Ký ức về bài thơ tình ấy...
Ngô Minh Hà Nhật
Bài thơ tình của người thủy thủ
Đêm nay, khi trăng mọc
Tàu anh sẽ nhổ neo
Em đừng hỏi
Vì sao anh ra đi
Cũng đừng hỏi
Chân trời xa có gì kêu gọi
Anh biết
Nếu ở chân trời có đảo
Trân-Châu
Hay ở biển xa
có nụ hoa thần tìm ra hạnh phúc
Hay có người gái đẹp
môi hồng như san hô
Cũng không thể
khiến anh xa được em yêu
Nhưng em hỡi
Nếu có người trai chưa từng qua
bão tố
Chưa từng vượt qua thử thách
gian lao
Lẽ nào xứng với tình em?
1961
Lật từng trang tập thơ tuyển Thơ Đồng Hới trong ngăn sách tặng ngày Quảng Bình giải phóng, tôi chợt lặng đi khi gặp bài thơ tình ấy. Bài thơ mà lứa học trò chúng tôi ở Trường cấp 3 Lệ Thuỷ những năm 1964 - 1967 đều thuộc nằm lòng. Đó là bài thơ Bài thơ tình của người thuỷ thủ của Hà Nhật, bút danh thầy giáo dạy văn của tôi năm lớp 8. Lại nhớ thầy, nhớ bạn, nhớ quê, lại miên man ray rứt. Mới thôi đã một đời người. Cách đây mấy năm, giữa Huế tiết thu phân mát mẻ nhóm bạn bè cấp ba Lệ Thuỷ cũ gồm tôi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Đình Tỵ, Đỗ Hoàng, Nguyễn Minh Hoàng (một giám đốc doanh nghiệp ở Sài Gòn) cùng với Mai Văn Hoan, Vĩnh Nguyên đã có cuộc tao ngộ lý thú tại nhà Đỗ Hoàng ở Tây Lộc. Sau tuần rượu và thơ, bỗng dưng chúng tôi thèm hát. Và Lâm Thị Mỹ Dạ, rồi Minh Hoàng nhắc lại bài hát của nhạc sĩ Hoàng Vân phổ bài thơ Bài thơ tình của người thuỷ thủ của thầy Lương Duy Cán, tức nhà thơ Hà Nhật. Thế là tất cả cùng hát đồng ca say sưa. Té ra đứa nào cũng thuộc. “Giá mà có thầy Hà Nhật ở đây nhỉ!”. Ai đó tiếc nuối. Dẫu vậy chúng tôi vẫn hát thật sôi nổi, rưng rức như được sống lại thuở học trò xưa. Đứa nào trong hồn cũng đầy ắp đại dương sóng vỗ:
Đêm nay, khi trăng mọc
Tàu anh sẽ nhổ neo
Em đừng hỏi
Vì sao anh ra đi
Cũng đừng hỏi
Chân trời xa có gì kêu gọi...
Đó là đoạn đầu bài thơ của thầy Hà Nhật mà tôi nhớ lại. Bài hát có tên Tình ca người thuỷ thủ, khác với tên bài thơ. Lời bài hát cũng thêm thắt, đưa đẩy đôi chút, đôi câu: “... Đêm nay khi trăng mọc. Tàu anh sẽ nhổ neo ra khơi. Tạm biệt em yêu, vẫy chào thành phố cảng thân yêu. Em ơi chớ hỏi anh nhiều. Em đừng hỏi vì sao anh ra đi. Em ơi cũng đừng nên hỏi. Ngoài khơi xa kia có những gì kêu gọi anh...”.
Hát là hát cái mình đã thuộc đã nhập tâm và mang theo suốt bốn mươi năm qua, chứ thực tình cho đến khi tuyển tập Thơ Đồng Hới ra mắt (7-1994), tôi mới được nhìn thấy mặt mũi bài thơ hay mà mình thuộc được in đàng hoàng trong sách! Thầy Lương Duy Cán kể rằng, những ngày đó thầy rất say thơ tình, thơ thế sự. Thơ tình làm ra rồi chép tặng người đẹp, không dám gửi đâu in cả. Lộ ra là sợ bị tai vạ. Mà gửi cũng chẳng báo nào dám in! Những năm 60 của thế kỷ XX, cả đất nước tập trung cho đấu tranh thống nhất, rồi chiến tranh chống Mỹ, thơ tình là thứ “nó làm mềm con người ta đi”, thứ “lãng mạn tiểu tư sản” ấy không thích hợp với cuộc chiến đấu. Những năm 60 ấy, hàng loạt các tác phẩm văn học đầy chất sống cuốn hút đã bị các nhà phê bình văn học kịch liệt phê phán bởi dính vào “xét lại”, dính vào “trò yêu đương lãng mạn” như tiểu thuyết Mùa hoa dẻ, Nhãn đầu mùa, Mở hầm v.v... Năm 1961, thầy Hà Nhật làm xong bài thơ, thấy thích quá, bèn ghi bút danh là Mai Liêm, một người chị họ đang học cấp ba Đào Duy Từ, Đồng Hới tên là Phạm Thị Chiến (sau này thành vợ nhà thơ Hải Bằng). Không ngờ bài thơ được đăng báo ở Hà Nội. Nhạc sĩ Hoàng Vân phổ nhạc bài thơ, nhưng không hiểu sao không ghi tên tác giả bài thơ là Mai Liêm! Lập tức bản nhạc được giới trẻ miền Bắc lúc đó yêu thích. Cho đến bây giờ các ca sĩ trên truyền hình hay Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn hát “Nhổ neo ra khơi...”.
Nghe nói bài thơ và bản nhạc phổ thơ cũng bị phiền luỵ một thời vì cách đánh giá của một thời. Nhưng tuổi trẻ Đồng Hới thì chuyền tay nhau bài thơ, chép vào sổ tay và say mê hát “Tình ca của người thuỷ thủ”. Năm 1964, thầy Hà Nhật được phân công về dạy cấp 3 Lệ Thuỷ. Đó là năm chúng tôi bước vào lớp đầu cấp ba. ở Đồng Hới có hai thầy giáo nổi tiếng dạy giỏi là thầy Lương Duy Cán dạy văn và thầy Đoàn Trình dạy toán. Hai thầy dạy hay đến nỗi, đến hôm nay, người Quảng Bình vẫn nhắc câu thành ngữ “Văn Cán - Toán Trình”. Thầy Đoàn Trình năm đó cũng về dạy cấp 3 Lệ Thuỷ. Chúng tôi còn có thầy Phạm Ngọc Thu, sinh viên Trường đại học Sư phạm Vinh mới ra trường cũng dạy văn như bỏ bùa mê! Số phận đã xui cho chúng tôi được học với hai người thầy dạy văn giỏi và làm thơ hay, nên cả lớp say sưa làm thơ. Lớp chúng tôi có hẳn một tờ báo tường để in sáng tác của các bạn. Tôi còn nhớ như in cái phòng học được đào sâu xuống đất để tránh bom đạn, mái lợp tranh, phên đất, xung quanh chằng chịt giao thông hào ở thôn Cổ Liễu, xã Liên Thuỷ. Mùa mưa, đường trơn như mỡ, giao thông hào ngập nước, ai không chú ý rơi tỏm xuống thì khốn khổ, mất cả buổi học. Thầy Hà Nhật trọ trong một nhà dân ngay cạnh lớp học. Bàn làm việc của thầy chất đầy tiểu thuyết và thơ tiếng Pháp. Lúc nhỏ, thầy được gia đình gửi vào học Trường Quốc học Huế, nên thầy đọc văn học Pháp qua nguyên bản. ở lớp, sau mỗi tiết giảng, bao giờ thầy cũng dành chục phút để kể chuyện, đọc thơ tình cho chúng tôi nghe. Lần đầu tiên trong đời tôi được nghe các chuyện cười về các Mệ hoàng tộc Huế như chuyện Mệ nghe cân cấn là do thầy Cán kể. Dạo ấy, chúng tôi được thầy dạy cho bài hát phổ bài thơ Tình ca người thuỷ thủ của thầy. Từ đó, đến buổi sinh hoạt lớp, chúng tôi lại hát. “Đêm nay khi trăng mọc. Tàu anh sẽ nhổ neo...”
Sau này, nhiều độc giả, cũng như bạn bè gần xa gửi thư cho tôi ngạc nhiên hỏi: “Không hiểu sao cái lớp cấp 3 Lệ Thuỷ ấy lại sinh ra nhiều nhà thơ thế?”. Đúng là một lớp 40 người mà đến nay có tới bảy tám người theo đuổi nghiệp thơ tới giờ như Lê Đình Tỵ, Đỗ Hoàng, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Phạm Hữu Xướng, Trần Khởi, tôi... Trong đó có tới 4 người là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, 2 người là hội viên Hội Văn nghệ Quảng Bình. Văn chương thơ phú là số phận của mỗi nhà văn. Nhưng chắc chắn trong hành trang của chúng tôi trên con đường thơ vô định ấy có điệu hò khoan Lệ Thuỷ quê nhà, có những bài giảng và những buổi đọc thơ hút hồn học sinh của thầy Lương Duy Cán, Phan Ngọc Thu và có cả bài hát phổ thơ tình về biển của thầy...
Một điều làm cho tôi rất tâm đắc là Bài thơ tình của người thủy thủ của thầy Hà Nhật, dù đọc dưới con mắt của độc giả hôm nay vẫn là một bài thơ hay và rất hiện đại. Nó hoàn toàn khác về chất so với loại thơ tình thời tiền chiến. Thơ tình tiền chiến buồn đẫm lễ, không có sự biểu lộ mạnh bạo, cứng cỏi như Em đừng hỏi. Vì sao anh ra đi. Cũng đừng hỏi. Chân trời xa có gì kêu gọi. Sự dấn thân của chàng trai trẻ giữa trùng khơi để chứng minh sức mạnh của tình yêu thật cao cả và hết mình. Xin em đừng hỏi anh nhiều. Vì anh biết dù cuối trời có đảo Trân-Châu/ hay biển ở xa có nụ hoa thần tìm ra hạnh phúc/ Hay có người con gái đẹp môi hồng như san hô
Cũng không thể/ khiến anh xa được em yêu
Yêu em như thế, nhưng anh phải ra đi vượt biển khơi, vì nếu “chàng trai chưa từng qua bão tố/ Chưa từng vượt qua nhiều thử thách gian lao/Lẽ nào xứng với tình em?”. Không so sánh mà so sánh. Tình yêu của người thuỷ thủ cao hơn sóng gió đại dương. Cấp độ so sánh được đẩy tới hoàn toàn sau khổ kết bài thơ. Bài thơ cấu trúc chặt chẽ, tình cảm phát triển từng bước để đạt tới cao trào, tạo ra sự hứng thú đột ngột. Bài thơ đặc biệt không vần, nhưng người đọc dễ dàng nhận ra nhịp điệu của biển, của tình yêu thúc hối. Những năm 60 của thế kỷ trước, thơ không vần ở nước ta, cả ở miền Nam, miền Bắc mới chỉ là những sáng tác thể nghiệm của một vài tác giả ở chốn thị thành thường xuyên tiếp xúc với trường phái thơ phương Tây. Ngay ở Hà Nội, Nguyễn Đình Thi làm thơ không vần bị phản đối quyết liệt. Còn ở các tình lẻ được xem là vương quốc của bảo thủ trong thơ. ấy thế mà bài thơ không vần của Hà Nhật viết ở Đồng Hới, nơi “tỉnh lẻ của tỉnh lẻ”, lại nhuần nhuyễn, lung linh như một viên ngọc toàn bích. Mới hay, thơ không chỉ là trường phái, là chủ nghĩa, thơ còn là nết đất, hồn người. Miền quê nghèo khó đầy gió cát Quảng Bình đã sinh ra những nhà thơ trứ danh như Nguyễn Hàm Ninh, Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Sanh... từng một thời đi tiên phong trong làng thơ Việt Nam. Đất ấy, sóng biển ấy đã sinh ra một loạt nhà thơ trong những năm chống Mỹ như Xích Bích, Trần Nhật Thu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Vũ Thuật v.v... Và đất ấy có Hà Nhật với bài thơ Bài thơ tình của người thuỷ thủ sống mãi!
Sau giải phóng miền Nam năm 1975, thầy Hà Nhật vào Sài Gòn dạy học. Cuối năm 1977, tại Đại hội Văn nghệ hợp nhất 3 tỉnh Bình - Trị - Thiên ở Huế, thầy có ra dự. Tôi và bạn bè được gặp lại thầy, bên thầy ríu rít như tuổi học trò xưa. Lúc đó thầy còn độc thân. Quá tứ tuần rồi mà còn độc thân! Thầy bảo rằng thầy rất vui khi được sánh vai cùng với học trò mình trên đường thơ. Chúng tôi nhắc lại và cùng hát bài hát phổ thơ thầy từng nổi tiếng một thời. Thầy chỉ cười, không nói gì, nhưng mắt chớp chớp, và nhìn đâu vào cõi xa xăm lắm...
(Phụ bản báo Văn nghệ)
Ngô Minh Hà Nhật
Bài thơ tình của người thủy thủ
Đêm nay, khi trăng mọc
Tàu anh sẽ nhổ neo
Em đừng hỏi
Vì sao anh ra đi
Cũng đừng hỏi
Chân trời xa có gì kêu gọi
Anh biết
Nếu ở chân trời có đảo
Trân-Châu
Hay ở biển xa
có nụ hoa thần tìm ra hạnh phúc
Hay có người gái đẹp
môi hồng như san hô
Cũng không thể
khiến anh xa được em yêu
Nhưng em hỡi
Nếu có người trai chưa từng qua
bão tố
Chưa từng vượt qua thử thách
gian lao
Lẽ nào xứng với tình em?
1961
Lật từng trang tập thơ tuyển Thơ Đồng Hới trong ngăn sách tặng ngày Quảng Bình giải phóng, tôi chợt lặng đi khi gặp bài thơ tình ấy. Bài thơ mà lứa học trò chúng tôi ở Trường cấp 3 Lệ Thuỷ những năm 1964 - 1967 đều thuộc nằm lòng. Đó là bài thơ Bài thơ tình của người thuỷ thủ của Hà Nhật, bút danh thầy giáo dạy văn của tôi năm lớp 8. Lại nhớ thầy, nhớ bạn, nhớ quê, lại miên man ray rứt. Mới thôi đã một đời người. Cách đây mấy năm, giữa Huế tiết thu phân mát mẻ nhóm bạn bè cấp ba Lệ Thuỷ cũ gồm tôi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Đình Tỵ, Đỗ Hoàng, Nguyễn Minh Hoàng (một giám đốc doanh nghiệp ở Sài Gòn) cùng với Mai Văn Hoan, Vĩnh Nguyên đã có cuộc tao ngộ lý thú tại nhà Đỗ Hoàng ở Tây Lộc. Sau tuần rượu và thơ, bỗng dưng chúng tôi thèm hát. Và Lâm Thị Mỹ Dạ, rồi Minh Hoàng nhắc lại bài hát của nhạc sĩ Hoàng Vân phổ bài thơ Bài thơ tình của người thuỷ thủ của thầy Lương Duy Cán, tức nhà thơ Hà Nhật. Thế là tất cả cùng hát đồng ca say sưa. Té ra đứa nào cũng thuộc. “Giá mà có thầy Hà Nhật ở đây nhỉ!”. Ai đó tiếc nuối. Dẫu vậy chúng tôi vẫn hát thật sôi nổi, rưng rức như được sống lại thuở học trò xưa. Đứa nào trong hồn cũng đầy ắp đại dương sóng vỗ:
Đêm nay, khi trăng mọc
Tàu anh sẽ nhổ neo
Em đừng hỏi
Vì sao anh ra đi
Cũng đừng hỏi
Chân trời xa có gì kêu gọi...
Đó là đoạn đầu bài thơ của thầy Hà Nhật mà tôi nhớ lại. Bài hát có tên Tình ca người thuỷ thủ, khác với tên bài thơ. Lời bài hát cũng thêm thắt, đưa đẩy đôi chút, đôi câu: “... Đêm nay khi trăng mọc. Tàu anh sẽ nhổ neo ra khơi. Tạm biệt em yêu, vẫy chào thành phố cảng thân yêu. Em ơi chớ hỏi anh nhiều. Em đừng hỏi vì sao anh ra đi. Em ơi cũng đừng nên hỏi. Ngoài khơi xa kia có những gì kêu gọi anh...”.
Hát là hát cái mình đã thuộc đã nhập tâm và mang theo suốt bốn mươi năm qua, chứ thực tình cho đến khi tuyển tập Thơ Đồng Hới ra mắt (7-1994), tôi mới được nhìn thấy mặt mũi bài thơ hay mà mình thuộc được in đàng hoàng trong sách! Thầy Lương Duy Cán kể rằng, những ngày đó thầy rất say thơ tình, thơ thế sự. Thơ tình làm ra rồi chép tặng người đẹp, không dám gửi đâu in cả. Lộ ra là sợ bị tai vạ. Mà gửi cũng chẳng báo nào dám in! Những năm 60 của thế kỷ XX, cả đất nước tập trung cho đấu tranh thống nhất, rồi chiến tranh chống Mỹ, thơ tình là thứ “nó làm mềm con người ta đi”, thứ “lãng mạn tiểu tư sản” ấy không thích hợp với cuộc chiến đấu. Những năm 60 ấy, hàng loạt các tác phẩm văn học đầy chất sống cuốn hút đã bị các nhà phê bình văn học kịch liệt phê phán bởi dính vào “xét lại”, dính vào “trò yêu đương lãng mạn” như tiểu thuyết Mùa hoa dẻ, Nhãn đầu mùa, Mở hầm v.v... Năm 1961, thầy Hà Nhật làm xong bài thơ, thấy thích quá, bèn ghi bút danh là Mai Liêm, một người chị họ đang học cấp ba Đào Duy Từ, Đồng Hới tên là Phạm Thị Chiến (sau này thành vợ nhà thơ Hải Bằng). Không ngờ bài thơ được đăng báo ở Hà Nội. Nhạc sĩ Hoàng Vân phổ nhạc bài thơ, nhưng không hiểu sao không ghi tên tác giả bài thơ là Mai Liêm! Lập tức bản nhạc được giới trẻ miền Bắc lúc đó yêu thích. Cho đến bây giờ các ca sĩ trên truyền hình hay Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn hát “Nhổ neo ra khơi...”.
Nghe nói bài thơ và bản nhạc phổ thơ cũng bị phiền luỵ một thời vì cách đánh giá của một thời. Nhưng tuổi trẻ Đồng Hới thì chuyền tay nhau bài thơ, chép vào sổ tay và say mê hát “Tình ca của người thuỷ thủ”. Năm 1964, thầy Hà Nhật được phân công về dạy cấp 3 Lệ Thuỷ. Đó là năm chúng tôi bước vào lớp đầu cấp ba. ở Đồng Hới có hai thầy giáo nổi tiếng dạy giỏi là thầy Lương Duy Cán dạy văn và thầy Đoàn Trình dạy toán. Hai thầy dạy hay đến nỗi, đến hôm nay, người Quảng Bình vẫn nhắc câu thành ngữ “Văn Cán - Toán Trình”. Thầy Đoàn Trình năm đó cũng về dạy cấp 3 Lệ Thuỷ. Chúng tôi còn có thầy Phạm Ngọc Thu, sinh viên Trường đại học Sư phạm Vinh mới ra trường cũng dạy văn như bỏ bùa mê! Số phận đã xui cho chúng tôi được học với hai người thầy dạy văn giỏi và làm thơ hay, nên cả lớp say sưa làm thơ. Lớp chúng tôi có hẳn một tờ báo tường để in sáng tác của các bạn. Tôi còn nhớ như in cái phòng học được đào sâu xuống đất để tránh bom đạn, mái lợp tranh, phên đất, xung quanh chằng chịt giao thông hào ở thôn Cổ Liễu, xã Liên Thuỷ. Mùa mưa, đường trơn như mỡ, giao thông hào ngập nước, ai không chú ý rơi tỏm xuống thì khốn khổ, mất cả buổi học. Thầy Hà Nhật trọ trong một nhà dân ngay cạnh lớp học. Bàn làm việc của thầy chất đầy tiểu thuyết và thơ tiếng Pháp. Lúc nhỏ, thầy được gia đình gửi vào học Trường Quốc học Huế, nên thầy đọc văn học Pháp qua nguyên bản. ở lớp, sau mỗi tiết giảng, bao giờ thầy cũng dành chục phút để kể chuyện, đọc thơ tình cho chúng tôi nghe. Lần đầu tiên trong đời tôi được nghe các chuyện cười về các Mệ hoàng tộc Huế như chuyện Mệ nghe cân cấn là do thầy Cán kể. Dạo ấy, chúng tôi được thầy dạy cho bài hát phổ bài thơ Tình ca người thuỷ thủ của thầy. Từ đó, đến buổi sinh hoạt lớp, chúng tôi lại hát. “Đêm nay khi trăng mọc. Tàu anh sẽ nhổ neo...”
Sau này, nhiều độc giả, cũng như bạn bè gần xa gửi thư cho tôi ngạc nhiên hỏi: “Không hiểu sao cái lớp cấp 3 Lệ Thuỷ ấy lại sinh ra nhiều nhà thơ thế?”. Đúng là một lớp 40 người mà đến nay có tới bảy tám người theo đuổi nghiệp thơ tới giờ như Lê Đình Tỵ, Đỗ Hoàng, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Phạm Hữu Xướng, Trần Khởi, tôi... Trong đó có tới 4 người là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, 2 người là hội viên Hội Văn nghệ Quảng Bình. Văn chương thơ phú là số phận của mỗi nhà văn. Nhưng chắc chắn trong hành trang của chúng tôi trên con đường thơ vô định ấy có điệu hò khoan Lệ Thuỷ quê nhà, có những bài giảng và những buổi đọc thơ hút hồn học sinh của thầy Lương Duy Cán, Phan Ngọc Thu và có cả bài hát phổ thơ tình về biển của thầy...
Một điều làm cho tôi rất tâm đắc là Bài thơ tình của người thủy thủ của thầy Hà Nhật, dù đọc dưới con mắt của độc giả hôm nay vẫn là một bài thơ hay và rất hiện đại. Nó hoàn toàn khác về chất so với loại thơ tình thời tiền chiến. Thơ tình tiền chiến buồn đẫm lễ, không có sự biểu lộ mạnh bạo, cứng cỏi như Em đừng hỏi. Vì sao anh ra đi. Cũng đừng hỏi. Chân trời xa có gì kêu gọi. Sự dấn thân của chàng trai trẻ giữa trùng khơi để chứng minh sức mạnh của tình yêu thật cao cả và hết mình. Xin em đừng hỏi anh nhiều. Vì anh biết dù cuối trời có đảo Trân-Châu/ hay biển ở xa có nụ hoa thần tìm ra hạnh phúc/ Hay có người con gái đẹp môi hồng như san hô
Cũng không thể/ khiến anh xa được em yêu
Yêu em như thế, nhưng anh phải ra đi vượt biển khơi, vì nếu “chàng trai chưa từng qua bão tố/ Chưa từng vượt qua nhiều thử thách gian lao/Lẽ nào xứng với tình em?”. Không so sánh mà so sánh. Tình yêu của người thuỷ thủ cao hơn sóng gió đại dương. Cấp độ so sánh được đẩy tới hoàn toàn sau khổ kết bài thơ. Bài thơ cấu trúc chặt chẽ, tình cảm phát triển từng bước để đạt tới cao trào, tạo ra sự hứng thú đột ngột. Bài thơ đặc biệt không vần, nhưng người đọc dễ dàng nhận ra nhịp điệu của biển, của tình yêu thúc hối. Những năm 60 của thế kỷ trước, thơ không vần ở nước ta, cả ở miền Nam, miền Bắc mới chỉ là những sáng tác thể nghiệm của một vài tác giả ở chốn thị thành thường xuyên tiếp xúc với trường phái thơ phương Tây. Ngay ở Hà Nội, Nguyễn Đình Thi làm thơ không vần bị phản đối quyết liệt. Còn ở các tình lẻ được xem là vương quốc của bảo thủ trong thơ. ấy thế mà bài thơ không vần của Hà Nhật viết ở Đồng Hới, nơi “tỉnh lẻ của tỉnh lẻ”, lại nhuần nhuyễn, lung linh như một viên ngọc toàn bích. Mới hay, thơ không chỉ là trường phái, là chủ nghĩa, thơ còn là nết đất, hồn người. Miền quê nghèo khó đầy gió cát Quảng Bình đã sinh ra những nhà thơ trứ danh như Nguyễn Hàm Ninh, Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Sanh... từng một thời đi tiên phong trong làng thơ Việt Nam. Đất ấy, sóng biển ấy đã sinh ra một loạt nhà thơ trong những năm chống Mỹ như Xích Bích, Trần Nhật Thu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Vũ Thuật v.v... Và đất ấy có Hà Nhật với bài thơ Bài thơ tình của người thuỷ thủ sống mãi!
Sau giải phóng miền Nam năm 1975, thầy Hà Nhật vào Sài Gòn dạy học. Cuối năm 1977, tại Đại hội Văn nghệ hợp nhất 3 tỉnh Bình - Trị - Thiên ở Huế, thầy có ra dự. Tôi và bạn bè được gặp lại thầy, bên thầy ríu rít như tuổi học trò xưa. Lúc đó thầy còn độc thân. Quá tứ tuần rồi mà còn độc thân! Thầy bảo rằng thầy rất vui khi được sánh vai cùng với học trò mình trên đường thơ. Chúng tôi nhắc lại và cùng hát bài hát phổ thơ thầy từng nổi tiếng một thời. Thầy chỉ cười, không nói gì, nhưng mắt chớp chớp, và nhìn đâu vào cõi xa xăm lắm...
(Phụ bản báo Văn nghệ)
Love mickey,