<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-26 21:42:00ct.ly>
Diễn từ Nobel Văn chương 1952
Mauriac, François

François Mauriac, nhà văn, nhà thơ, nhà tiểu luận, nhà viết kịch Pháp (1885-1970), sinh tại Bordeaux. Học văn chương tại Bordeaux và Paris, nhưng sớm trở thành nhà văn độc lập. Ra mắt với tập thơ đầu tay Những bàn tay siết chặt (Les mains jointes, 1909), nhưng chỉ nổi tiếng từ tập Nụ hôn cho người hủi (Le baiser aux lepreurs, 1922). Năm 1933, được bầu vào Viện hàn lâm Pháp. Trong thế chiến thứ hai, sống ở vùng bị Đức chiếm đóng, xuất bản Cuốn sổ đen (Le cahier noir) dưới bút danh Forez. Ngoài tiểu thuyết, Mauriac còn xuất bản một số vở kịch, được Nhà hát Hài kịch Pháp (Comédie Française) dàn dựng. Ông cũng là nhà báo xuất sắc, từng làm biên tập viên cho tờ Figaro.
Mauriac thuộc về truyền thống lâu đời của các nhà văn Cơ đốc giáo Pháp, chuyên khảo sát vấn đề cái thiện và cái ác trong bản tính con người và trong cõi thế.
Tác phẩm chính: Sa mạc tình yêu (Le désert de l"amour, 1925), Thérèse Desqueyroux (1927), Búi rắn (Le Noeud de vipères, 1932), Đêm tàn (La fin de la nuit, 1935), Người phụ nữ thuộc giáo phái Pharisien (La Pharisienne, 1941).
Bài diễn văn dưới đây được François Mauriac đọc tại buổi Tiệc chiêu đãi của Viện Hàn lâm Thụy Điển tại Stockholm, ngày 10/12/1952, nhân dịp ông được trao giải Nobel Văn chương.
Vấn đề sau cùng được đề cập tới bởi nhà văn mà các bạn đang tôn vinh, theo tôi, là chính anh ta và tác phẩm của anh ta. Nhưng làm sao tôi có thể bắt ý nghĩ của mình rời khỏi tác phẩm đó và con người đó, khỏi những câu chuyện kém cỏi đó và nhà văn người Pháp bình thường đó, người mà với sự chiếu cố của Viện hàn lâm Thụy Điển, chợt nhận thấy gánh nặng và gần như bị choáng ngợp bởi sự vinh hạnh quá mức? Không, tôi không nghĩ rằng tính huyênh hoang khiến tôi ôn lại con đường dằng dặc đã đưa tôi từ một tuổi thơ vô danh đến nơi mà tôi đang có mặt đêm nay, giữa các bạn.
Khi tôi bắt đầu miêu tả nó, tôi không bao giờ hình dung rằng thế giới nhỏ bé của quá khứ còn sống sót trong những cuốn sách của tôi, những gì đến từ nước Pháp tỉnh lẻ khó mà được chính người Pháp biết đến, nơi tôi trải qua những ngày nghỉ thời cắp sách đến trường, lại có thể giành được sự chú ý của bạn đọc nước ngoài. Chúng ta luôn tin tưởng vào sự độc nhất vô nhị của chúng ta; chúng ta quên mất những cuốn sách đã làm chúng ta mê hoặc, những cuốn tiểu thuyết của George Eliot hay của Dickens, của Tolstoy hay Dostoevsky, hay của Selma Lagerlof (1), miêu tả những đất nước khác hẳn với đất nước chúng ta, sự tồn tại của những con người thuộc dòng giống khác và của tôn giáo khác. Nhưng dù sao chúng ta vẫn yêu quý chúng bởi chúng ta nhận ra chính bản thân chúng ta trong đó. Cả loài người hé lộ trong người nông dân ở chốn quê hương chúng ta, mọi miền quê trên thế giới hiển hiện nơi chân trời được nhìn bằng đôi mắt của tuổi thơ chúng ta. Cái tài của nhà văn chính là khả năng của anh ta trong việc bộc lộ tính chung trong cái thế giới nhỏ hẹp, nơi chúng ta sinh ra, nơi chúng ta học yêu thương và học đau khổ. Đối với nhiều bạn đọc Pháp và bạn đọc nước ngoài, thế giới của tôi có vẻ ảm đạm. Liệu tôi có thể nói rằng điều này luôn làm tôi ngạc nhiên? Người trần chúng ta lo sợ khi nhắc đến cái chết; và những người chưa từng yêu hoặc đang yêu, hay đã bị ruồng bỏ và bị phản bội; hoặc vô vọng đuổi theo một người mình không với tới mà không thèm đoái nhìn tới người đang theo đuổi mình mà mình không yêu - tất cả những người này đều ngạc nhiên và phẫn uất khi một tác phẩm văn học lại miêu tả nỗi cô đơn trong sâu thẳm của tình yêu. “Hãy nói với chúng tôi những điều dối trá dễ chịu”, người Do Thái nói với nhà tiên tri Isaiah như vậy. “Hãy lừa dối chúng tôi với sự giả trá êm ái”.
Vâng, người đọc yêu cầu chúng ta lừa dối họ bằng những sự giả trá dễ chịu.
Dù thế, những tác phẩm còn đọng lại trong ký ức loài người là những tác phẩm bao quát được tấn kịch của nhân loại trong sự toàn vẹn của nó và không né tránh những bằng chứng của nỗi cô đơn vô phương cứu chữa mà mỗi chúng ta đều phải đối mặt cho đến tận cái chết, cái nỗi cô đơn cuối cùng đó, bởi cuối cùng mỗi chúng ta đều phải chết trong cô đơn.
Đây là thế giới của một nhà viết tiểu thuyết không có niềm hy vọng. Đây là thế giới mà chúng ta được dẫn dắt vào bởi Strindberg vĩ đại của các bạn. Đây đã có thể là thế giới của tôi nếu không phải vì niềm hy vọng vô biên ám ảnh tôi hầu như từ khi tôi bừng tỉnh với cuộc sống ý thức. Bằng một tia sáng, niềm hy vọng đó xuyên thủng bóng tối mà tôi đã miêu tả. Sắc màu của tôi là đen tối, và tôi được đánh giá theo màu sắc đó hơn là theo tia sáng đã xuyên qua nó và đang âm ỉ cháy trong đó. Mỗi khi có một phụ nữ Pháp đầu độc chồng hoặc thắt cổ tình nhân, người ta lại bảo tôi: “Đây là một đề tài cho anh đấy”. Họ cứ nghĩ tôi đang mở một bảo tàng kinh dị, rằng tôi chuyên về các loại quái vật. Và còn nữa, các nhân vật của tôi khác về bản chất với hầu hết bất kì nhân vật nào sống trong các tiểu thuyết của thời đại chúng ta: họ cảm được rằng họ có một linh hồn. ở châu Âu thời hậu-Nietzsche (2) này, khi tiếng kêu “Chúa đã chết!” của Zarathustra (3) vẫn còn vang vọng và chưa hề hết những hậu quả đáng sợ của nó, không phải tất cả các nhân vật của tôi đều tin rằng Chúa còn sống, nhưng tất cả bọn họ đều có lương tâm để biết rằng một phần bản thân họ nhận thức được cái ác và không thể phạm tội được. Họ thấu hiểu cái ác. Tất cả họ đều lờ mờ cảm nhận được rằng họ là sản phẩm của những hành vi của chính họ, và chính họ để lại tiếng vang trong những số phận khác.
Đối với những nhân vật chính của tôi - có thể những nhân vật này cũng chẳng ra gì - cuộc sống là việc kinh qua sự vận động vô tận, kinh qua việc liên tục vượt lên trên bản thân. Một nhân loại không nghi ngờ rằng cuộc sống có một hướng đi và một đích đến thì không thể là một nhân loại tuyệt vọng. Nỗi tuyệt vọng của con người hiện đại nảy sinh từ thế giới này, từ sự khuất phục của anh ta trước những huyền thoại thế vị; sự vô lý dâng hiến con người cho cái phi nhân tính. Khi Nietzsche thông báo cái chết của Chúa, ông cũng đồng thời tuyên bố thời đại mà chúng ta đã sống và thời đại mà chúng ta vẫn phải tiếp tục sống, thời đại mà con người với tâm hồn trống rỗng và bị tước đoạt mất phận số cá nhân trở thành thân trâu ngựa, bị bọn Quốc xã và những kẻ sử dụng các biện pháp phát xít đối xử tàn tệ hơn cả súc vật. Một con ngựa, một con la hay một con bò còn có giá trị thị trường, nhưng từ một “động vật người”, kiếm được không tốn kém nhờ một cuộc thanh trừng được tổ chức tốt và có hệ thống, người ta chỉ cứ việc kiếm lời cho đến khi nó chết. Theo tôi, không một nhà văn nào đặt con người - được tạo nên từ hình ảnh của Đức Chúa Cha, được chuộc tội bởi Đức Chúa Con, và được soi sáng bởi Đức Chúa Thánh Thần - vào trung tâm tác phẩm của mình, theo quan điểm của tôi, lại là bậc thầy của sự tuyệt vọng, ngay cả khi bức tranh của anh ta thật ảm đạm đi nữa.
Vì bức tranh của anh ta còn ảm đạm chừng nào mà, đối với anh ta, bản chất của con người còn bị tổn thương, nếu không nói là bị tha hóa. Khỏi cần nói rằng lịch sử loài người được kể bởi một nhà văn Thiên chúa giáo không thể được dựa trên cảnh thanh bình đồng nội, bởi anh ta không thể né tránh bí tích của cái ác.
Nhưng bị ám ảnh bởi cái ác cũng có nghĩa là bị ám ảnh bởi sự trong sạch và tuổi thơ. Tôi buồn lòng bởi những nhà phê bình hấp tấp và những bạn đọc không nhận ra vị trí mà trẻ thơ chiếm giữ trong những câu chuyện của tôi. Những giấc mơ trẻ thơ là trung tâm tất cả các cuốn sách của tôi; chúng mang trong mình tình yêu trẻ thơ, những nụ hôn đầu đời và nỗi cô đơn đầu tiên, mọi điều mà tôi nâng niu trong nhạc của Mozart. Con rắn trong những cuốn sách của tôi thì được chú ý, nhưng những con chim câu làm tổ trong nhiều chương lại chẳng ai biết đến; trong những cuốn sách của tôi, tuổi thơ là thiên đường đã mất, và tuổi thơ mở ra bí tích của cái ác.
Có hai cách để tiếp cận bí tích của cái ác. Hoặc ta phải phủ nhận nó, hoặc là thừa nhận nó, bởi nó hiện diện cả bên trong và bên ngoài chúng ta - trong cuộc sống cá nhân của chúng ta, trong nỗi niềm đam mê của chúng ta cũng như trong lịch sử được viết nên bằng máu người bởi các đế chế khát khao quyền lực. Tôi luôn tin rằng có một sự tương ứng giữa tội ác cá nhân và tội ác tập thể, và vốn là một nhà báo, tôi không làm gì khác ngoài việc ngày qua ngày, trong nỗi kinh hoàng của lịch sử chính trị, giải mã những hậu quả hữu hình của lịch sử vô hình cư trú trong sự mịt mù của trái tim. Chúng ta phải trả giá đắt cho những bằng chứng xác nhận cái ác là cái ác - chúng ta, những người sống dưới một bầu trời mà khói của những lò thiêu xác vẫn còn lơ lửng bay. Bằng chính con mắt mình, chúng ta đã nhìn thấy chúng nhai ngốn hàng triệu người vô tội, thậm chí cả trẻ em. Và lịch sử vẫn tiếp diễn y như cũ. Hệ thống trại tập trung bắt rễ sâu tại những đất nước cổ xưa, nơi Christ được kính yêu, được ngưỡng mộ và được phụng sự hàng thế kỉ nay. Với nỗi kinh hoàng, chúng ta theo dõi phần cái thế giới, nơi con người vẫn được hưởng nhân quyền, nơi tâm trí con người vẫn được tự do, cái phần đó đang co lại như “miếng da lừa” trong tiểu thuyết của Balzac.
Xin các bạn đừng một giây phút nào tưởng ra rằng, với tư cách một tín đồ, tôi giả bộ không nhìn thấy sự chống đối đức tin từ phía sự hiện diện của cái ác. Đối với một người Thiên chúa giáo, cái ác vẫn còn là bí tích đáng sợ nhất. Người nào giữa những tội ác của lịch sử vẫn kiên trung với niềm tin của mình sẽ vấp phải sự lôi thôi muôn thuở: đó là sự vô ích hiển nhiên của việc Chuộc tội. Những lý giải khéo léo của các nhà thần học về sự hiện diện của cái ác, dù khéo léo đến đâu, cũng không thể nào thuyết phục được tôi, chính xác là bởi chúng có lý quá. Cái câu trả lời thường lẩn tránh chúng ta hàm ý một trật tự không phải là của lý trí mà của lòng từ thiện. Đó là một câu trả lời đã được tìm thấy đầy đủ trong sự khẳng định của Thánh John: Thiên chúa là Tình yêu. Không có gì là không thể đối với một tình yêu sống động, kể cả việc lôi cuốn mọi thứ đến với chính nó; và điều này cũng đã được viết ra.
Hãy tha thứ cho tôi vì đã nêu một vấn đề từng gây nhiều lời bình luận, nhiều cuộc tranh chấp, đã đẻ ra nhiều dị giáo, nhiều cuộc truy bức, và làm nhiều người tử vì đạo trong nhiều thế hệ. Nhưng nói cho cùng, nhà văn đang nói chuyện với các bạn ở đây là người mà các bạn đã lựa chọn trong nhiều nhà văn khác, cho nên nhất định các bạn đã gắn cho những cảm hứng của anh ta một giá trị nào đó. Anh ta minh chứng rằng những gì anh ta đã viết dưới ánh sáng của niềm tin và hy vọng của mình không hề mâu thuẫn với những kinh nghiệm tương tự của các độc giả - những người không có cùng niềm tin hay hy vọng với anh ta. Một ví dụ khác, chúng ta thấy các độc giả của Graham Green (4) tuy theo thuyết bất khả tri nhưng cũng chăng hề thất vọng bởi thị kiến Thiên chúa giáo của ông.
Chesterton (5) đã từng nói mỗi khi có điều phi thường xảy ra trong đạo Thiên chúa giáo thì cuối cùng thế nào cũng sẽ có điều phi thường tương xứng với nó trong thực tế. Nếu suy nghĩ về ý tưởng này, có thể chúng ta sẽ phát hiện ra nguyên do của những sự hài hòa bí ẩn giữa các tác phẩm của cảm hứng Thiên chúa giáo, chẳng hạn như những tác phẩm của ông bạn Graham Green của tôi, với công chúng rộng rãi phi Thiên chúa giáo vẫn ngấu nghiến những cuốn sách của ông và yêu thích những bộ phim của ông.
Vâng, một công chúng phi Thiên chúa giáo rộng lớn! Theo André Malraux (6), “Cách mạng ngày nay đóng một vai trò trước đây thuộc về cuộc sống vĩnh hằng”. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu huyền thoại lại chính là cách mạng? Và nếu cuộc sống vĩnh hằng lại là hiện thực duy nhất?
Dù câu trả lời ra sao, chúng ta có thể thống nhất ở một điểm: rằng nhân loại phi Thiên chúa giáo vẫn còn là một nhân loại chịu cực hình. Thứ quyền lực hạ giới nào sẽ phá hủy được thế tương liên giữa cây Thánh giá và nỗi thống khổ của con người? Ngay cả Strinberg của chúng ta, người đã xuống tận đáy những vực sâu, nơi David đã thốt lên lời than van, ngay cả Strinberg cũng đã ước ao rằng một từ duy nhất sẽ được khắc lên mộ chí mình, một từ ngữ mà chỉ mình nó cũng đủ làm rung chuyển và mở toang cánh cửa của cõi hằng sống: “O crux ave spes unica” (Kính lạy Thánh giá, nguồn hy vọng duy nhất). Sau bao nhiêu đau khổ, giờ đây ông đang yên nghỉ trong sự bảo vệ của niềm hy vọng đó, trong bóng êm của tình yêu đó. Và nhân danh ông, kẻ được nhận giải thưởng này của các bạn đề nghị các bạn hãy tha thứ cho những lời riêng tư, những lời mà có thể đã gióng lên một âm thanh bi thảm. Nhưng, để đáp niềm vẻ vang mà các bạn đã hào phóng ban tặng mình, anh ta còn có thể làm gì tốt hơn ngoài việc không chỉ mở trái tim, mà cả tâm hồn của mình ra với các bạn? Và vì qua nhân vật của mình, anh ta đã nói với các bạn về bí mật của niềm đau của mình, nên anh ta cũng cần kể với các bạn về bí mật của sự bình an của mình trong đêm nay.
Kiều Trinh dịch từ bản tiếng Anh
Nguồn: http://nobelprize.org
(Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây giữ bản quyền bản dịch)
Chú thích của người dịch:
(1) George Eliot (1819-1880): nữ nhà văn Anh; Charles Dickens (1812-1870): nhà văn Anh; Lev Tolstoi (1828-1910): nhà văn Nga; Fedor Mikhailovich Dostoevski (1821-1881): nhà văn Nga; Selma Lagerlof (1858-1940): nữ nhà văn Thụy Điển, giải Nobel 1909; Johan August Strindberg (1849-1912): nhà văn, nhà soạn kịch Thụy Điển.
(2) Friedrich Nietzsche (1844-1900): nhà triết học Đức.
(3) Zarathustra, nhân vật chính trong Also sprach Zarathustra (Zarathustra đã nói thế) của Nietzsche. - Zarathustra (Zoroaster) (628-551 tr.C.N.): nhà tiên tri người Ba Tư, sáng lập đạo thờ Lửa (Zarathustrianism).
(4) Graham Greene (1904-1991): nhà văn Anh.
(5) G. K. Chesterton (1874-1936): nhà phê bình người Anh.
(6) André Malraux (1901-1976): nhà văn Pháp.
Mauriac, François

François Mauriac, nhà văn, nhà thơ, nhà tiểu luận, nhà viết kịch Pháp (1885-1970), sinh tại Bordeaux. Học văn chương tại Bordeaux và Paris, nhưng sớm trở thành nhà văn độc lập. Ra mắt với tập thơ đầu tay Những bàn tay siết chặt (Les mains jointes, 1909), nhưng chỉ nổi tiếng từ tập Nụ hôn cho người hủi (Le baiser aux lepreurs, 1922). Năm 1933, được bầu vào Viện hàn lâm Pháp. Trong thế chiến thứ hai, sống ở vùng bị Đức chiếm đóng, xuất bản Cuốn sổ đen (Le cahier noir) dưới bút danh Forez. Ngoài tiểu thuyết, Mauriac còn xuất bản một số vở kịch, được Nhà hát Hài kịch Pháp (Comédie Française) dàn dựng. Ông cũng là nhà báo xuất sắc, từng làm biên tập viên cho tờ Figaro.
Mauriac thuộc về truyền thống lâu đời của các nhà văn Cơ đốc giáo Pháp, chuyên khảo sát vấn đề cái thiện và cái ác trong bản tính con người và trong cõi thế.
Tác phẩm chính: Sa mạc tình yêu (Le désert de l"amour, 1925), Thérèse Desqueyroux (1927), Búi rắn (Le Noeud de vipères, 1932), Đêm tàn (La fin de la nuit, 1935), Người phụ nữ thuộc giáo phái Pharisien (La Pharisienne, 1941).
Bài diễn văn dưới đây được François Mauriac đọc tại buổi Tiệc chiêu đãi của Viện Hàn lâm Thụy Điển tại Stockholm, ngày 10/12/1952, nhân dịp ông được trao giải Nobel Văn chương.
Vấn đề sau cùng được đề cập tới bởi nhà văn mà các bạn đang tôn vinh, theo tôi, là chính anh ta và tác phẩm của anh ta. Nhưng làm sao tôi có thể bắt ý nghĩ của mình rời khỏi tác phẩm đó và con người đó, khỏi những câu chuyện kém cỏi đó và nhà văn người Pháp bình thường đó, người mà với sự chiếu cố của Viện hàn lâm Thụy Điển, chợt nhận thấy gánh nặng và gần như bị choáng ngợp bởi sự vinh hạnh quá mức? Không, tôi không nghĩ rằng tính huyênh hoang khiến tôi ôn lại con đường dằng dặc đã đưa tôi từ một tuổi thơ vô danh đến nơi mà tôi đang có mặt đêm nay, giữa các bạn.
Khi tôi bắt đầu miêu tả nó, tôi không bao giờ hình dung rằng thế giới nhỏ bé của quá khứ còn sống sót trong những cuốn sách của tôi, những gì đến từ nước Pháp tỉnh lẻ khó mà được chính người Pháp biết đến, nơi tôi trải qua những ngày nghỉ thời cắp sách đến trường, lại có thể giành được sự chú ý của bạn đọc nước ngoài. Chúng ta luôn tin tưởng vào sự độc nhất vô nhị của chúng ta; chúng ta quên mất những cuốn sách đã làm chúng ta mê hoặc, những cuốn tiểu thuyết của George Eliot hay của Dickens, của Tolstoy hay Dostoevsky, hay của Selma Lagerlof (1), miêu tả những đất nước khác hẳn với đất nước chúng ta, sự tồn tại của những con người thuộc dòng giống khác và của tôn giáo khác. Nhưng dù sao chúng ta vẫn yêu quý chúng bởi chúng ta nhận ra chính bản thân chúng ta trong đó. Cả loài người hé lộ trong người nông dân ở chốn quê hương chúng ta, mọi miền quê trên thế giới hiển hiện nơi chân trời được nhìn bằng đôi mắt của tuổi thơ chúng ta. Cái tài của nhà văn chính là khả năng của anh ta trong việc bộc lộ tính chung trong cái thế giới nhỏ hẹp, nơi chúng ta sinh ra, nơi chúng ta học yêu thương và học đau khổ. Đối với nhiều bạn đọc Pháp và bạn đọc nước ngoài, thế giới của tôi có vẻ ảm đạm. Liệu tôi có thể nói rằng điều này luôn làm tôi ngạc nhiên? Người trần chúng ta lo sợ khi nhắc đến cái chết; và những người chưa từng yêu hoặc đang yêu, hay đã bị ruồng bỏ và bị phản bội; hoặc vô vọng đuổi theo một người mình không với tới mà không thèm đoái nhìn tới người đang theo đuổi mình mà mình không yêu - tất cả những người này đều ngạc nhiên và phẫn uất khi một tác phẩm văn học lại miêu tả nỗi cô đơn trong sâu thẳm của tình yêu. “Hãy nói với chúng tôi những điều dối trá dễ chịu”, người Do Thái nói với nhà tiên tri Isaiah như vậy. “Hãy lừa dối chúng tôi với sự giả trá êm ái”.
Vâng, người đọc yêu cầu chúng ta lừa dối họ bằng những sự giả trá dễ chịu.
Dù thế, những tác phẩm còn đọng lại trong ký ức loài người là những tác phẩm bao quát được tấn kịch của nhân loại trong sự toàn vẹn của nó và không né tránh những bằng chứng của nỗi cô đơn vô phương cứu chữa mà mỗi chúng ta đều phải đối mặt cho đến tận cái chết, cái nỗi cô đơn cuối cùng đó, bởi cuối cùng mỗi chúng ta đều phải chết trong cô đơn.
Đây là thế giới của một nhà viết tiểu thuyết không có niềm hy vọng. Đây là thế giới mà chúng ta được dẫn dắt vào bởi Strindberg vĩ đại của các bạn. Đây đã có thể là thế giới của tôi nếu không phải vì niềm hy vọng vô biên ám ảnh tôi hầu như từ khi tôi bừng tỉnh với cuộc sống ý thức. Bằng một tia sáng, niềm hy vọng đó xuyên thủng bóng tối mà tôi đã miêu tả. Sắc màu của tôi là đen tối, và tôi được đánh giá theo màu sắc đó hơn là theo tia sáng đã xuyên qua nó và đang âm ỉ cháy trong đó. Mỗi khi có một phụ nữ Pháp đầu độc chồng hoặc thắt cổ tình nhân, người ta lại bảo tôi: “Đây là một đề tài cho anh đấy”. Họ cứ nghĩ tôi đang mở một bảo tàng kinh dị, rằng tôi chuyên về các loại quái vật. Và còn nữa, các nhân vật của tôi khác về bản chất với hầu hết bất kì nhân vật nào sống trong các tiểu thuyết của thời đại chúng ta: họ cảm được rằng họ có một linh hồn. ở châu Âu thời hậu-Nietzsche (2) này, khi tiếng kêu “Chúa đã chết!” của Zarathustra (3) vẫn còn vang vọng và chưa hề hết những hậu quả đáng sợ của nó, không phải tất cả các nhân vật của tôi đều tin rằng Chúa còn sống, nhưng tất cả bọn họ đều có lương tâm để biết rằng một phần bản thân họ nhận thức được cái ác và không thể phạm tội được. Họ thấu hiểu cái ác. Tất cả họ đều lờ mờ cảm nhận được rằng họ là sản phẩm của những hành vi của chính họ, và chính họ để lại tiếng vang trong những số phận khác.
Đối với những nhân vật chính của tôi - có thể những nhân vật này cũng chẳng ra gì - cuộc sống là việc kinh qua sự vận động vô tận, kinh qua việc liên tục vượt lên trên bản thân. Một nhân loại không nghi ngờ rằng cuộc sống có một hướng đi và một đích đến thì không thể là một nhân loại tuyệt vọng. Nỗi tuyệt vọng của con người hiện đại nảy sinh từ thế giới này, từ sự khuất phục của anh ta trước những huyền thoại thế vị; sự vô lý dâng hiến con người cho cái phi nhân tính. Khi Nietzsche thông báo cái chết của Chúa, ông cũng đồng thời tuyên bố thời đại mà chúng ta đã sống và thời đại mà chúng ta vẫn phải tiếp tục sống, thời đại mà con người với tâm hồn trống rỗng và bị tước đoạt mất phận số cá nhân trở thành thân trâu ngựa, bị bọn Quốc xã và những kẻ sử dụng các biện pháp phát xít đối xử tàn tệ hơn cả súc vật. Một con ngựa, một con la hay một con bò còn có giá trị thị trường, nhưng từ một “động vật người”, kiếm được không tốn kém nhờ một cuộc thanh trừng được tổ chức tốt và có hệ thống, người ta chỉ cứ việc kiếm lời cho đến khi nó chết. Theo tôi, không một nhà văn nào đặt con người - được tạo nên từ hình ảnh của Đức Chúa Cha, được chuộc tội bởi Đức Chúa Con, và được soi sáng bởi Đức Chúa Thánh Thần - vào trung tâm tác phẩm của mình, theo quan điểm của tôi, lại là bậc thầy của sự tuyệt vọng, ngay cả khi bức tranh của anh ta thật ảm đạm đi nữa.
Vì bức tranh của anh ta còn ảm đạm chừng nào mà, đối với anh ta, bản chất của con người còn bị tổn thương, nếu không nói là bị tha hóa. Khỏi cần nói rằng lịch sử loài người được kể bởi một nhà văn Thiên chúa giáo không thể được dựa trên cảnh thanh bình đồng nội, bởi anh ta không thể né tránh bí tích của cái ác.
Nhưng bị ám ảnh bởi cái ác cũng có nghĩa là bị ám ảnh bởi sự trong sạch và tuổi thơ. Tôi buồn lòng bởi những nhà phê bình hấp tấp và những bạn đọc không nhận ra vị trí mà trẻ thơ chiếm giữ trong những câu chuyện của tôi. Những giấc mơ trẻ thơ là trung tâm tất cả các cuốn sách của tôi; chúng mang trong mình tình yêu trẻ thơ, những nụ hôn đầu đời và nỗi cô đơn đầu tiên, mọi điều mà tôi nâng niu trong nhạc của Mozart. Con rắn trong những cuốn sách của tôi thì được chú ý, nhưng những con chim câu làm tổ trong nhiều chương lại chẳng ai biết đến; trong những cuốn sách của tôi, tuổi thơ là thiên đường đã mất, và tuổi thơ mở ra bí tích của cái ác.
Có hai cách để tiếp cận bí tích của cái ác. Hoặc ta phải phủ nhận nó, hoặc là thừa nhận nó, bởi nó hiện diện cả bên trong và bên ngoài chúng ta - trong cuộc sống cá nhân của chúng ta, trong nỗi niềm đam mê của chúng ta cũng như trong lịch sử được viết nên bằng máu người bởi các đế chế khát khao quyền lực. Tôi luôn tin rằng có một sự tương ứng giữa tội ác cá nhân và tội ác tập thể, và vốn là một nhà báo, tôi không làm gì khác ngoài việc ngày qua ngày, trong nỗi kinh hoàng của lịch sử chính trị, giải mã những hậu quả hữu hình của lịch sử vô hình cư trú trong sự mịt mù của trái tim. Chúng ta phải trả giá đắt cho những bằng chứng xác nhận cái ác là cái ác - chúng ta, những người sống dưới một bầu trời mà khói của những lò thiêu xác vẫn còn lơ lửng bay. Bằng chính con mắt mình, chúng ta đã nhìn thấy chúng nhai ngốn hàng triệu người vô tội, thậm chí cả trẻ em. Và lịch sử vẫn tiếp diễn y như cũ. Hệ thống trại tập trung bắt rễ sâu tại những đất nước cổ xưa, nơi Christ được kính yêu, được ngưỡng mộ và được phụng sự hàng thế kỉ nay. Với nỗi kinh hoàng, chúng ta theo dõi phần cái thế giới, nơi con người vẫn được hưởng nhân quyền, nơi tâm trí con người vẫn được tự do, cái phần đó đang co lại như “miếng da lừa” trong tiểu thuyết của Balzac.
Xin các bạn đừng một giây phút nào tưởng ra rằng, với tư cách một tín đồ, tôi giả bộ không nhìn thấy sự chống đối đức tin từ phía sự hiện diện của cái ác. Đối với một người Thiên chúa giáo, cái ác vẫn còn là bí tích đáng sợ nhất. Người nào giữa những tội ác của lịch sử vẫn kiên trung với niềm tin của mình sẽ vấp phải sự lôi thôi muôn thuở: đó là sự vô ích hiển nhiên của việc Chuộc tội. Những lý giải khéo léo của các nhà thần học về sự hiện diện của cái ác, dù khéo léo đến đâu, cũng không thể nào thuyết phục được tôi, chính xác là bởi chúng có lý quá. Cái câu trả lời thường lẩn tránh chúng ta hàm ý một trật tự không phải là của lý trí mà của lòng từ thiện. Đó là một câu trả lời đã được tìm thấy đầy đủ trong sự khẳng định của Thánh John: Thiên chúa là Tình yêu. Không có gì là không thể đối với một tình yêu sống động, kể cả việc lôi cuốn mọi thứ đến với chính nó; và điều này cũng đã được viết ra.
Hãy tha thứ cho tôi vì đã nêu một vấn đề từng gây nhiều lời bình luận, nhiều cuộc tranh chấp, đã đẻ ra nhiều dị giáo, nhiều cuộc truy bức, và làm nhiều người tử vì đạo trong nhiều thế hệ. Nhưng nói cho cùng, nhà văn đang nói chuyện với các bạn ở đây là người mà các bạn đã lựa chọn trong nhiều nhà văn khác, cho nên nhất định các bạn đã gắn cho những cảm hứng của anh ta một giá trị nào đó. Anh ta minh chứng rằng những gì anh ta đã viết dưới ánh sáng của niềm tin và hy vọng của mình không hề mâu thuẫn với những kinh nghiệm tương tự của các độc giả - những người không có cùng niềm tin hay hy vọng với anh ta. Một ví dụ khác, chúng ta thấy các độc giả của Graham Green (4) tuy theo thuyết bất khả tri nhưng cũng chăng hề thất vọng bởi thị kiến Thiên chúa giáo của ông.
Chesterton (5) đã từng nói mỗi khi có điều phi thường xảy ra trong đạo Thiên chúa giáo thì cuối cùng thế nào cũng sẽ có điều phi thường tương xứng với nó trong thực tế. Nếu suy nghĩ về ý tưởng này, có thể chúng ta sẽ phát hiện ra nguyên do của những sự hài hòa bí ẩn giữa các tác phẩm của cảm hứng Thiên chúa giáo, chẳng hạn như những tác phẩm của ông bạn Graham Green của tôi, với công chúng rộng rãi phi Thiên chúa giáo vẫn ngấu nghiến những cuốn sách của ông và yêu thích những bộ phim của ông.
Vâng, một công chúng phi Thiên chúa giáo rộng lớn! Theo André Malraux (6), “Cách mạng ngày nay đóng một vai trò trước đây thuộc về cuộc sống vĩnh hằng”. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu huyền thoại lại chính là cách mạng? Và nếu cuộc sống vĩnh hằng lại là hiện thực duy nhất?
Dù câu trả lời ra sao, chúng ta có thể thống nhất ở một điểm: rằng nhân loại phi Thiên chúa giáo vẫn còn là một nhân loại chịu cực hình. Thứ quyền lực hạ giới nào sẽ phá hủy được thế tương liên giữa cây Thánh giá và nỗi thống khổ của con người? Ngay cả Strinberg của chúng ta, người đã xuống tận đáy những vực sâu, nơi David đã thốt lên lời than van, ngay cả Strinberg cũng đã ước ao rằng một từ duy nhất sẽ được khắc lên mộ chí mình, một từ ngữ mà chỉ mình nó cũng đủ làm rung chuyển và mở toang cánh cửa của cõi hằng sống: “O crux ave spes unica” (Kính lạy Thánh giá, nguồn hy vọng duy nhất). Sau bao nhiêu đau khổ, giờ đây ông đang yên nghỉ trong sự bảo vệ của niềm hy vọng đó, trong bóng êm của tình yêu đó. Và nhân danh ông, kẻ được nhận giải thưởng này của các bạn đề nghị các bạn hãy tha thứ cho những lời riêng tư, những lời mà có thể đã gióng lên một âm thanh bi thảm. Nhưng, để đáp niềm vẻ vang mà các bạn đã hào phóng ban tặng mình, anh ta còn có thể làm gì tốt hơn ngoài việc không chỉ mở trái tim, mà cả tâm hồn của mình ra với các bạn? Và vì qua nhân vật của mình, anh ta đã nói với các bạn về bí mật của niềm đau của mình, nên anh ta cũng cần kể với các bạn về bí mật của sự bình an của mình trong đêm nay.
Kiều Trinh dịch từ bản tiếng Anh
Nguồn: http://nobelprize.org
(Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây giữ bản quyền bản dịch)
Chú thích của người dịch:
(1) George Eliot (1819-1880): nữ nhà văn Anh; Charles Dickens (1812-1870): nhà văn Anh; Lev Tolstoi (1828-1910): nhà văn Nga; Fedor Mikhailovich Dostoevski (1821-1881): nhà văn Nga; Selma Lagerlof (1858-1940): nữ nhà văn Thụy Điển, giải Nobel 1909; Johan August Strindberg (1849-1912): nhà văn, nhà soạn kịch Thụy Điển.
(2) Friedrich Nietzsche (1844-1900): nhà triết học Đức.
(3) Zarathustra, nhân vật chính trong Also sprach Zarathustra (Zarathustra đã nói thế) của Nietzsche. - Zarathustra (Zoroaster) (628-551 tr.C.N.): nhà tiên tri người Ba Tư, sáng lập đạo thờ Lửa (Zarathustrianism).
(4) Graham Greene (1904-1991): nhà văn Anh.
(5) G. K. Chesterton (1874-1936): nhà phê bình người Anh.
(6) André Malraux (1901-1976): nhà văn Pháp.