<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-28 22:53:09zhang>
Đọc 'Mặc xanh áo em' của Trần Nguyễn Anh
Đinh Bá Anh
Khi đọc tập thơ đầu tay của Trần Nguyễn Anh, ý nghĩ đầu tiên đến với tôi là: sẽ có người lại kêu lên: cái gì nữa đây! Lại một món nộm nhố nhăng, một trò đùa, một thứ vô bổ; hoặc giả, nặng nề hơn: một kiểu "xúc phạm thơ"!; hoặc giả, nhẹ nhàng hơn: đó đơn giản không phải thơ. Mà số người này chắc chắn sẽ không nhỏ. Biết làm sao, rất có thể tôi đang giới thiệu một thứ thơ không hợp lắm với khẩu vị của nhiều người. Tôi mong rằng quý vị sẽ kiên nhẫn.
Mặc xanh áo em là một bài thơ, đấy là cái ẩn dụ đầu tiên mà tác giả muốn ta phải chú ý tới. Tích tắc... tích tắc... và bài thơ bắt đầu. Cái tiếng kêu của kim đồng hồ hướng ta tới một ý niệm nào đấy về thời gian: bài thơ có thể là một trường đoạn [của cuộc đời?], "một vài trống canh" [của thế thái nhân tình?], vài ba phút trải nghiệm [của cá nhân?], và có thể, vài ba giây thử nghiệm [hiện đại, hậu hiện đại,...?]. Dù sao, ta chẳng có lý do gì để không tin như vậy.
Cách trình bày tập thơ này cũng có ý nghĩa nhất định, vì thế tôi sẽ miêu tả qua các nét chính. Trong Mặc xanh áo em, các bài thơ nhỏ đều không có tựa đề, chúng được phân cách bởi các dấu hoa thị (*). Một số bài thơ nhỏ lại hợp thành chùm. Các chùm được phân định bởi các dấu phần trăm (%). Thực ra, kiểu đánh dấu này chỉ có tính vật lý. Ý là: mỗi chùm thơ nhỏ là một phần [trăm] của bài thơ lớn kia. Khi ta đọc đến đâu thì cái phần ấy tiêu đi, như ăn một miếng bánh vậy. Đến cái % cuối cùng là hết: tích tắc, hết phim (hết bài thơ). Bạn đọc có thể liên tưởng tới một chiếc đồng hồ cát: cứ sau một khoảng thời gian lại có một lượng cát rơi xuống; hay là, cứ một lượng cát rơi xuống lại tương đương với một khoảng thời giờ trôi qua. Ý tưởng này tuy ngộ nghĩnh, song khá rắc rối, bạn đọc có thể bỏ qua chi tiết này.
Bây giờ, khi tiếng tích tắc của chiếc kim đồng hồ đã điểm, ta hãy tạm quên đi cái thời gian tính của thi ca nói chung (kiểu: thơ là cái chết của thời gian1). Có lẽ tốt hơn cả là hãy tìm hiểu những bài thơ cụ thể.
Ta sẽ bắt gặp ở Trần Nguyễn Anh những trò tinh quái, các dạng thể nghiệm với ngôn ngữ Việt. Một bài thơ đôi khi chỉ gồm những câu có bốn chữ hoặc sáu chữ - các câu được tạo ra bằng cách đảo lộn thứ tự các chữ trong câu mẫu. Có bài lại được tạo ra từ việc ghép các từ luyến, từ láy, từ đảo ngược... trong tiếng Việt. Có bài lại lấy chất liệu từ các bài đồng dao, các câu cửa miệng, lời ru con... trong dân gian. Có bài lại làm theo kiểu thơ nghe nhìn. Có bài lại làm từ những con số, những ký hiệu, những trích đoạn từ các cuộc tán gẫu trên mạng.
Với những bài thơ này, dường như Trần Nguyễn Anh muốn ta phải dừng lại, phải suy ngẫm về những gì nguyên thủy nhất, đơn giản nhất, những điều mà thường nghe, thường thấy nhưng lại chưa (hoặc không) tự hỏi về ý nghĩa của chúng. Bản thân tôi đã được trải qua những bất ngờ thú vị khi đọc tập thơ. Chẳng hạn, một đoạn thơ thế này: 3200 B.C / TK 21 / 1986 / 500 KV / 75 W / 7 vía / 2 bàn tay / Xăng 92 không chì / 14 inches / 19001570 / 1- 0 nghiêng về Thái Lan / 10 phân / 1 USD = 15.740 VND... Phải là người tinh tế và có óc quan sát tỉ mỉ thế nào mới nhìn thấy trong những con số, những biển báo, những ký hiệu đó một ý niệm nào đấy về thơ? (Những con số, biển báo, ký hiệu này vốn rất thân thuộc trong đời sống của mỗi người Việt trong thập kỷ qua, song không mấy ai để ý).
Tôi còn muốn trích dẫn thêm nhiều đoạn thơ độc đáo nữa của Trần Nguyễn Anh, song tôi e rằng bài giới thiệu sẽ trở nên quá dài. Tôi tin rằng việc đọc và khám phá tập thơ của Trần Nguyễn Anh sẽ thú vị hơn rất nhiều.
Cuối cùng, xin lưu ý các nhà phê bình một điểm [có lẽ khá quan trọng]. Theo những thông tin riêng mà tôi được biết: Về mặt lý thuyết, Trần Nguyễn Anh không phải là một nghệ sĩ tiền phong (avant-garde). Do cuộc sống và công việc, anh luôn phải đối mặt với những vấn đề thực tế, nên hầu như không có thời gian để tìm hiểu về những "góc nhìn lý thuyết" 2- hiện đại cũng như hậu hiện đại. Anh có đọc các nhà thơ đương đại, song không có cơ hội tìm hiểu các trào lưu, trường phái. Mặc xanh áo em là một sáng tác từ thôi thúc nội tại: tự tác giả thấy cần phải làm thế chứ không do ảnh hưởng lý thuyết.3 Điều này rất thú vị, vì như vậy, chúng ta có lý do để giả định rằng cuộc sống ở một môi trường như đô thị Việt Nam hiện nay tự nó cũng sẽ dẫn tới những hình thức tư duy nghệ thuật kiểu hậu hiện đại (mà tôi tạm gọi là hậu hiện đại tự phát).
Hà Nội, tháng 9/2004
--------------------------------------------------------------------------------
1 Ngô Tự Lập, Thơ là cái chết của thời gian, talawas.
Giả sử mệnh đề của Ngô Tự Lập là đúng. Từ đây, áp dụng các nguyên lý lô-gích học, tạm suy ra: Không thơ là sự sống của thời gian. (Hoặc: Thơ là sự sống của phi thời gian / Không thơ là cái chết của phi thời gian... v.v.). Những ý tưởng này hấp dẫn đến nỗi thoạt tiên tôi định phát triển nó thành một bài viết riêng cho tập thơ của Trần Nguyễn Anh, song thấy quá phức tạp và gặp nhiều mâu thuẫn nên phải dừng lại.
2 Hoàng Ngọc-Tuấn, Chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại: Từ thực tiễn sáng tác đến góc nhìn lý thuyết. Một cuốn sách biên khảo công phu, với những kiến giải sâu sắc, những ví dụ cụ thể được phân tích tỉ mỉ và hấp dẫn về chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại.
3 Theo tôi, tập Mặc xanh áo em của Trần Nguyễn Anh có rất nhiều dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại (sử dụng các chất liệu thô, có sẵn trong ngôn ngữ dân gian và sinh hoạt hàng ngày, sử dụng các kỹ thuật lắp ghép, nhại...). Ở một số khía cạnh, so với sáng tác của các nhà thơ trẻ Sài Gòn cùng theo khuynh hướng hậu hiện đại, tập thơ của Trần Nguyễn Anh xem ra còn có phần cực đoan và triệt để hơn. Tất nhiên, những sáng tác theo khuynh hướng này của các nhà thơ trẻ Sài Gòn có chịu ảnh hưởng mạnh (tích cực và chủ động) từ sự du nhập lý thuyết, còn Trần Nguyễn Anh thì không. Tính "hậu hiện đại tự phát" ở Trần Nguyễn Anh là điều khiến tôi thấy bất ngờ hơn cả khi đọc Mặc xanh áo em.
© eVăn 2004
Love mickey,