Một thời để nhớ
(Tập trường ca Một thời để nhớ của Lê Huy Quang)
Nguyễn Hưng Hải
Xuyên suốt và chi phối toàn bộ trường ca Một thời để nhớ là thái độ sống, quan điểm sống đầy lạc quan tin tưởng của một nhà thơ luôn coi “cái đẹp là cứu cánh của mọi tâm hồn”, dù lắm đoạn, lắm chương dày đặc những nỗi niềm tâm trạng đầy băn khoăn, lo lắng, hình như có cả sự hồi hộp nữa. Việc Lê Huy Quang chia phần trong Một thời để nhớ, có thể coi là một ngẫu hứng có chủ ý. Từ Dốc phố, Lửa đá, Nắng sáng đến Câu hát vào hè, và cuối cùng là Ngoại ô em là những “mảnh vỡ” của một tâm trạng vừa hào sảng vừa buồn thương, vừa trân trọng vừa tiếc nuối. ở đây có thể gặp la liệt những ký thác số phận, khi là với một cô văn công, lúc là với một người bạn. Nhưng những dòng thơ viết về mẹ, viết về mình, về bạn trong Một thời để nhớ vẫn là những “mảnh vỡ” sắc, nhọn và lung linh hơn cả. Đó là sự giãi bày của một tâm trạng nhiều va đập, hiểu sâu sắc về “cái giá” của chiến tranh, của chia ly, gặp gỡ, của nhỡ nhàng và cả sự chủ định tái ngộ sau chia tan, tiếc nuối: Giữa trở về và ra đi là “một thời để nhớ”, nhưng nhớ cái gì và cái gì khiến Lê Huy Quang phải nhớ, có lẽ tất cả không ngoài ý tưởng tác giả muốn nhắn gửi rằng: Ai cũng có một thời để nhớ, nhưng với người lính, đó là nỗi nhớ phải đổi bằng những tháng năm tuổi trẻ lắm thiệt thòi, nhiều dại dột, có khi phải đánh đổi bằng cả cuộc đời, bằng chính mạng sống của mình. Vậy nên cái thời để nhớ ấy không thể không thiêng liêng, không day dứt. Vì cái thời để nhớ ấy mà người lính thanh thản ra đi, háo hức trở về, dù trở về chỉ để chứng kiến bao điều ai đó đã nguôi quên? Cũng vì cái thời đó, mà người lính bình tâm, đón nhận và chấp nhận bao sự đổi trắng thay đen. Can đảm và nhận về mình sự hy sinh một lần nữa để rồi lại vui vẻ ra đi, không một trách cứ, miễn là ai đó được hạnh phúc, cuộc sống của muôn người được bình yên.
Dù Lê Huy Quang chỉ nói về cuộc chiến, mượn cuộc chiến như một cái cớ để lý giải và cắt nghĩa về bao điều quên, nhớ trong chiến tranh và thời hậu chiến, nhưng Một thời để nhớ vẫn mang đến cho độc giả hôm nay sự khốc liệt của một thời, mà “bao cái nhớ đã thành quên”.
Trong hồi ức về những ngày bom đạn “về một người con trai” trong phần I (có cái tên Dốc phố), Lê Huy Quang không chỉ nhớ: “Bạn tôi đi B - dài 5 năm”, mà 5 năm ấy, dường như ngày nào nhà thơ cũng bị ám ảnh bởi: “ổ khoá cửa phòng tôi/ nằm im mắt/ góc tường/ nơi đó bạn nguyên đôi dép lốp”. Lê Huy Quang cũng như “người bạn” ấy, đã vượt lên tất cả để cùng dấn thân vào cuộc chiến trong nỗi nhớ không cùng về một hình bóng xa xôi nào đó mà nhà thơ bảo rằng, chỉ có: “Những chiếc hôn trong thư”?
Trong nỗi nhớ ấy, Lê Huy Quang thừa nhận: “Mỗi chúng tôi mỗi mùa im lặng” - im lặng trong nỗi nhớ cồn cào về: “Nhà số một Đồng Xuân/ vòng quạt máy đổi chiều không khí/ cầu thang một chiều chăm chỉ/ đưa đón người đi/ cột đèn phố đứng đó nói gì/ về người con gái ấy”.
Người con gái mà Lê Huy Quang đã không quên cho biết địa chỉ và nhắc đi, nhắc lại trong Một thời để nhớ như một điểm tựa về nhà thơ khai mở và gửi gắm mọi vui buồn, dù anh luôn canh cánh: “Sáng nào nàng thức dậy/ cũng nói chuyện một mình trong gương...”
Thương cảm hơn là chính con người tác giả trong nỗi nhớ, một mình: “Đếm đo người lại qua, thuyền lại qua/ bằng ảo ảnh” ở nơi chỉ có những “dãy dừa non dọc dọc bờ mương”. Đó là nỗi nhớ ở chiến trường. Thời đó, cũng như bao chàng trai trẻ, anh phải tạm gác bút nghiên lên đường đi đánh giặc nên nỗi nhớ đầu tiên vẫn là nỗi nhớ trường, nhớ lớp - nhớ khôn nguôi: “Những em gái cấp ba nghỉ hè”. Em - “Panô - tôi/ căng vải trắng chưa màu/ mộc mạc thô sơ/ ngựa chưa đầy tuổi”.
Nỗi nhớ tinh khiết ấy đã nuôi lớn tâm hồn nhà thơ, chắp cánh cho thơ Lê Huy Quang, kể cả khi đã là người từng trải: “Rừng/ những rừng bịa đặt/ ngoài bịa đặt em”. Trong trường liên tưởng này, người lính trở về đã nhận ra rất rõ trong ý thức: “Tôi tính toán mọi bề sâu đổ vỡ/ tôi đi/ không còn biết gì hơn ngoài mất mát”.
Vậy là nhà thơ Lê Huy Quang trong cảm thức sau 30 năm chiến tranh đã khác rất xa với thời: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Để dẫn dụ ngàn người, thi sĩ Phạm Tiến Duật trở thành ngọn cờ đầu của thơ chống Mỹ. Hôm nay bình tĩnh nhìn lại, chiến tranh đã được hiểu kỹ càng hơn, cắt nghĩa sâu sắc hơn, chí ít là với Lê Huy Quang: “Tôi gắn đời tôi vào cái chết/ cũng là niềm vui”.
Có thể nói Một thời để nhớ đã dung nạp năng lượng nỗi nhớ của nhiều thời. ở đây không đơn thuần là nỗi nhớ của những người đã yêu, đang yêu và sắp yêu nhau mà là dấu ấn của một thời có nhiều biến động sau cuộc chiến. Từ chiến tranh bước ra, người lính không thể chỉ sống bằng kỷ niệm, bằng những hồi ức lấp lánh của một thời mà biết chấp nhận, phải dám dấn thân và phải biết quên đi những điều cần phải quên, biết nhớ thêm những điều cần phải nhớ: Như nhà thơ Lê Huy Quang trong phần Vĩ thanh đã tự ngẫm: “Ta lại thấy bông hoa hoá cỏ/ ngọn cỏ hoá làm ngọn gió/ ngọn gió bay đi hoá làm bài ca/ bài ca bay đi như nỗi đắp bù”.n
Việt Trì, ngày 10-3-2005
(Phụ bản Thơ- báo Văn nghệ)
(Tập trường ca Một thời để nhớ của Lê Huy Quang)
Nguyễn Hưng Hải
Xuyên suốt và chi phối toàn bộ trường ca Một thời để nhớ là thái độ sống, quan điểm sống đầy lạc quan tin tưởng của một nhà thơ luôn coi “cái đẹp là cứu cánh của mọi tâm hồn”, dù lắm đoạn, lắm chương dày đặc những nỗi niềm tâm trạng đầy băn khoăn, lo lắng, hình như có cả sự hồi hộp nữa. Việc Lê Huy Quang chia phần trong Một thời để nhớ, có thể coi là một ngẫu hứng có chủ ý. Từ Dốc phố, Lửa đá, Nắng sáng đến Câu hát vào hè, và cuối cùng là Ngoại ô em là những “mảnh vỡ” của một tâm trạng vừa hào sảng vừa buồn thương, vừa trân trọng vừa tiếc nuối. ở đây có thể gặp la liệt những ký thác số phận, khi là với một cô văn công, lúc là với một người bạn. Nhưng những dòng thơ viết về mẹ, viết về mình, về bạn trong Một thời để nhớ vẫn là những “mảnh vỡ” sắc, nhọn và lung linh hơn cả. Đó là sự giãi bày của một tâm trạng nhiều va đập, hiểu sâu sắc về “cái giá” của chiến tranh, của chia ly, gặp gỡ, của nhỡ nhàng và cả sự chủ định tái ngộ sau chia tan, tiếc nuối: Giữa trở về và ra đi là “một thời để nhớ”, nhưng nhớ cái gì và cái gì khiến Lê Huy Quang phải nhớ, có lẽ tất cả không ngoài ý tưởng tác giả muốn nhắn gửi rằng: Ai cũng có một thời để nhớ, nhưng với người lính, đó là nỗi nhớ phải đổi bằng những tháng năm tuổi trẻ lắm thiệt thòi, nhiều dại dột, có khi phải đánh đổi bằng cả cuộc đời, bằng chính mạng sống của mình. Vậy nên cái thời để nhớ ấy không thể không thiêng liêng, không day dứt. Vì cái thời để nhớ ấy mà người lính thanh thản ra đi, háo hức trở về, dù trở về chỉ để chứng kiến bao điều ai đó đã nguôi quên? Cũng vì cái thời đó, mà người lính bình tâm, đón nhận và chấp nhận bao sự đổi trắng thay đen. Can đảm và nhận về mình sự hy sinh một lần nữa để rồi lại vui vẻ ra đi, không một trách cứ, miễn là ai đó được hạnh phúc, cuộc sống của muôn người được bình yên.
Dù Lê Huy Quang chỉ nói về cuộc chiến, mượn cuộc chiến như một cái cớ để lý giải và cắt nghĩa về bao điều quên, nhớ trong chiến tranh và thời hậu chiến, nhưng Một thời để nhớ vẫn mang đến cho độc giả hôm nay sự khốc liệt của một thời, mà “bao cái nhớ đã thành quên”.
Trong hồi ức về những ngày bom đạn “về một người con trai” trong phần I (có cái tên Dốc phố), Lê Huy Quang không chỉ nhớ: “Bạn tôi đi B - dài 5 năm”, mà 5 năm ấy, dường như ngày nào nhà thơ cũng bị ám ảnh bởi: “ổ khoá cửa phòng tôi/ nằm im mắt/ góc tường/ nơi đó bạn nguyên đôi dép lốp”. Lê Huy Quang cũng như “người bạn” ấy, đã vượt lên tất cả để cùng dấn thân vào cuộc chiến trong nỗi nhớ không cùng về một hình bóng xa xôi nào đó mà nhà thơ bảo rằng, chỉ có: “Những chiếc hôn trong thư”?
Trong nỗi nhớ ấy, Lê Huy Quang thừa nhận: “Mỗi chúng tôi mỗi mùa im lặng” - im lặng trong nỗi nhớ cồn cào về: “Nhà số một Đồng Xuân/ vòng quạt máy đổi chiều không khí/ cầu thang một chiều chăm chỉ/ đưa đón người đi/ cột đèn phố đứng đó nói gì/ về người con gái ấy”.
Người con gái mà Lê Huy Quang đã không quên cho biết địa chỉ và nhắc đi, nhắc lại trong Một thời để nhớ như một điểm tựa về nhà thơ khai mở và gửi gắm mọi vui buồn, dù anh luôn canh cánh: “Sáng nào nàng thức dậy/ cũng nói chuyện một mình trong gương...”
Thương cảm hơn là chính con người tác giả trong nỗi nhớ, một mình: “Đếm đo người lại qua, thuyền lại qua/ bằng ảo ảnh” ở nơi chỉ có những “dãy dừa non dọc dọc bờ mương”. Đó là nỗi nhớ ở chiến trường. Thời đó, cũng như bao chàng trai trẻ, anh phải tạm gác bút nghiên lên đường đi đánh giặc nên nỗi nhớ đầu tiên vẫn là nỗi nhớ trường, nhớ lớp - nhớ khôn nguôi: “Những em gái cấp ba nghỉ hè”. Em - “Panô - tôi/ căng vải trắng chưa màu/ mộc mạc thô sơ/ ngựa chưa đầy tuổi”.
Nỗi nhớ tinh khiết ấy đã nuôi lớn tâm hồn nhà thơ, chắp cánh cho thơ Lê Huy Quang, kể cả khi đã là người từng trải: “Rừng/ những rừng bịa đặt/ ngoài bịa đặt em”. Trong trường liên tưởng này, người lính trở về đã nhận ra rất rõ trong ý thức: “Tôi tính toán mọi bề sâu đổ vỡ/ tôi đi/ không còn biết gì hơn ngoài mất mát”.
Vậy là nhà thơ Lê Huy Quang trong cảm thức sau 30 năm chiến tranh đã khác rất xa với thời: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Để dẫn dụ ngàn người, thi sĩ Phạm Tiến Duật trở thành ngọn cờ đầu của thơ chống Mỹ. Hôm nay bình tĩnh nhìn lại, chiến tranh đã được hiểu kỹ càng hơn, cắt nghĩa sâu sắc hơn, chí ít là với Lê Huy Quang: “Tôi gắn đời tôi vào cái chết/ cũng là niềm vui”.
Có thể nói Một thời để nhớ đã dung nạp năng lượng nỗi nhớ của nhiều thời. ở đây không đơn thuần là nỗi nhớ của những người đã yêu, đang yêu và sắp yêu nhau mà là dấu ấn của một thời có nhiều biến động sau cuộc chiến. Từ chiến tranh bước ra, người lính không thể chỉ sống bằng kỷ niệm, bằng những hồi ức lấp lánh của một thời mà biết chấp nhận, phải dám dấn thân và phải biết quên đi những điều cần phải quên, biết nhớ thêm những điều cần phải nhớ: Như nhà thơ Lê Huy Quang trong phần Vĩ thanh đã tự ngẫm: “Ta lại thấy bông hoa hoá cỏ/ ngọn cỏ hoá làm ngọn gió/ ngọn gió bay đi hoá làm bài ca/ bài ca bay đi như nỗi đắp bù”.n
Việt Trì, ngày 10-3-2005
(Phụ bản Thơ- báo Văn nghệ)
Love mickey,