"Con chim thời gian" Thơ Nguyễn Khoa Điềm
Lời bình của Thư Trai
Chúng ta trở lại khoảng thời gian cuối những năm sáu mươi của thế kỷ trước. Chính xác hơn, đó là năm 1969, có thể là giữa những ngày cuối xuân đầu hạ, khi bài thơ này được viết.
Cuộc tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt mùa xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên khắp miền Nam đã khiến cho quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai bán nước kinh hoàng nhận ra rằng, ngày kết thúc số phận nhục nhã của chúng không còn xa nữa. Quân giặc trong hoảng loạn, bối rối đã dốc toàn lực mở những đợt phản kích điên cuồng với quy mô lớn chưa từng có. Chỉ riêng quân Mỹ, trong năm 1969, đã có mặt đến 540.000 tên. Với những B52 ném bom rải thảm, với chất độc hoá học khai quang tàn phá những làng mạc, những cánh rừng, với những toán biệt kịch thám báo, vây quét cô lập căn cứ cách mạng, nhằm dập tắt ý chí giải phóng, giành Độc lập, Tự do và thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta. Không thể nào kể hết những hy sinh, những tổn thất lớn lao mà cách mạng miền Nam đã trải qua trong khoảng thời gian tột cùng thử thách ác liệt này. Bom đạn, chết chóc, đói khát, bệnh tật... Những gì mà chúng ta đã hy sinh phải tính không chỉ dừng lại ở con số hàng nghìn mà là hàng vạn, hàng triệu. Nhà thơ Lê Anh Xuân - Ca Lê Hiến, tác giả của bài thơ Dáng đứng Việt Nam cùng nhiều tập thơ trữ tình được yêu mến khác, người đã cùng đi với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm vào chiến trường, đã hy sinh trong những ngày không thể nào quên này. Tôi rẽ theo vĩ tuyến, Hiến đi thẳng theo kinh tuyến... Như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nhớ lại trong một bài thơ viết dịp cuối năm ngoái, bài Bốn mươi năm, gặp lại... Nhắc đến người bạn thơ, người bạn chiến đấu, cũng là hồi niệm những gì mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm, trong ký ức:
Không ai biết cuộc chiến đấu
dữ dội đến nhường ấy.
Không ai biết máu chảy đến
nhường ấy
Những làng đã cháy
Những đồng đội ngã xuống như
thân chuối.
Những xác người xếp dọc đường
hành quân
Những thành phố đổ nát
Chất da cam mù mịt cánh rừng...
Không phải không có những phần tử trước những thử thách ác liệt của cuộc chiến đấu đã không thể đứng vững, đã nản lỏng, sa sút ý chí, mất niềm tin, hoang mang, dao động... Không phải không có những kẻ đã quay đầu, phản bội...
Con chim thời gian đã được nhà thơ viết ra, có lẽ trước hết là để tự nhủ mình, là để bày tỏ và khẳng định lại một lý tưởng cao cả, một niềm tin lớn vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng, của dân tộc. Khẳng định rằng thời gian bao giờ cũng đứng về phía chúng ta, đứng về phía chân lý. Và thời gian sẽ nói tiếng nói sau cùng trước mọi biến động lịch sử. Song thời gian cũng không cho phép chúng ta được chậm trễ hay dừng lại.
Tứ thơ bất ngờ, độc đáo và thật tự nhiên. Như một ánh chớp quý giá của sáng tạo.
Côộc.
Côộc.
Côộc.
Con gõ kiến đại ngàn
Gõ nhịp thời gian
Những ai từng sống và chiến đấu trong những cánh rừng đại ngàn Trường Sơn đều quen thuộc với loài chim đáng yêu này. Ta thường bắt gặp trong những ngày nắng sáng đẹp. Chúng thường bám chặt vào những thân cây lớn và gõ những nhịp trầm ấm vào trời xanh.
Nhưng ở đây không còn đơn giản chỉ là những tiếng Côộc....... Côộc...... Côộc...... bình thường như ta vẫn nghe nữa. Trong thế giới nội tâm rất rộng và rất nhạy cảm của nhà thơ, tiếng chim cùng một lúc chạm lên rất nhiều điều. Những hồi ức... Những kỷ niệm... Những suy tưởng... Những âm thanh quen thuộc đột nhiên mở ra trước ta những trường liên tưởng thật rộng và thật sâu cả về mặt không gian cũng như thời gian, trên rất nhiều bình diện của hiện thực cuộc sống, hiện thực chiến trường.
Những chiến sĩ thầm lặng chuẩn bị cho căn cứ, cho những chiến dịch:
Từng bước
Từng bước chân
Dẫm lên lối mòn đồng đội
Ôi bàn chân bé tí
Chân nai
Gạo nặng vai
Những đồng bào dân tộc ít người thuỷ chung trước sau như một với cách mạng, với kháng chiến:
Những người Tà Ôi da màu than
rẫy cũ
Truốt vào lòng tay sần sùi da gỗ bứa
Từng hạt vàng ẩm ướt mồ hôi
Từng hạt vàng in sắc máu bàn tay
Từng hạt vàng chiến thắng.
Những tướng lĩnh, sĩ quan trước những trận đánh sắp mở:
Đây, thành phố ta là những sa bàn
Những mái đầu hoa râm
đăm đăm nếp trán
Lần bàn tay rẽ lối những binh đoàn.
Thành phố quê hương, thành phố mà tác giả vẫn thương nhớ hôn lên cùng nắng hồng mỗi sáng:
Đường phố thân yêu
Ta lại học tên em theo
những binh đoàn xuất trận
Ta vuốt ve ngàn mái ngói mênh mang
Tay ta đau với tường thành vỡ rạn.
Và con cầu như tiếng nấc nằm ngang
Những trận xuống đường,
những đêm không ngủ
Cùng nhạc ngựa cha ông,
cho ta đi nữa...
Tiếng của thời gian sâu thẳm từ quá khứ lịch sử, từ tâm thức dân tộc:
Ta bỗng nghe
Tiếng nhặt khoan nhịp sênh tiền
mẹ hát
Tiếng âm ấm giọt tranh vừa nặng hạt
Tiếng phồng căng con gà đất
đầu xuân
Tiếng chìm sâu buổi phóng cọc
Bạch Đằng
Tiếng đục vào đất đêm
Tiếng khoan tường xuyên phố
Tiếng đất rang lật dưới chân cha vỡ
Tiếng bào thai mẹ đạp ngốt hầm sâu
Và...
Và tiếng em rơi rơi...
Như những mảnh lá đêm, mùa chia tay Hà Nội.
Nguyễn Khoa Điềm viết không nhiều lắm thơ về tình yêu. Hai dòng thơ thật bất ngờ, như là chợt đến, khiến đoạn thơ ánh lên mềm mại. Có thể là một kỷ niệm riêng rư. Nhưng cũng là của cả một thế hệ đã hiến tất cả tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.
Bài thơ không dài lắm, chưa đến trăm dòng, nhưng cấu trúc gợi dáng dấp của một bản giao hưởng, mang sức khái quát rộng, thể hiện sâu sắc hiện thực cuộc sống, chiến đấu - hiện thực thời đại. Những âm thanh tiếng chim trở đi trở lại như một chủ âm xuyên suốt, làm nền cho sự triển khai tận cùng tứ thơ, đẩy lên sự bộc lộ chủ đề mà nhà thơ mong đạt tới.
Ôi Tổ quốc ta yêu Người vời vợi
Khi Người khổ đau không làm ta sợ hãi
Trong căm hờn ta biết hướng ta lên
Như hôm nay trầm tĩnh tiếng chim
Gõ không mỏi tay vào cửa ngày gian khổ nhất
Vững tin.
Vững tin.
Vững tin.
Những âm thanh tiếng chim cánh rừng đại ngàn nhập làm một với tiếng vọng nội tâm của nhà thơ. Cách dẫn dắt bài thơ đạt đến mức tự nhiên hoàn hảo. Bài thơ đạt đến điểm ngời sáng về cả hai mặt nội dung cũng như hình thức.
Một điều có lẽ cũng cần nhắc lại là, viết về Tổ quốc, về Nhân dân, về hành trình đi đến Tự do, Độc lập, thơ Nguyễn Khoa Điềm bao giờ cũng thiết tha dào dạt trong một giọng điệu sâu lắng, trầm tĩnh. Nhà thơ Thanh Thảo hoàn toàn có lý khi viết rằng Con chim thời gian là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Khoa Điềm, cũng là của thơ trữ tình hiện đại chúng ta.
*
Đoạn kết bài thơ có một nhịp điệu thật dồn dập, cũng là nhịp điệu khẩn trương của hiện thực chiến tranh cách mạng. Ba lần tác giả lặp lại:
Côộc... Côộc... Côộc...
Côộc... Côộc... Côộc...
Côộc. Côộc. Côộc.
Cho ta thấy tất cả sự gấp gáp, quyết liệt. Phép tu từ trong cách chấm câu ở những dòng cuối cùng cho ta thấy rất rõ ý thức tác giả khi muốn diễn đạt ý tưởng của mình.
Và, thật kỳ lạ, phải sáu năm sau mới đến ngày 30-4-1975, ngày Toàn thắng, nhưng những câu thơ:
Mũi tên bay thần tốc
Những trận đánh chuyển giông trời lập hạ
Những trận đánh làm lịch sử
vặn mình trong nếp đá
Biển tung cao sóng cuộn đàng đông
Lũ phăng phăng thốc xuống đồng bằng
Xáp thành cột, nhận chìm loài giặc nước.
Như là đã được tác giả viết trong những ngày tràn ngập niềm vui và hạnh phúc của chiến dịch Hồ Chí Minh chói lọi. Đúng như tác giả đã dự cảm trước trong hai câu thơ kết:
Nhịp thời gian cấp tập nụ xoè
Đã bén lửa, hỡi mùa hè sáu chín!
Hà Nội, mùa xuân 2005
T.T
(Phụ bản báo Văn nghệ)
Lời bình của Thư Trai
Chúng ta trở lại khoảng thời gian cuối những năm sáu mươi của thế kỷ trước. Chính xác hơn, đó là năm 1969, có thể là giữa những ngày cuối xuân đầu hạ, khi bài thơ này được viết.
Cuộc tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt mùa xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên khắp miền Nam đã khiến cho quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai bán nước kinh hoàng nhận ra rằng, ngày kết thúc số phận nhục nhã của chúng không còn xa nữa. Quân giặc trong hoảng loạn, bối rối đã dốc toàn lực mở những đợt phản kích điên cuồng với quy mô lớn chưa từng có. Chỉ riêng quân Mỹ, trong năm 1969, đã có mặt đến 540.000 tên. Với những B52 ném bom rải thảm, với chất độc hoá học khai quang tàn phá những làng mạc, những cánh rừng, với những toán biệt kịch thám báo, vây quét cô lập căn cứ cách mạng, nhằm dập tắt ý chí giải phóng, giành Độc lập, Tự do và thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta. Không thể nào kể hết những hy sinh, những tổn thất lớn lao mà cách mạng miền Nam đã trải qua trong khoảng thời gian tột cùng thử thách ác liệt này. Bom đạn, chết chóc, đói khát, bệnh tật... Những gì mà chúng ta đã hy sinh phải tính không chỉ dừng lại ở con số hàng nghìn mà là hàng vạn, hàng triệu. Nhà thơ Lê Anh Xuân - Ca Lê Hiến, tác giả của bài thơ Dáng đứng Việt Nam cùng nhiều tập thơ trữ tình được yêu mến khác, người đã cùng đi với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm vào chiến trường, đã hy sinh trong những ngày không thể nào quên này. Tôi rẽ theo vĩ tuyến, Hiến đi thẳng theo kinh tuyến... Như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nhớ lại trong một bài thơ viết dịp cuối năm ngoái, bài Bốn mươi năm, gặp lại... Nhắc đến người bạn thơ, người bạn chiến đấu, cũng là hồi niệm những gì mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm, trong ký ức:
Không ai biết cuộc chiến đấu
dữ dội đến nhường ấy.
Không ai biết máu chảy đến
nhường ấy
Những làng đã cháy
Những đồng đội ngã xuống như
thân chuối.
Những xác người xếp dọc đường
hành quân
Những thành phố đổ nát
Chất da cam mù mịt cánh rừng...
Không phải không có những phần tử trước những thử thách ác liệt của cuộc chiến đấu đã không thể đứng vững, đã nản lỏng, sa sút ý chí, mất niềm tin, hoang mang, dao động... Không phải không có những kẻ đã quay đầu, phản bội...
Con chim thời gian đã được nhà thơ viết ra, có lẽ trước hết là để tự nhủ mình, là để bày tỏ và khẳng định lại một lý tưởng cao cả, một niềm tin lớn vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng, của dân tộc. Khẳng định rằng thời gian bao giờ cũng đứng về phía chúng ta, đứng về phía chân lý. Và thời gian sẽ nói tiếng nói sau cùng trước mọi biến động lịch sử. Song thời gian cũng không cho phép chúng ta được chậm trễ hay dừng lại.
Tứ thơ bất ngờ, độc đáo và thật tự nhiên. Như một ánh chớp quý giá của sáng tạo.
Côộc.
Côộc.
Côộc.
Con gõ kiến đại ngàn
Gõ nhịp thời gian
Những ai từng sống và chiến đấu trong những cánh rừng đại ngàn Trường Sơn đều quen thuộc với loài chim đáng yêu này. Ta thường bắt gặp trong những ngày nắng sáng đẹp. Chúng thường bám chặt vào những thân cây lớn và gõ những nhịp trầm ấm vào trời xanh.
Nhưng ở đây không còn đơn giản chỉ là những tiếng Côộc....... Côộc...... Côộc...... bình thường như ta vẫn nghe nữa. Trong thế giới nội tâm rất rộng và rất nhạy cảm của nhà thơ, tiếng chim cùng một lúc chạm lên rất nhiều điều. Những hồi ức... Những kỷ niệm... Những suy tưởng... Những âm thanh quen thuộc đột nhiên mở ra trước ta những trường liên tưởng thật rộng và thật sâu cả về mặt không gian cũng như thời gian, trên rất nhiều bình diện của hiện thực cuộc sống, hiện thực chiến trường.
Những chiến sĩ thầm lặng chuẩn bị cho căn cứ, cho những chiến dịch:
Từng bước
Từng bước chân
Dẫm lên lối mòn đồng đội
Ôi bàn chân bé tí
Chân nai
Gạo nặng vai
Những đồng bào dân tộc ít người thuỷ chung trước sau như một với cách mạng, với kháng chiến:
Những người Tà Ôi da màu than
rẫy cũ
Truốt vào lòng tay sần sùi da gỗ bứa
Từng hạt vàng ẩm ướt mồ hôi
Từng hạt vàng in sắc máu bàn tay
Từng hạt vàng chiến thắng.
Những tướng lĩnh, sĩ quan trước những trận đánh sắp mở:
Đây, thành phố ta là những sa bàn
Những mái đầu hoa râm
đăm đăm nếp trán
Lần bàn tay rẽ lối những binh đoàn.
Thành phố quê hương, thành phố mà tác giả vẫn thương nhớ hôn lên cùng nắng hồng mỗi sáng:
Đường phố thân yêu
Ta lại học tên em theo
những binh đoàn xuất trận
Ta vuốt ve ngàn mái ngói mênh mang
Tay ta đau với tường thành vỡ rạn.
Và con cầu như tiếng nấc nằm ngang
Những trận xuống đường,
những đêm không ngủ
Cùng nhạc ngựa cha ông,
cho ta đi nữa...
Tiếng của thời gian sâu thẳm từ quá khứ lịch sử, từ tâm thức dân tộc:
Ta bỗng nghe
Tiếng nhặt khoan nhịp sênh tiền
mẹ hát
Tiếng âm ấm giọt tranh vừa nặng hạt
Tiếng phồng căng con gà đất
đầu xuân
Tiếng chìm sâu buổi phóng cọc
Bạch Đằng
Tiếng đục vào đất đêm
Tiếng khoan tường xuyên phố
Tiếng đất rang lật dưới chân cha vỡ
Tiếng bào thai mẹ đạp ngốt hầm sâu
Và...
Và tiếng em rơi rơi...
Như những mảnh lá đêm, mùa chia tay Hà Nội.
Nguyễn Khoa Điềm viết không nhiều lắm thơ về tình yêu. Hai dòng thơ thật bất ngờ, như là chợt đến, khiến đoạn thơ ánh lên mềm mại. Có thể là một kỷ niệm riêng rư. Nhưng cũng là của cả một thế hệ đã hiến tất cả tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.
Bài thơ không dài lắm, chưa đến trăm dòng, nhưng cấu trúc gợi dáng dấp của một bản giao hưởng, mang sức khái quát rộng, thể hiện sâu sắc hiện thực cuộc sống, chiến đấu - hiện thực thời đại. Những âm thanh tiếng chim trở đi trở lại như một chủ âm xuyên suốt, làm nền cho sự triển khai tận cùng tứ thơ, đẩy lên sự bộc lộ chủ đề mà nhà thơ mong đạt tới.
Ôi Tổ quốc ta yêu Người vời vợi
Khi Người khổ đau không làm ta sợ hãi
Trong căm hờn ta biết hướng ta lên
Như hôm nay trầm tĩnh tiếng chim
Gõ không mỏi tay vào cửa ngày gian khổ nhất
Vững tin.
Vững tin.
Vững tin.
Những âm thanh tiếng chim cánh rừng đại ngàn nhập làm một với tiếng vọng nội tâm của nhà thơ. Cách dẫn dắt bài thơ đạt đến mức tự nhiên hoàn hảo. Bài thơ đạt đến điểm ngời sáng về cả hai mặt nội dung cũng như hình thức.
Một điều có lẽ cũng cần nhắc lại là, viết về Tổ quốc, về Nhân dân, về hành trình đi đến Tự do, Độc lập, thơ Nguyễn Khoa Điềm bao giờ cũng thiết tha dào dạt trong một giọng điệu sâu lắng, trầm tĩnh. Nhà thơ Thanh Thảo hoàn toàn có lý khi viết rằng Con chim thời gian là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Khoa Điềm, cũng là của thơ trữ tình hiện đại chúng ta.
*
Đoạn kết bài thơ có một nhịp điệu thật dồn dập, cũng là nhịp điệu khẩn trương của hiện thực chiến tranh cách mạng. Ba lần tác giả lặp lại:
Côộc... Côộc... Côộc...
Côộc... Côộc... Côộc...
Côộc. Côộc. Côộc.
Cho ta thấy tất cả sự gấp gáp, quyết liệt. Phép tu từ trong cách chấm câu ở những dòng cuối cùng cho ta thấy rất rõ ý thức tác giả khi muốn diễn đạt ý tưởng của mình.
Và, thật kỳ lạ, phải sáu năm sau mới đến ngày 30-4-1975, ngày Toàn thắng, nhưng những câu thơ:
Mũi tên bay thần tốc
Những trận đánh chuyển giông trời lập hạ
Những trận đánh làm lịch sử
vặn mình trong nếp đá
Biển tung cao sóng cuộn đàng đông
Lũ phăng phăng thốc xuống đồng bằng
Xáp thành cột, nhận chìm loài giặc nước.
Như là đã được tác giả viết trong những ngày tràn ngập niềm vui và hạnh phúc của chiến dịch Hồ Chí Minh chói lọi. Đúng như tác giả đã dự cảm trước trong hai câu thơ kết:
Nhịp thời gian cấp tập nụ xoè
Đã bén lửa, hỡi mùa hè sáu chín!
Hà Nội, mùa xuân 2005
T.T
(Phụ bản báo Văn nghệ)
Love mickey,