Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Phê bình văn nghệ từ góc nhìn tư tưởng và thẩm mỹ

0 trả lời, 152 lượt xem — Trang 1 / 1
Phê bình văn nghệ từ góc nhìn tư tưởng và thẩm mỹ

Trịnh Đình Khôi

Nhận rõ vai trò và tác dụng to lớn của văn nghệ trong đời sống, trong cách mạng chính trị, cải cách xã hội nên những nhà cầm quyền đều sử dụng văn nghệ như một công cụ và coi đó như một mục tiêu, một thang bậc để đánh giá sự tiến bộ của thể chế. Dân tộc chúng ta đã từng tự hào về lịch sử chống ngoại xâm và lịch sử văn hóa. Có lẽ nhờ đó nước ta được thế giới biết đến ngày nay là một địa chỉ văn hoá.

Mấy chục năm lãnh đạo, Đảng cộng sản Việt Nam đã coi văn hóa là động lực và mục tiêu của cách mạng. Có điều lãnh đạo văn hóa vốn không dễ dàng, nên nhận thức phải qua quá trình và đôi khi từ nhận thức biến thành hành động cũng không ít khó khăn. Không ai nghĩ rằng, lãnh đạo văn hóa trong giai đoạn vừa qua không hiểu đặc trưng bản chất thẩm mĩ của văn nghệ và sự khác biệt giữa văn nghệ với các hình thái ý thức khác hoặc đồng nhất chính trị với nghệ thuật, với tôn giáo, có lẽ còn vì một lý do lớn hơn, một mục tiêu văn hóa cao hơn đó là độc lập dân tộc. Vậy nên, trên phương diện lý luận cũng như trong chỉ đạo thực tiễn, chủ yếu vẫn là yêu cầu, là lời khuyên chứ không phải là mệnh lệnh và xem ra các văn bản chỉ thị, các ý kiến phát biểu đều thể hiện đòi hỏi phản ánh thẩm mỹ bên cạnh phản ánh hiện thực, yêu cầu tuyên truyền bằng văn nghệ nghĩa là có đòi hỏi phẩm chất văn nghệ từ trong bản chất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nay ở trong thơ nên có thép”. Đó là lời khuyên, là sự mong muốn do yêu cầu thời đại. Hơn thế, từ trong bản chất của văn nghệ đã tự ý thức về vai trò tư tưởng và thẩm mĩ của mình, một ý thức về chính mình trong thời đại đó. Hơn nữa đối tượng muôn thuở của văn nghệ trước hết là con người và cuộc sống của thời đại đó.

Bấy lâu trong phê bình văn nghệ, kể cả phê bình chính trị, đôi khi chúng ta lại tách sự vật, sự việc ra khỏi hoàn cảnh lịch sử cụ thể để giải thích, đánh giá và đòi hỏi ngày hôm qua phải như ngày hôm nay. Do đó dẫn đến những nhận định thiếu khách quan, khoa học và không thế thái nhân tình. Một việc làm vừa ngộ nhận vừa không tưởng. Đánh giá quá khứ để rút kinh nghiệm cho hiện tại và tiến tới tương lai, đó chính là khoa học và nhân văn. Những gì chúng ta có đã chứa đựng tinh thần của một thời, nhận thức của một thời. Nó mang dấu ấn của thời đại mà nó đang sống. Cả những tiến bộ lẫn hạn chế của nó cũng phản ánh một thời. Hơn thế, trong đó có văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức và lợi ích dân tộc, một thực tế không thể chối bỏ. Hơn nữa trong lịch sử văn hóa có phải tác phẩm văn nghệ của thời nào cũng toàn thiện toàn mĩ cả đâu. Lãnh đạo văn hóa là lãnh đạo bằng chủ trương đường lối, bằng lý luận, bằng chính sách. Xem ra trong quá trình lãnh đạo, chúng ta đã chú ý đến những điều đó, tuy có lúc có nơi chúng ta đã quá nhấn mạnh vấn đề này, coi nhẹ vấn đề kia. Lý thuyết văn tham chính, văn tải đạo khiến văn nghệ gắn với chính trị của thời đại là tất yếu, nhưng vấn đề là chính trị không phải là phẩm chất duy nhất để đánh giá văn nghệ mà có lúc công tác lý luận phê bình văn nghệ đã quá nhấn mạnh vì văn hóa nói chung, văn nghệ nói riêng chứa đựng cả kinh tế, chính trị, triết học, lịch sử, văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ...

“Lý luận phê bình” lâu nay chúng ta quen gọi thế, thực ra nó có sự liên quan giữa lịch sử nghệ thuật, lý luận nghệ thuật và phê bình nghệ thuật. Không có giới tuyến rạch ròi nhưng xét trong phạm vi hẹp thì nó có đặc trưng riêng của từng ngành. Chỉ riêng ngành phê bình cũng hình thành những khuynh hướng phê bình khác nhau xuất phát từ cách tiếp cận và thị hiếu khác nhau. Nghĩ rằng phê bình chính trị hay phê bình đạo đức, phê bình cổ điển hay phê bình xã hội học như vừa qua mà nhiều người có ý kiến cũng chỉ là những khuynh hướng gần gũi nhau. Gần đây phát triển khuynh hướng phê bình thẩm mĩ, phê bình cấu trúc. Có thể và hoặc đã xuất hiện phê bình tâm lý, phê bình phân tâm...

Cũng như nhiều người hay nhắc đến “phê” hay “bình” cái nào hay hơn cái nào. Có lẽ chúng ta nên khuyến khích mọi khuynh hướng tuỳ tâm tuỳ tài của từng người miễn là phê bình phải đảm bảo những phẩm chất cơ bản về tư tưởng và thẩm mĩ, nghệ thuật và khoa học nghĩa là hay và đúng, phải thẩm định lý giải và dự báo các hiện tượng văn nghệ, tác giả văn nghệ thông qua tác phẩm, tác giả hoặc một khuynh hướng, một trào lưu, một xu thế. Có thể ngoái nhìn văn nghệ quá khứ, văn nghệ ngoại lai và có sự so sánh đánh giá chuẩn xác, nhưng trọng tâm là văn nghệ đương đại, và phán đoán dự báo cho văn nghệ tương lai. Trong quá trình vận động của phê bình văn nghệ, các khuynh hướng cần tôn trọng nhau, chung sống với nhau, bổ sung cho nhau làm phong phú đa dạng cho nền phê bình. Khuyến khích những tìm tòi mới mẻ, có hiệu quả cho việc đổi mới nền văn nghệ. Có thể khác ý kiến nhau, thậm chí bất đồng, xung đột trên phương diện học thuật và văn hóa. Không đồng nhất sự khác biệt ấy với khác biệt thị hiếu thẩm mĩ, lối sống và cách sống cá nhân.

Nếu có loại trừ trong cuộc “cạnh tranh” văn hóa này, cũng là từ kiến thức và thực tế, ai tiếp cận chân lý ai không và cứ để tự nhiên như anh ta già, anh ta bệnh rồi anh ta sẽ chết. Đừng ép nhau chết vì ai mà chả muốn sống. Và thực tế bao nhiêu cuộc kết tội văn hóa, bỏ tù khoa học của nhân loại đều không thành công. Nhà khoa học lên giàn hỏa thiêu nhưng trái đất vẫn tròn.

Chẳng nói đâu xa, hãy lấy gương tiền nhân trong cuộc tranh luận “Duy tâm và duy vật” rồi “Nghệ thuật vị nghệ thuật với nghệ thuật vị nhân sinh” của chúng ta. Nhìn ra thế giới cũng không thiếu những cuộc tranh luận, thậm chí đụng độ gay gắt nhưng những nhà phê bình đó vẫn nguyên vẹn uy tín của những nhà phê bình và tư cách cá nhân, còn sai đúng có thể khác nhau. Người phê bình phải có ý thức về chính mình, về bạn bè mình, về giới mình trong công tác phê bình đầy khó khăn, dễ đụng chạm. Chỉ có thứ phê bình văn nghệ xuất phát từ tri thức, sự uyên bác và văn hóa cao nhằm đến mục tiêu tiến bộ cho văn nghệ, thứ phê bình kết hợp giữa mỹ học với triết học mới xác lập được vị thế cho phê bình.

Từ những khuynh hướng phê bình khởi nguyên, phê bình cổ điển đến phê bình Mác xít mà các vị đại diện của nó là Mác, Ăngghen, Lênin, Plekhanop một phần là M. Ba Khtin v.v... mới đặt ra cho phê bình một loạt vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận và kích thích tìm tòi sáng tạo trong phê bình, đổi mới cách tiếp cận, nhận thức và nhận thức lại vai trò của phê bình. Các khuynh hướng phê bình ấy đã dung nạp được những khám phá mới mẻ khác mình. Những lý thuyết ấn tượng, cấu trúc, ký hiệu... đang song hành với những khuynh hướng đã hình thành ổn định, mở đường cho phê bình phát triển. ở phương Tây dẫu có cuộc đụng độ giữa phái “Phê bình mới” với “Phê bình đại học” thì Simon Jeune vẫn kết luận đó là dấu hiệu của sự thống nhất và phát triển của phê bình. Chân lý khoa học không phải một con đường tiếp cận và cũng đừng ai nghĩ mình là duy nhất đúng, mình là độc quyền chân lý. Tính khoa học trong văn hóa, văn nghệ phải được hiểu là tương đối, nếu không thì làm gì còn chỗ cho những tưởng tượng sáng tạo. ở đây yếu tố con người, những cảm xúc thăng hoa vượt trội hơn các yếu tố “phi nhân hóa”. Say mê trong tỉnh táo. Đúng sai hay dở mất còn chỉ là tương đối. Phê bình phải nhìn bằng con mắt tương đối. Thật tuyệt vời khi Bielinski gọi: “Phê bình là mỹ học đang vận động”.

Hơn thế phải thừa nhận văn nghệ chúng ta trong hơn ba mươi năm phục vụ độc lập dân tộc mà cụ thể là phục vụ chính trị theo cách nói thông thường, thiết nghĩ đó là điều cần thiết. Nếu có hạn chế gì, yếu kém gì cũng là vì “gặp thời thế thế thời phải thế”. Thế cuộc có khi biến, có khi thường, tại sao ta lại đòi hỏi biến cũng như thường, như vậy có phải phi thực tế, phi khoa học thậm chí còn phi đạo lý nữa.

Thế nhưng từ sau đất nước thống nhất, nhất là từ ngày đổi mới, phê bình văn nghệ chúng ta được tiếp cận và chịu ảnh hưởng của lý luận văn nghệ nước ngoài đã có một sự đổi mới đáng kể. Trước hết là sự đổi mới của tư duy lý luận trong định hướng văn nghệ, quản lý văn nghệ, đánh giá văn nghệ. Yếu kém, hạn chế của lý luận phê bình là tự thân của lý luận phê bình trong quá trình vận động từ cũ sang mới. Đặc biệt đội ngũ phê bình quen với lối phê bình cũ, lớp phê bình mới có nhiều tìm tòi học hỏi bên ngoài nhưng có tri thức mà thiếu sự say mê dấn thân trong phê bình thì cũng khó thành công. Tư duy khoa học hiện đại phải được bổ sung cho cái đã có là truyền thống nhân văn cổ điển, tư tưởng chính trị truyền thống. Không nên dị ứng với những sáng tác mới lạ, cần tiếp cận được với văn nghệ bên ngoài, với những thi pháp đã bỏ qua chủ nghĩa hiện thực. Phải có một con người nghệ sĩ, trong một nhà khoa học mới có đủ tinh tế để cảm nhận và truyền thụ cho người khác. Hơn thế, phải thấy một bước tiến mới của văn nghệ và cũng là của khoa học văn nghệ trong việc khám phá ra bản chất văn nghệ, quá trình sáng tạo văn nghệ, thưởng thức văn nghệ...

Khi phê bình văn nghệ thế giới đã xác lập được mối quan hệ tương hỗ bên trong với lý luận và lịch sử văn nghệ thì chúng ta vẫn rất yếu về lý luận, còn phê bình thì vẫn thực thi lối phê bình cũ, vẫn cách nhìn phản ánh hiện thực. Chưa đi sâu vào phản ánh thẩm mỹ, chưa ngã ngũ giữa nhận thức luận hay bản thể luận trong phê bình. Phương pháp tiếp cận mới của phê bình như phương pháp nghệ thuật ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách nghệ thuật có được biết đến nhưng chưa được áp dụng nhiều trong phê bình của ta. Phê bình văn nghệ chưa thẩm thấu được vai trò triết học và lý luận, dị ứng với những gì mới mẻ khác lạ. Thiếu những bài phê bình hay đạt trình độ sáng tạo, coi như một sáng tác nói về sáng tác. Gần đây có ý kiến đề xuất phải chuyên nghiệp hóa đội ngũ, điều đó hoàn toàn đúng. Chúng ta lâu nay lạm phát các loại thủ trưởng mà thiếu những thủ lĩnh chuyên gia, thì đội ngũ lý luận và phê bình cũng vậy, thiếu những chuyên gia. Đây nói về trình độ chuyên gia chứ không phải chuyên viết phê bình. Không nên có chuyện chê bai các nhà giáo, những người sáng tác viết phê bình . Một “Mài sắt nên kim:, “Dao có mài mới sắc” của Xuân Diệu, những tập tiểu luận của Nguyễn Đình Thi, của Chế Lan Viên.v.v... có phải lý luận phê bình không. Nếu thấu hiểu lẽ đời “Nhất dĩ quán chi” thì phải lấy làm mừng cho lý luận phê bình về điều này. Tất nhiên hoan nghênh phê bình của nhà sáng tác, coi nhà phê bình như một nhà sáng tác chính là đề cao sáng tạo của phê bình. Tác phẩm phê bình là sáng tác nói về sáng tác, thẩm bình dựa vào cảm quan trực giác, thực hiện cuộc lãng du tâm hồn trên tác phẩm để định giá nó theo ấn tượng chủ quan chỉ là một khuynh hướng và có thể thành công khi trực cảm thẩm mĩ gần với chân lý khoa học.

Khác với lối phê bình trên là phê bình thực chứng, phê bình xã hội tiếp cận tác phẩm bằng lý trí khoa học, bằng định hướng chính trị, đạo đức. Cả hai khuynh hướng trên đang diễn ra trong phê bình văn nghệ hiện nay. Như vậy nó không thể bao quát những vấn đề lớn của văn nghệ. Điều mà chúng ta đang hướng tới là phê bình có sự hài hòa giữa tính nghệ thuật và tính khoa học, giữa cảm xúc và tri giác, giữa am hiểu quy luật đặc thù của văn nghệ với các quy luật chung khác. Phê bình văn nghệ không chỉ là tiếng nói cá nhân nhà phê bình mà như tiếng chim gọi bầy, tìm thấy sự đồng tình, đồng điệu, đồng vọng của tác giả và công chúng. Nó chỉ đạt được điều này khi nói trúng, nói đúng, nói hay về những Vấn đề làm xúc động trái tim, thức tỉnh trí tuệ.

Lịch sử phê bình văn nghệ nước ta chưa dài lắm và cũng ít có sự đụng độ về phương pháp hoặc khuynh hướng những thứ xem ra còn sang trọng. Gần đây chúng ta mới có sự va chạm trên thái độ phê bình và văn hóa phê bình. Tuy nhiên phải thừa nhận sau nó một cách khách quan đã bộc lộ những khuynh hướng phê bình khác nhau. Không đồng dạng một chiều như trước đây, nhưng chưa chuyên sâu khuynh hướng của mình, cũng như đạt được những tiến bộ gì lớn thì đã quay sang phê phán những khuynh hướng khác mình. Lối tư duy khác mình là xấu là dở, là không chính thống, là cách tư duy rất cũ, rất không khoa học. Mỗi khuynh hướng có những hạt nhân hợp lý của nó chỉ trừ nó không tồn tại. Châu Âu đã từng diễn ra phê bình cổ điển, phê bình lãng mạn, phê bình thực chứng, phê bình ấn tượng, phê bình chủ quan, phê bình khách quan, phê bình nghệ thuật, phê bình khoa học, phê bình Mác xít, phê bình phi Mác xít. Tất cả đều hướng tới sự phát triển của phê bình ngay cả sự phủ nhận của khuynh hướng này đối với khuynh hướng khác. Chúng ta ít nhiều cũng diễn ra những diễn biến trong lịch sử phê bình. Song cuộc va chạm vừa qua thật đáng buồn là tính học thuật hơi ít, không tập trung vào văn nghệ, dường như đời sống văn nghệ còn nằm ngoài phê bình. Những chuẩn mực thẩm mĩ cũ bị phê phán, nhưng những chuẩn mực mới chưa ra đời, mới chỉ là những lược đồ, mong muốn theo ý định chủ quan hoặc học đòi từ ngoài.

Với một cách nhìn bình tĩnh phải thừa nhận rằng, phê bình văn nghệ mới đã có những khởi đầu tốt đẹp. Sau đó nhất là những năm gần đây phê bình phát triển có khó khăn hơn, trước hết do nguyên nhân tự thân của nó, bên cạnh đó còn bị ràng buộc bởi những yếu tố xã hội bất khả kháng, nhưng hiện nay đã nhận ra những yếu kém của mình đang tìm cách thoát ra. Tuy nhiên, không phải không có phê bình mà phê bình yếu. Bằng chứng là trên các cơ quan ngôn luận vẫn xuất hiện đều đặn những trang phê bình. Nếu đọc kỹ không phải không có những bài viết hay, có giá trị tư tưởng thẩm mĩ. Sợ rằng cách nghĩ lâu nay quen đánh giá trên phong trào, hoặc sự ồn ào về tác phẩm A tác phẩm B rồi một loạt bài viết tạo một cảm giác là phê bình văn nghệ đang sống động. Chưa quen với cách nhìn âm thầm lặng lẽ do chưa chịu đọc kỹ đã nói theo. Phải từ những thống kê số lượng sách xuất bản, số lượng bài, rồi đọc, rồi nghĩ sẽ thấy phê bình văn nghệ vẫn sống cùng với sáng tác, không đến nỗi quá yếu kém. Hãy thống kê cả sáng tác đi, sẽ thấy nó cũng chẳng bỏ xa phê bình được bao nhiêu. Những sáng tác thực sự có ít nhiều giá trị đều được nhiều tờ báo, đài phát thanh, đài truyềm hình bình luận. Tác giả của những bài báo này có thể là chuyên nghiệp hay không chuyên, nhưng đều từ góc nhìn tư tưởng và thẩm mĩ, xuất phát từ tinh thần xây dựng. Đó là những phát ngôn tự chính mình đầy trách nhiệm và bản lĩnh.

Cái yếu nhất của phê bình văn nghệ hiện nay là không khí học thuật trong phê bình, chưa đi sâu vào phẩm chất văn nghệ mà nói những điều bên ngoài văn nghệ. Bên cạnh đó thiếu lý thuyết và cả bản lĩnh phê bình. Phần nhiều những bài phê bình hiện nay còn nặng cảm tính chưa có nhiều bài kết hợp cảm thụ cảm tính với cảm thụ lý tính, nghĩa là nói như Anatole France sau khi “phiêu lưu tâm hồn giữa những kiệt tác” ta phải khám phá ra phương pháp nào, kết cấu nào, ngôn ngữ nào, ký hiệu nào đã tạo ra sự say mê thu hút con người và phải thấu hiểu quy luật hình thành tác phẩm, bản chất của quá trình sáng tạo. Từ góc độ mỹ học phê bình ta còn thiếu những chuẩn mực nghệ thuật, mà hạt nhân của nó là hệ thống triết học, mĩ học và lý luận văn nghệ, nghĩa là phải có lý thuyết của ngành với tư cách là một ngành khoa học mang tính nghệ thuật.

Cuối cùng phải nói đến nhiệm vụ phê bình văn nghệ trong tình hình mới là vô cùng quan trọng và cần thiết. Trong bốn yếu tố hàng đầu tác động đến sự phát triển của văn nghệ là đường lối văn nghệ của Đảng, chính sách đầu tư của Nhà nước, công chúng của văn nghệ và tài năng nghệ sĩ. Nghĩ rằng các yếu tố đều chịu tác động của lý luận phê bình dù ít hay nhiều. Đảng phải lãnh đạo văn hoá bằng đường lối. Đường lối phải được hình thành trên cơ sở chính trị, hệ tư tưởng cùng với lý luận và phê bình văn nghệ. Công chúng của văn nghệ và tài năng nghệ sĩ có phải là đối tượng của phê bình văn nghệ không? Thời đại thay đổi, văn nghệ thay đổi, thẩm mỹ và thị hiếu công chúng thay đổi theo, cần có sự hướng đạo của lý luận phê bình. Phê bình là cầu nối giữa tác phẩm với công chúng, chỉ cho họ cái hay, cái dở khi tiếp nhận văn nghệ, từng bước nâng cao năng lực thẩm mĩ và trình độ dân trí.

Tình hình sáng tác, tài năng văn nghệ phát triển được hay không, không thể tách rời những chỉ dẫn, những dự báo, những kích thích của phê bình. Có những cuộc hoan hô thể thao, tôn vinh hoa hậu, tại sao lại thiếu những cuộc vỗ tay văn nghệ. Nhiệm vụ ấy của nhà quản lý và cũng là của nhà phê bình. Điều chỉnh sáng tác, cổ vũ, đề cao những tác phẩm hay những khuynh hướng sáng tác lành mạnh, phê phán những tác phẩm yếu kém về thẩm mỹ và tư tưởng chính là nhiệm vụ của phê bình. Lâu nay phê bình tự thân là một bộ phận hữu cơ trong chỉnh thể văn nghệ, đã nhập cuộc với quá trình vận động và phát triển của văn nghệ và cách mạng. Có thể từng nơi từng lúc, từng sự kiện chưa thật tự ý thức về mình, đặt mình cao hơn hoặc thấp hơn vai trò của mình trong hệ thống thượng tầng kiến trúc. Trước tình hình mới, sự đòi hỏi của phát triển văn hóa văn nghệ, phê bình văn nghệ phải được tổ chức lại, củng cố lại làm sao song hành với sáng tác. Bằng đặc trưng của mình đóng góp vào sự hoàn chỉnh và phát triển của nền văn nghệ Việt Nam.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0