Đề tài Hà Nội trong quá trình sáng tác của nhà văn Bích Thuận
Lê Thị Đức Hạnh
Đọc tiểu thuyết “Người con gái Hà Nội” của Bích Thuận
NXB Hội Nhà văn - 2004
Là con gái đất Tràng An, phơi phới ở tuổi học trò (15, 16 tuổi) với nhiều mơ ước bay bổng, Bích Thuận đang hào hứng tham gia phong trào yêu nước của học sinh thì làn gió cách mạng mùa thu thổi tới. Chị bỏ học, hăng hái đi tuyên truyền Việt Minh, vào bộ đội, làm cứu thương, theo đoàn quân Nam tiến... Nhưng tâm tư và tình cảm của chị vẫn như lời trong bài hát Nhớ về Hà Nội (nhạc sĩ Hoàng Hiệp): "Dù có đi bốn phương trời, lòng vẫn nhớ về Hà Nội". BíchThuận
tâm sự: ở Hà Nội, từ một làn gió sớm, một tia nắng nhạt, một hàng cây, một góc phố, đến những mảnh đời, những mái nhà... tất cả đều gợi lên những suy nghĩ, xúc cảm dạt dào thôi thúc chị phải viết một cái gì đó về Hà Nội, quê hương yêu dấu của mình. Trong những đóng góp của Bích Thuận, trước hết phải kể đến mảng đề tài về Hà Nội (bên cạnh các mảng đề tài khác). Bởi Hà Nội là nơi chị sinh ra, lớn lên, từng hoạt động, có nghĩa là có cả một phần máu thịt của cuộc đời mình trong đó, thế nên tình yêu mà Bích Thuận dành cho Hà Nội là tình yêu say mê nhất, mãnh liệt nhất và hoàn toàn trong sáng, hồn nhiên.
Những kỷ niệm sâu sắc đó cứ dày mãi lên, ẩn sâu trong trái tim và tâm hồn chị. Sự dồn nén đó phải hơn hai chục năm sau, mới có dịp bùng lên. Khởi đầu là vở kịch Bồ câu trắng (1975) được chuyển thành cải lương và công diễn trước khán giả Hà Nội hàng nghìn đêm, được hoan nghênh nhiệt liệt; vì nó dựng lại khá chân thực một phần không khí sôi động của Hà Nội vào những ngày chuẩn bị giành chính quyền, trong đó có vai trò của nữ sinh trường Đồng Khánh, mà chị cũng là người trong cuộc.
Tiếp sau, Bích Thuận viết liền mấy cuốn tiểu thuyết về đề tài Hà Nội. Đó là Thiếu nữ mùa thu (1986) và Những căn nhà mùa thu (1989) phản ánh các hình thái hoạt động yêu nước của phụ nữ Kinh Kỳ qua các biến động lịch sử trong những khoảnh khắc đáng nhớ của thời kỳ 1940 - 1945 và 1946 - 1954. Từ những con người với tâm tư, tình cảm, với việc làm cụ thể, tức là bằng những chất liệu có thực, bao gồm nhiều kỷ niệm riêng tư mà tác giả chọn lọc, tái hiện một cách trung thực, sinh động, gợi cho người đọc một cảm giác khó quên về những phẩm chất tốt đẹp của tầng lớp tiểu tư sản trí thức: giáo viên, học sinh, nhất là nữ ở Thủ đô Hà Nội. Đó là những cô giáo Ngân, Thanh, các nữ sinh Quỳnh Giao, Tuệ, Kiều Trinh, các anh Đức, Dương, Khiêm... (Thiếu nữ mùa thu), rồi Tuấn, Hồng Phương, Hường, Liên Nga, các anh Thành, Trường, Kiên... (Những căn nhà mùa thu). Họ muốn thoát ra khỏi sự tù túng, mòn mỏi của cuộc sống trong thực dân phong kiến, một kiểu nhà tù khổng lồ của cả dân tộc nên đã tự đấu tranh với bản thân, với gia đình để tham gia vào công cuộc giải phóng đất nước. Có những người bị bắt bớ, tra tấn, phải hy sinh thân mình. Có chị em bị tra tấn dã man, đe dọa mất đi cả hạnh phúc làm vợ, làm mẹ, song họ vẫn không hề dao động, trốn chạy hoặc đầu hàng mà dũng cảm chịu đựng, tin tưởng, vươn lên góp phần giải phóng đất nước, dệt nên bản anh hùng ca tuyệt vời cho Thủ đô. Bên cạnh việc gợi lên không khí chiến đấu hào hùng, Bích Thuận đã ghi lại được nhiều tâm trạng, phong thái, lối sống, sinh hoạt của một số lớp người và gia đình Hà Nội trong những thời điểm nhất định.
Bẵng đi hàng chục năm (viết về các đề tài khác) đến 1999, sau những trăn trở, suy nghĩ, lục tìm trong ký ức, Bích Thuận lại viết và cho in Giấc mơ thời thiếu nữ. Câu chuyện trải ra trong thời gian từ trước cách mạng Tháng Tám đến những năm đổi mới thập kỷ 90. Cuốn truyện chủ yếu nói về cuộc đời của hai thiếu nữ sinh Trưng Vương là Tú Châu và Kim Phượng với những ước mơ ngời sáng của thời thiếu nữ. Khi cách mạng đến, hai người đi theo hai con đường. Tú Châu theo kháng chiến, vất vả, gian nan, có cả đắng cay, nhưng cuộc đời rồi cũng yên ấm. Còn Kim Phượng ở lại Hà Nội tạm bị chiếm, đạt đến đỉnh cao của ước mơ thời thiếu nữ: Có bạc tỉ, có sắc đẹp lộng lẫy, giao du với giới thượng lưu, nhưng kết cục hạnh phúc tan nát và cùng đường đã tự sát. Độc giả dễ dàng rút ra được kết luận qua cuộc đời của hai cô gái Hà Nội, sống trong hai gia đình, hai chế độ trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh và chia cắt. Truyện tuy còn có những hạn chế (đôi chỗ gượng gạo và có phần giả tạo), nhưng nhìn chung cách viết khá hấp dẫn, có những tình huống, chi tiết rất độc đáo, kỳ lạ mà vẫn là thật.
Biết Bích Thuận có một vốn sống phong phú về Hà Nội, bản thân lại từng tham gia hoạt động cách mạng từ thời thiếu nữ nên nhiều người khuyên chị nên viết hồi ký. Chị đã viết được một số trang với nhan đề Thành phố tuổi thơ, chuyển thành tiểu thuyết. Gần đây nhất, chị lại "trình làng" tác phẩm mới: Người con gái Hà Nội (2004). Cuốn sách tập trung chủ yếu vào hoạt động chính của nữ sinh Hà Nội trong một thời kỳ lịch sử có mấy sự kiện quan trọng, có ý nghĩa lớn: đảo chính Nhật, tổng khởi nghĩa Tháng Tám và toàn quốc kháng chiến.
Phần I, non nửa cuốn tiểu thuyết vừa nói về gia đình của hai cô gái Hà Nội là Khánh và Ngân (bố là nhà báo, nhà giầu có) với ít nhiều phức tạp, biến động, vừa nói về những mầm mống lòng yêu nước, những hoạt động tiến bộ và yêu nước. Phần II là phần chính của cuốn tiểu thuyết, phác họa hoàn cảnh xã hội (thóc gạo cao, nạn đói khủng khiếp, chính sách tàn ác của phát xít Nhật...) và tập trung chủ yếu vào những hoạt động yêu nước, cách mạng của các nữ sinh. Họ là những cô gái xinh đẹp, con nhà khá giả, được cưng chiều hết mức và bố mẹ không dám cho đi đâu qua đêm. Thế nhưng, khi lòng yêu nước được dấy lên thì họ sẵn sàng làm mọi việc vất vả, nguy hiểm: từ tổ chức kỷ niệm Hai Bà Trưng, quyên gạo, nấu cháo cứu đói, cho đến hội họp bí mật, mít tinh, rải truyền đơn, tuyên truyền phá kho thóc, tổ chức may cờ đỏ sao vàng, diễn thuyết trước đám đông; đến trại lính khố xanh, trại bảo an binh thuyết phục địch trao vũ khí cho cách mạng... Hai người kéo lá cờ đỏ sao vàng trong lễ Quốc khánh (2-9) đầu tiên cũng là hai phụ nữ (một người Kinh, một người Tày). Khi toàn quốc kháng chiến, chị em lại lao vào lửa đạn, vào Nam, ra Bắc, hoạt động cứu thương và một số việc khác. Trong khi hoạt động có người bị bắt, bị tra tấn dã man, nhưng vẫn dũng cảm không khai. Có người để tránh bị làm nhục đã tự tử (Thoa). Họ có tình yêu, nhưng sẵn sàng hoãn cưới vì nghĩa lớn... Truyện không chỉ cho thấy vẻ đẹp, phẩm chất cách mạng của phụ nữ Hà Nội nói riêng mà còn của phụ nữ Việt Nam, của dân tộc Việt Nam nói chung.
So với những cuốn trước cũng viết về thiếu nữ Thủ đô hoạt động cách mạng, nhưng Người con gái Hà Nội có nội dung phong phú hơn, chất liệu cuộc sống đậm đặc hơn và cả sự say sưa, niềm sảng khoái của người cầm bút. Ngoài hai nhân vật có thể coi là chính: Khánh và Ngân (Ngân phảng phất hình bóng của tác giả) khá rõ nét thì Trang, Thoa, Xuyến, Đoan, chị Lưu,... cũng gây được ấn tượng đáng kể. Mấy nam giới đáng chú ý là Tiệp, Hiển, Bảo, Thanh Tùng, Trần Quang Huy, Lê Trọng Nghĩa... có cả nhạc sỹ Lưu Hữu Phước, Văn Chung... Một số nhân vật trong gia đình ông Tư Hãng (bố Khánh, Ngân) cũng có cá tính tương đối rõ. Phải là người Hà Nội, người của phong trào, lại dày công sưu tầm, ghi chép, Bích Thuận mới biết được về những con người Hà Nội như thế.
Cho đến nay, có thể nói Bích Thuận là một trong số ít nhà văn có vốn sống phong phú, bỏ nhiều công sức viết về Hà Nội trong chiến đấu, đặc biệt là giới nữ. Các tác phẩm chính là một vở kịch, bốn cuốn tiểu thuyết.
Bích Thuận không chỉ được chú ý về đề tài Hà Nội mà nhiều người còn nhắc đến chị với phần viết về các nữ chiến sĩ cách mạng, như Nữ chiến sĩ rừng dừa (năm 1985, viết về nguyên Phó tổng tư lệnh giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hội phụ nữ giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Định). Sống giữa tình thương (năm 1986, viết về "Người con gái anh hùng" Trần Thị Lý) và nhiều truyện ngắn được in thành tập, đáng chú ý là Mùa dưa hấu (năm 1971) và Hương chè (năm 1978) thể hiện cuộc sống, phẩm chất của người phụ nữ mới ở những lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Mới đây chị đã in Nguyễn Bích Thuận - Truyện chọn lọc (NXB Hội Nhà văn - 2004). Cuốn sách dày dặn bao gồm một số truyện tiêu biểu nhất, đồng thời chị có chọn in thêm trên đầu sách mấy bài phê bình, một số bức thư khen ngợi của những độc giả có tên tuổi. Phần cuối sách (bản liệt kê tác phẩm đã in) cho thấy tác giả có một sự nghiệp có bề dày đáng kể (19 cuốn), gồm truyện vừa, các tập truyện ngắn, truyện, truyện ký, tiểu thuyết và 9 cuốn truyện viết cho thiếu nhi.
Nói về quá trình sáng tác của Bích Thuận không thể không nói đến nguyên nhân, động cơ, cả sự khích lệ đã thúc đẩy chị vào nghề văn. Thời học sinh, chị rất thích đọc truyện và thoạt tiên, chị đâu có nghĩ đến chuyện viết văn, nhưng rồi xuất phát từ tình cảm chân thực, hồn nhiên nảy sinh khi tiếp xúc với cuộc sống, trong quá trình hoạt động chính trị, xã hội nên có nhu cầu bức xúc là gửi gắm tâm sự vào những trang viết. Mặt khác, còn do ảnh hưởng của người cha. Ông cũng là người làm báo, viết văn (viết truyện lịch sử - Tác giả Vợ ba Cai Vàng - Bút danh Bạch Diện). Đặc biệt nhất là chị được Bác Hồ gửi thư khen (sau khi chị gửi mấy bài viết lên Bác nhân ngày 19-5) rồi Bác còn cho gặp để căn dặn, hướng dẫn cách viết... Điều đó đã khích lệ chị trong suốt cuộc đời cầm bút. Chị cho biết, ngay từ lúc 13, 14 tuổi vào một đêm đông rét mướt, nghe tiếng trẻ đi ăn xin, chị đã xúc động viết truyện ngắn Tối mùa đông (sau in ở sách Truyền Bá, lấy tên Yến Thuận). Hồi còn đi học, chị cũng thích làm thơ. Đến khi tham gia hoạt động cách mạng vào bộ đội, học tập lớp cứu thương thì từ thực tế ấy chị viết Nhật ký nữ hồng thập tự ([1]) rồi tiếp đến mấy truyện ngắn nói về tình cảm của các mẹ, các chị đối với anh em thương binh ([1]). Trên đà ấy, chị cứ tiếp tục viết.
Những thành tựu mà Bích Thuận đạt được, trước hết là do chị đã chịu khó, bất chấp gian khổ, bom đạn, đi nhiều nơi, từ chiến dịch Hồ Chí Minh, đến Quảng Bình, Vĩnh Linh, Hải Phòng... Chị cũng lặn lội tìm gặp nhiều người để hiểu rõ sự việc, phong tục, tập quán, lời ăn tiếng nói nơi nhân vật của mình sống và hoạt động. Khi viết về người thật, việc thật, chị hết sức tôn trọng thực tế khách quan, đảm bảo sự chuẩn xác đến từng chi tiết đã đành, ngay ở tiểu thuyết của chị, vai trò của tưởng tượng, hư cấu cũng quá khiêm nhường. Chị tâm sự: "Nếu cần phải viết cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn thì trước hết mình viết cho chân thật đã". Thực ra, đâu phải thế, ở nhiều trang của chị thấy có sự đằm thắm trong tình cảm, sự chân thực trong suy nghĩ nên gây được xúc động. Có những nhân vật, sự việc tạo được ấn tượng sâu, gợi lên tình cảm cao đẹp của người đọc. Nói chung, chị viết giản dị, sáng sủa, tuy cũng có đôi chỗ dàn trải, gượng gạo, hoặc quá chú trọng đến sự kiện làm cho nhân vật có khi bị lấn át. Đó đây, chị thiên về kể, về tả hơn là tái hiện hiện thực sinh động và chưa chú trọng đúng mức đến việc đi sâu vào tâm lý nhân vật nên sức khái quát, sự hấp dẫn của truyện có bị giảm.
Phải nhận rằng, Bích Thuận là một nhà văn, một tấm gương về sự phấn đấu kiên trì trong hơn 50 năm cầm bút, đã đạt được những thành quả rất đáng trân trọng, không riêng về đề tài Hà Nội mà còn ở các đề tài khác. Chị có những truyện được giải thưởng, tặng thưởng, lại được Bác Hồ gửi thư khen, tặng huy hiệu (1950), được Huy chương "Vì thế hệ trẻ" của Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (1980). Đến nay, tuy tuổi đã cao, chị vẫn tiếp tục viết. Điều đó không chỉ khiến chị có được niềm vui và quyền tự hào mà chúng ta cũng càng quý mến chị hơn.
Lê Thị Đức Hạnh
Đọc tiểu thuyết “Người con gái Hà Nội” của Bích Thuận
NXB Hội Nhà văn - 2004
Là con gái đất Tràng An, phơi phới ở tuổi học trò (15, 16 tuổi) với nhiều mơ ước bay bổng, Bích Thuận đang hào hứng tham gia phong trào yêu nước của học sinh thì làn gió cách mạng mùa thu thổi tới. Chị bỏ học, hăng hái đi tuyên truyền Việt Minh, vào bộ đội, làm cứu thương, theo đoàn quân Nam tiến... Nhưng tâm tư và tình cảm của chị vẫn như lời trong bài hát Nhớ về Hà Nội (nhạc sĩ Hoàng Hiệp): "Dù có đi bốn phương trời, lòng vẫn nhớ về Hà Nội". BíchThuận
tâm sự: ở Hà Nội, từ một làn gió sớm, một tia nắng nhạt, một hàng cây, một góc phố, đến những mảnh đời, những mái nhà... tất cả đều gợi lên những suy nghĩ, xúc cảm dạt dào thôi thúc chị phải viết một cái gì đó về Hà Nội, quê hương yêu dấu của mình. Trong những đóng góp của Bích Thuận, trước hết phải kể đến mảng đề tài về Hà Nội (bên cạnh các mảng đề tài khác). Bởi Hà Nội là nơi chị sinh ra, lớn lên, từng hoạt động, có nghĩa là có cả một phần máu thịt của cuộc đời mình trong đó, thế nên tình yêu mà Bích Thuận dành cho Hà Nội là tình yêu say mê nhất, mãnh liệt nhất và hoàn toàn trong sáng, hồn nhiên.
Những kỷ niệm sâu sắc đó cứ dày mãi lên, ẩn sâu trong trái tim và tâm hồn chị. Sự dồn nén đó phải hơn hai chục năm sau, mới có dịp bùng lên. Khởi đầu là vở kịch Bồ câu trắng (1975) được chuyển thành cải lương và công diễn trước khán giả Hà Nội hàng nghìn đêm, được hoan nghênh nhiệt liệt; vì nó dựng lại khá chân thực một phần không khí sôi động của Hà Nội vào những ngày chuẩn bị giành chính quyền, trong đó có vai trò của nữ sinh trường Đồng Khánh, mà chị cũng là người trong cuộc.
Tiếp sau, Bích Thuận viết liền mấy cuốn tiểu thuyết về đề tài Hà Nội. Đó là Thiếu nữ mùa thu (1986) và Những căn nhà mùa thu (1989) phản ánh các hình thái hoạt động yêu nước của phụ nữ Kinh Kỳ qua các biến động lịch sử trong những khoảnh khắc đáng nhớ của thời kỳ 1940 - 1945 và 1946 - 1954. Từ những con người với tâm tư, tình cảm, với việc làm cụ thể, tức là bằng những chất liệu có thực, bao gồm nhiều kỷ niệm riêng tư mà tác giả chọn lọc, tái hiện một cách trung thực, sinh động, gợi cho người đọc một cảm giác khó quên về những phẩm chất tốt đẹp của tầng lớp tiểu tư sản trí thức: giáo viên, học sinh, nhất là nữ ở Thủ đô Hà Nội. Đó là những cô giáo Ngân, Thanh, các nữ sinh Quỳnh Giao, Tuệ, Kiều Trinh, các anh Đức, Dương, Khiêm... (Thiếu nữ mùa thu), rồi Tuấn, Hồng Phương, Hường, Liên Nga, các anh Thành, Trường, Kiên... (Những căn nhà mùa thu). Họ muốn thoát ra khỏi sự tù túng, mòn mỏi của cuộc sống trong thực dân phong kiến, một kiểu nhà tù khổng lồ của cả dân tộc nên đã tự đấu tranh với bản thân, với gia đình để tham gia vào công cuộc giải phóng đất nước. Có những người bị bắt bớ, tra tấn, phải hy sinh thân mình. Có chị em bị tra tấn dã man, đe dọa mất đi cả hạnh phúc làm vợ, làm mẹ, song họ vẫn không hề dao động, trốn chạy hoặc đầu hàng mà dũng cảm chịu đựng, tin tưởng, vươn lên góp phần giải phóng đất nước, dệt nên bản anh hùng ca tuyệt vời cho Thủ đô. Bên cạnh việc gợi lên không khí chiến đấu hào hùng, Bích Thuận đã ghi lại được nhiều tâm trạng, phong thái, lối sống, sinh hoạt của một số lớp người và gia đình Hà Nội trong những thời điểm nhất định.
Bẵng đi hàng chục năm (viết về các đề tài khác) đến 1999, sau những trăn trở, suy nghĩ, lục tìm trong ký ức, Bích Thuận lại viết và cho in Giấc mơ thời thiếu nữ. Câu chuyện trải ra trong thời gian từ trước cách mạng Tháng Tám đến những năm đổi mới thập kỷ 90. Cuốn truyện chủ yếu nói về cuộc đời của hai thiếu nữ sinh Trưng Vương là Tú Châu và Kim Phượng với những ước mơ ngời sáng của thời thiếu nữ. Khi cách mạng đến, hai người đi theo hai con đường. Tú Châu theo kháng chiến, vất vả, gian nan, có cả đắng cay, nhưng cuộc đời rồi cũng yên ấm. Còn Kim Phượng ở lại Hà Nội tạm bị chiếm, đạt đến đỉnh cao của ước mơ thời thiếu nữ: Có bạc tỉ, có sắc đẹp lộng lẫy, giao du với giới thượng lưu, nhưng kết cục hạnh phúc tan nát và cùng đường đã tự sát. Độc giả dễ dàng rút ra được kết luận qua cuộc đời của hai cô gái Hà Nội, sống trong hai gia đình, hai chế độ trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh và chia cắt. Truyện tuy còn có những hạn chế (đôi chỗ gượng gạo và có phần giả tạo), nhưng nhìn chung cách viết khá hấp dẫn, có những tình huống, chi tiết rất độc đáo, kỳ lạ mà vẫn là thật.
Biết Bích Thuận có một vốn sống phong phú về Hà Nội, bản thân lại từng tham gia hoạt động cách mạng từ thời thiếu nữ nên nhiều người khuyên chị nên viết hồi ký. Chị đã viết được một số trang với nhan đề Thành phố tuổi thơ, chuyển thành tiểu thuyết. Gần đây nhất, chị lại "trình làng" tác phẩm mới: Người con gái Hà Nội (2004). Cuốn sách tập trung chủ yếu vào hoạt động chính của nữ sinh Hà Nội trong một thời kỳ lịch sử có mấy sự kiện quan trọng, có ý nghĩa lớn: đảo chính Nhật, tổng khởi nghĩa Tháng Tám và toàn quốc kháng chiến.
Phần I, non nửa cuốn tiểu thuyết vừa nói về gia đình của hai cô gái Hà Nội là Khánh và Ngân (bố là nhà báo, nhà giầu có) với ít nhiều phức tạp, biến động, vừa nói về những mầm mống lòng yêu nước, những hoạt động tiến bộ và yêu nước. Phần II là phần chính của cuốn tiểu thuyết, phác họa hoàn cảnh xã hội (thóc gạo cao, nạn đói khủng khiếp, chính sách tàn ác của phát xít Nhật...) và tập trung chủ yếu vào những hoạt động yêu nước, cách mạng của các nữ sinh. Họ là những cô gái xinh đẹp, con nhà khá giả, được cưng chiều hết mức và bố mẹ không dám cho đi đâu qua đêm. Thế nhưng, khi lòng yêu nước được dấy lên thì họ sẵn sàng làm mọi việc vất vả, nguy hiểm: từ tổ chức kỷ niệm Hai Bà Trưng, quyên gạo, nấu cháo cứu đói, cho đến hội họp bí mật, mít tinh, rải truyền đơn, tuyên truyền phá kho thóc, tổ chức may cờ đỏ sao vàng, diễn thuyết trước đám đông; đến trại lính khố xanh, trại bảo an binh thuyết phục địch trao vũ khí cho cách mạng... Hai người kéo lá cờ đỏ sao vàng trong lễ Quốc khánh (2-9) đầu tiên cũng là hai phụ nữ (một người Kinh, một người Tày). Khi toàn quốc kháng chiến, chị em lại lao vào lửa đạn, vào Nam, ra Bắc, hoạt động cứu thương và một số việc khác. Trong khi hoạt động có người bị bắt, bị tra tấn dã man, nhưng vẫn dũng cảm không khai. Có người để tránh bị làm nhục đã tự tử (Thoa). Họ có tình yêu, nhưng sẵn sàng hoãn cưới vì nghĩa lớn... Truyện không chỉ cho thấy vẻ đẹp, phẩm chất cách mạng của phụ nữ Hà Nội nói riêng mà còn của phụ nữ Việt Nam, của dân tộc Việt Nam nói chung.
So với những cuốn trước cũng viết về thiếu nữ Thủ đô hoạt động cách mạng, nhưng Người con gái Hà Nội có nội dung phong phú hơn, chất liệu cuộc sống đậm đặc hơn và cả sự say sưa, niềm sảng khoái của người cầm bút. Ngoài hai nhân vật có thể coi là chính: Khánh và Ngân (Ngân phảng phất hình bóng của tác giả) khá rõ nét thì Trang, Thoa, Xuyến, Đoan, chị Lưu,... cũng gây được ấn tượng đáng kể. Mấy nam giới đáng chú ý là Tiệp, Hiển, Bảo, Thanh Tùng, Trần Quang Huy, Lê Trọng Nghĩa... có cả nhạc sỹ Lưu Hữu Phước, Văn Chung... Một số nhân vật trong gia đình ông Tư Hãng (bố Khánh, Ngân) cũng có cá tính tương đối rõ. Phải là người Hà Nội, người của phong trào, lại dày công sưu tầm, ghi chép, Bích Thuận mới biết được về những con người Hà Nội như thế.
Cho đến nay, có thể nói Bích Thuận là một trong số ít nhà văn có vốn sống phong phú, bỏ nhiều công sức viết về Hà Nội trong chiến đấu, đặc biệt là giới nữ. Các tác phẩm chính là một vở kịch, bốn cuốn tiểu thuyết.
Bích Thuận không chỉ được chú ý về đề tài Hà Nội mà nhiều người còn nhắc đến chị với phần viết về các nữ chiến sĩ cách mạng, như Nữ chiến sĩ rừng dừa (năm 1985, viết về nguyên Phó tổng tư lệnh giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hội phụ nữ giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Định). Sống giữa tình thương (năm 1986, viết về "Người con gái anh hùng" Trần Thị Lý) và nhiều truyện ngắn được in thành tập, đáng chú ý là Mùa dưa hấu (năm 1971) và Hương chè (năm 1978) thể hiện cuộc sống, phẩm chất của người phụ nữ mới ở những lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Mới đây chị đã in Nguyễn Bích Thuận - Truyện chọn lọc (NXB Hội Nhà văn - 2004). Cuốn sách dày dặn bao gồm một số truyện tiêu biểu nhất, đồng thời chị có chọn in thêm trên đầu sách mấy bài phê bình, một số bức thư khen ngợi của những độc giả có tên tuổi. Phần cuối sách (bản liệt kê tác phẩm đã in) cho thấy tác giả có một sự nghiệp có bề dày đáng kể (19 cuốn), gồm truyện vừa, các tập truyện ngắn, truyện, truyện ký, tiểu thuyết và 9 cuốn truyện viết cho thiếu nhi.
Nói về quá trình sáng tác của Bích Thuận không thể không nói đến nguyên nhân, động cơ, cả sự khích lệ đã thúc đẩy chị vào nghề văn. Thời học sinh, chị rất thích đọc truyện và thoạt tiên, chị đâu có nghĩ đến chuyện viết văn, nhưng rồi xuất phát từ tình cảm chân thực, hồn nhiên nảy sinh khi tiếp xúc với cuộc sống, trong quá trình hoạt động chính trị, xã hội nên có nhu cầu bức xúc là gửi gắm tâm sự vào những trang viết. Mặt khác, còn do ảnh hưởng của người cha. Ông cũng là người làm báo, viết văn (viết truyện lịch sử - Tác giả Vợ ba Cai Vàng - Bút danh Bạch Diện). Đặc biệt nhất là chị được Bác Hồ gửi thư khen (sau khi chị gửi mấy bài viết lên Bác nhân ngày 19-5) rồi Bác còn cho gặp để căn dặn, hướng dẫn cách viết... Điều đó đã khích lệ chị trong suốt cuộc đời cầm bút. Chị cho biết, ngay từ lúc 13, 14 tuổi vào một đêm đông rét mướt, nghe tiếng trẻ đi ăn xin, chị đã xúc động viết truyện ngắn Tối mùa đông (sau in ở sách Truyền Bá, lấy tên Yến Thuận). Hồi còn đi học, chị cũng thích làm thơ. Đến khi tham gia hoạt động cách mạng vào bộ đội, học tập lớp cứu thương thì từ thực tế ấy chị viết Nhật ký nữ hồng thập tự ([1]) rồi tiếp đến mấy truyện ngắn nói về tình cảm của các mẹ, các chị đối với anh em thương binh ([1]). Trên đà ấy, chị cứ tiếp tục viết.
Những thành tựu mà Bích Thuận đạt được, trước hết là do chị đã chịu khó, bất chấp gian khổ, bom đạn, đi nhiều nơi, từ chiến dịch Hồ Chí Minh, đến Quảng Bình, Vĩnh Linh, Hải Phòng... Chị cũng lặn lội tìm gặp nhiều người để hiểu rõ sự việc, phong tục, tập quán, lời ăn tiếng nói nơi nhân vật của mình sống và hoạt động. Khi viết về người thật, việc thật, chị hết sức tôn trọng thực tế khách quan, đảm bảo sự chuẩn xác đến từng chi tiết đã đành, ngay ở tiểu thuyết của chị, vai trò của tưởng tượng, hư cấu cũng quá khiêm nhường. Chị tâm sự: "Nếu cần phải viết cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn thì trước hết mình viết cho chân thật đã". Thực ra, đâu phải thế, ở nhiều trang của chị thấy có sự đằm thắm trong tình cảm, sự chân thực trong suy nghĩ nên gây được xúc động. Có những nhân vật, sự việc tạo được ấn tượng sâu, gợi lên tình cảm cao đẹp của người đọc. Nói chung, chị viết giản dị, sáng sủa, tuy cũng có đôi chỗ dàn trải, gượng gạo, hoặc quá chú trọng đến sự kiện làm cho nhân vật có khi bị lấn át. Đó đây, chị thiên về kể, về tả hơn là tái hiện hiện thực sinh động và chưa chú trọng đúng mức đến việc đi sâu vào tâm lý nhân vật nên sức khái quát, sự hấp dẫn của truyện có bị giảm.
Phải nhận rằng, Bích Thuận là một nhà văn, một tấm gương về sự phấn đấu kiên trì trong hơn 50 năm cầm bút, đã đạt được những thành quả rất đáng trân trọng, không riêng về đề tài Hà Nội mà còn ở các đề tài khác. Chị có những truyện được giải thưởng, tặng thưởng, lại được Bác Hồ gửi thư khen, tặng huy hiệu (1950), được Huy chương "Vì thế hệ trẻ" của Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (1980). Đến nay, tuy tuổi đã cao, chị vẫn tiếp tục viết. Điều đó không chỉ khiến chị có được niềm vui và quyền tự hào mà chúng ta cũng càng quý mến chị hơn.
Love mickey,