Tinh thần yêu nước và quyền sống thành người
Phan Ngọc
Để tránh những hiểu lầm không cần thiết, tôi không dùng chữ chủ nghĩa dân tộc đối với Việt Nam mà dùng chữ tinh thần yêu nước.
Tinh thần yêu nước của Việt Nam ra đời trong một hoàn cảnh khác hẳn với Trung Quốc và phương Tây.
Một nghìn năm Bắc thuộc với bao khổ cực, nhục nhã đã dạy cho người Việt Nam biết rằng họ chỉ có thể tồn tại bằng cách đoàn kết nhau thành một khối, vượt lên khỏi mọi chia rẽ về tầng lớp, tài sản, quyền lợi, phân chia giữa người miền xuôi và người miền ngược. Không phải quyền lợi giai cấp tạo nên tinh thần yêu nước mà quyền sống thành người. Nhà nước dân tộc của Việt Nam đã hình thành vào bậc sớm nhất của loài người. đây là trường hợp cá biệt. Một Nhà nước dân tộc chỉ ra đời khi tất cả mọi người của dân tộc này thấy mình không phải chỉ là người của một tầng lớp, một địa phương, một văn hoá, một ngôn ngữ, hay một tộc người riêng biệt, mà vượt lên tất cả, họ còn là những người dân của một Tổ quốc chung, sống chết có nhau, trong đó những phân biệt về của cải, địa vị xã hội, nguồn gốc xuất thân đều là hết sức thứ yếu bên cạnh cái chung, suốt đời không có cách nào thay đổi, trong mọi điều kiện, dưới mọi chế độ chính trị, dù sống bất kỳ ở đâu. Đó là Tổ quốc Việt Nam.
Câu chuyện tinh thần yêu nước hình thành vào lúc nào thì còn phải bàn, nhưng các biểu hiện của nó là hiển nhiên không ai chối cãi được. Tôi cảm thấy bắt buộc phải nói những điều này, bởi vì bệnh sùng bái văn hoá phương Tây hiện còn rất nặng, cho rằng Việt Nam chỉ biết bắt chước, không có sáng tạo độc lập. Nếu cách hiểu ấy được duy trì, làm sao ta có thể xây dựng một nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn trong điều kiện tiếp xúc với văn minh hậu công nghiệp?
Một Nhà nước dân tộc phải có những điều kiện dưới đây. Vì những điều kiện này đều là then chốt của một nhận thức triết học về văn hoá Việt Nam cho nên cần phải nói rõ cả mặt mới của nó cũng như mặt thiếu sót của nó chưa phải là hiện đại mà ta phải khắc phục. Có một vài điểm là tiếp thu của Trung Quốc, nhưng không phải để theo chế độ tông tộc của Trung Quốc mà để xây dựng tinh thần yêu nước của Việt Nam.
Một là, một chính quyền thống nhất từ trung ương tới địa phương, điều này đã thực hiện từ thời đinh Tiên Hoàng sau khi dẹp loạn 12 sứ quân. Giai đoạn duy nhất có sự chia rẽ là giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhưng xét về thực chất, đây chỉ là giai đoạn đối địch nhau giữa hai tập đoàn thống trị, còn về danh nghĩa chỉ có một nước là Đại Việt và một triều đại là nhà Lê. điều này chỉ có thực sự ở châu Âu vào thế kỷ XIX. Còn vào thế kỷ XVI chẳng hạn, chỉ có những công quốc đối lập nhau do các lãnh chúa thống trị. Vào thế kỷ XVIII một năm có bao nhiêu ngày thì nước Đức có bấy nhiêu công quốc độc lập. Mặt yếu của chính quyền này, đó là về cơ bản nó chưa thực sự phổ biến đến tận làng xã, cho nên Việt Nam có câu “Phép vua thua lệ làng”.
Hai là, pháp luật thống nhất chung cho mọi người trong một nước. Châu Âu chỉ có pháp luật chung cho mọi người với bộ luật Napoléon vào đầu thế kỷ XIX, còn trước đó việc cai trị là dựa vào những bộ luật riêng có tính chất đẳng cấp của nhà thờ hay của các lãnh chúa. Trái lại, ở Việt Nam năm 1042 bộ Hình thư của Lý Thái Tổ đã nhân danh Nhà nước chung để quy định những hạn chế của tầng lớp quý tộc, rồi bộ luật đời Lê đã là pháp luật mang tính độc đáo của Việt Nam và chung cho mọi người Việt Nam. Chỗ yếu của pháp luật này, đó là nó chỉ mới bó hẹp vào mặt hình luật và một vài điểm về hộ luật chưa có dân luật theo nghĩa quyền lợi của người dân không ai được vi phạm.
Ba là, việc được bổ làm quan phải do thi cử học hành, không phải do con ông cháu cha mà có được. Điều này ở châu Âu chỉ xuất hiện vào thế kỷ XIX, còn ở Việt Nam đã có vào thế kỷ XI. Chỗ yếu của học vấn này là nó chỉ bó hẹp vào từ chương chưa mở rộng ra mặt kỹ thuật, khoa học, quản lý kinh tế, xã hội.
Bốn là, con người được xét độc lập với tôn giáo. Điều này ra đời ở phương Tây rất muộn vào thế kỷ XVIII, còn ở Việt Nam mọi người là như nhau, anh theo đạo Phật, đạo Lão hay không theo đạo nào ngoài việc thờ cúng tổ tiên là chuyện cá nhân. Tôn giáo không có vai trò gì to lớn trong lịch sử Việt Nam, trái lại nó là cản trở lớn nhất cho các cuộc cải cách văn hoá ở phương Tây. Chỗ yếu của quan niệm này là nó chưa khẳng định cái quyền không theo tôn giáo, chống tôn giáo của người dân.
Năm là, người Việt Nam không hề có thành kiến với những người thiểu số, hoàn toàn khác văn hoá Hán coi những người thiểu số là mọi rợ, phía bắc là người Địch phía tây là người Nhung, phía nam là người Man, phía đông là người Di, và chủ trương “dĩ Hoa biến Di”. Trái lại, lịch sử Việt Nam trong mọi cuộc kháng chiến đều lấy địa bàn miền núi làm đất thánh, nhiều người miền núi là anh hùng dân tộc và tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến. Truyền thống đặc biệt Việt Nam này được đúc lại trong câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Chỗ yếu của khái niệm này là không có đường lối cải thiện, thay đổi cuộc sống của đồng bào miền núi.
Quan trọng hơn cả là chính tinh thần yêu nước này đã đem đến một kết quả phi thường gần như không lặp lại trong lịch sử loài người. Tộc người nhỏ bé ấy sống bên cạnh một nước đông người nhất, có truyền thống đế chế lâu dài, và thành công nhất, với sức mạnh quân sự nhiều lúc lớn nhất và những đạo quân đông đảo nhất nhân loại đã bao lần quyết ăn tươi nuốt sống Việt Nam. để tồn tại, nó bắt buộc phải xây dựng cho mình ý thức mọi người trong nước là con tiên cháu rồng, sống chết vì Tổ quốc, một tôn giáo tổ quốc luận, lòng tôn thờ mọi người có công lao đối với Tổ quốc, quê hương. Có thế mới đánh bại được mọi cuộc xâm lăng. Từ thế kỷ IX đến năm 1884, thời gian quân thù chiếm Việt Nam chỉ trên 23 năm một chút, chủ yếu vào thời Minh chiếm 20 năm, còn lịch sử Việt Nam là lịch sử độc lập. Dù quân địch đông đến đâu, 45 vạn quân Tống, 50 vạn quân Nguyên, 80 vạn quân Minh, 20 vạn quân Thanh cũng đều phải tháo chạy. Tôi chỉ nhắc chuyện nhà Trần chống quân Nguyên lần thứ hai làm thí dụ.
Năm 1258, quân Nguyên sau khi đã chiếm một lãnh thổ rộng lớn bao gồm toàn bộ Trung Hoa, Turkestan, Trung á, vùng thảo nguyên mênh mông từ sông Irtich đến sông Volga, phần lớn đất đai của Kavkaz cho con là Thoát Hoan cầm 50 vạn quân sang đánh chiếm Đại Việt. Rút kinh nghiệm thất bại lần trước, quân Nguyên sai Toa Đô đem thuỷ quân đánh chiếm Champa để có điều kiện đánh chiếm Đại Việt cả hai mặt bắc và nam. đại Việt đem hai vạn quân cùng với 500 chiến quyền trợ giúp Champa, đánh bại thuỷ quân của Toa Đô. Người cầm đầu họp hội nghị Bình Than, mọi người thét lớn: “Quyết chiến!”. Cậu bé Trần Quốc Toản không được dự, tức tối cầm quả cam bóp nát lúc nào không biết. Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ bất tử. Trong cái thời cả thế giới sợ quân Mông Cổ như sợ cọp, thì tướng sĩ Đại Việt khắc hai chữ “Sát Thát” vào cánh tay. Trần Bình Trọng bị giặc dụ hàng, thét lớn: “Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Rồi ngửa cổ chịu chém. Chính chiến thắng nhà Trần đã cứu cả Đông Nam á thoát khỏi sự xâm lược của Mông Cổ và cứu Nhật Bản thoát khỏi họa xâm lặng.
Chỉ cần ta so sánh Việt Nam với Trung Hoa là nước theo chính Tôn Trung Sơn thừa nhận năm 1924 là chưa có tinh thần dân tộc: “Xét theo tình hình tập quán xã hội trong lịch sử Trung Quốc, tôi có thể nói bằng một câu giản đơn, chủ nghĩa dân tộc là chủ nghĩa quốc tộc. Cái mà người Trung Quốc sùng bái nhất là chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, không phải chủ nghĩa quốc tộc… Đối với gia tộc và tông tộc, người Trung Quốc có sức liên kết vô cùng mạnh… Còn đối với quốc gia, trước nay người ta chưa hề có một lần hy sinh với tinh thần cực lớn, do đó sức đoàn kết của người Trung Quốc chỉ có thể đạt đến tông tộc, chưa mở rộng đến quốc tộc” (Chủ nghĩa Tam Dân, Bài I, Viện thông tin KHXH xb, Hà Nội, 1995).
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Phan Ngọc
Để tránh những hiểu lầm không cần thiết, tôi không dùng chữ chủ nghĩa dân tộc đối với Việt Nam mà dùng chữ tinh thần yêu nước.
Tinh thần yêu nước của Việt Nam ra đời trong một hoàn cảnh khác hẳn với Trung Quốc và phương Tây.
Một nghìn năm Bắc thuộc với bao khổ cực, nhục nhã đã dạy cho người Việt Nam biết rằng họ chỉ có thể tồn tại bằng cách đoàn kết nhau thành một khối, vượt lên khỏi mọi chia rẽ về tầng lớp, tài sản, quyền lợi, phân chia giữa người miền xuôi và người miền ngược. Không phải quyền lợi giai cấp tạo nên tinh thần yêu nước mà quyền sống thành người. Nhà nước dân tộc của Việt Nam đã hình thành vào bậc sớm nhất của loài người. đây là trường hợp cá biệt. Một Nhà nước dân tộc chỉ ra đời khi tất cả mọi người của dân tộc này thấy mình không phải chỉ là người của một tầng lớp, một địa phương, một văn hoá, một ngôn ngữ, hay một tộc người riêng biệt, mà vượt lên tất cả, họ còn là những người dân của một Tổ quốc chung, sống chết có nhau, trong đó những phân biệt về của cải, địa vị xã hội, nguồn gốc xuất thân đều là hết sức thứ yếu bên cạnh cái chung, suốt đời không có cách nào thay đổi, trong mọi điều kiện, dưới mọi chế độ chính trị, dù sống bất kỳ ở đâu. Đó là Tổ quốc Việt Nam.
Câu chuyện tinh thần yêu nước hình thành vào lúc nào thì còn phải bàn, nhưng các biểu hiện của nó là hiển nhiên không ai chối cãi được. Tôi cảm thấy bắt buộc phải nói những điều này, bởi vì bệnh sùng bái văn hoá phương Tây hiện còn rất nặng, cho rằng Việt Nam chỉ biết bắt chước, không có sáng tạo độc lập. Nếu cách hiểu ấy được duy trì, làm sao ta có thể xây dựng một nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn trong điều kiện tiếp xúc với văn minh hậu công nghiệp?
Một Nhà nước dân tộc phải có những điều kiện dưới đây. Vì những điều kiện này đều là then chốt của một nhận thức triết học về văn hoá Việt Nam cho nên cần phải nói rõ cả mặt mới của nó cũng như mặt thiếu sót của nó chưa phải là hiện đại mà ta phải khắc phục. Có một vài điểm là tiếp thu của Trung Quốc, nhưng không phải để theo chế độ tông tộc của Trung Quốc mà để xây dựng tinh thần yêu nước của Việt Nam.
Một là, một chính quyền thống nhất từ trung ương tới địa phương, điều này đã thực hiện từ thời đinh Tiên Hoàng sau khi dẹp loạn 12 sứ quân. Giai đoạn duy nhất có sự chia rẽ là giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhưng xét về thực chất, đây chỉ là giai đoạn đối địch nhau giữa hai tập đoàn thống trị, còn về danh nghĩa chỉ có một nước là Đại Việt và một triều đại là nhà Lê. điều này chỉ có thực sự ở châu Âu vào thế kỷ XIX. Còn vào thế kỷ XVI chẳng hạn, chỉ có những công quốc đối lập nhau do các lãnh chúa thống trị. Vào thế kỷ XVIII một năm có bao nhiêu ngày thì nước Đức có bấy nhiêu công quốc độc lập. Mặt yếu của chính quyền này, đó là về cơ bản nó chưa thực sự phổ biến đến tận làng xã, cho nên Việt Nam có câu “Phép vua thua lệ làng”.
Hai là, pháp luật thống nhất chung cho mọi người trong một nước. Châu Âu chỉ có pháp luật chung cho mọi người với bộ luật Napoléon vào đầu thế kỷ XIX, còn trước đó việc cai trị là dựa vào những bộ luật riêng có tính chất đẳng cấp của nhà thờ hay của các lãnh chúa. Trái lại, ở Việt Nam năm 1042 bộ Hình thư của Lý Thái Tổ đã nhân danh Nhà nước chung để quy định những hạn chế của tầng lớp quý tộc, rồi bộ luật đời Lê đã là pháp luật mang tính độc đáo của Việt Nam và chung cho mọi người Việt Nam. Chỗ yếu của pháp luật này, đó là nó chỉ mới bó hẹp vào mặt hình luật và một vài điểm về hộ luật chưa có dân luật theo nghĩa quyền lợi của người dân không ai được vi phạm.
Ba là, việc được bổ làm quan phải do thi cử học hành, không phải do con ông cháu cha mà có được. Điều này ở châu Âu chỉ xuất hiện vào thế kỷ XIX, còn ở Việt Nam đã có vào thế kỷ XI. Chỗ yếu của học vấn này là nó chỉ bó hẹp vào từ chương chưa mở rộng ra mặt kỹ thuật, khoa học, quản lý kinh tế, xã hội.
Bốn là, con người được xét độc lập với tôn giáo. Điều này ra đời ở phương Tây rất muộn vào thế kỷ XVIII, còn ở Việt Nam mọi người là như nhau, anh theo đạo Phật, đạo Lão hay không theo đạo nào ngoài việc thờ cúng tổ tiên là chuyện cá nhân. Tôn giáo không có vai trò gì to lớn trong lịch sử Việt Nam, trái lại nó là cản trở lớn nhất cho các cuộc cải cách văn hoá ở phương Tây. Chỗ yếu của quan niệm này là nó chưa khẳng định cái quyền không theo tôn giáo, chống tôn giáo của người dân.
Năm là, người Việt Nam không hề có thành kiến với những người thiểu số, hoàn toàn khác văn hoá Hán coi những người thiểu số là mọi rợ, phía bắc là người Địch phía tây là người Nhung, phía nam là người Man, phía đông là người Di, và chủ trương “dĩ Hoa biến Di”. Trái lại, lịch sử Việt Nam trong mọi cuộc kháng chiến đều lấy địa bàn miền núi làm đất thánh, nhiều người miền núi là anh hùng dân tộc và tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến. Truyền thống đặc biệt Việt Nam này được đúc lại trong câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Chỗ yếu của khái niệm này là không có đường lối cải thiện, thay đổi cuộc sống của đồng bào miền núi.
Quan trọng hơn cả là chính tinh thần yêu nước này đã đem đến một kết quả phi thường gần như không lặp lại trong lịch sử loài người. Tộc người nhỏ bé ấy sống bên cạnh một nước đông người nhất, có truyền thống đế chế lâu dài, và thành công nhất, với sức mạnh quân sự nhiều lúc lớn nhất và những đạo quân đông đảo nhất nhân loại đã bao lần quyết ăn tươi nuốt sống Việt Nam. để tồn tại, nó bắt buộc phải xây dựng cho mình ý thức mọi người trong nước là con tiên cháu rồng, sống chết vì Tổ quốc, một tôn giáo tổ quốc luận, lòng tôn thờ mọi người có công lao đối với Tổ quốc, quê hương. Có thế mới đánh bại được mọi cuộc xâm lăng. Từ thế kỷ IX đến năm 1884, thời gian quân thù chiếm Việt Nam chỉ trên 23 năm một chút, chủ yếu vào thời Minh chiếm 20 năm, còn lịch sử Việt Nam là lịch sử độc lập. Dù quân địch đông đến đâu, 45 vạn quân Tống, 50 vạn quân Nguyên, 80 vạn quân Minh, 20 vạn quân Thanh cũng đều phải tháo chạy. Tôi chỉ nhắc chuyện nhà Trần chống quân Nguyên lần thứ hai làm thí dụ.
Năm 1258, quân Nguyên sau khi đã chiếm một lãnh thổ rộng lớn bao gồm toàn bộ Trung Hoa, Turkestan, Trung á, vùng thảo nguyên mênh mông từ sông Irtich đến sông Volga, phần lớn đất đai của Kavkaz cho con là Thoát Hoan cầm 50 vạn quân sang đánh chiếm Đại Việt. Rút kinh nghiệm thất bại lần trước, quân Nguyên sai Toa Đô đem thuỷ quân đánh chiếm Champa để có điều kiện đánh chiếm Đại Việt cả hai mặt bắc và nam. đại Việt đem hai vạn quân cùng với 500 chiến quyền trợ giúp Champa, đánh bại thuỷ quân của Toa Đô. Người cầm đầu họp hội nghị Bình Than, mọi người thét lớn: “Quyết chiến!”. Cậu bé Trần Quốc Toản không được dự, tức tối cầm quả cam bóp nát lúc nào không biết. Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ bất tử. Trong cái thời cả thế giới sợ quân Mông Cổ như sợ cọp, thì tướng sĩ Đại Việt khắc hai chữ “Sát Thát” vào cánh tay. Trần Bình Trọng bị giặc dụ hàng, thét lớn: “Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Rồi ngửa cổ chịu chém. Chính chiến thắng nhà Trần đã cứu cả Đông Nam á thoát khỏi sự xâm lược của Mông Cổ và cứu Nhật Bản thoát khỏi họa xâm lặng.
Chỉ cần ta so sánh Việt Nam với Trung Hoa là nước theo chính Tôn Trung Sơn thừa nhận năm 1924 là chưa có tinh thần dân tộc: “Xét theo tình hình tập quán xã hội trong lịch sử Trung Quốc, tôi có thể nói bằng một câu giản đơn, chủ nghĩa dân tộc là chủ nghĩa quốc tộc. Cái mà người Trung Quốc sùng bái nhất là chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, không phải chủ nghĩa quốc tộc… Đối với gia tộc và tông tộc, người Trung Quốc có sức liên kết vô cùng mạnh… Còn đối với quốc gia, trước nay người ta chưa hề có một lần hy sinh với tinh thần cực lớn, do đó sức đoàn kết của người Trung Quốc chỉ có thể đạt đến tông tộc, chưa mở rộng đến quốc tộc” (Chủ nghĩa Tam Dân, Bài I, Viện thông tin KHXH xb, Hà Nội, 1995).
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,