Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

“Địa linh - nhân kiệt” và “Nhân kiệt - địa linh

0 trả lời, 12 lượt xem — Trang 1 / 1
“Địa linh - nhân kiệt” và “Nhân kiệt - địa linh

Ông Văn Tùng

Khách đến chơi. Ngồi chưa ấm chỗ đã sốt sắng: “Thật không sao hiểu nổi, mấy tháng gần đây, người ta lạm dụng bốn từ “địa linh - nhân kiệt” để ca ngợi một ai đó hoặc một nơi nào đó mà chẳng thấy “linh” thấy “kiệt” chút nào sất!”. “Đúng đấy! Tôi cũng đang muốn trò chuyện với ông về vấn đề đó đây. Cũng đã có một tác giả lên tiếng phàn nàn rằng trên một số phương tiện thông tin đại chúng, có hiện tượng không mấy lành mạnh là hay bốc thơm nhau, bốc thơm vô tội vạ đến nỗi đã trở thành hội chứng - Hội chứng “bốc thơm”! - “Bốc thơm gì thì bốc, chứ đưa cả “địa linh - nhân kiệt” ra mà gán thì thật không sao chấp nhận nổi”. “Bởi vì, dễ hiểu thôi, hai bên cùng có lợi. Người được bốc thơm và kẻ đi bốc thơm”, - “Cũng không hẳn thế! - Khách phản đối - “Dĩ nhiên là cả hai cùng có chút lợi nào đó - đôi khi có lợi rất to. Nhưng có lẽ, chủ yếu là cả hai cùng dốt, dốt nên điếc không sợ súng, vì vậy mới ban phát vung vãi như thế, nếu không, cả hai đã cùng đỏ mặt. Chứ thực ra, chỉ ít lâu sau, cái ông to to vừa mới được bốc thơm là “nhân kiệt” nào đó về hưu, hoặc tệ hơn, bị vạch mặt vì tham nhũng, vào nhà đá thì “kiệt” cũng mất mà “linh” cũng không còn. Hoá ra bốc thơm nhau mà lại là chơi xỏ nhau” -

“Đúng thế! Anh cho là họ dốt nên dùng từ bừa bãi. Không! Đối với họ, thì dốt hay thông, sai hay đúng, có can hệ gì, miễn là người được bốc thơm đẹp lòng, và kẻ đi bóc thơm được trả công bằng nhấc cho vài cấp, tăng cho vài bậc lương. Còn xứng hay không xứng, bất cần! Xong bài báo là họ quên phắt ngay thôi!” - “Vâng thói đời là vậy. Nhưng tiện đây xin hỏi: “Địa linh - nhân kiệt” và “Nhân kiệt - địa linh”, quan hệ thế nào? Cái nào quyết định cái nào? Có gì khác nhau không?” . “Hay lắm! Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng thường vẫn dùng “địa linh”

trước và “nhân kiệt” sau. Thỉnh thoảng có người viết ngược lại. Nên tách bạch cho rõ. Trước hết, khẳng định cụm từ “Nhân kiệt địa linh” đã thành một thành ngữ Hán Việt rồi. Con người có “kiệt” thì đất mới “linh”. Ngạn ngữ có câu: “Người ta là hoa đất”. Có con người mới là hoa của đất - Cũng có câu: “Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh. Thuỷ bất tại thâm, hữu long tắc linh. Núi không cần cao, có tiên ắt thành danh sơn. Vực không cần sâu, có rồng ắt thiêng. Đủ biết, con người trước đất đai sau”. - “Xin cho dẫn chứng, thành ngữ “nhân kiệt địa linh” có từ bao giờ. Và sách vở nào làm chứng?” Khách nói vừa hào hứng vừa tò mò vừa thách thức: “Vâng, đúng thế! Nói có sách mách có chứng”. Câu thành ngữ đó nguyên có từ trong bài “Đằng Vương các tự” của Vương Bột. - “Xin được nghe” - “Thời Sơ Đường có bốn nhà thơ rất nổi tiếng: Vương Bột (650-676) Dương Quýnh (650-693) Lư Chiếu Lân (631-680) và Lạc Tân Vương (khoảng 638-?), có thuyết nói ông bị giết vì theo Từ Kính Nghiệp, ông làm bài hịch chống Võ Tắc Thiên, lại có thuyết ông trốn vào rừng núi đi tu. Văn học sử Trung Quốc gọi họ là “Vương - Dương - Lư - Lạc” hoặc “Sơ Đường tứ Kiệt” (xin lưu ý cho từ này). Chuyện kể rằng: Năm 675 thời Đường Cao Tông, một hôm Vương Bột từ Long Môn Giáng Châu đi về phương Nam thăm cha, đường qua Nam Xương - Đúng vào tiết Trùng Dương (9 tháng 9). Viên Đô đốc Hồng Châu (trị sở của Nam Xương) họ Diêm, (tên không rõ) mở một bữa tiệc chiêu đãi tân khách gồm những văn nhân nhã sĩ có tiếng trong vùng tại Đăng Vương các. Vương Bột cũng có đến dự và ngồi ở chỗ cuối cùng. Rượu vài tuần, Diêm Đô đốc nói: “Đằng Vương các là thắng cảnh của Hồng Đô, xin các vị làm cho mỗi người một bài tự (một thể biền văn) bài nào hay sẽ khắc vào bia đá để làm kỷ niệm, xin đừng từ nan”. Nói đoạn, sai viên thư ký đi phát cho tân khách giấy và bút mực. Nhưng không ai dám nhận. Khi chuyển đến Vương Bột, đám tân khách cầm chắc Vương Bột cũng từ chối thôi. Nào ngờ chàng vui vẻ nhận và bắt đầu suy nghĩ. Đám văn nhân nhã sĩ thấy vậy thì cho là chàng láo xược, không biết trời cao đất dày là gì. Đến Diêm Đô đốc cũng thấy khó chịu, nghĩ bụng: “Cái anh chàng vắt mũi chưa sạch này quả là vô lễ. Bao nhiêu anh tài ở đây mà không dám cầm bút nữa là, thật là mục hạ vô nhân, xem có viết được cái gì không?” Rồi sai viên thư ký lén dòm xem sẽ báo lại. Một lát sau, người đó bẩm: “Vừa viết được câu Nam xương cố quận - Hồng Đô tân phủ - Tinh phân Dực Chẩn, địa tiếp Hoành Lô” - Nghe xong, Diêm Đô đốc nói: “- Đó là nói về phủ Hồng Châu có gác Đằng Vương nơi phân cách giữa hai ngôi sao Dực sao Chẩn, tiếp điểm của Hoành Sơn và Ló Sơn. Cũng bình thường thôi. Ai chẳng viết được. Hãy rình xem hắn có viết tiếp được câu nào kha khá hơn không? Một lát sau, viên thư ký quay lại, hổn hển đọc: “Vật hoá thiên bảo long quang xạ Ngưu Đẩu chi lưu. Nhân kiệt

địa linh, Từ Nhu hạ Trần Phồn chi thạp” thì Diêm Đô đốc có vẻ xúc động lắm. Vương Bột đã dùng hai điển cố làm nổi bật thiên thời, địa lợi, nhân kiệt của đất Hồng Châu - Vật có tinh hoa, trời có ánh sáng huy hoàng của chân bảo, Long Tuyên bảo kiếm phóng thẳng xuống giữa khoảng sao Ngưu và sao Đẩu trong 28 vì tinh tú. Đó là điển cố lấy từ trong “Trương Hoa truyện - Tấn thư”. Tương truyền thời Tấn Vũ Đế, Trung Thư lệnh Trương Hoa vì trông thấy giữa hai ngôi sao Ngưu - Đẩu có tử khí (khí sắc tía) thì cho rằng tinh hoa của bảo kiếm đã thấu lên trời, bèn sai thuật sĩ Lôi Hoán làm Phong Thanh lệnh để ông ta đi tìm bảo kiếm. Lôi Hoán tìm được hai thanh. Một thanh gọi là Long Tuyền. Hai câu này nói là Hồng CHâu có bảo kiếm Long Truyền. Còn câu “Nhân kiệt địa linh Từ Nhũ hạ Trần Phồn chi thạp” là lấy điển cố từ trong “Thế thuyết tân ngữ” của Tư Mã Quang đời Tống, Từ Nhũ tức Từ Nhũ tử tên là Trĩ, người Nam Xương, quận Dự Chương. Nhà nghèo sống bằng nghề cày ruộng, bạn thân với Trần Phồn - Thái thú Dự Chương - Trần Phồn ít khi tiếp khách, nhưng khi Từ Trĩ đến thăm thì mới hạ chiếc giường treo trên vách xuống mời ngồi. Câu này ý nói: Hồng Châu có nhân tài kiệt xuất. Khi Diêm Đô đốc đang nghĩ vậy, viên thư ký đã trở lại báo tiếp. Đến câu: “Lạc hà dữ cô vụ tề phi - Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” thì ông ta giật mình kêu lên: “Tuyệt diệu? Thực là tuyệt diệu, cổ lai chưa từng có!” Ráng chiều và cánh chim vịt trời đơn chiếc phảng phất như cùng bay lên tầng không, chẳng sao phân biệt nổi. Nước mùa thu trong vắt cùng tiếp giáp với màu lam của trời, trời nước một màu hoà quyện với nhau nhìn không rõ đâu là nước đâu là trời. Thật là một câu biền văn xưa nay và sau này không thể có”. Vương Bột viết một hơi xong bài biền văn. Diêm Đô đốc đọc to lên, rồi mời chàng ngồi lên ghế trên. Mọi người ùa cả lại khen hay, chúc mừng chàng. Từ đó, “Đằng Vương các tự” của Vương Bột trở thành kiệt tác. Và câu “Nhân kiệt địa linh” trở thành một thành ngữ trong ngôn ngữ Trung Hoa truyền mãi cho đến ngày nay. ý của câu thành ngữ đó là chỉ nhân vật kiệt xuất đã từng ở đây hoặc đã từng đi qua đây, nơi đó cũng trở thành nơi danh thắng. Tiếc thay Vương Bột đã chết giữa biển trên đường đi về Nam thăm cha ở tuổi 27!

Cũng nên kể thêm cho có trọng lượng, là trong cuốn Kinh Hoa duyên hồi 7 cũng có câu người xưa thường nói: “Nhân kiệt địa linh”. Nhân không “Kiệt” thì địa “Linh” làm sao được”. Hoặc trong cuốn Tây Hồ giai thoại đời Thanh cũng có chuyện vị tiên ở núi Cát như sau: “ở ngọn núi này thời nhà Tần từng có một dị nhân là Cát Hồng tu luyện, một thời nhân Kiệt địa Linh. Vì vậy mà lấy tên núi đặt họ cho người. Bấy nhiêu chuyện cũng chứng minh Nhân kiệt quyết định Địa linh”. - “Thôi thế thì xin chịu” - Khách hồ hởi đáp: “ồ khoan” - Chủ nhà vội bổ sung thêm: - “Tuy vậy, có khi người ta vẫn nói Địa linh nhân kiệt đấy! Ví dụ: Trong tấm bia chùa Long Hoài huyện Cửu Long Bành Châu của Vương Bột đời Đường cũng viết: “Địa linh nhân kiệt phát sáng từ trong triều cho đến ngoài nội, văn tông học phủ vượt qua Nam Đô mà tự giữ vẻ đẹp một mình”. Hoặc trong Đông Chu Liệt quốc hồi 69 có kể chuyện khi án Tử thấy thành Sính Đô trù mật kiên cố thì cho đó là “Địa linh nhân kiệt”, xứng đáng danh thắng của đất Giang Nam - Còn trong “Kỳ thư - Kim tước ký” của Vô Tâm tử đời Minh cũng có ghi: “Từ lâu đã nghe kỳ quan sông núi Hà Nam địa linh nhân kiệt. Các vị Kê Khang, Nguyễn Tịch đã từng tụ họp ở đây”. - “Như vậy thì dùng cụm từ địa linh nhân kiệt vẫn có thể được?” Khách hỏi. Đáp: - “Được! Được! Cứ theo văn pháp mà suy thì được lắm. Nhưng… đã nói thì nói cho ra đầu ra đũa, chứ không thể nói à uôm mà được. Còn khi viết ra con chữ, thì phải tuỳ văn cảnh mà đặt. Vấn đề là người nào mới là nhân kiệt, đất nào mới là địa linh? Con người đó phải là con người có tài trí vượt hẳn người thường, được dân tộc - cao hơn nữa là nhân loại - và lịch sử - công nhận, chứ đâu phải kiếm được cái bằng cao cao, leo được cái chức quan to to nào đó, mà đã vội phong ngay cho là… nhân kiệt! Núi đâu cần cao, vực đâu cần sâu, phải có tiên có rồng mới thành “danh”, thành “linh” chứ! Buông bút không suy ngẫm, người đời sẽ cho là hạng cầm bút đã không “sạch nước chữ”, lại không sạch cả “nước nịnh” nữa thì cũng nhục cho đời cầm bút!

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0