Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Trời nam thương nhớ đất Thăng Long

0 trả lời, 268 lượt xem — Trang 1 / 1
Trời nam thương nhớ đất Thăng Long

Hà Mật

Có một câu thơ không biết từ đâu lọt vào trí nhớ tôi: Từ thuở mang gươm đi mở cõi / Trời nam thương nhớ đất Thăng Long câu thơ như mang hùng khí của một thời xa xăm, cái thời mà ranh giới địa chính các dân tộc đang định hình, cái thời hỗn mang đòi hỏi mỗi dân tộc phải có khí lực mạnh mẽ mới trường tồn được trong trời đất. Câu thơ phảng phất nỗi nhớ da diết: Ai về Bắc cho ta đi với / Thăm lại non sông giống lạc hồng, đó cũng là tiếng gọi ta về với hồn dân tộc. Tôi cứ tưởng người viết câu thơ đó phải là một vị tướng cầm quân thao lược, nhưng khi lần ra tác giả thì đó là một người có cái tên nghe rất văn chương là Huỳnh Văn Nghệ. Ông là người trai Nam Bộ thứ thiệt, có lẽ thuộc gốc họ Hoàng ở xứ Bắc nhiều đời di cư vào Nam và được đọc đổi âm đi thành chữ Huỳnh Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng! / Mà ta con cháu mấy đời hoang / Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ / Non nước rồng tiên nặng nhớ thương. Nguyễn Hoàng là một nhân vật có thật được ghi lại trong lịch sử, người có công mở rộng bờ cõi thời nhà Nguyễn. Có lẽ rõ hơn, quê gốc xa xưa của nhà thơ là vùng Kinh Bắc: Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ / Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn / Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ / Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng. Câu thơ đẹp mang đậm phong vị văn hóa Kinh Bắc xen với lối sống Nam Bộ được ông viết vào những năm dân tộc ta sắp bước vào bước ngoặt vĩ đại là Cách mạng tháng Tám 1945. Câu thơ như gợi nhớ trong cõi thức lịch sử xa xăm, một nỗi nhớ nhung mênh mông thường đến mỗi độ thu về: Sứ mạng ngàn thu dám dễ quên / Chinh nam say bước quá xa miền /Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm /Muốn trở về quê mơ cảnh tiên. Và cái tinh thần thời đại trở về cội nguồn lúc đó cũng là Ai đi về Bắc xin thăm hỏi / Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa / Hoàn Kiếm hồ xưa linh quý hỡi / Bao giờ mang kiếm trả dân ta? Với bài thơ này, Huỳnh Văn Nghệ đã ghi được một dấu ấn đẹp trong thơ Việt Nam thế kỷ 20, bài thơ mang giọng điệu có phần cổ kính nhưng đọc thấy thích và thi vị lắm.

Từ năm 1936, Huỳnh Văn Nghệ đã có những bài thơ có thể sánh ngang với các bài thơ trong dòng thơ Mới mà bài Mộ bia là một ví dụ. Một bài thơ khóc mẹ hiếm lạ trong thơ ca Việt Nam: Khi mẹ chết con làm thơ bằng máu / Đá mộ bia khắc đậm nét bài thơ / Chạm hình mẹ, áo khăn tơi tả rách / Và chung quanh nheo nhóc đám con khờ. Đó là người mẹ hiện thực, hay người mẹ đất nước và bài thơ như phảng phất âm hưởng mạch thơ ca yêu nước những năm đầu thế kỷ. Hình ảnh người mẹ hiền được cụ thể hóa trong đức hy sinh vô biên của người mẹ: Dưới mồ sâu mẹ hiền đang an nghỉ / Giấc đầu tiên từ độ có con thơ / Đời tần tảo mồ hôi chưa kịp ráo / Con chưa khôn mà mẹ đã xuống mồ. Hình tượng người mẹ như tan đi trong tiếng khóc của con và nỗi đau như sâu và mênh mông hơn: Giờ nằm đây thân khô như cây sậy / Vì mồ hôi đã chảy hết vì con / Cạn nước mắt khóc đứa con thi sĩ / Triệu vần thơ vương vấn mãi tâm hồn, câu thơ như đẫm đầy mồ hôi và nước mắt của một đời mẹ nghèo thương con. Và nhà thơ kêu cứu mọi người Khách qua đường ơi khóc giùm tôi với! Lệ thơ tôi dù sẽ chảy ngàn năm / Chảy muôn năm cũng không sao chuộc nổi / Một nụ cười cho mẹ dưới mồ câm! Câu thơ là sự ân hận, một sự ân hận xót xa và một lần nữa nó như đến gần với hình tượng đất nước trong cái thời lúc đó còn chìm đắm trong nô lệ.

Nhà thơ chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ sinh ngày 02/02/1914 ở tỉnh Biên Hòa nay là tỉnh Bình Dương. Ông yêu thơ ca và sớm tham gia cách mạng. Trước cách mạng tháng Tám ông hoạt động trong phong trào Việt kiều ở Thái Lan. Ông từng tham gia giành chính quyền ở Biên Hòa và Sài Gòn, tham gia nhiều chức vụ lãnh đạo quân sự ở Khu ba và Biên Hòa. Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc. Trong chiến tranh chống Mỹ ông trở lại quê hương chiến đấu giải phóng miền Nam và mất năm 1977. Trong kháng chiến, Huỳnh Văn Nghệ bận nhiều hơn đến những công việc chỉ huy chiến đấu, ông có làm thơ nhưng không nổi lắm. Thơ ông có tứ hay như trong bài Tiếng hát giữa rừng viết năm 1946 nói về một thương binh, để cứu sống anh người ta phải cưa chân anh bằng chiếc cưa thợ mộc, không có thuốc gây mê và người chiến sĩ đó đã hát quốc ca để giữ vững tinh thần vượt qua thử thách này. Và như vậy bài quốc ca Việt Nam linh thiêng đã cứu rỗi cuộc sống cho anh. Bài thơ thật sự gây được xúc động nơi bạn đọc. Thơ ông cũng có nhiều câu hay như trong bài Xuân chiến khu có những câu: Xuân vẫn về đây giữa chiến khu / Rừng thiêng nay bỗng hết âm u /... Xa xa vọng gác thùng nhịp trống / Bướm giật mình bay những mảnh hồn. Câu thơ của ông sinh động lên nhờ lời thoại của lính Xuân sau ăn Tết nơi đâu nhỉ? - Tùy bóng cờ kia sẽ trả lời và cái không khí thời đại đã đem lại sinh khí mới cho thơ ông như Từng đoàn chiến sĩ đi ra trận / Có bướm chim đưa tận núi rừng. Đất Nam Bộ đã sinh ra một nhà thơ đặc sắc./.

(Tạp chí Nhà văn )
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0