Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Nhân 80 năm năm sinh nhà thơ Hoàng Trung Thông (1925-2005)

0 trả lời, 640 lượt xem — Trang 1 / 1
Nhân 80 năm năm sinh nhà thơ Hoàng Trung Thông (1925-2005)

Phong Lê

(Hoàng Trung Thông viện trưởng và nhà thơ đồng hương của tôi)

Tôi có kỷ niệm 10 năm cùng làm việc và ngót 50 năm biết Hoàng Trung Thông. Biết ông, vì ông là đồng hương xứ Nghệ, một nhà thơ nổi tiếng mà từ tuổi học trò, không chờ đến khi được phổ nhạc, tôi đã thuộc Bao giờ trở lại? cùng với Bài ca vỡ đất, với những vần thơ gân guốc, chắc nịch như chất người Nghệ Tĩnh quê tôi, quá quen với nắng hạn và gió Lào khô khát. Biết kỹ hơn về ông, khi tôi vào nghề, qua các cương vị ông đảm nhiệm trước khi ông về Viện Văn học năm 1975, để nhận chức trách Viện trưởng. Đó là Tổng biên tập, là Giám đốc một số cơ quan báo chí, xuất bản… Và cuối cùng là Vụ trưởng Vụ Văn nghệ Ban Tuyên huấn Trung ương - nơi phát các tín hiệu quan trọng cho định hướng công tác của các cơ quan văn hoá, văn nghệ trong cả một thời dài.

Biết ông, với sự kính trọng và ngưỡng mộ, không chỉ ở tư cách nhà thơ nổi tiếng thuộc thế hệ thứ hai nền thơ Việt Nam sau 1945 - thế hệ kháng chiến chống Pháp mà còn ở tư cách người lãnh đạo; nên khi được biết ông sẽ là Viện trưởng - thủ trưởng mới của mình, tôi không cảm thấy ngạc nhiên nhiều lắm; mặc dù có những điều hơi không bình thường trong câu chuyện này. Chẳng hạn Viện trưởng Đặng Thai Mai lúc bấy giờ, sau khi ông Hoài Thanh chuyển sang Hội Nhà văn, cuối 1969, đã có ba Viện phó, cả ba cùng về Viện với ông từ trước và sau 1960, nhưng sao ông lại không chọn một trong ba người? Chẳng hạn Hoàng Trung Thông kém Đặng Thai Mai những 23 tuổi; với độ chênh ấy, sao vẫn giành được sự tin cậy của Đặng Thai Mai? Đó là không kể, ông là nhà thơ, ngay từ khi xuất hiện; và như sau này ta đã biết, cho đến khi qua đời, ông vẫn trung thành với ông là một nhà thơ; và chỉ riêng là một nhà thơ (có kiến thức) như ông cũng đã là quá đủ, chứ đâu cần đến những là Phó Giáo sư, Giáo sư, Viện sĩ… để mà làm Viện trưởng!

Không ngạc nhiên khi đón Viện trưởng mới là Hoàng Trung Thông, nhưng sự tò mò thì vẫn còn. Hãy thử xem ông nhà thơ này điều hành như thế nào một cái Viện thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội - tức là một Viện Hàn lâm khoa học hẳn hoi, chứ không phải thuộc Ban Tuyên huấn, hay Bộ Văn hoá, hoặc Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật… Và tò mò là có lý. Thế nhưng sự tò mò không kéo quá lâu. Chỉ sau một thời gian ngắn, tính bằng tháng, chứ không phải bằng năm, ông đã hoà được vào guồng chung của Viện, mà không quan tâm lắm đến những nghi thức, bàn giao, họp hành, xử lý quan hệ cá nhân. Tôi nhớ có cuộc họp để chia tay một Viện phó chuyển sang cơ quan khác, nhưng ông này lại không đến dự, và ông Thông tuyên bố ngay giữa đông đủ cán bộ cơ quan là dẹp bỏ cuộc liên hoan chia tay. Và ông thâm nhập sâu vào các Ban chuyên môn, nắm các chuyên gia, bắt đầu từ hai Ban Cổ Cận đại và Hiện đại; và cho triển khai ngay những công việc gắn với thời kỳ mới của cách mạng thật mới mẻ và ngổn ngang sau Đại thắng mùa xuân 1975, trong khi cuộc chiến vẫn diễn ra khốc liệt ở hai đầu biên giới phía Bắc và Tây Nam.

Một số công trình quan trọng của Viện về Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh; về truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm trong lịch sử văn học Việt Nam; về văn học chống Pháp và văn học chống Mỹ… đã ra đời trong những năm này.

Không cần quá lâu để hiểu được khả năng thích ứng và chủ động của Hoàng Trung Thông trong cương vị mới này. Ông được sự tin cậy của Giáo sư Đặng Thai Mai. Ông có một vốn tri thức vững vàng về văn học dân tộc gắn với sự nhạy bén trước những vấn đề của sinh hoạt tư tưởng và văn học đương đại. Tuy chưa đến trình độ uyên thâm của một học giả như Đặng Thai Mai, nhưng ông có sự hiểu biết cả hai nền văn hoá Đông - Tây. Tóm lại, vừa là một người lãnh đạo, đã từng chèo chống cho đời sống văn học đi đúng đường lối văn nghệ của Đảng, ông còn là một nhà thơ có kiến thức. Cái kiến thức, với cả chiều rộng và chiều sâu cần thiết của nó, quả không có nhiều trong giới sáng tác, trừ một số ít người như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi… Có thế, Hoàng Trung Thông mới có thể tiếp tục Đặng Thai Mai để điều hành công việc ở phía dưới, và đối thoại với phía trên, trong một cơ quan nghiên cứu học thuật. Đó là điều quan trọng nhất. Thiếu nó, không được. Không kể những phẩm chất khác ở một người lãnh đạo mà ông đã quá quen, trong trường hoạt động chính trị, khi được điều về một số cơ quan còn đang xộc xệch vì mất đoàn kết nội bộ quá lâu như Viện Văn học thời kỳ 1970-1975, sau khi nhà phê bình, Phó Viện trưởng Hoài Thanh rời Viện.

Thời Hoàng Trung Thông làm Viện trưởng cũng là thời tính chiến đấu được đưa lên hàng đầu trong mục tiêu công tác của Viện. Ông là người đã thay mặt Viện đọc báo cáo trong Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ Ba, năm 1983, khẳng định vị trí người công tác lý luận - phê bình "không những chỉ là người lính gác mà còn là người lính xung kích". Cái định danh lính gác và xung kích này đến bây giờ nghe ra không thiện cảm lắm, nhưng cả một thời dài là như thế, khi công tác lý luận phê bình được xem là "một phương thức chỉ đạo của Đảng trên mặt trận văn hoá - văn nghệ". Do vậy việc điều một Vụ trưởng Vụ Văn nghệ thuộc cơ quan Đảng về lãnh đạo Viện Văn học thuộc hệ thống các cơ quan nghiên cứu khoa học không những là có thể, mà còn là cần thiết trong hoàn cảnh ấy; nhất là khi vị Vụ trưởng ấy là Hoàng Trung Thông - một người có kinh lịch hoạt động dầy dặn và có cái vốn tri thức văn hoá đáng vị nể.

Nhưng Hoàng Trung Thông còn là một nhà thơ, và là nhà thơ xứ Nghệ. Với tư cách này, ông có thêm cái lợi thế gần gụi, giản dị, dễ hoà nhập với anh chị em cán bộ trong và ngoài Viện. Trong lịch sử Viện, cho đến thời Hoàng Trung Thông, và kể cả sau này, tôi chưa thấy có bậc lãnh đạo nào yêu mến và gần gũi với chị em phụ nữ, và được chị em phụ nữ yêu mến như Hoàng Trung Thông. Có một bà vợ rất yêu chồng, và rất mến bạn bè của chồng, nhà ông thường xuyên có những cuộc liên hoan mà khách mời thường là chị em phụ nữ của viện. Chỉ chị em thôi, còn các đức ông chồng thì chỉ có phận sự đưa vợ đến 70 Ngô Quyền rồi trở lui về nhà hoặc về lại Viện. Thường xuyên ghé vào các Ban chuyên môn để trò chuyện là thói quen của ông. Kéo anh em, hoặc được anh em kéo vào những quán cóc, để uống chè, có thêm chén rượu; ở đó những chuyện chung và riêng, công và tư đều có thể giãi bày. Xuề xoà là thế nhưng đừng tưởng là ông quá đà, để có thể "bẫy" được ông; bởi "phương diện quốc gia" và sự tỉnh táo của thủ trưởng vẫn là nét chi phối ông, cho đến trước khi ông về hưu, năm 1985, ở tuổi chẵn 60.

10 năm ở cương vị Viện trưởng ông đã làm được rất nhiều cho Viện Văn học. Còn chúng tôi, trong 10 năm thời ông, chúng tôi cũng đã làm được rất nhiều việc. 10 năm gắn với một thời cuộc tuy đã vãn tiếng súng nhưng vẫn còn rất căng thẳng và nguy hiểm. Đại thắng mùa xuân nhưng chưa hết chiến tranh. Đất nước thống nhất nhưng còn bao điều phải giải quyết cho sự hoà hợp dân tộc. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có trên 15 năm, nhưng đang đi vào thế kẹt của thời bao cấp khiến cả dân tộc điêu đứng như gương mặt một người "mất sổ gạo". Vào thời điểm ấy, mọi hoạt động nghề nghiệp gần như đều hướng vào phương châm "Tự cứu", để tồn tại - chữ tồn tại được hiểu cả theo nghĩa đen và nghĩa bóng.

Một thời - thời của Viện trưởng Hoàng Trung Thông quả rất đáng nhớ trong lịch sử 50 năm Viện Văn học.

Một hiện tượng có vẻ ngẫu nhiên khiến tôi lưu tâm nhiều nhất, bởi có liên quan đến cá nhân, đó là: Hoàng Trung Thông về Viện và nhận chức trách Viện trưởng đúng ở tuổi 50. Cũng như trước đó, ông Hoài Thanh về Viện ở tuổi chẵn 50. Tuổi 50, qua quan sát hai bậc thầy và bậc anh là Hoài Thanh và Hoàng Trung Thông, tôi thấy họ rất năng động, vừa đủ độ chín, vừa vẫn có sự nhanh nhẹn, trẻ trung. Hoài Thanh hàng ngày đi xe đạp từ 10 Nguyễn Thượng Hiền - bên kia Hồ Thuyền Quang, đến 20 Lý Thái Tổ. Còn Hoàng Trung Thông thì đi bộ từ 70 Ngô Quyền đến Viện. Thời "8 giờ vàng ngọc", thời "mỗi người làm việc bằng hai", thời hoạt động nhịp nhàng của "bộ tứ": Đảng, Chính quyền, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, lãnh đạo phải có ý thức làm gương. Về phần tôi, được bầu và cử vào chức trách Viện trưởng ở tuổi 50, do biết mình thuộc thế hệ hậu sinh nên luôn luôn có ý thức phấn đấu theo gương hai vị tiền bối, để không lúc nào được phép mệt mỏi, và đòi hỏi.

Còn một điều đáng lưu ý khác. Cả ba đều là người xứ Nghệ và đều có một thời điểm không bình thường. Ông Hoài Thanh chuyển cơ quan năm 59 tuổi, ông Thông về hưu đúng tuổi 60, còn tôi - thôi Viện trưởng ở tuổi 57.

*

Với tôi, Hoàng Trung Thông là bậc đàn anh trong nghiệp nghiên cứu và 10 năm là thủ trưởng của tôi. Nhưng trong tôi, ông luôn luôn là một nhà thơ. Tôi không muốn tách hai tư cách này ở ông, bởi với ông, cả hai là không bài trừ nhau mà bổ sung cho nhau. Tuy không phải là người thuộc nhiều thơ ông - vì thơ ông nhìn chung không dễ thuộc, nhưng tôi vẫn cảm nhận được rõ ràng về ông như nhiều người. Đó là một hồn thơ chân chất, khoẻ khoắn, chắc nịch, mà chỉ riêng tên quyển, tên bài đã nói lên điều đó: Bài ca vỡ đất, Quê hương chiến đấu, Đường chúng ta đi, Trong gió lửa… Việc xác định một giọng điệu riêng cho thơ ông quả là không khó lắm. Với Hoàng Trung Thông, bất cứ lúc nào, bạn đọc cũng đều có chung một liên tưởng. Đó là nhà thơ của Bài ca vỡ đất, nhà thơ của câu thơ:

Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

Thế nhưng, với tôi Hoàng Trung Thông không chỉ là một tiếng thơ rắn rỏi. Không phải chỉ là tiếng nói của lý trí, theo lối tam đoạn luận. Mà đôi lúc còn là một tiếng thơ mềm của cảm xúc, của những bâng khuâng với rất nhiều lưu luyến trong tình người. Tôi nhớ lần đầu tiên được ngạc nhiên về thơ ông, là năm 1962, khi được đọc chùm thơ ông viết về vùng cao, trong đó có bài Chợ Cô Sầu:

Chợ Cô Sầu

Chẳng có ai sầu

Khăn thêu thổ cẩm, vải khoe màu

Người đi trẩy hội hay đi chợ?

Anh đợi em hoài em ở đâu?


Chợ Cô Sầu

Chẳng có ai sầu

Gà vịt nhiều hơn khoai với nâu

Nón tre, túi vải, người như nước

Anh đợi lâu rồi em đứng đâu?

(…)

Chợ Cô Sầu

Lất phất mưa bay

Đừng sợ đường trơn anh dắt tay

áo chàm ai nhuộm mà xanh thế

Không rượu nhưng lòng vẫn cứ say.

Mạch thơ này còn được ông tiếp tục trong nhiều năm, với Thu Sapa:

Gió rét chớm về đào mận hết

Người Mèo xuống phố bán dâu gia

Sapa một góc trời thu đẹp

Rừng sa mu đứng gội mù sa.

Trở lại với Chợ Cô Sầu. Đây là những khổ thơ thật hay, bởi nó đến được với cái say, cái mê - đắm của tình người, tình đời. Anh đợi em hoài, và Anh đợi lâu rồi - một chữ hoài ngọt lịm. Và Em ở đâu?, rồi Em đứng đâu? với biết bao là khắc khoải! Chuyện thơ vô tư mà cứ như là chuyện của một đôi bạn tình giữa bâng khuâng đất trời Trùng Khánh - Cao Bằng. Tôi cứ muốn hình dung nhà thơ ở tuổi 37 còn rất trẻ đang mong và mừng đón một cơn mưa lất phất, với đường trơn để được dắt tay một thiếu nữ H’mông hoặc Dao đỏ, hoặc Sán Dìu váy hoa sặc sỡ và ô dù loè xoè trên đường xuống chợ. Chợ Cô Sầu xứng đáng đứng bên những bài thơ hay nhất của Huy Cận, Xuân Diệu, Tố Hữu, Chế Lan Viên… vào những năm mở đầu thập niên 60 (thế kỷ XX) miền Bắc lâng lâng đi vào cái duyên đầu với chủ nghĩa xã hội: "Có gì đẹp trên đời hơn thế. Người yêu người sống để yêu nhau" (Tố Hữu: Bài ca mùa xuân 1961).

Một thứ men say như rượu, hoặc rượu với men say của nó, đã xuất hiện trong Chợ Cô Sầu năm 1962. Cái say vừa độ cho con người nhìn cuộc đời trong lung linh của niềm vui và vẻ đẹp trữ tình. Vài chục năm sau, rượu sẽ xuất hiện ngày một nhiều hơn trong thơ Hoàng Trung Thông. Nhưng khi cái say là thường xuyên, là triền miên, không còn là vừa độ thì nhà thơ sẽ không còn thấy gì ngoài mình với cái bóng của mình. Nếu có một cái gì của ngoại cảnh thường gây ám ảnh đối với người thơ lúc này thì đó là Trăng. Người thuộc thơ Đường, mê Đỗ Phủ và Lý Bạch là Hoàng Trung Thông lại càng hay nghĩ đến Trăng. Trăng sẽ tràn ngập trong thơ ông 30 năm sau; và người đi "vỡ đất" 50 năm trước cùng với đoàn nông binh áo vải, bây giờ đã thành một ông cụ với râu tóc loà xoà bạc trắng, một mình cầm chén "mời trăng" trong cô đơn ở tuổi chưa đầy 70.

Trở lại với những vần thơ mang cốt cách Hoàng Trung Thông, tôi lại nhớ đến bài Trưa ở Hưng Long. Đây là bài ông làm trong dịp cùng ba cán bộ Viện Văn học, trong đó có tôi, làm một chuyến hành hương về xứ Nghệ, vào cái thời xứ này có khẩu hiệu "sắp xếp giang sơn" của ông Trương Kiện. Về vào giữa mùa hè chói gắt, chúng tôi đã ở lại Hưng Long một trưa - cái trưa sau này đã vào thơ ông hệt như một bức sơn dầu với những mảng mầu thật vạm vỡ:

Buổi trưa Hưng Long dừa đọng nắng

Lửa trải gay gắt trên sân phơi

Trang lạc trang thóc mình ướt đẫm

Lạc với thóc nhiều hơn mồ hôi

Buổi trưa Hưng Long trời trong veo

Gió thổi lá bay vào trước ngõ

Cá đang quẫy mạnh dưới chân bèo

Nóng quá cá lên tìm ít gió

Từ Hưng Long trở về Vinh, chúng tôi đi tiếp vào Hà Tĩnh. ở Hà Tĩnh, ông bị lên một cơn huyết áp cao, phải cấp tốc đưa ra bệnh viện Vinh; và tôi nhớ, mọi người đều rất lo lắng bởi huyết áp ông lên đến 180/250.

Sau này bệnh huyết áp không rời ông. Nhưng điều kỳ lạ là, với trạng thái huyết áp như ông, nếu là người khác thì đã rất sớm xảy ra tai biến rồi. Nhưng với ông, thành mạch thật dẻo dai. Trong đồng hành với rượu và trong chống chọi với bệnh tật ông vẫn là một nông binh bướng bỉnh. Có dễ trên hơn 10 năm trước khi mất, ông không rời rượu. Dẫu có bệnh hiểm, và dẫu sức khoẻ xuống trông thấy, ông vẫn uống rượu đều, thường xuyên, không nhiều, nhưng chóng say. Cho đến lúc này, khi chưa vào ngưỡng 70, chỉ còn rượu và thơ là bạn của ông. Rượu toả men vào thơ, còn thơ là hình ảnh ông với rượu và ông trong rượu.

Không phải chỉ lúc ấy, mà cho đến bây giờ, khi tôi viết bài này, tôi vẫn chưa giải thích được cái câu hỏi vì sao, một người như ông lại tìm đến rượu, và quyết không bỏ rượu, hoặc không thể bỏ được rượu?


(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0