Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Đọc lại “Tiếng an dân” và suy ngẫm

0 trả lời, 33 lượt xem — Trang 1 / 1
Đọc lại “Tiếng an dân” và suy ngẫm

Trần Hiệp

Chúng ta vừa có dịp chúc mừng 20 tác giả được trao giải cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ 2003 - 2004, đó là những tác giả mới, lối thể hiện mới, lại có dịp đọc 10 truyện ngắn được tuần báo Văn nghệ chọn là Truyện ngắn hay 5 năm 2000 - 2004. Tôi đã đọc cả 10 truyện ấy dù đã đọc một lần trước đây khi báo Văn nghệ “mới ra lò”. Truyện nào cũng để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc. Một cô Dịu trong Má hồng của Nguyễn Khải; một anh Phúng trong Cây bồ kết vàng của Ma Văn Kháng, một cô Hạnh trong Trăng nơi đáy giếng của Trần Thùy Mai; một anh Đạt, một cô Mánh trong Khách không mời của Nguyễn Kiên; một cô Lễ trong Đầu máy hơi nước của Lê Minh Khuê; một ông già trong Đứa con trở về của Lê Văn Thảo; một lũ nhân vật nhí nhố đua tài sống gấp trong Trại cá sấu của Hồ Anh Thái.., đều để lại trong lòng người đọc một chút suy nghĩ về những kiếp người, những số phận. Thì ra, ai cũng thế tránh sao khỏi sự sứt mẻ trên đường đời. Điều rất lạ là ở chỗ này: Bài học về các cuộc đời đầy ra đấy mà sao người đi sau vẫn không sao tránh cho hết đến vẹn toàn được mà cứ dẫm bừa lên. Vì thế mà các nhà văn hết lớp này đến lớp khác nối tiếp nhau tái tạo cái sự đời sao cho khác hơn, lạ hơn, người đọc không bị nhàm chán, vẫn phải đọc và rồi cái sự đời lại cứ biến hóa khôn cùng như là kiếp luân hồi.

Riêng truyện ngắn Tiếng an dân của Thái Đào, không hiểu vì sao, đọc xong ngồi nghĩ về số phận các nhân vật trong truyện mà mắt tôi cứ cay cay rân rấn lệ chực trào ra.

Một quan Học sĩ thanh liêm mẫn cán hết lòng phò Chúa để mong được an dân, nhận làm kẻ ăn mày để vi hành tìm manh mối vì sao trấn Hạ Biều có nạn trộm cướp, lòng dân không yên; một công trình thủy lợi do chính quan Học sĩ tấu trình lên Chúa đến lần thứ ba mới được phê duyệt, quốc khố phải đổ ra bao nhiêu là tiền của, sức dân đổ ra đến hao gầy mà thi công năm này qua năm khác không xong, đồng ruộng vẫn khô cằn, cây cối héo quắt, dân tình trong vùng đói khổ? Vua cướp Hoàng Bang Tá, từng là nho sinh học giỏi nhưng vì không có tiền đút lót mà bao nhiêu lần thi đều bấy nhiêu lần bị đánh trượt. Giận đời, Tá nói năng khiếm nhã bị khép vào tội phản loạn, Tá phải vào lao tù. Gặp các bạn cùng cảnh nghèo khổ; tức trí rủ nhau trốn trại lập đảng cướp của nhà giàu, các nhà quan chức tham ô, nhũng lạm chia cho dân nghèo. Nhờ được một lão tù có môn đao phái gia truyền dạy cho mà Hoàng Bang Tá không chỉ giỏi văn mà còn tài võ. Cuộc đời khéo xô đẩy, Hoàng Bang Tá lại gặp quan Học sĩ, ông không chỉ là một vị quan thanh liêm, mẫn cán mà cũng là tay đao thao lược, cuộc tao ngộ chiến đã xảy ra giữa quan khâm sai và tên đạo tặc. Biết ông già là quan giả dạng đi điều tra lẽ phải. Tá nhảy ra ngoài vòng chiến xin được đàm đạo với quan Học sĩ mà chủ yếu là được giải bày với quan Học sĩ vì sao mà hắn trở thành tướng cướp, vì sao lòng dân Hạ Biều không yên... Nhưng quan khâm sai không thể đàm đạo với kẻ cướp; cuộc chiến lại tiếp tục và rồi ông quan già đã phải chịu thua. Bang Tá không giết quan Học sĩ mà bảo ngài nhặt đao lên về tâu với chúa Trịnh Sâm: “Nước loạn không phải vì dân đen, tay trắng mà loạn từ sự thối nát của nhà chúa, nhà quan”. Với tài kinh luân, thao lược quan Học sĩ thay đổi thế cờ ở chốn chính trường, lần này quan Học sĩ lại mời Hoàng Bang Tá cùng đàm đạo. Trong cuộc chén tạc, chén thù quan Học sĩ mới biết Hoàng Bang Tá là một kẻ sĩ, và cũng biết được tại sao công trường thủy lợi không làm xong, kéo dài hết năm này qua năm khác, chính là vì quan chức sử dụng một vạn dân binh trên công trường đi lấy sừng tê, đào đá quý, khai trầm hương cho các quan; công trình thiết kế xây bằng đá, các quan cho đắp đất thay vào, đã thế các quan còn ăn chặn một nửa phần lương thực, thực phẩm của những người làm việc trên công trường. Đập làm đến đâu mưa lũ trút xuống phá vỡ đến đấy, các quan tâu lên là do thiên tai, nhà nước lại đổ thêm tiền của vào... Các quan giám sát được phái đến, họ biết rất rõ, nhưng phần lo không chống nổi thế lực bao che, phần vì được chia một phần lợi lộc nên cũng phải lờ đi. Hoàng Bang Tá nói với quan khâm sai: “Tôi đang thực thi đạo trời, phân phối lại của cải trần gian cho hợp lẽ công bằng xã hội… Kẻ đọc sách như ngài và tôi không thể nhắm mắt làm ngơ”. Quan khâm sai nghe tên đạo tặc nói mà chua sót trong lòng. Bang Tá nói đúng cả, toàn sự thật cả. Nhưng ngài cũng nhận ra Bang Tá là kẻ sĩ cực kỳ nguy hiểm, phải giết nó hoặc thu phục nó. Bằng đòn đánh bất ngờ, quan khâm sai đã bắt được Hoàng Bang Tá đem về tâu với Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm và khuyên chúa tha tội chết cho Hoàng Bang Tá, cử Tá làm quan giám sát ở trấn Hạ Biều được phép cầm kiếm lệnh chém rụng đầu những kẻ phá kỷ cương, phép nước. Nhờ thế mà công trình thủy lợi được hoàn thành; bọn tham quan ô lại ở trấn Hạ Biều bị trừng trị. Nhưng phủ chúa lúc này đã chia hai phía. Chúa Trịnh Sâm say mê tửu sắc bị Tuyên phi Đặng Thị Huệ chi phối. Hoàng Bang Tá chỉ trừng trị được bọn dưới quyền vi phạm kỷ cương phép nước làm sao có thể trừng trị được những kẻ phạm tội ngồi trên đầu mình. Quan học sĩ cũng đã bị đẩy đi an trí vùng biên ải và ông cũng đã quá già nua, lực bất tòng tâm. Hoàng Bang Tá bị lũ quan ở huyện Phù Vân tay chân của Tuyên phi Đặng Thị Huệ đánh đòn hạ mã mà tử vong...

Có thể những điều trên đây chưa hoàn toàn khớp với chính sử? ở đây với tư cách là người đọc tôi tôn trọng những gì tác giả đã kể và tả. Và, tôi cũng mong ai đã đọc truyện ngắn này đừng bận tâm về những chi tiết, nhân vật có chỗ nào đó không khớp hoặc mâu thuẫn với chính sử mà hãy dành sự suy ngẫm của mình cho nội dung câu chuyện cùng với các nhân vật trong đấy để rồi cùng nghĩ về nhân tình thế thái của thời cuộc.

Tôi phải làm cái việc đúng ra là không nên làm là tóm tắt nội dung cốt truyện hơi dài. Thực tâm tôi muốn được cùng chia sẻ nỗi đau với các bạn đọc mến mộ truyện này.

Từ khi Đảng lãnh đạo nhân dân ta dành chính quyền từ tay Nhật, Pháp, tiến hành các cuộc kháng chiến giải phóng và bảo vệ, xây dựng đất nước, ngay từ những ngày đầu Đảng nắm quyền lãnh đạo; Bác Hồ đã căn dặn mọi cán bộ từ Trung ương đến cơ sở phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; cán bộ là công bộc của nhân dân; cán bộ, đảng viên phải gương mẫu với nhân dân, gian khổ chịu đựng trước, quyền lợi hưởng sau; quân đội ta còn có phương châm “đi dân mến, ở dân yêu, không đụng đến cái kim sợi chỉ của nhân dân”. Khi Đảng chủ trương và lãnh đạo công cuộc đổi mới, cơ chế thị trường có nhiều biểu hiện tiêu cực len lỏi vào các cơ quan Nhà nước, các ngành kinh tế, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh người đầu tiên nêu ra Những việc cần làm ngay, các đại hội của Đảng từ lần thứ VI đến lần thứ IX đều nêu rất đậm vấn đề chống các biểu hiện tiêu cực, xử lý kịp thời các cá nhân, tập thể tham ô, nhũng lạm của Nhà nước và của nhân dân; nêu cao khẩu hiệu chỉ đạo mọi việc làm của các cơ quan đoàn thể là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đi tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Mọi cán bộ khi ra ứng cử ở một cương vị công tác nào đó đều phải kê khai tài sản. Từ chủ trương đúng đắn ấy của Đảng mà đất nước ta có sự phát triển nhanh chóng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, mọi mặt, mọi ngành kinh tế, văn hóa, xã hội đều tiến bộ nhảy vọt. Đồng thời cũng làm bật ra những tên, những nhóm tội phạm lớn về tham ô, nhũng lạm, vi phạm kỷ cương, phép nước phải chịu tội trước pháp luật, trong đó có cả những người giữ chức vụ quan trọng của các ngành ở Trung ương. Đó là sự thành công rất được lòng dân và thể hiện hiệu lực sức mạnh của pháp luật của Nhà nước, quyết tâm bài trừ các tệ nạn xã hội của Đảng được thể chế hóa bằng các bộ luật Quốc hội đã thông qua.

Tuy nhiên các tệ nạn xã hội mà nhức nhối nhất vẫn là vấn nạn tham nhũng. Có thể nói đến địa phương nào, ngành nào cũng được nghe nhân dân bàn tán nêu ra nghi vấn ông này, bà nọ là cán bộ lương ba cọc ba đồng sao mà giàu nhanh thế, tiền đâu mà tậu nhà, tậu đất, mua xe nọ xe kia nhiều thế. Tất nhiên các tài sản cố định ấy không đứng tên ông ấy, bà ấy mà là tên vợ, tên chồng, tên con, tên cháu họ.

Đại hội Đảng các cấp sắp tới sẽ diễn ra. Trong các đại hội ấy có vấn đề bầu cử các cấp ủy, việc kê khai tài sản của những người ra tranh cử cũng sẽ phải làm. Nhưng đây là vấn đề làm sao cho thực chất, cho đúng sự thực, không phải là hình thức, làm lấy lệ. Cùng với việc họ tự giác kê khai còn phải được nhân dân ở địa phương ấy xác minh bằng các hình thức khác nhau, kể cả hộp thư kín và có những cán bộ thanh Iiêm như Quan Học sĩ trong truyện ngắn Tiếng an dân thẩm định để sao cho các cấp ủy được bầu ra bao gồm những người được dân tin, dân yêu, là những người một lòng vì dân vì nước.

Đọc lại truyện ngắn Tiếng an dân một trong 10 truyện ngắn hay nhất đăng trên tuần báo Văn nghệ 5 năm qua, là một người sáng tác văn học và đã có thành công chút ít ở thể loại truyện ngắn, tôi cứ nghĩ suy mãi về cốt truyện, cách kể, cách tả, cách chọn chi tiết chuyện của Thái Đào. Như một sự thôi thúc không thể đừng được, tôi khai bút mừng xuân ất Dậu bài viết này, coi đó là tấm lòng của một thị dân gốc nhà quê dâng lên Đảng kính yêu nhân dịp tròn tuổi 75.




(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0