Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Bản sắc văn hóa dân tộc trong thơ tình yêu

2 trả lời, 33 lượt xem — Trang 1 / 1
Bản sắc văn hóa dân tộc trong thơ tình yêu

Vũ Quần Phương

Thơ tình yêu là nơi người ta dễ bộc lộ tính tình, bộc lộ lối sống, bộc lộ bản lĩnh xử thế. Bằng vào thơ tình yêu, chúng ta có thể nhận ra tầm vóc tâm hồn của từng người và đặc trưng văn hóa, theo nghĩa rộng nhất, của cả một dân tộc.
Nguyễn Trãi, con người có tầm kinh bang tế thế và một cốt cách lớn lao, đã có lúc đứng lồng lộng trước lịch sử mà gọi hoàng đế một đại quốc xâm lược bằng thằng nhãi con, ấy thế mà trong thơ tình lại rất dút dát:

Loàn đơn ướm hỏi khách lầu hồng
Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng

Ngoài ấy dầu còn áo lẻ

Cả lòng mượn lấy đắp hơi cùng

Loàn đơn, tiếng cổ, một cách xưng hô khiêm nhường, cõi lòng đơn sơ thô thiển này xin được ướm hỏi, rụt rè hỏi. Hỏi mượn áo người khác giới đâu có dễ, nên dù là Nguyễn Trãi vẫn cứ phải uốn lưỡi mãi, ướm mãi mới dám hỏi. Khách lầu hồng là lối xưng lễ nghĩa quá đáng, mất cả thân tình. Nhưng lại là khoảng cách cần thiết, gần quá chuyện mượn áo dễ thành buông tuồng. Kẻ lạnh lùng là một cách tội nghiệp hóa cái thân mình. Nghĩa đen thì tôi đang rét đây, lý do chính đáng để mượn áo đấy, nhưng lạnh lùng còn mang nghĩa khác, trong trường hợp này nghĩa ấy mới là nghĩa chủ yếu, còn hơn cả sự rét mướt, ấy là cái lạnh của láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều. Ướm mãi mà cũng chỉ dám mượn cái áo lẻ, áo thừa, áo đề mốt đê thôi. Câu cuối mới thật nhũn nhặn; xin người rộng lòng (cả lòng) để tôi được lấy hơi cùng. Điều thú vị ở bài thơ ngắn cách chúng ta năm thế kỷ này là đằng sau giọng hỏi mượn khiêm tốn lễ độ ấy lại là một lời tỏ tình táo bạo; hỏi mượn cái áo đã là bạo mà lại nói cốt để lấy hơi cùng thì cái dụng tâm rõ quá. Cô gái nhất định bắt được cái tín hiệu ẩn này. Nếu cũng có tình ý coi như xong mà không thuận cũng chẳng có lý do gì để từ chối, càng không thể chanh chua như trong câu ca dao: Đứng xa mà cắn móng chân/ Nhích lại cho gần mà cắn móng tay. Cái "chiến lược" ngoài rụt rè trong táo bạo này đâu chỉ đắc dụng trong tình yêu mà đã là một phép ứng xử trong nhiều lĩnh vực xã hội. Lê Quý Đôn khái quát gọi là ngoài tĩnh trong động. Sau này, ở tuổi tri thiên mệnh, Chế Lan Viên cũng chiêm nghiệm:

Tuổi năm mươi tình yêu như lửa đỏ
Nhưng bên ngoài vẫn cứ trắng như không

Hơn mười thế kỷ dựng nước theo mô hình phong kiến lấy tam cương ngũ thường làm nền tảng phán xét và xử sự. Trong đạo vợ chồng thì xuất giá tòng phu, thì phu xướng phụ tùy. Nhưng trong tình yêu, nhất là trong ca dao, cái giáo lý ấy lại ít được áp dụng. Chủ yếu hơn lại là quy luật thuận vợ thuận chồng. Trong tình yêu, tình vợ chồng, người phụ nữ ở xứ ta được đề cao hơn. Ông Tú Xương trong bài Thương vợ vừa bộc lộ tình thương thấm thía, xao xác khi nghĩ tới cảnh lam làm kiếm sống của vợ

Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Vừa nói lòng biết ơn vợ và còn có gì như nhân hậu ở bên trong:

Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không

Cụ Nguyễn Khuyến, bậc khoa bảng nổi tiếng tài cao, làu thông kinh sử, có đôi câu đối khóc vợ vượt hết mọi thứ giáo lý để lộ tiếng khóc khan tội tình của ông già mất nơi nương tựa và không ai tri kỷ. Lời văn cứ để mộc mà đau đớn như nước mắt tự chảy tự khô:

Nhà chỉn cũng nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quay cồng, tất tả chân nam đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc.

Bà đi đâu vội bấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.

Đấy là tình và cũng là nghĩa, là yêu mà cũng là thương ([*]). Tình nghĩa, yêu thương. Những từ kép ấy tồn tại trong tiếng Việt là do tình cảm của người Việt. Người Việt mình vốn nặng tình thương nên ưa dân chủ, bình đẳng. Thể chế quân thần phong kiến tập quyền đè nặng là thế, ông bà ta vẫn có cách phản ứng lại, lấy khẩu khí dân gian mà điều chỉnh giáo điều:

Quan có cần nhưng dân chưa vội
Quan có vội quan lội quan sang

Hoặc:

Trong tình yêu, dân chủ là đề cao vai trò của người phụ nữ. Cô Thúy Kiều xăm xăm băng lối vườn khuya một mình chủ động đến với hạnh phúc. Cô gái nông dân trong ca dao còn chủ động hơn:

ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi

Cô gái chủ động mời, lại lo cả giao thông (một việc không dễ, đến tổng cục du lịch lúc này cũng chưa làm nổi). Cô bắc cầu. Cầu của cô không làm bằng nguyên liệu của bộ giao thông vì bằng nguyên liệu ấy thì ai cũng có thể qua cầu. Cô bắc cầu chỉ để một người qua nên cô đã dùng thứ đồ phụ tùng riêng tư nhất, đậm giới tính người con gái, để làm cầu. Chàng cứ lần theo cái cầu này là vào thẳng vùng cấm địa của em rồi. Cưa kéo chủ động và hết mình như thế, ai mà không đổ. Điều đáng lưu ý là ý bạo nhưng lời kín đáo tế nhị, đầy e lệ. Trước khi nói tới dải yếm cô nói tới chiếc cầu, trước khi nói đến cầu cô nói đến sông, sông thì được kỳ ảo hóa, rộng một gang, và tồn tại trong mơ ước: Ước gì... Cái dải yếm do vậy được kỳ ảo theo, nó tan đi cái vỏ vật chất chỉ còn là ký hiệu của tin cậy, ký thác.

E lệ trong tình yêu là một đặc điểm của nữ tính Việt Nam, bộc lộ khá rõ trong thơ tình, nhất là trong thơ Nguyễn Bính:

Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình... với nhau.

Cô gái trốn một động từ, nói đến chữ yêu cô thấy ngượng. Một cô gái khác trong khung cửi dệt lụa quanh năm với mẹ già thì chỉ nghĩ đến anh thôi đã đỏ mặt, tự thẹn nhưng khi tự thú, với mình thôi, mà cũng vẫn cứ ngượng, hai lần cô giảm nhẹ sự thật: hình như, có lẽ:

Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh

Đời sống hiện đại hình như, có lẽ đã làm hao hụt tính e lệ của các cô. Các cô bây giờ động từ rất tự nhiên: Kìa cao cao trên cửa sổ có hai người hôn nhau. Hôn nhau mà qua các loa phóng thanh ầm cả phố. Trong nghĩa trang hình như các cụ đã phải nhỏm dậy mà rằng: hôn cứ hôn việc gì phải gào lên. Cao hơn cả dân chủ bình đẳng ấy là sự chịu thiệt, sự hy sinh cho người mình yêu. Bị phụ bạc, cô gái trách người tình, trách rất nhẹ, buồn là chính, nhưng dù trách nhẹ cô lại thể tình cho người ta ngay, bằng tự trách mình nghèo:

Buồn từ trong dạ buồn ra
Buồn anh có bạc buồn cha mẹ nghèo

Xuân Diệu có bài tứ tuyệt thâu tóm đời anh:

Nửa mưa, nửa nắng là em
Mưa thưa nắng nhạt vườn thêm bùi ngùi

Anh như trái lựu chín mùi

Lắm khi vừa vỡ vừa cười đó em

Sự bùi ngùi làm ta cảm mến. Cảm mến sự thầm chịu, "trong héo ngoài tươi" của người trong cuộc. Ca dao giới thiệu một ứng xử khác cũng cảm động, cảm động vì vẻ đẹp của nhân cách:

Mình nói dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua cửa thấy con mình bò

Con mình những trấu cùng tro

Ta đi gánh nước tắm cho con mình

Ngẫm câu ca dao này lại nghĩ đến việc bây giờ người ta hắt a xít vào mặt nhau vì thất tình càng thấy việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc đã thành việc cấp lắm rồi. Gấp nhưng lại cần khoan thai để gỡ từng mối một, nhất là có những mối do chính cơ chế xã hội của chúng ta tạo nên.

Tình yêu đòi hỏi sự hồn nhiên, coi trọng sự chân thành, trong bản chất, nó chống lại mọi nghi thức, mọi ước lệ thể chế. Nghi thức thể chế thì thường cải trang thành tập tục hòng chế ngự tình cảm con người một cách ngỡ như hồn nhiên. Nhưng trái tim thi sĩ bằng thơ giúp cho người đời phân biệt đâu là những quy ước có tính văn hóa, có sức bảo vệ và nâng cao phẩm chất cộng đồng, đâu là những quy ước vùi dập nhân phẩm, chỉ bảo vệ uy quyền bọn thống trị. Đòi tự do yêu đương thành một phong trào bùng nổ với chủ nghĩa lãng mạn, nhưng đã được bắt đầu từ rất sớm trong thơ và bền bỉ qua mọi thời đại. Giáo lý đề cao vua, coi vua là con trời (thiên tử), thơ ca đề cao tình yêu, coi vợ hơn trời, nhất vợ nhì trời. Cụ Nguyễn Khuyến còn can khéo, cứ như đang làm giảm uy thế vợ Vợ chỉ hơn trời có cái chai. Không biết là chai (rượu) hay trai (con trai). Cụ Nguyễn Khuyến là hay nói lỡm lắm (xem bài miếu ông Cuội). Và lỡm thế thì còn gì là oai vua, oai trời. Vua là thứ đi quá tầm người nên tình yêu của vua cũng quái đản lắm. Cung tần mỹ nữ vào "hầu ngủ" vua cũng không được phép nhìn mặt rồng, các quan thì năm thê bẩy thiếp, đi hia cầm hốt, bộ tịch quan dạng ngay cả trong chốn tình trường. Ca dao tát cho một cái nẩy đom đóm mắt cả lũ:

Ban ngày quan lớn như thần
Ban đêm quan lớn tần mần như ma

Không nên ép câu ca dao này chức năng phản phong, nó chỉ phản sự giả dối, sỹ diện hão. Đã giả dối thì thuộc tầng lớp nào cũng chống, vua quan, thầy đồ, sỹ tử, dân thường... chống tất (xin xem truyện tiếu lâm). Các thi sỹ đích thực, cửa Khổng sân Trình cũng không làm méo được trái tim của họ, họ chân thật với tình, không che giấu một nỗi lòng say đắm trần tục. Nguyễn Gia Thiều:

Khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào
Miếng tình nghẹn mãi biết làm sao

Muốn kêu một tiếng cho to lắm

Rằng ối ai ôi nó thế nào

Nguyễn Công Trứ:

Giang sơn một gánh giữa đồng
Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng?

Trong thời kháng chiến chống Pháp và ít năm sau đó, khi các đám cưới có khẩu hiệu Vui duyên mới không quên nhiệm vụ thì các nhà thơ chính quy cũng kiêng viết thơ tình. Hai bài thơ tình đặc sắc thời kháng chiến chín năm thuộc về hai tác giả nghiệp dư, người dân tộc thiểu số: Bạc Văn ùi, bài Em tắm và Cầm Vĩnh Ui, bài Nhớ vợ. Nhớ vợ, ai có vợ mà chả nhớ, nhưng các bác cán bộ không dám bộc lộ tình cảm này sợ bị coi là yếu đuối. Thi sỹ dân gian Cầm Vĩnh Ui cứ hồn nhiên có sao nói vậy, hóa ra lại có bài thơ hay, hay về tình cảm lại hay về tư tưởng chính trị toát ra từ cái khúc khích tươi rói của đời thực. Vui duyên mới cứ vui, đã không quên nhiệm vụ mà còn thực thi xuất sắc nhiệm vụ. Nhớ vợ, xin về hai ngày, trả đúng phép:

Ngày kia tôi về đến
Lại cầm súng được ngay

Tôi càng bắn đúng Tây

Vì tay có hơi vợ

Với những trái tim lương thiện, hạnh phúc đồng nhất với sự nghiệp, cứ hồn nhiên mà đồng nhất, không phải nghiến răng nghiến lợi, lên gân lên cốt, lấy cái nọ loại trừ cái kia. Sandoz Petophi, nhà thơ người Hung, hy sinh trên chiến địa năm 27 tuổi, bộc lộ rành rọt:

Sống vì vợ đẹp và rượu ngon
Chết hy sinh cho tổ quốc

Đời ai được thế này

Là người sung sướng nhất

Hai vế sống và chết ấy là một kết hợp. Không nên quên một vế nào. Nghiêng về vế bên này là ích kỷ, nghiêng về bên kia là dối lòng. Anh bộ đội chiến khu Việt Bắc thời ấy không dối lòng và cũng không quên phấn đấu:

Cho tôi đi anh nhé
Về ôm vợ hai đêm

Vợ tôi nó sẽ khen

Chồng em nên người giỏi

Nhà cách mạng Trường Chinh, trong bài thơ tạm biệt vợ năm 32 tuổi (1939), cũng có một kết hợp như tất yếu, khi hẹn với vợ:

Em đón anh về với tự do
Bản sắc văn hóa dân tộc chan hòa trong mỗi hành vi, ý nghĩ, tình cảm của chúng ta. Phân tích dễ lan man và quy nạp không thể hết. Bản thân nó là đời sống, vừa cố hữu vừa biến đổi. Thơ tình yêu là tấm gương soi những tâm hồn yêu. Ngó tấm gương để thấy lại tâm hồn, qua phẩm chất tâm hồn, phẩm chất yêu mà luận ra cội nguồn tác động của văn hóa dân tộc. Chúng tôi tự giới hạn một không gian hẹp đó mong dễ dàng hơn cho sự săn tìm cái báu vật vô hình bản sắc văn hóa dân tộc. Từ đó mong tìm ra một phương châm sống, một cách thức yêu chất chứa những tinh tuý sâu nặng của tình cảm, của nghị lực mà cha ông ta đã kinh qua và truyền lại.

(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Bác Mickey dạo này có gì vui ma` vào đây tung chiêu<< mãn thiên hoa vũ >> làm bà con tối mày tối mặt.Không đọc hết nổi thì làm sao mà dám có ý kiến ý cò ha? các bác. hic hic.
light
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-05 08:42:32Trương Củng>
Chiêu "Mãn thiên hoa vũ" này của kỳ nữ cung Linh Thứu thiệt là tuyệt. Không dễ gì kiếm ra gần chục bài bình luận một ngày trên net đâu nhé. Từ từ mà đọc, nhiều bài hay lắm đây, như Cevantès chàng hiệp sĩ phục hưng, Toạ thiền, Bài thơ con số không, Bài thơ Chiều xanh... Một số bài khác chỉ là điểm sách viết cho báo, viết như bài giới thiệu phim, chỉ lướt qua cho biết.
Cám ơn Mickey nhé. Mong Mickey sẽ tiếp tục đăng bài, cho dầu chỉ có một đôi người đọc!!!
Thân
TC
Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
Đăng nhập để trả lời
0