Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn của André Maurois

6 trả lời, 4.382 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-10 05:46:45Nguyễn Yên Sơn>
Những con kiến

Giữa hai phiến kính được ghép lại bởi hai bờ bằng giấy, một xã hội của những con vật bé xíu màu nâu đang chuyển dịch và lao động. Người bán hàng bỏ cho lũ kiến một ít cát, chúng tạo ra những hành lang kiểu đồng quy. Chính giữa, ta chú ý tới một con kiến to nhất hầu như luôn luôn bất động. Đấy chính là con chúa, được lũ kiến nuôi nấng một cách trọng vọng.
- Chẳng khó nhọc gì cả, - người bán hàng nói - Chỉ cần cho vào cái cửa này mỗi tháng một giọt mật là đủ...Chỉ mỗi một giọt thôi...lũ kiến tự đảm nhiệm lấy việc vận chuyển và chia bôi.
- Chỉ mỗi tháng một giọt? - Thiếu phụ hỏi: Mỗi một giọt mà đủ để nuôi sống cả đàn này trong một tháng?
Nàng đội một chiếc mũ rơm to vành màu trắng, bận áo dài bằng vải mút-xơ-lin có in hoa. Đôi cánh tay để trần. Người bán hàng nhìn nàng vẻ buồn bã.
- Vâng, chỉ cần một giọt thôi là đủ, - ông ta lập lại.
- Thế thì thú vị thật, - nàng nói.
Và nàng mua cái tổ kiến trong suốt ấy.

***
                                            
- Anh thân yêu, - nàng nói, - anh đã nhìn thấy những con kiến của em chưa?
Nàng cầm chiếc hộp kính mỏng mảnh sống động giữa các ngón tay nhợt nhạt, móng thoa nhũ. Người đàn ông ngồi cạnh nàng đang mãi ngắm cái gáy của nàng cúi nghiêng xuống.
- Em làm cho cuộc đời lý thú biết bao, em thân yêu...Với em, mọi thứ đều mới lạ, đều muôn màu muôn vẻ...Mới chiều hôm qua thì Bach (*), bây giờ thì những con kiến này...
- Nhìn này, anh thân yêu, - nàng nói với vẻ nhiệt thành trẻ thơ mà chàng thích (nàng biết thế...) - Anh có nhìn thấy con kiến khổng lồ kia không? Con chúa đấy nhé...Lũ kiến thợ đang hầu hạ nó đấy...Tự em sẻ nuôi chúng...Anh tin thế chứ, anh thân yêu...Mỗi tháng chỉ cần cho một giọt mật thôi là đủ...Nên thơ lắm chứ anh?
 
***
 
Tám ngày sau, cả chồng lẫn người tình đều làm nàng chán ngấy đàn kiến... Nàng cất chúng vào sau tấm gương đặt trên lò sưởi trong phòng mình. Cho đến tận cuối tháng nàng quên khuấy giọt mật. Những con kiến chết đói dần. Chúng dành lại đến cùng một chút mật cho kiến Chúa, con kiến chết cuối cùng.

-----------
(*) Jean Sebastien Bach (1685-1750) - nhạc sĩ thiên tài người Đức.

Type theo bản dịch của Nguyễn Sinh và Đào Quang Bính, tập truyện ngắn "Hoa từng mùa" của André Maurois - NXB Tác Phẩm Mới, 1985.
Dùng tên thật để đăng bài sáng tác.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-25 11:43:41Ct.Ly>
IREN

- Được đi chơi với anh tối nay, em vui quá, - cô nói...- Suốt một tuần căng thẳng. Công việc rối bời, bao nhiêu cái làm mình thất vọng...Bây giờ có anh bên cạnh, thế là em quên đi tất cả...Anh thân yêu, tối nay chúng mình đi xem phim nhé, một bộ phim hay tuyệt.
- Thôi, xin em, - Anh nói giọng hờn giỗi, - em đừng có hòng mà kéo anh đi xem xi-nê tối nay.
- Kể cũng tiếc, - Cô nói, - em rất muốn được cùng anh đi xem bộ phim này. Nhưng thôi, đành vậy. Em biết ở Montparnasse mới mở một hộp đêm, có các điệu vũ Martinique tuyệt vời.
- Không, - anh nhấn giọng, - thiết gì cái thứ âm nhạc da đen ấy. Anh chán ngấy rồi, Iren ạ...
- Thế anh muốn gì?
- Thì em biết rồi đấy thôi. Đi ăn tối ở một nhà hàng yên tĩnh, nói chuyện với nhau và sau đó trở về chổ em, nằm dài trên đi-văng mà mơ màng.
- Thế thì không được, - đến lượt cô nổi doá, - Không thể được. Anh thật là một con người ích kỷ. Anh ngạc nhiên lắm phải không? Từ trước giờ đã có ai, vâng, không có ai, dám nói thẳng với anh như vậy. Anh chỉ quen thấy phụ nữ ngoan ngoãn vâng lời anh như vâng theo các luật lệ. Anh đúng là một ông hoàng kiểu mới. Hậu cung của anh rộng mở, trải ra khắp hàng chục nước. Tất cả phụ nữ đều là nô lệ của anh. Và vợ anh là nô lệ hơn bất cứ ai. Anh muốn mơ màng, họ phải ngồi ngắm anh mơ màng. Anh muốn nhảy, họ phải động đậy. Anh nói sao, họ phải nghe vậy. Anh muốn mua vui. họ lập tức phải tự biến thành nàng Xê-hê-ra-zát...Một lần nữa, em nhắc lại: không, anh thân yêu...ít nhất thì trên đời này có một phụ nữ không tuân theo thói đồng bóng của anh.
Cô dừng lại rồi nói tiếp với giọng dịu dàng hơn:
- Kể cũng thật là buồn, phải không anh Bernard? Em mong được gặp anh biết bao. Anh sẻ làm em vơi đi những phiền muộn. Thế rồi anh đến và anh chỉ biết có mỗi mình anh. Thôi anh đi đi và hảy quay trở lại khi nào anh biết đếm xỉa đến sự tồn tại của những người khác.

Trằn trọc suốt đêm, anh suy ngẫm về những điều Iren nói. Cô có lý, anh thật đáng ghê tởm. Anh đã từng bỏ rơi, và hơn nữa, anh đã nhẫn tâm lừa dối Alix. Alix dịu dàng, chung thủy, nhẫn nhục. Tại sao anh lại làm như vậy? Tại sao anh có ham muốn chiếm đoạt và thống trị? Tại sao anh lại không biết "đếm xỉa đến sự tồn tại của người khác?". Nghĩ về quá khứ, anh thấy lại cả một thời trai trẻ gian nan với những người phụ nữ mà mình không vươn tới được. Trong thói ích kỷ của anh có chứa chất hận thù và thái độ lỳ lợm chẳng qua là để che giấu sự ngượng ngùng. Đấy không phải là một tình cảm cao thượng. "Cao thượng?", anh nghĩ...Ta cũng xoàng xĩnh như bao kẻ tầm thường khác mà thôi. Đúng là phải cứng rắn. Trong tình yêu, kẻ nào không biết ăn người, ắt sẻ bị người ăn. Tuy nhiên, nhường nhịn cho người mình yêu, tỏ ra yếu đuối hơn, lấy niềm vui của họ làm niềm vui của mình, đôi khi lại là điều hạnh phúc.

Những chiếc xe cuối cùng đã trở về bến đỗ, anh cảm thấy mình cách biệt, cô đơn trong cái tĩnh lặng mỗi lúc một dài hơn.

Tìm thấy hạnh phúc của mình trong hạnh phúc của người khác. Liệu anh có làm nỗi không? Ai đã bắt anh phải tàn ác? Chẳng phải con người ta lúc nào cũng có quyền làm lại cuộc đời đó sao? Và với con người mới đó của anh, thữ hỏi còn có ai là người bạn đời tốt hơn Iren? Iren đáng yêu thương biết bao với chiếc áo dài độc nhất, đôi tất mạng lại và chiếc áo khoác củ rích. Iren xinh đẹp, nghèo khó và khoan dung biết bao trong sự nghèo khó đó. Đã bao lần anh bắt gặp cô nhường miếng ăn của mình cho những người học trò còn nghèo hơn cả cô. Cô phải làm việc quần quật suốt cả tuần...Tại sao anh nỡ đi cò kè về niềm vui hồn nhiên của cô trong một buổi tối rỗi rãi?
Chiếc xe khách cuối cùng chạy qua, tiếng động làm rung cả cửa kính. Giờ đây không còn một tiếng động nào làm huyên náo đêm khuya thanh vắng. Chán nản ngay cả với bản thân, anh cố nhắm mắt ngủ. Tự nhiên anh thấy lòng thanh thản vô cùng. Anh vừa đi đến một quyết định. Anh sẻ hiến trọn đời mình cho hạnh phúc của Iren. Anh sẻ là một người bạn đời hết lòng thương yêu, ân cần và dễ bảo. Quyết định này hầu như ngay lập tức ru anh vào giấc ngủ ngon lành.

Sáng hôm sau, khi ngủ dậy, anh vẩn còn thấy mình hạnh phúc. Anh vừa mặc quần áo vừa hát, một điều chưa hề có ở anh kể từ lúc bước vào tuổi trưởng thành. Tối nay, - anh nghĩ, - "Ta sẻ đến gặp và xin lỗi Iren".
Chuông điện thoại reo đúng lúc anh đang thắt ca-vát:
- A-lô! - tiếng Iren thánh thót trong máy...- Anh Bernard phải không?...Anh thân yêu! Em không tài nào chợp mắt được đêm qua...Em ân hận lắm, tối qua em đối xử với anh thật...Tha lỗi cho em nhé...Em cũng không biết là em...
- Không, trái lại, chính anh phải xin lỗi em! Iren..Cả đêm qua, anh đã tự bảo mình là phải thay đổi.
- Anh nghĩ gì kỳ cục vậy, đừng thay đổi gì hết...Không, Bernard, điều đáng yêu ở anh chính là những sở thích bất thường ấy, những đòi hỏi ấy và cái thói mất nết của một đứa trẻ quen được nuông chiều ấy...Thật dễ chịu khi có một người đàn ông để bắt ta phải hy sinh...Em muốn nói với anh là tối nay em rỗi và em sẻ không áp đặt cho anh bất cứ một chương trình nào...Em tùy anh mà...

Đặt ống nghe xuống, Bernard buồn bã lắc đầu.
Dùng tên thật để đăng bài sáng tác.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-25 11:58:45Ct.Ly>
Hoa Violette Ngày Thứ Tư

- Ô kìa, bà Jenny, bà ở lại đi !

Trong suốt bữa ăn chiều, Jenny Sóocbiê thật là rực rỡ. Rực rỡ ta muốn nói ở đây tức là tài năng của người nữ nghệ sỹ sân khấu, như một nữ văn sỹ tài hoa đã viết, có cả huyền thoại và chuyện thực quyện vào nhau, được gắn chặt bởi lòng nhiệt thành không bao giờ cạn. Say mê, hứng khởi, bị chinh phục, các thực khách của Léon  Laurent đều có cảm giác được sống những giây phút khoái trá, lãng quên cả thời gian.

- Không thể được đâu ạ, đã gần 4 giờ rồi, và hôm nay là ngày thứ Tư ... Ông biết đấy ông Léon ạ, hôm nay là ngày tôi mang hoa violet đến cho con người đã từng yêu tôi tha thiết.
- Thật đáng tiếc, - Léon nói với giọng đứt quãng, làm cho không khí càng thêm long trọng. – Vâng, tôi biết rõ lòng chung thủy của bà ... tôi không dám nài.

Bà ôm hôn các vị khách nữ, cánh đàn ông ôm hôn bà, và bà ra đi. Ngay sau khi bà vừa bước ra, mọi người đều bật lên lời khen ngợi :

- Bà ấy thật phi thường! Bà ấy bao nhiêu tuổi rồi ông Léon ?
- Cũng sấp sỉ tám chục rồi. Hồi tôi còn nhỏ, khi mà mẹ tôi đưa tôi đến nhà hát kịch cổ điển Pháp thì Jenny đã nổi tiếng trong vai Xelimen rồi. Và tôi thì bây giờ chẳng còn trẻ trung gì nữa.
- Thiên tài không có tuổi, - Klerơ Mênetơriê nói - ... Còn câu chuyện về những bông hoa ấy ?
- Cả một thiên tiểu thuyết, một hôm bà đã thổ lộ cho tôi chứ bà không bao giờ viết. Nhưng tôi không muốn liều kể lại khi không có mặt bà ở đây. Rồi nó tam sao thất bản đi thì đáng sợ lắm
- Đúng thế, kể cũng thật đáng sợ nếu tam sao thất bản. Nhưng chúng tôi là khách của ông, ông phải kể gì để khuây khỏa chúng tôi và thay thế bà Jenny chứ, bởi vì bà ấy đã bỏ chúng tôi lại
- Thôi đành vậy. Tôi sẽ cố thử kể lại câu chuyện những bông hoa Violet ngày thứ Tư. Tôi sợ câu chuyện mang quá nhiều mầu sắc tình cảm so với thị hiếu của thời đại chúng ta.
- Không sao, - Béctơrăng Smít nói - Thời đại chúng ta đang đói tình cảm. Nó giả vờ ngổ ngáo chỉ để che dấu hoài vọng tình cảm của nó mà thôi.
- Ông cho là như vậy ? ... Thôi được ... Tôi sẽ làm đã cơn khát này... Các vị ở đây đều còn quá trẻ để có thể nhớ lại tiếng tăm lừng lẫy của Jenny trong suốt 1 thời gian dài như thế nào. Mái tóc vàng hung buông xõa trên đôi vai tuyệt đẹp, cặp mắt dài lúng liếng, giọng nói sắc, gần như lạnh lùng, bất chợt lại lặng đi vì xúc động; tất cả làm tăng thêm vẻ đẹp lộng lẫy kiêu kỳ!

- Ông vào đề hay quá, ông Léon ạ.

- Vâng nhưng khí không hợp thời... Dầu sao cũng xin cám ơn lời khen của ông... Bà ấy đoạt giải lần đầu ở Viện Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ vào quãng năm 1895, và sau đó biểu diễn trong Hý kịch Pháp. Kinh nghiệm cho tôi hay rằng cái nhà hát nổi tiếng này cũng khó tính lắm. Diễn viên biểu diễn ở đó phải có chức danh và họ giữ khư khư lấy chỗ của mình. Những vai phụ có tài nhất có thể phải đợi ở đó hàng chục năm trời trước khi được đóng vai quan trọng nhất của Marivô hay của Molie. Jenny, cô gái rất điệu đà ấy, đã vấp phải những người đàn bà quyền uy và dai như đỉa. Người phụ nữ khác thì đã nín nhịn mà giẫm chân tại chỗ hay sau hai năm đã chuyển sang một nhà hát khu phố nào đó. Jenny của chúng ta đã không như thế. Cô ấy đã tuyên chiến, huy động tất cả những gì cô ấy có : tài năng nghệ sỹ, học vấn, vẻ đẹp quyến rũ và mái tóc làm say đắm lòng người.

Rất nhanh, cô đã giành được ở nhà hát 1 chỗ đứng hàng đầu. Nhà cầm quyền kính nể cô. Các nhà đạo diễn kịch đòi cô đóng những vai khó mà như họ nói, chỉ có cô mới đóng được. Các nhà phê bình chẳng tiếc 1 lời nào để tán dương cô. Ngay cả con người gớm ghiếc Xác Vây cũng viết: "Cô ta có những điệu bộ, kiểu cách đến cá sấu cũng phải mê".

Cha tôi, người quen biết Jenny từ thời gian đó, đã nói với tôi rằng, cô ấy hết lòng say mê nghề nghiệp của mình, diễn xuất 1 cách thật thông minh và luôn tìm cách gây những hiệu quả mới làm người xem ngã ngửa ra. Khi đó kịch trượt vào 1 chủ nghĩa hiện thực ngây thơ. Trong 1 vở nào đó tôi không nhớ, Jenny phải chết vì ngộ độc, cô đã đi đến các bậnh viện để tìm hiểu các hiệu quả của thuốc độc. Còn về cách biểu diễn tình cảm thì cô tự nghiên cứu ở chính mình.

Bằng nghệ thuật của mình, cô đã chỉ rõ sự thiếu thận trọng của Banzac khi ông này đem vào một trong những cuốn tiểu thuyết của ông những ham muốn cá biệt của riêng ông, hoặc của người phụ nữ mà ông yêu.

Các vị làm gì mà chẳng biết ngay rằng một cô cái mới hai mươi hai tuổi, đẹp lộng lẫy và đột nhiên đạt tới vinh quang sẽ được biết bao người theo đuổi. Bạn đồng ngiệp, rồi các nhà viết kịch, rồi các chủ nhà băng cố thử vận may. Một trong số họ, Henry Stan, được cô ưa thích. Không phải vì ông ta giàu. Cô sống chung với gia đình và cũng chẳng đòi hỏi gì quá cao sang. Chàng trai ấy quả thật rất có duyên và nhất là anh luôn luôn bày tỏ ý muốn được cưới cô làm vợ... Các vị cũng biết là đám cưới này bị hoãn lại vì bố mẹ Stan phản đối. Ba năm sau mới thành, nhung rồi cũng chẳng đi đâu vì Jenny vốn quen sống tự do không thể tự khuôn mình vào cuộc sống vợ chồng. Nhưng đó lại là một chuyện khác. Chúng ta hãy quay về với nhà hát Hý Kịch Pháp, với bước đường vào đời của bạn bè của chúng ta và với...những bông hoa violet.

Các vị hãy hình dung cảnh phòng giải lao của các nghệ sĩ vào cái đêm mà Jenny đóng lại trong vở "Nàng công chúa thành Bátđa" của Dumas con. Vở kịch có những hạn chế của nó; và tuy đang ngưỡng mộ những vở có cấu trúc vững chắc khác của ông như "Nửa vòng thế giới", "Bạn của những người phụ nữ, Frăngxiông, cái ông Dumas thái quá lần này trong vở "Người xa lạ" và "Nàng công chúa..." cũng vẫn làm tôi buồn cười. Tất cả những ai đã xem Jenny trong vai này đều phải công nhận là cô đã là cho vở kịch giống thực hơn. Tôi vẫn thường nói điều đó với bà Jenny. Điều kỳ lạ là người nghệ sĩ đã tin vào những gì mình diễn. "Vào buổi ấy, - bà nói, - tôi luôn nghĩ gần giống như những nhân vật chính của ông Dumas và tôi thấy thật là kỳ cục khi đem phơi bày trước ánh sáng những gì đang diễn ra trong tôi, nơi sâu kín nhất trong tâm hồn tôi. "Cũng phải nói thêm là trong vai này, mái tóc buông xõa và đôi vai trần đã có tác dụng của nó". Tóm lại, cô đóng vai đó thật tuyệt vời.

Cô trở lại phòng giải lao giữa hai màn kịch, sau một tràng vỗ tay. Mọi người vây chặt lấy cô. Jenny ngồi xuống chiếc ghế con bên cạnh Henry Stan và nói huyên thuyên về thành công một cách hào hứng.
-Thế là thoát, anh Henry thân yêu...em lại nổi lên rồi! Cuối cùng em thở được...Anh đã nhìn thấy em ba hôm trước rồi đấy. Hôm đó em diễn tốt hơn có phải không nào?...Ùm một cái xuống tận đáy ao. Em ngạt thở...và tối nay... hấp! Một cố gắng phi thường, em nổi trên mặt nước! Henry ơi, anh nói đi, liệu em có bị mắc cạn ở màn cuối không, nếu như em không biết cách bơi đến bờ? Ôi trời ơi, trời ơi!

Người dẫn khách bước vào và trao cho cô bó hoa.
-Của ai đấy? À, phải rồi, của Xanh Lu...Tình địch của anh đấy anh Henry ạ...Hãy để vào lô của tôi.
-Thưa cô, còn có một lá thư nữa, - Người dẫn khách nói.
Cô mở bức thư, đọc và phá lên cười.
-Của một cậu học sinh trung học...Cậu ta nói với em là ở trường cậu đã xây dựng một câu lạc bộ Jenny.
-Cả câu lạc bộ đua ngựa cũng thành câu lạc bộ Jenny-Henry nói thêm
-Cái cậu học sinh trung học này làm em xúc động hơn -Jenny nói- Và lá thư này còn kết thúc bằng một bài thơ...Anh thân yêu, anh nghe nhé"
"Và sau hết, hãy tha thứ cho tôi vì vần thơ giản dị
Đừng khinh rẻ những vần điệu của tôi
Tình yêu tôi vô cùng chân thật. Cầu xin nàng,
Đừng tiết lộ gì với ngài Hiệu trưởng"

-Không đáng yêu sao hả anh?
-Em sẽ trả lời họ chứ?
-Tất nhiên là không rồi! Có đến hàng tá nhưng loại như thế trong một ngày. Nếu em trả lời hết thì em còn làm được gì nữa. Nhưng mà điều này làm em yên tâm. Những người hâm mộ ở lứa tuổi mười sáu này; em sẽ giữ hộ được lâu hơn.
-Đã chắc gì,..Ba mươi tuổi, họ sẽ trở thành những ông chưởng khế.
-Nhưng vì sao những ông chưởng khế lại không tiếp tục hâm mộ em?
-Vẫn còn cái này nữa, thưa cô - Người dẫn khách nói.

Ông ta đưa cho Jenny một bó hoa Violett.
-ôi, xinh qua, anh Henry nhìn này...Không có danh thiếp a?
-Không, thưa cô...Người gác cổng nói lại với tôi là một chàng học viên trường sĩ quan pháo binh và công binh mặc đồng phục đã đưa đến chỗ ông ta.
-Em thân yêu -Henry Stan nói- anh có lời khen em đấy. Làm xúc động những "Cái đầu đầy ẩn số" ấy không phải dễ đâu.

Cô ngửi mãi mùi hương hoa Violet.
-Thơm quá,... đây mới chính là lời khen ngợi khiến em vui lòng...Em không yêu đám khán giả chín chắn và vô tình; họ đến xem em chết vào buổi tối cũng như buổi trưa họ đi ra quảng trường hoàng cung để nghe đại bác vậy.
-Đám khán giả nhẫn tâm -Stan nói- Họ luôn luôn là như vậy. Họ thích các trò xiếc...Thành công thật là mỹ mãn, nếu như một nữ diễn viên có thể nuốt được hàng trăm chiếc kim!
Cô bật cười
-Và người nuốt được chiếc máy khâu sẽ là tột đỉnh vinh quang.
Bên ngoài khán giả kêu ầm ĩ: "Diễn tiếp đi!" Jenny đứng dậy:
-Thôi nhé, chờ em một lát. Em đi nuốt nốt trăm chiếc kim của em đây.
Và thế đấy, theo như Jenny kể lại, thiên tình sử bắt đầu.

Thứ Tư sau, vào giữ giờ giải lao, người dẫn khách lại đưa cho Jenny một bó hoa violet, miệng tủm tỉm cười.
-Sao, lại của anh chàng học viên sĩ quan của tôi à?
-Vâng, thưa cô.
-Trông anh ấy thế nào?
-Tôi cũng không biết. Cô nên hỏi người gác cổng.
-Không, cũng chẳng có gì quan trọng lắm.

Tuần sau nữa, cô không diễn vào tối thứ Tư, nhưng khi cô đến rạp ngày thư Năm để tập thì đã thấy bó hoa violet có hơi héo ở trong lô của mình rồi. Khi ra về, dừng lại, cô hỏi người gác cổng.
-Ông Bécna, hoa violet của tôi là thế nào đấy? Vẫn là của anh chàng trẻ tuổi đấy à?
-Vâng, thư cô...đây là lần thứ ba.
-Anh ta giống ai, anh chàng học viên sĩ quan ấy mà?
-Anh ta thật dễ thương...dễ thương lắm...có hơi gầy một chút, má hõm, mắt quầng thâm. Có hàng râu con kiến. Một chiếc ống nhòm...Trông anh ta hơi kỳ quặc với chiếc kiếm bên người... Xin thề với cô là anh chàng này say đắm lắm. Anh ta trao cho tôi bó hoa và nói""Tặng cô Jenny Soocbie" và mặt anh ta đỏ ửng lên.
-Tại sao anh ta lại cứ đến vào ngày thứ Tư?
-Cô không biết sao? Thứ Tư là ngày họ được phép đi ra ngoài. Thứ Tư nào các bồn hoa và hành lang không đông nghịt những học viên sĩ quan, một người dẫn thêm một cô gái trẻ.
-Anh chàng của tôi cũng có chứ?
-Vâng, thưa cô, nhưng là chị của anh ấy. Họ giống nhau đến kỳ lạ.
-Chàng trai tội nghiệp! Ông Bécna, nếu tôi dám, tôi sẽ báo với ông cho anh ta lên chỗ tôi ít ra là một lần, để anh ta có thể tận tay trao hoa cho tôi.
-Thế hả, quả thực tôi chẳng dám khuyên cô như vậy đâu...Những chàng trai si tình ấy, chừng nào mà ta không tỏ ra quan tâm đến họ thì chưa có gì là nguy hiểm cả. Họ đứng từ xa mà chiêm ngưỡng các nữ nghệ sĩ, như thế họ cũng đã mãn nguyện lắm rồi... Ta chỉ hơi tỏ ra quan tâm đến họ một chút thôi, thế là họ bám chặt ngay lấy, lúc đó tình huống sẽ trở nên kinh khủng...Ta cho họ ngón tay, họ sẽ đòi cả bàn tay...Ta cho họ bàn tay, họ sẽ đòi cả cánh tay...Vậy đấy cô ạ, cô đừng cười, tôi có kinh nghiệm về chuyện này lắm rồi...Tôi ở đây đã hăm lăm năm nay. Tôi, tôi đã nhìn thấy ở ngay trong lô này khối cô gái si tình...và những chàng trai gàn dở...và cả các quý ông già nua nữa chứ... Tôi luôn luôn nhân hoa, nhận thiếp, còn cái chuyện để cho họ lên thì dứt khoát là xin đừng.
-Ông nói đúng đấy, ông Bécna ạ...Chúng ta cần phải lạnh lùng, cẩn tắc và có khi phải tàn nhẫn nữa.
-Đâu phải là tàn nhẫn hở cô. Lý trí đấy chứ.

Nhiều tuần lễ đã trôi qua. Cứ một thứ Tư, Jenny lại nhận được một bó hoa. Bây giờ cả rạp biết chuyện. Một nữ diễn viên nói với Jenny:
-Tôi đã nhìn thấy anh chàng học viên sĩ quan của chị rồi. Anh ta có khuôn mặt đẹp, trông thật lãng mạn. Một chàng trai sinh ra để diễn "Bỡn cợt" hoặc "Người bán nến"
-Sao chị biết đó là anh chàng của tôi?
-Tại vì tình cờ tôi có mặt chỗ người gác cổng khi anh ta đưa hoa đến và rụt rè nói:"Xin ông cho gửi tặng cô Jenny Soocbie." Thật cảm động. Hẳn là anh chàng này thông minh lắm. Anh ta sợ mọi người chê mình kỳ quặc, tuy nhiên lai không nén nổi lòng mình...Đã có lúc, tôi cứ tiếc là anh ta không đến vì tôi; tôi sẽ cảm ơn, sẽ an ủi anh ta. Mà chị phải nhớ là anh ta không đòi một cái gì đâu nhé, kể cả việc được gặp chị. Nhưng nếu tôi ở vào địa vị của chị...
-Chị sẽ tiếp anh chàng chứ?
-Đúng thế, một lát thôi...Đã bao năm nay. Rồi sẽ đến lúc nghỉ hè. Chị sẽ ra đi...Chẳng sợ anh chàng bám dài đâu...
-Chị nói đúng. Thật là điên rồ nếu ta rẻ rúng những người hâm mộ lúc này còn đông và còn trẻ, để đến ba mươi năm nữa ta chạy theo họ khi họ chẳng còn được mấy người và đã già khú đế ra rồi.

Tối hôm đó, khi ra về, Jenny nói với người gác cổng:
-Ông Bécna ạ, thứ Tư tới, khi anh chàng học viên sĩ quan mang hoa đến thì ông bảo với anh ta mang hoa lên chỗ tôi nhé, sau màn ba nhé...Tôi diễn vở Midăngtrốp. Tôi không phải thay trang phục. Tôi sẽ lên lô của tôi và tiếp anh ấy... Không, tôi đợi anh ta ở hành lang, dưới chân cầu thang,... hay ở trong phòng giải lao vậy.
-Vâng, nhưng cô không e ngại gì à?
-Có gì phải ngại? Mười ngày nữa tôi đã đi. Vả lại, lúc đó chàng học viên này bị nhà trường nhốt chặt rồi còn gì.
-Vâng...Tôi...điều tôi muốn nói là...

Thứ Tư sau, Jenny đóng vai Xelimen, mặc dù không cố ý, vẫn có vẻ như khao khát muốn được làm đẹp lòng con người chưa quen biết. Giờ nghỉ, khi vào hậu trường, cô có cảm giác bị cuốn hút, gần như lo âu. Cô ngồi ở phòng giải lao và đợi. Một vài người quen lượn lờ xung quanh. Ông giám đốc thì đang nói chuyện với Blăng Pecxong, lúc bấy giờ đang là tình địch của Jenny. Mãi chẳng thấy bộ quân phục màu vàng đen xuất hiện. Mỗi lúc cảm thấy một bồn chồn, rồi không giữ nổi kiên nhẫn, cô chạy đễn chỗ người dẫn khách:
-Không ai hỏi tôi sao?
-Thưa cô, không.
-Hôm nay đúng là thứ Tư, thế mà tôi chẳng hề nhận được những bông hoa violet. Hay là ông Bécna quên không đưa lên chỗ tôi?..Hoặc giả có sự nhẫm lẫn nào chăng?
-Nhầm lẫn? Nhầm lẫn thế nào được ạ, cô có cần tôi đến tận chỗ người gác cổng để xem lại không ạ?
-Vâng, ông vui lòng đi giúp...Nhưng mà thôi. Để tôi đi hỏi ông Bécna.

"Thế quái nào mà"..cô tự chế nhạo mình. Suốt sáu tháng trời mình hầu như không hề để ý đến tấm lòng thủy chung kín đáo ấy, thế rồi bỗng nhiên, vì không thể cứ hững hờ mãi, bây giờ mình lại bối rối như chờ đón người yêu...Ôi, Xelimen, cô sẽ luyến tiếc Anzét biết bao, khi chàng từ biệt cô với nỗi đau buồn.

Sau buổi diễn, cô bước vào buồng người gác cổng.
-Thế nào ông Bécna, người tình đầu tiên của tôi đâu, sao ông vẫn chưa cho anh ấy lên chỗ tôi?
--Thưa cô, cứ như thể là cố tình ấy. Hôm nay anh ta không đến...Lần đầu tiên cô nhận tiếp anh ấy, thì cũng là thứ Tư đầu tiên kể từ sáu tháng nay, anh ta không đến.
-Thật kỳ lạ! Ông có nghĩ là anh ta có thể được báo trước và sợ không dám đến không?
-Chắc chắn là không, cô ạ...Không ai biết là cô và tôi...Cô không nói gì. Còn tôi, tôi cũng không hề nói gì, ngay cả với vợ tôi...
-Thế ông giải thích việc đó như thế nào?
-Tôi chịu...Có thể là do ngẫu nhiên. Có thể anh ta nản chí. Có thể anh ta ốm...Thử chờ đến thứ Tư sau xem thế nào.

Nhưng thứ Tư sau, vẫn chẳng thấy chàng học viên sĩ quan, cũng chẳng thấy hoa violet.
-Làm thế nào bây giờ, ông Bécna? Liệu có thể nhờ đám bạn bè tìm anh ta không?...Hay nhờ ông hiệu trưởng?
-Nhưng bằng cách nào, ngay cả tên anh ta, chúng ta cũng có biết đâu?
-Ừ nhỉ... thật chán quá! Thế là hỏng hết rồi!
-Không đâu cô ạ...Năm tháng còn dài. Cô sắp đi biểu diễn ở các nơi, còn thành công nhiều...Có gì là hỏng đâu hả cô?
-Ông nói đúng. Tôi thật là một kẻ vô ơn...Chỉ vì tôi yêu những bông hoa violet ngày thứ Tư quá đấy mà.
Ngày hôm sau, cô tạm biệt Pari, Henry Stan vẫn đi cùng với cô. Ở khách sạn, buồng nào của Jenny cũng đầy hoa hồng. Khi trở lại Pari, cô đã quên chàng sĩ quan lãng mạn của mình.

Một năm sau, cô nhận được một lá thư của ông đại tá Jơnơvie nào đó, xin đựoc gặp vì công việc riêng. Một bức thư hoàn toàn đứng đắn. Không có lý do gì để chối từ cuộc gặp gỡ. Jenny mời ông đại tá đến nhà cô vào một buổi chiều thứ bảy. Ông đến với bộ quần áo thường phục màu đen. Jenny đón tiếp ông bằng vẻ duyên dáng thường thấy trên sân khấu hơn là trong cuộc sống bình thường, nhưng trong thái độ của cô, tất nhiên, vẫn toát lên một câu hỏi ngầm: "Vị khách chưa quen này muốn gì đây?" Cô chờ đợi.
-Xin cảm ơn cô đã tiếp tôi, tôi không thể nào giải thích qua thư mục đích cuộc viếng thăm này. Nếu như tôi đã tự cho phép mình xin gặp cô, thì xin cô hiểu cho rằng đó không phải là một người đàn ông có ý nghĩ táo bạo ấy, mà là một người cha... Cô trông thấy tôi mặc đồ tang đấy. Tôi để tang đứa con trai tôi, trung úy Andre Jơnơvie, chết tại Mađagasca cách đây hai tháng.
Jenny làm một cử chỉ dường như muốn nói: "Xin chia buồn cùng ông với tất cả tấm lòng, nhưng..."
-Cô không biết con trai tôi...Tôi biết mà...Nhưng nó biết và ngưỡng mộ cô...Điều này với cô, có vẻ như khó tin...nhưng tất cả những gì nói sau đây đều là sự thật...Cô là người mà con tôi ngưỡng mộ và yêu mến nhất trên đời này...
-Tôi sợ là tôi không thể hiểu được...ngài đại tá ạ. Anh ấy nói với ngài như vậy à?
-Với tôi ư? Không...Nó đã nói điều đó với chị nó, người bạn tâm tình của nó...Mọi chuyện bắt đầu vào cái hôm hai chị em nó đi xem "Trò chơi của tình yêu và của Ngẫu nhiên" Các con tôi về nhà nói đến cô một cách hào hứng: "Sự e thẹn thật là tinh tế", "Lời thơ thật là xúc động"...Hàng nghìn điều khác nữa, mà tôi tin là có thật. tôi không hề nghi ngờ một chút nào, nhưng những điều ấy chỉ có thể có với nhiệt tình của tuổi trẻ, lòng khát khao lý tưởng...Con trai tội nghiệp của tôi vừa mơ mộng lại vừa lãng mạn.
-Trời ơi! Vậy chính là chàng trai...-Jenny thốt lên.
-Vâng, thưa cô, người học viên mà mỗi thứ Tư trong cả một năm trời đã mang đến cho cô những bó hoa violette, chính là André, con trai tôi...Cả điều này nữa tôi biết được cũng là do con gái tôi...Tôi hy vọng cái trò trẻ con ấy, như một lời ca ngợi không làm cô phật ý. Nó yêu cô ghê gớm, cô, hoặc cũng có thể là hình ảnh mà nó tạo nên từ cô... Chị của nó đã phải chạy vạy vất vả để có thể kiếm thêm được cho nó những bức ảnh của cô từ những người thợ ảnh...Ở trường nó bị bạn bè chế giễu vì tình yêu này...Họ bảo nó: "Vậy thì sao không viết thư cho cô ấy đi."
-Thế tại sao anh ta không viết?
-Nó đã viết, cô ạ, tôi có mang đây cho cô một chồng thư chưa bao giờ gửi mà chúng tôi đã tìm thấy sau khi nó mất đi.

Ông đại tá lấy từ trong túi ra một bó thư và đưa cho Jenny xem. Về sau bà có cho tôi xem, nét chữ nhỏ, thoắng, khó đọc...Kiểu chữ của những nhà toán học, cách hành văn của một nhà thơ.
-Xin cô hãy giữ những lá thư này, nó là của cô... Và xin cô hãy tha thứ cho chuyện kỳ quặc này...Tôi nghĩ là vì bổn phận của tôi đối với kỷ niệm của con trai tôi...Trong tình cảm mà cô đã khơi dậy trong nó, không có gì là thiếu tôn trọng hay dễ dãi. Với nó, cô là biểu hiện của sự hoàn nảo và duyên dáng...Và tôi xin cam đoan với cô là André cũng xứng đáng với tình yêu cao cả của nó.
-Nhưng tại sao anh ấy không đòi được gặp tôi? Tại sao bản thân tôi cũng không tìm cách để gặp anh ấy?...Tôi thật đáng trách. Tôi thật đáng trách quá...
-Đừng tự trách móc mình, cô ạ. Cô đã không thể tưởng tượng ra...Nếu như khi ra trường, Andre xin được phân đi Madagascar, đó chính là vì cô, chắc chắn là như vậy...Đúng thế, nó đã nói với chị nó: "hoặc là em sẽ thoát khỏi tình yêu vô vọng này do xa cách, hoặc em sẽ làm nên sự nghiệp, và khi đó..."
-Đó không phải là những điều vĩ đại sao, lòng chung thủy ấy, tình kiên nhẫn ấy, và sự kín đáo ấy!-Jenny thốt lên.
Ông đại tá đứng lên. Jenny cầm lấy tay ông.
-Tôi nghĩ là tôi đã không làm điều gì xấu, tuy nhiên... có lẽ tôi cũng phải có bổn phận đồi với người đã khuất, than ôi, vong hồn chưa được thỏa...Hãy nghe tôi, ngài đại tá, xin ngày hãy nói cho tôi biết nơi con trai ngài được chôn cất...Tôi xin thề với ngài là cho đến cuối đời, tôi sẽ đến, vào mỗi thứ Tư, đặt trên nấm mộ của anh ấy một bó hoa violette.

-Và đó là lý do tại sao-  Léon Laurent kết luận-lý do tại sao trong suốt cuộc đời mình, Jenny của chúng ta trở nên hay hoài nghi, cảm thấy vỡ mộng, một vài người thậm chí còn nói là trắng trợn, và con người đó cứ mỗi thứ Tư, lại từ bỏ bạn bè, công việc, và đôi khi cả tình yêu để một mình đi đến nghĩa trang Monparnasse, đến bên nấm mộ người trung úy không bao giờ quen biết...Các vị có thấy là tôi có lý không, khi tôi nói rằng câu chuyện này là quá đậm màu tình cảm đồi với thời đại chúng ta.

Một phút im lặng, rôi Betran Smit nói:
-Vẫn luôn có những điều thơ mộng trên đời này cho những ai xứng với nó.
Dùng tên thật để đăng bài sáng tác.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-25 11:45:07Nguyễn Yên Sơn>
Người tù binh trở về
 
Sau đây là một câu chuyện có thật. Chuyện xảy ra vào mùa Xuân 1945, trong một thành phố của nước Pháp tạm gọi là Chardeuil, mà vì những lý do ngoài ý muốn, chúng tôi không thể nêu tên thật ra được.

Câu chuyện bắt đầu từ trên một chuyến xe lửa chở những người tù Pháp từ Đức trở về. Họ ngồi từng nhóm 12 người một trong những toa tàu chỉ để dành cho mười người mà thôi. Vì vậy, họ phải ngồi thật sát vào nhau, nhưng chẳng ai để ý hay tỏ dấu phiền hà gì về chuyện đó cả. Mọi người, tuy đã kiệt sức vì những năm tháng tù đày và chuyến hành trình quá dài, vẫn thấy lòng nôn nao hạnh phúc vì họ biết rằng, sau năm năm vắng nhà, họ đã về lại được Quê Hương, sẽ được nhìn lại mái nhà yêu dấu và nhất là sẽ được gặp lại gia đình.

Hình như trong đầu óc của mọi người, hình ảnh nổi bật nhất là hình ảnh người đàn bà, người vợ thương yêu mà họ đã phải xa vắng mấy lâu nay. Mặc dù phần đông đều nghĩ về vợ mình với tất cả lòng thương nhớ, nhiều người vẫn không giấu nổi sự lo lắng, bồn chồn. Không hiểu người vợ có còn như xưa, vẫn trung thành hay đã thay đổi ? Vợ họ đã chứng kiến những gì, đã làm gì trong thời gian họ vắng nhà ? Không hiểu sự cô đơn kéo dài có làm cho họ sờn lòng và phản bội lại người chồng đang bị cầm tù ở một nước khác hay không ? Những người tù đã có con thì còn cảm thấy yên bụng, dù sao vợ họ vẫn còn phải chăm sóc con cái và không thể sống buông thả, tự do quá được. Những đứa con là những sợi dây ràng buộc giúp họ thoát khỏi sự cô đơn và cám dỗ trong những ngày xa nhau.

Trong góc trái của toa xe, một người đàn ông cao lớn nhưng gầy ốm ngồi thật yên lặng, đôi mắt ông sáng ngời trong khuôn mặt căng thẳng vì chờ đợi và suy tư. Đó là ông Renaud Leymarie, quê quán ở Chardeuil thuộc miền Nam nước Pháp. Con tàu vẫn chạy đều trong đêm tối, tiếng còi tàu cùng tiếng bánh xe nghiến trên đường sắt càng làm cho lòng người ly hương đang trở về thêm bồn chồn, háo hức. Người đàn ông chợt nói với người bạn đồng hành ngồi sát bên ông ta :

- Anh đã có vợ chưa hở anh Saturnin ?

- Tôi đã có vợ hai năm trước chiến tranh và đã có hai con. Vợ tôi tên Marthe! Anh muốn xem hình nàng không ?

Saturnin là một người đàn ông nhỏ bé và vui tính. Anh ta rút từ trong chiếc ví cũ ra một tấm hình đã bị rách vài nơi.

- Vợ anh đẹp quá! - Leymarie nói. Anh có lo lắng gì trong lần trở về này không ?

- Lo lắng ? Tôi điên lên vì mừng thì có! Tại sao lại lo lắng ?

- Tại vợ anh đẹp, vợ anh lại ở nhà một mình và ngoài đời có thật nhiều đàn ông.

- Anh làm tôi buồn cười quá! Không có một người đàn ông nào khác trong đời vợ tôi cả! Chúng tôi đã từng sống thật hạnh phúc bên nhau... Anh có muốn xem những bức thư vợ tôi viết cho tôi suốt trong năm năm nay hay không ?
- Thơ từ chẳng chứng minh được gì cả. Tôi cũng vậy, tôi đã nhận được thật nhiều những lá thơ thật đẹp, thật nồng nàn. Vậy mà sao lòng tôi vẫn cảm thấy lo lắng ?

- Bộ anh không tin tưởng ở vợ của anh hay sao ?

-Có chứ ! Lúc đầu mới xa nhau, tôi không tin ai bằng tin vợ tôi cả. Chúng tôi đã ở với nhau sáu năm và trong thời gian đó, chưa có một đám mây nào có thể làm vẩn đục được hạnh phúc của chúng tôi...

- Vậy tại sao bây giờ... ?

- Đó chỉ là chuyện thường tình thôi ông bạn ạ! Tôi là một người không khi nào tin tưởng được vào hạnh phúc của chính mình... Tôi lúc nào cũng nhủ thầm rằng Hélène, vợ tôi, quá đẹp, quá tuyệt vời, quá thông minh đối với một người như tôi. Nàng là một người có kiến thức rộng và hình như chuyện gì có bàn tay nàng nhúng vào đều thành công tốt đẹp cả. Nàng cầm khúc vải, khúc vải biến ngay thành cái áo thật đẹp, nàng trang hoàng một túp lều , nó sẽ biến thành một thiên đàng nơi hạ giới... Vì vậy, trong lúc chiến tranh, có thật nhiều người đàn ông đã đến thành phố này ẩn náu... Và trong những người đó, có biết bao nhiêu người hơn tôi trên tất cả mọi phương diện... Lại còn những người ngoại quốc, những người lính đồng minh... Họ tất nhiên đã phải để ý đến ngay người đàn bà đẹp nhất thành phố...

- Rồi có làm sao đâu ? nếu vợ anh vẫn yêu anh ?

- Anh bạn nói rất đúng ! Nhưng anh thử đặt địa vị của anh vào địa vị của nàng. Năm năm sống cô đơn,thêm nữa, thành phố này đâu phải là thành phố của nàng. Tôi yêu nàng,cưới nàng và nàng về đây ở với tôi mà thôi! Nàng không có gia đình hay anh em bà con gì cả. Sự cám dỗ, vì vậy, sẽ mãnh liệt vô cùng...

- Anh làm tôi buồn cười! Đầu óc anh thật lộn xộn... Vả lại, nếu có chuyện gì xảy ra đi nữa thì có chi quan trọng đâu một khi nàng đã quên, đã bỏ hết tất cả khi anh trở về ? Anh biết không, nếu có ai nói với tôi chuyện gì về Marthe, vợ tôi, tôi sẽ đáp lại ngay rằng : "Đừng nói gì thêm nữa... Người đàn bà ấy là vợ tôi và khi đó chiến tranh đang xảy ra, bây giờ hòa bình đã trở lại... Chúng tôi đang khởi sự lại từ đầu..." !

- Tôi không thể nào làm như anh được! Leymarie trả lời. Nếu khi về đến nhà mà tôi biết có chuyện gì đã xảy ra trong thời gian tôi đi vắng, dù bất cứ chuyện gì...

- Thì anh sẽ làm gì ? Bóp cổ vợ chăng? Giết vợ à ? Bộ anh đã khùng chưa ?

- Không, tôi sẽ chẳng làm cái gì cả! Tôi cũng sẽ chẳng trách móc một lời. Nhưng tôi sẽ biến khỏi thành phố ngay! Tôi sẽ đi làm lại cuộc đời ở một nơi thật xa, với một tên họ khác. Tôi sẽ để lại tiền bạc, nhà cửa cho nàng... Tôi chẳng cần gì. Có lẻ tôi hơi ngu ngốc. Nhưng tánh tôi như vậy, một là có tất cả, hai là chẳng có chút gì...

Một hồi còi tàu rú lên... Tiếng bánh xe nghiến trên đường sắt... Tàu đã vào sân ga. Hai người đàn ông chợt trở nên im lặng.

* * * 
Ông thị trưởng của thành phố Chardeuil cũng là ông giáo của trường học duy nhất trong thành phố. Đó là một người đàn ông thật tốt bụng, cẩn thận, thích giúp đỡ những người chung quanh. Khi ông ta nhận được giấy của bộ quốc phòng thông báo ngày 20 tháng giêng sẽ là ngày mà Renaud Leymarie trở về Chardeuil trong chuyến tàu lửa đi về miền Tây Nam, ông đã đến báo tin ngay cho vợ ông này biết. Ông gặp vợ của Renaud đang săn sóc khu vườn nhỏ. Đó là khu vườn đẹp nhất thành phố với những bụi hồng đủ màu sắc trồng dọc theo hàng rào và hai cây hồng leo màu đỏ thẫm bao bọc hai bên khung cửa ra vào.

Ông thị trưởng nói với nàng:

- Tôi biết bà không thuộc thành phần những bà vợ mà tôi phải báo trước ngày trở về của chồng để họ khỏi bị những bất ngờ không được tốt đẹp... Tôi cần phải nói thêm rằng, nếu như bà cho phép, tôi phải xác nhận là sự kín đáo, đoan trang của bà đã làm cho cả thành phố này khâm phục... Ngay đối với cả những người đàn bà ngồi lê đôi mách, chỉ thích đi tìm hoặc bịa đặt những chuyện xấu xa của những người đàn bà khác để bươi móc, dè bỉu, họ cũng không thể nào tìm được sự gì để có thể nói xấu bà...
- Thưa ông thị trưởng, nói vậy chứ rồi người ta cũng sẽ tìm ra được một chuyện gì để chê trách tôi... Nàng tươi cười trả lời.
- Tôi cũng đã từng có ý nghĩ như vậy, nhưng thật tình, bà đã hoàn toàn chinh phục được tất cả mọi người. Nhưng tôi đến đây không phải vì chuyện đó, tôi chỉ đến đây để báo tin mừng cho bà mà thôi... và tôi cũng muốn chia vui với bà luôn thể. Tôi nghĩ chắc bà cũng muốn sửa soạn một cái gì thật đặc biệt cho ngày trở về của ông nhà.
- Thưa ông thị trưởng, ông đã có ý nghĩ không sai lầm, ý kiến của ông thật tuyệt vời. Tôi sẽ sửa soạn cho ngày trở về của Renaud biến thành một ngày thật khó quên, một ngày mà tôi đã chờ đợi từ bao nhiêu năm qua... Nó phải thật đẹp, thật hoàn toàn hạnh phúc... Ông nói ngày 20 phải không ? Ông có biết giờ nào thì tàu đến ?
- Điện tín chỉ có ghi vắn tắt "Xe lửa sẽ rời Paris vào lúc 23 giờ". Những chuyến tàu đêm thường đi rất chậm. Tàu sẽ ngừng ở sân ga của tỉnh Thiviers, như vậy ông nhà phải đi bộ chừng 4 cây số mới về tới Chardeuil. Tôi nghĩ ông sẽ về nhà vào khoảng giữa trưa.
- Tôi hứa chắc với ông là chồng tôi sẽ có một buổi ăn trưa ngon lành cho bõ những ngày thiếu thốn trong tù. Tôi chỉ xin ông thị trưởng hiểu cho rằng tôi không thể nào mời ông đến dùng cơm trưa với chúng tôi ngày hôm đó được. Nhưng tôi rất cảm ơn và xúc động trước sự quan tâm và những lời khen ngợi của ông đã dành cho tôi.
- Tất cả mọi người trong thành phố này đều một lòng yêu thương, kính phục bà, bà Leymarie ạ. Dù thành phố này không phải là nơi sinh trưởng của bà, nhưng dân chúng ở đây đã nhìn nhận bà là người của họ. Và bà đã không phụ lòng tin yêu của mọi người.

Sáng ngày 20, Hélène Leymarie thức giấc từ sáu giờ sáng. Đúng ra, suốt đêm nàng không hề chợp mắt. Từ tối hôm trước, nàng đã dọn dẹp, lau chùi nhà cửa từ trong ra ngoài, nàng lau cửa kính cho thật trong, nàng thay tất cả màn cửa bằng những tấm màn màu hồng tươi đẹp. Nàng đến tiệm làm đầu để sửa sang lại mái tóc mà đã từ năm năm nay nàng không buồn chăm sóc.

Suốt đêm nàng đã bọc mái tóc lại bằng một cái lưới mỏng cho tóc khỏi mất nếp, và sau cùng, với tất cả niềm yêu thương chôn giấu từ mấy lâu nay, nàng đã chọn một chiếc áo bằng lụa mà nàng chưa bao giờ mặc trong thời gian sống cô đơn một mình. Nàng đã phân vân không biết sẽ mặc chiếc áo nào đây? Ngày xưa Renaud thích nhất chiếc áo xanh điểm những bông hoa trắng nhỏ xíu, chàng nói khi mặc chiếc áo đó nàng trông tươi mát như một mảnh trời vào ngày đầu Xuân. Nàng đã ướm thử chiếc áo xong thở dài cởi ra vì thất vọng. Chiếc áo đã trở thành quá rộng trên thân thể gầy yếu vì thiếu dinh dưỡng của nàng. Năm năm xa chồng, nàng đã sống quá thiếu thốn và khắc khổ. Thôi nàng đành phải mặc chiếc áo lụa đen mà nàng đã tự tay cắt, may lấy vậy. Dù sao nó vẫn còn mới, nàng chưa mặc đến lần nào. Với một cái thắt lưng và chiếc cổ màu thật tươi, chiếc áo đã trở nên trang nhã và vui mắt.

Trước khi làm buổi ăn trưa, nàng cố nhớ lại... Ngày xưa chồng nàng thường thích ăn món nào nhất ? Nhưng nước Pháp vào năm 1945 thật thiếu thốn đủ thứ... Một chiếc bánh chocolat ? Đúng rồi, chồng nàng vẫn thích nhất món đó! Nhưng nhà lại không có chocolat! May mà nàng còn có vài quả trứng gà tươi nhờ mấy con gà nàng nuôi ở sân sau. Chồng nàng vẫn thường khen chưa ai chiên trứng ngon bằng nàng. Ồ, chàng cũng thích nhất khoai chiên và thịt bò... nhưng ở thành phố này không có hàng thịt. Nàng quyết định làm thịt bớt một con gà vậy. Nàng nghe nói ở thành phố bên cạnh có một cửa tiệm bán chocolat. Nàng sẽ qua bên đó mua, như vậy, sau năm năm gian khổ, ít nhất trong bữa cơm đầu tiên ở nhà Renaud sẽ có một món ăn mà chàng đã từng ưa thích.

Hélène nghĩ thầm "nếu mình đi vào lúc tám hay chín giờ, mình sẽ có mặt ở nhà để đón chàng. Mình sẽ sửa soạn tất cả trước khi đi, như vậy khi về mình chỉ cần nấu mấy món ăn là xong".

Mặc dù thật xúc động và nôn nao, nhưng lòng nàng chan chứa hạnh phúc. Sáng nay trời thật đẹp. Chưa bao giờ, trong thung lũng này, mặt trời buổi sáng lại rực rỡ như hôm nay.

Nàng vừa sắp dọn bàn ăn vừa hát khe khẽ. Ôi, chiếc khăn trải bàn có những ô vuông trắng đỏ này, hai vợ chồng nàng đã ăn bữa cơm đầu tiên với nhau... những chiếc đĩa bằng sứ màu hồng nhạt với những chiếc lá phong nhỏ xíu màu đỏ sẫm, chàng vẫn khen là ngộ nghĩnh... và nhất là hoa... Renaud thích có hoa trên bàn ăn, chàng đã từng khen nàng có tài cắm hoa. Hélène để một bình hoa nhiều màu trên bàn, hoa cúc trắng, hoa cẩm chướng và hoa hồng đỏ chen nhau làm thành một bình hoa đẹp mắt.

Trước khi lên xe đạp rời nhà, nàng nhìn lại căn phòng ăn qua tấm màn cửa. Tất cả thật hoàn toàn. Sau bao nhiêu gian khổ, Renaud sẽ ngạc nhiên và thích thú... Từ cửa sổ, nàng tự ngắm mình trong chiếc gương lớn được gắn trên bức tường chính của phòng ăn. Nàng thấy mình hơi gầy nhưng thật trắng, thật trẻ, và... dĩ nhiên tràn ngập yêu thương. Nàng cảm thấy bồi hồi, náo nức như lần đầu tiên được chàng ngỏ ý. Thân hình nàng như tan đi vì hạnh phúc.

"Thôi, nàng tự bảo thầm, bây giờ thì nhất định phải đi. Mấy giờ rồi nhỉ? Trời, đã chín giờ rồi... Mấy cái công việc vặt vãnh này cũng làm mình mất thì giờ quá nhiều, nhiều hơn mình dự liệu. . Ông thị trưởng nói mấy giờ thì Renaud về tới nhà nhỉ ? Ồ, vào khoảng giữa trưa... mình sẽ có mặt ở nhà trước giờ đó..."

* * *
Căn nhà nhỏ của Renaud nằm khuất trên một con đường vắng của thành phố, vì vậy không ai nhìn thấy một người lính gầy yếu với đôi mắt ngời sáng và dáng điệu hấp tấp bước vào khu vườn. Cửa vườn đóng lại, người lính đứng im lặng một hồi thật lâu, chàng như mê đi vì hạnh phúc, như bị chói lòa vì ánh nắng rực rở ban mai, như say sưa vì cảnh đẹp của hoa lá. Chàng đứng lặng người lắng nghe tiếng rì rào của loài ong đang bay đi kiếm mật... Rồi chàng cất tiếng kêu khe khẽ :

- Hélène... !

Không có tiếng trả lời , chàng lại kêu lên lần nữa:

- Hélène! Hélène!

Lo sợ vì sự im lặng vẫn bao trùm căn nhà nhỏ, chàng tiến lại phía cửa sổ và nhìn vào trong nhà, chàng nhìn thấy bàn ăn đã đặt sẵn cho hai người, bình hoa, chai rượu...

Renaud cảm thấy trời đất như quay cuồng, chàng phải dựa lưng vào tường cho khỏi ngã:

"Trời, lạy Chúa! Nàng không ở một mình !". Chàng lẩm bẩm...
 
* * *
Một giờ sau, khi Hélène trở về, bà láng giềng gọi giật nàng lại:

- Tôi đã nhìn thấy chồng bà. Ông cắm đầu chạy thật nhanh trên đường. Tôi có gọi nhưng ông không thèm nhìn lại.

- Chồng tôi bỏ chạy! Mà về hướng nào bà biết không ?

- Về hướng Thiviers...

Hélène lên xe đạp gấp rút đến nhà ông thị trưởng :

- Thưa ông tôi sợ quá! Chồng tôi dưới một bề ngoài cứng rắn và khắc khổ là một người rất nhạy cảm và ghen tuông... Anh ấy đã nhìn thấy bàn ăn sửa soạn cho hai người... Anh không thể hiểu là tôi chờ đón anh ấy. Làm sao tìm ra ngay anh ấy bây giờ ? Phải tìm ra ngay anh ấy ông ơi! Anh có thể bỏ đi luôn lắm đó, mà... tôi thì... tôi quá yêu chàng!

Ông thị trưởng nhờ một người đạp xe ra ngay Thiviers, nhưng Renaud đã biến mất. Hélène đã thức suốt đêm ngồi cạnh bàn ăn, trên đó bình hoa đã bắt đầu héo úa. Mùa Xuân đã về nhưng sao khí hậu quá oi bức, nặng nề. Màn đêm đã xuống từ lâu, người thiếu phụ chợt cảm thấy nghẹn ngào, tuyệt vọng... Nàng chẳng ăn uống gì. Một ngày... một tuần... rồi một năm đã trôi qua.

Từ cái ngày đau thương đó, Hélène không còn nghe ai nhắc nhở đến tên chồng nàng... Lại một mùa Xuân nữa trở về trên thành phố Chardeuil, nhưng căn nhà nhỏ vẫn im lìm trong khu vườn đầy hoa hồng đang khoe sắc, đàn ong vẫn rì rào trong nắng ấm nhưng Hélène đã mất hẳn nụ cười. Ngày ngày nàng vẩn ngồi bên song cửa sổ nhìn ra con đường nhỏ chạy qua nhà nàng... và cố lắng nghe tiếng bước chân trở về của người chồng mà nàng vẫn hoài mong, thương nhớ...

Trong nhà,chiếc bàn ăn vẫn được phủ bằng chiếc khăn carô trắng đỏ, bình hoa tươi vẫn được thay hoa mỗi ngày, người thiếu phụ vẫn mỏi mòn chờ đợi... Kỷ niệm còn đây sao người đi xa không thấy trở về ?

Tôi viết lên câu chuyện này để, nếu Renaud Leymarie có đọc được, hãy về lại cùng nàng. Đã sáu mùa Xuân anh đi xa, đã sáu mùa Xuân Hélène đợi chờ. Năm vừa qua là năm buồn tủi nhất của nàng. Nếu đọc được, hãy trở về nghe Renaud, hãy cho Hélène, người vợ trung thành và yêu thương chồng nhất, một mùa Xuân thật sự. Nàng chưa và sẽ không bao giờ hết yêu thương anh nên nàng vẩn chờ đợi... Ngày trở về của anh, dù có mong manh như nắng lụa, vẫn là niềm hy vọng duy nhất giữ nàng lại trên cuộc đời này…
Dùng tên thật để đăng bài sáng tác.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-07 02:37:27Nguyễn Yên Sơn>
CHÚC THƯ
 
Từ khi lâu đài Sác-đơi được bán cho một kỹ nghệ gia, do bệnh tật và tuổi già, muốn tìm một nơi tĩnh dưỡng tại miền quê, cả vùng Pê-ri-gô chỉ toàn nói tới vẻ xa hoa hào nhoáng của nó đang được sửa lại. Nhất là những mảnh vườn, thật là tuyệt! Một tay kiến trúc sư kiêm hoạ sĩ chuyên vẻ phong cảnh được đón từ Paris tới đã khoanh vùng thung lũng La-lu lại để tạo ra một cái hồ nhân tạo, biến vùng Sác-đơi thành một Véc-xay thứ hai...(1)
Ở cái tỉnh quê kệch và nghèo nàn này, nơi mà các ông chủ lâu đài chuyên bắt chước người vùng Sa-vin-ni-ac, biến các khu vườn nhà mình thành vườn rau, thì những khu vườn đẹp quả là hiếm thấy. Mãi tận Bri-xơ, tận Pê-ri-gô, thậm chí tận Boóc-đô, người ta cũng không tiếc lời bàn tán về vườn hoa của Sác-đơi. Vậy mà khi những chủ nhân mới, sau một năm ra công xây dựng, tới ở khu lâu đài, thì khách khứa tới thăm ít hơn là họ trông đợi. Người Pê-ri-gô chỉ tiếp đón sau khi đã biết cặn kẽ về người mới đến, mà cái bà Béc-nanh này thì chẳng ai biết gì cả.
Bà ta trông chỉ khoảng ba chục tuổi là cùng, còn ông chồng thì chí ít cũng phải lục tuần. Bà ta khá đẹp và ở mãi tận trong cái xó xỉnh hẻo lánh này mà vẩn cứ ngày thay xiêm áo ba lần. Điều đó có vẻ không đúng theo thói thường, nên ban đầu cả xứ này đã nghĩ rằng bà ta không phải là vợ, mà chỉ là nhân tình của ông Béc-nanh. Khi bà Ghi-sác-đi, người rất có uy tín của giới quí tộc của vùng, người rất hiểu Paris dù đã sống ở tỉnh lẻ từ thời chiến tranh, khẳng định rằng bà Béc-nanh đích thực là vợ của ông Béc-nanh, rằng bà ta xuất thân từ một gia đình tư sản bình thường nhưng cũng có nề nếp, thì họ chấp thuận ngay, bởi vì có mấy ai dám cải lại người đàn bà đầy uy quyền và sành sỏi này về một đề tài như thế. Tuy nhiên, nhiều gia đình vẩn phản đối ngấm ngầm và vẩn cho rằng nếu bà Béc-nanh có là vợ ông Béc-nanh đi nữa, thì bà ta chỉ là một cô nhân tình đến lúc muộn mằn mới thành vợ mà thôi.

Gas-tông và Va-lăng-tanh Rô-mi-ly là hàng xóm thân cận nhất của nhà Béc-nanh, từ quả đồi Pre-y-sắc của họ có thể nhìn thấy các ngọn tháp của Sác-đơi. Họ nghĩ rằng, mình chẵng nên quá nghiêm khắc như những người khác, hơn nữa nhà Béc-nanh đã có lời mời, còn bà Ghi-sác-đi thì cũng đã cho họ cái quyền được tỏ ra lịch thiệp, và thế là họ quyết định sang thăm đáp lễ nhà Béc-nanh.
 
Là một trong những vị khách đầu tiên, họ càng được tiếp đãi nồng hậu. Chẳng những bị giữ lại đến tận giờ uống trà buổi tối, nhà Béc-nanh còn nhã ý mời vợ chồng Rô-mi-ly đi thăm lâu đài, vườn tược, nhà ở của gia nhân. Gas-tông và Va-lăng-tanh cảm thấy hai con người này đang bắt đầu đau khổ vì họ có trong tay biết bao cái hoàn mỹ mà chẳng biết khoe được với ai.
 
Béc-nanh vẫn còn giữ phần nào tính độc đoán của ông chủ xưởng và thói quyết đoán cả những điều mà ông ta ít hiểu biết nhất, nhưng xem ra cũng là một người đôn hậu. Va-lăng-tanh xúc động vì sự âu yếm của ông ta đối với bà vợ, một người đàn bà nhỏ nhắn, tóc hung, béo tốt, dịu dàng và vui vẻ.
 
Nhưng bà chợt cảm thấy khó chịu khi đi thăm tầng hai của lâu đài. Sau một hồi tán dương sự biến đổi chóng vánh đến ngạc nhiên của toà nhà, ca ngợi các phòng tắm xây trong những bức tường cổ dày và hệ thống thang máy đặt trong các ngọn tháp, bà này được nghe bà Béc-nanh trả lời:
_ Vâng, anh A-đôn muốn mọi cái đều hoàn hảo...Lúc này Sác-đơi mới chỉ là nhà nghỉ của chúng tôi ở nông thôn, nhưng anh A-đôn biết tôi định sẽ sống ở chốn này sau khi anh ấy mất, dĩ nhiên là càng muộn càng tốt, và anh ấy muốn tôi sống ở đây cũng thoả mái như ở thành phố. Ông bà còn lạ gì nữa, anh ấy đã có nhiều con trong lần kết hôn thứ nhất...Vì thế mà anh ấy đã tiên liệu cả rồi. Sác-đơi đã được đứng tên tôi và hoàn toàn thuộc về tôi.
 
Ở bãi cỏ bên cạnh khu nhà của một trang trại cũ được sửa thành chuồng ngựa. Gas-tông ngắm nghía không biết chán bầy ngựa đẹp, các bộ yên cương hoàn hảo và những tay giữ ngựa không chê vào đâu được.
 
_ Ngọn lửa là niềm vui lớn nhất của tôi, - bà Béc-nanh nói, vẻ hứng khởi - Cha tôi, xưa vốn là lính giáp kỵ, đã đặt cả lũ con lên yên ngựa ngay từ khi còn ẵm ngửa.
 
Bà đưa tay vỗ vỗ lên cái mông sạch bóng của con ngựa rồi thở dài:
_ Tất nhiên, chơi ngựa thế này là tốn kém lắm...A-đôn cũng đã nghĩ tới điều đó, trong tờ chúc thư anh ấy định sẻ tách một phần riêng trong khu vườn của Sác-đơi dành cho việc chăm sóc ngựa...Như thế sẻ không động chạm gì đến phần gia tài của tôi, có phải không, anh A-đôn? Với lại bằng cách này, tôi sẻ không đóng thuế về khoản ấy.
 
(ct)
Dùng tên thật để đăng bài sáng tác.
Đăng nhập để trả lời
0
Lâu rồi do bận quá nên không đánh máy được hết, xin lỗi các bạn. Tôi sẻ tiếp tục cho xong một ngày gần đây.
Dùng tên thật để đăng bài sáng tác.
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn Nguyễn Yăn Sơn nhớ và quay trở lại để đánh máy tiếp há

[:D]


Đăng nhập để trả lời
0