Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Ngày xuân đọc thơ bốn vị vua cuối triều Nguyễn

0 trả lời, 25 lượt xem — Trang 1 / 1
Ngày xuân đọc thơ bốn vị vua cuối triều Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Theo truyền thống các vua Nguyễn đều được học hành chu đáo, học chữ Hán, trong đó việc học làm thơ và ai cũng biết làm thơ, ngay cả ông vua cuối cùng là Bảo Đại. Các vua cuối triều Nguyễn do người Pháp đặt lên ngôi để làm bù nhìn cho Pháp còn được học thêm chữ Quốc ngữ và học chữ Pháp. Đóng vai trò bù nhìn cho nên lời ăn tiếng nói, chiếu chỉ của các vua cuối triều Nguyễn ban ra không thể hiện được tâm trạng và sự uyên bác của các ông. Muốn hiểu được phần nào tâm sự thật của các ông không gì bằng tìm đọc thơ của họ.


1Thơ vua Thành Thái. Vua Thành Thái (1889-1907) tên thật là Bửu Lân, sinh năm 1879, con thứ bảy của vua Dục Đức, lên ngôi lúc mới 10 tuổi (1889). Lên ngôi ở tuổi vị thành niên, vua Thành Thái cũng như nhiều ấu vương khác chỉ biết ăn chơi. Nhưng đến tuổi trưởng thành nhà vua nhận thức được đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, ông ngồi trên ngai vàng chỉ để làm bù nhìn cho Pháp ra sức bóc lột dân ta mà thôi. Từ đó ông có tư tưởng chống Pháp, ông đã gửi gắm tâm sự của mình trong nhiều bài thơ chữ Hán và thơ quốc âm của ông.

Nhân 100 năm cơn bão năm Giáp Thìn (1904), xin giới thiệu bài Vịnh Bão năm Thìn (1904) của vua Thành Thái. Bài thơ có hai cách đọc:

Đọc xuôi:

ào ào trận nổi gió tây đông

Vận khí vừa may gặp hội rồng

Cao điện chốn đều thay ngói cũ

Sắt cầu nơi lại uốn lưng cong.

Xao sông nước đổ bay đò nặng.

Bán chợ người về khóc gánh không.

Hao hại buổi trời theo chịu thế,

Nào hay có gốc ấy sanh bông.



Đọc ngược:

Bông sanh ấy gốc có hay nào!

Thế chịu theo thời buổi hại hao!

Không gánh khóc về người chợ bán

Nặng đò bay đổ nước sông xao!

Cong lưng uốn lại nơi cầu sắt!

Cũ ngói thay đều chốn điện cao!

Rồng hội giúp nay vừa khí vận,

Đông tây gió nổi trận ào ào!

Vua Thành Thái

(Thần Kinh Tạp Chí, số 3, tháng 10 năm 1927 trang 205)

Đọc xuôi và đọc ngược bài thơ đều có nghĩa và đúng luật thơ. Lối thơ này rất khó làm, có lúc đọc xuôi thì hay nhưng đọc ngược thì trúc trắc hoặc ngược lại. Thơ tuy khó làm nhưng không phải vì thế mà phần kĩ thuật trận bão bị gò ép. Sức tàn phá toàn diện của trận bão vẫn được gợi tả. Hai câu 3 và câu 4 trong bài đọc xuôi và câu 5 và 6 trong bài đọc ngược tác giả muốn nói cung điện (của Việt Nam) tuy thế mà trận bão chỉ làm thay ngói, còn cầu Trường Tiền (của Bảo Hộ) thì sụp đổ. Tác giả cũng chê trách đám quan lại Việt Nam cong lưng làm tay sai cho Pháp “Cong lưng uốn lại nơi cầu sắt/ Cũ ngói thay đều chốn điện cao”. Câu kết của bài đọc xuôi và là câu mở đầu của bài đọc ngược tác giả tin tưởng cuộc sống sẽ hồi sinh, vươn lên mạnh mẽ vì có gốc vững mạnh.

Biết vua Thành Thái có tư tưởng chống Pháp nên toàn quyền Đông Dương Broni và Khâm sứ Trung Kỳ Lévêque buộc vua Thành Thái phải “thoái vị” (abdiqué) và đưa hoàng tử Vĩnh San mới 8 tuổi, con thứ 5 của vua Thành Thái lên ngôi, lấy niên hiệu là Duy Tân.

2. Thơ vua Duy Tân. Vua Duy Tân (1907-1916) là ông vua Nguyễn đầu tiên rất giỏi Pháp ngữ. Ông sớm được đọc những sách sử cách mạng thế giới bằng tiếng Pháp nên có tư tưởng chống Pháp quyết liệt. Một đêm đi thuyền trên sông Hương, nhà vua viết bài Nocturne sur la rivière des Parfums (Đi đêm trên sông Hương).

“La barque obéit, endormie

aux coups réguliers du rameur

Mon âme tressaille, meurtrie,

aux coups de la vie dans mon coeur…”

(Chiếc thuyền êm giấc vẫn vâng theo

Nhịp đập đều đều của mái chèo

Hồn ta giật nẩy, tim khô héo

Bởi lẽ đời ra bị lắm keo…)

Đọc bài thơ này nhà nghiên cứu Pháp Pierre Brocheux cho rằng đây là tâm trạng của vua Duy Tân lúc ban đầu, nhưng dần dần tâm trạng đó được nâng lên và có màu sắc chính trị rõ rệt. Cũng theo Pierre Brocheux, mật thám Pháp đã thu được nhiều bài thơ yêu nước của vua Duy Tân và những bài thơ đó đang được giữ trong Hồ sơ lưu trữ quốc gia, bộ phận Hải ngoại, FOM, 858/2326. Pierre Brocheux đã trích dẫn những câu điển hình như sau:

“Les Francais se sont implantés ici depuis plusieurs automnes.

L’Odeur de ces barbares sent de plus en plus mauvais.

(…)

Le père et le fils ont subi de même sort.

(…)

Pitié pour ces héros qui ont bravé les flèches et les canons

qui n’ont pas craint les balles et l’epée.

Malheur à ces sujets qui - à maintes reprises - ont trahi leur pays

Afin d’avoir des bonnets d’or et des plaquettes d’ argent”

(theo Pierre Brocheux. De L’Empereur Duy Tan au Prince Vinh San:

L’histoire peut-elle se répéter? Approches Asie, 1990)

Tạm dịch:

“Từ nhiều mùa thu qua, người Pháp đã cắm chân ở nơi đây

Những tên man rợ này càng bốc lên mùi hôi thối.

(…)

Cả cha và con đều cùng chịu một số phận

(…)

Tội nghiệp cho những vị anh hùng này đã

xông pha đầu tên mũi súng.

Họ chẳng biết sợ hòn đạn hay lưỡi kiếm.

(…)

Hổ thay cho những thần dân kia nhiều lần đã phản bội

đất nước,

Cốt đoạt cho được chiếc mũ vàng và chiếc bài bằng bạc”.

Tuổi trẻ bồng bột, vua Duy Tân không giấu giếm những tư tưởng chống Pháp của mình như vua Thành Thái. Ông chửi thẳng bọn thực dân, chửi bọn quan lại phản bội dân tộc làm tay sai cho thực dân và đồng thời ông thương tiếc cảm phục những anh hùng đã anh dũng hi sinh vì quốc gia dân tộc. Và, thật bất ngờ ông đã tiên đoán được số phận của ông rồi ra cũng giống như số phận bị truất phế và đi đày như thân sinh ông “Cả cha và con đều cùng chịu một số phận”. Sau cuộc khởi nghĩa chống Pháp năm 1916 không thành, ông bị Pháp bắt và đưa vào Vũng Tàu. Trước khi đày ông và thân phụ ông sang đảo Réunion. Không thể để ngai vàng bỏ trống một ngày, Pháp đưa Bửu Đảo - con vua Đồng Khánh lên ngôi, lấy niên hiệu Khải Định.

3. Thơ vua Khải Định. (1916-1925). Sau khi vua Duy Tân bị đày, người Pháp định đưa Đại thần Trương Như Cương lên thay thế và lập nên chế độ Cộng Hoà. Nhưng may sao Hoàng tộc không đồng ý và ông Trương cũng từ chối. Biết vậy cho nên vua Khải Định khi được Pháp và triều đình tôn lên làm vua muốn giữ được ngai vàng cho nhà Nguyễn đã phải có một cách sống khác, tức là phải thân thiện với Pháp và nhờ Pháp giúp đỡ để canh tân đất nước. Sự lựa chọn của vua Khải Định đã bị lịch sử lên án mạnh mẽ. Chấp nhận bảo hộ, vua Khải Định phục hồi dần nền nếp của Vương triều đã bị thả lỏng từ các vua tiền triều. Vua Khải Định làm nhiều thơ nhưng chúng tôi chỉ mới được đọc một số mà nhà vua đã ban tặng và còn lưu giữ trong gia phả của các vị Đại thần. Bài thơ được giới thiệu sau do vua Khải Định sáng tác để tặng cho Phụ chính thân thần Tôn Thất Hân năm ông Phụ chính 70 tuổi và về hưu ở Vỹ Dạ.

Nguyên văn bài thơ viết bằng chữ Hán, dưới đây là bản phiên âm:

Dưỡng đắc thiên chân luyện tánh tình

Cổ hy niên dĩ mại nhân sinh,

Ngân hoàng Phái diễn tiêu anh chí,

Nhật quý quan phân lãng cực tinh.

Động tác lao hình kinh tuế nguyệt,

Thể ưu hậu đạo ngưỡng Triều Đình.

Tứ khanh thường Điển Kỳ tăng Thụ,

Dữ quốc đồng hưu hưởng thái bình.

Dịch nghĩa:

Khanh đã luyện được tính tình nuôi lấy cái Thiên Chân

tự nhiên của trời cho,

Nay thọ đến bảy mươi là đạt mức sống của con người,

xưa cũng ít ai có,

Dòng Hoàng gia ta diễn dài ra đã nêu cao một khí tiết tinh anh,

Bóng mặt trời chia sáng đến ngôi sao lớn nhất.

Vì sự động tác của Khanh trải nhiều năm tháng, nên phải

khổ nhọc hình hài,

Nay Khanh được về nghỉ là ngưỡng ân của Triều Đình

thể tất hậu đạo

để đãi tuổi già.

Vậy Trẫm cho Khanh theo lệ hậu đạo được tăng thêm tuổi thọ,

Cùng với nước nhà chung vui hưởng cảnh thái bình

Và cũng là dịp để cho Khanh biết Trẫm hết sức để ý ban ân

tuổi già và

hậu đãi người thân.

Khải Định Quí Hợi (1923) tiết mạnh hạ,

“Ngự đề”

(Trích Hoàng triều Tôn Phổ. Hệ Năm, tr46 - 47)

Bài thơ toát ra khẩu khí của một ông vua, ý tứ rõ ràng, tự hào về dòng họ, tự đề cao vai trò của mình. Tuy nhiên về nghệ thuật, bài thơ giống như một bài văn xuôi có vần, không có chất thơ, không một chút hào khí của kẻ “đứng đầu thiên hạ”. Nghĩa câu thơ thứ 7: “Cùng với nước nhà chung vui hưởng cảnh thái bình” phản ảnh đúng quan điểm hưởng thụ những gì mà thực dân Pháp đã đem lại cho ông. Ông muốn được thực dân Pháp che chở lâu dài nên trước khi làm bài thơ này (1923), năm 1922 ông đã đem Hoàng Thái tử Vĩnh Thuỵ sang Pháp nhờ Pháp đào tạo thành một ông vua để tiếp tục sự nghiệp chấp nhận sự bảo hộ của Pháp như ông. Và ước vọng của ông đã thành sự thật. Cuối năm 1925, vua Khải Định qua đời, đầu năm 1926 Vĩnh Thuỵ đăng quan lấy niên hiệu là Bảo Đại.

4. Thơ vua Bảo Đại. Vua Bảo đại (1926-1945) là người được đào tạo chính qui, trưởng thành trong nền văn minh văn hoá Pháp. Vua Bảo Đại có những điểm ngược với vua cha. Vua Khải Định cổ điển bao nhiêu thì vua Bảo Đại hiện đại bấy nhiêu. Vua Khải Định bạc nhược, bất lực bao nhiêu thì vua Bảo Đại khoẻ mạnh, dư thừa sinh lực bấy nhiêu. Vua Bảo Đại chỉ giống cha ở điểm cùng thân phận làm vua bù nhìn. Tuy nhiên trong đời làm vua của Bảo Đại tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động: Nước Pháp bị phát xít Đức đánh bại, quân đội Nhật nhảy vào Đông Dương thay Pháp đô hộ Việt Nam, rồi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, để nhận “nền độc lập” do người Nhật mang lại, Bảo Đại đã có lập trường chống Pháp rất gay gắt. Tiếp đến Bảo Đại thoái vị, làm Cố vấn cho Chính phủ Cách mạng VNDCCH, được gần Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo Đại hiểu được độc lập tự do là gì. Về sau, vì hoàn cảnh Bảo Đại trở lại cộng tác với Pháp đối nghịch với kháng chiến chống Pháp, nhưng trong lòng Bảo Đại không lúc nào yên. Ông thường mượn chuyện vào rừng đi săn để hạn chế bớt vai trò làm tay sai của mình. Tôi may mắn được bà “thứ phi” Mộng Điệp cho đọc tập thư tình Bảo Đại gởi cho bà, trong tập thư tình ấy có lẫn một vài bài thơ Bảo Đại làm.

để tỏ tâm sự thầm kín của mình về đất nước. Bà Mộng Điệp cho biết đây là lần đầu tiên bà cho phép một người thứ hai đọc thơ và thư tình của Bảo Đại gửi cho bà. Tôi xin phép bà được phổ biến bài thơ không đề sau đây: (Giữ nguyên những lỗi chính tả)

“Nước ta đã đúc thành một khối

Từ Nam Quan đến mũi Cà - Mâu

Núi rừng khai khẫn bấy lâu,

Mồ hôi nước mắt giãi dầu gian lao

Núi Tãn - Viên dạn màu sương gió

Sông Cữu Long thương nhớ đầy vơi

Lúa vàng bát ngát Đồng - Nai,

Rừng xanh bao phũ giãy dài

Trường Sơn

Đây là mồ chôn kẽ trước

Đây là nơi hẹn ước người sau

Ngàn thu sinh tử chung nhau

Chung mong chung nhớ chung sầu

chung vui

Nước non ấy ai người biết tới?

Biết hay không cũng tại lòng ta

Hỏi rằng nước ấy gần xa?

Thưa rằng nước ấy tên là Việt Nam.

Bảo - Đại

(Theo thủ bút của Cựu hoàng Bảo Đại do bà Mộng Điệp cung cấp)

Ngoài một vài lỗi d thành gi (dãi dầu thành giãi dầu, dãy thành giãy), và những từ có dấu hỏi viết thành dấu ngã (khai khẩn thành khai khẫn, Tản Viên thành Tãn Viên, Cửu Long thành Cữu Long, bao phủ thành bao phũ, kẻ thành kẽ) bài thơ trong sáng, tự nhiên, vần điệu song thất lục bát chỉ chu. Chứng tỏ ông vua nổi tiếng ăn chơi, giỏi tiếng Tây Bảo Đại cũng thông thạo ngôn ngữ Việt Nam và ông đã làm nhiều thơ Việt rồi mới làm được một bài thơ như thế. ý tứ tác giả muốn gởi gắm trong bài thơ có lẽ ở hai câu này: “Nước non ấy ai người biết tới? Biết hay không cũng tại lòng ta”. Trong lòng ông “biết” mà thực tế cuộc sống thì bắt ông phải sống ngược lại cho nên cuối đời Bảo Đại cứ nhập nhằng “không Nam, không Bắc” và chết trong cô đơn (1997).

Các vua cuối triều Nguyễn làm thơ để gửi gắm, giãi bày tâm sự chứ không có mục đích để phổ biến. Do đó qua thơ của các ông người đọc có thể hiểu các ông thực hơn. Dù ở trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, các cách thế khác nhau, các vua cuối triều Nguyễn vẫn không quên đất nước.n

Gác Thọ Lộc (Huế), giữa mùa lũ lụt năm Thân/2004

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0