<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 22:20:36mickey>
Đôi điều thú vị trong tập thơ Độc thoại của Đỗ Việt Dũng
Hoàng Cầm
Một bài viết, dù là văn xuôi hay thơ, mà khiến độc giả cảm thấy "thú vị", thì theo ý nghĩ của riêng tôi có thể chưa đúng lắm, vì thơ, như mọi thứ ta thường gọi là nghệ thuật đều có đẳng cấp nào đấy tuỳ theo nhà phê bình, độc giả, nhất là ông trọng tài bất khả phủ định, bất khả phê phán, bất khả xâm phạm là ông trọng tài có tên họ là Nguyễn Thời Gian (họ Nguyễn vì là họ lâu đời, số lượng người trong họ ấy là đông nhất, bao quát từ Bắc chí Nam).
Tôi vốn không phải là người chuyên phê bình văn học, thi thoảng có viết một bài giới thiệu tập thơ này, tập thơ khác thì chỉ vì tự mình thấy xúc động, thấy năm ba cầu nào đó mình tâm đắc, thú thật cũng có lúc vì nể nang (vì thế, đôi ba bài vì nể ấy thật sự là nhạt nhẽo, vô bổ, nhưng cũng phải tự an ủi là dẫu sao mình cũng hữu ích cho một vài người).
Đến tập thơ này, may quá, tôi đã tránh được tình trạng ấy. Với anh Đỗ Việt Dũng, tác giả tập Độc thoại này, tôi có quen biết, tuy không thân. Một dạo, khi công tác ở Sở Văn hoá Hà Bắc, anh có là bạn đồng nghiệp với con trai tôi, tuy thế tôi cũng ít chú ý đến công tác của anh Dũng, có một lần nhân đọc một bài thơ của anh chưa in, còn ở dạng bản thảo, tôi đã cười lên một cách khoái trá và đặc biệt khen một câu thơ trong bài ấy. Anh Dũng cũng tỏ ra cảm động vì lời khen chân tình của tôi, anh cảm ơn tôi và tỏ ra muốn nhân lời khen của tôi để hướng tới một "đường lối" riêng cho thi pháp của mình. Tôi cũng khuyến khích anh tìm cho mình một cách làm thơ riêng biệt không nhoà lẫn với bất cứ một thi pháp nào của ai, dẫu ai đó là một "đại thi hào".
Vậy thì đến nay anh đã cho ra đời một tác phẩm có tên là Độc thoại. Ngay cách anh đặt tên cho tập thơ cũng như có ý muốn khiêm tốn là nói chuyện với mình. Nhưng anh nhầm đấy, anh Dũng à.
Trong cuộc sống con người không thể bao giờ có một chữ nào lại gọi là mình nói với mình, nhất là lại đem "chữ nghĩa" ấy ra in thành sách, bán lấy tiền hoặc biếu lấy tình. Thế nghĩa là những bài độc thoại này vẫn là "đối thoại". Người nói phải có người nghe. Ví dụ như một người đàn bà chồng mất đã lâu, có đứa con cũng vừa mất, nằm một mình trong gian buồng tối của một căn nhà trơ trọi giữa cánh đồng trống vắng nửa đem, cứ khóc rồi kêu thét lên hoặc rên rĩ. "Trời ơi! Sao tôi khổ thế này..." thì vẫn không phải là độc thoại. Người đàn bà đau khổ thốt ra mấy lời ấy cũng muốn cho trời nghe, đất nghe, còn người, nếu có ai vô tình đi qua ngoài nhà, nghe thấy dù bà ta không biết thì lời kêu than kia tưởng như cô độc, vẫn mang tính chất và ý nghĩa xã hội. Khi đã có tính chất và ý nghĩa xã hội thì đâu còn là của riêng người ấy. Vấn đề này quá lớn, vượt ra ngoài tầm hiểu biết của tôi, nên tôi xin dừng ở đây, chẳng qua là một ý sơ sài về đầu đề cuốn sách của anh mà thôi. Để anh có thể suy nghĩ thêm và cũng chỉ là một chút giúp đỡ nhau rất nhỏ, nhỏ lắm. Nếu anh chấp nhận được, thì có lẽ tôi cũng được một niềm vui nho nhỏ.
Trở lại tập thơ Độc thoại. Xét về ngôn ngữ, thấy anh Dũng không cầu kỳ. ở nhiều bài anh viết giản dị (cũng có thể gọi là nôm na) anh chỉ kể một chuyện nhỏ, hoặc một mẩu kỷ niệm, hoặc ghi lại một vài cảm xúc rất dễ cho người đọc thông cảm. Nhưng có điều đặc biệt mà tôi đã nói sơ lược ở trên, là có khá nhiều bài ghi được đôi nét bất ngờ mang nhiều ý độc đáo, có thể khiến người đọc phaỉ bật ra cười, một cái cười có khi vui, nhiều khi mỉa mai chua chát hoặc đau xót, bâng khuâng. Như trong bài Vọng phu anh có ý khuyên nàng Vọng Phu "đừng mãi đợi chồng đến hoá đá, nàng nên quay về nhà" mà anh buông một câu thoạt nghe thì tôi bật cười.
"Huống hồ bây giờ nàng hoá đá
Có quay về chồng cũng chẳng nhận dâu"
Nhưng liền sau cái bật cười ấy là niềm đau xót về nhân tình thế thái. Câu thơ làm tôi muốn nhấn mạnh thêm, giá như anh Dũng viết:
Ví dù nàng vẫn không hoá đá
Có quay về chồng cũng chẳng nhận đâu.
Thì có thể cảm xúc được đẩy lên mạnh hơn, đau xót hơn. (Tôi lạm bàn vậy thôi, xin đừng nghĩ là tôi muốn dạy dỗ ai).
Đến bài Bến Đa Nam, bốn câu kết đã khiến tôi xúc động bâng khuâng nhiều, chỉ qua một chuyến đò, tình cờ gặp một người con gái, rồi mỗi người một ngả, đoạn kết của tác giả klhiến chúng tôi cứ phải day dứt vì những niềm nhớ tiếc, ân hận thường xảy ra trong cuộc sống đầy bất trắc của bất cứ ai.
"Con sông siêu vẹo chảy
Cánh bèo lặng lẽ trôi
Nước xoáy hình dấu hỏi
Mãi không ai trả lời"
Ai trả lời được cho hàng ngàn hàng vạn những niềm trắc trở gây đau thương cho mọi kiếp phù sinh như chúng ta?
Tôi cho rằng bốn câu kết của bài thơ đầy cảm xúc, đầy tư tưởng này của anh Đỗ Việt Dũng có thể là một đoạn thơ hay.
Tôi nghĩ anh Dũng không là một nhà triết học và có lẽ anh cũng không lần nào nghên cứu triết học, nhưng nhiều bài của anh thường về đoạn kết lại mang tính triết học dân gian khá đậm đà, ai cũng hiểu được vì anh không lên gân, anh nói như dân gian trò chuyện với nhau hàng ngày.
"Nếu ai đó muốn toàn ánh sáng
Thì hãy xin ra khỏi địa cầu"
Tôi không tìm hiểu kỹ về cuộc đời tác giả, nhưng tôi thấy trong tập thơ Độc thoại này sao tác giả nghĩ quá nhiều những nỗi chua chát, đắng cay, mỉa mai có lúc hài hước như hai câu vừa dẫn.
Như trong bài Nhà mình anh không trực tiếp miêu tả cảnh khổ của nhà mình mà chỉ hỏi gió.
"Nhà mình cửa rả tuênh toang
Mà sao gió vẫn chạy sang nhà người
Bao nhiêu cái nóng của trời
Xúm vào đây hỏi thăm người tri âm"
Anh dùng hai từ "tri âm" ở đây khá đắt, tri âm với gió đã đành, còn tri âm cả với cái nóng cứ "xúm vào" để hỏi thăm cả nhà mình. Thật chua chát, tác giả viết về sự đổi mới của làng mình. Đổi mới thì hẳn là đẹp lên. Vậy mà anh như người ngơ ngẩn và ngơ ngác nói một câu chua chát quá.
"Đẹp như là không phải làng tôi"
Và cây đa (từ ngàn xưa cây đa cổ thụ ở làng nào cũng là tiêu biểu cho đời sống văn hoá của làng) bắt anh phải hỏi và đoán:
"Cây đa xưa đâu rồi
Hay cũng vào lò vôi hợp tác?"
Lại chua chát, pha chút mỉa mai và buồn. Ngay bên cạnh nhà có một xưởng cơ khí rất ồn ào, chói tai, nhức óc. Khó chịu lắm chứ nhưng chợt có một ngày im ắng, anh nói:
"Tôi bỗng lo: hay lại hết việc làm?"
Vẫn là nỗi chua chát trong đời sóng người dân một phố nghèo.
Rồi đến cả một ngôi chùa nổi tiếng ra khắp thế giới, ngòi bút anh vẫn không dừng được cái phong cách mỉa mai, chua chát.
"Hỡi quỷ hỡi ma hãy nấp trước cửa thiền
Mà nghe chúng sinh kỳ kèo với phật"
Mà đến nỗi:
"Núi bán mình cho chùa rởm"
Và sau cùng thì
"Tiếng nam mô rơi tõm mái chèo"
ở câu trên, hai liên từ kỳ kèo với Phật rất ăn nhập với đời sống hiện nay, cả đến đức Phật cũng bắt buộc phải vào kinh tế thị trường. Chùa đã thành chùa rởm mà đức Phật để cho chúng sinh "kỳ kèo" thì thử hỏi văn hoá dân tộc đã xuống cấp đến thế nào. Hầu hết những bài trong tập này đều là những bức tranh châm biếm khá thú vị, châm biếm cuộc đời, nhất là từ ngày kinh tế thị trường với mặt phải mặt trái của nó.
Với ngòi bút mạnh bạo, Đỗ Việt Dũng đã phác hoạ khá nhiều mặt trái của xã hội, gây cho chúng ta một vài cái cười hóm hỉnh không độc ác, mà chỉ là mong sao có thể góp một phần sửa chữa được những thói hư, tật xấu cho xã hội sạch và đẹp hơn lên.
Đó là điều tôi vui mừng sau khi đọc tập thơ này và biết ơn anh Đỗ Việt Dũng đã cho tôi đôi ba nụ cười nở ruột nở gan.
(Báo Văn nghệ)
Hoàng Cầm
Một bài viết, dù là văn xuôi hay thơ, mà khiến độc giả cảm thấy "thú vị", thì theo ý nghĩ của riêng tôi có thể chưa đúng lắm, vì thơ, như mọi thứ ta thường gọi là nghệ thuật đều có đẳng cấp nào đấy tuỳ theo nhà phê bình, độc giả, nhất là ông trọng tài bất khả phủ định, bất khả phê phán, bất khả xâm phạm là ông trọng tài có tên họ là Nguyễn Thời Gian (họ Nguyễn vì là họ lâu đời, số lượng người trong họ ấy là đông nhất, bao quát từ Bắc chí Nam).
Tôi vốn không phải là người chuyên phê bình văn học, thi thoảng có viết một bài giới thiệu tập thơ này, tập thơ khác thì chỉ vì tự mình thấy xúc động, thấy năm ba cầu nào đó mình tâm đắc, thú thật cũng có lúc vì nể nang (vì thế, đôi ba bài vì nể ấy thật sự là nhạt nhẽo, vô bổ, nhưng cũng phải tự an ủi là dẫu sao mình cũng hữu ích cho một vài người).
Đến tập thơ này, may quá, tôi đã tránh được tình trạng ấy. Với anh Đỗ Việt Dũng, tác giả tập Độc thoại này, tôi có quen biết, tuy không thân. Một dạo, khi công tác ở Sở Văn hoá Hà Bắc, anh có là bạn đồng nghiệp với con trai tôi, tuy thế tôi cũng ít chú ý đến công tác của anh Dũng, có một lần nhân đọc một bài thơ của anh chưa in, còn ở dạng bản thảo, tôi đã cười lên một cách khoái trá và đặc biệt khen một câu thơ trong bài ấy. Anh Dũng cũng tỏ ra cảm động vì lời khen chân tình của tôi, anh cảm ơn tôi và tỏ ra muốn nhân lời khen của tôi để hướng tới một "đường lối" riêng cho thi pháp của mình. Tôi cũng khuyến khích anh tìm cho mình một cách làm thơ riêng biệt không nhoà lẫn với bất cứ một thi pháp nào của ai, dẫu ai đó là một "đại thi hào".
Vậy thì đến nay anh đã cho ra đời một tác phẩm có tên là Độc thoại. Ngay cách anh đặt tên cho tập thơ cũng như có ý muốn khiêm tốn là nói chuyện với mình. Nhưng anh nhầm đấy, anh Dũng à.
Trong cuộc sống con người không thể bao giờ có một chữ nào lại gọi là mình nói với mình, nhất là lại đem "chữ nghĩa" ấy ra in thành sách, bán lấy tiền hoặc biếu lấy tình. Thế nghĩa là những bài độc thoại này vẫn là "đối thoại". Người nói phải có người nghe. Ví dụ như một người đàn bà chồng mất đã lâu, có đứa con cũng vừa mất, nằm một mình trong gian buồng tối của một căn nhà trơ trọi giữa cánh đồng trống vắng nửa đem, cứ khóc rồi kêu thét lên hoặc rên rĩ. "Trời ơi! Sao tôi khổ thế này..." thì vẫn không phải là độc thoại. Người đàn bà đau khổ thốt ra mấy lời ấy cũng muốn cho trời nghe, đất nghe, còn người, nếu có ai vô tình đi qua ngoài nhà, nghe thấy dù bà ta không biết thì lời kêu than kia tưởng như cô độc, vẫn mang tính chất và ý nghĩa xã hội. Khi đã có tính chất và ý nghĩa xã hội thì đâu còn là của riêng người ấy. Vấn đề này quá lớn, vượt ra ngoài tầm hiểu biết của tôi, nên tôi xin dừng ở đây, chẳng qua là một ý sơ sài về đầu đề cuốn sách của anh mà thôi. Để anh có thể suy nghĩ thêm và cũng chỉ là một chút giúp đỡ nhau rất nhỏ, nhỏ lắm. Nếu anh chấp nhận được, thì có lẽ tôi cũng được một niềm vui nho nhỏ.
Trở lại tập thơ Độc thoại. Xét về ngôn ngữ, thấy anh Dũng không cầu kỳ. ở nhiều bài anh viết giản dị (cũng có thể gọi là nôm na) anh chỉ kể một chuyện nhỏ, hoặc một mẩu kỷ niệm, hoặc ghi lại một vài cảm xúc rất dễ cho người đọc thông cảm. Nhưng có điều đặc biệt mà tôi đã nói sơ lược ở trên, là có khá nhiều bài ghi được đôi nét bất ngờ mang nhiều ý độc đáo, có thể khiến người đọc phaỉ bật ra cười, một cái cười có khi vui, nhiều khi mỉa mai chua chát hoặc đau xót, bâng khuâng. Như trong bài Vọng phu anh có ý khuyên nàng Vọng Phu "đừng mãi đợi chồng đến hoá đá, nàng nên quay về nhà" mà anh buông một câu thoạt nghe thì tôi bật cười.
"Huống hồ bây giờ nàng hoá đá
Có quay về chồng cũng chẳng nhận dâu"
Nhưng liền sau cái bật cười ấy là niềm đau xót về nhân tình thế thái. Câu thơ làm tôi muốn nhấn mạnh thêm, giá như anh Dũng viết:
Ví dù nàng vẫn không hoá đá
Có quay về chồng cũng chẳng nhận đâu.
Thì có thể cảm xúc được đẩy lên mạnh hơn, đau xót hơn. (Tôi lạm bàn vậy thôi, xin đừng nghĩ là tôi muốn dạy dỗ ai).
Đến bài Bến Đa Nam, bốn câu kết đã khiến tôi xúc động bâng khuâng nhiều, chỉ qua một chuyến đò, tình cờ gặp một người con gái, rồi mỗi người một ngả, đoạn kết của tác giả klhiến chúng tôi cứ phải day dứt vì những niềm nhớ tiếc, ân hận thường xảy ra trong cuộc sống đầy bất trắc của bất cứ ai.
"Con sông siêu vẹo chảy
Cánh bèo lặng lẽ trôi
Nước xoáy hình dấu hỏi
Mãi không ai trả lời"
Ai trả lời được cho hàng ngàn hàng vạn những niềm trắc trở gây đau thương cho mọi kiếp phù sinh như chúng ta?
Tôi cho rằng bốn câu kết của bài thơ đầy cảm xúc, đầy tư tưởng này của anh Đỗ Việt Dũng có thể là một đoạn thơ hay.
Tôi nghĩ anh Dũng không là một nhà triết học và có lẽ anh cũng không lần nào nghên cứu triết học, nhưng nhiều bài của anh thường về đoạn kết lại mang tính triết học dân gian khá đậm đà, ai cũng hiểu được vì anh không lên gân, anh nói như dân gian trò chuyện với nhau hàng ngày.
"Nếu ai đó muốn toàn ánh sáng
Thì hãy xin ra khỏi địa cầu"
Tôi không tìm hiểu kỹ về cuộc đời tác giả, nhưng tôi thấy trong tập thơ Độc thoại này sao tác giả nghĩ quá nhiều những nỗi chua chát, đắng cay, mỉa mai có lúc hài hước như hai câu vừa dẫn.
Như trong bài Nhà mình anh không trực tiếp miêu tả cảnh khổ của nhà mình mà chỉ hỏi gió.
"Nhà mình cửa rả tuênh toang
Mà sao gió vẫn chạy sang nhà người
Bao nhiêu cái nóng của trời
Xúm vào đây hỏi thăm người tri âm"
Anh dùng hai từ "tri âm" ở đây khá đắt, tri âm với gió đã đành, còn tri âm cả với cái nóng cứ "xúm vào" để hỏi thăm cả nhà mình. Thật chua chát, tác giả viết về sự đổi mới của làng mình. Đổi mới thì hẳn là đẹp lên. Vậy mà anh như người ngơ ngẩn và ngơ ngác nói một câu chua chát quá.
"Đẹp như là không phải làng tôi"
Và cây đa (từ ngàn xưa cây đa cổ thụ ở làng nào cũng là tiêu biểu cho đời sống văn hoá của làng) bắt anh phải hỏi và đoán:
"Cây đa xưa đâu rồi
Hay cũng vào lò vôi hợp tác?"
Lại chua chát, pha chút mỉa mai và buồn. Ngay bên cạnh nhà có một xưởng cơ khí rất ồn ào, chói tai, nhức óc. Khó chịu lắm chứ nhưng chợt có một ngày im ắng, anh nói:
"Tôi bỗng lo: hay lại hết việc làm?"
Vẫn là nỗi chua chát trong đời sóng người dân một phố nghèo.
Rồi đến cả một ngôi chùa nổi tiếng ra khắp thế giới, ngòi bút anh vẫn không dừng được cái phong cách mỉa mai, chua chát.
"Hỡi quỷ hỡi ma hãy nấp trước cửa thiền
Mà nghe chúng sinh kỳ kèo với phật"
Mà đến nỗi:
"Núi bán mình cho chùa rởm"
Và sau cùng thì
"Tiếng nam mô rơi tõm mái chèo"
ở câu trên, hai liên từ kỳ kèo với Phật rất ăn nhập với đời sống hiện nay, cả đến đức Phật cũng bắt buộc phải vào kinh tế thị trường. Chùa đã thành chùa rởm mà đức Phật để cho chúng sinh "kỳ kèo" thì thử hỏi văn hoá dân tộc đã xuống cấp đến thế nào. Hầu hết những bài trong tập này đều là những bức tranh châm biếm khá thú vị, châm biếm cuộc đời, nhất là từ ngày kinh tế thị trường với mặt phải mặt trái của nó.
Với ngòi bút mạnh bạo, Đỗ Việt Dũng đã phác hoạ khá nhiều mặt trái của xã hội, gây cho chúng ta một vài cái cười hóm hỉnh không độc ác, mà chỉ là mong sao có thể góp một phần sửa chữa được những thói hư, tật xấu cho xã hội sạch và đẹp hơn lên.
Đó là điều tôi vui mừng sau khi đọc tập thơ này và biết ơn anh Đỗ Việt Dũng đã cho tôi đôi ba nụ cười nở ruột nở gan.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,