Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Nam Cao- nhà văn hiện thực kiểu mới

0 trả lời, 1.294 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-27 18:49:53ct.ly>
Nam Cao- nhà văn hiện thực kiểu mới

Lê Tú Anh



Khi trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam đang đi vào chặng cuối cùng với nhiều cây bút đã thực sự có chỗ đứng trên văn đàn, Nam Cao mới trình làng truyện ngắn đầu tiên: Chí Phèo (1941). Nhưng đúng là “Văn Nam Cao ngay từ những trang đầu đã thực sắc sảo” (Nguyễn Đình Thi). Những khám phá mới mẻ về nội dung cùng những cách tân táo bạo về nghệ thuật đã đưa ông lên một vị trí văn học sử hết sức vẻ vang: Nhà văn lớn hàng đầu của chủ nghĩa hiện thực. Những cách tân trong nghệ thuật của Nam Cao chẳng những góp phần đáng kể trong việc đưa nền văn xuôi nghệ thuật nước ta bước hẳn sang phạm trù hiện đại ở mấy chục năm đầu thế kỷ XX mà còn phục vụ đắc lực cho mục đích tối cao của chủ nghĩa hiện thực, cũng là đặc điểm nổi bật của ngòi bút nhà văn: Khám phá thế giới bên trong nhiều bình diện và đầy bí ẩn của con người.

Một trong những cách tân đáng kể của Nam Cao là phương diện cốt truyện. Quan niệm truyền thống cho rằng cốt truyện là một yếu tố thuộc về nội dung và có vai trò quan trọng số một đối với tác phẩm: “Có tích mới dịch nên tuồng”. Kế thừa những thành tựu ít ỏi của văn xuôi nghệ thuật truyền thống, không ít tiểu thuyết gia hồi đầu thế kỷ XX vẫn tiếp tục quan niệm này đã vay mượn những cốt truyện có sẵn mà phóng tác thành tiểu thuyết của mình. Đó là các trường hợp Quả dưa đỏ (Nguyễn Trọng Thuật), Kim Anh lệ sử (Trọng Khiêm), Cay đắng mùi đời, Ngọn cỏ gió đùa (Hồ Biểu Chánh)...

Đến lượt mình, Nam Cao có một quan niệm khác về cốt truyện. Ông không có ý định lôi cuốn người đọc bằng những sự kiện, biến cố. Bởi cốt truyện dù li kỳ hơn cả những biến động đầy rẫy trong cuộc sống, thì những gì người ta nhìn thấy cũng chỉ là hiện tượng mà thôi. Tập trung bút lực vào việc khám phá thế giới nội tâm của con người, qua đó mà khái quát nên bản chất của cuộc sống, Nam Cao đã huy động cốt truyện cũng như một số phương diện khác (đề tài, kết cấu…) như là những phương tiện nghệ thuật.

Cốt truyện, theo các nhà lý luận văn học, là tiến trình của các sự kiện. Nghĩa là trong một tác phẩm tự sự, các biến cố xảy ra liên tiếp, cái này tiếp sau cái kia, hoặc là cái này nảy sinh cái kia, xô đẩy nhau tới một đỉnh cao buộc phải giải quyết, giải quyết xong thì kết thúc truyện. Chẳng hạn: Truyện Tấm Cám bắt đầu từ sự kiện mụ dì ghẻ sai Tấm và Cám đi bắt tép. Cám lười nhác không bắt được gì, lừa Tấm đổ hết giỏ tép của chị mang về, chỉ còn sót lại một con cá bống. Nhưng từ đó, Tấm thường xuyên nhận được sự giúp đỡ kịp thời của Bụt (…). Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với mẹ con dì ghẻ, Tấm luôn chiến thắng, cuối cùng trở thành Hoàng hậu. Như vậy, theo dõi chuỗi sự kiện của tác phẩm cũng chính là theo dõi hành động của các nhân vật. Suy cho cùng hành động của nhân vật chính là nhân tố cơ bản làm nên cốt truyện.

Giáo sư Pospelove trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học, đã chỉ ra hai kiểu hành động từng gặp trong tác phẩm văn học: “Trong một số trường hợp cốt truyện được xây dựng trên cơ sở miêu tả các hành động dứt khoát của nhân vật trên các thời điểm nút, bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật. Một hành động như thế đầy rẫy những vận động bên ngoài” (l). Và “Một dạng hành động dường như chủ yếu chỉ xảy ra ở bên trong”. Đó là trong các trường hợp “các sự kiện trước hết xuất hiện với tư cách là nguyên nhân của các suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật.”(2)

Như vậy, ứng với hai dạng hành động ấy sẽ là hai loại sự kiện có thể gặp trong tác phẩm văn học. Chúng tôi gọi một loại là sự kiện thông thường (là những sự kiện được tạo thành từ các hành động có khả năng quan sát được từ bên ngoài) và một loại là sự kiện tâm lý (là những sự kiện được tạo nên từ thao tác phân tích, mổ xẻ nội tâm, hay những biến đổi trong đời sống tâm lý nhân vật).

Đối với loại cốt truyện được hình thành từ những sự kiện thông thường, chúng không phải không có khả năng thể hiện tâm lý. Bởi vì “Tâm lý con người luôn gắn liền với hoạt động của họ, vì thế trong bất cứ hoạt động nào của cá nhân cũng dều có tâm lý cả”(3). Chẳng hạn: Khi chị Dậu đánh trả người nhà Lý trưởng là lúc trong con người ấy đang dâng lên niềm xót thương mãnh liệt đối với người chồng đau yếu của mình. ở vào lúc xảy ra hành động hãm hiếp thị Mịch, Nghị Hách đang thể hiện một nhu cầu, ham muốn bản năng. Còn khi cụ Chánh Bá kêu mất giày thì một lòng tham lam đê tiện thiếu hẳn tính người được bộc lộ...

Nhưng những hành động như thế thuộc kiểu hành động bên ngoài. Qua đó, người ta chỉ thấy được tâm lý nhân vật ở dạng các trạng thái, thuộc tính riêng lẻ chứ không thể nhận ra cả một phức hợp các thuộc tính tâm lý hay một quá trình vận động của đời sống tâm lý nhân vật. Và kết quả của nó thì nhiều nhất cũng chỉ có thể làm thay đổi số phận riêng tư hay địa vị xã hội của các nhân vật mà thôi.

*

Nam Cao không có xu hướng chạy theo những biến cố trọng đại của đời sống xã hội. Các nhân vật của ông, do đó cũng không được đặt trong những mối quan hệ rộng lớn, phức tạp và ít những hành động bên ngoài. Cốt truyện chủ yếu hình thành từ kiểu hành động bên trong của nhân vật. Loại sự kiện thông thường hầu như chỉ xuất hiện với tư cách là nguyên nhân của những suy nghĩ và cảm xúc của chúng.

Chí Phèo gặp Thị Nở. Đấy là một sự kiện thông thường. Nhưng cũng từ đó bao nhiêu sự kiện tâm lý xảy ra trong cả hai, đặc biệt là Chí Phèo. Trước hết, nhân vật thay đổi hẳn một trạng thái sinh lý: “Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh. Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài”. Và theo dòng tâm tư, các yếu tố tâm lý của nhân vật liên tiếp xuất hiện.

Bắt đầu là cảm giác: “Hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn”.

Rồi tri giác: “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”.

Trí nhớ: “... Mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì xa xôi. Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ”.

Tự nhận thức: “Hắn thấy hắn già mà vẫn cô độc; Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn: đói rét và ốm đau và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”.

Và cả hình thức phản ánh tâm lý cao nhất - ý thức: “Hắn không còn kinh rượu nhưng cố uống cho thật ít”.

Đây mới chính là những sự kiện của tác phẩm Chí Phèo. Trên phương diện sự phát triển tính cách của nhân vật Chí Phèo, sự xuất hiện của sự kiện này là vô cùng quan trọng. Chúng không chỉ có ý nghĩa làm đổi thay tình trạng của nhân vật: Chí Phèo từ đây sẽ không thể tiếp tục kiếp sống thú vật nữa. Hơn thế, những trạng thái tâm lý mới nảy sinh sau khi gặp Thị Nở còn chứng tỏ một bản tính người trong tiềm thức Chí Phèo mà nay mới có dịp trỗi dậy. Như thế, nó có ý nghĩa làm thay đổi cả diện mạo tinh thần của nhân vật. Chí Phèo không hoàn toàn là một con quỷ dữ như người ta vẫn nghĩ. Phát hiện ra phương diện này, hình tượng nội tâm của Chí Phèo trở nên cực kỳ sinh động. Sức tố cáo của tác phẩm do đó càng thêm mãnh liệt mà nội dung nhân đạo cũng càng trở nên sâu sắc.

Tiểu thuyết Sống mòn cũng được hình thành bằng những sự kiện tâm lý kiểu như vậy. “Sống mòn của Nam Cao - Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét - là tiểu thuyết không có cốt truyện, hiểu theo nghĩa không có sự kiện, biến cố gì đáng kể làm thay đổi số phận nhân vật”(4). Ngay khi nhận được lá thư của Đích nói lời vĩnh biệt vì bệnh lao quá nặng, trong lòng Thứ hầu như vô cảm: “Thứ chẳng rỏ được một giọt nước mắt nào”. Nhưng chút bồi hồi (Có lẽ chỉ vì cái tin đột ngột quá thôi) đã làm Thứ nhớ lại hồi còn nhỏ “Hai người cùng trọ học một nhà, Đích hay bắt nạt y”. Và đọc đi đọc lại những bức thư, y càng bình tĩnh hơn, những hành động bên trong bắt đầu đi vào chiều phức tạp:

Thứ băn khoăn: “Đích có nhận được bức thư của y không? Đích có vì tức quá mà sinh thổ huyết không?”

Rồi Thứ vui mừng: “Y rất lấy làm mừng vì Đích không đả động gì đến việc ấy trong thư”.

Thứ lo âu tính toán: “Nhưng nếu Đích về? Y còn mặt mũi nào mà trông thấy Đích? (...) Đích rất có thể lại giữ chân hiệu trưởng nhà trường, và Thứ sẽ chẳng còn là một người cần; y rất có thể sẽ bị Đích và Oanh coi rẻ”.

Nhưng cuối cùng chính Thứ lại phải khóc cho sự cằn cỗi, sự ra đi của tâm hồn mình khi Thứ mong cho Đích chết ngay đi để không về làm hiệu trưởng nữa: “Và đột nhiên y thấy buồn rầu. Lòng y đã cằn cỗi đến mức ấy rồi ư ? Y đã ích kỷ, đã đồi bại, đã tàn nhẫn, đã khốn nạn, đến thế ư? Trên mắt y, một chút nước mắt bỗng ứ ra. Trơ trơ trước cái chết của một người thân, y đã khóc cái chết của chính tâm hồn mình...”

Trong tương quan với tư tưởng chủ đề của tiểu thuyết, chỗ này chính là một sự kiện. Sự kiện này là kết quả của các hành động phân tích, mổ xẻ, tự đánh giá chính mình của nhân vật. Nó ghép vào một chuỗi những sự kiện tâm lý khác để làm nên sức sống lâu bền cho cuốn tiểu thuyết chỉ kể toàn những chuyện vặt vãnh, đời thường này. Niềm đau đớn tột cùng của người trí thức trước sự ra đi không gì cưỡng nổi của nhân cách, tâm hồn mình sẽ còn ám ảnh không biết bao nhiêu thế hệ người đọc.

Bản thân những sự kiện thông thường ở truyện Nam Cao cũng có nhiều khác biệt so với các nhà văn hiện thực cùng thời. Điều này xuất phát từ một đặc điểm của ngòi bút nhà văn mà chúng tôi đã nói: Không có xu hướng chạy theo những biến cố, sự kiện trọng đại của đời sống xã hội. Sự kiện trong các truyện Nam Cao chủ yếu là những đổi thay nho nhỏ trong cuộc sống hàng ngày. Và bao giờ cũng vậy, nó là nguyên nhân của những đổi thay trong đời sống tâm lý nhân vật. Mà trong đời sống ngày thường, kể làm sao hết những tình huống có thể nảy sinh. Cho nên đọc những truyện như Chí Phèo, Nửa đêm, Tư cách mõ, Mua nhà, Giăng sáng, Đời thừa, Sống mòn... thấy các nhân vật của Nam Cao liên tục phải hành động bên trong, liên tục phải làm những động tác mổ xẻ, phân tích, tự nhận thức, lựa chọn... dù có ý thức hay vô thức. Và cứ thế, tâm lý nhân vật triền miên trải ra theo cốt truyện. Có thể nói, cơ sở của truyện Nam Cao chính là những cơn thăng trầm của cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ của nhân vật. Nhân vật của Nam Cao không phải là những chuẩn mực đạo đức đang va chạm với hiện thực, hoàn cảnh. Quá trình phát triển của tâm lý, tính cách nhân vật Nam Cao là quá trình tự vượt mình và vượt qua những thử thách nghiệt ngã của cuộc đời, là quá trình không ngừng vươn tới những chuẩn mực về đạo đức.

Như vậy, có thể đi đến những kết luận về đặc điểm của cốt truyện trong truyện Nam Cao:

1. Loại sự kiện thông thường là nguyên nhân của những sự kiện tâm lý.

2. Sự kiện tâm lý là nhân tố cơ bản tạo nên cốt truyện.

Lựa chọn kiểu cốt truyện này, nhà văn luôn phải tạo ra những sự kiện tâm lý cho tác phẩm của mình. Nghĩa là nhân vật buộc phải có nhiều hành động bên trong. Do đó đời sống tâm lý sẽ được bộc lộ trong dạng phức tạp và sâu sắc.

Cho nên, ngay cả khi cốt truyện được hình thành từ những sự kiện, tình tiết thông thường thì đối với truyện Nam Cao, nội dung ấy cũng không phải là chủ yếu. Trong truyện ngắn Lão Hạc, cuộc đời buồn thảm của lão Hạc với những biến cố xảy ra liên tiếp như vợ chết, con vì không có tiền cưới vợ mà phải tha phương cầu thực, ốm đau, phải bán người bạn thân (con Vàng) và cuối cùng là cái chết thảm khốc - là một cốt truyện. Bên cạnh đó, còn có một cốt truyện đan cài được hình thành từ những sự kiện tâm lý: đó là quá trình tự nhận biết của nhân vật tôi người kể chuyện, về nhân cách của một con người. Mỗi sự kiện xảy ra trong cuộc đời lão Hạc đều gợi lên cho nhân vật này những suy ngẫm, phát hiện, để rồi cứ thế tạo nên chiều sâu nhận thức của tác phẩm.

Lúc đầu, do chưa hiểu lão Hạc, nên câu chuyện về con chó mà lão nói đi nói lại nhiều lần cũng chỉ làm ông giáo thấy dửng dưng: “Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế!”. Rồi liên hệ với việc bán mấy quyển sách quý của mình, ông giáo nghĩ: “Lão quý con chó Vàng của lão đã thấm vào đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi”. Nhưng rồi nghe những lời tâm sự của lão Hạc, nhìn cách đối xử của lão với con chó và nhất là chứng kiến nỗi đau đớn của lão khi phải bán con Vàng, nhân vật tôi đã phải thú nhận: “Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa”.

Những sự kiện tiếp theo trong cuộc đời lão Hạc cũng vậy: Khi lão gửi tiền và đất vườn cho ông giáo hay khi lão xin bả chó của Binh Tư... đều được nhìn nhận từ những góc độ khác nhau. Khi thì dưới con mắt vợ ông giáo - một người quá khổ khi thì dưới con mắt Binh Tư - một kẻ sống bằng nghề ăn trộm, có lúc lại chính là sự ngộ nhận của người kể chuyện. Để rồi khi khám phá ra sự thật, bản chất ở bên trong thì đó chỉ là những cái nhìn phiến diện, hời hợt ở bên ngoài. Và mỗi lần nhận ra một vẻ đẹp trong nhân cách của lão Hạc, người kể chuyện cũng đều hết sức xúc động:

“Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ...”

“Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt!”...

Từ những xúc động ấy, quá trình tự nhận thức đã giúp nhân vật người kể chuyện đúc rút được những triết lý nhân sinh có tầm vóc, cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc về cách nhìn người, nhìn đời. Đó mới là yêu cầu số một mà Nam Cao đặt ra cho ngòi bút của mình. Và như thế, cốt truyện này mới là quan trọng.

Vào những năm 30 của thế kỷ XX, nền văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đã trưởng thành, đã kết tinh được nhiều cây bút tài năng, nhiều tác phẩm có giá trị. Giữa lúc tiểu thuyết Tự lực văn đoàn kể những chuyện tình rất lâm ly, những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan... ngồn ngộn sự kiện, đầy rẫy biến cố, kiểu cốt truyện của Nam Cao dễ rơi vào sự tẻ nhạt, đơn điệu kém hấp dẫn với công chúng phần đông là thị dân lúc bấy giờ. Song, khi cốt truyện đã trở thành phương tiện nghệ thuật để theo đuổi một mục đích lớn hơn thì sức hấp dẫn lại chính là ở những tư tưởng sâu, những tình cảm lớn (chữ dùng của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh). Bởi từ việc khám phá đời sống nội tâm con người, truyện của Nam Cao đã mở rộng dung lượng phản ánh hiện thực, thể hiện được cả gương mặt thời đại. Những bi kịch của Chí Phèo, lão Hạc, Thứ và hàng loạt những nông dân cũng như trí thức khác đã làm hiển hiện một xã hội tàn nhẫn, bất nhân, huỷ diệt sự sống vật chất cũng như tinh thần của con người. Cho nên, Nam Cao thực sự là một nhà văn hiện thực kiểu mới.



(l), (2). G. N. Pospelove (chủ biên) - Dẫn luận nghiên cứu văn học, Tập 2, Nxb Giáo dục, 1985, trang 39.

(3). Nhiều tác giả - Đề cương bài giảng tâm lý học đại cương, Tài liệu dùng trong các trường Đại học Sư phạm, Hà Nội, 1975, trang 5.

(4) Nguyễn Đăng Mạnh - Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A, Nxb Khoa học xã hội 1984, trang 35.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0