Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Thơ và thơ dân tộc thiểu số đi về đâu?

0 trả lời, 59 lượt xem — Trang 1 / 1
Thơ và thơ dân tộc thiểu số đi về đâu?

Inrasara

Thơ sẽ đi về đâu?

Thơ không đi đến đâu cả, nhưng nó cứ đi, đi về nơi nó tưởng nó sẽ đến. Nhưng dẫu có đi tới đâu, nó cũng phải trở về, trở về nơi nó xuất phát: con người, trong ngôi nhà của nó: ngôn ngữ. Lang thang đi tìm hình dạng ngôi nhà thích hợp cho con người cư trú là bổn phận của thơ. Mọi nơi, mọi thời, Đông hay Tây, kim hay cổ. Khác điều, tốc độ cuộc sống hôm nay đi nhanh hơn, nên hình dạng thơ thay đổi nhanh hơn. Cứ mỗi 5-7 năm làm ta giật mình cái. Nhưng mặc ta nhăn mày hay hãi sợ, thơ cứ phải thay đổi, nếu nó không muốn … bệnh! Cùng thế giới, xã hội Việt Nam đang đổi thay. Cùng với thơ thế giới, thơ Việt cũng đang chuyển động. Nó dõng mãnh (hay ẻo lả) đi về hướng nó cần đến: sự dịch chuyển không ngưng, không nghỉ.

*

Việt Nam là đất nước đa văn hoá, văn chương Việt Nam là nền văn chương đa ngôn ngữ. Nhưng hôm nay văn chương tiếng Thái, Tày, Mông, Êđê, Chăm… đang rất lép so với người anh em Việt. Bởi dẫu sao, thơ tiếng Việt còn được sáng tác bởi lực lượng hùng hậu (trong đó có cả anh em dân tộc thiểu số), hùng hậu đến nỗi đã không ít vị kêu làng nó lạm phát! Còn Chăm, Êđê… thì hầu như vắng hoe! Không người đọc, nhà thơ dân tộc thiểu số mất đi đáng kể chất kích thích sáng tạo. Như kẻ đứng trước cử toạ đây đang đọc phát biểu bằng tiếng Việt hai lần nhận giải thưởng thơ của Hội Nhà văn cũng bằng các sáng tác tiếng Việt, từ 10 năm nay, đã không còn hứng thú trong làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ nữa. Vậy mà kẻ đó lâu nay từng được cho là “người lưu giữ văn hoá dân tộc”!

UNESCO cho biết, mỗi tháng nhân loại mất đi hai ngôn ngữ. 400 năm qua, hơn 1000 ngôn ngữ loài người bốc khói. Với một cụm di tích, một nền văn chương cổ…, chúng ta có thể phục chế, sưu tầm, dịch thuật để người đời sau thưởng lãm, nghiên cứu. Nhưng hỏi nếu ngôn ngữ sống của một dân tộc mất đi, chúng ta hành xử như thế nào? Bất khả. Ngôn ngữ dân tộc tồn tại và phát triển qua sáng tác văn chương, nhưng hôm nay có mấy ai/ còn ai làm thơ, viết văn bằng tiếng Chăm? Tiếng Tày, Thái, Dao…?

Chúng ta thử nêu sơ bộ 10 khuôn mặt văn nghệ dân tộc thiểu số hôm nay, xem họ đã và đang làm gì cho thơ tiếng dân tộc nói riêng và, ngôn ngữ dân tộc nói chung? Tiêu chí chọn:

- Những người sáng tác thơ và, thành danh bằng thơ.

- Nhiều dân tộc khác nhau càng tốt, riêng Tày được chọn ba do lực lượng người viết đông hơn cả. Ba người thuộc ba thế hệ khác nhau (1).

Ta thử nhìn lại và phân tích:

- Có 4 nhà thơ chỉ thuần sáng tác bằng tiếng Việt: Y Phương, Hơ Vê, Thanh Pôn, Pờ Sảo Mìn.

- Hai vị có tham gia nghiên cứu - dịch thuật vốn cổ văn học dân tộc, nhưng thành tích còn khá khiêm tốn: Triệu Kim Văn, Lò Cao Nhum.

- Dương Thuấn, dù thuộc thế hệ trẻ nhưng đã có một thi phẩm sáng tác bằng ngữ Tày, một bằng song ngữ Việt - Tày, là điều rất đáng khích lệ.

- Có 3 nhà thơ vừa sáng tác bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc bên cạnh nghiên cứu văn học và ngôn ngữ dân tộc, dù mỗi người đặt nặng từng khía cạnh mỗi khác: Nông Quốc Chấn, Lò Ngân Sủn, Inrasara. Trong đó, đặc biệt nhà thơ quá cố Nông Quốc Chấn dịch ngược thơ Việt sang tiếng dân tộc.

- Ngoài ra, tôi muốn nêu thêm một tên tuổi quen thuộc: nhà thơ Triệu Lam Châu (sinh 1952, dân tộc Tày), anh còn dịch truyện Nga sang ngữ Tày nữa!

Qua phân tích, ta thấy đa phần nhà thơ người dân tộc thiểu số chú ý đến sáng tác bằng tiếng dân tộc, vẫn còn quan tâm đến đào sau vào văn chương - ngôn ngữ dân tộc để làm giàu sang tiếng dân tộc đồng thời khai thác khía cạnh độc đáo trong ngôn ngữ dân tộc, từ đó vận dụng vào sáng tác thơ bằng tiếng phổ thông. Đây là điều rất cần thiết, có tác động qua lại mang tính biện chứng trong phát triển hai thứ tiếng. Chính nhờ vận dụng lối nói, lối nghĩ dân tộc vào thơ mà các nhà thơ dân tộc thiểu số đã tạo được vài giọng riêng đóng góp vào nền thơ Việt thời gian qua.

Thế nhưng, như vậy vẫn còn là quá yếu so với yêu cầu thực tiễn từ phía ngôn ngữ dân tộc và người đọc là bà con dân tộc thiểu số. Nông Quốc Chấn: 6 tập, Dương Thuấn: 2 tập, Inrasara chỉ mới nửa tập! Việc nghiên cứu mang tính chiều sâu về ngôn ngữ - văn chương dân tộc càng yếu hơn nữa.

Phần nhà thơ đã vậy. Các cơ quan báo chí giữ vai trò và hỗ trợ gì trong phát triển thơ dân tộc thiểu số? Tạp chí Văn hoá các dân tộc ra định kỳ hàng tháng đăng đủ loại từ sáng tác thơ văn, nhạc hoạ cho đến sưu tầm - nghiên cứu thuộc mọi dân tộc, vùng miền. Cần thiết, nhưng không đủ. Phụ san của tờ Văn nghệ là Văn nghệ dân tộc, mỗi kỳ đăng vài bài thơ song ngữ, dù rất cố gắng nhưng cũng chưa thấm vào đâu. Chúng ta chưa thử xem các bài thơ ấy có tác động gì đến suy nghĩ của đồng bào về tiếng và văn chương dân tộc? Hay chỉ mãi dậm chân ở phong trào?

Một tạp chí hay đặc san dành riêng cho các dân tộc có phong trào sáng tác mạnh, chúng ta đặt vấn đề đó ra chưa? Đồng bào có nhu cầu thực? Không nói đến dân tộc Hoa hay Khmer, họ có cả bề dày truyền thống văn chương ở phía sau với một lượng rất đông người đọc phía trước; và thực tế họ cũng đã có các tập san… bằng ngữ dân tộc cho họ. Ngay người Tày, với số dân khá đông bên cạnh hơn chục nhà thơ (tôi chỉ kể những người viết là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam), cũng không có đặc san cho riêng mình. Tại sao? Hay Tày không thích đọc thơ bằng tiếng mẹ đẻ? Tày đã như vậy, thế còn Chăm nữa.

Đây là xu hướng chung của phát triển: Con người luôn hướng về phía mạnh, phía đông. Chúng ta biết, không ít nhà văn Đông Âu, khi lưu vong sang phương Tây, đã viết thẳng bằng tiếng Anh hay Pháp. Nửa thế kỷ nay, tác giả Việt sáng tác bằng tiếng Pháp không phải là chuyện hiếm. Rồi hơn hai thập niên qua, ít nhất cũng có năm nhà thơ Việt kiều thành danh trên đất Mỹ bằng chính ngôn ngữ bản địa… ở Việt Nam, không chỉ các nhà thơ dân tộc thiểu số xu hướng sáng tác thuần bằng tiếng Việt, mà ngay cả người đọc dân tộc thiểu số cũng không hào hứng lắm trong đọc văn bản bằng tiếng mẹ đẻ nữa. Không có tác phẩm hay để đọc hay chưa đủ lưng vốn tiếng dân tộc để đọc? Theo tôi, nó bao gồm cả hai nguyên nhân.

Còn việc dạy và học tiếng dân tộc, nó có giúp ích được gì cho sáng tác và tiếp nhận thơ tiếng dân tộc? Ngoài Hoa, theo tôi được biết, có 4 dân tộc được Bộ Giáo dục dành cho chương trình dạy tiếng - chữ trong trường tiểu học là: Khmer, Mông, Bana, và Chăm; trong đó Chăm được Trung tâm giáo dục dân tộc thuộc Bộ Giáo dục đánh giá tốt hơn cả trong việc biên soạn sách bằng ngữ dân tộc, dạy và học tiếng - chữ dân tộc. Số liệu mới nhất của Ban biên soạn sách chữ Chăm về công tác này:

Sau ba lần chỉnh lí, giờ đây cũng đã in ấn trên 25.000 cuốn phục vụ cho các trường ở địa phương. Cụ thể cho đến năm học 2000 - 2001, đã có 10.102 học sinh ở 345 lớp của 22 trường tiểu học được cấp miễn phí tài liệu. Ngoài ra, từ lớp bốn trở lên các em học sinh trong cộng đồng người Chăm còn nắm bắt thêm nền văn học của mình thông qua chữ viết.

Đó là thành tựu không thể chối cãi, tác động tích cực trong duy trì và phát triển tiếng - chữ dân tộc Chăm thời gian qua. Nhưng, sau cấp tiểu học, các em không được học tiếp, sách đọc thêm cho các em: Không. Không cả tạp chí cho các em đọc hay tạo điều kiện cho tài năng văn chương cơ hội thi thố nữa. Lực lượng độc giả và tác giả tương lai Chăm sẽ ra sao trong tình trạng ấy? Và ngôn ngữ dân tộc? Nó có nối thêm tên vào bảng danh mục ngôn ngữ nhân loại bốc khói của UNESCO, thời gian tới?

*

Tình hình tiếng và thơ dân tộc thiểu số như thế, thi sĩ đứng ở đâu?

Thi sĩ cư trú đồng thời canh giữ ngôn ngữ dân tộc như ngôi nhà của tính thể con người. Hôm nay ngôi nhà ngôn ngữ Chăm (Tày, Mông…) đang dột nát, dột nát đến vô phương cứu vãn. Tôi, với tư cách là kẻ sáng tác, vừa hối hả lượm nhặt thứ gì còn lượm được ở ngôi nhà cũ, đồng lúc lo chạy qua ngôi nhà mới trú thân, trong cơn bão của nỗi cô đơn vừa siêu hình vừa xã hội. Đó là nói hình tượng thế. Vì dẫu sao tôi cũng cám ơn tiếng Việt nơi tôi đang tạm trú. Để từ ánh sáng của một diễn đàn, được nói đôi lời có thể là vô ích này.n



(1) Tư liệu về các nhà thơ được rút ra từ các tác phẩm sau:

- Lâm Tiến, Văn học các Dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Nxb VHDT, H., 1995.

- Lâm Tiến, Văn học và Miền núi, Nxb VHDT, H., 1998.

- Núi mọc trong mặt gương, Nxb VHDT, H., 1998.

- Tuyển tập văn học Dân tộc & Miền núi I, II, III, Nxb.GD, H., 2000.

- Hoàng Quảng Uyên, Một mình trong cõi thơ, Nxb VHDT, H., 2000

- Lò Ngân Sủn, Thơ của các nhà thơ Dân tộc thiểu số, Nxb VHDT, H., 2001.

- Lò Ngân Sủn, Vấn đề đặt ra với các nhà thơ Dân tộc thiểu số, Nxb VHDT, H., 2002.

- Nhà văn Dân tộc thiểu số Việt Nam, Đời và văn, Nxb VHDT, H., 2003.

(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0