Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

HOA SEN và THI NHÂN

0 trả lời, 34 lượt xem — Trang 1 / 1
HOA SEN và THI NHÂN

Trầm Hương

Nói đến Nguyễn Du là nói đến Truyện Kiều. Đó là kiệt tác văn học không chỉ của riêng Việt Nam mà cả thế giới. Nhưng kì lạ thay, với tôi, niềm rung cảm mạnh mẽ từ cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du chính từ những số phận bị lãng quên, nhỏ nhoi và cô độc. Đó là “Văn tế thập loại chúng sinh” với những câu thơ đau xé lòng, đầy dự cảm về thân phận con người. Sự đa cảm của ông khiến những số phận bé nhỏ trở nên lung linh, huyền ảo và sống mãi với thi ca. Đó là “Thăng Long Thành Cầm giả ca”, cô gái có tiếng đàn “Nguyễn” tài sắc một thời, mấy mươi năm thi nhân gặp lại, nàng đã phấn lạt hương phai. Nhìn nàng, cám cảnh thế sự, nhà thơ buông một tiếng thở dài: “Ta ở Nam về đầu bạc ráo/ Trách chi người chẳng má phai đào/ Thương nhau con mắt mở trao tráo/ Con mắt mơ màng chẳng thấy nhau”. Trái tim nhân hậu của nhà thơ đã làm nên tài hoa trong văn chương và tài hoa làm cho lòng nhân ái của nhà thơ truyền dẫn đến lớp lớp người hậu thế. Sự nghiệp văn chương của Người lớn quá, chỉ cảm thôi đã thấy tim mình thắt lại, không chứa nổi những kiếp người. Ngày xuân, tôi chỉ muốn nói tình yêu của người dành cho hoa...
Nói đến khung cảnh ngày xuân thì còn gì đẹp hơn: Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã dùng hàng trăm lần từ hoa để ví người con gái đẹp. Trong Viếng ca nữ đất La Thành, Nguyễn tiên sinh đã diễn tả nhan sắc người kĩ nữ: “Non bồng sa xuống một cành xinh/ Vẻ đẹp sắc xuân nức sáu thành”. Trong bài Hành lạc từ, còn gì có thể đẹp hơn hoa đào trong tiết xuân: Trên núi có hoa đào/ Tươi đẹp như lụa đỏ. Hoa càng đẹp, thi nhân càng đau lòng trước tuổi hoa ngắn ngủi: Sáng mai giỡn màu xuân/ Chiều tối lăn bùn nhọ. Có lẽ vì sự mong manh ấy mà cụ Nguyễn không chút ngần ngại bộc lộ quan niệm sống của mình: Hoa đẹp không trăm ngày/ Người sống không trăm tuổi/ Việc đời thay đổi luôn, Kiếp người vui có hội/ Trên tiệc có gái đẹp như hoa/ Trong hũ có rượu như vàng pha/ Tiếng quản tiếng tiêu khoan nhặt lại/ Được lúc hát ca cứ hát ca. Nhưng những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, rượu chảy thành suối, lụa chất thành đống, tiền rơi loảng xoảng vẫn không át được nỗi buồn: “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiện”. Sau cuộc vui, thi nhân thấy tâm hồn mình trống rỗng, nỗi buồn cố khỏa lấp bằng hoa, bằng rượu càng buồn hơn. Ông cố “Xua nỗi buồn” nhưng “Cá rồng lặng lẽ đêm thu vắng/ Trăm mối u hoài khó dẹp chưa”. Con người đa sầu, đa cảm của Nguyễn Du làm sao dẹp được nỗi buồn thường trực trong tâm hồn. Ông lại sống trong một thời đầy loạn lạc, nhiễu nhương, phân quyền, phe phái, nếm đủ vinh nhục cay đắng. May thay, nhờ nỗi đa sầu đa cảm ấy mà hậu thế có được một tài sản thơ ca vô giá. Người không khỏi chạnh lòng khi dừng bên vườn hoa cạnh Tây Hồ đã trở thành bãi hoang, nơi còn lưu lại dấu hài bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh. Cám cảnh những bài thơ chất nặng tâm sự của một người vợ lẽ bị vợ cả ghen đốt cháy, Người đau lòng thốt lên: Son phấn có linh hồn chắc phải xót vì chuyện xảy ra sau khi chết. Văn chương không có mệnh mà cũng bị liên lụy, đốt đi còn sót lại vài bài. Nỗi đồng cảm với Tiểu Thanh khiến Nguyễn tiên sinh ngước mặt nhìn Trời, thốt lên câu hỏi đau xé lòng: Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi/ Cái án phong tình khách tự mang/ Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa/ Người đời ai khóc Tố Như chăng? Trên đường đi sứ sang Trung Quốc, trải qua lộ trình dài dằng dặc, từ Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Nam, Hồ Bắc, Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Giang Tô, An Huy..., được nhìn ngắm bao “đệ nhất hùng quan”, đi qua bao địa danh in đậm tên tuổi các anh hùng hào kiệt, Nguyễn tiên sinh chỉ cảm mà không khóc. Vậy mà lần ấy khi đi qua quê cũ của Dương Quý Phi, nơi sinh ra một trong “tứ đại mĩ nhân”, đứng dưới thành, trước làn gió đông, lòng thi nhân dâng tràn xúc cảm. Người chảy nước mắt lúc nào mà không biết, thốt lên lời bênh vực cho nhan sắc của Dương Quý Phi: “Vì cả triều đình đều như phỗng đứng, nên nghìn năm người ta đổ tội cho sắc đẹp nghiêng thành”. Người đi tìm lại hình bóng Dương Phi, không phải lúc đang xuân rực rỡ mà khi nàng đã tan thành cát bụi: “Tìm chỗ hoa tàn đâu thấy nữa? Dưới thành gió thổi biết bao tình”.

Đặc biệt, trong những thi phẩm của Nguyễn Du, hoa sen được diễn tả vô cùng tinh tế. Từng là một ẩn sĩ, Nguyễn tiên sinh rất thích hoa sen, loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nếu như ức Trai tiên sinh là một con người đạt đến tột đỉnh sự tinh tế trong bài vịnh cây chuối: “Tình thư một bức phong còn kín/ Gió ở đâu gượng mở xem” thì Nguyễn tiên sinh dạt dào xúc cảm, tài hoa tuyệt đỉnh trong quan sát: “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”. Sau những ngày loạn lạc, trở lại kinh thành, gặp người hát cũ của em trai, Nguyễn Du không khỏi chạnh lòng khi nhận ra mái tóc mĩ nhân năm nào nay đã bạc. Người chia sẻ cùng nàng nghiệp cầm ca - một thứ “nghiệp” muốn vứt bỏ đi nhưng thật không dễ dàng, giống như ngó sen kia: “Chậu đổ thôi rồi khôn vớt lại/ ngó lìa thương nỗi vướng tơ này/ Lấy chồng đã có ba con nhỏ/ áo cũ thương sao mặc đến nay”.

Nguyễn tiên sinh yêu thích hoa sen không phải vì hoa sen có liên quan đến một giai thoại đẹp trong gia tộc ông, rằng Nguyễn Khản, người anh đầu (khác mẹ) của Nguyễn Du vào năm Trịnh Sâm nối ngôi (1767) do có công dạy Chúa học lúc còn là Thế tử, nên được thăng Đông các đại học sĩ, kiêm Tế tửu Quốc tử giám. Năm ấy trong hồ Kim Âu có một giò sen nở hai hoa. Trịnh Sâm và triều đình làm thơ khen mừng, nội dung như sau: “Cha đậu cao con cũng đậu cao, hai đời giữ chức trọng yếu, chỉ có nhà quan tướng công họ Nguyễn mới được như vậy. Không tin hãy xem điềm tốt hiện ra trên mặt hồ: Rành rành là một chồi nở hai đoá hoa”. Nguyễn Nghiễm, thân sinh Nguyễn Du, đỗ Hoàng giáp năm Tân Hợi, làm quan thời Lê Trịnh đến chức tể tướng. Có lúc hai cha con cùng nằm trong Chính phủ, nên được ban cho bốn chữ “Nhị thân phụ tử”, ví cha và anh trai Nguyễn Du như cha con họ Nhân là Thân Nhân Trung và Thân Nhân Tín thời Hồng Đức. Nhưng dòng họ khoa bảng, trâm anh thế phiệt ấy trước sự biến động của các triều đại cũng có lúc rơi vào cơn bĩ cực. Trong hoàn cảnh ấy, cốt cách thanh cao của hoa sen được thử thách đầy khắc nghiệt. Ông ví hoa sen như những con người tài hoa bạc mệnh, bị dùi dập bắt, phải phong trần. Hoa sen có một vẻ đẹp không gì cưỡng nổi nên nhiều người đã giơ tay hái. Một ông vua đời Thanh yêu nàng cung phi thích hoa sen, cùng nàng hái sen, ngắm hoa sen. Mặt người và mặt hoa sen ẩn hiện, đẹp mê hồn, vua thích quá, ngẫu hứng đặt tên cho nàng là “Liên Hoa tiên tử”. Thái hậu nổi giận, gây áp lực bắt vua chọn lấy hoặc là ngai vàng, hoặc là “Liên Hoa tiên tử”. Ông vua chung tình ấy đã sẵn sàng rời khỏi Hoàng Cung, lặng lẽ tìm đến ngôi chùa, cùng Liên Hoa tu hành, ẩn dật. Trong bài thơ Mộng đắc thái liên (Chiêm bao thấy hái sen), Nguyễn Du đã từng có những giây phút êm đềm, hạnh phúc cùng một mĩ nhân. Nàng xắn gọn quần cánh bướm, cùng thi nhân chèo thuyền con hái sen. Nước hồ lai láng, in bóng hai người... Cùng một lúc, hoa sen và mĩ nhân đã mang đến cho Nguyễn Du niềm xúc cảm vô cùng ý nhị, tinh tế. Đây cũng có thể là lời tỏ tình hay nhất:

Tây hồ hái, hái sen,

Hoa, gương, bỏ lên thuyền.

Hoa, tặng người mình sợ,

Gương, tặng người mình quen.



Sáng nay đi hái sen,

Hẹn cô kia đi với.

Chẳng biết đến lúc nào?

Cánh hoa nghe cười nói.



Hoa sen ai cũng ưa,

Cuống sen, mấy ai thích

Trong cuống có tơ mành,

Vấn vương không hề dứt



Lá sen màu xanh xanh

Hoa sen dáng xinh xinh

Hái sen chớ đụng ngó

Năm sau hoa chẳng xinh

Gượng nhẹ, trân trọng, yêu quý cái đẹp, Nguyễn tiên sinh đã trao lại cho hậu thế những đoá sen tuyệt đẹp. Vì những chiếc ngó không bị hại mà năm sau, năm sau nữa, và đời sau, đời sau nữa, những đoá hoa mọc lên từ lòng nhân ái không bao giờ tàn lụi. Còn mĩ nhân cùng Nguyễn Du hái sen nơi hồ phía Tây là ai, nàng từ đâu đến cho đến giờ vẫn còn là câu hỏi bỏ ngỏ...

T.H

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0