinh thông tường tận.

Kouan xác nhận trong tập đối thoại. Sự thật là Musashi (về sau lấy hiệu là Niten-Nhị Thiên) là một họa gia, một nhà điêu khắc không thể thiếu trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản. Tác phẩm của ông được giữ đến ngày nay cũng rất nhiều. Như bức tranh "Koboku meigekizu" (chim đậu cành khô) vẽ một cánh chim bách thanh (mozu) đậu trên cành khô được xem là tác phẩm quan trọng của mỹ thuật Nhật Bản và chỉ cần nhìn là có thể hiểu ngay đây không phải là một họa phẩm do họa sĩ nửa mùa vẽ được. Với tài năng như thế thì chỉ có thể nói là cùng một người duy nhất mà thôi.
Nếu xét về cuốn "Gorin no sho" thì có thể nói đây là một áng danh văn ý tưởng mới lạ mang tính luận lý cao, thuật ngữ thì từng chữ từng ý rất nghiêm mật, rất gần gũi với văn chương hiện đại. Cho đến trước thời Meiji (Minh Trị) thì những áng văn bình dị mà đạt ý như vậy chỉ có thể thấy ở tập sách "Tanni shou" không rõ tác giả, của cao tăng Rennyo Shounin, người có công trùng hưng chùa Honganji vào cuối thời Muromachi và Musashi mà thôi.
Vì vậy có thể nói rằng với tài năng xuất chúng ở nhiều mặt nói trên thì chỉ có thể là một người duy nhất. Đây hẳn là điều đương nhiên.
 
 
 
Hai
 
 
Kiếm khách giang hồ này ra đời vào tháng ba năm Tenshou thứ mười hai tại làng Miyamoto quận Yoshino thuộc xứ Mimasaka (Có thuyết khác về nơi sinh của nhân vật này nhưng ở đây không có mục đích khảo chứng lịch sử nên tác giả chỉ sử dụng những tư liệu mà mình tin tưởng nhất). Phụ thân là Shinmen Munisai.
Dường như Munisai là một con người kỳ lạ. Một hôm, khi đã bước vào tuổi bốn mươi, Munisai đang ngồi trong phòng vót tăm thì thấy bóng Bennosukei (tên thời còn bé của Musashi) đẩy cửa  Tobusuma (cửa lùa dán giấy kiểu Nhật) bước vào nghịch phá lưỡi dao đang gọt của mình. Thằng nhãi lại còn trêu chọc võ nghệ của thân phụ. Về điểm này thì có thể thấy thời bé Musashi không phải là một đứa trẻ dễ thương. Tuy là con trai mình nhưng hình như Munisai không ưa Bennosuke, chỉ vừa trông thấy mặt là đã kích động, phóng con dao trong tay nhưng Bennosuke tránh được. Cuối cùng thì Munisai không chịu nổi rút đoản kiếm phóng về phía con trai.

- Mày thử tránh xem!

Quả là hai cha con kỳ lạ. Bennosuke nhẹ nhàng tránh được, vừa rút mũi kiếm đã cấm phập vào cột nhà vừa cười ngạo nghễ. Nếu câu chuyện trong tập bút ký "Tanji Houkin Hikki" này là sự thật thì có thể thấy gia hệ của Musashi toàn những người có máu cuồng loạn.
Shinmen Munisai là một binh pháp giả nhà quê và nếu dựa vào gia hệ nhà Hirata vẫn còn lưu truyền đến ngày nay ở khu phố thương nhân vùng phụ cận làng Miyamoto thì Munisai là trưởng tử của Hirata Shougen, một Samurai coi sóc khu vực quanh làng Miyamoto và Nakamura ở Mimasaka.
Ông nội của Musashi là Hirata Shougen phục vụ lãnh chúa Shinmen Iganokami Norishige cai quản một dải đất quanh Miyamoto và làm đến chức Tổng quản (10). Có thể xem địa vị của Shougen là một chức quan nhỏ chạy việc vặt cho thôn trưởng. Shougen được chúa Norishige sủng ái nên được mang họ Shinmen của chúa. Họ Shinmen của nhà Miyamoto bắt đầu từ đây.
Munisai kế thừa sự nghiệp của phụ thân Shougen và được truyền tụng là vũ dũng không ai bằng. Munisai tinh thông kiếm pháp, vào tuổi trung niên thì nổi danh với tài sử Jitte (11) với phong thái độc đáo.
Nhưng khi đã hứng thú với "nghệ" thì đường hoạn lộ lại trở nên nhàm chán. Munisai bỏ dở nghiệp nhà Shinmen về sống tại làng Miyamoto, lấy tên làng làm họ. Đây chính là lúc bắt đầu họ Miyamoto trong gia hệ nhà Musashi.
Munisai là một kiếm khách thượng thừa được Tướng Quân Ashikaga cuối cùng là Yoshiaki phong tặng danh hiệu "Hinoshita Musou Hyouhou Jutsusha" (Nhật hạ vô song binh pháp thuật giả - kẻ võ nghệ vô song dưới gầm trời). Không, đó là danh hiệu Munisai tự xưng đấy thôi.
Đương thời, khi đã qua đi những ngày tháng kích động của không khí Chiên Quốc(12) thì nhà Tướng Quân Ashikaga ở kinh đô Kyoto, đến thời Tướng Quân Yoshiteru, Yoshiaki thì chỉ còn lại cái danh mà không có thực. Tướng Quân Ashikaga cũng chẳng biết làm thế nào để bảo vệ chính sinh mạng của mình nữa. Như thời Yoshiteru thì Tướng Quân có cho vời kiếm thánh Tsukahara Bokuden đến dạy võ nghệ cho mình, bản thân cũng được cấp ấn chứng phái kiếm Bokuden. Những năm sau gia thần Miyoshi Nagayoshi tạo phản bao vây dinh Tướng Quân, Yoshiteru tự mình mang kiếm chiến đấu và chết trên chiến trường. Yoshiaki là vị Tướng Quân họ Ashikaga cuối cùng thì lại chọn cách kết giao với bọn võ sĩ, binh pháp giả các nước rồi tuyển vào vị trí hộ vệ hơn là tự mình học kiếm. Chắc là váo lúc đó Munisai đôi khi cũng đặt chân đến kinh đô. Sau khi bàn luận kiếm học, binh pháp thì Yoshiaki hạ lệnh

- Munisai hãy đấu với Kempou.

Kempou chính là đương chủ nhà Yoshioka, “lò luyện binh pháp” của Tướng Quân Ashikaga. Kempou là danh hiệu truyền đời của phái kiếm Yoshioka ở kinh đô, chi phối ở phía Tây Nhật Bản. Nhà Yoshioka đời đời giữ chức “Kiếm thuật chỉ nam” cho họ Ashikaga và được phong tặng danh hiệu "Fusou Daiichi heijutsu" (Phù Tang đệ nhất binh thuật - võ nghệ đệ nhất xứ Phù Tang). Nhân vật Kempou này là tổ phụ (Naomitsu) hay thân phụ (Naokata) của Yoshioka Kempou mà sau này Musashi quyết đấu.
Trận đấu giữa Kempou và Munisai được phân thành ba hiệp. Cả hai vác mộc kiếm xông vào, hiệp đầu Kempou thắng nhưng Munisai không chịu nhượng. "Ta chưa thua", đấu tiếp hai hiệp sau thì Munisai đều thắng cả. Munisai lấy điều này làm vinh dự cả đời nên tự xưng "Hinoshita Musou Hyouhou Jutsusha" (Nhật hạ vô song binh pháp giả) đi rêu rao khắp nơi. Nhưng vì sao sau lại về vùi thân trong chốn quê mùa Miyamoto, vừa vót tăm lại sanh sự với đứa con hãy còn bé? Có thể danh hiệu Hinoshita gì gì đó chỉ là thứ Munisai tự nghĩ ra để thổi phồng bản thân mà thôi. Hay là vì tính cách một chiều, cực đoan mà bị người đời ghét bỏ nên không còn cách nào khác phải về sống ở nơi khỉ ho cò gáy này.
Mà thật ra là trước đó không lâu, nhân vật này đã bị vợ bỏ.
Thê tử Munisai là Yoshiko, con gái một thổ hào làng Heifuku quận Sayo thuộc xứ Harima cách làng Miyamoto một dãy núi (Yoshiko là sinh mẫu của Musashi nhưng cũng có thuyết nói rằng Musashi là con riêng của Yoshiko). Yoshiko chán ngán tính cách điên cuồng của Munisai mà bỏ trốn, hay là bị Munisai đuổi đi. Cho dù là thế nào đi nữa thì người phóng dao vào con mình đã đối xử như thế nào với vợ, điều này cũng không khó tưởng tượng. Rốt cuộc là hai người đã không chung sống được với nhau. Khi Musahi được ba tuổi thì bà Yoshiko bỏ nhà ra đi, sau tái hôn với người xứ Banshu (Harima) là Tasumi Masahisa.
Sau này Munisai lấy người phụ nữ khác tên là Omasa làm vợ. Bia mộ của Munisai và Omasa đến nay vẫn còn ở phố Kagamino quận Tomata tỉnh Okayama. Sau này hậu nhân khảo sát thì thấy, Musashi là một người tài năng về văn chương học thuật nhưng cho đến già vẫn không hề kể lại hay ghi chép một điều gì về nơi sinh chốn đẻ cũng như thời niên thiếu của mình. Có lẽ là đã trưởng thành trong một hoàn cảnh phức tạp, lạnh nhạt đến mức không thể nói ra được chăng? Đây là một điểm trọng yếu để hiểu về tính cách của nhân vật dị thường này.
Musashi sinh ra khi Munisai đã về già. Munisai mất tại làng sơn cước Miyamoto này vào năm Tenshou thứ mười tám. Lên bảy tuổi Musashi thành trẻ mồ côi và sau này đến đến đi đi nương tựa nhờ những người bà con ở Banshu. Sau cùng được gửi đến thảo am cho một nhà sư nuôi dạy. Trong số kiếm khách thì Musashi là người có học vấn uyên thâm, nền tảng đó có lẽ bắt đầu từ đây. Nhưng người ta vẫn không biết tên ngôi chùa ở Banshu cũng như sư ông đã nuôi dạy Musashi.
Năm mười ba tuổi có binh pháp giả phái Shintou Ryu tên là Arima Kihei đến làng Miyamoto.
Shintou Ryu là một võ phái thịnh hành ở khu vực lân cận xứ Mikawa khi Tokugawa Ieyasu vẫn còn ở đấy. Lúc bấy giờ có binh pháp giả Arima Tokisada lang bạt đến xứ Mikawa. Ieyasu rất trân trọng phái này và theo học hết những điều cực ý. Sau khi Tokisada chết thì Ieyasu tiếc nuối, không muốn để nhà Arima tuyệt duyệt nên cho nhận một người tên Akishige làm dưỡng tử, đổi tên thành Buzen Nokami và nhân vật này sau này giữ chức chỉ nam cho nhà Tokugawa ở Kishuu. Phái Shintou Ryu này thịnh hành cho đến giữa thời Edo.
Tên Arima Kihei đến làng Miyamoto này thuộc dòng họ Arima Buzen. Đây là nhân vật ưa lòe loẹt, đến làng dựng cọc dăng dây, cắm bảng đại khái viết rằng nếu có anh hùng hào kiệt thì đấu với ta một trận. Dân làng trông thấy hoảng hồn.
Mục đích của Arima Kihei, dĩ nhiên là ngoài việc rèn luyện võ nghệ (Musha shugyou) thì đây còn là một hình thức tuyên truyền tông phái. Nhưng cho dù như thế thì sao lại chọn nơi quê mùa vắng bóng võ sĩ như làng Miyamoto này làm nơi cắm cọc dăng bảng mà không phải là Kyoto hay Edo, thế là ý gì? Có lẽ bản ý của hắn chỉ là bán mặt ở địa phương này nhằm kiếm chác chút gì từ trưởng thôn. Đây cũng là một thủ đoạn độ nhật qua ngày của bọn võ sĩ giang hồ cuối thời Chiến Quốc.
Nhưng thật bất hạnh cho Kihei khi người nhìn thấy bảng thách đấu lại là Bennosuke mới mười ba tuổi. Bennosuke là con của võ sĩ nên không ưa người ta nói này nói nọ về Kihei, hắn tạt mực vào bảng hiệu của Arimai, ký tên vào bảng thách đấu rồi trở về chùa dường như không hay biết gì.
Nhưng Arima Kihei không xem rằng đó chỉ là trò nghịch ngợm của thằng nhãi mười ba tuổi. Hắn lập tức đến nơi dựng bảng, chặt tre vây thành hàng rào dựng đài tỷ thí rồi cho sứ giả đến chùa, bắt phải trả lời thư thách đấu. Sư trụ trì nuôi dưỡng Bennosuke hoảng hồn, lật đật chạy đến chỗ Kihei phân trần tạ tội.
 
- Thưa ngài, nó chỉ là một đứa trẻ.
 
Nhưng Kihei chẳng thèm ừ một tiếng. Dĩ nhiên là nếu bỏ qua thì tin đồn sẽ lan đi những nơi khác, hóa ra là Arima Kihei đã bỏ chạy không dám nhận lời thách đấu của một đứa trẻ.
 
- Trụ trì, đây không phải là ý mỗ. Vì chuyện này đã lan ra vùng bên cạnh. Lúc đó có đông kẻ chứng kiến. Mỗ muốn hôm sau phải bắt thằng Bennosuke xin lỗi trước đám đông.


- Như thế không khó đâu ạ. Bần tăng sẽ xách cổ nó đến bắt dập đầu tạ tội.
 
Ngày đó đã đến. Thầy chùa dẫn Bennosuke tiến đến trước Arima Kihei, gõ đầu
 
- Này, xin lỗi đi!
 
Bennosuke lặng câm không nói một lời, trừng mắt nhìn Kihei khiến hắn bối rồi.
 
- Thằng nhóc, mau xin lỗi!
 
Vừa dứt lời thì Bennosuke vung cây gậy gỗ sồi trong tay xông tới, Kihei vừa tránh kịp vội rút gươm
 
- Đã thế tao chém chết không tha!
 
Bennosuke trông thấy vội ném gậy đi, thét lớn
 
- Vật nào!
- Ừ thì vật!
 
Khi vừa thấy đối phương rút gươm là đã biết không địch lại nên cố lái trận đấu sang hướng khác, đúng là thiên tài trong chiến thuật. Kihei cũng vứt gươm lao vào, đúng là hắn thấy con nít mà sơ suất. Vừa lao vào vật thì Bennosuke đã dùng quái lực của mình nâng bỗng Kihei lên rồi ném phịch xuống đất. Đối phương còn đang hoảng hồn toan lồm cồm ngồi dậy thì đã bị cây gậy kia giáng xuống đầu, hộc máu ói cơm ngay tại chỗ. Kihei còn đang loạn choạng thì đã bị bồi tiếp mấy nhát, Bennosuke giết chết đối phương như dầm nát con ếch. Dân làng trông thấy cảnh tượng tàn nhẫn đó không khỏi rùng mình.
Musashi trong cuốn "Gorin no sho" của mình có viết

-Ta từ nhỏ đã để tâm đến binh pháp, năm mười ba tuổi đấu trận đầu tiên. Đối phương là Arima Kihei phái Shintou Ryu.

Chính là chuyện này. Sau đó có lẽ Musashi không còn lưu lại làng nữa mà trốn khỏi chùa lưu lạc sang các nước. Lúc bấy giờ là thời kỳ cuối của đợt xuất binh chinh phạt Triều Tiên của Thái Cáp Toyotomi Hideyoshi, thiên hạ mệt mỏi kiệt quệ, khắp nơi giặc cướp cùng bọn võ sĩ giang hồ ngang dọc tung hoành. Có lẽ Musashi cũng lẫn lộn trong đám người đó. Năm mười sáu tuổi lang bạc đến xứ Tajima đánh chết một binh pháp giả tên là Akiyama gì gì đó. Trận đấu với nhân vật Akiyama này không được ghi lại rõ ràng. Đến ngay cả Musashi cũng không nhớ tên đối thủ của mình thì hẳn đây chỉ là một tay kiếm khách hạng xoàng mà thôi.
Như Watanabe Kouan có nhắc đến, Musashi tự rèn luyện và hội đắc kiếm thuật. Suốt cuộc đời Musashi chẳng hề theo học phái nào mà cũng không tôn ai làm thầy. Binh pháp của Musashi được đúc kết từ kinh nghiệm giao đấu thực tế. Không cần học mà có thể hệ thống hóa từ thực chiến thì cổ lai chỉ có mỗi mình Musashi. Thời đó, nếu chỉ xét tên thôi cũng có đến vài trăm phái kiếm khác nhau. Mỗi phái lại có những kỹ thuật đi kiếm phức tạp tinh diệu khác nhau nhưng có lẽ chỉ là sự quảng bá tuyên truyền, một chiến lược kinh doanh của họ mà thôi (các võ đường sống bằng số lượng võ sinh nên họ phải tìm cách tuyên truyền hình ảnh của mình). Như Yagyu Tajima Nokami cũng từng nói rằng: “Tất cả các thế thủ (kamae), đòn thế đều là vô dụng”. Cái cốt yếu ở kiếm thuật chẳng qua chỉ là tốc độ đi kiếm mà thôi. Nhưng tốc độ đi kiếm lại phụ thuộc vào ba yếu tố mà không thể thiếu bất cứ mặt nào, đó là thần kinh vận động, thần kinh phản xạ siêu việt cùng với thể lực và khí lực. Xét về ba yếu tố này thì Musashi được thiên phú, đúng là nhân vật vạn người có một. Kiếm thuật của Musashi thì chỉ có mỗi mình Musashi là nắm được mà kẻ khác không thể bắt chước. Sau này có những phái kiếm ra đời dưới ảnh hưởng của ông như phái Musashi Ryu, Masana Ryu, Enmyou Ryu, Niten Ichi Ryu vân vân và các phái này đều tôn bậc thiên tài bất xuất thế này là khai tổ. Sau khi Musashi mất thì các phái này cũng gần như biến mất và không thể trở thành một phái chính thống trong lịch sử binh pháp Nhật Bản, vì chẳng có người nào chỉ cần học Musashi là trở thành Musashi được.
 
 
 

Ba
 
 
Vào cuối đời Musashi có kể về kinh lịch của mình

- Ta thời trẻ cũng sáu lần ra trận.

Nhưng không nói là theo vị Daimyou nào, giữ chức vụ gì trong quân đội. Trong bất cứ sổ ghi chép tên tuổi những nhân vật quan trọng trong quân của bất kỳ Daimyou nào cũng đều không thấy tên Musashi. Chắc có lẽ xuất trận với thân phận thấp hèn thì không thể tự hào nổi. Musashi lần đầu tiên ra chiến trường là tháng chín năm Keichou (13) thứ năm trong trận phân chia thiên hạ Sekigahara (14). Lúc đó vừa mười bảy tuổi. Musashi theo phe miền Tây đại bại trong trận chiến.
Tại sao lại tham gia chiến trường?  Chỉ là vì nam tử hán thời đó ai cũng đều ôm mộng xuất thế lập thân giữa lúc loạn lạc này. Nếu vận tốt một chút thì không chừng sẽ trở thành đại tướng giữa ba quân, hoặc là chủ một nước một thành.
Musashi lúc đó thuộc phe Thái Thú vùng Bizen Okayama năm mươi bảy vạn hộc là Ukita Chunagon Hideie. Nhà Hideie dẫn theo một vạn bảy ngàn binh lính đến chiến trường Sekigahara và là đội quân miền Tây lớn nhất. Nhưng Musashi không phải là binh sĩ trực thuộc Hideie mà thuộc Shinmen Iganokami, cựu chủ của thân phụ Musashi và theo thờ họ Ukita (sau khi Ukita diệt vong thì Shinmen theo họ Kuroda ở Chikuzen). Nhờ quan hệ chủ tớ của thân phụ mà Musashi đang trên đường lang bạc tìm đến đầu quân cho Shinmen. Nhưng Shinmen tỏ thái độ không thèm tiếp. Được rồi, cho nó vào hàng lính trơn vậy. Lính trơn sao? Có lẽ lúc đó Musashi đã thốt lên bi phẫn.
Cho dù là kẻ lang bạc giang hồ nhưng dù gì thì cũng là con cháu của người từng giữ đến chức Tổng quản cho chúa, trong quân lại có lắm kẻ quen biết với ông Munisai nhưng vẫn không nói hộ lời nào. Chỉ qua một chuyện này là có thể hiểu ngay sinh thời ông Munisai là người thế nào trong con mắt của chủ nhân và đám hậu bối.
Lúc này Musashi bắt đầu bước đi không theo quỹ đạo của chuyện “xuất thế lập thân” thông thường trong xã hội võ gia nữa. Lúc này đã quyết ý, khắc cốt ghi tâm rằng cần phải lập thân bằng một chữ “nghệ”! Phải rồi, cô kiếm!
Cho đến khi tới chiến trường Sekigahara thì chỉ toàn bị bắt mang hành lý, quân lương. Nhưng vào cuối đời dường như Musashi có chút thổi phồng. Khi được Hosokawa Churi, thành chủ Kumamoto xứ Higo cho vời đến thì có viết trong tờ dâng lên chúa như sau
 
- Từ thuở nhỏ đã sáu lần ra chiến trường, trong đó bốn lần đi tiên phong.

Rồi lại thêm “Đây là chuyện có chứng cứ hẳn hoi”. Chắc là lúc đó có người chiến hữu nào biết chuyện, nhưng thân phận lính trơn thì “đi tiên phong” chẳng phải là công trạng gì.
Nhưng có chuyện như thế này. Trước khi đội quân của Shinmen đến Sekigahara thì không biết phải dựng doanh trại ở chỗ nào, Musashi cùng bọn lính trơn vào núi dò xét tìm củi. Cả bọn đến trước một bờ vực, dưới vực là dấu tích của một bụi trúc bị đốn phạt. Bốn bề trơ ra những gốc tre trúc nhọn hoắt, tua tủa. Musashi quay lại hỏi bọn lính trơn
 
- Thế nào, các ngươi có đủ dũng khí nhảy xuống không?
- Đồ điên!

Nếu nhảy xuống vực thì sẽ bị bụi trúc kia đâm thủng chân ngay. Musashi vẫn thản nhiên nói

- Nếu có địch quân di chuyển dưới đây thì các ngươi làm sao? Chỉ đứng thẫn mặt ra đây sao?
- Đừng có phách lối, ngươi nhảy xuống xem sao.
- Được.

Vừa thét lên, Musashi đã ở dưới vực rồi. Chân bị đâm thủng nhưng vẫn cứ nhảy bật lên rồi bình thản bỏ đi mất. Quả là một dũng khí không bình thường. Ngay cả những người tinh thần không bình thường thì chuyện tự làm mình bị thương cũng không phải là chuyện bình thường. Có lẽ là Musashi muốn quảng bá tên tuổi của mình trong chốn ba quân chăng? Danh tiếng một võ sĩ cũng phụ thuộc vào những giai thoại như thế này.
Nhưng trận Sekigahara kết thúc mà Musashi vẫn chỉ là một chàng thanh niên vô danh vì quân miền Tây đại bại trong trận phân tranh thiên hạ này. Sau đó Musashi tiếp tục lưu lạc khắp nơi, vậy thì lấy gì làm sinh kế ? Đương thời, thói thường của các tay kiếm giang hồ hay bọn võ sĩ tạm xa chủ để lang thau trau dồi võ nghệ nay đây mai đó là tìm một ngôi chùa nào đó trú chân qua đêm. Có khi lại gõ cửa những anh trưởng thôn hâm mộ binh pháp võ nghệ ở nơi quê mùa nào đó hoặc viếng thăm những nhà phú nông để nhận tiền lộ phí. Nhưng kỳ lạ là Musashi không hề túng thiếu tiền bạc bao giờ. Trong tập bút ký “Tanji Houkin Hikki” kể trên có đoạn đặc biệt như sau

- Musashi một đời có “phúc lực”, chẳng bao giờ túng thiếu tiền bạc.

Chuyện Musashi giỏi kiểm soát tiền bạc trở nên nổi tiếng vào những năm cuối đời. Sau khi thành danh thì trong nhà thường treo mấy túi vải đựng tiền trên trần nhà. Khi có chuyện cần thì “Lấy túi số mấy số mấy xuống”, dùng sào tre khều xuống. Từ quan niệm lý tài quá mức kỹ lưỡng, cẩn thận như thế này mà xét, trong khi đó tinh thần lại như loài dã thú, dám nhảy từ trên xuống vực đầy gai nhọn thì có thể thấy Musashi không phải là kiểu người vô lại phóng túng như những phường kiếm khách giang hồ khác.
Nhưng đây không phải là keo kiệt. Vào những năm sau có đệ tủ tá túc trong nhà trông nom mọi việc. Khi đệ tử có chuyện cần xin phép đi đâu xa thì Musashi luôn hỏi

- Con có dụng ý gì chưa?

Dụng ý ở đây tức là tiền bạc.

- Nếu chưa có thì để ta cho. Phàm đi bất cứ đâu mà không một đồng dính túi thì cũng khó. Nào, hạ túi số mấy số mấy xuống.

Còn đây là một câu chuyện thời còn phiêu bạt giang hồ.
Một ngày mùa hạ, Musashi đến Tomono Tsu xứ Bingo trú lại dinh thự của trưởng thôn theo lời mời khẩn khoản. Cái sinh nhai của Musashi cũng hình thành từ những lần thăm viếng những nhà giàu có như thế này. Về phía trưởng thôn thì cũng thấy an tâm hơn về mặt phòng vệ khi có một võ sĩ lang thang đến trú chân. Một hôm Musashi thấy trong nhà tự dưng ồn ào tấp nập nguời ra kẻ vào liền hỏi
 
- Chẳng hay là xảy ra chuyện tranh chấp gì à?
- Thưa vâng. Chẳng là có tin đồn bọn bách tính làng bên chuẩn bị đánh vào đây nên mới cho chuẩn bị nhân số để đối phó. Không biết tráng sĩ có thể giúp một phen được không?

Theo như lời trưởng thôn thì trong khu vực này thường xảy ra tranh chấp nguồn nước, mãi mà chẳng đi đến đâu. Rồi dân làng bên cạnh hung hăng đổ xô về làng này.

- Đương nhiên, xin cứ an tâm.
 
Đây cũng là cái nghĩa thường làm của bọn võ sĩ giang hồ thay cho tiền ở trọ.
 
- Nhưng mỗ tính không ưa ồn ào. Chỉ cần một mình mỗ trấn ngay cổng làng là được rồi.
 
Musashi mang theo mộc kiếm rời khỏi dinh thự. Trên đường đi nhặt lấy một mái chèo gỗ nằm bên vệ đường cắp vào tay trái. Chẳng bao lâu sau đã thấy bọn bách tính làng bên đổ xô vào cổng làng, người nào người nấy mang theo binh khí gậy gộc như chuẩn bị đi đánh nhau. Dân làng bên trông thấy Musashi không khỏi hãi hùng. Đúng là dị tướng vạn người có một.
 
- Mày là thằng nào?
- Là kẻ ăn nhờ làng này.
- Một mình thôi sao?
- Hai người.

Musashi huơ thanh mộc kiếm và mái chèo.

- Vô ích. Xông vào đánh chết nó đi!

Có mấy người xông lên trước huơ gậy nhằm Musashi bổ xuống. Musashi tay trái vung mái chèo chặn đòn đánh, tay phải dùng mộc kiếm đánh chết gã đầu tiên. Lặp đi lặp lại thao tác tả hữu đó mà đánh bật mấy người.
 
- Đúng rồi!! Đúng rồi!!

Musashi vui mừng khôn xiết. Phái song kiếm Niten ichi Ryu của Musashi sau này được khai nhãn từ lúc này. Nhưng người ta nói ban đầu phái song kiếm bắt nguồn từ thân phụ Musashi là ông Munisai. Ông Munisai là một cao thủ sử Jitte đã công phu được kỹ thuật tay trái dùng Jitte chặn bắt và khóa kiếm, tay phải rút gươm chém chết đối phương. Musashi đã hoàn tất công phu của thân phụ tại làng Tomono Tsu này. Những chiêu kiếm bí truyền thường đi đôi với truyền thuyết. Có một thuyết khác nói rằng thuở Musashi quan sát thấy người lớn chơi trống trong buổi tế lễ của làng, hai dùi trống gõ lên mặt trống phát ra âm thanh tả hữu giống nhau. Từ quan sát này mà cảm ngộ được kỹ thuật dùng song kiếm. Mà theo như lời Musashi thì mục đích của việc sử song kiếm là

- Để rèn luyện sao cho có thể vung kiếm bằng một tay.

Sự thật, đặc trưng kiếm pháp của Musashi chính là đánh bằng một tay hơn là sử song kiếm. Musashi một đời vung kiếm một tay, đấu hơn sáu mươi trận bất bại. Matsuura Seizan người phiên Hirato xứ Hizen, cao thủ phái kiếm Shingyo Tou Ryu đã từng giải thích về kỹ thuật đánh một tay này là “Loạn xa đao”. Loạn tức là biến chuyển bất ngờ không có hình thức cố định. Xa tức là quay tít như bánh xe. Tức là nếu nắm cán kiếm bằng cả hai tay thì theo lực học, sự vận động của thanh kiếm sẽ bị hạn chế. Nhưng nếu sử dụng bằng một tay thì có thể vận động biến ảo khôn lường như loạn xa. Nhưng đây là kỹ thuật không thể dùng được nếu không có một sức lực ghê gớm. Cổ lai chỉ có mỗi mình Musashi là sử dụng thành thạo kỹ thuật này.
Còn đây là một câu chuyện thời còn trẻ, lúc xấp xỉ hai mươi. Trong khi phiêu bạt khắp đất nước thì Musashi cũng gặp được nhiều tri kỷ. Phú thương Dousai chủ hiệu buôn Akakabe Ya ở dưới thành Himeji xứ Banshu là một người trong số đó.
Musashi phiêu bạc giang hồ gần như là xin ăn các nơi nhưng bên hông lại mang kiếm quý của những thợ rèn danh tiếng như Houki Fujiwara Yasutsuna thời Heian, thợ rèn Izumi Nokami Kaneshige ở Bushu hay thanh bảo kiếm do đích thân Masamune rèn mà tục gọi là thanh “Musashi Masamune” (được bộ văn hóa chỉ định là bảo vật mỹ thuật trọng yếu của Nhật Bản) cũng là vì có những người bảo trợ ở các địa phương như thế này. Tức là có “phúc lực”, được quý nhân để mắt.
Akakabe Ya Dousai có đứa con trai tên là Doui đương tuổi niên thiếu.
Musashi nhận lời của Dousai mà dạy dỗ binh pháp cho Doui. Một hôm thiếu niên hỏi

- Thưa sư phụ, binh pháp phải học và trui rèn như thế nào để trở nên giỏi giang?
- Không biết.

Nói rồi Musashi chỉ vào thanh gỗ dùng để kéo trượt cửa lùa trong phòng, hỏi
 
- Con có thể bước đi trên đó được không?
- Được ạ.
 
Thiếu niên đáp dứt khoát.
 
- Nếu như thanh gỗ đó được treo lên cao khoảng một gian (15) thì bước đi được không?
- Thế thì sợ lắm ạ.
- Nếu như thanh gỗ đó rộng chừng ba thước thì sao?
 
Thiếu niên nghĩ ngợi một lúc rồi đáp
 
- Có thể được ạ.
- Đó chính là Mikiri. Phán đoán được cái gì hợp với mình trong phạm vi của mình tức là Mikiri.
 
Mikiri là một thuật ngữ độc đáo của Musashi, nghĩa là nhìn thấu suốt, phán đoán thông suốt. Đây cũng chính là điểm đặc trưng trong binh pháp, vũ nghệ của Musashi như sẽ nói đến sau này.
 
- Nhưng nếu giả sử như thanh gỗ bề rộng ba thước đó trở thành chiếc cầu bắc từ đỉnh tháp Thiên Thủ (tháp Thiên Thủ là tháp cao nhất trong hệ thống thành quách Nhật Bản) thành Himeji sang đỉnh núi Zouizan thì con có bước đi được không?
 
Thiếu niên chỉ cần tưởng tượng thôi cũng đã thấy rùng mình.
 
- Con không nhìn thấu được ạ.
 
Musashi gật đầu, ừ đúng rồi.
 
- Trước sau gì nó cũng chỉ là một miếng ván rộng ba thước. Cho dù ở vị trí trên cao một thước hay cao trăm trượng thì cũng như nhau mà thôi. Nhưng nếu ở trên cao trăm trượng thì tự nhiên sẽ sanh tâm bất an lo ngại rằng nếu rơi xuống thì không toàn mạng. Binh pháp chính là để giết chết cảm giác bất an, nếu nhìn thấu suốt, nếu giết chết bất an thì con sẽ trở thành danh nhân thiên hạ.
 
Một hôm bỗng có người phong thái dị thường tìm đến hiệu Akakabe Ya.
 
- Nghe nói có kiếm sĩ giang hồ Miyamoto Musashi trú tại quý quán. Mỗ dám xin được lãnh giáo một chiêu.
 
Khi người trong quán hỏi “Ngài là ai” thì người này xoay lưng, trên lưng tấm áo chẽn không tay có viết hàng chữ thật lớn: “Tenka Musou Hyouhou Sha Musou Gonnosuke” (Thiên hạ vô song binh pháp giả Musou Gonnosuke. Musou: mộng tưởng). Cả bọn trông thấy đều bật ngửa.
Đây là một kiểu tuyên truyền quảng bá rất phổ biến trong giới võ nghệ đương thời, mà như danh hiệu “Hinoshita Musou” của ông Munisai cũng chỉ là một kiểu này. Lại có một binh pháp giả mặc y phục phụ nữ đi khắp nơi, như Negishi Tokaku tổ phái kiếm Mijin Ryu mặc chiếc áo lông chim như quỷ Thiên Cẩu đi rêu rao.
Lúc đó Musashi đang ngồi ở nhà sau uốn nắn một cánh cung nhỏ. Khi thấy Gonnosuke lần qua vườn đi vào thì cũng không hề dừng tay,
 
- Nếu các hạ muốn đấu thì hãy chuẩn bị đi.
- Các hạ thì sao?
- Ta dùng cái này.
 
Musashi bước xuống vườn, mang theo cánh cung không dây. Gonnosuke cảm thấy dường như mình bị khinh nhờn nên không khỏi kích nộ, bất ngờ vung mộc kiếm xông vào.
Mũi kiếm vừa giơ lên cánh tay liền giương theo. Cánh cung nhỏ của Musashi như hút lấy dính chặt vào cánh tay Gonnosuke không rời một thốn. Thoạt nhìn thì tưởng như Musashi chỉ chạm nhẹ vào nhưng Gonnosuke cứ vung mộc kiếm mà đứng như trời trồng, không thể cử động nổi. Hắn toan dứt ra, dãy dụa tiến lên hay lùi lại thì Musashi cũng theo đó mà tiến thoái. Gonnosuke mặt trắng bệch, mồ hôi đầm đìa,
 
- Tại hạ thua rồi. Các hạ là thiên hạ đệ nhất binh pháp giả.
- Vậy sao.
 
Nói rồi vứt cánh cung đi. Musashi chẳng mấy khi sát thương đối thủ của mình. Có lẽ là vì Musashi thấy rõ đây chẳng phải là đối thủ cần dùng sức nhiều, hoặc là vì yêu thích cái khí chất như trẻ con của Gonnosuke. Mà sự thật là sau này Gonnosuke lang bạc khắp nơi đều khen ngợi Musashi.
Nhưng đối với Shishido Tenzen là tay sử món võ khí Kusarigama (16) lại không được như thế này. Không ai rõ lai lịch của Shishido Tenzen ra sao.
Nhưng Shishido là một họ rất phổ biến trong giới địa chủ, trưởng thôn ở những vùng quanh nơi Musashi xuất thân như Mimasaka, Banshu, Aki. Có lẽ đây là một binh pháp giả vùng Aki khi Musashi đi đi về về trên con đường SanYouro. Trong thời kỳ chiến loạn vào những năm Tenshou, Genki có nhân vật Shishido Shizen Ietoshi là chủ sơn thành trên núi Kikuyama thuộc Aki đã lập ra phái Kishin Ryu. Có lẽ Tenzen này là một người họ hàng gì đấy.
Đương thời, Kusarigama là món binh khí bắt đầu thịnh hành, cho đến đầu thời Edo thì các tay kiếm đều ngại chạm trán với kẻ sử nó. Lúc bấy giờ là lần đầu tiên Musashi đối mặt với món binh khí này. Hôm quyết đấu, Musashi thay thanh kiếm Wakizashi dài bằng một thanh cực ngắn. (Một Samurai được phép đeo hai thanh kiếm bên mình, một dài và một thanh ngắn hơn. Thanh ngắn gọi là Wakizashi)
Musashi vào thế Hassou (17) thủ kiếm bên vai. Tenzen ném quả chùy, sợi xích quấn chặt vào thanh kiếm Musashi. A ha, vậy là tiêu đời, Tenzen thầm nghĩ. Hắn chậm rãi lần tay kéo sợi xích lại gần. Lưỡi hái trên tay phải Tenzen chực chém vào cổ Musashi lấp lánh dưới ánh dương. Musashi trong lòng đã nhìn thấy chiến thắng, bất chợt tay trái buông cán kiếm ra. Cánh tay phải như Kim Cang lực vẫn đang bình thảng dằng lại sợi xích do Tenzen kéo. Musashi hốt nhiên trở tay trái rút thanh đoản kiếm Wakizashi đeo bên hông nhằm vào ngực Tenzen mà ném.
 
- Á!
 
Tenzen toan tránh né nhưng đã loạng choạng. Trong nháy mắt,
 
- Ngươi đã thấy chưa!
 
Lưỡi gươm của Musashi đã bổ dọc đầu Tenzen xuống đến chấn thủy. Tenzen biến thành tảng thịt nhuốm máu đổ vật xuống.
Musashi tỷ thí ở những nơi quê mùa như thế này không biết bao nhiêu lần, vì đối phương toàn là những binh pháp gia vô danh nên nếu nói là để rao danh bán tiếng thì chẳng có chút hiệu quả nào, cũng chỉ là một thanh niên vô danh lưu lạc giang hồ. Vì chàng thanh niên này đã quyết tâm lập thân bằng con đường binh pháp vũ nghệ nên cần phải để lại tiếng tăm với thế gian, cần phải lên kinh đô một phen. Cần phải khiêu chiến với danh môn chính phái Yoshioka đang làm mưa làm gió trong làng kiếm ở miền Tây nước Nhật. Musashi chiến đấu như điên cuồng, Yoshioka ở thế phòng bị, trận đấu bên gốc tùng Sagari Matsu chùa Ichijou Ji ở cánh đồng Rendai bên ngoài kinh đô được khai sinh từ đây.
 
 
 
Bốn
 

Lúc bấy giờ danh môn Yoshioka có lò luyện kiếm ở Nishino Touin vẫn được giới bình dân ở Kyoto gọi thân mật là
 
- Nhà Kempou.
- Kempou chính trực.
 
Kempou (Hiến Pháp) là gia hiệu truyền đời của dòng họ này vì tổ tiên lấy sự chính trực làm gia hiến răn dạy con cháu. Tuy là lò luyện binh pháp cho cựu Tướng Quân Ashikaga nhưng dân chúng trên kinh vẫn không e ngại gì vì lúc bấy giờ ở Kyoto, ngay cả những anh hàng kẹo chỉ cần lui tới cửa quyền quý là có ngay quan vị như “Mutsu Nodaijou” chẳng hạn. Những anh như thế này đầy rẫy khắp nơi. Hơn nữa nhà Yoshioka lại không có quan vị. Nếu nhìn từ con mắt của dân chúng thì Yoshioka chẳng qua chỉ là một nhà buôn mua bán kiếm pháp mà thôi. Nhà Yoshioka này tuy mở lò luyện binh pháp nhưng bên cạnh đó cũng kiêm luôn nghề thợ nhuộm do một Hoa kiều nhà Minh là Lý Tam Quan truyền lại. Tục gọi là màu nhuộm Yoshioka. Vải nhuộm Yoshioka bền lâu không phai màu nên rất được ưa chuộng.
Ngày xưa, từ đời Tướng Quân Ashikaga Yoshimochi, ông tổ Yoshioka Naomoto đã giữ chức “Kiếm thuật chỉ nam” và đến nay đã trải qua các đời gia chủ Naomitsu, Naokata, Naotsuna. Các đời đương chủ đều là người ôn hòa thân tình, mới nhìn qua thì dễ nhầm họ với giới thương nhân.
Lúc Musashi khiêu chiến thì đương chủ là Genzaemon Naotsuna, hiệu truyền đời là Kempou.
Nhân vật này vào lúc cuối đời có giai thoại như thế này.
Vào thời Tướng Quân Tokugawa đời thứ ba là Iemitsu thì ở Edo và Kyoto có tục Tsujigiri rất thịnh hành trong số những kẻ tự mãn võ nghệ. (Tsujigiri là khi một võ sĩ muốn thử độ bén của kiếm, đương đêm nấp nơi đầu đường rình kẻ qua lại mà bất chợt nhảy ra chém chết) Vào một năm niên hiệu KanEi (18), ở Mimasaka có hai võ sĩ nhà Mori lên kinh chém người. Hai gã đã rình chém chết một số cao thủ.
Một đêm hai người chia nhau nấp trong bóng tối ở đầu đường. Đợi một lúc thì thấy một lão ẩn cư ăn vận ra dáng thương gia vai mang thùng hành lý chân đi dép cỏ bước tới.

- Đến rồi kìa.

Hai kẻ chia nhau ra đầu cuối đường. Đầu tiên một kẻ nhảy ra, bất ngờ vung gươm từ phía sau xông tới. Nhưng lão ẩn cư vẫn không dừng chân, nhẹ nhàng dùng thùng hành lý mang trên vai gạt thanh gươm ra mà đi tuốt. Được một lúc thì kẻ chực ở đầu đường xông ra, tuốt gươm. Lão ẩn cư vội dừng chân,

- Hượm cái đã. Đợi ta chuẩn bị một chút.

Lão nhân cẩn thận cởi dép cỏ nhét vào thắt lưng, vén vạt áo rút quạt ra thủ thế.

- Nào được rồi, xuất chiêu đi.

Gã võ sĩ nhà Mori không biết chuyện gì, giơ gươm chém xuống nhưng lão nhân nhanh nhẹn tránh được. Hắn toan chém lần nữa thì toàn thân không thể cử động nổi, cứ như là nhúng thanh gươm vào nồi kẹo đường đặc sệt mà khuấy vậy. Trong lúc đó lão nhân thừa thế tiến tới, dùng quạt gõ lốc cốc vào sống kiếm đối phương mà đùa rằng,

- Chưa được, chưa được.

Hắn toan huơ kiếm lên thì bị lão nhân chạm vào đổ lăn ra. Chốc sau gã kiếm khách lúc nãy chạy vội đến, lão nhân vừa buông vạt áo vừa nói

- Các ngươi đi chơi đêm mà trình độ như thế này thì có ngày thiệt thân. Hãy chăm chỉ luyện tập thêm rồi muốn làm gì thì làm.
- Các hạ là ai?
- Là Kempou.

Lão ẩn cư vừa hát vừa bỏ đi.
Khi Musashi đến khiêu chiến là trước khi chuyện này xảy ra khoảng ba mươi năm, vào năm Keichou thứ chín, thứ mười gì đó.
Lúc bấy giờ là khi chính quyền Mạc phủ Tokugawa vừa mới thành lập ở Edo, Sở ty đại Kyoto (19) là Itakura Iganokami cũng rất gắt gay trong chuyện kiếm soát thị chính.
Itakura quyết không để cho những chuyện ồn ào lộn xộn xảy ra ở kinh đô. Mà nhà Yoshioka đời đời bám rễ ở đất này cũng không ưa chuyện tư đấu nên mang chuyện tỷ thí bẩm lên sở ty đại. Iganokami bảo : “Đích thân ta sẽ giám sát”.
Thân là một quan thị chính nên Iganokami rất sợ chuyện hai bên để lại oán hận mà gây rối. Trận đấu được tiến hành trong dinh Sở ty đại và theo sự giám sát của Iganokami thì “Hai bên ra đòn cùng lúc, đấu huề”.
Sự thật là không biết có huề hay không. Vì quan giám sát Iganokami chỉ là một quan văn xuất thân từ tăng lữ, chẳng biết gì về binh pháp võ nghệ. Theo truyện “Yoshioka Den” thì trận đấu giữa Musashi và Kempou trước sau gì cũng chỉ có chừng này. Mà trong truyện “Musashi Den” thì cũng không thấy trận quyết đấu ở chùa Ichijou Ji trên cánh đồng Rendai.
Nhưng theo truyện “Musashi Den” thì gia trưởng nhà Yoshioka không phải là Genzaemon Naotsuna mà là một người tên là Seijurou (20). Trong khi đó theo “Yoshioka Den” thì chẳng thấy tên tuổi Seijurou đâu cả.
Có một thuyết cho rằng họ Yoshioka ở Kyoto có hai căn gồm dòng chính và dòng phụ. Dòng chính gọi là Yoshioka trước và dòng phụ là Yoshioka sau. Như vậy thì có thể Musashi sau khi đánh bại Kempou của dòng chính mới tỷ thí với Seijurou của dòng phụ. Hay đây chỉ là một kiểu tuyên truyền của hai bên Musashi và Yoshioka, trộn lẫn hư thực với nhau.
Trận đấu với Yoshioka Seijurou diễn ra ở cánh đồng Rendai phía bắc thành Kyoto. Musashi đánh một đòn, Seijurou ngã vật ra tắt thở. Musashi thu mộc kiếm nhảy lui, quay về phía môn đệ Yoshioka
 
- Mạch hắn hãy còn đập, mau gọi đại phu.
 
Đúng như giao ước ban đầu, Musashi đã không ra chiêu thứ hai.
Yoshioka Seijurou có người em trai là Denshichirou tính tình dễ kích động nhưng tài năng võ nghệ vượt cả huynh trưởng. Denshichirou quyết tâm phục thù mang chiến thư đến chỗ Musashi. Hắn thấy rằng nếu đấu bình thường thì khó lòng thắng nổi nên công phu được thanh mộc kiếm dài hơn năm thước, nơi mũi kiếm khoét một lỗ, trong có đoạn dây xích nối với quả chùy. Đây chẳng phải là thủ đoạn bỉ ổi gì mà chẳng qua chỉ là nghĩ ra món binh khí mới, như món Kusarigama vậy.
Hôm tỷ thí Musashi cố tình đến muộn giờ hẹn, Denshichirou trông thấy kích nộ

- Musashi, ngươi sợ à!
- Ta ngủ quên mất.

Musashi tủm tỉm cười. Nụ cười còn chưa tắt thì thanh mộc kiếm hơn năm thước kia đã bổ xuống. Musashi giơ mộc kiếm lên đỡ, quả chùy vọt ra cắt đứt một đoạn tóc, dải khăn quấn đầu màu lam nhất thời biến sắc. Nhưng quả chùy này đã không đánh vỡ được hộp sọ của nhân vật dị thường này. Trước khi bị quả chùy đánh trúng thì Musashi một tay dùng mộc kiếm đập vào nửa mặt Denshichirou rồi. Đối phương loạng choạng, Musashi không bỏ lỡ cơ hội nhảy ra cướp lấy thanh mộc kiếm dài năm thước kia.

- Ngươi đã thấy chưa!

Thanh mộc kiếm bổ thẳng xuống. Đầu Denshichirou vỡ vụng.
Vứt mộc kiếm, Musashi quay sang bọn môn đệ Yoshioka
- Hãy chăm sóc hắn.
Khi Musashi cuối chào thì Denshichirou đã tắt thở rồi.
Từ trận đấu này đã dẫn đến trận quyết đấu kinh thiên động địa dưới gốc cổ tùng Sagari Matsu chùa Ichijou Ji.
Trận đấu này, theo như ký thuật của Miyamoto Iori, dưỡng tử của Musashi viết trên văn bia “Niten koji bumi” nhằm tán dương công đức của dưỡng phụ thì

- Môn sinh nhà Yoshioka ôm hận quyết tâm phục thù. Biết rằng nếu dùng binh thuật thì khó lòng thắng được nên bàn mưu tính kế. Yoshioka Mata Shichirou dẫn theo môn sinh mấy trăm người đến gặp ở dưới gốc cổ tùng ngoài thành.

Dĩ nhiên đây chỉ là ký thuật không đúng sự thật của Iori nhằm tán dương khai tổ Miyamoto. Vì chỉ có chư hầu vạn hộc mới có khả năng huy động được con số mấy trăm người mà thôi. Vả lại đây là kinh thành, nếu huy động ngần ấy nhân số thì há nào Sở ty đại lại nhắm mắt làm ngơ. Nếu có bí mật huy động thì nhà Yoshioka sau này cũng khó tránh khỏi việc bị Mạc phủ Edo truy tội. Nhưng lò luyện binh pháp Yoshioka vẫn bình an vô sự đến mười năm sau này, chẳng có dấu tích gì cho thấy họ bị hình phạt cả. Nhưng đúng là sau này, vào năm Keichou thứ mười chín thì võ đường Yoshioka bị phong tỏa. Nhưng đó lại là lý do khác. Số là vào tháng sáu năm này, trong Hoàng cung có tổ chức buổi lễ nhạc Sarugaku, lúc bấy giờ có kẻ tên là Seijirou Shigekata nổi điên rút gươm gây nào loạn. Vì sự kiện này mà Yoshioka Kempou đóng cửa võ đường, dẫn theo môn đệ đến tá túc ở nhà một người bà con là Mishuku Echizen Nokami Naganori, mấy năm không về kinh. Ba năm sau Kempou quay lại Kyoto chuyên nghề thợ nhuộm. Vào những năm cuối đời huynh đệ quy y với thiền sư Enkan, chuyên tâm học thiền và hưởng trọn tuổi trời. Truyền thuyết về Musashi và Yoshioka có khác nhau như thế. Có lẽ thịnh suy của một môn phái cũng phụ thuộc vào việc tuyên truyền giỏi dở.
Nếu những tài liệu liên quan đến Musashi là sự thật thì có lẽ nhà Yoshioka đã tập hợp một nhân số không đáng kể.
Bọn môn sinh đặt con trai của Seijurou là Mata Shichirou vào vị trí tổng đại tướng. Lúc bấy giờ Mata Shichirou chỉ là một thiếu niên chưa biết đến đao thương kiếm thuật là gì.
Hôm quyết đấu, Musashi rời kinh đô đến làng Ichijou Ji phía bắc thành khi trời đất còn mịt mờ. Lúc này bọn Yoshioka cũng chưa đến, bốn bề tối om. Đó đây vẳng lên tiếng gà gáy trong làng Ichijou Ji dọc theo sườn núi, trời Đông bắt đầu sáng dần từng chút một.
Musashi tựa lưng vào gốc cổ tùng, duỗi chân rồi quay ra ngủ. Một chặp sau đã trông thấy ánh đèn lồng lấp lánh điểm điểm phía bên kia đường, Musashi ôm chặt thanh kiếm ba thước tám phân chẳng buồn ngồi dậy.
Bọn Yoshioka cứ nghĩ rằng Musashi có thói quen hay đến muộn. Bọn chúng sơ hở ở điểm này. Cả bọn kéo đến gốc cổ tùng, sắp xếp nhân số. Lúc này trời vừa sáng tỏ mặt người. Một đứa sinh nghi bước ra.

- Người nằm kia là ai?

Bóng đen khẽ động đậy,

- Là Musashi đây.

Dứt lời đã bật dậy, đồng thời một chiêu chém chết Mata Shichirou đứng bên cạnh. Trong bọn môn sinh Yoshioka có kẻ chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra, hỏi ra mới thấy thi thể Mata Shichirou thì hoảng hồn. Trận đấu chỉ diễn ra trong chốc lát, Musashi chém chết mấy kẻ đứng trước mở đường máu rồi chạy vào trong núi. Thật là một trận đánh suông sẻ, ngoạn mục.
Đấy là vào năm hai mươi mốt tuổi. Trận đấu công khai duy nhất vào nửa đầu cuộc đời Musashi là với Sasaki Kojirou trên đảo Funashima ở Kokura vùng Buzen, lúc bấy giờ được hai mươi chín tuổi.
Sau này, trong trận chiến ở Osaka, Musashi theo bảng chiêu mộ kiếm khách giang hồ của thành Osaka mà nhập thành. Có lẽ Musashi vẫn chưa dứt được giấc mơ một nước một thành ngày nào. Binh pháp võ nghệ chẳng qua chỉ là một cái “nghệ” mà thôi. Theo như từ ngữ đương thời thì những hạng kiếm sĩ như vậy chỉ là “nghệ giả” (Geisha), “nghệ thuật giả” (Geijutsu sha),”nghệ nhân” hay những người sử “nghệ”. (chỉ nên hiểu những từ này theo nghĩa: người có "nghệ", thành thạo "nghệ") Nhưng Musashi ôm mộng làm tướng, không cam chịu chỉ là “nghệ thuật giả”. Nhưng trên văn bia “Niten koji bumi” có viết

- Khi Toyotomi Hideyori gây binh biến ở Osaka thì Musashi lập không biết bao danh công chiến tích, không sao kể xiết.

Nhưng theo tư liệu của cả hai đạo quân Đông, Tây thì chẳng thấy tên tuổi Musashi đâu. Danh công chiến tích chỉ là xuất phát từ hiếu tâm của dưỡng tử Iori mà thôi.
Nhưng lúc ấy có hơn sáu vạn võ sĩ giang hồ nhập thành Osaka, chắc Musashi cũng lẫn trong số đó.
Nhưng đương thời, khi có một võ sĩ giang hồ tên tuổi nhập thành như Mouri Katsunaga, Akashi Takenori, Gotou Matabei, Pandan Uemon hay Mishuku Kanbei thì khắp trong ngoài thành đều tuyên truyền đưa tin. Vậy mà khi Musashi nhập thành thì chẳng ai hay biết. Trận đấu công khai với Sasaki Kojirou ở đảo Funashima thuộc Buzen Kokura do nhà Hosokawa giám sát chẳng phải là công lao nơi chiến trường mà chỉ là một cách nâng cao tên tuổi của một “nghệ thuật giả” mà thôi. Vì vậy mà Musashi vẫn bị xem thường. Sự bất hạnh này theo Musashi cho đến những năm cuối đời.
Ngày thành Osaka bị hạ, một lần nữa Musashi thuộc về phe bại trận phải lẫn trốn chui nhũi, sau cùng bọn võ sĩ giang hồ khác tẩu tán khắp nơi. Mấy năm vẫn không có tin tức gì.
Miyamoto Musashi Masanobu chỉ bắt đầu bước đi trên con đường cái quan khi đã quá tuổi bốn mươi vào mười năm sau. Musashi tuổi trung niên đã trở thành một người hoàn toàn khác hẳn so với thời thanh niên.
 
 
 
Năm
 

Watanabe Kouan, lúc còn là Yamashiro Nokami Hikaru giữ chức Tổng quản cho họ Tokugawa ở Suruga, trên đường từ Edo trở về thành Sunpu ngang qua đồi Thất Nạn gần chỗ đóng quân ở Kambara thì thấy phía sau có một đoàn người lang thang. Kouan ngồi đu đưa trên ngựa, thân là Tổng quản vạn hộc có ba kỵ binh theo hầu, mười binh sĩ đi mở đường cùng bọn tạp nhân hầu hạ theo sau.
Kouan quay lại hỏi bọn tùy tùng

- Người kia có phải là hành giả tu khổ hạnh không?
- Vâng.
- Đến hỏi xem.

Thì ra đó là Musashi. Kouan nhầm với hành giả tu khổ hạnh trên núi là do lối ăn vận không rõ ràng, tay chống gậy năm thước, tóc bới sau gáy để dài xuống lưng, mắt sáng quắt dễ sợ thật không khác những hành giả khổ hạnh là mấy. Những năm gần đây thường xuất hiện nhiều hành giả như thế này, họ dẫn theo nhiều đệ tử lang thang khắp nơi, đến gõ cửa chúc phúc cầu nguyện cho dân chúng hay nhà võ gia mà độ nhật. Musashi cũng dẫn theo hai người ra dáng là đệ tử theo sau.
Khi Kouan trở về doanh trại Kambara thì cho sứ giả đến nhà trọ Musashi đang ở, truyền lệnh miệng rằng mình muốn gặp.

- Ngài cần gì?

Musashi bất ngờ quay sang sứ giả với thái độ cao kỳ mà trịch thượng. Sứ giả thấy thái độ cao ngạo này hoảng hồn, bất giác phục xuống lễ

- Chúa công là Yamashiro Nokami có chuyện muốn thỉnh giáo ngài đôi điều…

Musashi từ chối thẳng thừng. Chẳng phải là thái độ cương cứng như: nếu muốn hỏi gì thì cứ đến đây, nhưng trong lời nói dường như ẩn chứa sự cao ngạo: ta chẳng phải là phường con hát lái buôn gì. Musashi còn cho sứ giả mang về một con chim cút làm quà tặng cho “ngài Yamashiro”. Thật không một chút thất lễ. Kouan rất hứng thú với thái độ của Musashi, trịnh trọng hợp phép mà lại cao kỳ ngạo mạn.
Nhân vật Kouan này thuở niên thiếu đã ra chiến trường, không chỉ vung gươm giáo mà còn là đại tướng chỉ huy ba quân. Kouan cũng ham thích kiếm nghệ mà theo học, nhưng đối với giới kiếm khách lại tỏ thái độ :”Chỉ là một nghệ nhân” có chút miệt thị.
Nhưng vào năm Genna (21) thứ nhất, sau khi thành Osaka bị họ Tokugawa diệt thì thiên hạ thái bình, các nước chư hầu không còn đánh nhau nữa nên tầng lớp võ sĩ biến thành quan lại hành chánh. Lúc bấy giờ võ nghệ kiếm thuật lại bắt đầu thịnh hành trở lại, binh pháp giả các phái bắt đầu có địa vị cao trong xã hội. Thái độ cao ngạo của Musashi có lẽ là do

- Ảnh hưởng của thời thế.
- Không, chắc là có lý do khác.

Kouan nghĩ. Sau khi Kouan trở về thành Sunpu thì biết Musashi đang ở dưới thành. Lần này không cho người gọi đến dinh thất riêng nữa mà chọn chùa Lâm Tế (Rinzai Ji) làm nơi tiếp đãi, chuẩn bị chu đáo, lấy lễ bình đẳng không phân biệt trên dưới mà mời. Quả nhiên là Musashi đến thật.
Kouan cũng từng học qua kiếm pháp của phái Yagyu Ryu nên câu chuyện chủ yếu xoay quanh võ nghệ, binh pháp nhưng dường như Musashi chẳng hứng thú mấy.
Chùa Lâm Tế tuy ở nơi nhà quê nhưng lại là ngôi chùa phụng dưỡng đời đời của danh gia Imagawa từ thời Chiến Quốc nên có được khu vườn rất khang trang. Bất chợt Musashi chuyển câu chuyện sang hướng khu vườn. Kouan là võ tướng sinh ra trong thời Chiến Quốc loạn lạc nên chẳng hiểu mấy chuyện vườn tược.

- Hình như là các hạ rất thích vườn tược.
- Không, cả đời tại hạ quyết không để tâm đến chuyện thích hay ghét cái gì. Nhưng cái hay của việc tạo ra khu vườn này là ở chỗ trong khi vận chuyển đá thì ở đó đã hình thành thiên địa rồi. Cho đến bây giờ thì tại hạ cũng chỉ như một viên đá ngoài kia. Từ bây giờ, tại hạ cũng muốn chuyển đá mà thử tạo thiên địa một phen.
- Tạo thiên địa?

Điều Musashi muốn nói, Kouan quả là không hiểu nổi. Trong lời nói dường như bao hàm cả triết lý rất sâu xa.
Kouan vốn có hứng thú với Musashi nên lai lịch và tin đồn về Musashi thì bản thân mình biết rõ hơn ai hết. Trong số đó cũng có những tin đồn không mấy hay ho nên cũng đành chịu. Theo như Kouan biết thì tên tuổi Musashi được biết đến trong các chư hầu là vào những năm gần đây. Mấy năm trước, khi còn chưa mấy nổi tiếng thì một hôm bỗng xuất hiện trong thành của một phiên thuộc Kita Kyushu để tuyên truyền mở rộng lưu phái của mình. Musashi ngồi kiệu lộng lẫy như một võ sĩ cao cấp, dẫn theo đệ tử vào thành rồi trọ lại nhà của một võ sĩ trong phiên theo lời thỉnh cầu của người này. Musashi vốn rất có tài năng trong việc tuyên truyền quảng bá. Không biết lúc đó là do thận trọng khách khí hay sao mà phong thái hoàn toàn khác hẳn so với trước, mình vận chiếc áo cánh đính hoa văn lỗng lẫy, đêm đêm xuất hiện trong khu rừng tùng dưới thành múa kiếm. Musashi một mình tả xung hữu đột trong rừng, bay nhảy một cách kỳ lạ như loài quái điểu. Qua chuyện này cũng hiểu được nỗi bất hạnh và nhẫn nhục trong thời niên thiếu vô danh của Musashi.
Rồi tin đồn lan truyền khắp thành, trong phiên có nhiều võ sĩ trẻ cũng lần lượt kéo đến học nghệ. Đây chẳng phải riêng gì Musashi mà là một cách độ nhật thông thường của giới binh pháp giả đương thời. Trong phiên bấy giờ có võ sĩ tên gì gì đó thuộc phái Nikaidou Ryu đang giữ chức “Kiếm thuật chỉ nam”. Hắn thấy một kẻ không rõ lai lịch từ đâu đến lại được nhiều người trong phiên quan tâm nên lấy làm khó chịu bèn cho sứ giả đến chỗ Musashi hẹn một trận quyết đấu.

- Vậy sao.

Musashi không trả lời là nhận lời thách đấu hay không, sau mấy hôm quan sát võ sĩ kia rồi rời khỏi thành không ai biết. Võ sĩ phái Nikaidou Ryu kia thấy vậy thì mững rỡ, huênh hoang khắp nơi

- Vậy là hắn sợ ta mà chuồn mất rồi.

Cho dù có lý do gì đi nữa nhưng nếu xem việc tuyên truyền là binh pháp thì rõ ràng Musashi đã thua trong trận đấu này rồi.
Musashi khi đã qua tuổi ba mươi thì thường tránh tỷ thí quyết đấu. Mà những năm trước ba mươi thì chỉ khi nào nhìn thấu suốt, hiểu rõ đối phương yếu hơn mình mới nhận lời. Năng lực siêu việt nhất của Musashi chính là “Mikiri” như đã đề cập trước đây, là khả năng tính toán, phán đoán thấu suốt.
Lại có lúc Musashi đến trọ tại nhà Shimamura Jurou Zaemon, gia thần của nhà Ogasawara ở Buzen Kokura. Một ngày nọ, trong lúc đang uống rượu cao hứng thì có võ sĩ gác cổng chạy vào bẩm báo

- Ngoài cổng có binh pháp giả Aoki Jouemon nài nỉ xin được diện kiến tiên sinh. Chẳng hay có nên đuổi đi không.
- Không cần, cứ cho vào gặp.

Tâm trạng Musashi vui vẻ hơn bao giờ hết, cho người dẫn Aoki vào rồi quan sát cốt cách, thăm hỏi lý lịch,
 
- Ta thấy các hạ tài năng hơn người, như thế này thì việc tìm một chức Chỉ nam ở bất cứ chư hầu nào cũng không phải là việc khó.
Aoki nghe nói vui mừng, toan cáo lui thì Musashi chợt để tâm đến thanh mộc kiếm buộc sợi dây đỏ mà Aoki đeo bên mình.

- Vật màu đỏ đó là gì?
- Đây là vật mà tiểu sinh dung mỗi khi có người thách đấu trên bước đường giang hồ.
- Thách đấu ư?

Musashi bỗng biến sắc, đứng dậy,

- Để ta cho các hạ thấy binh pháp thật sự là như thế nào.

Nói rồi mượn một tiểu đồng hầu hạ trong nhà gia chủ, Musashi đặt một nắm cơm lên đầu tiểu đồng, ngay chỏm tóc rồi tuốt gươm. Cả bọn trông thấy đều không khỏi dao động.

- Xem đây!

Vừa thét lên là lưỡi gươm xé gió từ trên bổ xuống đầu tiểu đồng, nắm cơm tách làm đôi.

- Các hạ có làm được như vầy chăng?
- Tiểu, tiểu sinh không làm được.
- Cho dù có được khả năng như thế này đi nữa thì cũng không dễ gì thắng được địch. Tỷ thí quyết chẳng phải là chuyện đơn giản. Kẻ nào bị người thách đấu mà sớm rút lui không bị lôi kéo vào thì đó mới chính là người am hiểu cái chân túy cực ý của chân binh pháp.

Phải đợi đến mười năm sau thì Kouan mới có cơ hội tiếp xúc với Musashi, lúc bấy giờ biết được rất nhiều tin đồn về nhân vật này. Nhiều nhân vật quan trọng trong Mạc phủ ở Edo đều là chiến hữu cựu tri từng sát cánh bên Kouan chiến đấu qua suốt những năm Keichou, Genna xây dựng nên chính quyền Tokugawa nên cho dù đang ở Suruga nhưng tin tức gì ở Edo cũng đều lọt vào tai Kouan hết.
Một hôm có người bạn cũ Tsuchiya Nui là Hatamoto hai ngàn hộc từ Edo đến nhận lãnh địa ở Minou tiện đường đến thăm Kouan.

- Nghe nói có kẻ tên là Miyamoto Musashi đến xin được cử dụng vào vị trí Hatamoto.
- Ồ.

Trước đây Musashi vốn quen biết thân thích với một gia thần của Mạc phủ là Houjou Awanokami Ujinaga, cuộc vận động vào một chức quan này chắc là phải thông qua Ujinaga. Houjou Awanokami Ujinaga từ trước theo học binh thuật, quân sự phái Koushu, sau lập ra phái Houjou của riêng mình và là nhân vật gây sóng gió trong giới quân sự đương thời. Năm xấp xỉ bốn mươi thì Musashi có quan tâm đến quân sự nên bắt đầu tiếp cận với Ujinaga này.
Nhưng đây chẳng còn là thời Chiến Quốc nữa. Chỉ là một tay kiếm sĩ giang hồ dùng võ nghệ mà muốn leo lên đến vị trí Hatamoto, điều này chẳng ai dám nghĩ tới. Vì thể chế Mạc phủ Tokugawa đã ổn định rồi, chẳng phải là thời loạn lạc như xưa nữa. Như nhà Yagyu là Chỉ nam kiếm thuật của Tướng Quân Tokugawa nhưng ban đầu chỉ là một lãnh chúa nhỏ ở xứ Yamato, sau theo Ieyasu trong trận phân tranh Sekigahara lập được vô số chiến công giúp họ Tokugawa xây dựng bá nghiệp; lại như nhà Ono phái Ittou Ryu lập được công lớn trong trận đánh vào Ueda xứ Shinshu, từ đó sát cánh bên cạnh Tokugawa mà chiến đấu, lúc đầu bổng lộc chỉ hai trăm hộc nhưng ngày càng lập được nhiều công tích mà lên đến bốn trăm, sáu trăm hộc. Họ đều chẳng phải là những người đạt đến đỉnh vinh hiển chỉ nhờ võ nghệ kiếm pháp mà thôi đâu mà đều đã lập công nơi chiến trường.

- Thật là kẻ tham vọng, hắn muốn giữ chức Chỉ nam cho Tướng Quân ư.
- Nhưng dường như hắn chẳng quan tâm đến chức Chỉ nam vài trăm hộc như nhà Ono, mà hắn muốn cái vị trí của Yagyu Tajima Nokami.
- Hắn muốn trở thành một Daimyou như Tajima sao?

Kouan nghe nói kinh ngạc.

- Quả thật là. Mà hình như nếu chẳng đến vị trí Daimyou thì hắn cũng dòm ngó cái chức Hatamoto bên cạnh Tướng Quân.

Quả nhiên là nếu chỉ dựa vào võ nghệ không thôi thì cao lắm cũng chỉ là cái chức Chỉ nam vài trăm hộc như nhà Ono. Có lẽ vì vậy mà Musashi bỗng chuyển hướng sang lãnh vực quân sự với hy vọng bước lên đỉnh cao bên cạnh Tướng Quân. Kouan cảm thấy dường như đã hiểu được ẩn ý về viên đá trong vườn của Musashi hôm nọ. Người này quyết chẳng phải là hạng tầm thường chỉ trông mong vào một ví trí dạy võ nghệ, mà là kẻ ôm mộng nắm binh mã trong thiên hạ, tham gia chính trị.Nhưng nếu nói chuyện binh mã thì Musashi chưa từng có kinh nghiệm chỉ huy ba quân ở chiến trường, còn nếu nói về chính trị thì Musashi lại càng không có cơ địa.

- Hắn đúng là điên rồi.

Kouan thầm nghĩ. Nếu là như vậy thì bây giờ ta đã hiểu vì sao mà trước kia hắn ha ba lượt từ chối chức Kiếm thuật chỉ nam của các phiên kia.
 
- Nhưng hình như là cuộc vận động quan chức này chẳng đi đến đâu.
- Thế là từ bao giờ?
- Gần đây thôi.

Nếu là như vậy, thì lần trước Kouan gặp Musashi ở gần doanh trại Kambara chính là lúc Musashi thất chí rời khỏi Edo. Tin tức quả là đi nhanh thật. Mới đó thôi mà chẳng bao lâu sau Kouan ở thành Sunpu lại nghe tin Musashi tiếp tục đến cầu quan chức với nhà Tokugawa ở Owari. Một khi đã không được giữ lại bên cạnh họ Tokugawa ở Edo thì việc Musashi đến Owari cũng là điều dễ hiểu.
(Họ Tokugawa Ieyasu sau trận Sekigahara mới phân chia những địa phương quan trọng cho những người bà con thân thuộc của mình cai quản, như Kyushu, Owari, Suruga… Còn đích thân mình thì đóng tại Mạc phủ Edo. Tức là dòng Tokugawa chính thống vẫn cai trị thiên hạ ở Edo còn những họ Tokugawa ở nơi khác chỉ xem như chư hầu)
 
 

Sáu
 
 
Khi Musashi còn ở Edo có kết giao với một người tri kỷ là Daidouji Gembanokami Naoshige, đây chính là người đứng ra làm trung gian lo liệu thu xếp mọi việc tìm quan chức cho Musashi khi đến Nagoya. Chẳng bao lâu sau khi Gembanokami liên lạc với các nhân vật quan trọng trong phiên thì Musashiđã vào thành Nagoya rồi và xảy ra chuyện như dưới đây được rất nhiều người biết đến.
Trong phiên Owari thuộc Nagoya này có nhân vật Yagyu Hyougo Nosuke Toshiyoshi đang giữ chức Kiếm thuật chỉ nam năm trăm hộc. Nhân vật này nhận được ấn chứng của kiếm phái Yagyu Shinkage Ryu chính thống của Yagyu Sekishusai và thiên hạ vẫn đồn rằng Hyougo Nosuke còn lợi hại hơn cả thúc phụ Tajima Nokami Munenori ở Edo. Một hôm Musashi tình cờ đi ngang qua Hyougo Nosuke trên con phố dưới thành. Trước đây cả hai đều chưa từng gặp nhau nhưng Musashi chỉ lướt mắt qua là biết ngay đó là Hyougo Nosuke. Mà Hyougo Nosuke cũng chợt nhận ra rằng, trên đời này lại có người kinh khủng đến thế sao, a hay là Musashi…
Chuyện các binh pháp gia gặp nhau ngoài đường chỉ một lần như thế này cũng nhận ra nhau không phải là ít, chuyện này lan truyền đến nhà Owari rồi lọt vào tai chúa phiên Yoshinao.

- Vậy là Musashi muốn phụng sự cô sao?

Vị chúa trẻ Yoshinao rất đỗi vui mừng, truyền rằng muốn tận mắt chứng kiến tài năng của Musashi. Yoshinao là con thứ chín của Ieyasu và là tổ đầu tiên của họ Tokugawa ở Owari, đây là nhân vật thông minh lanh lợi, lại quan tâm lưu ý đến võ bị, yêu thích binh thuật. Bản thân Yoshinao sau này cũng nhận được ấn chứng từ Hyougo Nosuke. Nhưng chúa Yoshinao không hề thiên vị mà luôn tỏ thái độ công bằng với các phái kiếm trong phiên.
Hôm đó, chúa chọn ra hai, ba người trong số hầu cận thân tín của mình cho đấu với Musashi. Địa điểm là võ đường mà con em võ gia trong phiên vẫn luyện tập.
Musashi mượn thanh mộc kiếm bước vào trận. Dĩ nhiên đây chẳng phải là một trận đấu nặng tính thắng thua. Đối phương nhiều lần đánh dứ nhưng Musashi vẫn cứ đứng yên bất động, vào thế Seigan (22) thủ kiếm trước mặt. Đối phương không chịu nỗi nữa liền xông đến, bổ một nhát từ trên xuống nhưng lạ thay, thanh mộc kiếm không hề chạm đến thân thể Musashi mà Musashi cũng không hề di động. Vậy là công phu tuyệt kỹ gì, chỉ thấy mũi kiếm luôn giữ thăng bằng trước mắt Musashi mà thôi. Lần này tên cận vệ thét lớn rồi đánh tới nhưng thanh kiếm gỗ chỉ trượt qua trước mắt Musashi. Khi vừa hòan hồn thì đã thấy mộc kiếm của Musashi đã chạm nhẹ trên đầu rồi. Thật là một tuyệt kỹ thần tốc.
Tên cận vệ tiếp theo rút kinh nghiệm từ thất bại của kẻ trước, vào thế thủ Seigan đứng im bất động. Musashi cười gằn rồi hay tay cầm song đao vẽ thành đường tròn, lầm lũi tiến lên lấn áp đối phương. Tên cận vệ không đánh mà lui dần rồi cuối cùng bị dồn vào chân tường, mặt trắng bệch, toàn thân đẫm mồ hôi, hơi thở dồn dập, vai bắt đầu run rẩy. Musashi thấy đã đến lúc thích hợp, lùi lại một bước chân rồi huơ mộc kiếm lên thế thượng đoạn, ánh mắt toát ra sát khí đáng sợ,
 
- Eitt!!
 
Musashi vừa thét Kiai, đối phương đã thất thần đổ sụp xuống.
Những kẻ quan sát trận đấu như bị cuốn hút vào tuyệt kỹ diệu thuật này. Nhưng có một người không say. Đó chính là Yoshinao. Hôm sau chúa cho gọi Daidouji Gembanokami đến

- Cô đã thấy tài nghệ của hắn rồi. Quả thật là khắp Nhật Bản khó có kẻ bì kịp. Nhưng ngoài kỹ năng ra thì còn có chỗ để sử dụng thiên tính, khí lực. Binh pháp vốn là gì, đó là nếu học cái đạo lý đó thì cho dù là kẻ phàm phu tầm thường đi nữa thì cũng sẽ đạt đến một mức độ nào đó của nó mà thôi. Nhưng sức mạnh của Musashi quả là không nằm trong cái đạo lý thông thường.

Yoshinao đã thừa nhận tố chất thiên tài bất xuất thế của Musashi. Nhưng liệu thiên tài này có giúp ích được gì cho thế gian hay không thì lại là chuyện khác. Yoshinao đã hình dung được giá trị của Musashi nếu như được đưa vào tổ chức, bộ máy nhà nước, xã hội của thế gian.
Thứ nhất là, Musashi không thích hợp với một chức quan dạy “kỹ”, “nghệ” như đã nói trước đây. Thứ hai là tướng mạo dị thường của Musashi. Yoshinao đã nhìn thấy

- Đối với kẻ dung mạo dị thường thì trong nhân cách hắn có chỗ cực đoan. Chắc là Musashi không thể trở thành đại tướng thống lãnh ba quân được.

Vấn đề thứ ba chính là nguyện vọng về bổng lộc, thân phận của Musashi. Như trước đây đã từng thông qua Gembanokami mà rằng

- Thời trẻ mỗ từng xông pha nơi trận mạc, lại học qua quân sự, điều binh khiển tướng.

Tức là nhấn mạnh rằng mình muốn tham gia vào mặt quân sự, trở thành tham tá, quân sư về mặt chính trị trong phiên chứ không muốn kết thúc bằng một chức Chỉ nam dạy kiếm tầm thường. Nhưng về điểm này thì Yoshinao chẳng cần đến, vì lai lịch thực lực của Musashi như thế nào không ai rõ.

- Nhưng này Gembanokami, cô cũng không bảo là sẽ không cử dụng Musashi. Nhưng không biết hắn muốn lương bổng thế nào.
- Dạ…

Gembanokami lau mồ hôi, dường như có điều khó nói

- Bẩm, là trên ngàn hộc.
- Như vậy là không trùng với những gì cô nghĩ. Đối với nhà ta thì cái chức Chỉ nam võ nghệ thì khi mới bắt đầu cũng chỉ dưới năm trăm học mà thôi. Hyougo Nosuke cũng vậy không khác. Cô không thể vì một mình Musashi mà làm trái lệ được.

Đối với Yoshinao thì chức Chỉ nam chẳng qua chỉ là một kiểu giáo viên dạy kỹ thuật chiến đấu cho từng người từng người mà thôi. Còn bổng lộc vạn hộc chẳng phải là bậc đại tướng thống lãnh ba quân, thời bình thì biết cách thi hành chính trị mà vỗ về an dân hay sao. Nhưng giới võ nghệ như Musashi lại là một đẳng cấp khác.
Daidouji Gembanokami rời thành liền đem chuyện này kể lại với Musashi.

- Vậy sao.

Musashi nín thinh. Chính vì trông đợi nhiều vào một chức quan của nhà Owari nên trên mặt Musashi hiện lên một nỗi thất vọng mà Gembanokami cũng không dám nhìn. Thế gian quả là không ngọt ngào đơn giản như Musashi nghĩ. Một lát sau mới nói

- Chẳng còn cách nào khác. Vậy là mỗ không có duyên với nhà ta nên đành chịu vậy.
- Các hạ đừng nói vậy. Nếu các hạ chịu nhận mức năm trăm hộc ban đầu thì thế nào. Đây chỉ là bổng lộc ban đầu khi mới nhậm chức, hình như là có gia tăng về sau này…

Musashi ngước mắt lên nhìn,
 
- Như thế thì còn mặt mũi nào.
 
Rồi chẳng bao lâu sau, Musashi dẫn theo mấy người đệ tử cùng dưỡng tử Miyamoto Iori mới hơn mười tuổi rời thành Nagoya đi về phía Tây.
Watanabe Kouan ngồi ở thành Sunpu nghe được tin này, dường như cảm thấy được nỗi bất hạnh của Musashi. Chính vì Musashi quá mạnh. Musashi đã có danh tiếng và trở nên cao kỳ tự đại. Lòng tự tôn tự đại và thân hình to lớn dị thường đó chẳng thể nào hợp với thể chế, tổ chức của thế gian được.
Sau đó Musashi đến thành Kuroda ở Chikuzen Fukuoka lưu lại một thời gian dài.
Nhà Kuroda là một Daimyou cỡ lớn bổng lộc trên năm mươi vạn hộc. Đây là một phiên hùng mạnh chỉ sau nhà Shimazu ở Kyushu mà thôi. Sau khi chí nguyện thứ nhất, thứ hai đổ vỡ thì Musashi chỉ có thể gửi hy vọng vào đây mà thôi. Cũng là vì lúc bấy giờ Musashi cảm thấy tinh thần sảng khoái lạ thường.
Khai tổ nhà Kuroda là Kanbei Yoshitaka, hiệu là Josui, vốn là người vùng Banshu, trong phiên có nhiều tổng quản cũng là người Banshu như nhà Kuriyama, Suga và Mori.
Phía mẹ của Musashi thuộc dòng Bessho là một danh gia vọng tộc ở Banshu nên Musashi cũng tự xưng là “con cháu họ Akamatsu vùng Banshu”. Akamatsu là tổ họ Bessho. Vì vậy mà trong phiên Kuroda này có nhiều họ thân thích với Musashi nên dĩ nhiên là cảm thấy thân thuộc như quê hương hơn là đất Edo hay Nagoya.
Musashi đến cư ngụ tại nhà một người bà con của tổng quản Suga là Funabiki Gyoubu và dạy võ nghệ kiếm pháp cho bọn võ sĩ trẻ trong phiên mà sống qua ngày. Họ Funabiki này vốn cũng phát tích từ làng Funabiki vùng Banshu. Tổ phụ của Gyoubu là Mokuzaemon theo thờ họ Shinmen, vì vậy về quan hệ thì là đồng liêu với ông Munisai. Vả lại Mokuzaemon cũng đã từng theo Munisai học binh pháp nên Musashi nương vào duyên này mà đến cư ngụ nhà Funabiki.
Gyoubu là người thân thiện, đồ chừng là Musashi đến Fukuoka này ắt có ý muốn tiến thân chi đây nên một ngày nọ thử thăm dò ý tứ Musashi thì quả nhiên là Musashi có bóng gió về việc đó.

- Thế tiên sinh mong muốn bổng lộc như thế nào thì vừa?
- Thế thì xin ngài hãy suy xét cho.
 
Musashi tủm tỉm cười, ánh mắt khôn ngoan khó lường đến nỗi Gyoubu phải giật mình.

- Chẳng là tại hạ có điều này muốn nói cho ngài biết. Trước đây tại hạ cũng từng đến cầu cạnh một chức vụ nho nhỏ ở phủ Tướng Quân.
- Ồ, vậy sao.
- Nhưng rồi có nhiều chuyện xảy ra nên mộng lớn không thành.

Gyoubu đồ rằng vào ban đầu thì Musashi sẽ đưa ra cái giá năm sáu trăm hộc gì đấy, nhưng sau lại kinh ngạc vì cốt cách võ sĩ cao kỳ, tự đại hơn mình nghĩ.

- Sau lại đến cầu cạnh ngài Dainagon ở Owari nhưng không hợp lúc nên cũng không theo.
- Hóa ra là vậy.

Từ chuyện này có thể thấy địa vị nhà Kuroda không phải là cao lắm. Họ Kuroda này vốn là Daimyou theo chính quyền Tokugawa sau trận phân tranh ở Sekigahara nên không được Ieyasu trọng dụng lắm. Gyoubu nghĩ rằng nếu không đưa ra cái giá thật cao thì khó lòng mà giữ chân Musashi được.

- Thế ba ngàn hộc thì tiên sinh thấy thế nào?

Musashi không trả lời đồng ý hay không, chỉ tủm tỉm cười. Gyoubu thấy đối phương không nói thẳng chuyện bổng lộc ra miệng nên rất lấy làm cảm kích. Thế thì vận động giúp hắn một phen vậy. Nhưng Gyoubu nghĩ rằng nếu đem chuyện này ra bàn bạc với bọn trọng thần trong phiên thì dễ gì họ đồng ý cho một võ sĩ giang hồ từ đâu đến nhận mức bổng lộ ban đầu là ba ngàn hộc. Thành ra mới trực tiếp bẩm với chúa phiên là Tadayuki. Chúa Tadayuki này không phải là người minh mẫn sáng suốt như chúa Yoshinao của phiên Owari, hay nói cách khác thì đây là nhân vật nhẹ dạ cả tin dễ bị gạt. Ở điểm nào đó thì Gyoubu đã lợi dụng sự cả tin của chúa.

- Musashi?

Quả là Tadayuki không hề hay biết gì về tên tuổi nổi cồn này. Gyoubu ra sức thuyết giảng rằng, nào là Musashi là kiếm sĩ số một Nhật Bản, nào là nếu như mời được người này phụng sự cho mình thì còn gì vinh dự bằng. Gyoubu lại còn thêm

- Nếu như người này nắm chức Chỉ nam dạy võ nghệ cho thế tử Tsuchiman thì chúa công thấy thế nào?

Tadayuki là người hết sức chiều chuộng con cái, nhấp nháy đôi mắt. Ồ, quả nhiên là đúng như Gyoubu dự đoán.

- Chuyện này thật lạ.

Tadayuki vỗ đùi đắc ý rồi nhanh chóng cho vời triều thần lại bàn bạc. Nhưng bọn trọng thần ai nấy đều nín thin không nói nửa lời. Ba ngàn hộc chẳng phải là bổng lộc của trọng thần đời đời theo gia tổ Josui vào sinh ra tử gây dựng nên nhà Kuroda đó sao. Mà số trọng thần được hưởng mức bổng lộc đó quyết chẳng phải nhiều. Cả bọn ai nấy đều nghĩ rằng dù Musashi có là nhân vật tiếng tăm đến đâu chăng nữa nhưng chỉ là một binh pháp giả, đối với nhà Kuroda thì chẳng có công trạng gì nên nếu nhận bổng lộc đó mà thống chế triều thần thì lắm kẻ không phục. Nhưng cũng chẳng ai dám dị nghị nửa lời là vì cả bọn đều biết tính khí dễ kích động của Tadayuki.
Bọn triều thần cáo lui rồi họp nhau lại bàn bạc, cử ra một người lại xin vào yết kiến Tadayuki.

- Chúa công cử dụng Musashi thì thật là điều đáng mừng.
- Ngươi cũng nghĩ thế sao?
- Nhưng chúa công đã từng giáp mặt người này bao giờ chưa? 
- Chưa. Hắn là người như thế nào?

Tadayuki sinh tâm hiếu kỳ. Viên triều thần kia thừa thế tấn tới.
 
- Xét về hình tướng, hai hốc mắt của hắn lõm sâu như hai nắm tay, cặp mắt tam giác phát ra nhãn quan sắc bén khủng khiếp vô cùng, gò má nhô cao, hắn không hề cạo râu mà để nó mọc dài rồi xoắn thành cuộn. Cả đời Musashi cũng không hề tắm rửa nên toàn thân bốc xú khí, móng tay cũng không gọt giũa mà tóc tai cũng không hề chải chuốt gọn gàng. Đầu hắn cũng to lớn dị thường, thân thể cao gần sáu thước. Thật là dị hình dị tướng.
- ………..

Nét mặt Tadayuki biến đổi như đang nín thở, chắc là đang tưởng tượng ra loài yêu ma quỷ quái nào đấy.

- Vì là người tướng mạo dị thường nên đà bà con nít không ai dám đến gần.
- Vậy chắc là Tsuchiman trông thấy không chừng lại sợ hãi.
- Thưa, thần nghĩ rằng không chỉ mình thế tử mới sợ dung mạo dị thường của người này. Cho dù có thế nào đi nữa thì thế tử cũng khó lòng mà thân thiện được. Thần trộm nghĩ cho dù Musashi có là bậc danh nhân thiên hạ vô song đi chăng nữa nhưng xét về điểm này thì chẳng có ý nghĩa gì cả.
- Lời ngươi nói chí phải.

Thế là chúa Tadayuki hoàn toàn đổi ý. Lúc này Musashi đã nhận được tin tốt rằng mình sẽ được trọng dụng, đang ở nhà Gyoubu nhận lời chúc mừng của chúng đệ tử. Chẳng bao lâu sau hay tin xấu, mọi dự định hoàn toàn sụp đổ. Ồ, quả nhiên là ta đã bị đem ra làm trò bỡn cợt rồi, Musashi thì thầm. Gyoubu vả mồ hôi, ra sức trần tình tạ tội. Musashi nhanh chóng lấy lại nụ cười rồi lễ tạ công lao khó nhọc của Gyoubu, nhưng hẳn là trong lòng chẳng lấy gì làm vui vẻ. Chẳng bao lâu sau thì dẫn bọn đệ tử rời thành Kuroda. Về sau, đã thành thói quen, mỗi khi đến Chikuzen thì Musashi đều không vào thành Kuroda mà dừng chân ở Hakata cách đấy một con sông.
Không lâu sau Musashi cùng chúng đệ tử đến dưới thành Akashi mười vạn hộc ở xứ Banshu. Thành chủ là Ogasawara Tadazane vô cùng cảm mến Musashi, khẩn khoản giữ lại thành phụng sự mình nhưng Musashi kiên quyết từ chối. Cũng là vì đây chỉ là một phiên nhỏ mà thôi. Lúc này Musashi chọn một thiếu niên tên là Hachigorou làm dưỡng tử. Cả đời Musashi không gần đàn bà nên chẳng có con cái gì mà chỉ nuôi ha, ba dưỡng tử. Hachigorou là một trong số đó. Nhân vật Hachigorou này là con thứ của hào nông Okamoto Kanbei, một người bà con của Musashi ở làng Kumeda quận Innan thuộc xứ Banshu. Musashi yêu mến tài khí của thiếu niên mà nhận làm dưỡng tử. Hachigorou khi trưởng thành thì lộ rõ tài năng chính trị, hành chính, quan liêu nên được nhà Ogasawara thu nhận. Sau khi họ Ogasawara này được chuyển đến cai trị phiên Kokura ở xứ Buzen mười bảy vạn hộc thì đổi tên Hachigorou thành Iori, đường thăng quan tiến chức thuận lợi và làm đến chức tổng quản. Mức bổng lộc cuối cùng lên đến bốn ngàn hộc. Cuối cùng thì Iori cũng đạt đến bổng lộc mà dưỡng phụ Musashi không với tới được, nhưng trớ trêu thay là Iori đạt được không phải nhờ vào tài năng kiếm thuật võ nghệ xuất chúng mà là nhờ vào tài quản lý hành chánh của mình.
Sau này Musashi cũng nhiều lần ghé đến dinh thự Iori ở Kokura. Lúc này đã quá năm mươi. Trong khoảng thời gian này Musashi bắt đầu trút những nỗi u uất của mình vì không được thế gian trọng dụng vào hội họa, điêu khắc gỗ, kim loại. Lại còn chế tạo cả binh giáp và những thứ liên quan nữa. Tất cả những tác phẩm này đều nổi bật xuất chúng, không giống những thứ mà một người thợ lơ mơ làm ra nhưng phong cách thể hiện luôn có vẻ khắc khổ, không mềm mại đẫy đà và luôn gây ra những ấn tượng mạnh mẽ, tinh tấn dũng mãnh trong lòng người xem. Mà dung mạo của Musashi thì càng lúc càng ghê gớm hơn, chẳng khác nào những pho tượng Dạ Xoa, Hộ Pháp, Tu La cả.

Ở trung ương không đạt được chí nguyện, Musashi lại đến đảo Kyushu và lúc này thì tên tuổi bắt đầu lan truyền trong giới chư hầu các phiên ở vùng này. Bắt đầu là Ogasawara Tadazane ở Kokura xứ Buzen, sau đó là các vị chư hầu ưa chuộng binh pháp võ nghệ như Hosokawa Churi, thành chủ Kumamoto xứ Higo, Arima Naozumi ở Nobeoka xứ Hyuga, thảy đều tranh nhau mời Musashi ghé chơi phiên trấn của mình. Musashi cũng khảng khái mà đến thăm. Vậy là Musashi trở thành một danh sĩ ở địa phương.
Lúc này người kể chuyện trong tập đối thoại “Watanabe Kouan Taiwa” đã trở thành kẻ lang bạt giang hồ, không còn giữ vị trí tổng quản cho họ Tokugawa ở Suruga nữa. Chủ nhân của Kouan là Thái Thú Suruga Dainagon Tadanaga vốn là con thứ của Tướng Quân Tokugawa đời thứ hai là Hidetada, tên cúng cơm là Kunichiyo. Thuở nhỏ Kunichiyo được phụ thân Hidetada cưng chiều hơn cả huynh trưởng tức là Tướng Quân hiện thời Iemitsu và cũng có lúc tin đồn phao rằng Hidetada sẽ lập con thứ làm thế tử thay vì con trưởng. Khi trưởng thành Tadanaga giữ chức Thái Thú năm mươi lăm vạn hộc của hai miền nhưng hành vi, ngôn động đều bạo ngược lộng hành. Sau có tin đồn mưu phản Iemitsu nên bị quản thúc ở xứ Kai. Có lẽ tin đồn này là do phe Iemitsu ganh ghét mà dựng lên. Nhưng với tính cách của Tadanaga thì cũng khó nói rằng nhân vật này sẽ không tập hợp bọn kiếm khách giang hồ và các gia thần bất mãn với Mạc phủ để nổi loạn đoạt lấy vị trí Tướng Quân từ tay Iemitsu. Watanabe Kouan này được chọn ra từ trong số hàng trăm gia thần của Mạc phủ đến thành Sunpu nhận chức Tổng quản, cũng là để giám sát mọi cử động của Tadanaga. Vì vậy vị trí của Kouan là không hề đơn giản chút nào.
Tadanaga sau này bị gửi đến thành Takazaki ở Kouzuke, chẳng bao lâu sau thì bị ép phải tự vẫn ở chùa Daishinji. Lúc bấy giờ được hai mươi chín tuổi. Sau khi lãnh địa Suruga bị thu hồi thì Kouan lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan giữa Mạc phủ ở Edo và Tadanaga, giữa một bên là nghĩa vụ và một bên là tình chủ cũ. Lúc bấy giờ mới nếm rõ mùi đau khổ của con đường quan liêu. Sau khi Suruga diệt vong thì nhận được mật báo từ Tướng Quân rằng hãy trở về. Kouan chỉ cười mà không theo. Hẳn là nhân vật đã từng vào sinh ra tử thời Chiến Quốc này đã bắt đầu ngán ngẫm thể chế quan liêu của thế gian. Kouan bảo sứ giả Edo rằng

- Xin hãy bẩm lại với Tướng Quân rằng ta sẽ sống quãng đời còn lại hết lòng phụng dưỡng chủ cũ.

Lúc bấy giờ Kouan đã được năm mươi hai tuổi. Từ thuở thiếu niên đã hầu cận bên cạnh Ieyasu rồi leo đến đỉnh vinh hoa vạn hộc. Nửa đời võ sĩ như thế cũng đã mãn nguyện lắm rồi, chẳng còn gì phải hối tiếc.
Thế rồi Kouan trở thành tăng lữ. Nhưng chẳng phải là thọ giới chính quy, được cấp tăng vị mà chỉ là cạo đầu trồi trở thành sa di mà thôi. Rồi Kouan phiêu bạt giang hồ, đi khắp nơi trong nước Nhật. Kouan một đời không hề túng thiếu cái ăn, chắc cũng là do Mạc phủ ngấm ngầm phụ trợ.
Khi Kouan đến Kyushu là vào tiết cuối thu, năm KanEi thứ mười bốn. Lúc bấy giờ ở Shimabara xứ Hizen đang có nổi loạn mà tục vẫn gọi là loạn Shimabara. Cuộc nổi loạn này là sự kiện tín đồ Thiên Chúa giáo nổi dậy chống sự đàn áp của lãnh chúa Matsukura Shigeji. Tổ chức phản loạn này do tàn đảng của Konishi Yukinaga bị đánh tan tác trong trận Sekigahara cầm đầu, họ huy động hơn hai vạn quân là tín đồ Thiên Chúa rút vào thành chống lại chính quyền Mạc phủ. (Do tình hình những nhà truyền giáo Phương Tây lúc bấy giờ lợi dụng tôn giáo để can thiệp vào chính trị nên họ Tokugawa đã ra lệnh cấm Thiên Chúa giáo) Lúc đầu Mạc phủ gửi thượng sứ là thành chủ Nukata phiên Mikawa, Itakura Naizennoshou Shigemasa đến đàn áp cuộc nổi loạn này. (Thượng sứ là chức sứ giả đặc biệt do Mạc phủ Edo phái đi các miền để truyền lệnh, thi hành nhiệm vụ)
Kouan vốn là chỗ quen biết cũ với Itakura Naizennoshou nên khi hay tin Shigemasa đang ở Hizen liền đến doanh trại thăm hỏi. Đấy là vào tháng mười hai niên hiệu KanEi thứ mười bốn.
Khi diện kiến, Kouan dường như không còn tin vào mắt mình nữa, dung mạo Shigemasa đã trở nên tiều tụy hốc há như là một người khác vậy. Shigemasa từng là nhân vật lanh lợi được cử đi sứ diện kiến Hideyori để giảng hòa trong trận mùa đông công thành Osaka. Lúc đó chỉ mới hai mươi bảy tuổi, dung mạo khôi ngô tuấn tú thế mà bây giờ, không rõ là vì ánh đèn lờ mờ trong trại hay sao mà lại trông xấu xí không thể ngờ như một lão bà. Hẳn là đã lao khổ nhiều trong cuộc chiến này, Kouan thầm nghĩ. Sự thật là Itakura Shigemasa lãnh đạo hơn hai vạn tinh binh của các phiên trấn ở miền Kyushu mấy lần công thành nhưng đều liên tục thất bại, số tử thương không ngừng tăng lên. Bây giờ chỉ còn cánh tính kế lâu dài, bao vây thành mà giữ vững chiến tuyến.
Shigemasa không ngờ bạn cũ đến thăm nên rất đỗi vui mừng, sai đặt tiệc rượu chiêu đãi rồi hàn huyên câu chuyện. Nhưng hầu như Shigemasa chẳng mấy khi đả động đến kế sách công thành này nọ mà luôn miệng kêu ca bất mãn với cách làm ấu trĩ của Mạc phủ. Kouan an ủi
 
- Công thành đâu phải là chuyện một sớm một chiều.
- Không phải như vậy.
 
Shigemasa nói như muốn khóc. Hẳn đây là nguyên nhân đã làm cho người này trở nên tiều tụy như vậy. Mạc phủ Edo cho rằng Shigemasa là phường bất tài nên cử Matsudaira Izunokami Nobutsuna làm tổng soái đến Kyushu chỉ đạo cuộc đàn áp. Vậy là Shigemasa chẳng còn mặt mũi nào. Shigemasa là kiểu người thích hợp với quan chức hành chính hơn là võ tướng nên chịu nhiều phiền não ưu tư từ phía hậu phương hơn là từ trận địch trước mặt.

- Kouan, ta ghen tị với vị trí của ông lắm.
- Hả?

Kouan lắc đầu, nhưng nói thật thì bản thân mình cũng chưa từng nghĩ rằng việc rời bỏ tổ chức thế gian, rời bỏ vinh hoa phú quý địa vị lại là một điều hạnh phúc như vậy.
Kouan lưu lại doanh trại của Shigemasa và bắt đầu đến trại các phiên khác thăm hỏi bạn bè, không ngờ lại gặp Musashi ở trại của họ Ogasawara. Đây là cuộc gặp gỡ thứ hai từ khi ở Suruga.
Ngày hôm đó bầu trời trong vắt không gợn một bóng mây nhưng lạnh vô cùng. May mắn là phía ngoài hàng rào trại có mấy người lính đang đốt lửa. Kouan ăn mặc rách rưới như thường lệ, tay chống gậy như kiểu thầy chùa khất thực đến bên tảng đá bên cạnh, ngồi xuống sưởi ấm. Bất chợt từ phía trong hàng rào có tiếng người nói, rồi mười mấy người võ sĩ trẻ mặc binh giáp lặng lẽ tiến ra. Người dẫn đầu thân thể cao lớn, vận thường phục, áo chẽn không tay, hông không đeo gươm mà tay mang roi ngựa. Bọn võ sĩ trẻ chung quanh lời ăn tiếng nói, nhất cử nhất động đối với người kia vô cùng lễ phép cung kính như bọn giáo đồ đối với giáo chủ. Người đó chính là Musashi.

- Này.

Thấy bóng người xưa, Kouan bồi hồi đứng dậy. Musashi nhìn lão thầy chùa xin ăn bên đường bằng ánh mắt như dao cắt.

- Này thầy chùa, đừng vô lễ.

Một gã võ sĩ trẻ toan ngăn lại nhưng Kouan làm ngơ không nói. Hình như Musashi vẫn chưa nhớ ra lão hòa thượng khất thực này là ai thì phải. Rồi Kouan nói nửa như bông đùa rằng mình trước đây là Watanabe Yamashiro Nokami, tổng quản của chúa Dainagon ở Suruga đã ra nông nỗi như thế này. Khuôn mặt Musashi trở nên lạnh ngắt như tiền. Bất giác Kouan bị cái nhìn uy nghiêm của Musashi áp đảo mà thì thào

- Vậy là thí chủ đã nhớ ra?

Musashi gật đầu không đáp. Quả là thái độ tôn đại cao kỳ nhưng Kouan chẳng hề để bụng bực dọc mà trái lại càng thấy vui mừng. Từ khi lang bạt giang hồ thì chẳng hiểu vì sao luôn muốn tiếp xúc với con người, muốn được nói chuyện với người, chẳng vì gì cả.

- Như thí chủ thấy đó, bây giờ ta đã trở thành thầy chùa ăn mày rồi.
- Tại hạ có nghe tin đồn.

Trong lời nói cũng toàn một vị lạnh ngắt. Có lẽ đối với người luôn nhắm vào cửa quyền quý như Musashi thì chẳng có chút hứng thú lão hòa thượng ăn xin này. Nhưng Kouan chẳng lấy làm điều mà lại càng hồ hởi
- Lần trước ở Suruga thí chủ có tặng ta con chim cút. Cái lễ đó không thể không trả. Hay là ta tìm chỗ nào làm chén rượu, vào doanh trại thí chủ được không?
- Tại hạ ở trong tổng hành dinh, đang bận rộn nên xin hẹn dịp khác.

“Tổng hành dinh”, Musashi như nhấn mạnh vào mấy từ này mà thể hiện uy quyền. Musashi khẽ cúi chào rồi dẫn bọn lính đi mất.
Thái độ tôn đại cao kỳ của Musashi vốn chẳng phải điều gì lạ trong giới binh pháp giả hay các hành giả tu khổ hạnh, nhưng Kouan nghĩ rằng không chỉ có như thế,

- Hay là hắn ghét ta.

Kouan thầm nghĩ. Kouan tự đánh giá thấp Musashi mà sinh tâm tự phụ an ủi cho mình. Trong khi Musashi một đời dày công trui rèn chỉ để đạt đến thân phận một hai ngàn hộc mà không được thì Kouan chẳng phải là người tài cán gì mà chỉ là võ sĩ gặp lúc tốt vận mà leo đến vạn hộc. Thế nhưng lại sẵn sàng vứt bỏ cái may mắn ấy không hề luyến tiếc. Đối với một người vận đen như Musashi thì Kouan là kẻ lãng phí đáng ghét.

- Nhưng tại sao hắn lại ở trong tổng hành dinh?

Sau này Kouan hỏi thăm một người quen thì biết rằng Musashi ở trong tổng hành dinh với tư cách là người bảo trợ cho dưỡng tử Miyamoto Iori đang phụng sự cho nhà Ogasawara. Dĩ nhiên, thân phận cũng chỉ là kẻ giang hồ như ngày nào.

- Thế thì có khác gì ta đâu chứ.

Nhưng nghĩ lại thì Musashi đã trở thành một dạng danh sĩ. Hẳn là trong con người Musashi có chỗ nào đó không còn là Musashi của ngày xưa nữa. Tuy chỉ là kiếm khách giang hồ nhưng được nhiều người kính trọng, nghe đâu lại được ha ba chư hầu ở Kyushu ngấm ngầm bảo trợ. Thái độ của Musashi đối với những kẻ quý mến mình luôn cao kỳ tự trọng tự đại, xem mình như một dạng “thầy” được mời làm khách. Musashi quả là người có lòng tự trọng cao đến dị thường.
Nhưng lạ lùng là Musashi ở trong trại Ogasawara không phải với tư cách của một kiếm khách, binh pháp gia mà hình như là muốn tham gia với tư cách của người tham vấn chiến thuật bày mưu tính kế.
Tham vấn chiến thuật, dụng binh là công việc tham mưu cho chính sách trong phiên, chỉ đạo binh sĩ tiếp cận trận địch. Nhưng điều kỳ lạ ở Musashi mà Kouan không thể hiểu nổi là tại sao Musashi lại lấy cái “hư học” chẳng có thực lực như tham vấn chiến thuật để làm quyền làm uy cho mình. Đối với giới võ sĩ từng vào sinh ra tử nơi chiến trường thời bấy giờ thì đây chỉ là một môn “hư học” mà họ nhìn bằng con mắt khinh miệt không ra gì. Musashi cũng là nhân vật sống cùng thời đại với Kouan, vả lại cũng từng tham gia chiến trường không ít lần thì tại sao lại tin vào thứ hư mà chẳng có thực này. Môn học này bắt nguồn từ nền tảng thuật dụng binh của Tôn Tử ở Đại Lục rồi lan truyền sang Nhật Bản, ban đầu là phái Koushu Ryu đi tiên phong, sau đó là các phái khác tiếp nối. Nhưng thuật dụng binh vốn chỉ là một môn học vấn giả mạo thịnh hành trở lại từ những năm Genna, khi họ Tokugawa diệt họ Toyotomi ở Osaka mang lại thái bình cho thiên hạ. Người ta xem đây chỉ là trò thổi phồng của khai tổ Obata Kanbei Kagenori mà thôi. Kagenori lại bắt đầu từ thuật dụng binh của Takeda Shingen thời Chiến Quốc rồi lập ra phái Koushu Ryu, sau có người kế thừa là Houjou Awanokami Ujinaga, một gia thần của Mạc phủ và là thân hữu của Musashi thời trẻ. Ngoài ra còn có những phái tôn Kusunoki Masashige thời Nam Bắc Triều (23), Uesugi Kenshin thời Chiến Quốc làm khai tổ. Đây là thời đại nhiều chi phái dụng binh mới liên tục xuất hiện. Tuy bề ngoài khác nhau nhưng thực chất cũng chỉ là một.
Một lý do khiến các chư hầu tranh nhau cầu cạnh những kẻ am hiểu thuật dụng binh này là vì số gia thần từng tham gia thực chiến ngày một giảm đi. Vạn nhất thiên hạ xảy ra đại loạn thì chỉ còn cách trông cậy vào bọn người này. Nhưng điều quan trọng là trong số bọn họ cũng chẳng có mấy người từng ra vào nơi chiến trường mà chỉ ngồi trên bàn mà đề ra sách lược, phần nhiều chỉ là hạng lập lờ đánh lận con đen che mắt kẻ không biết gì.
Có câu chuyện như thế này. Tokugawa Ieyasu là võ tướng với kinh nghiệm thực chiến hơn nửa thế kỷ từ thuở thiến niên cho đến lúc bảy mươi ba tuổi công thành Osaka, vào những năm cuối đời cho gọi Obata Kagenori đến
 
- Ta nghe nói nhà ngươi đang thuyết giảng thuật dụng binh của phái Koushu. Vậy quân bối của tướng Takeda Shingen năm xưa là vật như thế nào?
- Thần sẽ lập tức cho người chế tạo.
 
Quân bối là cây quạt sắt tượng trưng cho quyền lực chỉ huy ba quân của tướng lãnh thời Chiến Quốc. Kagenori sai thợ rèn đúc quân bối, khi hoàn thành là một cây quạt sắt bên trong chạm nhật nguyệt bằng vàng, bạc. Ieyasu một tay cầm lên thử rồi lập tức vứt bỏ
 
- Thứ nặng thế này mà cầm được sao.
 
Kouan thầm nghĩ, hẳn là Musashi rất say mê với hình ảnh tướng soái nên rốt cuộc đã bị cái thuật dụng binh huyễn hoặc kia chiếm hết tâm trí. Có thể là người này vào lúc cuối đời sẽ cho rằng gươm giáo đao thuật chỉ là cái “nghệ” của bọn binh tốt chẳng thể dùng để lập thân được chăng.
Kouan ở lại trong doanh trại của Itakura Shigemasa mười ngày.
Doanh trại Shigemasa tối tăm u ám như phản ánh nỗi u uất của chủ tướng.
Vào cuối năm có tin báo rằng tướng tư lệnh mới là Matsudaira Izunokami đã lên đảo Kyushu. Nỗi bực dọc dày vò của Shigemasa đã lên đến cực điểm nên tập hợp chư tướng, ra lệnh tổng công kích. Kouan thầm nghĩ hẳn là gã này muốn tự sát đây. Đêm đó vào doanh thì thấy Shigemasa vẫn còn thức.
 
- Một kẻ như ta chẳng có tư cách để nói, nhưng cứ trông khói nấu cơm trong thành bốc lên thì thấy binh sĩ bên trong vẫn chưa mệt mỏi. Chi bằng ta cứ đợi cho chúng chết khô chết mòn, như thế là thượng sách.
 
Shigemasa nín thinh một hồi rồi chỉ đáp.
 
- Izunokami đã đến rồi.
Năm cũ hết, năm mới sang. Sáng mùng một trời giăng đầy mây, đến chiều thì từng đợt cuồng phong bắt đầu rít lên. Shigemasa thấy rõ cơ hội, phát lệnh xuất kích đến các đạo quân rồi mình ngồi ngựa đi tiên phong, xông pha dũng mãnh đến cổng thành.
Dĩ nhiên là Kouan ở lại hậu phương. Chẳng có tư cách tham chiến mà cũng chẳng muốn tham gia.
Nhưng sau Kouan nghe tin Musashi chỉ là võ sĩ giang hồ cũng tham chiến thì lấy làm kinh ngạc. Musashi đi tiên phong trong đạo quân của Ogasawara, tóc dài xõa xuống lưng tung bay rối bù trong gió, tay cầm cương cưỡi ngựa uy dũng xông thẳng vào trận địch. Kouan đồ chừng đây là lần đầu tiên trong đời Musashi được ngồi ngựa tham gia chiến trường.
Cuộc tổng công kích này kết thúc bằng thất bại thảm hại của phe tấn công. Thượng sứ Itakura Shigemasa trúng đạn mà tử trận. Trong số hai vạn sĩ tốt có sáu trăm kẻ bỏ mạng, ba ngàn hai trăm người bị thương. Thật là kết quả thảm hại chưa từng có trong lịch sử công thành. Musashi lại lần nữa thuộc về phe bại trận. Cuộc đời bất hạnh của nhân vật này là luôn đứng về phe chiến bại. Nhưng rồi cái ngày mà lần chiến thắng duy nhất trong đời Musashi cũng đã đến. Chỉ bốn ngày sau khi Shigemasa tử trận là tổng soái Matsudaira Izunokami Nobutsuna cùng phó tướng Toda Uneme Noshou Ujikane, nguyên là lãnh chúa phiên Ogaki đến doanh trại. Tổng soái nhanh chóng chấn chỉnh tình hình trong trại rồi xiết chặt vòng vây, triệt đường lương thực của quân trong thành. Trong khoảng thời gian này cũng cho chiến thuyền trên biển pháo kích vào thành, đến tháng hai đã thấy dấu hiệu suy nhược của quân phiến loạn. Nobutsuna không bỏ lỡ cơ hội, ngày hai mươi sáu phát lệnh tổng công kích đến các phiên.
Musashi mừng rỡ tỏ rõ uy dũng. Đây chính là lúc phát huy tuyệt học võ nghệ, thuật dụng binh khiển tốt mà mình công phu được trong nửa đời. Musashi động viên Iori đang chỉ huy đạo quân tiên phong của nhà Ogasawara rồi hôm sau cùng binh sĩ hăng hái xông vào thành địch.
Nhưng không ngờ quân địch ngoan cường chiến đấu đến cùng. Khi hết đạn thì chúng thả đá lớn đá nhỏ, cây to gỗ cây nhỏ xuống dưới chân thành. Chẳng mấy chốc đã thấy la liệt những kẻ bị đá đè chết. Binh sĩ các phiên trông thấy cảnh tượng thảm hại như thế này thì chùng chân không dám tiến lên. Lúc bấy giờ Musashi ở giữa đám sĩ tốt thét lớn

- Iori, chính là lúc này đây! Samurai chính là kẻ xông lên vào lúc này đây!

Thét rồi vứt bỏ giáo, đeo gươm trên lưng rồi xông xáo bám đá leo lên thành. Bọn sĩ tốt được hình ảnh dũng mãnh ấy khích lệ nên cũng ồ ạt leo lên thành. Gỗ đá trên thành đổ xuống mỗi lúc một dữ dội hơn. Khắp bốn phương tiền hậu tả hữu, kẻ thì bị đá lăn trúng đầu, kẻ thì bị gãy tay gãy chân rơi xuống dưới. Iori quả không hổ là dũng tướng do Musashi nuôi dạy, hùng hổ bám từng viên đá leo lên thành. Bất giác ngoảnh lại thì không thấy Musashi đâu.
 
- Dưỡng phụ, người ở đâu!

Quay sang tả hữu, rồi lại nhìn xuống dưới. Cặp mắt Iori dừng lại dưới chân thành. Musashi bị đá lăn trúng ngã sóng soài trên bãi cỏ phía dưới. Nhưng hắn được dạy rằng trên chiến trường có thấy phụ thân cũng phải bỏ mặc mà xông lên. Vả lại đã leo lên đến thành thì đâu dễ leo xuống. Chẳng bao lâu sau Iori leo lên mặt thành, một đao chém chết bọn giáo đồ ồ ạt xông đến.
Theo sau Iori là binh lính nhà Ogasawara ồ ạt lên thành rồi tràn vào bên trong. Trong khi đó thì binh sĩ các phiên khác cũng đã tràn ngập trong thành nên chỉ trong một ngày là thành bị hạ.
Trong bức thư gửi thành chủ Nobeoka xứ Hyuga là Arima Zaemon Naozumi thì Musashi hôm ấy bị đá lăn trúng ống chân. Vì tuổi tác đã cao nên thương tích khá nặng, động đến xương mà mãi sau vẫn không đứng dậy được.
Lúc bấy giờ Kouan đã rời khỏi Shimabara, không chứng kiến được cảnh Musashi được chuyển về hậu phương. Vậy là trận chiến đã kết thúc mà Musashi vẫn không có cơ hội thi triển sở học của mình. Còn Kouan thì sau này đến Karatsu rồi lại phiêu du đến Nagasaki xứ Hizen. Lúc ở Nagasaki thì có nghe tin tức về Musashi. Rằng đã được nhà Hosokawa năm mươi tư vạn hộc ở Kumamoto xứ Higo khẩn khoản mời về. Theo như Kouan nghe được thì Musashi trở thành khách của nhà Hosokawa, được cấp cho mười bảy người hầu cùng ba trăm hộc gạo.
Phiên chủ Hosokawa Churi là một minh quân, tuổi đời cũng khoảng Musashi nhưng lại yêu thích cốt cách võ sĩ, thân thể cao lớn của Musashi nên cho mời đến, lấy lễ thượng khách mà đối đãi. Hosokawa lại cho gia thần Iwama Kakubei đến chỗ Musashi mà hỏi thăm bổng lộc, thân phận, mong muốn. Thái độ của Musashi lúc này rất thận trọng, chỉ là “phận khách”. Vì như vậy thì danh dự của mình không bị bổng lộc nhiều ít làm ảnh hưởng. Hosokawa Churi chấp nhận, mà đối với số gạo cấp cho Musashi còn bảo rằng

- Thật là không tốt nếu định giá tài năng võ nghệ kiếm pháp.

Vì vậy mà Churi cho đặt ra thuật ngữ đặc biệt chỉ dùng cho Musashi, không gọi là cấp bổng lộc, cốt để hợp thức hóa cho vị trí của Musashi. Churi cũng muốn cất nhắc Musashi nên cho phép cùng tham gia săn bắn với bọn Tổng quản trong phiên, chọn mảnh đất dưới thành Kumamoto mà cho xây dựng một dinh thự khang trang. Hơn nửa đời lang bạt, khi đã quá năm mươi thì đây là lần đầu tiên Musashi có nhà cửa.
Musashi rất lấy làm cảm kích với sự đãi ngộ của Churi. Câu cửa miệng lúc bấy giờ là “Kẻ sĩ là người biết chết vì tri kỷ”. Nhưng hạnh phúc này cũng không kéo dài. Đến năm sau, vào mùa xuân năm KanEi thứ mười tám thì chúa Churi đột nhiên ngã bệnh rồi mất. Hẳn là Musashi đã xúc động khóc than một mình.
Nhưng Watanabe Kouan lúc này chẳng hay tin tức gì về Musashi. Chẳng là vì Kouan bất chấp quốc lệnh trong thời bế quan tỏa cảng (24), lên thuyền rời Nagasaki mà sang Trung Hoa. Ba mươi năm sau mới trở về Nhật Bản. Lúc Kouan rời Nhật Bản là triều đại nhà Minh ở Lục Địa. Sau khi chu du các miền ở Minh quốc, Kouan lại trở về đất Kyushu. Lúc bấy giờ là niên hiệu Kanbun (25), thời Tướng Quân thứ tư là Ietsuna. Khi Kouan cập đảo Hirato thì chỉ mới là đầu mùa xuân. Nhưng khi vào thành Kumamoto thì những bông hoa mơ nở sớm đã bắt đầu rụng. Lúc này cả Hosokawa Churi lẫn Musashi ở Kumamoto đều đã trở thành những con người lịch sử.
Kouan lưu lại Kumamoto một đêm rồi đến chiều rời thành để kịp đến Edo.
Khi đi đến làng Yuge thì thấy bên vệ đường có một bia mộ rêu bám, đến gần xem thử thì thấy trên bia khắc mấy chữ “Bia mộ cư sĩ Shinmen Musashi”.
 
- Musashi cũng ở đây sao.
 
Trong ký ức quên lãng của lão Kouan tám mươi hai tuổi thì hình ảnh kiếm khách ngạo mạn kiêu kỳ kia lại hiện về. Lão gọi đám bách tính đang làm ruộng lại hỏi thăm thì quả nhiên, đây là đồi Musashi.
 
- Bởi vì ngài Niten mình mặc giáp đầu đội mũ trụ, mang đại kiếm hướng về con đường bên kia mà phủ phục ở đây.
- Ồ, tại sao thế?
- Vì ngài Niten chịu ơn chúa trong thành kia nên đời đời khi chúa đến Edo yết kiến Tướng Quân thì ngài mặc giáp đại tướng đợi ở đây mà bảo vệ chúa. Hình như ngài Niten để lại di ngôn rằng hãy mặc giáp trụ cho thi thể sau khi mình mất.
 
Mặc giáp trụ ư. Một cánh chim chiền chiện bay vút lên.
Lúc bấy giờ Kouan đã cất bước đi rồi. Lão nghĩ rằng dục niệm của Musashi chính là đây. Musashi đến lúc chết mới được mặc giáp trụ của đại tướng lần đầu tiên và cứ để nguyên giáp trụ như thế mà chôn xuống lòng đất. Kouan nghĩ đến dục niệm của con người mà bất giác rùng mình, cảm thấy dường như máu toàn thân chảy ngược lên.
 
 
Hết
 
________________________________________
 
Cước chú
 
(1) Niên hiệu kéo dài từ năm 1688~1704.
 
(2) Niên hiệu kéo dài từ năm 1704~1711.
 
(3) Niên hiệu kéo dài từ năm 1573~1592.
 
(4) Honnou: ngôi chùa phái Pháp Hoa ở Kyoto. Năm 1582, Oda Nobunaga đến nghỉ ngơi tại chùa để chuẩn bị cứu viện cho thuộc hạ của mình là Toyotomi Hideyoshi đang bao vây thành Takamatsu ở xứ Bitchu, cho bộ tướng là Akechi Mitsuhide xuất phát trước. Nhưng nào ngờ Mitsuhide tạo phản, mang quân vây chùa nên Nobunaga tự vẫn.
 
(5) Hatamoto: một chức danh võ sĩ thời Edo, bổng lộc không hơn một vạn hộc nhưng được quyền diện kiến Tướng quân.


(6) Niên hiệu kéo dài từ năm 1596~1615, Musashi tham gia vào trận chiến Sekigahara năm Keichou thứ năm.

(7) Phiên: đơn vị hành chính địa phương ở Nhật thời phong kiến. Có thể hiểu một phiên như một tỉnh ngày nay. Đứng đầu phiên là lãnh chúa thần phục chính quyền trung ương. Hộc: đơn vị đo thể tích, chủ yếu là lúa gạo. Một hộc là mười đấu, chừng 180 lít. Thời phong kiến ở Nhật, quan lại được phát lương tính theo hộc lúa.
 
(8) Từ binh pháp (heihou, hyohou) thời kỳ này còn mang nghĩa võ nghệ.
(9) 1 thước= 10 thốn, khoảng 30.3cm. Có thể xem là quá cao so với người đương thời.


(10)Nguyên văn là Karou (gia lão), một chức lớn trong từng phiên thời phong kiến ở Nhật. Chức này thống lĩnh toàn bộ võ sĩ, phò tá lãnh chúa coi sóc mọi chuyện trong phiên.
 
(11) Một thứ võ khí như chĩa ba ngắn, có ngạnh để bắt kiếm đối phương.
 
(12) Thời đại Chiến Quốc là thời đại loạn lạc nhất trong lịch sử Nhật Bản. Đất nước này bị chư hầu chia cắt thành hàng trăm nước nhỏ tự trị, tuy bề ngoài vẫn thần phục chính quyền trung ương. Thời kỳ này giống thời 12 sứ quân ở Việt Nam.
 
(13) Niên hiệu kéo dài từ năm 1596~1615.
 
(14) Sekigahara: địa danh ở phía tây nam tỉnh Gifu ngày nay. Ngày 15 tháng 9 năm 1600 nơi đây đã xảy ra trận chiến kinh thiên động địa giữa họ Tokugawa chống lại các thế lực đối lập. Tokugawa thắng lợi và lập nên Mạc Phủ Tokugawa đóng ở Edo, tức Tokyo ngày nay. Đây là trận đánh quy mô lớn nhất trong lịch sử phong kiến Nhật Bản.
 
(15) Đơn vị đo lường cổ. Một gian vào khoảng 1.8m. Một thước chừng 0.3m.
 
(16) Kusasrigama là món binh khí xuất phát từ nông cụ. Nó là đoạn xích dài một đầu nối với lưỡi hái, đầu kia nối với quả chùy. Có lẽ gần giống với món “bút chì” mà nhà văn Nguyễn Tuân tả trong “Vang bóng một thời”.


(17) Thế Hassou thủ kiếm ở một bên vai, vừa có thể chống đỡ phần thượng đoạn mà cũng có thể phòng ngự phần trung đoạn.

(18) Niên hiệu kéo dài từ năm 1624~1644.

(19) Sở ty đại Kyoto (Shoshidai Kyoto) là một chức danh của Mạc phủ đặt ra để giám sát giới võ sĩ, quý tộc ở Kyoto và những vùng lân cận.
 
(20) Chính nhân vật Yoshioka Seijurou này về sau trở thành hình mẫu cho nhân vật trong tiểu thuyết của Yoshikawa Eiji, tượng trưng cho sự sa ngã của con người sống trong vinh quang quá khứ.
 
(21) Niên hiệu kéo dài từ năm 1615~1624.
 
(22) Seigan là thế thủ kiếm ở trung đoạn, mũi kiếm hướng trướng mặt đối phương và là thế thủ công phòng hợp nhất.
 
(23) Thời kỳ Triều đình Nhật phân chia thành hai nhóm ở Nam, Bắc bắt đầu từ năm 1336.
 
(24) Thời Tokugawa Iemitsu, ông đã ra lệnh đóng cửa Nhật Bản, cấm tàu bè thông thương, người trong nước không được ra ngoài.
 
(25) Niên hiệu kéo dài từ năm 1661~1673.
Ta muốn sống an bình. Nó chà đạp ta. Ta phải đánh đổ nó. Nó kềm kẹp ta. Ta phải đánh trả nó. Muốn đánh trả ư? Làm sao được khi ta còn không có chí đánh? Làm sao được khi thân ta còn lo sợ an nguy, sợ hãi cái chết?

(Trích Karl Marx)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-27 12:14:13đánh đổ bạo tàn>
Kiếm khách Kinh đô
 
Nguyên tác: Shiba Ryou Tarou
Người dịch: Nhất Như

 
Truyện ngắn "Kiếm khách Kinh đô" (Kyou no Kenkaku) được đăng trong tập tiểu thuyết Chambara  "Chân thuyết: Miyamoto Musashi" do Koudansha xuất bản năm 1983 và là một bộ với truyện ngắn "Chân thuyết: Miyamoto Musashi", thể hiện nhiều góc nhìn khác nhau đối với cùng những nhân vật.
 
 
 
 
Một
 
 
Buổi sáng hôm Yoshioka Mata Ichirou quyết đấu với binh pháp giả phái Ten Ryu là Santoku, Genzaemon mang cần câu dẫn theo tên hầu như thường lệ.
 
- Huynh trưởng đi đâu đấy?
 
Mata Ichirou gọi với theo. Genzaemon vờ như không nghe thấy, đi tiếp mười mấy bước, khi ra đến cổng thì dừng chân.
 
- Đến sông Kamiya.
 
Naotsuna ngửa mặt nhìn trời xem thời tiết như thói quen của một tay câu cá chuyên nghiệp.
 
- Trời không mưa. Ta đi câu cá chép.
- Câu cá chép sao? Giờ mùi hôm nay, tiểu đệ có trận tỉ thí với kiếm khách Asayama Santoku phái Ten Ryu trên đồng Yasaka núi Higashi Yama, huynh trưởng có hay không?
- Ta biết rồi.
- Biết rồi… sao lại còn bỏ đi câu?
 - Cho dù ta có lo lắng cũng chẳng được gì. Người quyết đấu là đệ chứ không phải ta. Nếu may mắn thì sẽ thắng thôi. Nhưng nên nhớ rằng đồng Yasaka phía Đông là bãi cát, phía Tây là bãi lầy, nếu đệ dồn được tay kiếm quê mùa ở Joushu đó về phía Tây thì cầm chắc phần thắng, hiểu không?


Naotsuna Genzaemon nói rồi bỏ đi. Mata Ichirou trông theo như muốn nhổ phọt bãi nước bọt trong miệng ra. Thật là hết cách.

Kempou.  Đó là hiệu của người vừa mới vác cần câu quay lưng ra đi. Kempou là gia hiệu truyền đời của dòng họ Yoshioka này. Nhà Yoshioka được tôn xưng là lò luyện binh pháp của Tướng Quân Ashikaga từ thời Muromachi đến nay. Từ thời khai tổ Naomoto trải qua các đời Naomitsu, Naokata và đương chủ đời thứ tư Naotsuna, đều là những bậc danh nhân được thiên hạ truyền tụng. Vào niên hiệu Ouei (1), nhà Yoshioka đã được Tướng Quân Yoshimochi ban cho danh hiệu “Heihou Fusou Daiichi” (Binh pháp Phù Tang đệ nhất). Từ đó trở đi, trải qua một trăm bốn mươi năm, cho đến đời thứ tư thì họ nhà này chưa từng thua bất kỳ võ phái nào.

Nhưng dân chúng ở kinh đô không gọi danh gia này bằng từ ngữ kính trọng như thường thấy đối với các danh gia khác, mà chỉ gọi thân mật là
 
- Nhà Kempou ở Nishino Touin.
 
Kempou là gia hiệu của dòng họ này, nhưng cũng không khác gì bảng hiệu của các nhà buôn trong vùng. Đối với bách tích thì Kempou cũng chỉ là một cửa hiệu buôn kiếm pháp, bán võ nghệ mà thôi. Về điểm này thì ít nhiều có khác với giới kiếm khách các vùng chỉ mong lập thân, vang danh thiên hạ hạ nhờ tài nghệ của mình. Cũng là vì dòng họ này đứng trên lập trường phòng vệ. Có thể nói, đánh bại nhà Yoshioka chính là mục tiêu hàng đầu của binh pháp gia khắp Nhật Bản. Nếu hạ được Yoshioka thì danh hiệu Phù Tang đệ nhất kia sẽ lọt vào tay mình, danh tiếng sẽ vang dội mà đường công danh cũng rộng mở. Sự thật là mỗi tháng đều có mấy người đến gõ cửa võ đường Yoshioka với ý định như vậy. Thông thường thì bọn môn đệ lâu năm trong nhà sẽ ra tiếp đấu, nếu môn đệ thua thì kẻ thách đấu lại vòi đến gia chủ.

Huynh trưởng của Mata Ichirou là Naotsuna trở thành đường chủ kế thừa dòng họ Yoshioka năm hai mươi mốt tuổi. Lúc ấy Naotsuna tính khí dữ dội khác hẳn với bây giờ. Vô phúc nếu có kẻ nào hạ xong bọn môn đệ mà vòi đến gia chủ thì hắn sẽ  ra tiếp chiêu liền.
Naotsuna mạnh như hổ đói. Năm đầu niên hiệu Keichou (2), Naotsuna dùng một đòn đánh chết kiếm khách ở Bushu, đệ tử của Makabe Dou Hisamoto, khai tổ phái Kasumi Ryu nên được dân chúng trên kinh cả sợ mà gọi bằng cái tên “Tarobou”. Tarobou là tên gọi của quỷ Thiên Cẩu sống trong chùa Kurama, vốn rất quen thuộc trong đời sống tâm linh của dân chúng Kyoto. Sau này, Naotsuna lại hạ thêm kiếm khách Kurakage gì gì đó của phái Shinkage Ryu, Mutou Jinuemon của phái Chujou Ryu và Hiyama Jubei của phái Shintou Ryu. Họ đều là những tay cừ khôi của các phái kiếm danh giá. Hiyama bị chém giữa trán phát cuồng, mấy ngày sau người ta thấy hắn loạng choạng ở bờ sông Kamogawa rồi tắt thở dưới sàn của chùa Eikandou. Còn về Kurakage thì càng thảm hại hơn. Hắn bị đánh trúng tay vội nhảy lui.

 - Tại hạ thua rồi.

Kurakage vứt mộc kiếm nhưng Naotsuna lắc đầu, khẽ bảo "chưa xong".

 - Vừa nãy chỉ là chạm nhẹ vào lớp da cánh tay của các hạ thôi. Kiếm pháp là kỹ thuật chế ngự cái chết, nào xin mời đấu lại lần nữa.

Lời nói nhẹ nhàng, mềm mỏng như bọn quý tộc ở kinh đô nhưng bên trong lại chứa đựng một khí chất đáng sợ đến kinh người. Kurakage mặt mày xám ngắt.

- Thôi! Thôi! Tại hạ đã lĩnh hội được sức mạnh của tôn phái rồi. Tại hạ xin được kíu ở đây.
- Thế là thế nào, chỉ mới vài hiệp như thế này thì làm sao thấy hết được cái tinh túy của kiếm pháp kinh đô. Nào xin các hạ đừng khách sáo, cầm lấy mộc kiếm mà tiếp tục đi.
 
Naotsuna mỉm cười một cách lễ phép, nhưng bên trong nụ cười đó ẩn chứa cái gì đó cuồng loạn khủng khiếp mà cho đến bây giờ, Mata Ichirou mỗi khi nhớ lại, hãy còn rùng mình. Sức nặng của trách nhiệm đè lên vai đường chủ Naotsuna khiến tinh thần hắn cũng trở nên đáng sợ khôn lường.

Kurakage loạng choạng đứng dậy.
 
- Nào!

Naotsuna hùng hổ xông đến như con mãnh thú bị dồn vào đường cùng, mộc kiếm quét một đường, khuôn mặt Kurakage vỡ nát vọt cả óc ra sàn nhà. Sau trận tỉ thí, Naotsuna cho gọi Mata Ichirou vào phòng của mình

 - Lúc đó đệ nhăn mặt phải không?

Lúc đó Mata Ichirou hãy còn là một thiếu niên chưa trưởng thành, nín thở. Không ngờ rằng Naotsuna vừa thi đấu lại có thể nhìn thấu suốt tâm can của thiếu niên đang ngồi lẫn lộn trong đám môn đệ trên võ đường.

 - Đêm nay hãy đến sông Kamiya.

Đêm đó Mata Ichirou leo lên bờ đê sông Kamiya khi vầng trăng vừa hiện ra ở đằng Đông. Bóng đen Naotsuna nhanh nhẹn tránh lưỡi gươm dài hai thước hai thốn (3) của Mata Ichirou huơ vội trong đêm tối.
 
 - Bắt đầu từ đêm nay cho đến khi hết trăng, mỗi đêm đệ phải đấu với ta trăm hiệp. Hãy đánh như đệ hận ta, hãy chém ta nếu có thể.

Mata Ichirou cũng là người cuồng khí, tính cách dữ dội không kém huynh trưởng của mình, chẳng nói chẳng rằng quét ngang lưỡi gươm vào người Naotsuna. Nhưng vừa động thủ, Mata Ichirou  đã bị một nắm lá trúc đập vào mặt mà ngã lăn ra đất. Naotsuna không hề nhân nhượng, xấn tới đá văng tiểu đệ xuống sông. Rồi từ đó, mỗi đêm hai người đều đến đây “luyện tập” đánh đấm một cách tàn nhẫn như vậy. Naotsuna là người cuồng khí ra tay thẳng thừng nên tự nhiên Mata Ichirou cũng vô cùng căm hận, trong mỗi đường kiếm đều toát ra sát khí dữ dội.

 - Hãy hận ta đi! Hãy giết ta đi! Nếu giết ta thì vị trí gia chủ nhà Yoshioka sẽ thuộc về ngươi!

Rồi mặt trăng dần dần biến mất khỏi bầu trời đêm. Naotsuna mới dọa tiểu đệ rằng

 - Từ hôm nay không cần phải đến sông Kamiya nữa, nhưng trong vòng mười mấy ngày từ bây giờ đến khi trăng mọc lần nữa thì đừng để ta tập kích được. Cho dù là ở đâu, bất cứ lúc nào thì cũng phải đề phòng.
 
Mata Ichirou khi đi ngủ cũng ôm thanh kiếm bên mình. Mấy đêm liền hắn không tài nào ngủ được, nằm trên sàn mà mắt cứ mở thao láo. Đến hết đêm thứ ba thì không còn chịu nỗi nữa nên lăn ra ngủ. Dường như Naotsuna chỉ đợi khoảnh khắc này liền xông vào đấm thẳng vào mặt tiểu đệ. Rồi cũng có ngày Mata Ichirou phải ngủ trên mái nhà, có hôm lại chui xuống sàn để lẩn trốn Naotsuna. Đến ngày thứ mười thì không còn chịu nổi nữa liền bỏ nhà chạy đến nhà mẹ ruột xin ngủ nhờ. Đêm đó, Mata Ichirou đang đứng trong nhà xí thì bất giác bị một ngọn trúc quất vào lưng lộn nhào ra vườn. Mata Ichirou thấy bóng Naotsuna thấp thoáng chỗ lúc nãy mình đứng.

 - Ngươi đã hiểu được vị thế của nhà Yoshioka chúng ta chưa? Họ Yoshioka đã trở thành cái đích nhắm cho bọn kiếm khách khắp nơi. Có thể nói là chúng ta có hàng trăm hàng ngàn kẻ thù luôn rình rập mọi nơi mọi lúc. Vì thế mà huynh đệ chúng ta không thể sống nhởn nhơ được. Đối với những kẻ có ý định hạ thủ chúng ta thì tuyệt đối không thể nhẹ tay với chúng, đó là cách phòng thủ duy nhất của nhà Yoshioka này. Mata Ichirou, nếu ngươi muốn sống lâu với nhà Yoshioka thì hãy tiếp tục rèn luyện, tiếp tục tinh tấn, hãy tàn nhẫn!
 
Đã bảy năm trôi qua. Mata Ichirou ngày đêm rèn luyện kiếm thuật, trong số môn đệ có kẻ thì thầm

 - Đúng là thiên tài. Còn hơn cả đươường chủ nữa.

Nhưng sự thật là chẳng ai biết được tương quan thực lực giữa hai huynh đệ họ như thế nào. Mata Ichirou cũng không biết. Từ mùa hạ năm ngoái, bỗng nhiên Naotsuna chẳng hề động đến mộc kiếm, mà cũng không đấu tập với Mata Ichirou nữa mà xuất hiện ở võ đường thì lại càng không.

 - Huynh trưởng gần đây có chuyện gì?
- Chẳng việc gì cả. Tự nhiên ta thấy sợ binh pháp rồi.

Naotsuna nở một nụ cười đầy ẩn ý khó hiểu. Thịt dư trên khuôn mặt hắn cũng bắt đầu phình ra. Đấy cũng là lúc Naotsuna vùi đầu vào những thú vui như câu cá, chơi bời đàng điếm với bọn du nữ.
 
 - Này Mata, ta sẽ không tỉ thí với bất cứ ai nữa,  mà cũng không muốn luyện tập nữa. Tất cả mọi việc ta giao cho đệ, hãy sống chết vì dòng họ
Yoshioka này.
 
Naotsuna cười lạnh nhạt. Mata Ichirou cảm thấy khó hiểu đến nín thở.

 - Huynh trưởng?
- Ta thì làm sao chết được chứ. Cho dù có chuyện gì xảy ra đi nữa thì Yoshioka Kempou này cũng phải sống sót đến cùng. Nếu như để thua bọn kiếm khách phái khác thì đừng nói là danh tiếng gia tộc, môn phái mà cả di nghiệp của tổ tiên bốn đời để lại đều tiêu tan, cả nhà chúng ta sẽ thây chất thành núi. Như thế chỉ làm vinh danh cho kẻ khác mà thôi. Nếu người khác thấy ta luyện tập thì họ sẽ dò biết được lực lượng của ta, vậy nên tốt nhất là đừng để kẻ khác biết được.
 
Bắt đầu từ khoảng thời gian này đám bách tính ở Kyoto vẫn thường nói sau lưng Naotsuna là
 
 - Lão Kempou ở Nishino Touin trông giống như mặt con lửng.
 
Cũng có thể là vì khuôn mặt béo phệ ra vì rượu thịt kia đã bắt đầu giống khuôn mặt của loài động vật nhỏ này.
 
 
 
Hai
 
Yoshioka Mata Ichirou đã chiến thắng trong trận đấu với Asayama Santoku ở đồng Yasaka trên núi Higashiyama. Santoku bị đánh vỡ sọ, còn thi thể thì bọn môn đệ nhà Yoshioka mang vứt vào một ngôi chùa phái Nichiren trên núi Toribeyama. Thật là tàn nhẫn. Sau trận đấu, Mata Ichirou đem mọi chuyện bẩm lại thì Naotsuna chỉ tặc lưỡi

- Vậy sao!
.
Naotsuna lập tức lái câu chuyện sang hướng khác, nào là tin đồn về một người ở Minh quốc là Lý Tam Quan đến cư ngụ chùa Kennin ở Matsubara.
 
- Tay Lý Tam Quan này là thương nhân buôn mực ở Trung thổ, mực của hắn đắt hơn vàng mà các vị Daimyou cứ tranh nhau mua.
- Đệ biết rồi.

Mata Ichirou tỏ vẻ miễn cưỡng, khoảy tay.

- Nếu huynh đã giao lại mọi chuyện quyết đấu cho đệ thì ít nhất cũng phải nghe chứ?
- Hừm, nhưng Lý Tam Quan chẳng phải là tay buôn vừa đâu.
- Hắn cũng biết đao thuật của Trung thổ à?
- Hắn rất giỏi nghề nhuộm.
- Thật là vô ích. Quả thật là huynh trưởng đã biến thành con lửng mất rồi.
- Ờ thì ta là con lửng. Vì là con lửng nên ta đâu cần đến Yasaka, nhưng đại khái cũng biết được chuyện tỉ thí của đệ. Tay Santoku đó, ban đầu thủ kiếm ở thế Hassou (4), định đâm ngược lên nhưng sau lại chuyển sang thủ thế hạ đoạn đúng không? Mà mũi kiếm của hắn hơi chếch sang bên phải.
- Thì ra huynh trưởng nấp nơi nào mà quan sát trận đấu à?
- Đâu có, ta nào có xem. Chẳng qua là trước khi quyết đấu, ta đã cho người điều tra kỹ lưỡng lực lượng, thói quen của Santoku rồi. Ta thấy hắn kém hơn đệ đến mấy bậc, vì vậy mà ta an tâm.
- Huynh trưởng!

Mata Ichirou nghe rồi bỗng dịu nét mặt.

- Huynh trưởng nhắc đến chuyện Lý Tam Quan, hình như là có ý hứng thú với hắn?
- Không.

Naotsuna là người khó tính, bỗng chốc nét mặt trở nên mất hứng.
 
 - Thôi để khi khác.

Mata Ichirou chẳngkhông thể nào hiểu nổi suy nghĩ của vị huynh trưởng béo phì của mình nữa.
Sau này, chuyện Mata Ichirou đánh bại Asayama Tenku của phái Ten Ryu lan truyền đi khắp nơi. Tên tuổi thứ đệ nhà Yoshioka chẳng những nổi như cồn ở kinh đô mà trong giới binh pháp gia các vùng, không ai là không biết tới. Ngày càng có nhiều kẻ đến thăm viếng võ đường Yoshioka , dĩ nhiên là bọn họ đều sợ kiếm pháp của Mata Ichirou nên không phải đến để thách đấu như trước nữa mà là vì muốn nghe những chuyện tỉ thí với Santoku ở Yasaka ra sao. Mata Ichirou hãy còn trẻ, mỗi khi nghe hỏi đến liền nổi hứng kể hết tần tật, không giấu diếm điều gì. Phần nhiều những kẻ đến nghe chuyện là bọn a dua, thấy thế chúng liền hùa theo.

 - Yoshioka Mata Ichirou đại hiệp đúng là binh pháp giả đệ nhất Nhật Bản.

Không hiểu tự bao giờ mà trong mắt thế gian, Mata Ichirou dần dần trở thành đường chủ thực sự của nhà Yoshioka, bóng dáng của Naotsuna mỗi ngày một mờ dần.

- Huynh trưởng, miệng lưỡi thế gian thật khó lường. Như thế thì phái kiếm Yoshioka nhà ta còn ra gì nữa.
- Thế đệ muốn thế nào?
- Đệ muốn huynh thỉnh thoảng lại đến võ đường mà tập cùng.
 
Trong lòng Mata Ichirou không giấu nổi sự háo thắng, nôn nóng muốn so sánh thực lực giữa mình và Naotsuna.

 - Điên khùng!

Kempou đoán được tâm ý của Mata Ichirou, rồi đột nhiên đổi chủ đề câu chuyện, hăng say kể về một du nữ mới gặp gần đây ở khu trường ngựa Yanagino.

 - Cô nương ấy người xứ Izumo, da hơi đen một chút nhưng dáng người mảnh mai, đôi mắt đen huyền lấp lánh như ánh sao đêm.

Nói rồi liếc nhìn Mata Ichirou, nở nụ cười mà thì thào

- Khi nào đệ cho gọi cô nương ấy lại hầu rượu một hôm thử xem.
- Đệ từ chối. Đệ không muốn phải dính vào rắc rối, làm trung gian cho huynh và cô nương ấy.

“Ồ, ta đã hiểu rồi, thì ra là như thế!”. Mata Ichirou dường như muốn nói, hắn chỉ có thể nghĩ rằng huynh trưởng của mình vốn không tự tin vào kiếm pháp của bản thân nên định lấy lòng ta, khiến ta phải gánh vác lấy trách nhiệm bảo vệ nhà Yoshioka đây mà.
Trong bọn môn đệ có tên Hirai vốn là gia thần của Sở ty đại Kyoto (5) là Itakura  Iganokami, một hôm đến ghé tai Mata Ichirou mà rằng “Ngài có hay gì chăng?”.

- Trong ba năm gần đây, mỗi đêm vào giờ tí, khi mọi người đều đã say ngủ thì ngài Kempou theo cửa sau lẻn ra ngoài, đến giờ sửu thì quay trở lại. Chuyện này là thật chứ không phải giả.

Theo như lời hắn thì một đêm nọ, để kiểm tra thực hư ra sao nên đã cho một tên môn nhân bám theo Kempou. Bóng người vượt qua phía Tây con sông Horigawa, đến trước cồng chùa Tịnh Bồ Đề (6) rồi lại  tiếp tục rẽ về phía Tây, lẩn vào khu phế tích đổ nát của nhà Isshiki vốn là một trọng thần của Tướng Quân Ashikaga trước đây. Nói là di tích dinh thự nhưng thực ra chỉ còn lại mấy bức tường trên nền đất cỏ mọc đầy, ao hồ đã trở thành đầm lầy, cây dại cỏ hoang mọc um tùm như rừng. Sau khi bóng Kempou biến mất vào trong mấy bức tường thì tên môn nhân nấp vào bên đường, lặng lẽ theo dõi tình hình.

Bốn bề vắng lặng tịch mịch.
Rồi một lát sau, không hiểu vì sao mà bọn chim ngủ đêm trên cây lại cất tiếng náo động cả lên. Lũ chim xao động trong khoảng hai giờ rồi đột ngột im bặt, bóng Kempou lại xuất hiện trên đường. Cái bóng to lớn dị thường khiến tên môn nhân bất giác hoảng sợ mà toan bỏ chạy, chợt thấy cái bóng nhỏ dần và tiếng nói vẳng lại.

 - Sương đêm quả là độc quá.

Cái bóng lại nhỏ dần rồi mất hút vào trong bóng đêm, chẳng để lại một tiếng chân.

 - Thật là quái lạ. Thế tại sao bọn chim đêm lại nhặng cả lên?

Mata Ichirou chẳng thể nào hiểu nổi, cho gọi tên môn nhân đã chứng kiến toàn bộ cảnh tượng hôm ấy lên chất vấn.

- Huynh trưởng ta làm gì trong khu rừng Isshiki đó? Chẳng lẽ là tập kiếm ư?
- Không phải ạ, hoàn toàn không nghe thấy tiếng Kiai, mà cũng không có vẻ gì là đang vụt kiếm cả. Tiểu nhân nghĩ là đại nhân chỉ ngồi một chỗ mà chỉ quán (7) thôi. Nhưng tại sao chỉ ngồi chỉ quán mà chim chóc lại náo loạn như thế th thật không thể hiểu nổi.
 
Mata Ichirou đem chuyện này nói với thê tử của Kempou là Okoto. Okoto vốn là con gái của Kasaoka Harima Nosuke, một quý tộc mê chuộng võ nghệ ở kinh đô. Bản thân Harima Nosuke cũng đã từng theo học đường chủ Yoshioka đời trước, nhận ấn chứng kiếm pháp của phái này, nên Otoko không phải là kẻ chẳng phải là hạng người vô duyên với võ nghệ.

 - Ta không biết chuyện này. Hẳn đây là chuyện thế gian đặt điều mà nói thôi.

Rồi Mata Ichirou lại đến hỏi chính Kempou.

- Đệ đến hỏi tẩu tẩu xem.
- Tẩu tẩu bảo rằng chỉ là thế gian dựng chuyện.
- Nếu thế thì không sai. Ta luôn ở bên cạnh Okoto không rời nửa bước. Nếu như ta đi đêm, thì lẽ nào Okoto lại không hay?
 
Kempou nói một cách tỉnh bơ như chẳng dính dáng đến mình.
Mà bọn dân đen ở Kyoto cũng vốn ưa đặt điều dựng chuyện nên việc này lan truyền ra ngoài, đến khi trở lại lọt vào tai Mata Ichirou thì thành ra chuyện vô cùng kỳ quái. Thiên hạ đồn rằng Kempou nhà Yoshioka đương đêm xuất hồn lang thang ngoài đường. Linh hồn của Kempou một mình vẩn vơ khắp thành Kyoto.
 
 - Điên khùng!!
 
Mata Ichirou nghĩ rằng chuyện này ắt sẽ phương hại đến danh tiếng nhà Yoshioka nên quyết định tự mình điều tra. Thời gian, địa điểm đều đã biết cả rồi, khu phế tích nhà Isshiki, kéo dài hai canh từ giờ ngọ đến giờ sửu.
Mata Ichirou một mình lẻn vào khu dinh thự bỏ hoang của nhà Isshiki, nhưng chẳng thấy bóng dáng Kempou đâu. Đêm hôm sau, rồi hôm sau nữa, hắn đều đến dò xét nhưng chỉ nghe thấy tiếng cú gáy đêm mà thôi.

 - Bọn chim đêm náo loạn là vì cớ gì?

Mata Ichirou nghĩ rồi tuốt gươm, thủ thế thượng đoạn.

 - Yatt!!!

Tiếng thét Kiai vang lên như ép vỡ lồng ngực cùng một ánh thép lóe lên xé toạt màn đêm. Bọn chim trú đêm trên cây bỗng im bặt.
Mấy hôm sau lại thấy Kempou xuất hiện ở võ đường. Thật là một chuyện hiếm có.

 - Này Mata, ta đã nghe cả rồi. Dạo gần đây hình như mỗi đêm ngươi đều đến khu phế tích nhà Isshiki. Thế có gặp được linh hồn của ta không hả?

Kempou mỉm cười.

- Có gặp được không?
- Không hề gặp được. Quả nhiên tin đồn chỉ là tin đồn.
- Hà! Nhưng cũng đừng thất vọng, rồi khi nào đó sẽ gặp được thôi. Nếu thích thì mỗi đêm hãy đến xem.

Rồi chẳng bao lâu sau, võ đường Yoshioka nhận được thư thách đấu của kiếm khách Kashima Rinsai phái Shintou Ryu, người vùng Joushu.
Địa điểm là dưới gốc tùng Sagarimatsu ở Kongu trong kinh. Thời gian là tháng sáu năm Keichou thứ mười, tức là khoảng thời gian này huynh đệ nhà Yoshioka cũng nhận được thư thách đấu của kiếm khách giang hồ Miyamoto Musashi.
Nhưng truyền thuyết phía bên Musashi có điều không thực. Chẳng hạn như địa điểm quyết đấu giữa Musashi với phái Yoshioka là dưới gốc tùng Sagarimatsu, làng Ichijou Ji phía bắc kinh đô, nhưng địa điểm này đã bị nhầm lẫn với gốc tùng Sagarimatsu ở Kongu, trong trận đấu với Kashima Rinsai phái Shintou Ryu. Hơn nữa, theo như văn bia văn mà dưỡng tử của Musashi là Miyamoto Iori dựng lên ở chùa Enmeij thuộc xứ Kokura nhằm tán dương công đức của dưỡng phụ, thì trong trận đấu với Musashi, phái Yoshioka gần như tuyệt diệt hoàn toàn. Nhưng sự thật là cả Kempo Naotsuna lẫn Mata Ichirou đều sống thọ đến cuối đời. Chuyện này sẽ thuật lại sau.

Phái Shintou Ryu vốn là một trong những phái có nguồn gốc phát tích của kiếm thuật Nhật Bản, khai tổ là Meshizasa Ienao, một hào thổ đất Katori xứ Shimosa. Đây là một phái võ cổ nên họ sử dụng cả đao thương giáo mác, không giống như những phái võ nghệ sau này chỉ chuyên tập trung chuyên niệm vào kiếm pháp.
Rinsai người cao gần sáu thước, thân thể vạm vỡ tràn trề sức lực.
Kempou cho gọi Mata Ichirou lại mà dặn dò.

 - Trong giới võ nghệ, nếu hạ được một người thì sẽ có kẻ khác ham muốn cái danh đó mà tìm đến. Rinsai này cũng chỉ vì nghe tin đệ hạ được Santoku mà đến thách đấu. Nếu thắng được Rinsai này thì tự nhiên sẽ lại xuất hiện Rinsai khác, một cái vòng lẩn quẩn chẳng bao giờ có kết thúc. Hay là đệ đừng nhận lời thách đấu của bọn chúng nữa.


- Như thế thiên hạ sẽ chê cười Mata Ichirou này là kẻ nhát gan.
 
Kempou chẳng nghĩ ngợi gì, tự mình đem chuyện tỉ thí trình lên Sở ty đại Itakura Iganokami Katsushige.
Hôm tỉ thí, khi Mata Ichirou đến dinh thự Itakura thì Kempou lại dặn dò.

- Đối phương là người của cổ phái, không chỉ tinh thông kiếm pháp thôi đâu, đệ hãy cẩn trọng.
- Đệ biết rồi.

Đúng như Kempou dự đoán, Kashima Rinsai đến nơi thách đấu với cây gậy dài sáu thước, một đầu gắn chặt với lưỡi kiếm một thước sáu thốn.
Thật là một thứ binh khí cổ quái chưa từng thấy.

 - Yatt!!!

Tuy tuổi đời hãy còn trẻ nhưng kinh nghiệm thực chiến thì không thiếu, Mata Ichirou cười ngạo nghễ rồi nhanh nhẹn xấn tới bên Rinsai.

 - Này Rinsai, nhà ngươi chẳng hiểu võ nghệ binh pháp là gì cả. Ngươi trang trí với trường vật như thế kia, hẳn là nghĩ rằng thắng thua trong binh pháp là dựa vào độ dài ngắn của vũ khí sao? Thật đáng thương! Thôi hãy niệm Phật đi, ta đến lấy mạng đây!
- Đừng nói xằng!

Rinsai trúng kế Mata Ichirou, bất giác huơ gậy đánh tới. Mata Ichirou nhẹ nhàng nhảy lui ra sau, khi chân vừa chạm đất liền tuốt kiếm. Rinsai thừa thế lấn tới, toan trở gậy ra chiêu thì đường kiếm của Mata Ichirou đã dài ra một trượng. Rinsai như khựng lại, thốt lên
 
 - Thằng nhãi!
 
Thốt rồi đổ vật ra đất. Khuôn mặt đã bị bổ làm đôi.
 
 
 
Ba
 
 
Từ sau trận đấu dưới gốc tùng Sagarimatsu, danh tiếng Mata Ichirou ngày càng nổi như cồn.
Thứ đệ nhà Yoshioka thân thể cao lớn, khỏe mạnh, dáng người tuấn tú, bước đi lại dịu dàng. Đến nỗi trong đám con gái có sắc ở khu trường ngựa Yanagino, có nhiều ả thuê cả họa sĩ vẽ chân dung Mata Ichirou mà dán trong phòng.
Theo như ghi chép của phía nhà Yoshioka thì nhân vật Bandan Uemon Naoyuki, sau này tử chiến trong trận mùa hè ở Osaka, đã từng có lần đến thăm võ đường Yoshioka này. Nhân vật tiếng tăm này trong thời gian dài lang bạt giang hồ khốn cùng túng quẫn có đến nương tựa nơi hòa thượng Dairyu của thiền viện Diệu Tâm mà cầm cự qua cơn đói. Lúc này, Badan xưng danh là Thiết Ngưu, ngày ngày đi mây về gió khắp nơi trong kinh, gõ cửa từng nhà xin ăn. Hình dáng lúc nào cũng như kẻ lang thang, hông lại đeo đại kiếm nên dân chúng thương hại mà tranh nhau bố thí.

Bandan Uemon ghé đến nhà Yoshioka ở Nishino Touin chẳng qua cũng chỉ là vì mục đích này. Cũng giống như đám bách tính trong thành, Kempou thương hại cảnh ngộ không hợp thời mà cho mời vào thư phòng đãi làm thượng khách.
Bandan nhìn Mata Ichirou một hồi rồi nói

 - Chẳng hay thiếu hiệp có phải là công tử nhà Yoshioka mà bọn con gái trong kinh vẫn truyền tụng không?

Bandan nhìn chăm chú, ra vẻ quan tâm lắm. Kempou vốn đã từng gặp gỡ Bandan trước đây nên cũng không ngại ngùng gì.

- Thiết Ngưu tiên sinh là dũng sĩ vào sinh ra tử nơi chiến trường, vậy ngài thấy ngu đệ Mata Ichirou như thế nào?
- À!

Bandan Uemon vốn không hiểu gì về binh pháp võ nghệ. Thuật đao thương kiếm pháp và chuyện chém giết nơi chiến trường là hai việc hoàn toàn khác nhau. Trong số các bậc danh nhân võ nghệ thì hầu hết đều chưa từng trải qua kinh nghiệm chiến trường cho nên trong mắt của Bandan thì binh pháp võ nghệ chẳng qua chỉ là một cái “nghệ” như vẽ tranh, khảy đàn mà thôi.

 - Thiếu hiệp là một nghệ giả lanh lợi hoạt bát.

Uemon thật thà đáp. Kempou thản nhiên gật đầu, nhưng dường như Mata Ichirou lại nổi nóng

 - Vậy theo Thiết Ngưu tiên sinh, thì kiếm thuật cũng chỉ là một thứ nghệ năng như đánh trống, thổi sáo thôi sao?
- Ấy, thật là phiền.

Uemon rót chén rượu ra vẻ đùa cợt, một hơi uống cạn rồi lại rót thêm mấy chén nữa.
 
 - Tại hạ không hiểu gì hơn ngoài chuyện trận mạc chiến trường. Vì chưa từng nghe thấy chuyện chỉ cần dùng đao thuật, kiếm pháp thôi mà công được thành, nên tại hạ cho rằng đó chỉ là một cái nghệ mà thôi.
- Thế thì tiểu sinh xin được lĩnh giáo một chiêu với tiên sinh. Nào xin mời ra võ đường!

Mata Ichirou toan đứng dậy nhưng Kempou đã vội ngăn lại.
 
 - Mata, đã quên gia pháp rồi sao!
 
Nhà Yoshioka trước đây cũng đã từng xảy ra chuyện tương tự như thế này.
Chuyện xảy ra với Kempou đời trước là Naokata, phụ thân của huynh đệ Naotsuna. Theo như ghi chép thì lúc bấy giờ, Thái Cáp Toyotomi cho vời Hieyoshi vời Naokata vào thành Fushimi, sắp xếp một trận tỉ thí với Katou Kazue Nokami Kiyomasa. Kiyomasa là danh tướng một đời bên cạnh Hideyoshi, từng vào sinh ra tử, lập biết bao chiến công. Trong lần xuất binh sang Triều Tiên, khi quân đội Hideyoshi gặp mãnh hổ tấn công thì Kiyomasa đã một mình giết hổ giải nguy. Nhưng nếu là Hideyoshi cho vời Naokata thì quả thật kỳ lạ. Ban đầu, Hideyoshi chỉ xuất thân chỉ từ một anh lính trơn rồi lập được công trạng mà lên đến chức Thái Cáp. Tuy nắm thiên hạ trong tay nhưng cho đến lúc chết Hideyoshi cũng chẳng hề tỏ vẻ hứng thú với giới kiếm khách, võ nghệ, mà suốt đời cũng không bao giờ chẳng hề nhắc đến chữ võ nghệ. Như vậy, hẳn là Hideyoshi không cho gọi Naokata mà chính là Kiyomasa đã cho gọi Kempou đời trước đến dinh thự Katou trong thành Fushimi.

 - Hãy đấu với ta một hiệp.

Kiyomasa truyền rồi bước ra vườn.
Dĩ nhiên Kiyomasa cũng chẳng phải là người am hiểu binh pháp. Chẳng qua chỉ là chút tự tin vào kinh nghiệm chiến trường, từ năm mười mấy đã xông pha trận mạc chưa một lần trễ nải.
Nhưng khi vừa vác mộc kiếm vào trận thì đã bị Kempou Naokata nhanh nhẹn đến sát bên mà đánh nhẹ vào tay.

 - Lại lần nữa nào!

Đối với Kempou thì Kiyomasa là bậc quý nhân nên không dám bổ thẳng lên đầu, nên mấy lần đấu lại đều chỉ chém nhẹ vào tay mà thôi.

 - Ta đã thấy cái nghệ của nhà ngươi rồi. Để ta cho ngươi xem thế nào là thực chiến.

Koyomasa vận binh giáp đã chuẩn bị sẵn, đầu đội mũ trụ, tay chống trường thương uy phong lẫm liệt như tướng nhà trời.
 
 - Yatt!!!

Kiyomasa thét lớn, Naokata thấy uy vũ mà hoảng sợ, không, chỉ là giả vờ hoảng sợ mà vứt mộc kiếm đi, bất giác phủ phục xuống sàn. Quả nhiên đúng là con người của Naokata. Cho dùng có thật là sợ uy dũng của Kiyomasa đi nữa, nhưng nếu đấu thật thì Naokata cũng không thua. Nhưng nếu cứ gây phương hại cho lòng tự trọng của Kiyomasa thêm nữa thì hậu quả đó một kẻ võ nghệ khó mà lường hết được, kết quả là nhà Yoshioka hẳn sẽ không yên ổn gì. Hẳn là Naokata đã thấy được điều này. Dù vậy, vì chuyện này mà thế gian vẫn rêu rao rằng
 
 - Quả nhiên là ngay cả Yoshioka cũng phải thua uy dũng của Kazue Nokami.
 
Kempou Naotsuna sau này mới căn dặn môn sinh

 - Binh pháp võ nghệ không phải là cái nghệ nơi chiến trường nên các ngươi nhất quyết không được tỉ thí với những kẻ tự mãn về kinh nghiệm trận mạc.

Nếu nói về chuyện xông pha trận mạc trên lưng ngựa thì Bandan Uemon cũng không hề thua kém Katou Kiyomasa. Nhưng Naotsuna đã thấy rõ binh pháp võ nghệ và chuyện trận mạc là hai việc khác nhau nên không dại gì tranh hơn thua tại võ đường Yoshioka này, một dòng họ vẫn chuyên bán võ nghệ để kiếm sống. Vì vậy mà Kempou đã cản Mata Ichirou lại. Vừa quan sát thái độ tôn đại của Uemon, Kempou Naotsuna vừa nghĩ đến chuyện khác.

 - Vậy thì binh pháp là cái gì?

Naotsuna trong thời gian dài đã ôm ấp mối ngờ vực này.
Nếu chỉ là cái thuật đâm chém đối phương trên chiến trường thì người như Uemon cũng hơn hẳn bọn binh pháp giả làng nhàng. Mà cũng đúng như lời Uemon nói, cho dù có mài giũa kiếm pháp, võ nghệ đến đâu đi nữa thì cũng không thể dùng để chiếm thành đoạt đất được. Như vậy thì binh pháp võ nghệ phỏng có ích gì.
Naotsuna đem mối ngờ này đến hỏi Bandan Uemon.

 - Tại hạ cũng không rõ. Nhưng gần đây ở Edo có phái Yagyu Ryu tiếp thu “tâm thuật” của Thiền gia, hình như binh pháp võ nghệ là ngộ đạo, dùng làm phương tiện để khai ngộ tinh thần. Nhưng nếu như thế thì không cần cầm đao mà cạo đầu làm thầy tu thì có phải hay hơn không?
- Có thể lắm.

Trong tận thâm tâm Kempou cũng đồng ý với điều này.

 - Như vậy thì  binh pháp của họ Yoshioka chẳng phải là ngộ đạo như phái Yayu Ryu,  mà cũng không phải là thuật chém giết nơi chiến trường như các phái khác, võ nghệ phái Yoshioka Ryu chỉ là để bảo vệ gia tộc mà thôi.

Trong một thời gian dài, Kempou suy nghĩ một cách sai lầm như vậy. Trong sinh hoạt thường nhật đã bắt đầu có những biểu hiện tiêu cực cũng chính vì chuyện này.
 
 

Bốn
 
 
Mùa thu năm Keichou thứ mười, nhà Yoshioka nhận được thư thách đấu của kiếm khách ở Banshu là Shinmen Miyamoto Musashi.

 - Shinmen!

Kempou hay tin bất giác thốt lên, rồi lại trầm ngâm một hồi.

 - Hắn là người như thế nào?

Musashi không hề gặp trực tiếp người nào trong nhà Yoshioka mà chỉ đưa cho lão gác cổng một phong thư rồi bỏ đi.

 - Hắn cao năm sáu thước bảy, tám thốn, gò má nhô ra, mép không râu, tròng mắt vàng như lòng trứng.
- Đúng là dị tướng. Thế khoảng bao nhiêu tuổi?
- Chừng hăm mốt, hăm hai.

Như vậy là Kempou đã hiểu rõ hành động của Musashi. Hắn sợ rằng nếu xuất hiện trước mặt người nhà Yoshioka thì sẽ bị nhìn thấu tâm can, thói quen, nên chỉ nói rằng mọi việc sẽ được quyết định ở địa điểm thách đấu. Rõ ràng, hắn tuổi hãy còn trẻ nhưng đã khôn ngoan lọc lõi như kẻ già đời. Theo như bức thư thì Yoshioka phải mang thư trả lời đến người quét cổng ở chùa Diệu Pháp (8) trên núi Higashiyama. Nếu phái Yoshioka không đáp trả thì hắn sẽ rêu rao rằng
 
 - Chẳng những khắp kinh đô mà người trong thiên hạ đều biết sự hèn kém của Yoshioka.
 
Kempou hoảng hốt khi nghe đến họ Shinmen này là vì trong đời Kempou trước, nhà Yoshioka cũng nhận được lời thách đấu từ kiếm khách mang cùng họ đến từ Banshu tên là Munisai. Trận ngự tiền tỉ võ diễn ra trước mặt Tướng Quân cuối cùng thời Muromachi là Ashikaga Yoshiaki, đấu ba hiệp thì Munisai đã thắng hai hiệp.

Nhà Yoshioka được gọi là lò luyện binh pháp, kiếm thuật của Tướng Quân Muromachi và được phong danh hiệu “Fusou Daiichi Heijutsu sha” (Phù Tang đệ nhất binh giả). Nhưng sau trận tỉ thí này hình như Munsai đã được phong danh hiệu “Hinoshita Musou Hyouhou Jutsusha” (Nhật hạ vô song binh thuật giả), tức là binh pháp giả vô song dưới gầm trời) và đi rêu rao quảng bá danh hiệu này.
Munisai không những tinh thông đao thuật, kiếm pháp mà còn thạo cả lối đánh Jitte (9), nhưng cuộc đời sau này ra sao thì ở kinh đô không nghe nói đến nữa.

 - Hay là Musashi này có họ hàng gì với Munisai nhỉ?

Kempou thầm nghĩ. Sau này mới biết rằng Musashi chính là con ruột của Munisai, nhưng lúc bấy giờ vẫn chưa hay điều này. Kempou rất sợ họ Shinmen này. Bởi vì đối với nhà Yoshioka thì đây là họ mang đến nhiều điềm gở không gì bằng.

 - Hãy điều tra chỗ ở của hắn.

Kempou chợt trở nên cẩn trọng, cân nhắc kỹ lưỡng. Đầu mối chỉ là một người quét cổng ở chùa Diệu Pháp như Musashi nói, khi cho bọn môn đệ đến đến dò la tin tức thì lại chẳng thu được điều gì quan trọng. Theo như lời người quét cổng thì một hôm có người cốt cách vạm vỡ Musashi đến bảo

 - Nhà Yoshioka ở Nishno Touin có bức thư muốn giao cho ta, ngươi hãy giữ hộ.

Nói rồi đưa cho hai đồng bạc bỏ đi mất.

 - Chỉ như thế thôi sao?

Kempou thất vọng.
 
 - Nhưng nếu là người tướng mạo dị thường như thế thì hắn có vào kinh cũng dễ nhận ra thôi. Hãy tìm thêm đi.

Bọn môn đệ chia nhau ra tám hướng sục sạo khắp kinh thành nhưng rốt cuộc chẳng có kết quả gì. Đối phương dường như đã biến mất, có thể là đã lẩn trốn đâu đó bên ngoài kinh. Trong khi ấy, vì Kempou chưa hề trông thấy dung mạo của đối phương, nên tưởng tượng ra hình ảnh một hình ảnh một
Musashi to lớn, ngày đêm bị hình ảnh đó ám ảnh. Thật là thất sách, chưa đấu mà đã thua mất rồi.
Đối với nhà Yoshioka, chừng nào còn mở lò luyện binh pháp cho thiên hạ thì chỉ còn cách chấp nhận trận tỉ thí này mà thôi.
Theo thủ tục, Kempou đem chuyện này bẩm lên Sở ty đại, đột nhiên Itakura Iganokami lại hứng chí.
 
 - Trận đấu này sẽ được tổ chức trong vườn Sở ty. Đích thân ta sẽ giám sát.
 
Hẳn là quan thị chính Itakura đã sanh tâm tò mò, hứng thú với võ sĩ giang hồ Musashi dị hình dị tướng và chưa rõ tông tích này. Vì vậy mà trận đấu này được tổ chức công khai, không như trận tỉ thí với Asayama Santoku lần trước, để hai bên tự quyết định mọi chuyện.
Kempou về nhà đem chuyện này thuật lại với Mata Ichirou.
 
 - Tuy đối phương chỉ là một tay kiếm quê mùa nhưng đối với ta, đây lại là một trận đấu công khai. Này Mata!

Kempou lặng lẽ nói.

 - Trận này đích thân ta sẽ đấu.
- Huynh trưởng sao?

Mata Ichirou nghe rồi buột miệng thốt lên

 - Liệu có thắng được không?

Kempou vẫn không hề thay đổi sắc mặt.

- Có thể là thua. Nhưng nếu là ngươi thì thua chắc.
- Huynh trưởng, cho dù có là phụ tử huynh đệ đi nữa nhưng trong binh pháp tuyệt đối không có nhường nhịn. Giữa huynh và đệ thì ai hơn ai?
- Ta cao hơn một bậc.
- A! Vậy thì mời huynh ra võ đường, đệ lãnh giáo một chiêu.
- Cần gì phải động đến mộc kiếm mới phân định thắng thua chứ. Đêm nay, ngươi hãy đến chỉ quán ở khu rừng nhà Isshiki thử xem. Nếu là ngươi thì bọn chim chóc chẳng thèm cất nửa lời.
- Thế là nghĩa là thế nào?

Mata Ichirou đợi khi màn đêm buông xuống đến liền cất bước đến khu phế tích nhà Isshiki. Vầng trăng khuyết đã treo lơ lửng trên đỉnh núi Higashi xa xa.
Dưới đám cỏ trong khu rừng, lũ sâu bọ kêu râm ran trong ánh trăng thu, nhưng khi mỗi bước chân Mata Ichirou giẫm chân lên cỏ là  tiếng côn trùng chung quanh lại im bặt. Hắn sờ soạng trong đêm rồi leo lên một tảng đá, ngồi xuống thu chân vào thế kiết già.
Bề ngoài thì phương pháp chỉ quán trông không khác gì với tọa thiền, nhưng đây vốn không phải là hành pháp của Thiền môn mà xuất phát từ các hành giả của Mật giáo (Phật giáo Mật tông) và phái Thiên thai. Nếu như mục đích của tọa thiền là làm cho mọi loạn tưởng tạp niệm quy về cái “không” thì ngược lại, chỉ quán làm cho mọi tưởng niệm thống nhất vào trong một niệm. Các phái võ nghệ trước đây chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo Thiên thai, sau có phái Yagyu Ryu kết hợp với Thiền tông, dùng chỉ quán làm phương pháp tập luyện tâm can.
Chẳng hạn, trong chỉ quán có phương pháp thủy quán.
Hành giả tập thủy quán ngồi nơi bờ sông đến mấy ngày, mấy tháng, nhìn dòng sông trôi đi mà thực quán kiếp nhân sinh cũng chẳng khác gì dòng sông kia. Đối với hành giả đạt đạo thì không cần nhìn thấy dòng sông, cho dù có nhắm mắt thì cũng có thể trông thấy thấy được dòng sông như
đang đứng ở bờ sông. Nghe nói vào một thời vương triều xa xưa, có hành giả ngồi trong phòng thực hành chỉ quán. Lúc ấy có người bên ngoài vô ý mở cánh cửa ra khiến thì nước trong phòng cuồn cuộn tuôn ra suýt chết đuối. Dĩ nhiên đây chỉ là ảo giác, nhưng người ta nói rằng nếu bản thân tu luyện đến một trình độ nào đó thì không chỉ đối với bản thân mà còn có thể kéo người khác vào ảo giác nữa.

Mata Ichirou ngồi chỉ quán đã lâu, khi trăng đã lên đến đỉnh đầu thì bất giác cảm thấy sau lưng có khí người.

 - Này Mata!

Thì ra là Kempou.

 - Chẳng phải chú mày không thể đánh thức được lũ chim đó sao?
 
Bóng đen cất tiếng cười. Mata Ichirou bỗng thấy máu chảy ngược, nổi xung lên. Từ trước đến nay, hắn vẫn luôn kính trọng huynh trưởng của mình, nhưng không hiếu sao trong giây phút này, hắn lại thấy hận Kempou đến xương tủy.

 - Rút kiếm ra!

Mata Ichirou thét rồi nhảy xuống tảng đá, tuốt gươm vào thế thủ thượng đoạn chực bổ xuống đầu Kempou.
 
 - Thắng thua trong binh pháp chẳng qua là do kỹ thuật kiếm pháp quyết định. Ngày xưa, huynh luôn bảo rằng hãy xông vào huynh mà chém. Vậy thì hôm nay ta sẽ thực hiện điều đó ở đây!
- Được.

Bóng đen của Kempou khẽ động đậy. Có tiếng tuốt gươm ra khỏi vỏ rồi ánh thép lóe lên dưới trăng. Mũi kiếm từ từ hạ dần xuống dưới, dừng lại ở thế hạ đoạn.

- Sao không xông lên?
- Đệ, đệ thua rồi.

Mata Ichirou định dò xét hơi thở của Kempou nhưng không hiểu vì sao, mỗi lúc hắn lại thấy khó thở hơn. Kết cục hóa ra chính hô hấp của mình đang loạn, toàn thân ướt đẫm mồ hôi.

 - Huynh…huynh trưởng, đây là cái gì?

Lúc đó lũ chim bỗng nháo loạn, cất tiếng kêu như xé nát màn đêm rồi bay tứ tán. Thình lình Kempou nhảy lùi ra sau.

- Huynh trưởng!
- Đừng ồn ào! Bây giờ thì ta có thể chém chết ngươi như trở bàn tay. Ngươi đã hiểu cốt lõi của binh pháp chưa? Binh pháp võ nghệ, nếu giỏi quyền cước kỹ thuật thôi thì chưa đủ. Để hạ được đối thủ thì còn cần một thứ quan trọng hơn cả kỹ thuật nữa.
- Là … là cái gì?
- Khí.

Kempou dịu giọng, tức thời lũ chim không còn xao động nữa mà toàn thân Mata Ichirou cũng cảm thấy như được buông lỏng. Thật là kỳ quái.

 - Theo ta thấy, thì kỹ thuật nhà ngươi có phần hơn ta, nhưng xét về khí thì chẳng thể nào bì được. Chẳng phải là ngươi đã không thể nào làm lũ chim thức giấc được đó sao. Như thế thì tuyệt nhiên không thể thắng được Musashi. Bây giờ, ta đã biết được một điều về hắn. Nghe lão gác cổng Yobei kể lại thì khi đến gần Musashi, toàn thân lão run cầm cập mà chẳng thể cất nổi tiếng. Hẳn là kẻ đó từ lúc mới sinh ra đã được trời phú cho cái khí như loài mãnh hổ vậy.
 
 
Năm

Dinh thự Sở ty đại được xây tiếp giáp với thành Nijou ở mặt Tây Bắc, phía đông thư các là khu Hakushu.
Quan thị chính Iganokami Katsushige ngồi ở một góc hiên quan sát trận đấu. Kempou ngồi trên một cái ghế nhỏ phía Tây, bên cạnh là tên gia nhân Nishino Kanzaemon đang mang ba loại mộc kiếm dài ngắn khác nhau.
Ba võ sĩ của Sở ty đại tháp tùng Musashi cùng một gia thần của Iganokami đến Hakushu hơi muộn so với giờ khắc quy định. Gia thần Iganokami phủ phục trước quan thị chính.

- Đây là Shinmen Miyamoto Musashi, kiếm khách giang hồ xứ Banshu.
- Hừm.

Iganokami nhìn một lúc rồi đứng lên xưng danh, nói rõ nhiệm vụ giám sát trận đấu.

 - Hai bên đấu một lần, cho dù thắng thua cũng không được mang hận về sau.

Musashi lặng lẽ cúuối đầu. Hẳn là tiếc lời với Kempou chăng.
Thân thể Musashi cao lớn dị thường, mái tóc hơi đỏ không buộc lại mà để rối tung xõa xuống lưng.
 
 - Xin ngài hãy chuẩn bị.
 
Võ sĩ của Sở ty đại nhắc nhở. Musashi mượn gàu nước vấy ướt chân rồi xiết chặt dây buộc dép rơm. Đoạn lấy từ trong túi ra một sợi dây buộc chặt ống tay áo. Cuối cùng, Musashi vuốt tóc ra sau, chậm rãi buộc dải băng màu cam quanh đầu, dùng đoản kiếm cắt bỏ phần tóc xõa rồi tra vào bao. Nghe nói, sau này Musashi không hề búi tóc mà cứ để mọc dài tự nhiên, thời trai trẻ tóc dài đến thắt lưng, suốt đời chưa hề cầm lược mà cũng không bao giờ vào bồn tắm bao giờ. Hẳn là Musashi ưa thích lối sống tự nhiên không ràng buộc chăng.
Kempou nhận lấy dải băng trắng từ gia thần rồi quấn quanh đầu. Không có ghi chép gì về phục trang của hai bên mà chỉ biết rằng, màu dải băng buộc đầu của hai người là khác nhau.
Musashi vác thanh kiếm gỗ sồi dài bốn thước đứng ở đằng Đông. Kempou nhìn rồi nhặt lấy thanh mộc kiếm dài đặt bên cạnh Nishino Kanzaemon, lặng lẽ tiến ra.

 - Tại hạ là Yoshioka Kempou.

Musashi cúi đầu nín thinh.
Khoảng cách giữa hai người là mười gian (10).
Kempou thủ thế Seigan (11), giữ mộc kiếm trước mặt. Đồng thời Musashi cũng đưa kiếm về một bên vai ở thế Hassou.

 - Yatt!!!

Tiếng thét Kiai mãnh liệt, không ai nghĩ là con người lại có thể phát ra âm thanh này. Cùng với tiếng Kiai, dáng vẻ Musashi cũng vô cùng kỳ lạ.
Đầu hơi nghiêng về một bên, cặp mắt nửa nhắm nửa mở. Thói quen nửa nhắm nửa mở này theo Musashi suốt đời mỗi khi cầm kiếm. Toàn thân Musashi phát ra một sát khí dữ dội như nuốt chửng Kempou. Kempou chưa từng gặp một binh pháp giả nào có sát khí dữ dội như thế này nên tự nhiên cảm thấy hoa mắt, tứ chi lơi lỏng. Musashi trông thấy, biết là thời khắc đã đến liền đạp đất nhảy tới.
Kempou cũng đạp đất xông lên.
Trong sát na, khoảng cách mười gian giữa hai người đã rút ngắn trong tiếng chân chạy. Khi hai người chạm mặt nhau thì hai thanh mộc kiếm đã động thủ, mắt thường không sao nhìn thấy được.
Iganokami nhoài người ra, chăm chú nhìn rồi gõ ván

 - Đủ rồi! Cả hai thu gươm lại!
- Aiya.

Musashi hướng đến quan giám sát. Lúc này cả Kempou lẫn Iganokami lần đầu tiên nghe thấy giọng nói của Musashi.

 - Tại hạ đã thắng.

Iganokami không đáp, hết nhìn Musashi rồi quay sang Kempou.

 - Lúc đó, cả hai thanh mộc kiếm đều dừng lại trên đầu hai người. Ra chiêu cùng lúc, như vậy là hòa. Ngươi có phục không?
- Tại hạ không phục. Tại hạ đã thắng, chứng cớ là dải băng buộc đầu của Kempou đại hiệp kìa.

Quả nhiên trên dải băng trắng của Kempou, một vệt máu đã loang ra.

 - Không, xuất thủ cùng lúc. Mắt ta không có nhầm đâu. Musashi, hãy cho ta xem dải băng của nhà ngươi.

Mọi con mắt đổ dồn về phía dải băng màu cam của Musashi, ai ai cũng nghĩ rằng đã có máu thấm ra nhưng vì đồng màu nên cũng không dám
chắc.

 - Tại hạ từ chối.

Kết cuộc, Musashi cũng không chịu cởi dải băng ra.
Vào cuối đời, mỗi khi kể lại kiếm lịch của mình, Musashi đều có nhắc
 
 - Ta đã từng thắng Yoshioka.
 
Mà sự thật, nếu là trận đấu bằng kiếm thật thì có lẽ Musashi đã thắng, nhưng đây chỉ là “trận đấu tập” như lời quan thị chính, nên phải dừng tay khi mộc kiếm chỉ còn cách đầu đối phương trong gang tấc. Vì thế mà kết quả chịu  ảnh hưởng nhiều từ phán quyết của quan giám sát. Mà điều quan trọng là quan giám sát Iganokami Katsushige vốn chỉ là một tăng lữ, không biết võ công, sau được Ieyasu nhìn nhận tài năng mà cất nhắc lên hàng quan lại. Hơn nữa, nếu đứng về phía nhà Yoshioka, lò luyện binh pháp của kinh đô thì quan thị chính xử trí như thế cũng là điều đương nhiên.

Như vậy, trận quyết đấu giữa Musashi và họ Yoshioka đến đây là kết thúc. Nhưng sau khi Musashi mất thì dưỡng tử Miyamoto Iori có viết trên văn bia rằng, Musashi chạm trán Yoshioka đến ba lần. Trận đầu tiên là đấu ở cánh đồng Rendai bên ngoài Kyoto với “thủ lãnh” nhà Yoshioka là Seijurou, Seijurou chết tại trận. Trận đấu thứ hai là với Yoshioka Denshichirou, đối phương cũng chết ngay tại chỗ. Trận thứ ba, Yoshioka Mata Shichirou dẫn theo nhiều môn đệ vây đánh Musashi dưới gốc tùng Sagarimatsu ở Ichijouji, nhưng cũng không thành.
 
Dựa theo tài liệu ghi chép phía bên Yoshioka thì không thấy ba người có tên như trên đâu cả. Vả lại đương chủ Kempou cùng Mata Ichirou vẫn sống đến già, hưởng đủ mệnh trời. Như vậy, ai đúng ai sai thì cho đến ngày nay cũng không rõ, mà cũng chẳng phải là chuyện quan trọng để điều tra chi li. Nhưng theo như Miyamoto Iori viết trên bia mộ thì đương chủ Yoshioka vì thua Musashi mà vứt bỏ binh thuật, xuống tóc đi tu. Điều này cũng không đúng. Vì lò luyện binh pháp Yoshioka vẫn tiếp tục đến mười năm sau.
 
Mùa hè năm Keichou thứ mười chín, trong cung có tổ chức buổi lễ nhạc Sarugaku công khai cho toàn dân đến xem. Hôm đó không chỉ dân chúng trong kinh mà cả bách tính những vùng lân cận cũng kéo về tụ tập. Sở ty đại cũng cử ra nhiều vệ sĩ giữ gìn trật tự. Trong đám bách tính có tên môn nhân của Yoshioka là Seijirou Shigekata vốn có tư thù từ trước với Tadamiya Goemon, lính cận vệ đang canh giữ đám đông. Hôm đó hắn không không mang kiếm nhưng sau lẻn ra ngoài, giấu đoản đao vào người rồi quay trở lại chém chết Goemon. Cả hội trường náo loạn cả lên, bọn xem hát nhốn nháo chưa biết chạy đi đâu thì Sở ty đại đã cho lính mang giáo mác, gậy gộc ra chặn lại. Trong nháy mắt Seijirou đã chém chết sáu, bảy người, làm bị thương mười bốn, mười lăm người nhưng rồi cũng bị gia thần của Iganokami Katsushige là Tada Chubei dùng trường đao chém chết. Vì chuyện lộn xộn này mà Sở ty đại ra lệnh đóng cửa võ đường Yoshioka, huynh đệ Kempou dẫn theo môn nhân đến tá túc ở nhà Mishuku Echizen Nokami Naganori. Như vậy, chuyện nhà Yoshioka thất thế không liên quan gì đến Musashi cả.
Huynh đệ Kempou, sau trận đánh mùa hè ở Osaka mới trở về kinh, công phu thêm kỹ thuật nhuộm vải học được từ Lý Tam Quan lúc trước rồi mở hiệu nhuộm ở Nishino Touin. Dân gian vẫn gọi màu lam là màu nhuộm Yoshioka, cửa hiệu của họ này làm ăn rất phát đạt.
 
Sau này vào những năm KanEi thời Edo, trong quyển sách “Mado no Susami” có chép lại câu chuyện về họ Yoshioka như sau.
Xứ Mimasaka có hai võ sĩ tự mãn binh pháp võ nghệ là gia thần của chúa Mori Nagatsugu mười tám vạn hộc (12). Đêm đêm hai gã võ sĩ này lại lên kinh rình rập ở đầu đường chém người qua lại, gọi là “thử kiếm”, “luyện võ”. Một đêm nọ, hai kẻ chia nhau ra nấp trên đường, đợi người qua lại như mọi khi. Lát sau có một lão nhân đầu trọc đội khăn, ăn vận như thương nhân ẩn cư rảo bước đi tới. Thoạt tiên, một kẻ thét lớn rồi nhảy ra chém từ phía sau, nhưng lão nhân chỉ khẽ huơ tay như đuổi ruồi, gạt lưỡi gươm ra rồi đi tiếp.
Tên còn lại đang nấp ở chỗ khác, đợi lão nhân đến gần toan xông ra chém.

 - Chờ đã.

Lão nhân nói rồi cởi dép dắt vào thắt lưng, vén áo.

 - Nào!

Lão ẩn cư rút quạt ra thủ thế. Tên võ sĩ cứ dấn tới toan chém, nhưng mấy lần như thế, lão nhân cứ dùng quạt gõ lên sóng kiếm mà rằng

 - Chưa được, chưa được.

Rồi hắn lãnh ngay một đòn chí mạng lăn quay ra đất. Tên còn lại chạy đến, hoảng hốt vứt gươm.
 
- Chẳng hay lão là cao nhân phương nào?
- Là Kempou.

Lão ẩn cư chẳng thèm ngoảnh mặt lại, đáp rồi vừa hát vừa rảo bước đi.
Chuyện này xảy ra khi Musashi lấy hiệu là Niten đang sống những ngày cuối đời ở thành Kumamoto xứ Higo.


Hết.
___________________________________________
 
Cước chú

(1) Niên hiệu kéo dài từ năm 1395~1428.


(2) Niên hiệu kéo dài từ năm 1596~1615.

(3) Một thước là mười thốn, khoảng 30.3cm.

(4) Thế Hassou thủ kiếm ở một bên vai, vừa có thể chống đỡ phần thượng đoạn mà cũng có thể phòng ngự phần trung đoạn.

(5) Sở ty đại Kyoto (Shoshidai Kyoto) là một chức danh của Mạc phủ đặt ra để giám sát giới võ sĩ, quý tộc ở Kyoto và những vùng lân cận.

(6) Nguyên văn: Joubodaiji.
 
(7) Chỉ quán là lối hành pháp chủ yếu của phái Phật giáo Thiên Thai, hành giả tập trung tâm lực vào một đối tượng, dừng mọi tạp niệm, dùng dùng trí tuệ chánh định mà quan sát đối tượng.
 
(8) Nguyên văn: Myouhouji.
 
(9) Một thứ võ khí như chĩa ba ngắn, có ngạnh để bắt kiếm đối phương.
(10) Một gian là sáu thước, chừng 1.8m.
 
(11) Seigan là thế thủ kiếm ở trung đoạn, mũi kiếm hướng trướng mặt đối phương và là thế thủ công phòng hợp nhất.
 
(12)  Hộc: đơn vị đo thể tích, chủ yếu là lúa gạo. Một hộc là mười đấu, chừng 180 lít. Thời phong kiến ở Nhật, quan lại được phát lương tính theo hộc lúa.
Ta muốn sống an bình. Nó chà đạp ta. Ta phải đánh đổ nó. Nó kềm kẹp ta. Ta phải đánh trả nó. Muốn đánh trả ư? Làm sao được khi ta còn không có chí đánh? Làm sao được khi thân ta còn lo sợ an nguy, sợ hãi cái chết?

(Trích Karl Marx)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-26 12:49:28đánh đổ bạo tàn>
Hitokiri Izou
 
Nguyên tác: Shibaryou Tarou
Người dịch: Nhất Như

Nước Nhật vào cuối thời Edo bỗng xuất hiện từ “Hitokiri”. Nó chỉ hạng võ sĩ làm thích khách cho các phong trào chính trị đương thời tập trung ở các phiên phía nam như Tosa, Satsuma, Choushu. Đương thời chỉ có bốn nhân vật được gán cho danh hiệu này là Kawagami Gensai người thành Kumamoto phiên Higo, Tanaka Shinbei và Nakajima Hanjirou võ sĩ phiên Satsuma và Okada Izou thuộc phiên Tosa. Bối cảnh câu chuyện này là vào lúc quyền lực của Mạc phủ đã suy yếu, người Tây phương gây áp lực buộc Nhật Bản phải mở cửa thông thương. Tình hình trong nước hỗn loạn, có nhiều đảng phái chính trị được khai sinh như Đảng Cần Vương với chủ trương khôi phục quyền lực của Triều đình mà bấy lâu nay vẫn bị Mạc phủ lấn át, phong trào Đảo Mạc, phong trào đánh đuổi người Tây phương...Thông qua truyện ngắn "Hitokiri Izou", tác giả muốn nêu lên cách nhìn nhận của mình về khí lượng của kẻ lãnh đạo, quan hệ chủ tớ mà người đời thường hay vướng sai lầm.
 
 
 
 

Một

Trời đã sinh ra một kẻ bất hạnh.
Hắn đứng cách cánh cửa lùa Shouji (1) năm chiếu, thóp bụng, phồng ngực bắn một hơi mạnh. Đờm từ cổ họng hắn bắn ra như viên đạn xuyên thủng cánh cửa giấy. Cơ lực thật dễ sợ.
 
- Thế mà chỉ mãi là một thằng lính trơn.
 
Năm mười lăm tuổi Izou thường tự cười nhạo mình như thế. Nếu sinh ra trong thời Chiến Quốc (2) loạn lạc thì hẳn tài năng dị thường của hắn đã chẳng phải chôn vùi uổng phí như thế này.
Nhưng nói gì thì nói, lính trơn cũng là một hạng “sĩ” trong phiên (3) , cũng vẫn là thân phận được mang tên họ, được mang đao kiếm (4). Về hình thức thì cũng là võ sĩ Samurai. Nhưng ở phiên Tosa (5) này, về mặt pháp lý thì lính trơn không được quyền mang họ. Ở đất Tosa này tồn tại ba cấp bậc giữa các hạng “sĩ” trong phiên, đó là Thượng sĩ, Hào sĩ và lính trơn. Lính trơn thì cho dù trời mưa to cũng không được đi guốc mà phải chạy chân trần, bọn Hào sĩ thì trời nắng như đổ lửa cũng không được mang dù. Nhưng hạng Thượng sĩ thì lại có được đặc quyền đặc lợi đối với hai hạng Hào sĩ và lính trơn là chém chết nếu vô lễ với mình mà không bị bắt tội, một điều chỉ có ở Tosa mà không thấy ở đâu khác. Vì tầng lớp Thượng sĩ và khai tổ của phiên là Yamauchi Kazutoyo là người vùng khác di trú đến Tosa sau trận chiến phân tranh thiên hạ Sekigahara (6), nên nếu không có những đặc quyền đặc lợi đối với bọn Hào sĩ vốn là dân bản địa và những cấp thấp hơn thì khó lòng cai trị nổi chúng. Và cũng vì vậy mà trong phiên xuất hiện một dạng đấu tranh giai cấp không thấy ở bất cứ phiên nào khác. Đó là việc bọn Hào sĩ và lính trơn kết thành “Đảng Cần Vương” chống lại phiên và Mạc Phủ.
Hắn chỉ là một thằng lính trơn Izou, vốn chẳng phải là thân phận có thể học kiếm thuật được. Nếu học kiếm thì hạng Thượng sĩ thường lui tới võ đường Ishiyama Magoroku và Asada Kanshichi, bọn Hào sĩ thì có võ đường Hineno Benji, nhưng hạng lính trơn thì chẳng võ đường nào nhận dạy. “Là lính trơn thì học kiếm thuật làm gì”. Đó là lối suy nghĩ tồn tại ba trăm năm trong phiên Tosa này. Trên chiến trường thì chúng chỉ là hạng bộ tốt thuộc các nhóm vác giáo, bắn cung hay hỏa mai. Còn việc ngồi ngựa một chọi một với đại tướng chỉ dành cho Thượng sĩ và Hào sĩ cao cấp mà thôi. Izou sinh ra với thể chất và khí lực hơn người cũng lấy làm lạ cho cuộc đời của mình.
 
- Nghe đâu ngài Niten cũng tự học mà hội đắc kiếm pháp.
 
Năm mười lăm tuổi hắn nghe được chuyện này. Niten là hiệu của kiếm thánh vô song Miyamoto Musashi sống đầu thời Edo. Năm trước có kiếm khách Oishi Susumu người vùng Yanagi Kawa xứ Chikugo được tham chánh trong phiên là Yoshida Touyou mời đến đàm đạo, Izou tình cờ nghe trộm được chuyện về ngài Niten. Hắn biết đến cổ nhân là như vậy.
Rồi hắn gọt một thanh mộc kiếm từ gỗ sồi, cứ hai ngày một lần, khi không có phiên trực thì vác mộc kiếm mà tập vụt từ sáng đến tối cho đến khi gân cốt rã rời mới thôi. Đòn vụt là đòn đánh bổ từ trên xuống, là cơ bản trong mọi cơ bản của kiếm thuật. Người học kiếm vẫn bảo nhau rằng tập vụt ba năm chỉ mới là sơ khởi của kiếm đạo. Dĩ nhiên nó là một kỹ thuật cơ bản nhưng đương thời ở các võ đường thì người ta không cho môn sinh tập trung vào kỹ thuật vụt không thôi. Vì kỹ thuật đơn điệu, lặp đi lặp lại sẽ khiến người tập nhàm chán mà không tìm đến võ đường nữa thì hỏng cho nên các vị sư phụ thường cho môn sinh tập các đòn đánh khác nhau ở mặt và tay để gây hứng thú cho họ. Nhưng chẳng qua cũng chỉ là múa gậy trúc mà thôi chứ đừng nói là hội đắc được cực ý của kiếm đạo.
Izou cũng không sử dụng kiếm tre như bao người học kiếm khác mà dùng mộc kiếm. Cho nên lực tay và tốc độ cũng có nhiều sa biệt. Từ thời xa xưa đến nay, mỗi khi đấu tập người ta vẫn hay dùng mộc kiếm. Nhưng nó khá nặng và nguy hiểm nên Kamiizumi Isenokami Nobutsuna thời Chiến Quốc nghĩ ra kiếm tre, sau được Ono Tadaaki công phu thêm thành ra nhẹ nhàng và ít nguy hiểm hơn.
Izou cũng không lơ là việc luyện tập hạ bàn. Hắn bay, hắn nhảy, hắn chạy ngang dọc khắp nơi, gân cốt chân cẳng hắn đã lên đến cực độ.


- Kiếm thuật cũng không phải chỉ là thứ dùng nơi rộng rãi.


Vì thế mà hắn bắt đầu nghĩ tới những thế kiếm thực chiến trong nhà chật hẹp. Rồi hắn gọt một thanh mộc kiếm nhỏ. Khi chiến đấu trong nhà, nếu sử dụng trường kiếm như ngoài chiến trường thì khi vung lên thế thượng đoạn sẽ vướng trần nhà, khi chém ngang sẽ đụng tường, rồi cón nếu đánh nhau trong phòng tắm, nhà xí, trong hành lang chật hẹp thì sẽ như thế nào? Trong những trường hợp này thì ngay cả những tay cự phách cũng chỉ dùng được một số kỹ thuật lặt vặt như chém hạ đoạn, nhấp chân bước nhỏ mà thôi.
Thế rồi Izou tự công phu ra lối đánh trong nhà với thanh đoản mộc kiếm của mình. Hắn bay nhảy đâm gãy cột cửa, chém đổ cửa nhà xí, có khi rơi vào thùng rồi lòm ngòm bò dậy, có khi lùi lũi tiến lại múa kiếm chém kẻ địch tưởng tượng bên kia rầm cửa rồi ngã xuống chiếu gạt đỡ một kiếm của đối phương. Thật là điên cuồng dị dạng không sao kể xiết. Nhưng cũng thật không ngờ là lối đánh đoản kiếm Izou công phu được lại tình cờ trùng khớp với lối đánh bí truyền sử dụng ở nơi chật hẹp của phái kiếm Ittou Ryu. Hắn biết được điều này là vào năm sau.


- Mày là con của lính trơn thì học đòi kiếm thuật làm gì.


Phụ thân hắn là Gihei vẫn thường bất bình. Chẳng bao lâu thì ông Gihei mất, Izou lên thế vị trí cha. Hắn thuộc nhóm lính trơn của Tổng quản Kirima Shougen, trưởng nhóm lính là Morita Jiemon. Bổng lộc của hắn một năm chỉ đủ nuôi bốn người. Izou thường phải ăn hạt kê, ăn lúa mạch, ăn gạo đen, trong một năm chẳng có dịp nào được ăn gạo trắng. So với bọn bách tính có ruộng đất trong phiên thì hắn còn khổ sở hơn cả thân trâu ngựa. Đối với con em kẻ sĩ nghèo hèn thì cách duy nhất để thoát khỏi cảnh bần hàn chỉ là dựa vào con đường học vấn xuất chúng hay dựa vào kiếm pháp tuyệt luân mà mở võ đường mà thôi. Nhưng Izou không có học vấn. Tuy phụ thân hắn có dạy viết chữ nhưng Izou chẳng đọc nổi một quyển sách chữ Hán nào. Nhà nghèo nên cũng không thể đến trường, mà hắn cũng chẳng có đầu óc tương xứng để đến trường.


- Chà nếu ta được sinh cùng thời với ngài Niten thì sẽ ra sao nhỉ.

Hắn vẫn thường mơ tưởng đến cảnh một mình một kiếm làm mưa làm gió trong làng kiếm. “Phải chém vật sống xem sao”. Nghĩ rồi Izou bắt đầu chém mèo. Con mèo hoảng hốt nhảy lên, Izou rút kiếm đánh xoẹt chém đứt đôi trên không. Đến chuột cũng không tha. Con vật xấu số vừa thò đầu ra khỏi cái lỗ nơi góc tường đã bị hắn huơ mộc kiếm như luồng điện giáng xuống vỡ đầu. Trong nhà Izou luôn lấm bẩn vì máu của những loại súc sinh này.
Nguyên lai, kiếm chỉ là công cụ giết người nhưng vào thời Tokugawa thì nó đã trở thành một thứ triết học. Izou cũng tự học được thứ kiếm pháp giết người như giới kiếm khách đầu thời Chiến Quốc. Đâu là chánh đạo, đâu là tà đạo, hẳn chả hay biết.
Rồi hắn cũng chém được mấy trăm con mèo, đã đến lúc hắn nghĩ đến chuyện lập phái riêng.
Lúc đó một tin sáng sủa bất ngờ lọt vào tai Izou. Khu phố Tabuchi dưới thành là nơi tập trung nhiều dinh thự của bọn Hào sĩ, có Takechi Hanpeita mở võ đường. Takechi vốn là một Hào sĩ cấp cao nên không màn đến thân phận của bọn môn sinh, thiên hạ đồn rằng là lính trơn cũng có thể đến học được.
 
- Như vậy ta cũng không phải là hoàn toàn vô duyên với nhà Takechi.
 
Nghĩ rồi Izou quyết định tìm đến Takechi cầu học.
 
 
 
Hai
 
 
Dòng họ Okada vốn có gốc gác Hào sĩ ở làng Jintsu phiên Tosa, đến đời phụ thân của Izou là Gihei là con thứ xuống dưới thành làm lính trơn. Tổ tiên xa xưa của dòng họ này phát tích từ làng Okada xứ Iyo láng giềng. Nhà Takechi cũng vậy, tổ tiên xa xưa là Takechi Musha Tokoro vốn là hào tộc ở xứ Iyo. Thật lạ lùng là năm xưa tổ tiên của Izou lại là gia thần của họ Takechi. Rồi Takechi đem phần lớn bề tôi lưu lạc sang xứ Tosa thờ họ Chousokabe. Trong trận chiến phân tranh thiên hạ Sekigahara họ Chousokabe diệt vong, họ Yamauchi từ Kakegawa xứ Enshu đến tiếp quản vùng đất này, lúc đó cả họ Takechi lẫn Okada vốn là cựu thần của Chousokabe đã trở thành dân thổ địa của phiên Tosa này.
 
- Tức là nếu xét duyên ngày xưa thì cũng là quan hệ chủ tớ. Nay thuận theo nhân duyên này kính xin cho tiểu nhân được nhập môn.
 
Izou đến nhờ vả phu nhân của Takechi là Tomiko. Phu nhân lấy làm thương hại nên ra súp giúp đỡ cho đến khi được diện kiến Takechi.
Takechi Hanpeita ban đầu theo học phái kiếm Ittou Ryu, sau thường lui tới luyện tập ở võ đường Asada Kanshichi dành cho hạng Thượng sĩ. Lúc bấy giờ Takechi chỉ là thân phận Hào sĩ nên thường bị bọn môn sinh dòng Thượng sĩ khinh miệt, sau lãnh hội hết cực ý kiếm pháp nên được quyền mở võ đường nhận môn sinh.
Nhà Takechi nằm ở làng Fuke ngoài thành, là nơi giàu có lắm ruộng nhiều rừng. Nhà Takechi nhờ vào tài lực này mở một võ đường bên cạnh nhà vợ Shimamura. Võ đường bề ngang rộng bốn gian (7), bề dài sáu gian, tuy không phải là lớn lắm nhưng chỉ trong chốc lát mà đã có đến sáu, bảy chục con em Hào sĩ kéo đến nhập môn, một thời phồn thịnh.
Takechi Hanpeita dáng người cao lớn, mặt sáng sủa, lông mày thanh tú, da dẻ trắng trẻo, mắt mũi đều xứng với từ uy phong lẫm liệt. Tính người trầm tĩnh ít nói, lại chẳng bao giờ biết đùa giỡn, suốt đời chẳng gần người đàn bà nào ngoài phu nhân của mình, cũng là một kiểu người hiếm có so với tính cách đàn ông phương Nam như Tosa. Chính vì tính tình nghiêm cẩn đàng hoàng nên thường bị người bằng hữu là Sakamoto Ryouma trêu chọc. Nhân vật Sakamoto này thì lại trái ngược hẳn với tính cách nghiêm chỉnh của Takechi. Mỗi khi đến chơi nhà Takechi đều không dùng nhà xí mà khi ra về luôn phóng tiện ngay trước cổng. Vì vậy mà chung quanh tường luôn thoảng xú khí, phu nhân Tomiko lấy làm phiền não đem chuyện trần tình thì Takechi chỉ cười xòa “Xem ra Sakamoto cũng là người sau này làm nên chuyện lớn. Cứ bỏ qua cho hắn vậy”.
Tuy là người nghiêm khắc kỷ luật nhưng lại có chỗ dễ dàng tha thứ cho kẻ khác nên bọn con em Hào sĩ vùng Chugoku lấy làm mếm mộ Takechi, tranh nhau mà đến nhập môn. Đây chính là nền tảng đầu tiên của “Đảng Cần Vương Tosa” gây náo loạn vào cuối thời Mạc phủ.
Nhưng lần đầu đối diện, Takechi đã tỏ ra nghiêm khắc với Izou. Bản thân Takechi cũng là một Hào sĩ bị bọn Thượng sĩ phân biệt nên không khỏi thất vọng khi thấy một tên lính trơn. Chính vì tính tình nghiêm khắc ưa kỷ luật nên ý thức giai cấp cũng rất mạnh. Hơn nữa Takechi lại là người ghét cái dốt nát thô lậu. Mà ngay giữa trán Izou lại có một vầng đen cố hữu, chính vì thế mà ấn tượng đầu tiên của Takechi về hắn vô cùng xấu. Lại nghe chuyện tổ tiên xa xưa là gia lại của nhà Takechi nên không tránh khỏi cái nhìn khinh miệt.
Takechi vừa vào đến nơi liền gọi
 
- Ngươi là Izou ?
- Thưa, tiểu nhân là Izou.
 
Izou phủ phục bên cửa.
 
- Từ trước đến nay đã theo học ai ?
- Tiểu nhân thân phận lính trơn thì còn biết theo học ai. Chẳng là vì tôn sùng ngài Niten mà ngày ngày mang mộc kiếm luyện tập mà tự hội đắc ạ.
- Tự hội đắc ?
 
Takechi nhíu mày. Hội đắc, chẳng phải là ý hắn đã đến chỗ cùng cực của kiếm đạo rồi sao. Chính vì không có giáo dưỡng học hành gì nên Izou chẳng hiểu rõ cách dùng từ cho hợp phép.
 
- Ồ, tự hội đắc sao. Thế thì hãy vào võ đường đấu với bọn môn sinh xem sao.


Takechi nói.

 

Ba
 
 
Izou tiến ra một góc võ đường, đội mũ trụ, mặc giáp phòng hộ, tay với lấy thanh kiếm tre. Tất cả những thứ này là lần đầu tiên hắn dụng đến. Takechi ngồi trên ghế cao quan sát mọi cử động của Izou. Thật là khó coi. Một kẻ chẳng khác nào dã thú. Cặp mắt hắn sưng húp, đỏ ngầu, lõm sâu vào hốc, đầu tóc thì rối bời như tổ quạ, lông trên người hắn rậm rạp xoắn tít như đám cỏ rối.
Izou mang mộc kiếm tiến ra giữa võ đường thi lễ rồi vào thế thủ. Tuy là vị trí trung đoạn nhưng hắn thủ thanh kiếm tre ngang người, vị trí cổ tay đầy sơ hở. Thế đứng của hắn cũng thật kỳ lạ, dạng chân, lưng khom, đầu đưa về trước như chuẩn bị lao vào một trận đấu vật.
Người đầu tiên đấu với Izou là một hào sĩ xứ Aki, thuộc hạng trung bình trong số các môn đệ. Vì thuộc tầng lớp trên nên trong lòng đã thấy khinh nhờn Izou rồi. Gã giơ cao kiếm tre vào thế thủ thượng đoạn, cố tình để lộ sơ hở phần trung đoạn. Gã xông vào toan chém cổ tay Izou nhưng chỉ thấy Izou quét kiếm lên đỡ rồi trong sát na xấn tới đạp mạnh vào hạ bộ hắn. Hào sĩ nọ la thất thanh rồi bất tỉnh tại chỗ. Ngươi đã thấy chưa, Izou như muốn thét lên sung sướng. Chiêu thức hắn dùng để hạ đối phương chẳng phải là một chiêu kiếm hay võ nghệ chính thống nào. Còn gì thống khoái bằng, hắn đã hiểu ra rằng trên võ đường thì không có sự phân biệt giai cấp, chẳng còn Thượng sĩ, Hào sĩ hay lính trơn nữa.
Takechi ngồi quan sát trận đấu không nháy mắt rồi ra lệnh cho người tiếp theo ra đấu với Izou. Đấu được hai ba hiệp thì Izou nhảy bật lên giáng một đòn thật mạnh vào đầu đối phương, chỗ không có lưới sắt trên mũ trụ bảo hộ. Đối phương đầu óc choáng váng, loạng choạng trở về chỗ ngồi rồi đổ vật ra sàn. Cả bọn nhốn nháo. Thứ kiếm thuật mà Izou sử dụng chẳng có quy tắc hay luật lệ gì mà chỉ là một thứ kỹ thuật ẩu đả nơi đầu đường xó chợ. Đối với những kẻ theo học kiếm phái chính thống ở giai đoạn đầu thì thường thất bại thảm hại khi đối đầu với những loại kỹ thuât ẩu đả hạ cấp này.
Người tiếp theo ra đấu với Izou là quyền sư phụ Higaki Kiyoharu, một Hào sĩ dưới thành. Nhưng kết quả cũng không khác trước, bọn môn nhân ngạc nhiên xao động.
 
- Khốn kiếp, chỉ là một thằng lính trơn.
 
Takechi dường như muốn thốt lên. Từ thế thủ cho đến đòn đánh thẳng tay của Izou đều không phải là thứ thường thấy của một danh môn chính phái. Dường như hắn chỉ là một con thú hoang dã không hề biết trật tự lý luận gì. Nếu như hắn được dạy dỗ nguyên tắc luận lý thì không biết sẽ còn mạnh đến đâu, Takechi thầm nghĩ. Nhưng liệu có thắng nổi hắn không ? Đối với đường chủ Takechi Hanpeita mà nói thì đây là một dịp hay để dạy cho Izou một bài học, làm cho hắn chừa đi cái kỹ thuật hạ cấp kia đã ăn sâu vào người hắn và không những dạy cho mình hắn mà còn là để biểu thị cho đám môn nhân biết sức mạnh khủng khiếp của kiếm thuật chính thống và có phẩm cách là như thế nào. Nhưng nếu chẳng may đại bại dưới tay hắn thì sao. Như vậy thì còn gì tồi tệ bằng, thanh danh của võ đường chẳng biết còn cách nào để lấy lại nữa.
Nhưng Takechi cũng không phải là kẻ tầm thường. Takechi người cao gần sáu thước (8), xét về thể lực khí lực thì không thể thua Izou được. Năm mười bốn tuổi theo người thầy đầu tiên là Chigami Shichirou học kiếm pháp phái Ittou Ryu, cả sư phụ Chigami cũng phải ngạc nhiên vì tố chất vạn người có một của mình. Sau này vào nhập môn võ đường Asada Kanshichi, Takechi đánh bại hết các bậc tiền bối nhận chứng chỉ trung truyền, đến năm Ansei thứ nhất (9) thì hội đắc hết những chiêu thức cực ý của môn phái. Ngay cả Asada cũng thừa nhận rằng trong đời mình chắc chắn không có được người đệ tử thứ hai như Takechi.
Nhưng dù gì thì đối phương cũng là kẻ thân phận thấp hèn lại không sử dụng kiếm pháp chính thống, nên sẽ không biết được hắn sẽ tấn công vào những chỗ nào và chẳng có quy tắc luật lệ gì. Như trước đây có một dạo tin đồn rằng có kiếm khách Okada Souemon vốn xuất thân là một bách tính xứ Bushu lập ra phái kiếm Ryugou Ryu, phái này chuyên thủ thế thượng đoạn rồi xuất kỳ bất ý tấn công tới tấp vào ống chân của đối phương. Nguyên lai, trong kiếm thuật không có đòn đánh vào hạ bàn nên dĩ nhiên các phái kiếm bấy giờ cũng không có kỹ thuật phòng ngự vùng này. Vì thế mà vào những năm Ansei đã có không biết bao nhiêu võ đường ở Edo đã tan hoang dưới tay của phái Ryugou Ryu này. Nhưng chẳng bao lâu sau thì các võ đường danh tiếng ở Edo như Momoi và Chiba đều khảo án ra cách khắc chế loại kỹ thuật này nên phái Ryugou Ryu sau một thời gian lan truyền như bệnh dịch bỗng dừng hẳn. Cổ nhân có dạy rằng người quân tử không nên đối đầu với phường tà đạo, Takechi không biết rằng liệu có nên dạy cho Izou một bài học hay không. Nhưng Takechi vốn là người quyết đoán nhanh chóng nên trong đầu vừa xuất hiện ý nghĩ này là đã khẽ gật ngay. Quyền sư phụ Higaku đã bại dưới tay Izou, đường chủ Takechi lặng lẽ nhảy xuống sàn, với lấy thanh kiếm tre rồi tiến về phía đổi thủ.
Izou lúc này phủ phục dưới sàn. Hắn không hề nghĩ rằng Takechi sẽ đích thân ra tiếp mình nên lấy làm cảm kích mà toàn thân run rẩy.
 
- Hãy chuẩn bị đi.
 
Takechi nói. Tuy thế bản thân mình cũng chỉ mặc độc một bộ võ phục bằng vải thô mà không hề mang giáp phòng ngự. Như vậy ta không thể tấn công được. Izou đứng dậy, bần thần.
 
- Ngươi cứ đánh hết sức.
 
Takechi nói rồi vào thế thủ Seigan (10) đưa mũi kiếm ngang mặt. Izou lại vào thế thủ trung đoạn mình tự công phu được như lúc nãy.
Takechi tiến lên một bước, Izou lùi xuống một bước, rồi lại lùi xuống nữa.
Takechi càng tiến tới, Izou càng lùi lại, mà càng lùi xuống thì lưng hắn càng cong như lưng mèo, thanh kiếm tre đưa về sau như cái đuôi con vật.
Takechi vừa huơ mũi kiếm lên thượng đoạn, trong nháy mắt thân thể Izou co rúm lại rồi bật tới như một hòn đạn, đâm thẳng vào đối phương. Takechi loạng choạng, nhưng chỉ trong tích tắc kiếm pháp chính thống đã phát huy tác dụng, biến ảo khôn lường. Từ thế kiếm phòng thủ cuộn lên đánh thẳng vào đầu Izou, một đòn nhẹ, chỉ nghĩ được như thế thì đã thấy Takechi xấn tới đâm một đòn chí mạng vào đối thủ. Thân thể Izou bị hất văng đi năm sáu gian. Hắn lồm cồm bò dậy rồi chạy vòng quanh bốn góc võ đường tránh đòn của Takechi.
 
- Izou, khó coi lắm!!
 
Takechi vừa thét vừa trút đòn như cuồng phong nộ vũ vào các vị trí tay, mặt, thân của đối phương. Đây chính là ba vị trí tấn công cơ bản trong kiếm thuật. Izou co rúm người lại chịu đòn mà không hề có ý thức phản kháng. Toàn bộ ý chí chiến đấu của hắn đã bị dồn nén đến tận cùng. Có những lúc cơ hội phản kích đến, trong sát na đã có thể đánh trả lại nhưng hắn không hề huơ thanh kiếm. Izou chỉ hứng cơn mưa đòn của Takechi một cách thụ động rồi bỏ chạy. Trong vô thức, hắn đã bị sự kính phục đối với Takechi chi phối. Đối với hắn, Takechi dường như là một vị thần của thế giới khác. Nếu diễn giải bằng lời thì trong lòng hắn chỉ có thể nói rằng “Vì ngài mà tôi có thể trở thành thằng hề cho thiên hạ”. Hắn cam lòng với điều đó. Cam lòng một cách toại nguyện, hắn thấy sung sướng, không, sung sướng đến điên cuồng khi được hạ mình như thế. Phải chăng chính thân phận lính trơn thấp hèn của hai đời dòng họ hắn đã biến hắn thành ra thế này? Phải chăng đây chính là bản chất của hắn? Nhưng dù gì đi nữa thì đây là lúc quyết định hình ảnh của hắn trong con mắt Takechi.
 
- Tiểu nhân thua rồi.
 
Izou vứt kiếm tre, quỳ xuống sàn rồi thụp lạy. Trong khoảnh khắc này cái chất lính trơn thấp hèn một cách đáng thương đã bộc lộ. Takechi thở phào rồi thu kiếm. Thật là một kẻ đáng sợ. Một cảm giác khiến Takechi phải rùng mình. Từ thuở theo Chigami học kiếm, hội đắc cực ý của Asada cho đến bây giờ thì Takechi chưa từng hứng phải một đòn đâm nào khủng khiếp như vậy. Thiên hạ vẫn truyền rằng Takechi là người quân tử chững chạc thận trọng, đối với những kẻ mới đến xin học kiếm thì chưa bao giờ ra những đòn như vũ bão lúc này. Ấy vậy mà chỉ một đòn đâm của Izou đã khiến Takechi lộn ruột gan mà để lộ con quỷ Tu La trong người ra một cách vô ý.
 
- Izou, hãy tức khắc nhập môn.
 
Takechi nhanh chóng trở lại con người điềm tĩnh như trước kia.
 
- Izou, vì kiếm pháp của nhà ngươi là thứ tự học mà không có cơ bản nên rất nhiều tật xấu đã ngấm sâu vào người. Đầu tiên ngươi phải bỏ chúng đi. Đối với kẻ mới nhập môn thì phải tu luyện hai năm, nhưng nhà người phải tu luyện ba năm để từ bỏ thói tật của mình. Trong ba năm này nhà ngươi sẽ yếu đi, ba năm tu luyện chánh pháp. Nếu chịu đựng được thì đến năm thứ tư thì hẳn sẽ đạt đến trình độ kiếm thuật chánh tông cao thâm.
- Tiểu nhân xin đa tạ.
 
Izou vốn là kẻ dễ mủi lòng, nước mắt ròng ròng mấy phen dập đầu lễ tạ.
Rồi ấn thư thệ nguyện được mang ra, Izou viết tên ấn dấu kết giao sư đồ. Họ tên là Okada Izou Yoshifuru. Chữ viết vô cùng nghệch ngoạc.
Đêm đó Takechi rút vào trong nhà kho, chăm chú nhìn quyển sách Joururi đặt trên bàn (11). Vốn là người đa tài đa nghệ nên ngoài Joururi ra Takechi còn theo học các nghành hội họa nghệ thuật khác với cách danh sư dưới thành như Tokuhiro Tousai và Hirose Tomotake. Mà trong bất cứ nghành nào cũng đều đạt đến mức thượng thừa. Cũng vốn là người thận trọng đàng hoàng, sợ làm phiền đến hàng xóm chung quanh nên mới vào nhà kho diễn Joururi. Cánh cửa phòng đột ngột mở ra, phu nhân Tomiko mang trà vào.
 
- Chàng đang làm gì vậy?
 
Đêm nay thật lạ lùng, vì Takechi không hề thốt lên một lời nào, không giống mọi lần diễn kịch khác.
 
- Ta đang nghĩ đến chuyện của Izou.
- Gã lính trơn đó đã làm sao ạ?
- Không, chỉ là ta biết rằng trên đời này vẫn còn nhiều kẻ đáng sợ. Ta vốn vẫn tự phụ rằng mình có chút thiên bẩm về kiếm thuật, nhưng xét về tố chất thì thật không bằng hắn vậy.
 
Tomiko nghe rồi lặng thinh. Đây chẳng phải là chuyện mà nàng có thể nói được gì. Tomiko dáng người nhỏ nhắn, vốn được tôn xưng là một mỹ nữ dưới thành. Người chú của Tomiko là Shimamura Junosuke cũng là một Hào sĩ nổi tiếng với thương thuật một vùng.
 
- Tomiko, ta sẽ đi vắng trong ba năm. Nàng sẽ chăm sóc mọi thứ thay ta chứ. Ta nghe nói Edo chính là linh địa của kiếm thuật nên cũng muốn đến đó tu luyện lại võ nghệ của mình.
 
Hôm đó Takechi cho bọn môn đệ trở về nhà rồi trằn trọc suy đi nghĩ lại, hình ảnh Okada Izou trong tâm trí càng lúc càng lớn dần. Trận đấu ở võ đường lúc nãy, hẳn là hắn thấy mình không mặc giáp phòng ngự mà e ngại không ra đòn tấn công. Nếu lúc ấy mà mặc giáp phòng ngự thì không biết kết quả trận đấu sẽ ra thế nào.
Tomiko gật đầu. Nhưng muốn ra khỏi phiên du học võ nghệ thì cần phải được phiên cho phép. Mà cho đến khi giấy phép từ trên truyền xuống cũng phải mất nửa năm.
 
- Ta trông cậy cả vào nàng.
 
Nói rồi Takechi ôm Tomiko vào lòng. Giữa hai người không có đứa con nào. Chính vì sợ rằng nếu không có con thì họ Takechi sẽ tuyệt tự nên phía gia đình Tomiko ở làng Shimamura cũng mấy lần khuyên nhủ Takechi lấy vợ bé để có đứa con nối dõi như mấy lần Hanpeita đều bỏ ngoài tai. Một hôm nọ có người bạn của Hanpeita lấy lời khuyên nhủ Tomiko, cho trở về nhà bố mẹ Takechi ở làng Fuke rồi gửi một con hầu đến chỗ Hanpeita. Con hầu biết chuyện nên ra sức chiều chuộng nhưng Takechi chẳng hề động đến một sợi tóc. Sau này khi Tomiko tiết lộ rằng đó là do âm mưu của người bằng hữu thì Takechi chỉ cười “Ta biết rồi”, rồi hỏi
 
- Thế lúc đó tâm trạng này như thế nào?
- Thiếp hoàn toàn tin tưởng ở chàng nên không hề nghĩ gì.
 
Tomiko đáp. Giữa phu phụ Takechi đã có sự tin tưởng lẫn nhau và thân thiết đến như vậy. Thành ra Takechi quyết ý để thê tử ở lại Tosa còn mình thì thân đến Edo tu luyện kiếm pháp. Nguyên nhân tất cả cũng là vì Izou.
 
 
 
Bốn
 
 
Izou mỗi ngày một yếu dần đi. Bản năng của hắn, thói tật của hắn mỗi ngày một mất dần. Đến ngay cách cầm kiếm tre hắn cũng phải học từ Takechi, bộ pháp cũng bị cố định vào một quỹ đạo, phương cách nhất định. Thế thủ cũng bị Takechi chỉnh đốn gay gắt. Mọi việc Izou đều nhất nhất tuân theo sự chỉ đạo của Takechi. Với tính cách quá khích của Izou thì thật khó coi khi thấy hắn khúm núm trước Takechi. Phải chăng tất cả là vì Izou muốn trở nên mạnh hơn? Không, tâm tưởng của hắn lúc này không phải như vậy. Izou lúc này giống như một con chó. Chó là loài mang một tính cách bất hạnh, đối với đồng loại thì chúng nhe nanh sừng sộ nhưng đối với chủ nhân vốn là một sinh vật khác loài thì lại nhu thuận đến đáng thương. Takechi đã cho hắn nhập môn, đối với hắn thì đó là một ân nhân, một người chủ còn hắn là con chó của ông chủ. Hắn cảm thấy hạnh phúc khi được làm con chó của Takechi. Mà cũng chính là vì tổ tiên hắn đã từng là đầy tớ của nhà Takechi. Izou tiếp cận ông chủ của mình với thái độ như thế, với tình cảm của một con chó đối với chủ như thế nên cho dù Takechi có khinh thường chẳng muốn gần cái sự thấp hèn đó thì rốt cuộc cũng nghiễm nhiên tự cho mình là chủ nhân của con vật đáng thương kia.
“Trong ba năm, ngươi sẽ yếu dần đi”. Tuy Takechi nói thế nhưng không biết Izou vốn là kẻ có tố chất hơn người hay do sự chỉ đạo ưu tú của Takechi và hắn nhất tuân theo mà chỉ trong vòng nửa năm mọi tật xấu của Izou đều mất hết, mọi động tác kỹ thuật đều đi vào khuôn phép và trình độ đã bắt kịp với quyền sư phụ Higaki Kiyoharu. Đối với Izou thì không còn nơi nào bằng võ đường này. Một tên lính trơn thấp hèn như hắn được đứng trên võ đường như thế này thì không còn gì thống khoái bằng. Thường ngày bọn môn sinh Thượng sĩ và Hào sĩ ra lối hống hách nhưng trên sàn đấu đều bị hắn đánh cho tơi tả vùi dập. Hắn cảm thấy kiếm thuật đã cứu hắn thoát khỏi sự thấp hèn của đẳng cấp. Trong thế giới của hắn chẳng có gì khác ngoài thanh kiếm. Kỹ thuật hắn sử dụng cũng vô cùng ác liệt, bất cứ môn sinh nào thi đấu với hắn mà không mang giáp phòng ngự đều bị Izou đánh cho cháy thịt nát xương. Izou là con chó hoang, bọn môn sinh cả sợ mà không còn ai dám đấu tập với hắn nữa. Nhưng đứng trước Takechi Hanpeita thì con chó hoang Izou bỗng trở thành một con chó nhà hiền lành.
Thế rồi Takechi trình nguyện thư lên phiên xin phép được ra khỏi phiên đến Edo tu học kiếm thuật nhưng trong phiên tự xưa đến nay vẫn có luật bất thành văn là chủ một nhà du học bên ngoài thì không sao nhưng đường chủ một phái thì không được phép. Thế là Takechi phải đến hối lộ Kirima Shougen, một người có thế lực trong phiên. Và mọi việc trở nên dễ dàng hơn nhiều. Nhưng khi Takechi tỏ ý định muốn dẫn theo Izou đến Edo tầm sư học đạo thì Kirima Shougen chỉ cười khảy “Hắn chẳng phải chỉ là một tên lính trơn thôi sao?”
Từ trước đến nay chưa từng nghe thấy chuyện cho một tên lính trơn đi du học ngoài phiên.
 
- Xin ngài cứ làm như Izou là đầy tớ của tiểu sinh mà hợp pháp hóa cho chuyện này, được như thế thì tiểu sinh vô cùng biết ơn.
- Ngài cũng thật lạ lùng. Chả nhẽ lại định bỏ tiền túi ra cho một tên lính trơn du học kiếm thuật sao.

Kirima cười ngạo rồi cũng cho qua. Cũng là vì món quà vặt kia đã có tác dụng.
Nghe tin, Izou mừng rỡ điên cuồng. Trong lòng hắn lúc này, vì Takechi mà nhảy vào dầu sôi lửa bỏng hắn cũng cam chịu.
 
- Vậy là tiểu nhân được phép cùng tiên sinh đến Edo thật sao.
 
Izou khóc rống lên.
Thế rồi Takechi nhận được chỉ thị từ phiên đưa xuống, rằng “đến Edo tu học kiếm thuật”, dẫn theo tên đầy tớ Okada Izou rời khỏi Tosa, đến dinh thự Kajibashi ở Edo vào tháng tám năm Kaei thứ sáu. (12)
Những kẻ từ phiên khác đến tu tập võ nghệ được gọi là kiếm thuật chư sinh, họ có quyền lựa chọn võ đường để theo học nhưng phần lớn người đến đây đều chọn võ đường Momoi Shunzou phái Kyoushin Meichi Ryu ở cách đấy không xa. Ở khu phố Kyoubashi Oke gần dinh thự Kajibashi cũng có võ đường của Chiba Sadakichi phái Hokushin Ittou Ryu cũng được nhiều người ưa chuộng. Cũng trong thời gian này Sakamoto Ryouma cũng đến võ đường Chiba theo học kiếm thuật.
Võ đường Momoi Shunzou mà Takechi chọn là một trong ba nơi làm mưa làm gió trong làng kiếm ở Edo đương thời. Thời đó người ta vẫn truyền tụng nhau rằng Momoi cứng về thế thủ, Chiba mạnh về kỹ thuật trong khi họ Saitou ra đòn rất ác liệt.
Izou cũng theo Takechi vào nhập môn. Đường chủ lúc bấy giờ là Momoi Shunzou đời thứ tư, tên tục là Naomasa và là kiếm khách kiệt xuất nhất trong các đời Momoi. Trong số môn hạ thì có vô số kiếm hào mà các chủ võ đường cỡ nhỏ ở Edo cũng phải rùng mình như Ueda Umanosuke, Kanematsu Naoyasu, Kubota Shinzou hay Sakabe Daisaku.
Takechi vào đây như rồng gặp nước, như hổ về rừng, chẳng mấy chốc mà phát huy hết tài năng sở học của mình. Nhập môn được môn năm đã được cử lên làm chức tổng giám sát đám môn sinh trong võ đường. Dù gì thì cũng là một chủ võ đường ở Tosa, hội đắc được cực ý các phái kiếm khác nên dĩ nhiên cũng khác xa đám môn sinh còn lại.
Mà sư phụ Momoi Shunzou cũng đặc biệt tỏ ra kính trọng Takechi. Hẳn là con người này có những tố chất khiến người ta kính trọng như vậy.
Thứ nhất là Takechi có tài tổ chức. Vào lúc còn chưa nắm chức tổng giám sát thì đã có lần can gián sư phụ Momoi rằng “Mọi quy cũ đạo đức của võ đường ngày càng đi xuống”. Số là bên cạnh võ đường có một quán trà, trong số môn sinh có nhiều kẻ vẫn thường lui tới đàng điếm với bọn con hát. Takechi lấy làm ngứa mắt mà than phiền với Momoi
 
- Nếu bây giờ mà không chấn chỉnh lại tác phong của môn sinh thì việc này ắt sẽ tổn hại đến thanh danh của tiên sinh.
 
Shunzou vốn người rộng lượng khoan dung nhưng về điểm này thì thiếu hẳn sự nghiêm khắc nên giao toàn bộ việc chấn chỉnh uy phong của võ đường cho Takechi. Thế rồi Hanpeita trở thành tổng giám sát, đề ra luật lệ, đặt giờ giới nghiêm, thưởng phạt phân minh, kẻ nào vi phạm luật lệ đều bị xử lý nghiêm khắc. Vì vậy mà trong võ đường tiếng ta thán Takechi ngày càng nhiều nhưng chẳng bao lâu thì mọi sinh hoạt đều đi vào nề nếp quy cũ. Chính vì có tài quản lý sắp xếp như vậy nên sau này được chọn làm thủ lãnh cho Đảng Cần Vương của phiên Tosa.
Momoi Shunzou cũng lấy làm tự mãn về người môn đệ tên Takechi Hanpeita. Đương thời trong giới chưa hầu thường tổ chức các buổi diễn võ, Momoi thưởng được mời đến và luôn dẫn theo Takechi. Chúa vùng Sendai, Daimyou xứ Izushi nghe tiếng mà ngưỡng mộ, truyền rằng muốn xem võ nghệ của Takechi. Đương thời có Katsura Kogorou vốn người Tosa, giữ chức tổng giám sát trong võ đường Saitou Yagorou cũng được nhiều người chú mục và gọi ra cho diễn võ.
Thế còn Izou.
Một hôm Momoi Shunzou cho gọi Takechi đến bảo rằng
 
- Thật không phải với Hanpeita nhưng theo ta thấy thì đừng nên cho tên đầy tớ kia học kiếm thì hơn.
 
Izou ngày càng tiến bộ, ngày càng mạnh hơn. Nhưng càng mạnh thì kỹ thuật của hắn càng lúc càng mất đi phẩm cách. Hắn quan niệm rằng làm sao để thắng là được. Và kiếm thuật của hắn cũng là thứ tương xứng với lối suy nghĩ đó. Thân pháp của hắn cực kỳ khó coi, cứ như một con sói đang khát máu chực nhảy xổ vào người ta. Đòn đánh của hắn cũng không hoa lệ mỹ miều mà mang một vẻ phàm phu khiến người xem phải buồn nôn. Vì thế mà Momoi không cấp chức nhận cho hắn. Nhưng nếu về thực chiến thì không thể xem thường Izou. Một đòn đánh của hắn cũng đủ khiến người ta vọt cả óc ra. Khuyết điểm trong kiếm pháp của hắn là không phải kiếm thuật có phẩm cách nên không có sự biến ảo vi diệu như các danh môn chánh phái. Trong kỹ thuật của hắn không có đường tiến cũng không có đường thối. Chỉ là một nhát kiếm giải quyết sinh mạng. Nếu nhát đầu tiên không làm gì được đối phương thì cũng không thể biến hóa ra chiêu thứ hai. Vì vậy mà trong thi đấu hắn luôn chịu thiệt. Trong trận đấu trọng tài thường xử cho đối thủ của hắn thắng cuộc vì số lần tấn công nhiều hơn. Mà tiếng thét Kiai của Izou cũng không có chút phẩm cách nào, giống như tiếng gầm rống của loài dã thú. Cả sư phụ và bạn đồng môn đều chỉ điểm cho hắn những chỗ dở này.
Nhưng hắn vẫn thường ngạo mạn tự phụ mà bỏ ngoài tai.
 
- Nếu là đấu nhau bằng kiếm thật thì cho dù chiêu đầu tiên có nhẹ đi nữa thì cũng làm đối phương không còn sức phản kháng nữa. Vì vậy mà chiêu thứ hai chỉ cần ung dung cũng có thể chém đứt đôi đối phương.
 
Chính vì thái độ phản kháng như vậy mà hình ảnh Izou ngày càng xấu đi trong mắt các bậc tiền bối ở võ đường. Thứ nhất, đối với họ thì kiếm không phải là thứ dụng cụ sát nhân, thành ra kiếm pháp của Izou bị coi là tà kiếm.
 
 
 
Năm
 
 
Mấy năm trôi qua, thời thế thay đổi, thận phận con người cũng có nhiều biến chuyển đáng kể. Năm trước hãy còn là một kiếm khách xoàng nhưng giờ đây Takechi Hanpeita đã trở thành thủ lãnh của Đảng Cần Vương phiên Tosa, đóng tại dinh thự đại diện của phiên ở Kyoto. Takechi được bầu vào vị trí công sứ tiếp đãi sứ thần các phiên của Tosa. Trong phiên Tosa thì mọi chuyện chính sự đều do bọn Thượng sĩ gánh vác và cho dù có bất cứ chuyện gì xảy ra đi nữa thì cũng không gọi đến bọn Hào sĩ. Vì thuộc hai tầng lớp khác nhau nên bọn Thượng sĩ không muốn để người ngoài nhúng tay vào. Thế nhưng Takechi là thân Hào sĩ, thuộc tầng lớp dưới nhưng vẫn được bọn Thượng sĩ cử vào tổ chức chính trị của phiên. Chuyện lạ lùng này bắt đầu từ một chính biến. Lúc đó Takechi về Tosa ám sát tham chánh độc tài Yoshida Touyou rồi thao túng mọi sự trong nội các của phiên. Nhưng Takechi không đích thân ra tay ám sát mà dẫn theo đám môn đệ Hào sĩ trong một đêm mưa gió xuống thành chém chết Yoshida. Tình hình trong phiên náo loạn cả lên.
Takechi trở thành một Thượng sĩ hạ cấp cầm đầu ba trăm Hào sĩ của Tosa, thế lực lớn mạnh chưa từng thấy trong phiên cũng như ở nơi khác. Mà quyền lực của Mạc phủ cũng ngày một suy yếu dần kể từ khi xảy ra biến cố Đại lão (13) Ii Kamon no Kami bị ám sát ngoài cổng thành Sakurada ở Edo. Ở Kyoto thì các chính khách của ba phiên Satsuma, Choushu và Tosa thành lập một chính quyền bất hợp pháp, lấy triều đình làm trung tâm và tranh nhau chức đại biểu của phiên mình, bành trướng thế lực ảnh hưởng. Lúc bấy giờ họ tập hợp bọn kiếm khách giang hồ khắp nơi trong nước vào tay mình và sẵn sàng chém chết các phe phản kháng. Đại diện cho quyền lực của Mạc phủ ở Kyoto là Sở ty đại (14), các quan Bugyou (15) cũng sợ họ mà nhắm mắt làm ngơ, không dám điều tra về những cái chết diễn ra như cơm bữa ở Kinh đô. Tình hình hỗn loạn này kéo dài từ năm Bunkyu (16) thứ hai đến năm thứ ba, lúc bấy giờ đội cảnh vệ Shinsengumi vẫn còn chưa ra đời (17).
Lúc này Izou luôn theo sát Takechi như hình với bóng. Hắn không rời chủ nhân nửa bước, lúc nào cũng lẳng lặng như một cái bóng. Takechi thường không mấy khi ở trong bản doanh mà thường đến quán rượu Tantora ở phố Kiya cùng với những người đồng chí bàn chính sự. Cứ khoảng ba ngày một lần lại lui tới khu phố du nữ ở Sanbongi hội họp với công sứ của các phiên khác. Nói là đến uống rượu mua vui nhưng Takechi chỉ đến vì công việc. Công sứ là chức danh các phiên đặt ra chỉ những người đứng ra làm trung gian đàm phán, giao thiệp giữa các phiên với nhau. Họ tụ tập ở những tửu điếm như thế này để trao đổi tình hình chính trị lúc bấy giờ. Phiên Tosa thì có Takechi Hanpeita , phiên Choushu thì có Katsura Kogorou là những nhân vật có tiếng đương thời. Bọn võ sĩ giang hồ các nơi, các võ sĩ phiên khác cũng vì mến mộ danh tiếng Takechi mà tập trung đến nhiều. Trong số đó phải kể đến nhân vật Tanaka Shinbei người phiên Satsuma được xưng tụng là Hitokiri cùng với Izou. Mỗi tối Shinbei đều ra vào quán Tantora nơi Takechi bàn kế sách, hai bên thân tình đến mức kết giao huynh đệ. Kusaka Genzui phiên Choushu cũng thường lui tới nơi này. Nói chung những kẻ lui tới tửu điếm Tantora toàn thành phần quá khích của các phiên theo chính sách Cần vương bấy giờ như Inaba, Aki, Satsuma, Tsushima mà thôi. Những buổi hội họp như thế này thường là những cuộc tranh luận quá khích công kích lẫn nhau.
Izou ngồi ở mộc góc hành lang, mặc nhiên nghe những lời tranh luận bàn tán. Thỉnh thoảng Takechi lại gọi, “Izou, mang trà” là hắn lập tức đứng dậy xuống dưới nhà. Hắn chỉ ngồi đó đợi Takechi sai vặt. Quả là buồn chán, hắn nào muốn thế. Hắn cũng muốn được tham gia nghị luận như Takechi, cũng muốn chứng tỏ mình cũng là kẻ vì Thiên hạ Quốc gia. Nhưng một kẻ vô học như hắn thì làm sao dự vào được, mọi người nói gì thì hắn nào có hiểu. Nhưng không phải chỉ có mỗi mình Izou, đương thời có chí sĩ phiên Satsuma được gọi là Hitokiri Hanjirou, sau trở thành dân thường lấy tên là Kirino Toshiaki cũng là người một chữ bẻ đôi không biết, mọi người hay nói “Tôn phiên”, “Tệ phiên” nhưng nhân vật này chẳng hiểu được ý nghĩa của những từ này. “Tôn phiên” là từ kính trọng để chỉ phiên của đối phương, còn “Tệ phiên” dùng để nói về mình. Nhưng Hanjirou không rõ mà tưởng lầm “Tôn phiên” là “Tổn phiên”, từ khiêm tốn như “Tệ phiên”. Vì vô học không rõ ý nghĩa của lời nói mà lại sử dụng vô tội vạ nên lắm phen gây bối rối cho chí sĩ các phiên khác. Nhưng Hanjirou là người vui vẻ lạc quan tột độ, vì yêu thích sự non trẻ đó mà sư phụ Saigou Takamori thường không la mắng, Hanjroi cũng không hề cảm thấy thua kém gì, thường bông đùa rằng “Nếu ta có chữ nghĩa thì thiên hạ này đâu còn” và mọi chuyện chấm dứt.
Nhưng Takechi không phải là một ông chủ rộng lượng như Saigou. Sư phụ của Izou là một người hoàn toàn khác.
 
- Izou, như thế sai rồi.
 
Câu nói cửa miệng của Takechi là thế, cứ nhất nhất vạch vào những chỗ sai của tên đầy tớ. Cùng là thân phận cha mẹ nhưng điểm khác nhau chí mệnh giữa Saigou và Takechi trong việc giáo dưỡng kẻ dưới chính là tính khôi hài của mỗi người. Tuy là người Tosa nhưng Takechi lại luôn nghiêm túc, hiếm khi nhìn sự việc dưới góc độ bông đùa như những người đồng hương của mình. Izou thường cứng đơ người khi thấy Takechi liếc mắt nhìn mình. Mỗi khi hắn phát biểu câu gì sai là lập tức chí sĩ các phiên cười ồ lên, đối với Takechi thì đây là một sự sỉ nhục không thể chịu đựng được, không những ảnh hưởng đến danh dự bản thân là đại biểu của phiên mà còn gây phương hại đến uy tín của địa phương mình. Takechi là người quá mẫn cảm với những chuyện như thế này.
Chính vì điều này mà Izou thấy khó chịu, sợ hãi.
Nhưng cũng không thể nói rằng Takechi ghét bỏ tên đầy tớ của mình. Từ lúc còn ở võ đường Momoi ở Edo cho đến lúc lên Kyoto, đi đâu Takechi cũng đều dẫn Izou theo, đến các võ đường ở Kyushu tu học kiếm thuật, sau đó chu du đến các nơi như Yanagawa, Kurume, Omura, Kumamoto, Bungo,... Đi đến đâu cũng đều xin tỉ thí với các danh kiếm của địa phương, trong khoảng thời gian này mà tên tuổi Izou nổi như cồn. Toàn bộ phí tổn đi lại đều do một tay Takechi chi trả. Phải nói rằng chính Takechi là người có công từ đầu cho đến cuối trong việc tạo dựng kiếm khách Izou.
Nhưng kẻ ngu độn đâu thể hiểu nổi người hiền tài.
Chính vì bị ức chế như thế nên Izou luôn tìm kiếm những cơ hội giải tỏa nỗi uất ức của hắn. Chẳng hạn như trong hội nghị có người lên tiếng
 
- Có tên nọ bề ngoài thì theo Cần Vương nhưng trong bụng vốn là bề tôi Mạc phủ.
 
Izou nghe được lẳng lẳng biến mất. Đương đêm hắn chạy qua các khu phố, tìm đến nhà kẻ xấu số nọ rồi vung gươm chém chết. Hắn chùi máu rồi trở về hội nghị, thản nhiên như chẳng hay biết gì. Thế là Izou trở thành tên sát nhân mà trong một thời gian dài Takechi không hề hay biết gì.
Lần đầu tiên hắn ra tay giết người là vào tháng tám năm Bunkyu thứ hai ở khu phố Osaka. Lúc bấy giờ hắn còn trú chân tại dãy nhà dài trong doanh trại Osaka Sumida của phiên Tosa. Lúc này Takechi đã ám sát tham chính Yoshida Touyou rồi. Những kẻ trực tiếp hạ thủ là Nasu Shingo, Yasuoka Kasuke, Oishi Danzou sau khi ám sát lập tức vượt qua dãy núi Shikoku trốn khỏi Tosa, lên kinh ẩn náu trong dinh thự đại diện của phiên Satsuma.
Còn ở Tosa thì bọn Thượng sĩ trực thuộc quyền quản lý của Yoshida Touyou cử ra hai viên Bugyou hạ cấp đến Osaka điều tra sự việc. Một người là Iwazaki Yatarou, vốn không theo phe Cần Vương, thấy phái này bắt đầu lũng đoạn chính sự trong phiên nên cảm thấy nguy hiểm trong công việc, lập tức bỏ mặt đồng liêu ở lại còn mình thì trở về Tosa. Người còn lại là Inoue Saichirou.
Izou nghe tin có phái viên từ Tosa đến điều tra thì bắt đầu nghĩ đến chuyện ám sát. Hắn sợ rằng nếu bọn Nasu, Yasuda và Oishi, những kẻ hạ thủ Yoshida bị bắt thì thể nào tên tuổi Takechi đứng đằng sau cũng bại lộ. Nói đến chuyện ám sát thì hắn đúng là kẻ giảo hoạt. Đầu tiên, hắn tập hợp đồng chí ở doanh trại Sumida lập kế hoạch, rủ thêm hai viên Bugyou thuộc phái Cần Vương rồi cho đến thăm nhà trọ của Inoue Saichirou. Hai viên Bugyou này vốn là chỗ quen biết cũ với Inoue.
 
- Đi làm vài ly!
 
Hai người dẫn theo Inoue đến tửu điểm gần cần Shinsai, được một lúc thì bỗng bọn Izou ngẫu nhiên xuất hiện, nói
 
- Ồ lâu quá không gặp quan bác, hay ta xuống phía nam cùng uống hàn huyên lại chuyện cũ.
 
Izou vốn không ưa Inoue. Bugyou ở Tosa chỉ là một chức danh xoàng được chọn ra từ lớp Hào sĩ, lính trơn nhưng lại nhận mệnh lệnh của Thượng sĩ mà điều tra mọi sai trái trong giới Hào sĩ. Đối với Izou thì đây là những kẻ phản bội, những tên bán đứng tầng lớp của mình. Mà Inoue lại là kẻ ngạo mạn. Ngày xưa, khi Izou còn là tên lính trơn dưới thành ở Tosa thì có lần gặp mặt dưới chân cầu Harimaya nhưng hắn không chú ý mà quên cả thi lễ. Inoue gọi giật ngược lại, Izou!!
 
- Izou, mày xưng là có bệnh rồi trốn phiên canh gác, thực ra hôm đó đã đến võ đường Takechi ở phố Tabuchi phải không. Liệu hồn.
 
Izou rùng mình. Nếu chuyện này được báo cáo lên trên thì nhiều khả năng hắn sẽ bị đuổi khỏi đội lính trơn. Đầu hắn nóng ran, đến khi hoàn hồn thì đã thấy mình dập đầu tạ tội một cách thảm thiết. Inoue nở nụ cười khinh miệt rồi bỏ đi mất. Suốt đời Izou không thể nào quên được nỗi nhục này. Phải nói rằng chính nỗi uất ức về sự thấp hèn của thân phận này là động lực khiến hắn tìm đến kiếm thuật mà biến thành một con ác quỷ La sát.
Nhưng bây giờ khác rồi. Hắn là chí sĩ, một võ sĩ trong thiên hạ mà lắm kẻ biết tên. Izou cố ý nói to “Nào chúng ta xuống phía nam vừa uống rượu vừa ôm ấp mỹ nữ”. Inoue thấy sự thay đổi khinh bạc của Izou thì cho rằng tên này xấc láo lắm, nhưng biết đâu đó sẽ moi được chút tin tức gì nên cùng cả bọn vượt qua cầu Shinsai theo xuống phía nam. Lúc này Inoue đã ngà ngà say. Cả bọn đến phố Kurou Uemon bù khú cho đến chặp tối rồi mò ra bờ sông Doutonbori.
 
- Say rồi, ta say rồi.
 
Izou loạng choạng, ra vẻ say bí tỉ rồi dựa vào Inoue, tay quàng qua cổ. Rồi hắn xiết mạnh. Inoue không kêu lên được tiếng nào. Chung quanh có nhiều người qua lại nhưng chẳng ai chú ý, chẳng có gì bất thường cả. Inoue loạng choạng một chặp thì tắt thở, toàn thân lạnh ngắt, mềm nhũn trong tay Izou. Chà, đây là thằng Inoue năm xưa trên cầu Harimaya sao. Đối với Izou, Inoue là một biểu tượng của quyền lực năm xưa mà nay lại mềm nhũn trong tay hắn. Phải chăng hắn đã hiểu được sự vô thường của cõi đời? Không, hắn đang vui mừng khôn xiết. Con người là sinh vật đáng chán như thế này sao. Kẻ giàu có, kẻ nắm quyền lực khi chết đi chẳng qua chỉ là một cái xác mà thôi. Bằng việc biến đối phương thành xác chết, hắn cảm thấy được sự ưu việt của kẻ sống sót là mình. Izou cùng mấy người đồng chí rút gươm đâm vào bụng Inoue, hắn lấy làm khoái trá ra sức hành hạ tử thi, tha hồ ngoáy mũi kiếm vào trong xác chết. Nhưng có đâm mấy mà máu vẫn không vọt ra. Inoue vốn đã tắt thở trong cánh tay hắn lúc nãy rồi.
Rồi cả bọn đá xác chết xuống sông Doutonbori để khi người ta phát hiện ra thì nghĩ rằng đây là một kẻ chết đuối.
Kể từ đó Izou không thể nào quên được khoái cảm của việc giết người.
Lần hắn sát hại Tada Tatewaki ở Kyoto cũng thế. Tatewaki vốn người mảnh khảnh, da trắng như nữ nhân lo những việc lặt vặt trong chùa Kinkaku. Trước đó mấy ngày ở Tantora, có lần Takechi buộc miệng bảo
 
- Hình như mụ tỳ thiếp của Nagano Shuzen vẫn còn sống thì phải.
 
Izou nghe được lập tức chạy đi tìm tung tích. Nhưng thật tình hắn nào có biết Nagano Shuzen là ai. Shuzen vốn là người tâm phúc của Đại lão Ii và là nhân vật ngầm theo dõi mọi động tĩnh của giới học giả, võ sĩ ở kinh đô chống lại Mạc phủ rồi báo cáo lại cho Sở ty đại. Lúc sinh thời người này đã tống không ít chí sĩ đảo Mạc vào ngục. Bên cạnh Shuzen còn có tình phụ Murayama Kazue ngấm ngầm trợ lực. Kazue vốn là con hầu của của Ii, nhưng sau khi Ii lên chức Đại lão thì Kazue được thưởng cho mưu thần là Shuzen. Mụ tỳ thiếp Takechi nhắc đến chính là Kazue này. Izou không hề hay biết gì. Hắn cùng những người đồng chí phiên Tosa là Yorioka Gonkichi, Kobatake Mago Saburou, Kawano Masuya và Chiya Toranosuke ráo riết truy lùng, cuối cùng tìm được tung tích của Kazue. Đêm ngày mười ba tháng mười một cả bọn xông vào khu nhà ổ chuột ở Shimabara nơi Kazue đang ẩn náu, lôi cổ kéo đi. Cả bọn lột truồng Kazue ra rồi lôi qua cầu Sanjou Ohashi, trói vào bụi tre trên bờ đê gần đó, dựng cọc bố cáo tội trạng rồi bỏ mặc cho phơi sương gió ở đó. Tatewaki chính là con trai của nhân vật Kazue này.
Rồi Izou đến dọa nạt chủ khu nhà trọ Kazue thuê, bắt phải tìm ra tung tích con trai là Tatewaki. Sau đó ba ngày thì tìm thấy. Hắn cùng hai mươi người đồng chí giải Tatewaki đi từ Shimabara đến trên cầu Dobukawa hành hình. Tatewaki không đi nỗi, thế là cả bọn lôi đi xềnh xệch. Đến chiều tối thì cả bọn lên trên cầu. Có ý kiến cho rằng Tatewaki là thân thích của kẻ đã giết hại nhiều chí sĩ Cần Vương nên phải chém chết không tha, nhưng lại có kẻ phản đối rằng “Tatewaki vốn không phải là con của Kazue với Nagano Shuzen mà là với người chồng cũ Tada Genzaemon, không có quan hệ trực tiếp với Shuzen nên chẳng cần lấy mạng hắn, chỉ phơi sống như mẹ hắn là được rồi”. Izou lẳng lặng không nói gì, hắn chỉ nôn nóng muốn chém chết Tatewaki mà tay lăm lăm chuôi kiếm. Hắn muốn lập công. Không, không chỉ có thế, hắn ghét cay gét đắng bộ phục đính hoa văn Tatewaki mặc, hắn ghét luôn cả cái thân thể dưới lới lụa đắt tiền ấy.
Izou toan rút kiếm. Nhưng một chí sĩ Choushu của hắn đã nhanh tay hơn, chỉ nghe thấy một tiếng vút mạnh rồi một tiếng la thất thanh xé cổ họng của Tatewaki. Lưỡi kiếm của người Choushu kia vừa chạm vào xương cổ Tatewaki đã oằn lại, da thịt văng cả ra khiến gã thư sinh kia la thất thanh.
 
- Chém đầu phải chém như thế này!
 
Izou nói rồi bước tới một bước, đánh xoẹt một cái. Tiếng thét Tatewaki bỗng im bặt, cái đầu lìa khỏi cổ văng lên không rồi rơi xuống sông Dobukawa. Nước sông nhuốm một màu đỏ lòm.
Cả bọn như nín thở, Izou chùi lưỡi gươm nhuốm máu bằng tấm áo gấm của Tatewaki. Từ vết cắt trên cổ, máu tuôn ra như suối. Izou cầm lồng đèn tiến đến gần xác chết, tay sờ vào vết cắt thì quả nhiên, quanh miệng lỗ trên thân hình mất đầu kia nhẵn nhụi trơn tru như được gọt dũa bằng tay cẩn thận. Hắn lấy làm thỏa mãn lắm rồi xuống sông rửa tay. Người đồng chí của hắn soi đèn lồng vào chỉ thấy khuôn mặt lạnh lùng bình thản của hắn như một bác sĩ ngoại khoa sau cuộc giải phẫu.
Sau chuyện này, Izou luôn có mặt ở hiện trường những vụ “Thiên tru” (Tenchu) nổi tiếng. “Thiên tru” có nghĩa là thay trời mà ra hình phạt, từ này xuất hiện vào khoảng thời gian này từ những thành phần bất mãn với chính sách của Đại lão Ii Naosuke. Những thành phần này mang tư tưởng phản lại Mạc phủ rồi sau đó hình thành thế lực lớn mạnh chủ trương đánh đổ Mạc phủ, ám sát những nhân vật quan trọng của bộ máy này. Mỗi khi ám sát người của Mạc phủ, kẻ ám sát thường để lại từ “Thiên tru” này.
Trong thời gian này Takechi cũng lần lượt chỉ huy các chí sĩ dưới tay mình thực hiện nhiều vụ “Thiên tru”, nhưng đối với chuyện giết người của Izou thì lại tỏ ra khó chịu.
Đối với Takechi thì chuyện ám sát bắt nguồn từ luận lý chính trị và chính nghĩa, từ lý tưởng muốn đánh đổ Mạc phủ để cứu nguy cho quốc gia thiên hạ. Còn những cuộc chém giết của Izou chỉ là như chuyện đồ tể sát sanh mà thôi. Takechi lấy làm khó chịu vì có một kẻ ám sát ngu muội dưới trướng mình, vì hắn mà chuyện ám sát thần thánh của mình và các chí sĩ bị ô uế. Nhưng đối với Izou thì giết người lại là chuyện thần thánh. Bản thân hắn chẳng thể nào nói lên được cái chính nghĩa và lý luận của mình nên mới mượn chuyện ám sát để cái chính nghĩa đó được thừa nhận. Thế mà nó bị Takechi chà đạp thì quả là không còn chỗ đứng đối với một chí sĩ như hắn.
Có lần Takechi nghiêm mặt hỏi gặn Izou
 
- Tại sao ngươi giết người?
- Vì Thiên tru.
 
Izou cố bám víu. Nhưng khuôn mặt của Takechi bỗng trở nên lạnh lùng.
 
- Đó là từ ngữ của chúng ta, ngươi nói được sao.
 
Izou nín thinh. Sao, từ ngữ mà cũng có giai cấp à? Một tên lính trơn như hắn thì không được quyền nói từ "Thiên tru" sao? Con chó Izou nhìn ông chủ, ánh mắt chứa đầy vẻ ấm ức hận thù.
 
- Ánh mắt đó là như thế nào!
 
Đối với Takechi thì đó quả là thái độ bất ngờ. Tại sao con chó lại có ánh mắt đó? Takechi định làm một ông chủ tốt, dạy cho con chó điều hay lẽ phải, cho nó học vấn, lý luận Cần Vương chính thống nhưng chưa từng dạy cho bất cứ môn hạ nào thái độ như vậy, ánh mắt như vậy. Nhưng Takechi lại xem hắn như một tên lính trơn hèn kém mà không thèm để mắt, hay là một tên đầy tớ, một con chó, một tên gia đinh của tổ tiên năm xưa, mà tệ hơn cả là đối xử với hắn như một kẻ ngu độn.
 
- Tiên sinh....
 
Izou cúi đầu, hàng lệ rơi xuống chân. Hắn đã hối hận ư, Takechi thầm nghĩ. Nhưng thực ra những giọt lệ đó bắt nguồn từ một tuyến lệ khác, tuyến lệ này nối với sự oán hận. Đó là lần đầu tiên hắn oán hận Takechi, đệ nhất anh kiệt ở kinh đô vẫn được thiên hạ truyền tụng là Mặc Long ở Nam Hải.
 
- Tiên sinh nuốt lời, chẳng phải luôn nói rằng các chí sĩ Cần Vương bên cạnh Thiên tử đều bình đẳng như nhau cả sao. Ta bây giờ đâu còn là thằng lính trơn Izou như ngày xưa nữa. Hãy hỏi võ sĩ các phiên xem, cái tên Okada Izou này chẳng phải là nổi như cồn khắp nơi sao.
 
Izou muốn thét lên.
Thật là bất hạnh, hắn chẳng thể nào hiểu được rằng không phải Takechi miệt thị hắn là vì xuất thân hèn kém của mình. Sự thật là có nhân vật Tanaka Shinbei cũng xuất thân từ lính trơn ở Satsuma nhưng Takechi không hề xét nét mà vẫn kết giao huynh đệ. Trong khi đó thì đối với Izou , Takechi lại luôn tỏ thái độ khinh miệt vì tầng lớp hạ đẳng của mình.
Một hôm xảy ra sự kiện sát hại bốn người phụ tá quan Bugyou (Yoriki) ở Kyoto là Ogawara Juzou, Mori Magoroku, Ueda Suke Nojo và Watanabe Kinsaburou. Takechi không trực tiếp hạ thủ mà chỉ huy những người đồng chí tiến hành vụ Thiên tru này. Bốn người này đều là gia thần của Mạc phủ hoạt động rất mạnh trong vụ bắt bớ các chí sĩ Tôn Hoàng năm Ansei thứ năm do Đại lão Ii Naosuke lãnh đạo. Nhất là Watanabe Kinsaburou, người đã tiến hành bắt bớ, tra khảo rất gay gắt, đến cả dân chúng trong thành cũng phải kinh sợ mà ta thán thay. Vì vậy mà Takechi lập kế hoạch ám sát để báo thù cho những người đồng chí đã chết trong ngục. Về phía Mạc phủ có lẽ cũng biết được điều này mà cho gọi bốn người đến Edo, lấy cớ là ban cho quan tước phục vụ Mạc phủ. Phía Takechi có chí sĩ Fukuha Bungorou người phiên Tsuwano vốn là trinh sát ở Tantora, dò la được tin này vội mật báo cho Takechi. Nhận được cấp báo, Takechi vội họp mặt chí sĩ cả ba phiên phía nam lại bàn bạc. Ý kiến cho rằng một mình Tosa thì không làm gì được nên cần phải phối hợp lực lượng cả ba phiên phương nam lại. Rồi có Takazaki Satarou người phiên Satsuma đứng ra làm trung gian kết nối lực lượng của Tosa và Choushu lại để đối phó với Mạc phủ. Satsuma cử ra hai người, Choushu mười người, Tosa mười hai người, tổng cộng là hai mươi bốn người đứng ra thành lập “đội trảm gian”. Đây là tập đoàn thích khách lớn chưa từng có trước đó. Sau này có thêm Nakajima Eikichi là chí sĩ phiên Sugahachi tham gia, thành hai mươi lăm người. Nhưng trong đội trảm gian không có mặt Izou. Nói đúng hơn là hắn bị những người đồng chí của mình làm ngơ.
Izou biết được kế hoạch ám sát của những người đồng chí vội đến hỏi Takechi rằng tại sao tên mình không có trong danh sách thì Takechi chỉ khảy tay rằng “Làm gì có kế hoạch ám sát nào” rồi chẳng nói gì thêm.
Nhưng trước đó Takechi đã cho điều tra kỹ càng tình hình các khu lữ điếm trên con đường Toukaidou (18), nắm bắt chính xác nhật trình của bốn Yoriki nọ. Bốn người rời khỏi kinh đô xuất phát vào rạng sáng ngày hai mươi ba tháng chín rồi sẽ đến trọ ở khu Ishibe phiên Oumi trong ngày hôm ấy. Takechi còn cho điều tra rõ ràng từng nhà trọ bốn người ở nữa. Watanabe trọ ở quán Tachibanaya, Mori ở Saegiya, Ogawara ở Yorozuya còn Ueda trọ ở quán Kadoya.
Takechi cho gọi nhóm thích khách đại biểu của các phiên đến tửu điếm Yoshidaya lại dặn dò mọi việc, theo như tin mật báo từ Ishibe thì hôm đó sẽ có hai nhóm nhân mã của Daimyou Kuze Yamato no Kami và Matsudaira Shikibu Shounyu từ Edo đến nên tình khu nhà trọ sẽ rất hỗn tạp, dĩ nhiên là việc canh phòng cũng nghiêm mật nên phải hết sức thận trọng.
Đến ngày hai mươi ba, vừa hay tin bốn viên Yoriki rời Kyoto thì Takechi liền lệnh cho nhóm thích khác đuổi theo ngay. Khi được người đồng chí cùng phiên Tosa cho hay thì Izou vội nai nịt mang gươm khởi hành ngay. Nhưng lúc này mặt trời đã lên cao, cũng đã hai giờ trôi qua kể từ khi nhóm thích khách xuất phát. Từ Kyoto đến Ishibe hơn chín dặm (19). Nếu đi bộ thì hẳn là đến đêm mới tới. Nghĩ vậy Izou chạy như bay ra khỏi khu phố Kawahara (20), vượt qua cầu Sanjou Ohashi (21), lao ra cửa Awata (22), hắn chạy lên đồi xuống đồi, băng qua núi Osaka yama như kẻ phát cuồng dưới rừng lá phong, đến trà điếm ở Ozu (khu tây nam tỉnh Shiga hiện nay) mua cái bánh rồi tiếp tục vừa chạy vừa ăn. Bên hông Izou là thanh trực kiếm Tadayoshi dài hai thước sáu thốn (23) do thợ ở Hizen rèn. Bao kiếm đỏ, cán kiếm quấn chỉ xanh, đốc kiếm thép mỏng theo đúng kiểu vùng Tosa. Izou vẫn khoe rằng mình nhận thanh kiếm này từ Sakamoto Ryouma nhưng thực ra khi Ryouma trốn khỏi Tosa chỉ mang theo thanh kiếm Mutsu no Kami Yoshiyuki từ nhà chị mà thôi nên hẳn là Izou đã cướp nó từ một nạn nhân của hắn rồi thay đổi hình dạng chút ít.
Khi đến Kusatsu (khu phía nam tỉnh Shiga ngày nay) thì mặt trời đã đứng bóng.
 
- Đến Ishiba còn khoảng bao lâu?
- Chừng hơn ba dặm.
 
Bọn phu vác kiệu ở lữ điếm đáp. Bỗng Izou nhìn thấy một người ra dáng là Hatamoto (24) từ Edo đến dẫn theo chừng mười tên tả hữu ở rặng mơ bên đường.
 
- Ta chém chết, ta chém chết, ta chém chết!!
 
Izou thét rồi phóng ra như bay. Đối phương hoảng sợ mà dạt cả ra hai bên tả hữu. Một đằng là thân phận cao quý ngàn hộc, một đằng chỉ là một tên lính trơn của một phiên quê mùa tận phương nam nhưng hẳn là vị Hatamoto kia đã hoảng hồn vì vẻ mặt đằng đằng sát khí của Izou. Hắn chẳng e ngại gì, mà trên đời này thì ngoài Takechi ra thì hắn còn sợ gì nữa. Nếu chém chết thì vị Hatamoto kia cũng chỉ là một cái xác thối mà thôi. Lúc này Izou đã đạt đến cái xã hội quan như vậy. Nếu Izou không phải là cuồng tử thì cũng là quái thai được sinh ra trong thời đại này.
Trong lúc đó thì nhóm thích khách của ba phiên đã tề tựu tại một nông gia trước khu lữ điếm Ishibe, đợi trời tối thì nhất tề xông vào tập kích. Vì phải đánh vào cả bốn căn nhà trọ đồng thời nên cả bọn chia làm bốn nhóm, từng người từng người bịt mặt đội khăn, trên trán quấn vải trắng làm hiệu. Thành ra không còn ai nhận ra ai nữa.
Mặt trời vừa lặn cả bọn lập tức xông vào khu lữ điếm.
Lúc bấy giờ Izou hãy còn đương chạy ngoài đường Iga, qua mấy con núi. Đường càng lúc càng hẹp, hắn thở dốc từng hơi như đứt đoạn. Nhìn thấy ánh lửa của khu Ishibe, hắn mừng húm.
Phía gần cổng khu Ishibe là nhà trọ Tachibanaya. Có kiếm gươm giáo va nhau. Hắn lồng lộn xông vào, phi thẳng lên tầng trên, nhảy một bước hai bậc thang ra ngoài hành lang của tầng hai. Cửa lùa đổ ngả nghiêng. Mấy người đồng chí của hắn đang đọ kiếm với Watanabe Kinsaburou và ba tên tả hữu. Izou xông vào nhưng vì hắn không ăn mặc như quy ước nên trong số thích khách có kẻ lầm tưởng hắn là địch nên tuốt gươm xông vào. Izou hoảng hốt chận ngang cán kiếm thủ miếng, thét lớn
 
- Nhầm rồi, ta là Okada Izou người Tosa!
 
Trong số thích khách có nhiều kẻ biết tiếng hắn nên chỉ trong phút chốc cả bọn hiểu ra, nhưng kẻ mang thân đi ám sát mà lại xưng danh như thế kia, lại còn lôi cả tên phiên ra nữa thì còn gì ngu xuẩn bằng. Chẳng phải vì muốn giữ bí mật mà cả bọn phải bịt mặt lẳng lặng mà chiến đấu đó sao. Khi Izou xưng danh thì cả chủ nhà trọ lẫn bọn con hầu đều đã nghe thấy hết cả. Thực chẳng ra làm sao.
Watanabe là kẻ dữ tợn, kiếm thuật cũng không vừa nên đẩy lùi cả bọn thích khách. Izou ngứa mắt bảo, tránh ra, rồi đẩy bọn đồng chí sang một bên và dở món nghề loạn đả ở nơi chật hẹp mà mình tự công phu được thời niên thiếu. Hắn xông lên húc thẳng vào người Watanabe rồi lập tức ngã lăn ra đất, vừa ngã ra vừa tuốt kiếm, trong sát na đã chém thân hình Watanabe đứt làm đôi. Máu phun có vòi.
Lúc bấy giờ thì bọn Mori, Ogawahara cũng lần lượt bị hạ tại nhà trọ của mình. Chỉ có mình Ueda Suke Nojo đêm đó không ở nhà trọ của mình mà đến Saegiya bàn chuyện với Mori thì bị chém một đao ngã quay ra. Nhưng bọn thích khách tưởng là tên gia lại của Mori nên không lấy mạng mà vội bỏ đi. Mấy giờ sau thì Ueda tắt thở.
Nhóm thích khách rút lui ngay đêm đó, mang đầu của ba cảnh sát Watanabe, Mori và Ogawahara chạy như bay về phơi trên đài tử hình ở cửa Awata.
Izou trở về dinh thự Tosa ở kinh đô. Chẳng bao lâu đã hết năm, đến mùa xuân năm Bunkyu thứ ba. Lúc này Izou đuợc phép đến diện kiến Takechi ở quán Tantora. Chẳng hiều vì sao mà trước đó Takechi luôn tỏ ra xa lánh mà không cho gặp mặt.
 
- Izou, ngươi đã tham gia vào vụ ở Ishibe phải không?
 
Takechi nói, vẻ khó chịu.
 
- Thiên hạ đang bàn tán về vụ Ishibe, hình như là có Okada Izou người phiên Tosa tham gia vào nữa. Khi thi hành Thiên tru thì cho dù có phải cắt lưỡi cũng không được khai tên chủ nhân ra. Thế mà ngươi đã dõng dạc lôi cả tên phiên ra, cái đầu của ngươi nghĩ gì vậy? Ngươi có xứng đáng là chí sĩ phiên Tosa hay không? Như vậy thì có thể gánh trọng trách quốc gia đại sự được chăng? Có còn là chí sĩ hết lòng vì sự nghiệp Cần Vương chăng?
- .......


Izou ngây người, nín lặng.


Đó chẳng phải là chuyện không ngờ đến hay sao. Lúc đó chẳng phải là người đồng chí của hắn xông vào trước khiến hắn phải xưng danh tự vệ hay sao. Izou biện bạch. Nhưng vốn là người không giỏi mồm mép nên hắn vừa trần tình vừa toát mồ hôi như tắm.
 
- Nhưng lúc đầu tại sao tiên sinh không cho tôi hay? Tại sao tiên sinh chỉ xem mình Izou như người thừa? Izou không phục!
- Ngươi ăn nói với ta vậy sao?
 
Rốt cuộc, Takechi cũng chẳng hiểu được tại sao mình lại nặng lời đối với Izou như thế. Takechi chưa từng buông lời trách mắng với kẻ khác bao giờ.
 
- Lý do rất rõ ràng. Ta không thể tiết lộ chuyện cơ mật cho ngươi hay được.
- Tại sao?
- Việc đó ngươi hãy tự vắt tay lên trán mà suy nghĩ xem.
 
Izou chẳng thể nào hiểu nỗi là chuyện gì. Sau này đem hỏi người đồng chí Hirose Kenta thì mới hay rằng
 
- Vì tiên sinh đã biết chuyện của cậu ở khu phố chùa.
 
Izou nghe nói ngẩn mặt bần thần. Chẳng là trước đó không lâu hắn có gặp Sakamoto Ryouma. Ryouma đã trốn khỏi phiên Tosa và mọi chuyện xảy ra từ đó.
Ryouma cũng là một chí sĩ Tosa được nhiều người ngưỡng mộ như Takechi, vốn là bằng hữu, thời cả hai cùng tu học kiếm thuật ở Edo cũng có qua lại với nhau. Sau này khi trở về Tosa thì Ryouma cũng tham gia vào đảng Cần Vương nhưng chẳng bao lâu sau thì trốn khỏi phiên rồi đến Settsu mở trường hải quân. Trường dạy cho bọn võ sĩ giang hồ và bọn võ sĩ cấp thấp các phiên, tập hợp cũng được ba trăm người, ngày ngày luyện tập thao tác chiến hạm, thương thuyền. Ryouma đã nhìn thấy nhiều điều khác biệt giữa mình và Takechi, đường đi của hai người không giống nhau. Ryouma không phải là người theo luận thuyết đánh đuổi người Tây cứng nhắc như Takechi mà đi theo con đường khai quốc, tức là thông qua mậu dịch, củng cố giao thông đường thủy, tăng cường sức mạnh hải quân, làm đất nước giàu mạnh mà đối phó với sự xâm lược của ngoại bang cũng như xóa bỏ những điều thua thiệt so với họ. Nhưng cả hai đều thống nhất với nhau ở điểm đánh đổ Mạc phủ, củng cố lại quyền lực Thiên Hoàng ở Kyoto. Ryouma vẫn thường cười nhạo bọn chí sĩ ở Kyoto
 
- Chỉ bằng luận thuyết vớ vẩn và vài vụ Thiên tru mà thành đại sự được sao.
 
Ryouma cũng không nói với ai về chuyện này. Sau này sẽ thành lập một đội thương thuyền kiểm soát mậu dịch trong eo biển Seto, có lẽ là muốn tạo thành một thế lực lớn trên biển để đối phó với Mạc phủ, chờ đến thời cơ thì nổ súng.
Nhưng Ryouma chỉ là một lãng sĩ biệt xứ, thân không một xu dính túi. Ngẫu nhiên mà Ryouma gặp được Kaishu Katsu Rintarou là viên đô đốc quản lý quân hạm của Mạc phủ, nhờ vào thế lực của Katsu mà vận động Mạc các xin cho mượn thuyền luyện tập. Còn tiền thành lập trường thì đến vận động Daimyou phiên Fukui ở Echizen là Matsudaira Shungaku.
 
- Trong tương lai nó sẽ giống như các công ty cổ phần của nước Mỹ tập hợp cổ phần từ các Daimyou khắp nơi. Nếu quý phiên chịu làm người góp vốn đầu tiên thì khoản lợi từ mậu dịch đối với quý phiên không thể nào đo đếm được.
 
Mà chúa Shungaku cũng nghe theo, xuất ra một ngàn lượng cho vay.
Còn đối với Takechi thì con đường đi hoàn toàn khác hắn.
Có nhân vật Katsu Kaishu là một trọng thần kiệt xuất của Mạc phủ nhưng lại theo phái khai quốc luận, vì vậy mà bọn lãng sĩ phong trào bài Tây ở Kyoto rắp tâm ám sát. Biết được điều này, Ryouma đến nhờ Izou làm vệ sĩ cho Katsu Kaishu. Dĩ nhiên là có thù lao hẳn hoi. Izou mừng rỡ nhận lời. Nhưng không phải vì tiền. Mà đó là một thứ mà hắn có thể nói rõ ràng rằng : vì chính nghĩa. Vì sao? Vì chẳng phải Sakamoto Ryouma là người được đồ chúng trong phiên Tosa sùng kính chắng kém gì Takechi hay sao. Về lý thì chắc là không có gì sai lầm.
Izou thường không tự làm chủ suy nghĩ của mình, hắn thường giao phó nó cho Takechi, phó thác cho Ryouma. Vì cả hai đều là vĩ nhân trong mắt hắn. Ryouma và Takechi đều trạc tuổi nhau, nhưng đối với Ryouma thì Izou mang lòng kính ái, còn đối với Takechi thì hắn chỉ cảm thấy sợ hãi. Nhưng lần này Ryouma nhờ hắn làm vệ sĩ cho một gia thần của Mạc phủ. Chuyện không đơn giản, về điểm này thì Izou chỉ cảm thấy là không thể nói được với Takechi nên đã im lặng trong thời gian dài.
Rồi biến sự xảy ra. Khi Katsu Kaishu đến Kyoto thì Izou theo hộ tống đến nhà trọ như đã hứa với Ryouma, đêm đó Katsu có việc phải ra ngoài Izou cũng theo sát. Đến khu xóm chùa gần bờ sông Horikawa thì có mấy người từ trong bóng tối tuốt gươm nhảy ra
 
- Gian tặc, chịu chết đi!
 
Thét rồi nhảy xổ vào chém Katsu. Izou đứng bên cạnh lẳng lặng bước tới, rút gươm
 
- Ngươi có biết Okada Izou phiên Tosa không?
 
Nói rồi chém đứt đôi kẻ xông vào đầu tiên. Rồi Izou thét lớn, mấy người còn lại hoảng sợ ngả ra đất rồi lẩn vào trong bóng tối chuồn mất. Nhưng Katsu tỏ vẻ không hài lòng đối với Izou. Tuy được cứu thoát trong gang tấc nhưng từ đó Katsu có cái nhìn khác hẳn. Đi được một lát sau mới cất giọng bảo
 
- Này Izou, dường như cậu quen với việc giết chóc, nhưng nên bỏ đi.
Izou vô cùng ngạc nhiên. Không hiểu sao những người mà hắn xem là chủ nuôi lại luôn đối xử với con chó bằng thái độ như thế này. Hắn tỏ vẻ bất mãn lắm.
- Tiên sinh, nếu như lúc nãy vãn bối không ra tay thì liệu tiên sinh có còn đứng đây giờ này hay không?
 
Ừ thì đúng là như thế thật. Thành ra lúc đó chẳng nói được gì, sau này Katsu kể lại.
Vì vậy mà đối với Takechi, Izou là một kẻ không có chủ nghĩa mà cũng chẳng có tiết tháo gì. Hôm qua còn theo phe Cần Vương, bài Tây chém người thì hôm nay đã trở thành tay sai cho phe khai quốc luận. Thật chẳng khác gì gã cuồng. Bây giờ Takechi lại cảm thấy sai lầm khi đã dạy kiếm cho Izou. Bây giờ chẳng có cách nào giảng cho cái đầu đen tối kia hiểu được thế nào là lý tưởng, thế nào là tiết tháo. Nhưng hẳn là có một điều mà hắn hiểu được, điều Takechi muốn quở trách.
 
- Ta nghe nói nhà ngươi chạy theo con hầu trong trà điếm, đúng không. Ngươi lại thường xuyên lui tới chốn này mà phung phí tiền bạc vì hạng người như vậy ư. Các khoản chi tiêu thế nào nói rõ ta nghe.
- Thế chẳng phải tiên sinh cũng thường xuyên ra vào trà điếm hay sao.
- Ta được phép.
- Thế thì tôi....
 
Thế thì một tên lính trơn như tôi không được phép lui tới những chỗ này hay sao? Izou cảm thấy hận Takechi đến xương tủy. Hắn muốn làm một nhát cho chết ngay. Takechi cũng cảm thấy được sát khí và sự oán hận của hắn.
 
- Izou, thái độ gì thế kia.
 
Takechi dịu giọng nói, nhưng trên mặt đã lộ vẻ chán ghét.
Takechi vốn là người không ưa tửu sắc. Suốt đời ngoài phu nhân Tomiko ra thì chẳng biết đến nữ nhân nào khác, rượu cũng không mấy khi đụng đến mà lại đặc biệt ghét những chốn tửu điểm, trà điếm có con hầu phục vụ. Nhưng vì công vụ, với tư cách là công sứ tiếp đãi sứ thần các phiên nên buộc lòng phải ra vào những chốn này chứ thực lòng chẳng ham thích gì. Đối với một võ sĩ chân chính thì đây chẳng phải là chốn nên bước chân tới. Nhưng việc Izou phung phí tiền bạc vào tửu sắc một phần cũng có thể nói là do Takechi. Đó là vào một đêm mưa tầm tã vào tháng tám năm ngoái, Izou nhận mệnh lệnh của Takechi ám sát võ sĩ giang hồ Honma Seiichirou ở phố Ponto (khu phía tây ngạn sông Kamogawa ở Kyoto) . Izou cùng nhóm thích khách bảy người, trong đó có cả Tanaka Shinbei xứ Satsuma. Đường phố chật hẹp nên khó vung đao, hễ chém xuống thì vướng mái hiên, phạt ngang thì đụng phải vách tường hai bên nhà dân, vướng víu vô cùng. Lúc bấy giờ Izou tay trái thủ trường kiếm tiến tới, gạt ngang đòn chém của Honma rồi tay phải rút đoản kiếm bên hông đâm thẳng vào bụng đối phương. Rồi cả bọn lôi Honma ra chém đầu trước quán rượu ở khu phố gỗ. Mọi công lao đều thuộc về Izou cả. Trong nhật ký những ngày ở kinh đô của mình, Takechi chỉ viết hai dòng về chuyện này. “Tanaka Shinbei đến. Nói chuyện đến canh tư rồi về. Cùng đêm đó có chuyện xảy ra”. Có chuyện xảy ra tức là vụ ám sát Honma này.
Honma Seichirou người xứ Echigo, vốn là một chí sĩ ở Kyoto nhưng bị tình nghi là bề ngoài theo Cần Vương, trong bụng lại phò tá Mạc phủ. Takechi sau khi giết chết Honma mới hiểu ra rằng mình đã nhầm nên lấy làm ân hận lắm. Sau vụ này Takechi dốc hết công quỹ của phiên ra phân phát cho bọn bọn thích khách. Bằng số tiền đó mà Izou biết đến tửu sắc. Tức là Takechi đã dạy cho hắn. Có thể nói rằng Takechi đã dạy cho Izou hai điều mãnh liệt nhất cuộc đời hắn, đó là kiếm thuật và tửu sắc. Với tính cách như vậy thì Izou sa ngã vào vòng xoáy này cũng là điều tự nhiên. Rồi để có tiền, hắn thường xuyên ra vào dinh thự Satsuma và Choushu ở kinh đô, hễ có ai sai đi ám sát là hắn nhận lời ngay. Thế là “Thiên tru” trở thành cái nghề sinh sống của Izou.
Izou ngụp lặn trong tửu sắc và những vụ ám sát mà hình dung ngày càng ghê gớm khó coi hơn. Đó là điều mà Takechi muốn nhắc nhở hắn.
 
- Như thế ngươi xứng đáng là chí sĩ Cần Vương sao? Ngươi giết người cũng chỉ vì tửu sắc sao?
 
Nhưng Izou cũng chẳng nghĩ được rằng chuyện giết người vì tửu sắc của hắn có khác gì với chuyện giết người vì lý tưởng, vì chủ nghĩa của Takechi đâu. Hắn chỉ quả quyết rằng mình giết người không phải vì tửu sắc. Hắn tin là vậy. Hắn nhận những vụ Thiên tru từ các chí sĩ Satsuma và Choushu, mà họ lại là đồng minh với đảng Cần Vương nên như vậy về lý luận hay chính nghĩa thì có gì sai.
 
- Izou, người nuôi dạy ngươi chính là ta. Ngươi chỉ cần tuân theo mệnh lệnh của mình ta thôi.
 
Takechi cũng không thể nói được như vậy, nhưng cứ một mực xem hắn là con chó của mình. Nhưng chẳng biết tự bao giờ mà hắn đã trở thành con chó của nhiều người. Từ lúc nào Takechi chẳng hay, con chó Izou đã trở thành chó hoang.
Nhưng tự thân Izou không nghĩ rằng hắn là chó hoang. Hắn chỉ muốn thoát khỏi vòng xiềng xích của ông chủ Takechi để trở thành một chí sĩ vang danh với đời, để có thể tự do giao thiệp với anh hùng hào kiệt khắp nơi mà thôi. Ta giờ đây chẳng còn là tên đầy tớ của Takechi như ngày nào nữa.
Izou lẳng lặng bỏ đi trước mặt Takechi, không một cái cúi chào.



Sáu
 

Rồi có cấp biến xảy ra với Takechi. Số là phiên chủ xứ Tosa, Youdou vốn ẩn cư ở Edo từ lâu bỗng trở về nắm quyền hành trong phiên và bắt đầu cho thực thi nhiều chính sách phản động gay gắt. Youdou là người hoàn toàn đối lập với những cải cách trong phiên do Takechi đề ra từ sau vụ ám sát Yoshida Touyou và quyết định lôi những kẻ chủ mưu trong vụ ám sát này ra ánh sáng, khôi phục lại chính quyền như dưới thời tham chính Yoshida. Youdou rất ghét chức danh công sứ tiếp đãi sứ thần các phiên của Takechi, nhận thấy bọn này vin vào lý luận chính trị của phiên mà tự ý làm điều xằng bậy, kết giao với thành phần quá khích của Satsuma và Choushu hòng gây rối trật tự xã hội vốn đã tồn tại trăm năm nay nên không những bãi bỏ chức danh này mà còn cấm tuyệt gia thần giao du với các phiên khác, đối với bọn Takechi thì cho gọi hết cả về Tosa. Đầu tiên là bắt Hirai Shujirou, Mazaki Tetsuma là hai người cùng với Takechi kết thành đảng Cần Vương ở Kyoto, thực hiện các vụ ám sát mổ bụng ngay tại chỗ. Sau đó là chính sách đàn áp đảng Cần Vương vô cùng thảm khốc kéo dài khoảng hai năm. Bọn Izou cũng bị triệu về phiên nhưng hắn cùng các đồng chí cự tuyệt quyết liệt rồi bỏ trốn, trở thành võ sĩ giang hồ.
Rồi sau đó xảy ra nhiều chính biến ở Kyoto như vụ phiên Aizu đem quân đến đồn trú, nhóm cảnh vệ Shinsengumi ra đời và phiên Choushu rút chân ra khỏi chính giới ở kinh đô nên lại dấy lên phong trào phò tá Mạc phủ. Nhóm cảnh vệ Shinsengumi do Kondou Isami cầm đầu mang danh là giữ gìn trật tự kinh đô nên ngang nhiên đi lại khắp nơi, hễ nghi ngờ ai là lãng sĩ quá khích là chém chết ngay tại chỗ.
Thời thế biến chuyển đến chẳng ngờ, chỉ trong vòng một năm mà thời đại hưng thịnh của phe phò tá Mạc phủ đã đến.
Izou lúc này lưu lạc ở Kyoto. Hắn chẳng còn theo ông chủ Takechi nữa, chẳng bao lâu sau thì nghe tin Takechi bị tống vào ngục. Những ông chủ khác như chí sĩ Choushu, Satsuma, những người đã nuôi sống và thỏa mãn hắn qua những vụ Thiên tru giờ đây cũng không còn ở đất này nữa. Lại nghe thích khách Tanaka Shinbei của Satsuma cũng vì bị tình nghi mà mổ bụng, bây giờ phe phò tá Mạc phủ đã liên minh với phiên Aizu phía bắc nên chẳng còn đất nào cho những vụ Thiên tru nữa. Vì vậy mà từ năm Bunkyu thứ hai đến năm thứ ba, Izou đã sống một cuộc đời ảm đạm, không còn ám sát nữa cũng có nghĩa là chẳng còn bạc để tiêu. Mà lúc này hắn lại tỏ ra sợ đụng độ với nhóm cảnh vệ Shinsengumi nên lẩn trốn trong khu ổ chuột ở kinh đô. Cũng thật lạ lùng rằng Izou bây giờ không còn rút nổi kiếm mà tung hoành như ngày xưa nữa. Trước giờ sở dĩ hắn có thể chém người không nhợn tay là vì phía sau đã có cái “chính nghĩa” làm động lực, đó là Thiên tru, là Cần Vương. Nhưng giờ đây cái “chính nghĩa” đã hoàn toàn biến mất khỏi người Izou, hắn trở thành một thằng Izou tầm thường không hơn không kém.
Bây giờ Izou lẩn trốn cho qua ngày đoạn tháng ở khu chuồng ngựa, sinh hoạt bần cùng đến hết mức, đến ngay cả trang phục cũng đem bán nốt. Hắn cũng bán nốt thanh bảo kiếm Tadayoshi mà thay bằng một thanh kiếm rẻ tiền giá hai lượng. Đến ngay người đàn bà cùng hắn chung sống năm trước cũng bỏ hắn mà đi. “Bây giờ đã khác rồi”, đêm trước khi bỏ đi, thị đã ném vào mặt hắn lạnh lùng. Thời còn “chính nghĩa” hậu thuẫn, hình ảnh Izou luôn được bọc trong hào quang đầy mị lực, còn bây giờ hắn đã khác xưa rồi. Hình như thị muốn nói như vậy. Izou đợi thị mấy ngày, mãi không thấy về mới biết rằng thị đã bỏ hắn. Rồi hắn đi tìm thị. Hông không một tấc sắt, hắn lẩn thẩn khắp Kyoto.
Khi ra đến bờ sông Horikawa thì hắn đụng phải hai gã võ sĩ giang hồ, đôi bên cãi cọ rồi đối phương rút kiếm. Lúc này Izou như lấy lại được sự nhanh nhẹn của con mãnh thú năm xưa, hắn lòn qua người đối phương rồi đoạt lấy kiếm toan chém chết. Nhưng lưỡi kiếm quá cùn, vừa chạm vào xương vai đã bật ra mà không chém đứt lìa được, Izou trở tay quét ngang bụng đối phương. Có máu phọt ra nhưng đối phương không ngả mà vội bỏ chạy. Hắn vừa toan đuổi theo thì đã bị một cây gậy ngáng chân đổ ra đất.
Thì ra là bọn cảnh vệ bắt người. Đương thời tình hình chính trị, xã hội rất hỗn loạn nên nhóm cảnh vệ giữ trật tự đường phố ra đời, cũng từ đó thường xuyên xảy ra các vụ bắt bớ ở kinh đô. Nếu là Izou của những năm trước thì bọn này chẳng thể nào bắt được hắn. Nhưng chẳng hiểu vì sao mà Izou chỉ cuộn người nằm cuộn trên đất, tay ôm đầu. Bọn cảnh vệ tha hồ dùng gậy gộc đánh đập, Izou chỉ nằm yên chịu trận, đánh một chập rồi chúng dùng dây thừng trói gô hắn lại.
Người chỉ huy nhóm cảnh vệ này là một viên tham tá cho quan Bugyou (doushin), mà chỉ cần nhìn thấy bóng dáng những người này là Izou lại trở thành thằng Izou năm xưa khi bị Inoue Saichirou dọa nạt trên cầu Harimaya. Hắn sợ vỡ mật, hắn run lẩy bẩy, toàn thân co rúm lại.
Đến khi hoàn hồn thì Izou thấy mình đã ở trong lao của Sở ty đại rồi. Hắn bị giam chung buồng với bọn đánh bạc và mấy đứa trộm vặt. Như vậy có nghĩa là cả Sở ty đại cũng không biết rằng chỉ mới năm trước đây thôi hắn còn là “chí sĩ” được biết đến với cái tên “Hitokiri Izou” vang dội khắp kinh đô mà ai nghe qua cũng phải sởn gai óc.
Đến khi trao khảo thì hắn đáp “Ta là Okada Izou người phiên Tosa” nhưng chẳng ai tin. Bọn cảnh vệ nghĩ rằng chỉ là một kẻ giả danh nào đó, nhưng chúng cũng cẩn thận cho người đến dinh thự phiên Tosa ở Kawara để đối chiếu. Rồi có mấy viên giám sát đến Sở ty đại để xác nhận. Bọn họ toàn là những người mới do Youdou đưa vào từ sau khi tổ chức lại bộ máy hành chính của phiên. Thoạt đầu khi nghe tên Izou, cả bọn mừng húm. Vì tuy Youdou đã tống Takechi và các đồng chí vào ngục nhưng người nào cũng cứng miệng nên không moi được manh mối gì. Tra khảo, đánh đập, nhục hình thôi thì đủ cả nhưng vẫn không có kết quả gì. Thực ra chẳng cần đến chứng cớ vụ ám sát tham chính Yoshida hay Inoue Saichirou ở Kyoto, mà chỉ cần một người trong số Takechi khai ra chỉ một vụ Thiên tru thôi cũng đủ định tội rồi. Vì vậy mà khi hay tin bắt được Izou, đại diện phía Tosa mừng lắm, cho là đã nắm được nhân chứng sống quan trọng rồi.
Mấy viên giám sát Tosa đến Sở ty đại, nấp sau song cửa quan sát Izou. Quả nhiên là tên lính trơn Okada Izou rồi. Nhưng bọn họ lại lắc đầu
 
- Chúng tôi không biết kẻ này. Trong phiên không có ai là Okada Izou cả. Hoặc giả đây chỉ là một tên vô lại đầu đường xó chợ mượn danh Tosa mà thôi.
 
Izou đã nghe thấy hết. Hắn vừa nắm song cửa vừa gào thét, là Izou đây, là Izou đây! Các vị đã quên tôi rồi sao!! Nhưng mặc cho hắn gào thét, cả bọn lẳng lặng bỏ đi.
Rồi không còn sức gào thét nữa, hắn gục ngay bên song cửa. Lệ ứa ra trên khuôn mặt hốc hác của hắn.
Thành ra mọi sự đối xử cũng khác. Hắn bị đối xử như thằng ma cà bông vô gia cư ở Sở ty đại. Trong xã hội cũ thì đó là hạng người chẳng phải người, còn dưới cả bách tính và đám thị dân. Hắn cũng bị đổi tên thành “Tetsuzou vô gia cư”, bị đóng dấu vào mặt rồi đuổi khỏi kinh. Hắn bị đuổi ra bằng cửa bất tịnh của Sở ty đại (cửa dùng để đưa rác rưởi, chất thải sinh hoạt trong một công trình ngày xưa), trên bờ đê sông Kamiya. Izou lẩn thẩn như kẻ mất hồn, đi chẳng được bao xa thì có tiếng gọi lại.
Dưới gốc liễu trên bờ đê là một nhóm người đợi hắn tự bao giờ. Chính là bọn nha lại phiên Tosa.
 
- Okada Izou, theo lệnh phiên chúng ta đến bắt ngươi về đây.
 
Rồi cả bọn trói gô hắn lại, đẩy vào cũi tù nhân đã chuẩn bị sẵn. Thật trớ trêu, hắn đã bị chính mảnh đất của mình ruồng bỏ, đã bị biến thành thằng không nhà cửa chẳng còn cách ngốc đầu lên. Ấy thế mà giờ đây hắn lại được chính những người đồng hương của mình đưa về với tên họ vốn có của hắn. Hắn có còn là con người nữa không. Hắn gào thét trong cũi. Người ta chỉ nhớ đến hắn những lúc cần lợi dụng, cả Takechi cũng thế mà cả phiên Tosa cũng thế. Ta là thằng Tetsuzou không nhà cửa, Izou ngồi trong cũi hết cười như thằng điên rồi lại nổi đóa, nguôi cơn hắn lại khóc kể. Ta không phải người Tosa, bằng chứng chẳng phải là phiên đã phủ nhận tên Izou rồi đó sao.
Hắn bị giam trong ngục ở phố Yamada dưới thành Tosa, khi trao khảo thì người ta đưa hắn đến pháp đình phía Nam. Takechi cũng bị giam tại đây. Vì là Thượng sĩ nên ngục cũng khác với bọn Hào sĩ, cũng không phải chịu nhục hình, còn khi tra khảo thì có chiếu trải cho ngồi. Trong khi đó thì những người đồng chí Hào sĩ của Takechi đều bị treo lên trần mà quất roi tới tấp. Sự tàn khốc của cực hình chẳng có ngôn ngữ nào tả xiết, nhưng chẳng ai hé nửa lời. Nếu lộ ra sơ hở gì là toàn bộ tên tuổi những người đồng chí của Takechi đều bại lộ. Bản thân Takechi cũng đã chuẩn bị cho cái chết của mình và các đồng chí nhưng cũng vẫn muốn dù chỉ một người, có ai đó sống sót để duy trì lý tưởng của mình, rồi một ngày nào đó sẽ làm cho nó đâm bông kết trái.
Đến ngay Higaki Kiyoharu là quyền sư phụ võ đường Takechi ở phố Tabuchi ngày xưa khi chịu cực hình cũng ngất đi. Hằng đêm tiếng rên trong lúc vô thức vang vọng cả vào trong, ở ngục Takechi cũng nghe thấy. Trong đó cũng có người em ruột Takechi là Tauchi Keikichi. Tauchi từ nhỏ thể chất yếu đuối nên quyết chẳng thể nào chịu được cực hình.
Trong số cai ngục có kẻ mến mộ Takechi nên vẫn thường bí mật truyền tin giữa Takechi và các đồng chí. Rồi Takechi thông qua tên cai ngục giục Tauchi tự quyết bằng Thiên Tường Hòan. Thiên Tường Hoàn là một loại thuốc độc trộn nhiều a phiến mà Takechi đã nhờ Kusunose Harudou, vốn là một chí sĩ tinh thông tây y điều chế rồi phân tán cho các đồng chí trước khi vào ngục đề phòng khi vạn nhất.
Tauchi nghe rồi để lại mấy câu từ thế, uống thuốc rồi chết.
Mục đích của chuyện này là cốt nhằm vào Izou. Từ Takechi đến các đồng chí, mọi người đều thấu rõ con người hắn. Với chuyện ám sát thì hắn hớn hở tham gia nhưng bị cực hình thì liệu hắn có chịu nổi không, hay không khéo lại làm hỏng mất đại sự. Hơn nữa hắn chỉ là một thằng lính trơn. Trong suy nghĩ của mọi người đã có sự miệt thị. Nhưng cũng chính vì vậy mà họ thấy sợ hắn. Lần đầu tiên hình ảnh Izou lại trở nên quan trọng đối với họ như vậy.
Đối với bọn cai ngục, giám sát thì Izou đúng là một báu vật sống cần được bảo vệ. Tra khảo, cực hình, làm thì có làm nhưng chỉ làm cho có lệ. Mọi người đều nghĩ rằng hắn sẽ dễ dàng la thét mà thôi. Mà thế thật, hắn gào thét dễ sợ. Nhưng chẳng phải là khai báo thú tội gì, mà chỉ là la hét
 
- Đau quá, đau quá!!
- Thế thì khai ra mau!
 
Bọn cai ngục giục, nhưng hắn chỉ đáp “Ta là thằng Tetsuzou không nhà cửa” rồi chẳng lộ gì thêm. Chính sự oán hận đối với Tosa đã giúp hắn giữ vững con người đàn ông bên trong hắn. Trong ngục, Takechi và các đồng chí vừa cảm thấy bất an, vừa có chỗ suy nghĩ lại về Izou.
Nhưng đêm đêm tiếng gào thét thảm thiết lại vọng vào khiến Takechi không chịu được, cuối cùng quyết định dùng đến Thiên Tường Hoàn.
Takechi nhờ tên cai ngục liên lạc với đồng chí bên ngoài đưa cơm vào cho Izou, bên trog rắc nhiều Thiên Tường Hoàn đã tán nhỏ.
Izou là con quỷ đói, ăn ngấu nghiến. Nhưng thể chất của con người này vốn chẳng bình thường. Đã mấy ngày trôi qua mà vẫn thấy hắn khỏe mạnh vô sự.
Takechi càng đâm lo. Những người đồng chí của Izou bắt đầu bị hắn chi phối. Bao tử của hắn, từng khúc ruột của hắn, quả tim của hắn đang chi phối không biết bao sinh mạng trong ngục.
Takechi lại lần nữa đưa Thiên Tường Hoàn vào. Nhưng lần này để nguyên hình mà không tán nhỏ. Izou, không, Tetsuzou vô gia cư đọc lá thư của Takechi rồi nhìn độc dược. Hắn xé thư, dùng chân dẫm nát thuốc. Izou nhìn về phía ngục của Takechi. Mọi hướng khác đều tăm tối, duy chỉ có buồng Thượng sĩ ánh lên ngọn đèn loe loét như một sự đãi ngộ.
Izou đang nghĩ gì, không ai rõ.
Nhưng có một điều mà Takechi hiểu rất rõ. Đó là vào sáng hôm sau, khi vừa chuẩn bị tra tấn thì hắn thét
 
- Ta khai!!
 
Izou khai mọi chuyện.
Đến lúc cuối cùng hắn muốn thét lên với ông chủ rằng
 
- Cho đến lúc cuối cùng mà ngài vẫn muốn lợi dụng, chi phối thằng Izou này nữa hay sao!!
 
Izou lần lượt khai ra hết từ đầu lãnh cho đến cấp dưới, mọi thành viên trong đảng Cần Vương.
Bọn họ lần lượt bị định tội, riêng đầu lãnh Takechi thì buộc mổ bụng tự sát.
Ngày mười một tháng năm năm Keiou thứ nhất (25) , tại pháp đình phía Nam Takechi đã rạch ba nhát vào bụng trước sự chứng kiến của ban giám sát.
Còn kẻ gây ra chuyện này là Izou thì hoàn toàn không hay biết gì. Vì khi Takechi rạch bụng thì Tetsuzou không nhà cửa chỉ còn lại mỗi cái đầu lâu treo trên đài hành hình ở bờ sông Gangiri, trơ với gió sương.

Hết
_________________________________________

Cước chú


(1)  Một loại cửa đặc trưng trong lối kiến trúc Nhật Bản, khung gỗ nhẹ dán giấy để ánh sáng chiếu qua. Người Nhật dùng chiếu lót trên sàn nhà nên nó cũng được dùng làm đơn vị đo diện tích. Căn phòng càng lớn thì số chiếu càng nhiều.


(2) Thời Chiến quốc: 1467-1568, các sứ quân cát cứ các nơi đánh nhau hỗn loạn, cho đến khi Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu tiếp nhau hoàn thành cuộc thống nhất, mở ra thời Phủ Chúa Tokugawa.

(3) Phiên: đơn vị hành chính địa phương ở Nhật thời phong kiến. Có thể hiểu một phiên như một tỉnh ngày nay. Đứng đầu phiên là lãnh chúa thần phục chính quyền trung ương.

(4) Thời phong kiến ở Nhật, tầng lớp bình dân không được quyền mang họ, mãi đến thời Minh Trị thì điều này mới thay đổi.

(5) Tosa là phiên trấn gần cực nam nước Nhật.

(6) Sekigahara: địa danh ở phía tây nam tỉnh Gifu ngày nay. Ngày 15 tháng 9 năm 1600 nơi đây đã xảy ra trận chiến kinh thiên động địa giữa họ Tokugawa chống lại các thế lực đối lập. Tokugawa thắng lợi và lập nên Mạc Phủ Tokugawa đóng ở Edo, tức Tokyo ngày nay. Đây là trận đánh quy mô lớn nhất trong lịch sử phong kiến Nhật Bản.


(7) Một gian gần bằng hai mét.

(8) Thước: đơn vị đo chiều dài ngày xưa, 1 thước = 0.303m.

(9) Niên hiệu Ansei kéo dài từ năm 1854~1859

(10) Seigan là thế thủ kiếm ở trung đoạn, mũi kiếm hướng trướng mặt đối phương và là thế thủ công phòng hợp nhất.

(11) Joururi: một loại kịch múa rối truyền thống.

(12) Kaei: niên hiệu kéo dài từ năm 1848~1853.

(13) Đại lão (Tairou) là một chức danh lâm thời của Mạc phủ, quyền lực tối cao, có thể thay mặt Tướng Quân hành xử mọi chuyện.

(14) Sở ty đại (shoshidai) là một chức danh của Mạc phủ đặt ra để giám sát giới võ sĩ, quý tộc ở Kyoto và những vùng lân cận.

(15) Bugyou là một chức quan kiểm soát ở địa phương thời phong kiến. Có Bugyou quản lý khu phố, Bugyou quản lý việc xây cất chùa chiền,...Có thể xem như cảnh sát bây giờ.

(16) Bunkyu: niên hiệu kéo dài từ năm 1861~1864.

(17) Shinsengumi là tổ chức kiếm khác lớn nhất và cuối cùng của nước Nhật. Tổ chức này được thành lập để bảo vệ Mạc phủ, giữ gìn trị an và ám sát những đảng phái chính trị khác.

(18) Một trong năm con đường giao thông chính của nước Nhật được Mạc phủ Tokugawa xây dựng, con đường này chạy dọc theo Thái Bình Dương từ Edo đến Kyoto.

(19) Một dặm khoảng 4km.

(20) Khu phố bên bờ sông Kamogawa ở Kyoto.

(21) Cây cầu bắc qua sông Kamogawa, là điểm cuối cùng trên con đường Toukaidou cũ.

(22) Một trong bảy cửa trọng yếu của Kyoto ngày xưa.

(23) Một thước bằng mười thốn, khoảng 0,3m.

(24) Hatamoto: một chức danh võ sĩ thời Edo, bổng lộc không hơn một vạn hộc nhưng được quyền diện kiến Tướng quân.

(25) Keiou: niên hiệu kéo dài từ năm 1865~1868.
Ta muốn sống an bình. Nó chà đạp ta. Ta phải đánh đổ nó. Nó kềm kẹp ta. Ta phải đánh trả nó. Muốn đánh trả ư? Làm sao được khi ta còn không có chí đánh? Làm sao được khi thân ta còn lo sợ an nguy, sợ hãi cái chết?

(Trích Karl Marx)
Đăng nhập để trả lời
0