Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Tố Hữu và những câu chuyện về thơ

1 trả lời, 2.759 lượt xem — Trang 1 / 1
Tố Hữu và những câu chuyện về thơ

Trần Huyền Sâm

(Nhân đọc Tố Hữu - Cách mạng và thơ của Hà Minh Đức)



Những nghệ sĩ và những nhà chính trị lớn, sau khi mất, họ thường (hoặc bị) người đời "vén" lên bức màn bí mật về đời tư để tiếp tục xưng tụng hoặc hạ bệ. Chẳng hạn như: V.Hugo, G.Sand, M.Duras, Napoléon, Kennedy... Những người đã khuất có "sợ" sự khen, chê? Tôi nghĩ là không. Người tài năng thường có bản lĩnh, khi sống họ không biết sợ, thì khi chết, họ còn sợ ai và sợ điều gì?

Cuốn Tố Hữu - Cách mạng và thơ (1) của GS Hà Minh Đức vừa ra mắt bạn đọc, không phải là sự "khen", "chê" về một người đã khuất, mà là những câu chuyện về thơ của cố nhà thơ Tố Hữu (trong khoảng thời gian nghỉ việc cho đến lúc qua đời). Đây là cuốn sách duy nhất hiện nay, đã ghi chép một cách khá đầy đủ, tỉ mỉ những suy nghĩ của Tố Hữu về thơ, dưới dạng tâm tình.

Cuốn sách đã cho ta biết sâu hơn về những điều đã biết, và biết thêm những điều chưa biết về Tố Hữu - một nhà thơ cách mạng lớn, mang tầm vóc thời đại. Ngoài hai phần chính: Trò chuyện về thơ và Tiểu luận văn học, thời gian Hà Minh Đức còn cung cấp cho bạn đọc một số bài thơ, nhất là thơ tình của Tố Hữu còn ít được biết đến.

Tố Hữu tự nhận mình là một nhà biên niên sử bằng thơ. Sống gần trọn thế kỷ XX (hơn 80 năm tuổi đời và trên 60 năm cầm bút), chứng kiến biết bao buồn vui, trầm - thăng của dân tộc, ông đủ lòng tin, đủ trải nghiệm để nhìn đời một cách bao dung, nhìn người một cách độ lượng. Những cuộc trò chuyện về thơ của Tố Hữu không chỉ bộc lộ quan điểm về thơ ca, mà còn cho ta thấy cách nhìn của ông về cuộc đời. Con tằm rút ruột vẫn còn tơ, bởi vậy, với Tố Hữu: Sống là cho và chết cũng là cho. Dù có "đau đời" nhưng luôn tin vào đời bằng "một thái độ nhập thế đầy tích cực".

Điều thú vị và bổ ích của cuốn sách nằm ở chỗ: sự tâm tình và chân tình. Tố Hữu là một người chân thực và cởi mở. Tuy nhiên, không phải ai cũng là đối tượng để một nhà thơ bộc lộ những điều sâu kín của mình. Chuyện tri âm, tri ngộ xưa nay trong chốn làng văn là hiếm. Gắn bó với Tố Hữu vào giai đoạn nhà thơ thôi đương chức, GS Hà Minh Đức đã may mắn trở thành người tin cậy để Tố Hữu bộc lộ chuyện thơ, chuyện đời. Phải chăng, đây chính là điều kiện để nhà phê bình Hà Minh Đức "khai thác" nhiều điều thú vị còn ẩn kín ở Tố Hữu?

Từ những chuyện "bếp núc" trong sáng tác thơ ca như: Tố Hữu tự chữa thơ mình và chữa cả thơ cho Hà Minh Đức đến chuyện văn chương, chuyện hoạt động cách mạng, chuyện tình yêu và cuộc đời riêng tư... đều được tác giả ghi lại một cách chân thực và cảm động.

Hấp dẫn và thú vị nhất là những dòng tự sự của Tố Hữu về thơ mình. Nói về bài Từ ấy, Tố Hữu cho rằng, đó là những câu thơ trời cho: "Xin được nói chân tình là tôi rất phục tôi với mấy câu thơ đầu... Gần như là những câu thơ trời cho. Làm sao lại ghép được chân lý và trái tim. Thực chất của mặt trời chân lý là lý tưởng... Khi tiếp nhận được chân lý chính là gần với cuộc đời, với sự thật" (tr.55). Còn nhân vật Phước trong bài Đi đi em, là một người con trai (vậy mà lâu nay, cái giọng điệu da diết của bài thơ Rứa là hết, chiều ni em đi mãi, Còn mong chi ngày trở lại Phước ơi! Khiến cho nhiều bạn đọc nhầm là một người con gái, thậm chí là người yêu của tác giả). Nhân vật "em" trong bài Mưa rơi chính là "cô Thanh" - vợ của nhà thơ: Mưa rơi dầm lá cọ, Mái tóc em ướt rồi, Đôi má em bừng đỏ, Muốn hôn quá... mà thôi, Sợ em mình xấu hổ, Cầm hai bàn tay nhỏ, Xa nhau chẳng muốn rời". Và bài: Tiếng hát sông Hương là được gợi ý từ câu ca dao:

Sông Hương nước chảy lờ đờ

Dươi sông có đĩ, trên bờ có vua.

Ngay từ năm 1978, khi GS Hà Minh Đức viết lời tựa cho Tuyển tập thơ Tố Hữu, Tố Hữu đã bộc lộ rõ những suy nghĩ của mình về tập Từ ấy. Ông khẳng định Từ ấy là Thơ mới (nhìn từ góc độ thể loại, nghệ thuật chứ không phải trào lưu) "Không nên đối lập thơ tôi với Thơ mới. Có chỗ khác biệt, vì Thơ mới là thơ công khai, phù hợp với thị hiếu công chúng thành thị; thơ của tôi là thơ bí mật, thơ của người cán bộ bị cầm tù. Nhưng những ngày tháng học ở trường trung học và tiếp xúc với văn học phương Tây, nên thi pháp của thơ tôi gần gũi với Thơ mới". Cũng phải lưu ý rằng, đây là thời điểm mà Thơ mới chưa thực sự được khẳng định.

Ông cũng thừa nhận ảnh hưởng thơ phương Tây trong quá trình sáng tác, đặc biệt là các nhà thơ như: V.Hugo, Vigny, A.Musset, Beaudelaire, Verlaine: "Về thơ Pháp, tôi vẫn thấy V.Hugo lớn. Tôi đặc biệt thích cái tinh thần phẫn nộ chống cường quyền và tình cảm quí trọng người lao động trong thơ ông. Giọng điệu Vigny gân guốc cũng có ảnh hưởng đến tôi, nhưng tôi yêu Musset nhiều hơn. Những bài như Đêm tháng năm, có đoạn về cái chết con bồ nông, rất xúc động... Beaudelaire luôn luôn là tiếng kêu của cuộc đời đầy đau khổ. Verlaine, nhà thơ của nhạc điệu, ảnh hưởng đến tôi khá đậm. Về sau này, trong Một tiếng đờn dường như cũng có gì đấy phảng phất Beaudelaire" (tr.104).

Tố Hữu cho rằng, thơ ông có ba giọng điệu: "Thơ tôi có ba giọng điệu khác nhau. Từ ấy là một giọng điệu của tuổi trẻ... Đó là tiếng nói rất chân tình và mang nhiều tâm sự, và cũng là những lời luận chiến với những quan điểm mà mình không đồng tình. Còn Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa là một tiếng nói, một giọng điệu. Đó là vấn đề dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Đến Một tiếng đờn, lại là một tiếng nói khác - tiếng nói chiêm nghiệm của một đời người trước bao đổi thay. Có nhiều chuyện buồn, hay đúng hơn là rất đau, nhưng vẫn giữ niềm tin riêng. Tôi nghĩ, ít ai tổng kết chuyện đời như thế trong thơ". (tr.32).

Những ý kiến trên là cơ sở để chúng ta nghiên cứu thơ Tố Hữu một cách xác đáng và toàn diện hơn.

Trong số các nhà thơ hiện đại, trừ Chế Lan Viên, theo tôi, Tố Hữu là người nói về thơ hay nhất. Chính tác giả Pièrre Emmanuel trong bài Máu và hoa "con đường của nhà thơ Tố Hữu" (2), cũng thừa nhận điều đó. Tố Hữu đã có những câu nói khá nổi tiếng về bản chất của thơ ca. Từ quan niệm "Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của cuộc đời", Tố Hữu đã bộc lộ một ý tưởng rất độc đáo với M.Gansel - người đã dịch thơ ông ra tiếng Pháp: "Thơ là cái đó: sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cái im lặng đó, thì có những tiếng dội rất đa dạng và rất tinh tế... Thơ phải chăng là điều ấy: mơ ở trong thực, cái vô hình trong cái hữu hình. Những sắc màu ở trong màu trắng. Đó là điều mà người ta gọi là sự tinh diệu của ngôn ngữ và của tâm hồn. Những màu trong thâu: không sáng, cũng không tối, là mờ nhưng lại rõ, cái chính xác của sự mơ hồ, cái bảng lảng - có thể gọi như vậy, khi người ta là thi sĩ..." (2). Cũng chưa ai ví thơ là một cành chính trị như Tố Hữu. Những bài thơ sáng tác trong thời gian bị giam cầm ở nhà lao Thừa Phủ, được thời gian viết bằng lá cây để đảm bảo bí mật: "Đó là những ấn phẩm đầu tiên của tôi, cả một cành thơ... Một cành... một cành với những lá xanh! Thật là vô tội, là hiền hậu, một nhành thơ và... nhành chính trị"(2). Với Tố Hữu, thơ là tiếng nói của cuộc sống và trở về với cuộc sống. Nó là hương của hoa, là núi của đất, là sự kết tinh lắng đọng nhất của trái tim, tâm hồn con người. Bởi vậy mà "phải sống đến tận cùng mới có tác phẩm hay". Từ năm 1974, GS Hà Minh Đức đã có bài nghiên cứu Tố Hữu - quan niệm về thơ, trên Tác phẩm mới. Bài viết đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về quan niệm thơ của Tố Hữu. Trong cuốn sách vừa phát hành này tác giả cũng đã "nhinì lại" một số phương diện về thơ của Tố Hữu, bởi vậy, người đọc cũng thấy "mềm mại" và thoả đáng hơn.

Năm tháng cuộc đời cũng đã giúp nhà thơ suy ngẫm lại những gì mình đã viết. Tính chất lý tưởng, ngợi ca trong thơ Tố Hữu, về sau, cũng có phần nhạt đi, tính hiện thực, tính chiêm nghiệm rõ hơn: "Trước đây, tôi tưởng nhiều vấn đề của cuộc sống có thể giải quyết bằng một thập kỷ qua, thực ra, có khi phải hàng thế kỷ mới rõ được". Tiếng hát sông Hương là một bài thơ nổi tiếng về đề tài kỹ nữ trước 1945. ở đó, nhà thơ đã hứa với cô gái: "Ngày mai trong giá trắng ngần, Cô thôi kiếp sống đày thân giang hồ". Lời hứa đó hoá ra, giờ đây, không trở thành hiện thực. Số phận kỹ nữ vẫn còn là vấn đề nhức nhối: "Năm mươi năm về trước, bài Tiếng hát sông Hương là niềm tin chân thành của tôi vào tương lai, vào sự tốt đẹp của xã hội mới, dưới chế độ cách mạng... Và lời hứa của tôi năm mươi năm xưa hoá ra là một ước mơ viễn vông? Nhưng có lẽ nào dưới chế độ ta lại không giải quyết được nạn đau khổ ấy? Và mỗi chúng ta, có thể nào lại dửng dưng?" (tr.23).

Có lẽ, đó là lý do để Một tiếng đờn mang một giọng điệu khác với tập thơ trước. Để hiểu hơn về Tố Hữu, chúng ta cần tìm hiểu nỗi niềm của ông trong Một tiếng đờn.

Trong cuốn Tố Hữu - cách mạng và thơ, có một chi tiết đáng lưu tâm. Đó là nhà thơ Tố Hữu đã "đòi nợ" GS Hà Minh Đức về tập thơ Một tiếng đờn: "Ông còn nợ mình Một tiếng đờn. Nhà phê bình có ý lẩn tránh?" (tr.32).

Người viết bài này cũng đã có dịp trò chuyện với Tố Hữu về thơ (vào một ngày hè tháng năm 1998, khi tôi đang thực hiện đề tài luận án Tiến sĩ). Buổi trò chuyện về thơ hôm ấy, Tố Hữu đã đề cập đến nhiều điều rất thú vị, trong đó, nhà thơ có xoáy sâu một điều: "Thơ tôi đã được nhiều người nói đến, riêng tập Một tiếng đờn thì chưa có được niềm đồng cảm. Một tiếng đờn nhưng nhiều nỗi niềm lắm... anh Trần Đình Sử, anh Hà Minh Đức nói nhiều và nói hay về thơ tôi, nhưng Một tiếng đờn thì chưa...".

Theo Tố Hữu, Một tiếng đờn là tập thơ nói rõ nhất những day dứt của ông trong giai đoạn lịch sử có nhiều biến động: "Một tiếng đờn ra đời trong tình hình khá phức tạp, nhất là từ năm 1990... Hiện thực bề bộn nhiều mặt, phải trái, tốt xấu có khi lẫn lộn, lòng người lắm lúc chao đảo... Bài Một tiếng đờn không chỉ là tâm trạng riêng tôi. Chưa bao giờ tôi viết một bài thơ buồn như thế, nhất là bốn câu cuối: Có khổ đau nào khổ đau hơn, Trái tim tự xát muối cô đơn, Em ơi nghe đó trong tim lạnh, Đằm thắm bên em một tiếng đờn." (tr.108).

Quả vậy, Một tiếng đờn đã mang một giọng điệu khác, một cách nhìn khác về cuộc đời. ở đó, không còn là một Tố Hữu hồn nhiên, sôi nổi như Từ ấy, ngọt ngào, tha thiết như Việt Bắc, nồng nàn, mãnh liệt, lạc quan như Gió lộng, ra trận, Máu và hoa. Một tiếng đờn đã vương một nỗi buồn sâu thẳm, đượm một nỗi đớn đau và thoáng một nỗi hoài nghi trước cuộc đời: "Xuân đang ở đâu, đang về đâu? Ta đang ở đâu, đang về đâu?... Người qua đường đó, là ai đó, Có biết lòng nhau, rõ mặt nhau? Giọng thơ sôi nổi, đằm thắm ngày nào giờ như chùng xuống, pha lẫn sự đắng cay: Đã đau rồi, xin chớ để đau thêm"; thậm chí đã xuất hiện những sắc thái châm biếm:

Văn chương bút bẩn, bao hàng rởm

Lý luận đầu trơn, ối tập dày!

Bằng hình thức tâm tình, trao đổi, các bài viết, các bài ghi chép của GS Hà Minh Đức đã khơi gợi ở người đọc nhiều điều thú vị, sâu sắc về Tố Hữu. Cũng phải thừa nhận rằng, sự nhạy cảm của một cây bút chuyên viết ký, đã giúp tác giả "chớp lấy" những chi tiết rất bất ngờ, thú vị. Người đọc không khỏi ngạc nhiên về chi tiết này ở Tố Hữu trong buổi nói chuyện với sinh viên báo chí ĐHTH vào năm 1994: "Chị Đoàn Hương chuyển cho nhà thơ những ý kiến nhận xét của sinh viên... Tố Hữu vui vẻ nhận: Đây là món quà quý đối với tôi. Tố Hữu chào mọi người và đến gần Đoàn Hương hôn nhẹ lên trán chị". Hoặc hình ảnh ngôi nhà của Tố Hữu với những cây hồng, táo, bưởi... hoa thơm ngào ngạt, qua ngòi bút của Hà Minh Đức cũng "đổi sắc" theo thời gian như giai điệu của Từ ấy đến Một tiếng đờn.

Đọc xong tác phẩm, tôi hình dung ra một Tố Hữu ở nhiều phương diện: Tố Hữu - con người nhiệt huyết với cách mạng, con người say đắm với thơ ca, con người ấm áp tình người và day dứt trước tình đời. Và trong tôi vang lên những dòng thơ vĩnh biệt cuộc đời của nhà thơ:

Tạm biệt đời ta yêu quí nhất

Còn mấy dòng thơ một nắm tro

Thơ gửi bạn đường, tro bón đất

Sống là cho, chết cũng là cho.

Đằng sau Tố Hữu - Cách mạng và thơ, người đọc còn thấy "một con mắt" và tấm lòng của tác giả Hà Minh Đức đối với nhà thơ Tố Hữu. GS Hà Minh Đức là người đã từng gắn bó sâu sắc với nghiệp thơ của Tố Hữu. Các công trình nghiên cứu của ông đã có những đóng góp quí báu. Cuốn Tố Hữu - Cách mạng và thơ sẽ là tư liệu hữu ích cho sinh viên, cho giới nghiên cứu - phê bình và tất cả những ai quan tâm đến Tố Hữu.

Tuy nhiên, với cuốn sách này, GS Hà Minh Đức cũng vẫn chưa "trả nợ" được cho Tố Hữu về Một tiếng đờn. Đây vẫn là khoảng trống để chúng ta tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu về Tố Hữu - nhà thơ tài năng, nhà thơ cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người đã "đốt lửa" và "gieo hạt" cho đến tận cuối cuộc đời.

Huế, đầu xuân 2005



(1) Hà Minh Đức - Tố Hữu - Cách mạng và thơ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 301 tr. 2004 (Các trích dẫn được lấy từ cuốn sách này).

(2) Phong Lan - Tố Hữi về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2001.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Tố Hữu (1920-2003)


Tiểu sử

Nhà thơ Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920. Quê gốc ở làng Phù Lai nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Nơi ở hiện nay: 76 Phan Đình Phùng, Hà Nội. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Tốt nghiệp Thành Chung (cũ). Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, từ sáu, bảy tuổi Tố Hữu đã học và tập làm thơ. Giác ngộ cách mạng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ và trở thành người lãnh đào Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế. Những bài thơ đầu tiên được sáng tác từ những năm 1937-1938. Tháng 4-1939 bị thực dân Pháp bắt, giam giữ ở các nhà lao miền Trung và Tây Nguyên. Tháng 3 – 1942, vượt ngục ĐắcLay, tiếp tục hoạt động cách mạng. Hoạt động bí mật đến 1945. Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế. ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng (1951), ủy viên Ban Bí thư (từ 1958-1980), ủy viên Bộ chính trị (từ 1976-1986), Trưởng ban Tuyên huấn- Khoa giáo. Hiệu trưởng Trường Nguyễn ái Quốc, Trưởng ban Thống Nhất (1974-1975). Trước khi mất là phái viên Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.

Tác phẩm chính

Từ ấy (thơ, 1946); Việt Bắc (thơ, 1954); Gió lộng (thơ, 1961); Ra trận (thơ, 1972); Một tiếng đờn (thơ, 1992); Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta (tiểu luận, 1973); Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (tiểu luận , 1981), Đợi anh về(tập thơ dịch, 1998).

Ông đã được: Giải nhất giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955 (tập thơ Việt Bắc); Giải thưởng văn học ASEAN (1996); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật (đợt 1, 1996).

Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0