Diễn Đàn » Y khoa Thường Thức

Thân thể người ta có 3.....

58 trả lời, 24.621 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-08 03:03:24HongYen>
Thân thể người ta có 3 phần: đầu, mình, và tay chân....

Thuộc nằm lòng từ tiểu học.

Dần dần biết Bộ máy hô hấp, Bộ máy tuần hoàn, và máu đỏ máu đen. Chưa học về sinh lý nam nữ vì tại bị....

Xin đi vào vấn đề và mong quý bạn góp một tay; để chúng ta cùng học hỏi nhất là trong mục y học. Thân tình

Sau đây các phần của cơ thể:

1. Hệ Da: The Intergumentary System
2. Hệ Xương: The Skeletal System
3. Bắp Thịt: The Muscular System
4. Thần Kinh: The Nervous System
5. Hệ Nội Tiết: The Endocrine System
6. Tim Mạch: The Cardiovascular System
7. Hệ Miễn Nhiễm: The Lymphatic System
8. Hệ Hô Hấp: The Respiratory System
9. Hệ Tiêu Hóa: The Digestive System
10. Hệ Tiết Niệu: The Urinary System
11. Hệ Sinh Lý Nam: The Male Reproduction System
12. Hệ Sinh Lý Nữ: The Female Reproduction System

Chúc vui với hình ảnh cơ thể


Đăng nhập để trả lời
0
1. Da (!) : The Intergumentary System


1. Ngoài Da:

Gồm có:
* Toàn da
* Tóc
* Tuyến mồ hôi
* Móng tay và chân

Nhiệm vụ:
*Baỏ vệ, chống lại môi trường độc haị xung quanh
* Giúp điều hóa nhiệt độ cơ thể
* Cung cấp tiếp xúc nhạy bén


http://www.besthealth.com/besthealth/bodyguide/reftext/images/8912.jpg
Đăng nhập để trả lời
0
2. Xương: The Skeletal System


2. Xương: The Skeletal System

Gồm có:
* Xương
* Xương xụn
* Dây chằng
* Tuỷ

Nhiệm vụ:
* Cung cấp và bảo vệ mô tế bào
* Cất giữ calcium và những khoáng chất
* Hình thành tế baò máu

Đăng nhập để trả lời
0
 
2. Xương: The Skeletal System

Post #: 3

 
Câu Chuyện Thầy Lang: Calcium: Xi Măng, Cốt Sắt của Bộ Xương
Việt Báo Thứ Sáu, 12/15/2006, 12:02:00 AM
BS NGUYỄN Ý ĐỨC
 
Calci là khoáng chất có nhiều nhất trong cơ thể, với 99% tập trung ở xương và răng. Số lượng còn lại, tuy chỉ là 1%, hiện diện trong chất lỏng và  mô tế bào mềm, nhưng cũng có nhiều nhiệm vụ rất quan trọng.
 
Lượng calci trong cơ thể đàn ông vào khoảng 900-1200 gram, đàn bà có ít hơn, khoảng 800-900 gram, dưới ba dạng hợp chất: citrat, phosphat và carbonat.
 
Trong chín tháng mười ngày mang thai, người mẹ cung cấp cho con khoảng 30 gr calci. Khi cho con bú sữa mình, mỗi ngày mẹ chuyển khoảng 250 mg calci vào sữa.
 
Công dụng của calci
 
Nhiệm vụ chính yếu của calci là phối hợp với sinh tố D để cấu tạo bộ xương và hàm răng vững chắc.
 
Ngoài ra calci có các công dụng sau đây:
*Calci (trong máu) giúp duy trì huyết áp và nhịp tim đập bình thường;
*Calci có vai trò quan trọng trong sự đông máu, ngăn ngừa băng huyết khi mạch máu bị tổn thương;
*Điều hòa sự co bóp của bắp thịt, đặc biệt là tế bào tim;
*Giúp hấp thụ sinh tố B 12 trong ruột;
*Hỗ trợ sự phân phát, thu nhận và dẫn truyền tín hiệu thần kinh;
*Calci cũng cần trong việc sản xuất một số kích thích tố như Insulin.
Gần đây, có ý kiến cho rằng calcium có khả năng bảo vệ con người với nguy cơ lên cơn đau tim (heart attack), ung thư ruột già, hạ cholesterol, giảm khó chịu trước khi có kinh nguyệt...
Sự hấp thụ calci
Sự hấp thụ calci tùy thuộc vào nhu cầu của cơ thể, loại thực phẩm và số lượng calci ăn vào.
 
a-Nơi hấp thụ
Calci dễ hòa tan trong dung dịch acid nên được hấp thụ nhiều ở tá tràng, phần đầu của ruột non. Đây là nơi thực phẩm vừa mới được tiêu hóa ở bao tử chuyển xuống, cho nên có độ acid cao.
Thường thường, chỉ từ 20 tới 30% calci trong thực phẩm được hấp thụ ở ruột rồi chuyển sang máu. Calci không hấp thụ sẽ đào thải ra khỏi cơ thể theo phân, nước tiểu và mồ hôi.
 b-Các yếu tố làm tăng hấp thụ calci
-Môi trường acid: Hấp thụ khác nhau tùy theo dạng calci. Dạng carbonate cần môi trường chua, nên khi dùng thêm vào bữa ăn thì dễ hấp thụ vì bao tử có nhiều acid. Dạng citrate dễ hòa tan, không cần chất chua nên dùng lúc đói cũng được;
-Sự vận động cơ thể cũng làm tăng mức hấp thụ calci;
-Khi có đầy đủ sinh tố D do thực phẩm cung cấp hoặc dưới tác dụng của tia nắng mặt trời lên da. Sinh tố D tạo ra một chất đạm để thu hút calci và chuyển qua thành của ruột non;
-Đường sữa lactose;
-Khẩu phần có nhiều chất đạm.
 
c- Các yếu tố làm giảm hấp thụ calci:
-Khi uống nhiều rượu, thuốc lá, cà phê, nước trà (tannin trong trà làm giảm hấp thụ calci ở ruột)
-Không có đủ acid trong dịch vị bao tử.
-Thiếu sinh tố D.
-Ăn nhiều chất béo, vì calci sẽ bám vào chất béo không hòa tan và theo phân ra ngoài.
-Không vận động cơ thể.
-Trạng thái tâm lý căng thẳng.
-Thực phẩm có nhiều chất xơ.
-Vài dược phẩm như steroid; thuốc chữa các bệnh hen suyễn, viêm xương khớp, vẩy nến; thuốc nhuận tràng.
-Các bệnh tiểu đường, cường tuyến giáp.
-Giảm estrogen khi phụ nữ ở tuổi mãn kinh;
Thường thường, đàn ông hấp thụ calci dễ dàng hơn đàn bà; phụ nữ mãn kinh hấp thụ ít hơn thiếu nữ, vì có ít estrogen.
 
 d-Calci trong máu.
Trong máu, calci luôn luôn được giữ ở mức bình thường (từ 8.5- 10.8 mg/dl) nhờ nguồn cung cấp dự trữ ở xương.
 
Khi mức calci trong máu xuống thấp, thì xương sẽ chuyển sang một số calci đủ để cân bằng. Khi calci trong máu quá cao thì xương và ruột hấp thụ số calci dư thừa. Phần calci không hấp thụ sẽ được bài tiết qua nước tiểu.
 
Điều hòa sự hấp thụ này là một diễn biến phức tạp, cần sự hiện diện của sinh tố D, kích thích tố parathormone của tuyến cận giáp (parathyroid) và kích thích tố calcitonin của tuyến giáp (thyroid).
Khi calci trong máu xuống thấp, tuyến cận giáp tiết ra parathormone để nâng cao sự hấp thụ calci, rút một ít calci ở xương và làm cho thận giảm bài tiết calci.
 
Khi mức calci trong máu lên cao thì calcitonin cũng tăng, để chặn calci thoát ra từ xương, đồng thời tuyến cận giáp cũng giảm lượng parathormone.
 
Mỗi ngày có khoảng 700 mg calci ra vào xương.
 
Nguồn cung cấp
 
Hầu hết calci trong cơ thể là do thực phẩm cung cấp.
Calci có nhiều trong sữa, sữa chua, pho mát, cá, tôm, trứng, đậu nành, rau có lá xanh đậm, hạt ngũ cốc được tăng cường calci, nước uống. Cá sardine, cá hồi đóng hộp ăn cả xương là nguồn calci rất phong phú.
 
Một ly sữa, sữa chua hay sữa đậu nành có chừng 300mg calci. Người lớn uống hai ly sữa (480 ml) là có đủ lượng calci cần thiết; trẻ em uống ba ly, tuổi đang lớn nhanh uống 4 ly.
Để sữa hấp dẫn dễ uống, có thể pha thêm một chút chocolate, vanilla, vài thìa nước cam, nước dâu.
Sữa cừu có nhiều calci hơn sữa bò.
Calci trong sữa dễ được ruột hấp thụ vì có sinh tố D.
Thực phẩm có nhiều calci Serving size Calcium per serving (mg)*
Sữa và phó sản  
Sữa 1 ly: 290-300
Pho mát Thụy sĩ 1 một miếng: 250-270
Yogurt 1 ly: 240-400
Phó mat Hoa Kỳ 1 oz một miếng: 165-200
Kem 1/2 ly: 90-100
Cottage cheese 1/2 ly: 80-100
Sữa bột 1 thìa cà phê: 50
 
Thực phẩm khác:  
Cá Sardines  ăn cả xương 3 oz: 370
Cá hộp salmon ăn cả xương 3 oz: 170-210
Broccoli 1 cup: 160-180
Đậu phụ 4 oz: 145-155
Rau Turnip xanh 1/2 cup, đã nấu chín: 100-125
Rau cải xoăn 1/2 cup, đã nấu chín: 90-100
Bánh bột ngô 2 1/2-in. một miếng: 80-90
Trứng 1 cỡ trung bình:  55
 
Thực phẩm tăng cường calci như bánh, hạt ngũ cốc, nước trái cây 1 phần  tùy theo thực phẩm.
 
Dùng calci:
Khi dùng thêm calci, ta nên chia ra làm nhiều lần trong ngày, uống vào các bữa ăn để tránh tác dụng không tốt cho bao tử và dễ hấp thụ. Cần tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi dùng.
Calci bổ sung thường có dưới hai dạng hợp chất là carbonate (Tum, Caltrate) và Citrate (Cicatral, Solgar).
 
Các dạng khác như calci phosphat, lactat, gluconat chứa lượng calci thấp nên phải dùng với phân lượng cao hơn do đó rất bất tiện.
 
Với tuổi già, cơ thể mất dần khả năng hấp thụ calci từ thực phẩm, cho nên người cao tuổi dễ mắc bệnh loãng xương (osteoporosis) và mềm xương (osteomalacia). Đặc biệt, các cụ bà thường bị bệnh này vì sau khi tắt kinh, kích thích tố nữ estrogene giảm khiến cho khả năng hấp thụ calci giảm theo.
 
Nhiều nghiên cứu cho thấy những nguy cơ về gãy xương chậu có thể giảm từ 50 đến 60 % nếu cơ thể hấp thụ đầy đủ chất calci. Ngoài ra, khi calci trong cơ thể quá ít thì con người dễ bị nguy cơ cao huyết áp.
Cũng nên ghi nhớ là chỉ dùng nhiều calci bổ sung chưa đủ để ngừa bệnh loãng xương, mà còn cần các yếu tố khác như lượng estrogen đầy đủ, vận động cơ thể đều đặn, hạn chế uống rượu và hút thuốc lá.
 
Dùng quá lâu và quá nhiều calci bổ sung có thể đưa đến sạn thận, rối loạn chức năng của thận cũng như gây ra các triệu chứng như ăn không ngon, buồn nôn, suy nhược, mệt mỏi... Nếu chỉ dùng calci có trong thực phẩm thì ít khi gặp phải các khó khăn nàỵ.
Calci ít bị nhiệt phân hủy nên các phương thức khử trùng sữa không làm mất khoáng này. Tuy nhiên khi hâm sữa nóng, calci sẽ lắng xuống đáy và cần khuấy đều trước khi uống.
 
Để tránh thất thoát calci, khi nấu rau nên cho ít nước và cắt rau to bản. Nếu phải gọt vỏ thì không nên gọt quá sâu vì calci có nhiều ở phần vỏ ngoài.
 
Nhãn hiệu thực phẩm đều ghi số lượng calci trong món ăn và thường ghi số lượng theo % căn cứ theo nhu cầu 1000mg calci của người trưởng thành. Thí dụ trên hộp nước trái cây, số lượng calci ghi 30%, có nghĩa là trong hộp đó có 300mg calci.
 
Nhu cầu
Trong cơ thể, nhu cầu calcium cao nhất từ 9 tới 18 tuổi là thời gian xương tăng trưởng mạnh.
 
Nhu cầu mỗi ngày:
-thiếu niên trong thời kỳ tăng trưởng: từ 800–1500mg.
-người trưởng thành:1000mg.
-phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú sữa mẹ: 1200-1500mg
-người cao tuổi cần từ 1200-1500mg.
Điều đáng ngạc nhiên là, chỉ vì thiếu hiểu biết và trong điều kiện dư thừa thực phẩm, mà nhiều người, nhất là phụ nữ, vẫn không cung cấp đủ calci cho cơ thể.
 
Thiếu calcium tạo ra những triệu chứng như sau: bắp thịt co rút (vọp bẻ), mất ngủ, tính tình nóng nẩy, đau nhức khớp xương, phong khớp, răng hư, huyết áp lên cao...
 
Thường thường, ruột non điều hòa sự hấp thụ calci tùy theo nhu cầu của cơ thể, nên không có hiện tượng thừa calci. Tuy nhiên, đôi khi cơ chế này bị rối loạn, calci trong máu có thể lên quá cao, dẫn tới sạn thận hoặc xương quá đặc (Osteopetrosis), nhất là ở trẻ em ăn nhiều thực phẩm được bổ sung sinh tố D và calci.
 
Một vài thắc mắc:
 
1-Tôi nghe nói calci thường hay gây ra táo bón, xin cho biết có đúng không?
 
Đây là than phiền của nhiều người dùng thêm calci, nhưng không phải tất cả các loại calci đều gây táo bón. Calci citrate được coi như ít gây táo bón vì được tiêu hóa dễ dàng, nhưng giá tiền hơi cao.
 
Để tránh táo bón, nên uống nhiều nước và ăn nhiều thực phẩm có chất xơ, chia calci ra làm hai ba liều nhỏ, uống nhiều lần trong ngày.
 
2-Có người nói calci từ rau dễ hấp thụ hơn từ sữa, có đúng không?
 
Calci từ sữa và các sản phẩm của sữa như pho mát, kem, sữa chua... được hấp thụ vào khoảng 32%. Sự hấp thụ calci từ rau thay đổi tùy loại: với rau spinach là 5%, với rau broccoli có thể lên tới 50%.
 
Tuy nhiên, vì calcium trong rau dễ bị biến hóa khi nấu nên số calci còn lại rất ít. Ta phải tiêu tiêu thụ ba ly rau mới có cùng số lượng calci trong một ly sữa.
 
3-Trẻ em hay uống nước ngọt, như vậy có bị thiếu calci không?
Đây là điều mà các nhà y học và gia đình băn khoăn, vì khi các em chỉ uống nước ngọt mà không uống sữa, thì các em sẽ thiếu calci. Vì thế, tại các trường học, sữa đều được bao gồm trong phần ăn trưa và sữa cũng được bán trong các máy tự động.
 
4-Dùng calci bổ sung vào lúc nào tốt?
 
Uống khi nào thuận tiện cho mình là tốt hơn cả, vì sẽ không bị quên. Tuy nhiên, cơ thể hấp thụ calci hữu hiệu hơn với mức độ dưới 500mg. Do đó, nên chia số lượng calci định uống làm nhiều lần trong ngày. Thí dụ như nếu ta đã ăn một ly sữa chua, uống một ly nước cam vào buổi sáng (có khoảng 500mg calci), thì nên uống viên calci trễ hơn.
 
5-Trên thị trường có quá nhiều loại calci, tôi biết lựa loại nào?
Đúng vậy, hiện nay có đến cả vài chục loại với tên hiệu và thành phần khác nhau. Khi mua, nên lựa loại do nhà sản xuất đứng đắn bào chế, loại có liều lượng mà mình cần và loại an toàn khi uống.
Khoáng calci phổ biến nhất là loại calci carbonate và calci citrate.
Calci carbonate cần được uống chung với thực phẩm để tránh khó chịu dạ dày. Loại này có nồng độ calci cao và giá tiền tương đối cũng rẻ. Có loại viên từ 500mg tới 600mg; viên kẹo ngậm 500mg, viên nhai như Tums hoặc Rolaids từ 200 tới 700mg, và calci bột.
Calci citrate có thể uống khi chưa ăn. Nồng độ calci trong viên thấp hơn, khoảng 300mg và viên thuốc thường to hơn nên khó nuốt.
 
Cũng nên nhớ là các viên đa vitamin có lượng calci rất thấp.
6-Khi uống calci bổ sung, tôi có thể tiếp tục uống các loại thuốc trị bệnh không?
 
Thường thường thì vẫn có thể uống chung calci với thuốc khác được. Tuy nhiên, calci có thể tương tác với vài loại dược phẩm, như là kháng sinh tetracycline, thuốc trị bệnh tuyến giáp... cho nên phải uống cách xa nhau.
 
Do đó, xin đề nghị là hỏi ý kiến bác sĩ mỗi khi uống thêm thuốc trị bệnh.
Kết luận
* Đánh rằng calci là xi măng cốt sắt của bộ xương, nhưng chưa đủ để làm xương vững chắc suốt đời người.
 
Hiểm họa loãng xương, xốp xương, mềm xương, gẫy xương... vẫn rình rập, nếu không vận động cơ thể, nếu vẫn tiếp tục phì phèo thuốc lá điếu này nối điếu khác, vẫn bù khú “dô dô” chai rượu này, lon bia kia với bạn bè....
 
Thành ra, nếp sống lành mạnh cũng rất cần thiết cho bộ xương, hàm răng vậy.
 
BS NGUYỄN Ý ĐỨC 
Texas-Hoa Kỳ
 
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=117&nid=99406
Đăng nhập để trả lời
0
Post #: 24
12. Hệ Sinh Lý Nữ
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=47914&mpage=2


Trinh tiết dưới nhãn quan y học
Thứ tư, 2/5/2007, 07:00 GMT+7
 
Màng trinh không có chức năng gì về mặt y học. Do đó, chỉ có khoảng 15 loài động vật được thiên nhiên "ban cho" bộ phận này.
 
Không biết tự bao giờ, nhân loại mắc một thói quen gán ghép cho mỗi bộ phận của cơ thể những chức năng khá kỳ cục không hề được mô tả trong các sách giáo khoa y học. Điều đó cũng không là ngoại lệ với cái bộ phận được chú ý quá nhiều so với chức năng của nó: Màng trinh.
 
Một cách hình tượng, nếu ta cụp đầu ngón trỏ và ngón cái vào nhau để tượng trưng cho ngõ vào của âm đạo, thì màng trinh là một lớp mô sợi chắn ngang giữa hai ngón tay. Dày hay mỏng, đàn hồi hay không đàn hồi, có nhiều mạch máu hay không... là những dị biệt về cơ thể học thường thấy, và là đề tài tranh cãi tốn khá nhiều giấy mực của nhiều giới chuyên môn: văn hóa, đạo đức, tôn giáo...
 
Về phương diện sinh học, màng trinh không có chức năng gì cả. Thế nên, trong lịch sử tiến hóa của các loài, chỉ có khoảng 15 loài động vật được trời phú cho cái màng cỏn con, vốn được loài người rắc rối xưng tụng bằng đủ thứ ngôn từ mỹ miều như “người lính canh cửa thần Vệ nữ”, “người bảo vệ tiết hạnh”, “cái ngàn vàng”, “cái quý nhất của đời người con gái”...
 
Những ai đã đọc tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh ắt hẳn khó quên cảnh tượng kỳ cục: Chú rể trải một tấm vải trắng lên chiếc giường tân hôn để xem vết máu chảy ra sau lần ân ái đầu tiên với cô Loan. Hành động này đã làm cô Loan nhếch mép cười khinh bỉ, và cũng làm cho giới y khoa không tránh khỏi nở nụ cười tủm tỉm.
 
Thật vậy, vì tính chất co giãn của màng trinh, vẫn có trường hợp người đàn bà có thể giao hợp 20 lần một ngày, sinh đẻ cả một lố con, mà “lá cờ đức hạnh” ấy vẫn phấp phới đầy kiêu hãnh. Chốn lầu xanh cũng không thiếu những “chiến binh” có màng trinh co giãn, có thể bán đời con gái nhiều lần trong một đêm với giá cao ngất ngưởng. Chỉ cần 30 phút xoa bóp và ngâm nước nóng, cái màng trinh vừa được mua đi bán lại đó có thể trở về vị trí cũ và sẵn sàng cho một thương vụ tiếp theo.
 
Thường thì sẽ có chảy máu khi màng trinh bị rách, nhưng không phải luôn luôn. Sách y học viết rằng chỉ có 43% phụ nữ có chảy máu sau lần giao hợp đầu tiên, nghĩa là có 57% phải chịu tiếng oan uổng.
 
Một màng trinh rách nát không có nghĩa là “con ong đã tỏ đường đi lối về”. Vì tính chất mỏng mảnh của nó, màng trinh có thể tiêu tùng, mặc dù hiếm hoi, do một số tai nạn như vận động mạnh, tuột sào, trèo cây. Thói quen thủ dâm cũng có thể làm hy sinh “cái ngàn vàng”.
 
Dấu hiệu tin cậy duy nhất của một âm đạo còn trinh là màng trinh không có lỗ thủng tự nhiên để cho máu kinh nguyệt thoát ra. Rất ít ai thấy được cái này, ngoại trừ bác sĩ phụ khoa khi làm thủ thuật khai thông màng trinh.
Vậy thì cái trinh có thật “đáng giá ngàn vàng”? Chắc chắn là không, theo nghĩa đen về mặt kinh tế. Các thẩm mỹ viện chuyên nghiệp đều có thể làm thủ thuật tái tạo hay ghép màng trinh (hymenography) bằng các cân cơ của chính đương sự, với chi phí không đến “ngàn vàng”.
 
Và việc kiểm tra chất lượng xem màng trinh là đồ “gin” hay đồ dỏm thì chỉ có nhà mô học biết được, sau khi đã săm soi hồi lâu trên kính hiển vi. 
(Theo Người Lao Động)
 
http://www.vnexpress.net/Vietnam/Doi-song/2007/05/3B9F5891/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 06:09:44HongYen>
3. Bắp Thịt: The Muscular System


3. Bắp Thịt:

Gồm có:
* Bắp thịt
* Màng

Nhiệm vụ:
* Cử động
* Bảo vệ và cung cấp những mô khác
* Cung cấp và giữ thân nhiệt



Đăng nhập để trả lời
0
3. Bắp Thịt:


Thứ Tư, 06/04/2005, 16:15 (GMT+7)

Khám phá cơ chế hoạt động của lực cơ


TTO - Stephan Lange tại Đại học Hoàng gia, London, cùng các đồng nghiệp Âu châu cho biết đã khám phá các tín hiệu hóa sinh kiểm soát sức mạnh của cơ. Việc biết cơ chế hóa sinh này giúp các nhà khoa học một ngày kia có thể chữa các chứng teo cơ, loạn dưỡng cơ và yếu tim.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các protein gọi là titin hoặc connectin với đốt cơ (sarcomere – đơn vị sớ cơ nhỏ nhất). Đốt cơ họat động để giúp các cơ phản ứng lại trọng lực và sức ép. Các thí nghiệm nơi tế bào bệnh nhân và chuột cho thấy các protein titin nắm vai trò quan trọng trong việc cảm nhận và gửi các tín hiệu từ các đốt cơ tới các nhân của tế bào. Đến lượt các nhân ra lệnh tái tạo và phá hủy các protein cơ nhằm điều hòa lực của cơ.

Các nghiên cứu sau đó cho thấy cơ chế phản hồi rất quan trọng trong việc xử lý các vấn đề cột sống và suy tim, nhóm nghiên cứu kết luận như thế trên tạp chí Khoa Học.

Q.HƯƠNG - CBC
http://www2.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=73379&ChannelID=17
Đăng nhập để trả lời
0
8. Hệ Hô Hấp: The Respiratory System


Nghe hô hấp là liên tưởng đến.....

Gồm có:
*
*
*
.....
Nhiệm vụ:
*
*
*
.....




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 06:37:24HongYen>
Hệ Hô Hấp là liên tưởng đến.....


Gồm có:

* Lổ mũi
* Xoang mũi
* Yết hầu
* Khí quản
* Phế quản
* Phế hay Phổi
* Phế nang

Nhiệm vụ:

* Đưa không khí vào phế nang và đẩy ra. (Hít vào thở ra)
* Cung cấp dưỡng khí vào mạch máu
* Thải thán khí từ mạch máu
* Sản sanh âm thanh
Đăng nhập để trả lời
0
Post #:13
* Cung cấp dưỡng khí vào mạch máu


Khám phá một loại gien mới nơi con người

03 March 2006


Một khoa học gia Miến Điện giúp khám phá ra một loại gien mới nơi con người đóng góp vào việc sản xuất hemoglobin.

Bác sĩ Barry Paw, một thành viên trong đoàn khảo cứu tại một trường Y Khoa Hoa Kỳ, nói rằng đoàn khảo cứu này đã tìm thấy cách mà gien này chuyển tải chất sắt sang các hồng huyết cầu để tạo thành hemoglobin.

Hemoglobin mang khí oxy từ phổi tới các nơi khác của cơ thể, trong đó có các cơ bắp.

Bác sĩ Paw nói rằng hiện nay các nhà khảo cứu hy vọng phát hiện những thay đổi trong gien gây ra các chứng bệnh trong đó có thiếu chất sắt hoặc dư chất sắt.

Các nhà khảo cứu này thuộc Bệnh Viện Brigham and Women của Viện Đại Học Harvard tại tiểu bang Massachusetts Hoa Kỳ. Khám phá của đoàn khảo cứu này được đăng trong tạp chí “Nature.”

http://www.voanews.com/vietnamese/2006-03-03-voa28.cfm
Đăng nhập để trả lời
0
Giai đoạn rụng trứng là gì?

10:20:18, 26/05/2006
BS Bạch Long


Minh họa cơ quan sinh dục nữ


Hỏi: Tôi năm nay 28 tuổi, đã lập gia đình cách đây một năm, hiện nay vẫn chưa có con. Hai tháng gần đây, tôi có đi siêu âm để xác định ngày trứng rụng nhưng tôi vẫn chưa hiểu rõ lắm về kỹ thuật này. Xin được hỏi: Nang noãn có đường kính khoảng bao nhiêu mm thì kết luận là đang ở giai đoạn trứng rụng? Giai đoạn trứng rụng nghĩa là gì? Là trứng đã rụng, hay chuẩn bị rụng? Trứng sẽ rụng trong khoảng từ ngày nào trong chu kỳ kinh? Siêu âm để xác định ngày rụng trứng ở đâu tốt nhất? (Thanh Thao - Q.10, TP.HCM)


Đáp: Tuyến sinh dục nữ gồm có 2 buồng trứng ở 2 bên,kích thước trung bình 2,5x 3,4 cm. Trong tuổi hoạt động sinh dục tức là từ tuổi dậy thì đến khi mãn kinh, hàng tháng có một nang noãn chín. Thông thường khi nang noãn này lớn từ 16-26mm thì sẽ phóng ra một noãn còn gọi là hiện tượng rụng trứng. Noãn là một tế bào to nhất trong cơ thể, bao gồm nguyên sinh chất, nhân, màng ngoài, khi đã chín noãn có kích thước nhỏ hơn hạt kê, hình cầu, màu vàng nhạt. Lúc này nang noãn (nang Graaf) căng phồng, vỡ ra và phóng noãn vào một vòi loa đã đón sẵn. Khái niêm rụng trứng thường để chỉ giai đoạn phóng noãn. Ở giai đoạn này cơ thể và cơ quan sinh dục có nhiều thay đổi như thân nhiệt tăng, muốn được gần gũi với chồng hơn đồng thời dịch tiết ra ở âm đạo nhiều hơn, nhu cầu tình dục cao hơn và trứng đã sẵn sàng tiếp nhận tinh trùng để thụ thai.

Chu kì kinh nguyệt nếu đều thì thông thường hiện tượng rụng rụng trứng sẽ diễn ra vào ngày thứ 14 đối với chu kì kinh 28 ngày và ngày thứ 15 đối với chu kì kinh 30 ngày. Tuy nhiên trứng có thể rụng bất kì ngày nào trong chu kì kinh nguyệt do hưng phấn đột xuất quá mức khích thích gây ra hiện tượng rụng trứng bất thường.

Bạn có thể đi siêu âm để canh noãn với mục đích làm tăng hiệu suất có thai khi giao hợp. Xung quanh ngày rụng trứng thì tinh trùng và trứng dễ gặp nhau hơn với điều kiện chất lượng của trứng và tinh trùng đảm bảo, cũng như sự toàn vẹn của cơ quan sinh sản như không bị viêm nhiễm gây tắc vòi trứng, nội mạc tử cung đủ dày để trứng làm tổ, v.v.... Xét nghiệm này có thể làm ở bất cứ BV phụ sản nào ở TP.HCM khi có chỉ định của BS chuyên khoa.

BS Bạch Long

http://www.thanhnien.com.vn/Suckhoe/2006/5/27/149957.tno


Đăng nhập để trả lời
0

Post #: 24
12. Hệ Sinh Lý Nữ
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=47914&mpage=2

 
Chăm sóc vùng kín
 
Thứ Ba, 21/11/2006, 11:37
Sản phẩm Sarbec Laboratories (Pháp)
 
Vùng kín phụ nữ là nơi nhạy cảm hơn bất kỳ nơi nào khác trên cơ thể phụ nữ và cũng là nơi dễ bị nhiễm bệnh nhất. Các nghiên cứu tại Pháp cho thấy có đến 75% phụ nữ đã từng bị ngứa hoặc viêm nhiễm vùng kín trong đời.
 
Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến các bệnh vùng kín, hai trong số nguyên nhân quan trọng là mang thai, và stress. Chúng dẫn đến mất cân bằng về độ pH trong vùng kín, gây ra chứng khô âm đạo, tạo thành môi trường dễ nhiễm khuẩn và viêm tiết liệu.
Bình thường, độ pH trong âm đạo dao động 3,8-4,2. Vì vậy, các loại dung dịch vệ sinh phụ nữ trên thị trường đã được điều chế phù hợp với môi trường ấy. Các dung dịch này không gây khô, rát, không làm thay đổi độ pH, và không làm chết vi khuẩn thường trú có lợi như lactobacillus (doderlein). 
Các loại dung dịch này có thể được tạm chia thành 2 loại, thuốc rửa dùng để hỗ trợ trong điều trị viêm nhiễm âm hộ, âm đạo, và loại thứ hai dung dịch vệ sinh hàng ngày và phòng chống các bệnh viêm nhiễm cúng như làm thay đổi môi trường pH âm đạo.
Với các loại sản phẩm thuốc rửa, tùy loại viêm nhiễm sẽ có thuốc rửa phụ khoa thích hợp. Chẳng hạn viêm do nấm, người bệnh nên dùng loại có tính pH kiềm như Phytogyno, Bicarso. Viêm nhiễm do trichomonas, bác sĩ sẽ chỉ định dùng loại có tính pH a-xít hoặc có metronidazle như Lactacid, Metrogyl.P, Gynoformine...
Với các loại sản phẩm dung dịch vệ sinh hàng ngày có Free Care (Johnson & Johnson) và sản phẩm nhập khẩu Corine de Farme  của hãng Sarbec Laboratories (Pháp). 
Sarbec có 3 sản phẩm chuyên biệt đáp ứng các nhu cầu khác nhau: sản phẩm bảo vệ nhẹ nhàng hàng ngày (dùng cho da thường), sản phẩm cân bằng pH, đặc chế cho phụ nữ mang thai, sau khi sinh con, hoặc thường xuyên bị stress dẫn đến khô rát vùng kín, và sản phẩm dùng khi bị ngứa. 
Đặc điểm nổi bật của các sản phẩm Sarbec Laboratories (Pháp) là năm “không”: không alcohol, không màu, không hương liệu, không xà phòng, và được chứng minh lâm sàng dược không gây kích ứng.
Khi sử dụng các loại thuốc rửa phụ khoa, nếu thấy vùng kín bị nóng rát, đỏ bất thường và khó chịu, bạn nên ngưng sử dụng ngày và đến bác sĩ. Có thể bạn đã bị dị ứng với một thành phần nào đó trong thuốc rửa. Với dung dịch vệ sinh, bạn có thể dùng hàng ngày tương đối thoải mái hơn, nhưng cũng không nên lạm dụng.
Các sản phẩm dung dịch vệ sinh có thể mua rộng rãi tại các siêu thị và shop mỹ phẩm.  Cho dòng sản phẩm Sarbec, xin liên hệ nhà phân phối: SunStar (VN) 04-2511 548; [email=sunstar@sunstarvn.com]sunstar@sunstarvn.com[/email]
 
PV
http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=67358&ChannelID=9
 
Đăng nhập để trả lời
0
4. Thần Kinh: The Nervous System


4. Thần Kinh:

Gồm có:
* Óc
* Tuỳ xống
* Thần kinh ngoaị vi
* Tuyến càm giác

Nhiệm vụ:
* Đáp ứng lập tức những va chạm
* Hổ trợ sinh hoạt những hệ khác
* Cung cấp và giải mã nhũng thông tin va chạm



Đăng nhập để trả lời
0
Post #: 5
 
Post #: 5
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=47914&mpage=1
 
Mắt người
 
Mắt ngườimắt của con người. Cặp mắt là một trong năm giác quan quan trọng, giúp con người quan sát và kiểm soát môi trường chung quanh. Con người có khả năng dùng mắt để liên hệ, trao đổi thông tin với nhau thay lời nói. Do đó trong văn học, mắt có khi được gọi là cửa sổ tâm hồn.






Mục lục[giấu][/align]
    1 Mô tả cơ thể học
    2 Vật lý quang học thị giác
    3 Hệ thống thần kinh thị giác

    4 Các biểu hiện ở mắt trong chẩn đoán lâm sàng
    5 Các bệnh về mắt
    6 Chẩn học bằng Mống mắt
    7 Xem thêm
    8 Con mắt trong văn hóa xã hội
    9 Chú thích
    10 Liên kết ngoài

    //



     Mô tả cơ thể học



    [/align][/align][/align][/align]Mắt người nằm trong hai lỗ hốc hai bên sống mũi, trên có gò lông màytrán, dưới giáp xương má. Màng mạc bọc xương của hốc mắt nối tiếp bên sau với màng cứng của não, bọc theo dai dây thần kinh thị giác. Bên ngoài có hai mí mắt khi nhắm lại che kín hốc mắt. Mí trên có lông mi dài cong, lông mi của mí dưới ít hơn và ngắn hơn. Bên trong hốc mắt có các tuyến nước mắt, các bắp thịt di chuyển mắt, trong cùng là các mô mỡ chêm đệm không cho mắt bị kéo vào phía sau bởi các bắp thịt.
     
    Tròng mắt là một hình cầu, lớp củng mạc phía ngoài, màu trắng đục (tròng trắng), phía trước bọc bởi một lớp trong gọi là kết mạc. Giác mạc nối tiếp củng mạc lồi ra phía trước, trong suốt để lộ phía trong cầu mắt, tạo thành tròng đen. Bên sau giác mạc theo thứ tự từ ngoài vào trong là khối lỏng thủy dịch, vòng cơ mi (con ngươi), thủy tinh thể nằm trong trung tâm phía sau cơ mi, khối lỏng dịch thủy tinh, và sau cùng, lót phía trong cầu mắt là võng mạc, nơi ánh sáng tác động lên nhiều đầu dây thần kinh hình nón và hình gậy. Những dây thần kinh tụ lại tại một điểm ra phía sau cầu mắt theo dây thần kinh thị giác vào não. Vì điểm này của võng mạc không có dầu thần kinh đón nhận ánh sáng nên gọi là điểm mù. Ánh sáng đi qua thủy tinh thể hội tụ rõ nhất tại hố thị giác trên võng mạc.
     



    [/align][/align][/align][/align]Cầu mắt di động nhờ sức kéo của 6 bắp thịt: 4 cơ trực - trên, dưới, ngoài, trong; 2 cơ chéo - trên và dưới. Hai cơ trực ngoàitrực trong chỉ đơn giản quay ra ngoài và vào trong. Cơ trực trên quay cầu lên và chếch vào trong 1 chút, cơ chéo dưới, quay lên và ra ngoài 1 chút. Hai cơ này có tác động chung là đưa hướng nhìn lên (tác động ngoài-trong bị khử nhau). Tương tự, cơ trực dưới quay cầu xuống và vào trong 1 chút, cơ chéo trên quay xuống và ra ngoài 1 chút. Hai cơ có tác động chung là nhìn xuống (Khi xét nghiệm hai cơ trực trên và dưới nên bảo bệnh nhân nhìn vào trong 1 chút để tránh tác động của hai cơ chéo. Tương tự, khi xét nghiệm hai cơ chéo trên và dưới nên bảo bệnh nhân nhìn ra ngoài 1 chút để tránh tác động của hai cơ trực).

     Vật lý quang học thị giác






    Hình ảnh bên ngoài được tiếp nhận vào mắt qua các tia sáng song song, khi đi qua thủy tinh thể hội tụ vào hố võng mạc.




    Ở mắt cận thị, vì tinh thể quá dầy (độ hội tụ quá cao) hoặc cầu mắt quá dài, điểm hội tụ nằm phiá trước hố võng mạc, tạo hình ảnh mờ.




    Ngược lại, viễn thị là do tinh thể quá dẹp (độ hội tụ quá thấp) hoặc cầu mắt quá ngắn, điểm hội tụ nằm phiá sau hố võng mạc, hình ảnh cũng mờ.


     Hệ thống thần kinh thị giác






    Dây thần kinh của hai mắt chéo nhau tại một giao thoa hình chữ X, phía sau tuyến yên trước khi chạy dọc theo bao trong của não đến trung tâm thị giác trên thùy chẩm.Tín hiệu từ bộ phận nhận sáng nửa trong của võng mạc chạy chéo qua và phối hợp với tín hiệu của nửa ngoài võng mạc trong mắt bên kia.
     
    Do đó, triệu chứng thị giác có thể suy nghiệm ra trong các trường hợp sau:
    1. Hoàn toàn mù một mắt: là do bất bình thường của một mắt hay một dây thần kinh mắt
    2. Mù một nửa thị trường cùng bên: là do bất bình thường trong hệ thần kinh sau chỗ giao thoa.
    3. Mù hai bên ngoài: là do bất bình thường trong hệ thần kinh tại vùng giao thoa.


     Phản xạ của mắt
    Một số phản xạ của mắt dùng trong xét nghiệm lâm sàng:
    1. Phản xạ ánh sáng - khi chiếu ánh sáng vào mắt, con ngươi thu nhỏ lại. Vòng phản xạ: ánh sáng chiếu vào bộ phận nhận sáng, chạy theo dây thần kinh thị giác (thần kinh sọ 2) vào nhân pretectal trong não giữa - sau đó chạy tắt (không qua trung tâm thị giác) vào nhân Edinger-Westphal - tiếp theo chạy trở ra dây thần kinh vận nhãn chung (thần kinh sọ 3), vào hạch thần kinh mi, chuyền vào làm co cơ mi - thu nhỏ con ngươi. Xem hoạt hình
    2. Phản xạ điều tiết - khi nhìn theo vật từ xa đến gần, con ngươi thu nhỏ lại và thủy tinh thể dầy lên tăng đo hội tụ.
    3. Phản xạ mi - khi dùng bông gòn chạm nhẹ vào củng mạc, mi nhắm lại.


     Các biểu hiện ở mắt trong chẩn đoán lâm sàng
    1. Giang mai - Con ngươi Argyll Robertson - ngươi nhỏ, còn phản xạ điều tiết nhưng mất phản xạ ánh sáng - do giang mai não bộ.
    2. Rối loạn giáp trạng - tăng giáp làm mắt lộ, mí trên nhắm chậm; giảm giáp làm rụng phần ba lông mày bên ngoài, húp hai mí
    3. Bệnh Wilson - vòng Kayser-Fleischer do chất đồng đọng trong màng Descemet của giác mạc
    4. Vàng da - củng mạc ngả vàng rõ trước khi vàng da
    5. Thiếu hồng cầu - kết mạc nhợt nhạt
    6. Rối loạn mỡ máu - ban vàng quanh mắt
    7. Hội chứng Horner - mí trên sụp, con ngươi nhỏ


     Các bệnh về mắt


     Chẩn học bằng Mống mắt



    [/align]Mống mắt[/align][/align][/align] [/align]Khoa học mống mắt (tiếng Anh : Iridology) là ngành chẩn đoán chưa được y học công nhận, chẩn đoán bệnh dựa theo thay đổi về hình thái, màu sắc của mống mắt. Y sĩ ngành này chỉ chẩn khám nhưng không chữa trị, thường nhờ điều trị do y sĩ các ngành khác như y học tự nhiên. Y sĩ mống mắt hành nghề tại châu Âu, Anh quốc nhiều hơn tại Hoa Kỳ.[/align]
     Xem thêm
    • Mắt của các loài động vật nói chung


     Con mắt trong văn hóa xã hội








    Tượng thờ tối cao trong toàn đạo Cao Đài, tại các thánh thất cũng như tại tư gia tín hữu.
    Mắt của Horus hay Ra, thần Mặt Trời, tượng trưng cho quyền lực tiếng Anh: Eye of Horus
    Mắt thượng đế hay Mắt thấy xa thấy mọi chuyện, chung quanh có hào quang và bao bọc trong hình tam giác đều. tiếng Anh:Eye of Providence

    Chú thích



     Liên kết ngoài

    Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%AFt_ng%C6%B0%E1%BB%9Di”[/align]
    Thể loại: Giải phẫu học | Nhãn khoa
     
    http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%AFt_ng%C6%B0%E1%BB%9Di
    [/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 06:14:19HongYen>
5. Hệ Nội Tiết: The Endocrine System


Gồm có:
* Tuyến yên
* Tuyến giáp trạng
*Tuyến tụy tạng
* Tuyến thượng thận
* Tuyến sinh dục
* Tuyến nội tiết

Nhiệm vụ:
* Thay đổi hoạt động cuả các cơ quan khác
* Điều hòa năng lượng
* Kiểm soát cấu trúc và nhiệm vụ trong lúc hình thành cơ quan



Đăng nhập để trả lời
0
6. Tim Mạch: The Cardiovascular System


Gồm có:
* Tim
*
*

Nhiệm vụ:
*
*
*
Mời quý bạn tham gia. Cám ơn

Đăng nhập để trả lời
0
Tim mạch
Gồm có:
* Tim
*
*
Nhiệm vụ:
*
*
*
Mời quý bạn tham gia. Cám ơn


Hân hạnh mời quý bạn cùng góp ý. Cám ơn tình thân giúp đỡ lẫn nhau

6. Tim mạch

Gồm có:

* Tim
* Máu
* Mạch máu

Nhiệm vụ:

* Phân phối tế bào máu, nước, những chất nuôi dưỡng, và dưỡng khí
* Thải những cặn bả, chất lạ, và thán khí
* Phân phối nhiệt và điều hòa cơ thể nhiệt

Rất mong sự tham gia của quý bạn chuyên ngành.
Đăng nhập để trả lời
0
* Máu


[image]http://rds.yahoo.com/S=96062883/K=types+of+blood/v=2/SID=w/l=IVS/SIG=12ov4r5hd/EXP=1113442470/*-http%3 A//bioweb.wku.edu/courses/Biol115/Wyatt/Genetics/Blood_types.gif[/image]

Có 4 loại máu: A, B, AB, và O


Đăng nhập để trả lời
0

Post #: 9, 10,...16


Thứ hai, 25/7/2005, 16:03 GMT+7

Khi cơ thể có hạch lớn

Hạch là một tổ chức lympho, nằm ở nhiều nơi như vùng cổ, trên xương đòn, nách và bẹn, bình thường không sờ thấy. Khi phải hoạt động mạnh để bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật, hạch sưng to.

Hạch là một tổ chức liên võng nội mô, có chức năng sản sinh ra dòng bạch cầu lympho và sản xuất kháng thể để chống lại tác nhân gây bệnh. Khi hạch hoạt động mạnh thì sưng to, hay gặp trong các bệnh liên quan đến hệ liên võng nội mạc, bệnh tạo huyết, các bệnh nhiễm khuẩn và bệnh ung thư. Hạch có thể bằng hạt ngô, hạt lạc, có khi to bằng quả trứng, quả xoài, đau hoặc không đau, rất dễ phát hiện. Có 4 yếu tố quan trọng để giúp chẩn đoán hạch to là: Tuổi bệnh nhân, đặc điểm của hạch bạch tuyết, vị trí hạch, các biểu hiện lâm sàng và toàn thân phối hợp với hạch to.

Hạch to ở vùng cổ, vùng thượng đòn

Lao hạch: Hạch nhỏ, nhiều, xuất hiện dần dần, không đau, xếp thành chuỗi dọc theo hai bên cơ ức đòn chũm, dưới xương hàm. Hạch to nhỏ không đều, cái mềm, cái chắc, lúc đầu di động dễ, lâu dần hạch dính vào nhau, có khi rò ra chất bã đậu, bờ vết rò nham nhở, màu tím, để lâu thành sẹo xấu, dân gian gọi là “tràng nhạc”. Kèm theo có khi sốt về chiều, người gầy, sút cân, xanh xao. Có những tổn thương lao ở nơi khác như phổi, màng phổi, màng bụng.

Hạch Hodgkin: Do Hodgkin tìm ra năm 1832, gặp ở nam giới nhiều hơn nữ, hạch to ở hố thượng đòn trái, rồi lan lên cổ, ít lâu có thể có hạch ở hai bên, nhưng bên trái vẫn to hơn. Dần dần có hạch ở nách (65%), trung thất (70%). Đặc điểm của hạch là rắn, không đau, không dính vào da, không dính vào nhau, không hóa mủ. Thường kèm theo lách to, cứng như đá (65%), ngứa (70%). Bệnh nhân sốt từng đợt, mỗi lần sốt thì hạch to thêm hoặc xuất hiện một hạch khác.

Hạch to xuất hiện ở bẹn

Bệnh Nicolas Favre: Do nhiễm Chlamydia, xuất hiện thành chùm hạch to nhiều hoặc ít, phát triển sâu vào hố chậu. Hạch đau và mềm, có thể rò ra thành nhiều lỗ như kiểu gương sen.

Bệnh hạ cam: Do nhiễm khuẩn đường sinh dục. Hạch bẹn nhiều khi ở một bên, một hạch to, nóng, đau, mõm, tiến triển thành mủ. Tìm thấy trực khuẩn Ducrey trong mủ của hạch.

Bệnh giang mai: Giai đoạn đầu, hạch nổi to ở bẹn, là chỗ xâm nhập của xoắn khuẩn Treponema pallidum. Thường bẹn có 4-5 hạch nhỏ, hơi rắn, di động dễ. Sang giai đoạn hai, hạch có thể mọc mọi nơi trong cơ thể.

Hạch to vị trí không xác định

Viêm hạch: Hạch nhỏ đơn độc hoặc từng chùm, ở bất kỳ vị trí nào: cổ, nách, bẹn. Đau âm ỉ, đau tăng khi sờ nắn, nóng, di động dưới da và tổ chức sâu, có sốt. Hạch viêm nặng có thể vỡ mủ đặc, xanh hoặc vàng. Xét nghiệm máu: Bạch cầu đa nhân trung tính tăng.

Viêm nhiễm gây sưng hạch ở vùng lân cận: Thường thấy hạch to ở những vùng có hạch bạch huyết chi phối. Khi bị viêm nhiễm, các hạch này sẽ sưng lên như viêm họng, viêm amidan, viêm ở vùng răng, hàm, mặt, gây sưng hạch ở dưới hàm, nhọt ở vùng đùi có hạch ở bẹn. Zona ngực có hạch ở nách. Hạch ở đây có đặc tính của một viêm nhiễm: sưng, nóng, đỏ, đau, mật độ chắc, di động được. Có khi hạch tiến triển thành mủ, vỡ ra ngoài.

Ung thư hạch (Lymphosarcome): Còn gọi là bệnh Kundrat (1893), gặp ở người trên 45 tuổi. Nhiều hạch to ở cổ, thượng đòn, nách và hạch mạc treo. Hạch thường dính với nhau thành khối lớn, xuất hiện và phát triển nhanh. Ấn đau, mật độ rắn, dính vào tổ chức dưới da và tổ chức sâu, nên không di động được. Bệnh nhân suy sụp toàn thân, tiến triển nhanh 1-2 năm. Lách to trung bình, làm xét nghiệm sinh thiết thấy tế bào ung thư.

Ung thư di căn: Tính chất của hạch giống như trên. Ung thư từ một cơ quan khác di căn vào hệ thống hạch bạch huyết. Thường ung thư vú di căn vào hạch nách, ung thư xương, dạ dày, phế quản, vòm họng di căn hạch thượng đòn, ung thư tử cung, tinh hoàn di căn hạch bẹn.

Hạch to do cơ địa: Thấy ở một số người gầy yếu, sức khỏe toàn thân kém. Thường hạch ở bẹn, cổ. Hạch nhỏ dễ di động, không đau, mật độ chắc. Không điều trị, sau một thời gian hạch sẽ hết khi sức khỏe cơ thể hồi phục bình thường.

tiếp....
http://www.vnexpress.net/Vietnam/Suc-khoe/2005/07/3B9E0678/
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp....



Hạch to do các bệnh về máu

Bệnh bạch cầu cấp: Hạch to, mềm, di động, xuất hiện hầu hết ở các vùng có hạch (cổ, nách, hố thượng đòn, bẹn), hạch chỉ là triệu chứng phụ. Dấu hiệu nổi bật là hội chứng thiếu máu phát triển nhanh, hội chứng chảy máu dưới da, sốt rất cao, lách to nhanh. Có tổn thương loét niêm mạc miệng và họng. Làm huyết đồ thấy giảm dòng hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu tăng rất nhiều...

Bệnh bạch cầu mạn thể lympho: Hạch nhiều, đa số hạch bé, phát triển nhanh. Chỉ trong vòng vài ba tháng là các hạch ở cổ, nách, bẹn to, mềm, di động được. Lách chỉ hơi to, làm huyết đồ và tủy đồ, hồng cầu và tiểu cầu giảm, dòng lympho tăng nhiều.

Hạch to do các bệnh toàn thân

Bệnh dịch hạch (thể nổi hạch): Trước đây có những đại dịch mà năm 1894 Yersin đã tìm thấy vi khuẩn Pasteurella pestis. Ngày nay rất ít gặp loại dịch này. Nguồn bệnh từ loài chuột đồng. Bọ chuột là động vật trung gian truyền bệnh.

Trước khi nổi hạch, bệnh nhân thường có khó chịu như nhức đầu, chóng mặt, đau tứ chi, buồn nôn và gai sốt. Hạch nổi ở bất kỳ nơi nào, phần nhiều hạch ở bẹn, nách, cổ, cơ ức đòn chũm. Hạch hình tròn hay hình quả xoài, hạch dính vào da xung quanh, nắn rất đau. Sau độ một tuần thì đỡ đau, mềm và vỡ mủ. Trong mủ có thể thấy vi khuẩn Pasteurella pestis, tình trạng toàn thể rất nặng. Cơ thể suy nhược, ủ rũ, bơ phờ. Sốt cao 39-40oC. Khi hạch vỡ mủ thì hạ sốt.

Bệnh phát ban: Như Rubella, sốt xuất huyết, sau khi sốt thì nổi ban hay xuất huyết. Sau ba ngày thì hết ban. Hạch to bằng đốt ngón tay, hay nhỏ hơn, mềm, không hóa mủ, đau khi sờ nắn.

Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân do nhiễm virus: Nhiều hạch, to bằng hạt lạc đến quả táo, xuất hiện ở toàn thân. Hạch chắc, nhẵn, sờ đau, di động dễ dàng, không hóa mủ. Toàn thân có sốt cao, mạch nhanh, mắt đỏ. Có viêm hoặc loét họng, lách to.

Bệnh BBS (Besnier-Boeck-Schaumann, hay bệnh Sarcoidose): Là bệnh của các tổ chức liên kết. Hạch toàn thân rất rắn, không đau, tiến triển chậm, hầu như không khỏi. Sinh thiết hạch thấy tế bào đặc hiệu. Tổn thương các phủ tạng như: phổi xơ, đưa đến tâm phế mạn tính; tâm viêm mạn, urê tăng, protein niệu, đái ra máu; cơ tim bị xơ, loạn nhịp.

Bệnh mèo cào: Do móng mèo, do gai các cây có mủ (xương rồng), do chấn thương nhỏ đưa virus vào. Sau 15 ngày bị cào, bệnh nhân sốt thì xuất hiện hạch toàn thân, nhưng nhiều nhất là ở khu vực bị cào. Hạch nhỏ không đau, xét nghiệm bạch cầu hạ, dòng tế bào Monocyte và Lympho tăng. Hai, ba tuần sau sẽ khỏi.

Hạch do phản ứng thuốc: Như Hydralazin, Allopurinol…

Khi thấy nghi ngờ hoặc chắc chắn mình có hạch to, nên đến bác sĩ sẽ có những lời khuyên cụ thể và cách xử trí thích hợp.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)


http://www.vnexpress.net/Vietnam/Suc-khoe/2005/07/3B9E0678/
Đăng nhập để trả lời
0
Post #: 16
          Post #: 17

 
Loại Máu Và Yếu Tố Rh  
BÁC SỸ NGUYỄN Ý-ĐỨC . Việt Báo Thứ Sáu, 10/26/2007, 12:02:00 AM
 





Tòa soạn một tuần báo thân hữu có chuyển cho người viết lá thư như sau của độc giả Trần Hữu hỏi về vấn đề sảy thai và loại máu không tương hợp.
“Hamilton, Oct. 12, 2007

Tôi có đứa cháu ở Việt Nam, lập gia đình lâu rồi, nhưng hễ mỗi lần người vợ mang thai trong vài tháng là sẩy thai, đã nhiều lần như vậy. Các cháu cũng đi bác sĩ khám bệnh, nhưng tình trạng vẫn không chút khả quan.

Trước đây trên 40 năm, lúc còn ở Việt Nam, tôi có đọc sách y khoa của hai Bác sĩ Lương Phán và Nguyễn Thị Lợi, có đề cập đến đề tài "con ranh con lộn" và giải thích qua các loại máu và Rhesus + / -. Tôi nhớ đại khái là người vợ và chồng nếu hai người mang Rhesus tương phản nhau thì bào thai sẽ bị phản ứng và bị hư hoặc có sanh ra thì cũng "chết" mà thai nhi thường sẫm màu. Bác sĩ cũng nói là nhiều lần mang thai như vậy, kháng nguyên người mẹ phải chống với bào thai nên cũng có thể mất mạng sau nhiều lần mang thai.

Tôi chỉ nhớ đại khái như trên, không hiểu có phần nào đúng không, mong sự giải thích cặn kẽ, hầu tôi sẽ gởi bài của quý vị về vợ chồng đứa cháu tôi ở Việt Nam để chúng tham khảo và theo phương hướng điều trị.

Trong khi chờ đợi bài giải thích, xin quý vị cùng ban biên tập tòa soạn Thời Báo nhận nơi đây lòng thành kính biết ơn của tôi.
Kính,

Trần Hữu”

Vì không có đủ dữ kiện về việc “liên tục sảy thai” của người cháu, nên chúng tôi chỉ xin gửi tới ông Hữu và độc giả một chút hiểu biết về loại máu và sự không tương hợp giữa các loại máu.

* Máu
Máu là một mô lỏng, lưu hành khắp cơ thể trong các động mạch, tĩnh mạch và là một phương tiện chuyên chở nhiều chất khác nhau giữa mô và các cơ quan.
Máu gồm nhiều loại tế bào máu trong một môi trường lỏng gọi là huyết tương. Mỗi người nam trưởng thành có khoảng 6 lít máu, người nữ ít hơn: 4- 5 lít.[/align]
Máu có nhiều nhiệm vụ quan trọng:
-Máu mang oxy vào cơ thể và loại khí CO2 ra ngoài
-Máu là một dung dịch cần thiết cho sự tăng trưởng của cơ thể, vì máu chuyên chở các chất dinh dưỡng từ sự tiêu hóa và các hormon do các tuyến nội tiết sản xuất.
-Máu là dung dịch của sức khỏe, chuyên chở các chất phòng chống bệnh tới các tế bào và chất phế thải tới thận để loại ra ngoài cơ thể.
-Máu cũng giúp điều hòa thân nhiệt, chứa những chất ngăn sự xuất huyết từ các vết thương, cân bằng dung dịch chất lỏng trong các tế bào.
Máu có những tế báo sống như hồng huyết cầu, bạch huyết cầu và tiểu cầu.
Hồng cầu và bạch cầu có nhiệm vụ nuôi dưỡng và làm sạch cơ thể.
Tiểu cầu giúp máu ở trạng thái đặc. Thiếu tiểu cầu, con người sẽ mất máu và chết. Vì là tế bào sống, các tế bào máu cũng cần được nuôi dưỡng với sinh tố, khoáng chất và các chất dinh dưỡng chính.
Máu có 55% huyết tương, một chất lỏng trong mầu vàng rơm.

* Loại máu
Nhìn với mắt thường, máu mọi người nom mầu sắc giống nhau. Nhưng dưới kính hiển vi, tế bào máu có nhiều nét khác nhau, đặc biệt là ở hồng cầu.
Khoa học gia người Mỹ gốc Áo Karl Landsteiner (1868-1943) đã tìm ra hai loại chất đạm riêng rẽ trên mặt hồng cầu. Đó là các kháng nguyên A và B. Nhờ sự khám phá này, ông được giải Nobel y học vào năm 1930.
Nếu hồng cầu chỉ có kháng nguyên A, máu đó thuộc loại A. Nếu chỉ có kháng nguyên B thì là máu loại B. Có cả A và B thì thuộc loại AB. Không có A hoặc B thì là máu loại O. Máu của một loại này chứa các kháng thể trong huyết thanh chống lại các hồng huyết cầu của loại khác. Khi hai loại máu trộn lẫn với nhau, các hồng cầu có thể kết chùm lại và gây ra hậu quả chết người được.[/align]
Do đó:
Người có máu loại A có thể truyền máu cho người có loại A hoặc AB.
Người có loại B có thể sang máu cho người loại B hoặc AB
Người có loại AB chỉ truyền máu cho người cùng loại AB mà thôi
Người có máu loại O có thể cho máu cho bất cứ ai.[/align]
Cũng vậy:
Người có loại A có thể nhận máu loại A và O
Người có loại B có thể nhận máu từ loại B và O
Người có loại AB có thể nhận máu của bất cứ ai
Người có loại O chỉ nhận được máu từ người có loại O.[/align]
Loại máu do di truyền quyết định và tỷ lệ loại máu trong dân chúng thay đổi tùy theo chủng tộc. Chẳng hạn 45% người da trắng tại Hoa Kỳ có loại máu 0.
Đúng ra là có tới hơn 30 hệ thống phân loại nhóm máu, nhưng hệ thống ABO quan trọng hơn cả.[/align]
Đến năm 1940 các nhà khoa học Kart Landsteiner và Alexander Wiener lại tìm ra một chất đạm khác trên mặt của hồng cầu gọi là yếu tố Rhesus (Rh). Rhesus là một loại khỉ nhỏ có nhiều ở miền Bắc Ân Độ, được dùng thường xuyên trong các cuộc thí nghiệm sinh học. Cũng từ loại khỉ Rhesus này mà kháng nguyên Rh được khám phá lần đầu.[/align]
 Người có yếu tố này được gọi là Rh +, nếu không có sẽ là Rh-. Đa số dân chúng (85%) có Rh+.
Yếu tố Rh liên hệ với loại máu. Vì thế nếu người loại A có Rh sẽ được ghi là A+; nếu không có Rh sẽ được ghi là A-.
Người có Rh- tiếp nhận máu Rh+ sẽ tạo ra kháng thể chống lại hồng cầu Rh+.

Trong các lần nhận máu sau đó, kháng thể này sẽ hủy hoại các hồng cầu nào có Rh+. Đó là sự không- tương- hợp Rh (Rh Incompatibility). [/align]
Sự không tương hợp chỉ xảy ra khi mẹ Rh âm và con Rh dương;  không xảy ra khi mẹ Rh +, con Rh – hoặc khi cả mẹ và con đều âm hoặc dương Rh.
Nhắc lại là trong khi mang thai, các chất dinh dưỡng và kháng thể từ máu của mẹ chuyển sang con qua nhau thai, nhưng hồng cầu không qua được, ngoại trừ khi nhau thai bị rách.

Trong suốt thời gian mang thai lần đầu không có vấn đề gì xảy ra vì máu con không xâm nhập máu mẹ. Nhưng khi sanh, một chút máu Rh+ của con có thể vào cơ thể mẹ. Mẹ sẽ sản xuất ra kháng thể chống lại với kháng nguyên Rh+ này.
Tới các lần có thai kế tiếp, nếu thai nhi Rh+, kháng thể trong máu mẹ sẽ nhận ra và sẽ tiêu hủy các hồng cầu mang Rh+. Hậu quả là thai nhi sẽ bị thiếu máu, vàng da… vì tan huyết. Đó là chứng loạn nguyên- hồng-cầu sơ-sinh (Erythroblastosis fetalis). Phương thức trị liệu hữu hiệu là truyền cho con một số lượng lớn máu Rh+ đồng thời rút máu con ra để loại bỏ hết kháng thể Rh+.

Sự không tương-hợp Rh ở người mẹ có thể tránh được bằng cách chích cho mẹ globulin miễn dịch Rh (Rho-GAM) khi có thai lần đầu và các lần sau đó.
Thuốc được chích làm hai lần. Lần thứ nhất vào tuần lễ thứ 28 của thai kỳ và lần thứ hai chích trong vòng 72 giờ sau khi sanh.

Thuốc tác động như một vaccin, loại bỏ kháng nguyên Rh+ trong máu mẹ và ngăn chận sự tạo ra kháng thể đối nghịch với Rh+ của con.

* Sảy thai
Về sảy thai, có nhiều nguyên do khác nhau, như là:[/align]
a-Bất bình thường ở các nhiễm thể của thai nhi: Đây là rủi ro sảy thai thường thấy, nhất là trong 13 tuần lễ đầu của thai kỳ.
b-Bệnh của mẹ như tiểu đường không kiểm soát, cao huyết áp, ban đỏ lupus, một vài bệnh truyền nhiễm như ban đào (rubella), nhiễm virus herpes simplex, vi khuẩn Clamydia.
c-Mất thăng bằng hormon trong cơ thể, như thiếu hormon nữ progesteron để sửa soạn niêm mạc thích hợp nuôi dưỡng thai nhi.
d-Bất bình thường trong cấu trúc của dạ con và cổ tử cung như u xơ tử cung, cổ tử cung yếu, có thai ngoài tử cung.
đ-Rối loạn hệ miễn dịch khiến cho cơ thể không bảo vệ nuôi dưỡng được thai nhi.
e-Lối sống không lành mạnh như hút thuốc lá, nghiện rượu- thuốc, thiếu dinh dưỡng, tiếp xúc với hóa chất, phóng xạ.

Ngoài ra, tuổi tác cũng là một yếu tố. Trong đa số các trường hợp, phụ nữ khỏe mạnh có tỷ lệ sảy thai từ 15-20%. Tỷ lệ tăng với tuổi cao: Dưới 35 tuổi, khoảng 35%. Trên 45 tuổi, 50% có nguy cơ sảy thai.

Quý bà mẹ dễ dàng bị sảy thai cần được bác sĩ chuyên về sản phụ khoa khám và thử nghiệm để tìm ra nguyên nhân rồi điều trị.

Ngoại trừ một số rủi ro di truyền, tuổi tác, các rủi ro khác có thể phòng tránh được.

Trước khi sẵn sàng để có thai, nên chăm sóc để có một cơ thể khỏe mạnh với dinh dưỡng đầy đủ, vận động đều đặn, giữ cân nặng trung bình, không hút thuốc lá, uống thêm folic acit và giảm thiểu căng thẳng tinh thần.

Khi đã được xác định là có thai, cần tiếp tục nếp sống lành mạnh cộng thêm không uống rượu, đừng tiếp cận với khói thuốc là, giới hạn hoặc đừng uống nước có nhiều caffeine, tránh va chạm tổn thương tới bụng mang dạ chửa, tránh các sinh hoạt quá mạnh và luôn luôn yêu đời, vui với con trong lòng mẹ.

Chín tháng mười ngày “mang nặng” sẽ qua rất mau, tới ngày “ddẻ đau”, khai hoa nở nhụy để làm mẹ, với “hòn máu” thân yêu của mình.

Cả nhà đều hân hoan mừng vui khi thấy ánh mắt sáng ngời của con.

Texas-Hoa Kỳ[/align]

 BÁC SỸ NGUYỄN Ý-ĐỨC
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=117&nid=116976
Đăng nhập để trả lời
0
Post #: 14
9. Hệ Tiêu Hóa: The Digestive System
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=47914&mpage=1
 
******
Tháng Mười Là Tháng Của Gan 
Việt Báo Thứ Bảy, 11/10/2007, 12:02:00 AM
 

Tổ chức American Liver Foundation đã dành tháng Mười 2007 cho "tháng cảnh giác về Gan" vì gần 30 triệu người Mỹ mắc Bệnh Gan. Hàng năm tại Mỹ, Bệnh Gan đã gây tử vong cho khoảng 27,000 người vào lứa tuổi từ 25 đến 64. Nhưng có một điều mà một số người không biết là mỗi ngày Gan đã phải chu toàn hàng trăm chức năng cần thiết như chuyển hoá những gì chúng ta ăn, thở - và thậm chí - hấp thụ qua da.
 
Bệnh Gan có thể do một số nguyên nhân như di truyền, Virus, Rượu, Thuốc, và Mập phì. Nhưng nhiều thể dạng Bệnh Gan có thể ngừa và trị được nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng.
 
Chương Trình Sức khỏe Gan của Tổ chức American Liver Foundation đã nêu 12 điều "DO" (nên làm) thực tiễn sau đây:
1. - DO: Theo đúng cách chỉ dẫn khi dùng bất cứ thuốc gì; đọc kỹ nhãn thuốc; tìm hiểu những hoạt dược trong thuốc, vì một vài loại thuốc có tác hại lên Gan.
2. - DO: Duy trì một cân nặng vừa phải vì béo phì hoặc tăng ký bất thường.
3. - DO: Cẩn thận khi dùng thuốc tẩy loại phun xịt. Giữ phòng thật thoáng khí, hoặc nhớ mang dụng cụ che miệng. Nhớ rằng tất cả hoá chất đều có thể hấp thụ qua da và do đó gây tác hại lên Gan.
4. - DO: Cẩn thận khi dùng tất cả hoá chất, kể cả thuốc trừ sâu và sơn phun xịt. Nhớ mang khẩu trang, và rửa sạch da sau khi dùng hoá chất.
5. - DO: Khi đi xâm mình, xâm mi, xỏ mình, xỏ lỗ tai, châm chích, cố bảo đảm là dụng cụ chưa hề được dùng trước bởi bất người nào khác. Kim và dụng cụ xuyên da đều có thể truyền Bệnh Viêm Gan A, B và C.
6. - DO: Tránh dùng chung dao cạo, bàn chải răng, hoặc đồ cắt móng tay. Những vật này cũng có thể lan truyền Bệnh Viêm Gan.
7. - DO: Tránh dùng những thuốc pháp luật cấm. Những thuốc loại Cocaine hoặc Heroin có thể hại Gan rất nặng.
8. - DO: Hạn chế việc uống rượu. Mỗi ngày, không nên quá 6 lon bia, nửa chai rượu chát, một cốc nhỏ rượu mạnh.
9. - DO: Áp dụng biện pháp an toàn trong quan hệ tình dục. Các quan hệ tình dục không có biện pháp an toàn và quan hệ tình dục với nhiều người đều làm gia tăng nguy cơ bị Bệnh Viêm Gan B và C.
10. - DO: Nên đi chích ngừa bệnh Viêm gan A và B theo chỉ định của bác sĩ.
11. - DO: Nên đi bác sĩ và yêu cầu xét nghiệm về Bệnh Viêm Gan B và C. Hai bệnh này có thể chẳng gây một triệu chứng rõ rệt nào, nên cần làm test. Test lại cần thiết hơn trong trường hợp có nguy cơ như đã có lần được chuyền máu, dùng kim chích, xâm mình, xâm mi, xỏ tai, xỏ rốn, xỏ lưỡi, quan hệ tình dục không bảo vệ. Test cũng cần cho nhân viên y tế vì phải thường xuyên tiếp xúc với người đang mắc bệnh.
12. - DO: Hãy cảnh giác xem trong mình có những triệu chứng đáng ngờ Bệnh Gan như: tròng trắng mắt hoặc da chuyển màu vàng; bụng sưng hoặc đau; ngứa da dai dẳng; phân mầu hắc ín, nước tiểu quá nhạt hoặc sậm mầu, như thể có máu; mệt mỏi dai dẳng, hoặc buồn nôn, ăn chẳng biết ngon; làm tình kém hoặc hết muốn làm tình; giấc ngủ xáo trộn; trí óc kém minh mẫn.
 
Nhằm bảo vệ Gan và Sức khỏe, vốn quý hơn vàng, mong rằng từ đây đến Tháng 12 và mãi mãi sau này, ai ai cũng nhớ và liên tục làm đủ 12 điều đã nêu. (Bs Nguyễn Nguyên).
 
Tiếp theo, chúng tôi xin tường trình cùng quý vị những tường trình Y Dược Ngày Nay, trong tháng 11, 2007:
Trong phần Tin Y Học: Bs Nguyễn Nguyên viết: Ngủ ít hay ngủ nhiều đều tăng nguy cơ tử vong vì bệnh tim mạch gấp 2 lần. Uống cà phê vơí thuốc giảm đau Acetaminophen, hoặc nếu thêm uống rượu, sẽ tăng nguy cơ suy gan. Ds Lê Văn Nhân thông tin kết quả thử nghiệm một bạch đản tên là LRP có thể dọn sạch chất amyloid-beta trong não, giảm nguy cơ bệnh lãng quên Alzheimer. Bs Nguyễn văn Thịnh cho đăng một loạt bài tin mới y học rất hữu ích như:
 
1) Xương chứa đựng kích thích tố Osteocalcine có khả năng trị bệnh tiểu đường,
2) Sốt nóng phát sinh từ não bộ,
3) Liên hệ bệnh động mạch vành và ung thư đại trực tràng,
4) Tỏi giảm nguy cơ ung thư đại tràng,
5) Rượu tăng nguy cơ ung thư vú,
6) Những người già trên 65 tuổi nên truy tầm bệnh phình động mạch chủ.
7) Điện thoại cầm tay tăng cao nguy cơ u bướu não bộ.
 
 
Trong Y Học Thường Thức: Bs Nguyễn Ý Đức cho chúng ta biết:
1) Chứng Ợ Chua, một bệnh khá phổ biến, nhiều người mắc phải,
2) vấn đề quan trọng của nước uống trong cơ thể chúng ta.
3) những nguy hại của nạn hâm nóng toàn cầu.
 
Gs Vũ Quí Đài, cựu Giáo sư Khoa Trưởng y khoa Đại Học Sài Gòn cho chúng ta những lời khuyên về bệnh mắt cườm. Bs Nguyễn Thị Nhuận với bài săn sóc da mùa đông cho trẻ em, đặc biệt những lời khuyên giúp chúng ta giảm bớt tình trạng da khô.
 
Trong y khoa Thực Hành: Bs Nguyễn văn Đích khuyến cáo y tế đa dạng đáp ứng hữu hiệu những nhu cầu khác nhau trong từng giai đoạn của đời sống dân chúng Việt Nam. Ds Lê văn Nhân bàn luận kiến thức thống kê trong y học chứng cứ. Ds Thái Khắc Minh nói về vấn đề điều trị và xu hướng phát triển thuốc của bệnh trào ngược dạ dày thực quản. Bs Nguyễn Văn Thịnh cho chúng ta hiểu biết về chứng bệnh viêm phế quản (Bronchiolitis), bệnh điện giật, các thương tổn trong bệnh điện giât, và hội chứng động mạch vành cấp tính (syndrome coronarien aigu).
 
Trong y khoa Lâm Sàng: Ds Trịnh Nguyễn Đàm Giang và Bs Nguyễn Tài Mai bàn luận về chất bạch đản trong bệnh bụng báng có nước.
 
Bs Nguyễn Tài Mai thuật lại một trường hợp lâm sàng thiếu máu phức tạp.
Trong phần Dược Phẩm: Ds Lê văn Nhân, Ds Trịnh Nguyễn Đàm Giang và Bs Trần Mạnh Ngô tường trình và bàn luận kháng sinh Monocycline trong điều trị đột quỵ.
 
Bs Trần Mạnh Ngô thông tin thêm về những thuốc mới được Cơ Quan Kiểm Soát Thực Phẩm và Thuốc Men Hoa Kỳ (FDA) cho phép dùng như: thuốc Doripenem điều trị bệnh nhiễm trùng đường tiểu nặng và nhiễm trùng bụng nặng, thuốc mới Raltelgravir trị bệnh nhiễm HIV, thuốc ngừa cúm mới Afluria cho năm 2008.
Ds Trịnh Nguyễn Đàm Giang thông tin thuốc mới Telavancin điều trị bệnh ngoài da nhiễm vi trùng Gram Dương tính.
 
Trong Khảo Cứu Y Khoa: Gs Đinh Xuân Anh Tuấn nghiên cứu Biểu Hiện Yếu Tố Tăng Trưởng nội mô mạch máu liên hệ nguy cơ ung thư nhiếp hộ tuyến sau khi giải phẫu cắt bỏ toàn diện nhiếp hộ tuyến. Bs Daniel Trương với nghiên cứu dùng Botox trong việc điều trị loạn trương lực cơ.
 
Trong phần Thảo Luận Báo y khoa: Bs Nguyễn Tài Mai đề cập vấn đề dùng thuốc Corticosteroids vô hiệu trong việc phòng ngừa những nguy cơ bệnh thần kinh như liệt não trẻ em đẻ non. Bs Nguyễn Tài Mai cũng nêu lên một trường hợp bệnh nhân phái nam bị ung thư bao tử với những đốm nhỏ trong phổi. Bs Trần Mạnh Ngô thông tin trường hợp trẻ em căng thẳng tăng nguy cơ mập phì và việc sàng lọc bệnh lãng quên cho người già.
Trong Sinh Y Học, Bs Trần Mạnh Ngô thông tin: 1) vai trò quan trọng của ty lạp thể và những nguy cơ tế bào khi bị đe dọa, và 2) Việc dùng thuốc Primaquine tiêu diệt ký sinh trùng sốt rét Plasmodium Falciparum.
Trong Hỏi Đáp y học, các Bs Nguyễn Văn Đích, Bs Trần Mạnh Ngô, Bs Nguyễn Tài Mai và Ds Lê Văn Nhân đã trả lời một độc giả về bệnh Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản - Gastroesophageal Reflux.
 
Trong mục Tham Khảo,  chúng ta được đọc bài Từ Hoả Tinh và Từ Kim Tính của 2 tác giả Bs Thú Y Nguyễn Thượng Chánh và Dược Sĩ Nguyễn Ngọc Lan. Bs Thú Y Nguyễn Thượng Chánh trình bầy một loạt những bài rất hay như Thịt Dê tại Bắc Mỹ, Cô Đơn (Zootherapy), và tìm hiểu về Bệnh Long Móng Lở Mồm ở Súc Vật.
 
Ngoài ra còn những Mục Đố Vui của Bs Nguyễn Nguyên, và những tài liệu tham khảo như Từ Điển Y Học Anh-Viêt-Pháp, dịch thuật Từ Anh-Việt-Pháp của Bs Nguyễn Nguyên. Chúng tôi cũng không quên giới thiệu cùng quý vị thính giả những sách y học mới như sách Dinh Dưỡng và Sức Khỏe của Bs Nguyễn Ý Đức, sách Y Khoa Thần Kinh Học Lâm Sàng - Clinical Neurology của các Bs Daniel Trương, Lê Đức Hinh và Nguyễn Thị Hùng. Ngoài ra còn những hình ảnh đẹp trình bày Dịch Bệnh Long Móng Lở Mồm và những bệnh ký sinh trùng của 2 Bs Nguyễn Thượng Chánh và Trần Mạnh Ngô.
 
Xin thân mến kính chào quý vị và xin gặp lại quý vị tháng sau.
RadioWeb Y Dược Ngày Nay (www.yduocngaynay.com)
 
 
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=117&nid=117892
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 06:25:27HongYen>
7. Hệ Miễn Nhiễm: The Lymphatic System


Gồm có:

* Lá lách
* Tuyến yên
* Mạch bạch huyết
* Hạch bạch huyết
* Hạch miệng

Nhiệm vụ:

* Chống đỡ truyền nhiễm và bệnh
* Hồi trả lại tế bào nhờn lại cho mạch máu




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-07 00:49:02HongYen>
Hệ miễn nhiễm

📎 LymphaticSys.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-06 02:37:18HongYen>
9. Hệ Tiêu Hóa: The Digestive System


Gồm có:

*
*
*

Nhiệm vụ:

*
*
*




📎 aa
Đăng nhập để trả lời
0
9. Hệ Tiêu Hóa: The Digestive System

Gồm có:

* Răng
* Lưỡi
* Cuống họng
* Yết hầu
* Nấp thực quản + khí quản
* Thực quản
* Bao tử
* Ruột non
* Ruột già
* Gan
* Bọng đái
* Tuyến tụy tạng

Nhiệm vụ:

* Di chuyển và tiêu hóa thức ăn
* Hấp thụ và chuyển hóa thành nước
* Hấp thụ chất dinh dưỡng: nước, kề..và chia nhỏ đường, bạch đản và chất béo...
* Lưu giữ năng lượng


Lưu ý cơ quan nầy rất nhạy cảm và quan trọng nhất là đối với trẻ em và người lớn tuổi.

Vì tại đây là cửa ngỏ vào hai ngã khác nhau:
* Không khí
* Thức ăn

Vì vậy khi cho em bé bú nên ẳm ngồi hay người mẹ chịu khó ngồi cho con bú. Nấp nầy nhanh nhẹn làm nhiệm vụ đóng mở cho thức ăn và cũng cho không khí. Nên người lớn cần thức ăn nhão và mỗi lần ăn chậm rãi. Ngay cà khi uống nước thường cũng là nguyên nhân dưa đến tử vong; vì nước sẽ chạy tọt vào phổi.....

Nấp thực quản + khí quản * Epiglottis


Đăng nhập để trả lời
0
Trong bài "Tiêu Chảy":
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=49105

có đề cập đến tỷ lệ 1/9 giữa muối và đường trong một lít nước liên quan đến máu.

Xin mời quý bạn xem thành phần và tỷ lệ máu.


Trong máu có 65% huyết thanh, màu ngà, và 45% hồng huyết và bạch huyết


1. 65% Huyết thanh:
gồm có 8% bạch đản và các chất khác
và 92% nước

Liên tưởng đến tỷ lệ 1/9 -&gt; muối + đường + 1 lít nước để bù đấp cho cơ thể khi đi tiêu chảy.

2. 45% Hồng huyết và bạch huyết
gồm có: 99.9% hồng huyết hay máu đỏ
0.1% bạch huyết và huyết cầu hình đĩa.

Mỗi thứ có nhiệm vụ khác nhau trong cơ thể chúng ta.....
Đăng nhập để trả lời
0

Các khối u khác nhau về mức độ xâm hại


24 Tháng 4 2005 - Cập nhật 17h08 GMT


Gien “phục hồi” - giải pháp cho ung thư vú?

Các nhà khoa học hi vọng rằng các gien tham gia vào quá trình chữa lành vết thương sẽ có thể đóng góp vào việc chẩn đoán bệnh tình lâu dài trong những ca ung thư vú.
Các nhà khoa học Mĩ và Hà Lan đã phát hiện ra được các mẫu của gien “phục hồi” mà họ tin là các mẫu này phản ảnh được tốc độ phát triển của một khối u vú.

Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng phải thừa nhận rằng cần có thêm nhiều nghiên cứu nữa thì mới có thể chắc chắn là phát hiện này có thể đóng góp vào quá trình điều trị bệnh.

Tập san Proceeding của Học viện Quốc gia của Khoa học đã đăng khuyến cáo của các tổ chức Cứu tế Ung thư về vấn đề này.

Làm lành vết thương

Antonia Bunnin, thành viên của tổ chức Diệt bỏ Ung thư Vú, cho biết: "Trong tương lai, phát hiện này sẽ mở đường cho các phương pháp chẩn đoán tiến trình của bệnh và có thể cho phép các bác sĩ đưa ra phương pháp điều trị cho riêng từng ca ung thư vú ở phụ nữ.”

"Tuy nhiên, ta cần có các nghiên cứu sâu hơn để xác minh xem liệu quyết định điều trị theo phương pháp trên có thật sự có lợi cho người bệnh hay không."

Laura Trapani thuộc tổ chức Chăm sóc Ung thư Vú nhận xét: "Các bệnh nhân ung thư vú cần hiều rằng quá trình tái tạo đề cập đến trong nghiên cứu không liên quan tới quá trình phục hồi của các cơ quan thời kì hậu phẫu.

Nhưng khái niệm phục hồi vết thương ở đây không liên quan gì đến việc các vết thương lành lại sau ca phẫu thuật.


Laura Trapani, tổ chức Chăm sóc Ung thư Vú

"Bất kì sự cố nào xảy ra ở thời kì hậu phẫu, ví dụ như nhiễm trùng, đều nằm ngoài chẩn đoán của bác sĩ."

Trong suôt 12 năm, Tiến sĩ Patrick Brown, của trường đại học Stanford kết hợp làm việc với các đồng nghiệp ở Viện nghiên cứu Ung thư Hà Lan tiến hành theo dõi tình trạng sức khoẻ hậu phẫu của 295 bệnh nhân bị ung thư vú được phát hiện bệnh từ lúc còn ít tuổi.

Họ cũng tiến hành phân tích từng khối u của các ca ung thư vú để tìm hiểu các mẫu gien trong khối u, gien nào còn hoạt tính, gien nào đã thôi không hoạt động nữa.

Hình thành các mạch máu mới

Mẫu gien lấy từ một số ổ ung thư của bệnh nhân có giống với mẫu lấy từ các vết thương đang trong quá trình lành bệnh. Những gien này bao gồm cả gien liên quan đến quá trình hình thành nên những mạch máu mới.

Các nhà khoa học đem so sánh các mẫu này với tình trạng bệnh của các bệnh nhân và họ phát hiện ra rằng những ca ung thư nặng nhất là những ca có mẫu gien ung thư giống với mẫu gien khi tái tạo tế bào cho vết thương.

Điều này cho thấy rằng, như tác giả gọi là những bệnh nhân có “chữ ký phản ứng vết thương” thường ung thư phát triển nhanh và họ có xu hướng chết sớm hơn so với các bệnh nhân khác.

Nhóm của bác sĩ Brown đã xây dựng một phương pháp định một điểm số đơn cho những mẫu gien.

Trong tương lai gần, họ tin chắc rằng các bác sĩ sẽ có thể sử dụng kết quả này cùng với các biện pháp chẩn đoán bệnh khác để xây dựng các kế hoạch điều trị bệnh phù hợp với từng bệnh nhân.

Tuy nhiên, họ cũng phát biểu trong tờ Proceedings của Viện Khoa học Quốc rằng "Cần có thêm các nghiên cứu trong tương lai để xác định xem những quyết định điều trị dựa trên “chữ ký phản ứng vết thương”liệu có lợi đối với người bệnh hay không."


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/science/story/2005/04/050424_healingene.shtml
Đăng nhập để trả lời
0
Số 14 liên hệ đến hằng tháng cuả phụ nữ....


Tuy nhiên ai cũng biết số 35 là con dê mà chưa nhắc số 14 là con mẻo. Chưa biết meò 4 cẳng hay hai giò. Có điều về cơ thể học thì hoàn toàn khác.

Ghi nhớ, kinh kỳ cuả phụ nữ là bất thường, chỉ có con số từ ngày thấy kinh trờ về trước 14 ngaỳ. Ngày thứ 14 về trước nầy là ngày rụng trứng. Vì lẻ đó khi có thai BS sẽ hoỉ ngaỳ naò là ngaỳ thấy kinh cuối cùng khi có thai. Từ đó sẽ tính trờ về trước 14 ngaỳ là ngaỳ đậ thai.

Và nên nhớ ngầy công 7 tháng trừ ba, là ngày lên chức mẹ cha; nghĩả là sẽ sanh em bé.
Ngày + 7, tháng - 3

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Sau đây là những con sồ đề....

.Những con đề chuyên nghiệp thường có một cuốn sổ nhỏ lưu kết quả để "nghiên cứu quy luật... của thần tài". Bên cạnh đó là bản đối chiếu "giấc mơ" với các con số tương ứng. Thí dụ, mơ thấy con cá sẽ đánh số 01; con ốc: 02; chó: 11; mèo: 14; chuột: 15; ếch: 24... Vui nhất là cãi lộn cũng có số 25 và nếu gặp mèo rừng thì là 18 chứ không phải 14. Nhiều con đề chẳng cần sổ sách gì cũng có thể đọc vanh vách vì đã thuộc nằm lòng những quy ước đó của "dân trong nghề". Tỷ lệ trúng thưởng phổ thông cho loại đề đánh 2 số là 1-72 (đánh 1.000 đồng, ăn 72.000 đồng); 3 số là 1-600; 4 số là 1-4.200...

Còn cách đánh thì đánh 2 số đầu đuôi, 3 số bao 7 lô, 18 lô, xỉu chủ (đánh 3 số lấy kết quả của giải 8 và 3 số cuối giải độc đắc)... Bằng chứng của cuộc "giao dịch thời vận" là một biên lai bằng ba ngón tay mà dân trong nghề gọi là phơi đề.
Bạn,
Cũng theo SGGP, trong đám đông chờ đợi kết quả xổ số mỗi chiều trước các đại lý vé số có người là xe ôm, công nhân muốn thử thời vận nhưng nhiều nhất vẫn là những con đề muốn "ngồi mát ăn bát vàng" hay những tay ảo tưởng muốn "dỡ nhà người khác về làm chuồng heo nhà mình". Cứ sau bốn rưỡi chiều là lắm kẻ khóc, người cười vì thần tài quá bộ chỗ này mà quên chỗ nọ hoặc có khi vì trục trặc tàu xe nên chẳng kịp ghé chỗ nào! Chỉ có những tay thầu đề là giàu sụ.

Số: 3709
Ra Ngày: 29/5/2005
http://www.vietbao.com/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-14 22:34:12HongYen>
10. Hệ Tiết Niệu: The Urinary System


Gồm có:
*
Nhiệm vụ:
*





Mong quý bạn cùng góp một tay.

Chúc vui với ăn uống tiêu hóa tiêu tiểu điều hòa.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»