Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Xứ Đoài mây trắng...có em tôi

0 trả lời, 224 lượt xem — Trang 1 / 1
Xứ Đoài mây trắng...có em tôi

Trịnh Thanh Sơn

Chàng trai xứ Đoài ấy, người lính ấy đến với thơ dường như hơi chậm muộn. Bao nhiêu năm, anh còn rong ruổi trên đường chinh chiến, lại say mê rong ruổi với ống kính máy ảnh. Vì vậy, vào một ngày Trở mùa anh mới như sực tỉnh, thức trọn đêm đối mặt với trang giấy trắng, nghe tiếng thu rơi, và anh viết: “…đêm đã đánh thức những cánh rừng, những ngày mưa sa, gió táp. Ba lô nặng trĩu vai, ta đã vượt những chặng đường dài. Bạn bè bao đứa không về, bạn bè bao thằng lận đận, hồn nhiên nói, hồn nhiên đi như vẫn mười tám tuổi, ồn ã ào qua bao nỗi gian truân… Đồng đội ơi! Tóc đã bạc mái đầu!”.(Đêm).

Chàng trai xứ Đoài ấy là Quốc Toản.

Những câu thơ trên nằm trong tập thơ Trở mùa, tập thơ thứ hai của anh, do Nxb Hà Nội ấn hành (2003).

Đọc thơ Quốc Toản, điều đầu tiên dễ nhận thấy là, anh viết khá vững vàng và tỏ ra là một cây bút chuyên nghiệp, có cá tính và cốt cách, phóng túng mà đắm say, trẻ trung mà trầm tĩnh, hài hước mà nghĩ suy… Người ấy biết mình đang ở đâu trong những nấc thang thời gian, ở chốn nào trong một miền không gian và ở vị trí nào trong cái chiếu hẹp của đời sống văn chương. Tự ý thức là phẩm chất cốt lõi để tự tin, để nhận biết một lối về cho cuộc đời mình:

Chỉ còn mấy cây số nữa

Là ta sẽ gặp trời chiều

Hoàng hôn khuất dần phía núi

Sức mình còn được bao nhiêu?



Hành trang gói vào năm tháng

Xin cùng mây gió lang thang

Có gì để mà toan tính

Con đường đầy những dọc ngang…

(Lối về)

Tôi bỗng dưng cảm thấy đồng cảm và se buồn khi gặp câu thơ “chỉ còn mấy cây số nữa/ là ta sẽ gặp trời chiều”. Dường như Quốc Toản viết câu thơ ấy để tặng riêng cho tôi và tặng ai đó nữa? Cũng vậy, những câu này anh viết cho mình hay viết cho ai: “Mai này hoa rơi trên đất/ Ngẩn ngơ ai đợi ai chờ/ Hành trang người đi không mất/ đầy trời váng vất câu thơ”. Tâm trạng người thơ ở những câu thơ kia buồn hay vui, bằng lòng hay tiếc nuối? Sao lại “đầy trời váng vất câu thơ”? Một kết hợp từ thật sáng tạo, thật mới, thật chính xác, đủ làm cho người đọc cũng cảm thấy “hâm hấp sốt” trong cái bầu trời “váng vất thơ” kia! Viết được câu thơ ấy, quả không dễ chút nào. phải yêu thơ lắm, phải đắm chìm cùng thơ mới tạo được cái bầu khí quyển váng vất thơ như vậy. Phẩm chất thi sĩ khởi đầu từ đó!

Khởi đầu từ đó rồi đi tới đâu trên con đường thơ gập ghềnh, xa hút? Thì đây, một hoang mang hiện hình:

Ngày dài vu vơ

Câu thơ bỏ lửng

Nhấm nháp làm chi

Khoảng trời ngẫu hứng

(Những câu hỏi)

và đây, một tự thức cũng lộ sáng:

Tôi như người lạc bước

Trước dại khôn lỡ lầm

Gánh nặng từng con chữ

Dốc cạn chiều suy tư…

(Không đề 1)

Thơ Quốc Toản thường rất lung linh khi đạt tới độ mờ nhoè, còn khi nào anh quá tỉnh, chữ nghĩa bỗng dưng khô cứng và trở thành đại ngôn. “Dốc cạn chiều suy tư” là một trường hợp như vậy. Nếu “nhấm nháp khoảng trời ngẫu hứng” là một câu thơ hay, thì “dốc cạn chiều suy tư” là một câu thơ dễ dãi, đại ngôn, lười. Thơ khó vậy thay! Và tôi nhận ra Quốc Toản rất hay “lười” khi cần siêng năng, rất quan tâm đến nội thất ngôi nhà thơ mà chểnh mảng với nền móng. Chẳng hạn:

Suốt một tuần nay mưa rấm rứt

Lại thèm một chút nắng bâng quơ

Em cũng đổi thay như thời tiết

Sáng cười. Chiều… bỗng giận vu vơ!

(Không đề 2)

Trong bài tứ tuyệt trên, ba câu “đề, thực, luận” rất có duyên, rất gợi, nhưng câu kết thì hẫng hụt, thật thà, vụng về, làm cho cả bài thơ nghiêng lệch và có nguy cơ sụp đổ. Cái móng nhà quan trọng thế nào thì câu kết bài thơ cũng quan trọng thế ấy. Đó là chỗ dễ nhận ra nhất, dễ phân biệt nhất giữa một ngòi bút chuyên nghiệp, một ngòi bút nghiệp dư. Người làm thơ, càng tài hoa lại càng kĩ tính, chỉ cần lơ đễnh, chểnh mảng, lười nhác hay bất cẩn một chút thôi là… nàng thơ quay ngoắt đi, chẳng ngoái lại một lần, giống như cô gái của Quốc Toản vậy:

… Bây giờ em ở nơi đâu

Có còn đứng lặng bên cầu ngẩn ngơ

Có còn lạc giữa câu thơ

Người khuất nẻo

Để bơ vơ trời chiều…

(Với Sơn Tây)

Tuy nhiên, tôi biết, Quốc Toản vốn là một chàng trai mã thượng, “ga-lăng”, không dễ gì để nàng thơ bỏ anh mà đi, như lời tự bạch vô cùng đắm say của người thiếu phụ này: “Anh hãy hát và đọc thơ để em là thiếu nữ/ để được yêu anh, dù chỉ yêu một câu thơ, một khúc hát/ Để em được quên đi…/ Em đã cười với anh bằng mắt, bằng trái tim của người đàn bà đam mê dẫu không còn trẻ nữa. Em đã giấu nỗi đau vào đêm. Em chấp nhận số phận. Và em bảo đó là hạnh phúc. Anh hãy hát và đọc thơ đi. Chỉ một chút nữa thôi không thể nào khác được, vòng xe quay chắp nối, những mảnh đời. Nhưng em đã được nhớ, được yêu, say mê và khát vọng/ Đừng bỏ mặc em giữa chốn không người!”.

Chao ôi! Người thiếu phụ trong thơ Quốc Toản kia sao lại giống Nàng Thơ đến thế! Tôi từng cay đắng chiêm nghiệm nỗi hoang lạnh của Nàng Thơ giữa thời buổi kinh tế thị trường, giữa văn minh vật chất để hơn một lần nghe lời khẩn cầu tha thiết và đớn đau: “Xin đừng bỏ em giữa chốn không người!”. Có lẽ nào, những ai còn say mê Nàng Thơ đều là kẻ “chập cheng” sao?

Đùa vậy thôi, tất nhiên không phải thế. Quốc Toản cũng vậy, anh hiểu sự “chập cheng” của anh là một thái độ khôi hài, tự giễu, tự trào. Người biết tự trào là người tự tin, là hậu duệ của Tú Xương và Nguyễn Công Trứ vậy. Cho nên anh viết:

Dẫu không tới bến tới bờ

Cũng đem một chút dại khờ trao nhau

Mai sau, mai sau… mai sau

Rượu suông ai tưới, dãi dầu cỏ xanh!

(Lời cuối)

Khi viết những câu thơ trên, người thơ hậu duệ này chợt nhớ đến câu thơ đặc sắc của thi hào Nguyễn Du: “Sống không dốc chén cạn hình/ Chết rồi ai tưới mộ mình rượu đây?!”.

Hãy cứ tin đi, chàng thi sĩ xứ Đoài. Bởi vì, ở phía cuối con đường kia, ở nơi quê nhà kia vẫn có, người hằng chờ đợi: Xứ Đoài mây trắng… có em tôi!

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0