Diễn Đàn » Tin Tức Âm Nhạc - New Release

Nhạc dân gian

1 trả lời, 1.582 lượt xem — Trang 1 / 1
Nhạc dân gian


Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc với một nền văn minh lâu đời, có một nền âm nhạc dân gian phong phú. Những âm điệu, tiết tấu đặc trưng của dân ca, dân vũ là ngọn nguồn vô tận cho những tác phẩm của nhiều nhạc sĩ qua các thời kỳ.


Dân ca Việt Nam bắt nguồn từ ca dao và thơ mà trong đó chiếm phần nhiều là thơ lục bát, qua thời gian của lịch sử dân tộc, được chắt lọc, bổ sung trở thành những thể loại ca hát dân gian khác nhau của từng địa phương, vùng miền, từng dân tộc.


Gần với thơ nhất là thể ngâm. Ru cũng vậy, là một lối phổ nhạc cho những bài ca dao lục bát. Hò là thể loại phổ biến cả nước, đặc biệt là miền Trung và miền Nam. Hò có thể kết hợp chặt chẽ với các động tác lao động như hò kéo gỗ, hò giã gạo... mang tính chất tập thể, một người xướng rồi có những người cùng làm việc hò theo, nhưng cũng có những thể Hò mang tính chất giao duyên và hò hội với các hình thức đối đáp.




Vùng Trị Thiên có đầy đủ các hình thức khác nhau của Hò. Người ta chia thành Hò trên cạn và Hò dưới nước. Các điệu hò của miền Nam là Hò trên nước có tính chất trữ tình, thanh nhàn.




Vùng Nghệ Tĩnh còn có hát giặm, là loại hát có thể dùng lúc làm việc, nghỉ ngơi hay hội họp. Lý là những bài hát giao duyên phổ biến ở miền Trung và miền Nam như Lý chuồn chuồn, Lý ngựa ô, Lý con sáo...




Miền nam thì có rất nhiều điệu Lý. Những câu ca dao không được dùng trong Hò thì được đưa và Lý. Có thể nói, miền Nam là kho tàng vô tận của các điệu lý như Lý bông lựu, Lý cây chanh, Lý xăm xăm, Lý cây bông...




Hát Ví: phổ biến ở Trung du Bắc bộ và vùng Nghệ Tĩnh. Đây là một hình thức hát giao duyên.




Hát Quan họ: có nguồn gốc ở Bắc Ninh, là lối hát rất phong phú về âm nhạc.




Hát Chầu văn: là hình thức hát nhà thờ, có tính chất tôn thờ thần linh. Hình thức này có ở cả 3 miền. MiềnTrung và miền Nam gọi là hát bóng, phục vụ cho việc lên đồng. Hát Chầu văn gồm một cung văn là thầy cúng chuyên nghiệp đánh đàn nguyệt giỏi, có giọng hát hay, thuộc nhiều điệu hát. Ngoài ra còn có trống, thanh là phụ hoạ.




Hát Ả đào: là hình thức đặc biệt của miền Bắc, thịnh hành khoảng thế kỷ XIV. Hát Ả đào gồm có một người hát (đào nương) hai tay gõ phách, một nhạc công đàn đáy, một trống chầu dùng để người nghe (quan viên) khen thưởng những âm, những giọng hay. Đây là lối hát những bài thơ nên cách hát rất khó và có giai điệu phát triển mạnh.




Ca Huế: là một thể loại ca nhạc thính phòng dân gian. Ca Huế được phát triển vào miền Trung và miền Nam, gọi là ca Quảng và nhạc tài tử miền Nam. Nghệ thuật ca Huế là sự sáng tạo những ngón đàn hay. Các nhạc công đánh đàn mang tính ngẫu hứng là chính, miễn sau cuối bài hát họ gặp nhau ở chủ âm. Dàn nhạc ca Huế gồm: đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nguyệt, đàn nhị, đàn tam, đàn bầu và sáo. Người hát sử dụng bộ phách để gõ nhịp. Ngoài những hình thức trên, chúng ta còn có những thể loại Chèo, Tuồng, Cải lương.
Tất cả những hình thức của âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam đều đang được bào tồn và phát triển. Đó là nguồn vô tận cho các tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc của nhiều nhà soạn nhạc Việt Nam. Đã có rất nhiều ca khúc lấy cả một làn điệu dân ca rồi đạt lời mới như:Trông cây lại nhớ đến Người, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Những cô gái quan họ, Nổi trống lên núi rừng ơi...




Nghệ thuật âm nhạc dân gian, cổ truyền là kho tàng vô giá cho nhiều nhạc sĩ nghiên cứu, sáng tác.




Theo sách Giảng nhạc - Tác giả: Nguyễn Thị Nhung - Nhạc viện Hà Nội 1988
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-03-05 15:19:02Thanh Vân>
Các hình thức sân khấu dân gian Việt Nam.



Việt Nam, đã có nhiều hình thức sân khấu dân gian tồn tại lâu đời như hát chèo, hát tuồng, múa rối nước...và mới hơn như cải lương.


Chèo


Chèo là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng. Nội dung của các vở chèo lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm, mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc, đồng thời thể hiện tính dân tộc Việt. Sân khấu chèo đơn giản, với các diễn viên có thể không chuyên, biểu diễn ngẫu hứng.






Loại hình nghệ thuật dân gian này được phát sinh và phát triển ở nông thôn Việt Nam, chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ. Nó đạt đỉnh cao phát triển vào thời kỳ từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Đến thế kỷ 19, chèo nhận ảnh hưởng của tuồng. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị.



Múa rối nước


Múa rối nước (hay còn gọi là rối nước) là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống lâu đời của Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu thì nó ra đời và tồn tại song song với nền văn minh lúa nước từ thời các vua Hùng và miền đồng bằng sông Hồng là cái nôi sinh ra hình thức nghệ thuật này.





Nghệ thuật rối nước có những đặc điểm khác với múa rối thông thường: dùng mặt nước làm sân khấu (gọi là nhà rối hay thủy đình), phía sau có phông che, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã... trên "sân khấu" này là những con rối (được làm bằng gỗ- gọi là chú tễu) biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây... Biểu diễn rối nước không thể thiếu những tiếng trống, tiếng pháo phụ trợ.


Tuồng

Tuồng (còn gọi là hát Bội hay hát Bộ) là môn nghệ thuật từng thâm nhập vào cuộc sống cung đình và dần dà, có nhiều gánh hát đã được chuyên nghiệp hóa. Chữ tuồng có người cho là bởi chữ tường mà ra; tức hình dung dáng dấp, cử chỉ của người đời xưa.





Thế kỷ 19 là thời hoàng kim của nghệ thuật tuồng. Tại từng địa phương ở Việt Nam còn có trường phái tuồng riêng, như tuồng Quảng Nam.


Cải lương

Cải lương là một nghệ thuật kịch hát của miền Nam Việt Nam, trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ. Nghệ thuật này ra đời vào năm 1917, chịu nhiều ảnh hưởng của âm nhạc Tây phương hơn so với các nghệ thuật thuần túy như hát chèo và hát bội.





 Đề tài của các tuồng cải lương thường liên quan đến các điển tích và những vấn đề xã hội. Hiện nay cải lương vẫn còn thịnh hành, đặc biệt là tại miền Nam.
(Theo Quê Hương)

Việt Nam, đã có nhiều hình thức sân khấu dân gian tồn tại lâu đời như hát chèo, hát tuồng, múa rối nước...và mới hơn như cải lương.



Chèo




Chèo là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng. Nội dung của các vở chèo lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm, mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc, đồng thời thể hiện tính dân tộc Việt. Sân khấu chèo đơn giản, với các diễn viên có thể không chuyên, biểu diễn ngẫu hứng.






Loại hình nghệ thuật dân gian này được phát sinh và phát triển ở nông thôn Việt Nam, chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ. Nó đạt đỉnh cao phát triển vào thời kỳ từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Đến thế kỷ 19, chèo nhận ảnh hưởng của tuồng. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị.

Múa rối nước


Múa rối nước (hay còn gọi là rối nước) là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống lâu đời của Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu thì nó ra đời và tồn tại song song với nền văn minh lúa nước từ thời các vua Hùng và miền đồng bằng sông Hồng là cái nôi sinh ra hình thức nghệ thuật này.





Nghệ thuật rối nước có những đặc điểm khác với múa rối thông thường: dùng mặt nước làm sân khấu (gọi là nhà rối hay thủy đình), phía sau có phông che, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã... trên "sân khấu" này là những con rối (được làm bằng gỗ- gọi là chú tễu) biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây... Biểu diễn rối nước không thể thiếu những tiếng trống, tiếng pháo phụ trợ.


Tuồng


Tuồng (còn gọi là hát Bội hay hát Bộ) là môn nghệ thuật từng thâm nhập vào cuộc sống cung đình và dần dà, có nhiều gánh hát đã được chuyên nghiệp hóa. Chữ tuồng có người cho là bởi chữ tường mà ra; tức hình dung dáng dấp, cử chỉ của người đời xưa.






Thế kỷ 19 là thời hoàng kim của nghệ thuật tuồng. Tại từng địa phương ở Việt Nam còn có trường phái tuồng riêng, như tuồng Quảng Nam.

Cải lương

Cải lương là một nghệ thuật kịch hát của miền Nam Việt Nam, trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ. Nghệ thuật này ra đời vào năm 1917, chịu nhiều ảnh hưởng của âm nhạc Tây phương hơn so với các nghệ thuật thuần túy như hát chèo và hát bội.




 Đề tài của các tuồng cải lương thường liên quan đến các điển tích và những vấn đề xã hội. Hiện nay cải lương vẫn còn thịnh hành, đặc biệt là tại miền Nam.
(Theo Quê Hương)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0