Gặp những điều “giá như…” trong “Lục bát tầm xuân”
Nguyễn Hưng Hải
Nhìn vào đôi dòng lược thuật tiểu sử, biết chị sinh tại làng Duyên Phúc, thị trấn Hưng Hà của quê lúa Thái Bình là tác giả của 4 tập thơ đã xuất bản: Thơ gửi về nguồn, Đường xanh bóng phượng, Màu tầm xuân, Lục bát tầm xuân; đã từng được giải thưởng văn học của tạp chí Tài hoa trẻ, báo Giáo dục thời đại, từng vào chung khảo cuộc thi Thơ lục bát báo Văn nghệ năm 2003.
Mở trang đầu của Lục bát tầm xuân đọc những lời “tựa” cho tập thơ của nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, thêm một đồng cảm với “nhận định”: “Đọc thơ ánh Tuyết cho người ta cảm nhận như đi trên một đường hẹp. Trên con đường này dễ gây sự tổn thương nếu thiếu ý tứ trong cư xử với cảm xúc thơ. Nhưng đây là con đường, lối cảm xúc thì hẹp mà nền của tình lại vững chắc. Bởi vậy khi đã đồng cảm rồi thì ta có thể qua lại thung thăng, chan hoà được. ánh chiếu thơ chị như ánh hoàng hôn dịu mát và ẩn ức…
“Tò mò” xem cái sự dịu mát và ẩn ức ấy ra sao, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần Lục bát tầm xuân trong một đêm gần như thức trắng. Đọc và suy ngẫm, càng thêm trân trọng, thấu hiểu nỗi đời, tình đời trong thơ chị. Có gì như xót xa, tiếc nuối. Có gì như không phải với người xưa: “Xin anh đừng có tìm em/ cái thời cô Tấm dịu hiền ngày xưa/ Đừng tìm, dù cả trong mơ/ áo em mặc thủa học trò còn đâu?.
Như thế, thêm một nhận định không thừa, chị là con người của tự trọng, của những gì thuộc về văn hoá: “Nghĩ thì bấm đốt ngón tay/ anh đừng thương tháng, nhớ ngày vì em”.
Dù nỗi đời không phải lúc nào cũng êm ái, dịu ngọt nhưng dường như đọc thơ chị, ta bắt gặp một cảm giác nhiều bâng khuâng, tiếc nuối. Hình như chị còn đang đợi ai đó từ xa xôi, từ ở cõi nào: Ngày xuân người hẹn em chờ/ giận mình dùng dắng mãi giờ đến đây/ cực lòng người đợi lắm thay/ duyên kia lỡ, lỡ hội này người ơi!.
Dù chỉ là một thoáng qua, nhưng đọc những bài thơ Ngày tình yêu, Chiều Tô Thị, Ru anh, Khế, Người thứ ba, Duyên em, Cho và nhận… Tôi như lẫn giữa hai bờ hư thực, tỏ và mờ, buồn và vui, ngọt ngào và đắng chát cứ đan cài trong nhau, như dâng hiến, như cự tuyệt, như đến và như đi, như cho và như không. Khó tìm một câu chữ “bạo liệt” nhưng thấp thoáng đằng sau những câu thơ thấm đẫm tình nhân ái, lung linh một vẻ đẹp nhân cách, nhẹ nhàng mà sâu lắng, bâng khuâng mà day dứt. Có lúc hình như CON - NGƯờI - THƠ này cứ chênh vênh éo le giữa được và mất, giữa vừa mới: Phải vì ngày của tình yêu/ nên nhành cây cũng có chiều xanh hơn/ đoá hoa rạng rỡ khác thường/ nụ hôn chẳng giống nụ hôn mọi ngày đã lại: Người thì vốn sẵn đam mê/ ngày tình yêu có lời thề… bỏ quên lớn hơn cả trách cứ đây còn như một “dự báo” như một cảnh tỉnh biết mà đành phải “chấp nhận”. Trạng thái tình cảm này còn lặp lại rất nhiều trong thơ ánh Tuyết. Đó là sự mãnh liệt của một con người còn nhiều khát vọng cái đẹp, dù đôi lúc u uẩn như không giải thích ra được: Nào ngờ cau mất mùa cau/ lúa đau mùa lúa miếng trầu không vôi.
Khát khao hạnh phúc dường như là thông điệp của Lục bát tầm xuân. Vì khát khao ấy mà CON - NGƯờI - THƠ ánh Tuyết đã có lúc đem cả duyên mình ra đánh đổi: Người ta đã quá giang rồi/ để ngơ ngẩn lại những lời thề xưa/ Duyên em lành ngọn gió đưa/ đền anh những nỗi thiệt thua với đời.
Dám chịu thiệt thua, đó cũng là một biểu hiện mỹ cảm văn hoá, thể hiện một cách chân thực như một tuyên ngôn trong Lục bát tầm xuân dù ánh Tuyết không nói ra, con người mực thước này nhiều nữ tính đến độ: Duyên em đổi lấy nụ cười/ Là em nhường… để làm người thứ ba. Thì ra trong cái bể khổ của kiếp người, nỗi đau khổ về tình yêu, đã có lúc làm người ta lớn lên ít nhất là trong những câu thơ như thế. Và như thế, càng quý trọng một nhân cách, một thái độ sống, một quan điểm không mới nhưng nhiều “thánh thiện” của ánh Tuyết về tình yêu, tình đời về hạnh phúc. Có thể có những “ý kiến” cho rằng ánh Tuyết cam chịu, ánh Tuyết “cổ” nhưng xét về văn hoá, và cách ứng xử thì những câu thơ như: Những khi anh nhớ người ta… chỉ mong ngọn gió nhận ra cõi về là một thức tỉnh về nhân cách.
Nếu không phải là con người từng trải, “nếm” đủ những chua cay của số phận, những bạc bẽo của tình yêu, tình đời khó có thể viết được: Cho là thật, nhận là chơi/ Tình như nước chảy bèo trôi chân cầu/ Làm gì còn có kiếp sau/ Mà mong chữa được nỗi đau kiếp này. Tôi thích cái nhẹ nhàng mà sâu lắng của “giá như” trong “giá như”. Đó không hẳn là lời trách cứ mà như trách cứ. Đó không phải là vô tâm mà cũng không hẳn là chủ định. Bởi thế mới nên nông nỗi: Giá như… trời bớt xanh đi/ giá như… gió khẽ thầm thì… khẽ thôi/ Mây đừng trắng nõn mây ơi/ Biển thì đừng có sục sôi sóng gầm. Mong mỏi là thế, nhưng ở đời tránh sao được những “giá như”. Dù chỉ là “giá như” trong mơ mộng, ước muốn: Giá như… có được một ngày/ gặp người ngày trước cầm tay một lần/ để ta trong sáng vô ngần/ để ta nói được một lần… giá như…
Với tâm trạng ấy, nhưng trong bài Nợ ta lại gặp một tâm trạng khác như là trong câu (ấy) có câu (khác), trong ý (này) có ý (ấy): Nợ người một chuyến đò ngang/ nợ chiều một chút nắng vàng dây dưa/ ta còn nợ những ngày xưa/ biết là trang trải bao giờ cho xong.
Chọn thể thơ lục bát là ánh Tuyết đã chọn sự “khó”, cho mình, vì thể thơ truyền thống này, có một đòi hỏi khắt khe đã trở thành nguyên tắc là vần, luật. Hơn nữa lại chủ định công bố một tập thơ lục bát như Lục bát tầm xuân là ánh Tuyết đã tự ý thức rõ ràng một hướng đi, một hướng tìm tòi, một sự chấp nhận, kể cả sự “trắng tay”. Nhưng bằng vào 41 bài thơ lục bát như 41 bông hoa lạ trong Lục bát tầm xuân, dù hương sắc khác nhau nhưng kết lại là một “lẵng hoa” đẹp, thoang thoảng mà bâng khuâng như hương trầm, như giới tính.
Đúng như nhà thơ Đỗ Trọng Khơi từng nhận xét trong lời tựa: Giá như ánh Tuyết mở biên độ đề tài rộng hơn, xoáy sâu hơn vào bản chất của những vấn đề chị mới đưa ra như một gợi mở về nhân tính, và ám ảnh hơn về nhân thế thì không gian, thời gian và kích cỡ của Lục bát tầm xuân sẽ có thêm nhiều trạng thái, nỗi niềm, nhiều trăn trở trước biến động không cùng của đời sống hôm nay. Nhưng không thể bắt chị thêm một lần nữa “giá như…” vì “con - tàu - thơ” không có ga dừng, sẽ còn trùng điệp những “giá như…”
Việt Trì, đêm 1 tháng 3 năm 2005
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Nguyễn Hưng Hải
Nhìn vào đôi dòng lược thuật tiểu sử, biết chị sinh tại làng Duyên Phúc, thị trấn Hưng Hà của quê lúa Thái Bình là tác giả của 4 tập thơ đã xuất bản: Thơ gửi về nguồn, Đường xanh bóng phượng, Màu tầm xuân, Lục bát tầm xuân; đã từng được giải thưởng văn học của tạp chí Tài hoa trẻ, báo Giáo dục thời đại, từng vào chung khảo cuộc thi Thơ lục bát báo Văn nghệ năm 2003.
Mở trang đầu của Lục bát tầm xuân đọc những lời “tựa” cho tập thơ của nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, thêm một đồng cảm với “nhận định”: “Đọc thơ ánh Tuyết cho người ta cảm nhận như đi trên một đường hẹp. Trên con đường này dễ gây sự tổn thương nếu thiếu ý tứ trong cư xử với cảm xúc thơ. Nhưng đây là con đường, lối cảm xúc thì hẹp mà nền của tình lại vững chắc. Bởi vậy khi đã đồng cảm rồi thì ta có thể qua lại thung thăng, chan hoà được. ánh chiếu thơ chị như ánh hoàng hôn dịu mát và ẩn ức…
“Tò mò” xem cái sự dịu mát và ẩn ức ấy ra sao, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần Lục bát tầm xuân trong một đêm gần như thức trắng. Đọc và suy ngẫm, càng thêm trân trọng, thấu hiểu nỗi đời, tình đời trong thơ chị. Có gì như xót xa, tiếc nuối. Có gì như không phải với người xưa: “Xin anh đừng có tìm em/ cái thời cô Tấm dịu hiền ngày xưa/ Đừng tìm, dù cả trong mơ/ áo em mặc thủa học trò còn đâu?.
Như thế, thêm một nhận định không thừa, chị là con người của tự trọng, của những gì thuộc về văn hoá: “Nghĩ thì bấm đốt ngón tay/ anh đừng thương tháng, nhớ ngày vì em”.
Dù nỗi đời không phải lúc nào cũng êm ái, dịu ngọt nhưng dường như đọc thơ chị, ta bắt gặp một cảm giác nhiều bâng khuâng, tiếc nuối. Hình như chị còn đang đợi ai đó từ xa xôi, từ ở cõi nào: Ngày xuân người hẹn em chờ/ giận mình dùng dắng mãi giờ đến đây/ cực lòng người đợi lắm thay/ duyên kia lỡ, lỡ hội này người ơi!.
Dù chỉ là một thoáng qua, nhưng đọc những bài thơ Ngày tình yêu, Chiều Tô Thị, Ru anh, Khế, Người thứ ba, Duyên em, Cho và nhận… Tôi như lẫn giữa hai bờ hư thực, tỏ và mờ, buồn và vui, ngọt ngào và đắng chát cứ đan cài trong nhau, như dâng hiến, như cự tuyệt, như đến và như đi, như cho và như không. Khó tìm một câu chữ “bạo liệt” nhưng thấp thoáng đằng sau những câu thơ thấm đẫm tình nhân ái, lung linh một vẻ đẹp nhân cách, nhẹ nhàng mà sâu lắng, bâng khuâng mà day dứt. Có lúc hình như CON - NGƯờI - THƠ này cứ chênh vênh éo le giữa được và mất, giữa vừa mới: Phải vì ngày của tình yêu/ nên nhành cây cũng có chiều xanh hơn/ đoá hoa rạng rỡ khác thường/ nụ hôn chẳng giống nụ hôn mọi ngày đã lại: Người thì vốn sẵn đam mê/ ngày tình yêu có lời thề… bỏ quên lớn hơn cả trách cứ đây còn như một “dự báo” như một cảnh tỉnh biết mà đành phải “chấp nhận”. Trạng thái tình cảm này còn lặp lại rất nhiều trong thơ ánh Tuyết. Đó là sự mãnh liệt của một con người còn nhiều khát vọng cái đẹp, dù đôi lúc u uẩn như không giải thích ra được: Nào ngờ cau mất mùa cau/ lúa đau mùa lúa miếng trầu không vôi.
Khát khao hạnh phúc dường như là thông điệp của Lục bát tầm xuân. Vì khát khao ấy mà CON - NGƯờI - THƠ ánh Tuyết đã có lúc đem cả duyên mình ra đánh đổi: Người ta đã quá giang rồi/ để ngơ ngẩn lại những lời thề xưa/ Duyên em lành ngọn gió đưa/ đền anh những nỗi thiệt thua với đời.
Dám chịu thiệt thua, đó cũng là một biểu hiện mỹ cảm văn hoá, thể hiện một cách chân thực như một tuyên ngôn trong Lục bát tầm xuân dù ánh Tuyết không nói ra, con người mực thước này nhiều nữ tính đến độ: Duyên em đổi lấy nụ cười/ Là em nhường… để làm người thứ ba. Thì ra trong cái bể khổ của kiếp người, nỗi đau khổ về tình yêu, đã có lúc làm người ta lớn lên ít nhất là trong những câu thơ như thế. Và như thế, càng quý trọng một nhân cách, một thái độ sống, một quan điểm không mới nhưng nhiều “thánh thiện” của ánh Tuyết về tình yêu, tình đời về hạnh phúc. Có thể có những “ý kiến” cho rằng ánh Tuyết cam chịu, ánh Tuyết “cổ” nhưng xét về văn hoá, và cách ứng xử thì những câu thơ như: Những khi anh nhớ người ta… chỉ mong ngọn gió nhận ra cõi về là một thức tỉnh về nhân cách.
Nếu không phải là con người từng trải, “nếm” đủ những chua cay của số phận, những bạc bẽo của tình yêu, tình đời khó có thể viết được: Cho là thật, nhận là chơi/ Tình như nước chảy bèo trôi chân cầu/ Làm gì còn có kiếp sau/ Mà mong chữa được nỗi đau kiếp này. Tôi thích cái nhẹ nhàng mà sâu lắng của “giá như” trong “giá như”. Đó không hẳn là lời trách cứ mà như trách cứ. Đó không phải là vô tâm mà cũng không hẳn là chủ định. Bởi thế mới nên nông nỗi: Giá như… trời bớt xanh đi/ giá như… gió khẽ thầm thì… khẽ thôi/ Mây đừng trắng nõn mây ơi/ Biển thì đừng có sục sôi sóng gầm. Mong mỏi là thế, nhưng ở đời tránh sao được những “giá như”. Dù chỉ là “giá như” trong mơ mộng, ước muốn: Giá như… có được một ngày/ gặp người ngày trước cầm tay một lần/ để ta trong sáng vô ngần/ để ta nói được một lần… giá như…
Với tâm trạng ấy, nhưng trong bài Nợ ta lại gặp một tâm trạng khác như là trong câu (ấy) có câu (khác), trong ý (này) có ý (ấy): Nợ người một chuyến đò ngang/ nợ chiều một chút nắng vàng dây dưa/ ta còn nợ những ngày xưa/ biết là trang trải bao giờ cho xong.
Chọn thể thơ lục bát là ánh Tuyết đã chọn sự “khó”, cho mình, vì thể thơ truyền thống này, có một đòi hỏi khắt khe đã trở thành nguyên tắc là vần, luật. Hơn nữa lại chủ định công bố một tập thơ lục bát như Lục bát tầm xuân là ánh Tuyết đã tự ý thức rõ ràng một hướng đi, một hướng tìm tòi, một sự chấp nhận, kể cả sự “trắng tay”. Nhưng bằng vào 41 bài thơ lục bát như 41 bông hoa lạ trong Lục bát tầm xuân, dù hương sắc khác nhau nhưng kết lại là một “lẵng hoa” đẹp, thoang thoảng mà bâng khuâng như hương trầm, như giới tính.
Đúng như nhà thơ Đỗ Trọng Khơi từng nhận xét trong lời tựa: Giá như ánh Tuyết mở biên độ đề tài rộng hơn, xoáy sâu hơn vào bản chất của những vấn đề chị mới đưa ra như một gợi mở về nhân tính, và ám ảnh hơn về nhân thế thì không gian, thời gian và kích cỡ của Lục bát tầm xuân sẽ có thêm nhiều trạng thái, nỗi niềm, nhiều trăn trở trước biến động không cùng của đời sống hôm nay. Nhưng không thể bắt chị thêm một lần nữa “giá như…” vì “con - tàu - thơ” không có ga dừng, sẽ còn trùng điệp những “giá như…”
Việt Trì, đêm 1 tháng 3 năm 2005
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,