Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Trách nhiệm đối với người đọc

0 trả lời, 159 lượt xem — Trang 1 / 1
Trách nhiệm đối với người đọc

Trần Trọng Trung

Tôi đồng ý với tác giả Nguyễn Phương Thoan viết trong Văn nghệ số 30 (24-7-2004) rằng đã liên quan đến lịch sử là phải chính xác đồng ý với dịch giả Đoàn Tử Huyến viết trong Văn nghệ công an số 8 (8-2004) rằng người dịch sách không thể thiếu trách nhiệm với độc giả. đồng ý với tác giả Nguyễn Văn viết trong Quân đội nhân dân (thứ sáu 27-8-2004) rằng tính lôgic đôi khi bị bỏ qua, không phải cố tình mà do cẩu thả hoặc do sự đãng trí trong khi sáng tác. Cần khẳng định rằng cái “do” bao trùm nhất là thiếu trách nhiệm đối với người đọc, như ông Đoàn Tử Huyến đã nói, không chỉ của người sáng tác hay người dịch, mà cả trong khâu biên tập và đọc bản in (bông) nữa... Tôi muốn cùng các tác giả trên đây nói thêm về tính phi lôgic và thiếu chính xác trong một số bài viết và bài nói gần đây liên quan đến lịch sử cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Cuốn AImanach - Những nền văn minh thế giới (Nxb Văn hóa thông tin - 1999) là một bộ sách quý, dày hơn 2.000 trang. Tiếc rằng trong cuốn sách còn để sót lại những hạt sạn khá lớn. Đầu năm 2000, tôi đã viết một bài góp ý chi tiết đăng trên Tạp chí lịch sử quân sự. ở đây chỉ dẫn ra hai điểm nhỏ mà tôi nghĩ rằng nếu chú ý thì có thể tránh được. Ví dụ:

- Người viết không thể dễ dàng đồng tình với một tác giả nước ngoài nào đó nói rằng ông Võ Nguyên Giáp là tướng 5 sao và là tư lệnh của quân đội Bắc Việt (trang 331). Quân đội ta, dù cấp úy, tá hay tướng, đều không có quân hàm 5 sao. Đại tướng Võ Nguyên Giáp của chúng ta là Tổng tư lệnh toàn quân, toàn quốc.

- Dù phát âm có thể không thật chuẩn nhưng không thể viết lẫn lộn tên tướng Mỹ Weyand thành tên cầu thủ số 10 đội tuyển bóng đá Anh Owen được (trang 327)

Báo Văn nghệ số 32 (7-8-2004) có bài về Thiếu tướng Cao Pha - một cuộc đời binh nghiệp. Về chuyện Cụ Hồ đi chiến dịch Biên giới, ông Cao Pha kể với người viết rằng: “Một hôm tôi nhận chỉ thị anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) chuẩn bị đưa Bác đi quan sát mặt trận. Tôi trực tiếp đi tìm một vị trí theo đúng yêu cầu của anh Văn ở gần chỉ huy sở Nà Lạng... Ngồi trên một phiến đá Bác quan sát địa hình Đông Khê, Thất Khê, Cao Bằng khoảng một tiếng đồng hồ...”. Nà Lạng thuộc Đông Khê. Từ Đông Khê lên Cao Bằng 38 kilômét đường chim bay, từ Đông Khê xuống Thất Khê 20 kilômét đường chim bay. Ngồi ở Nà Lạng nhìn dọc theo đường số 4, mà thấy cả Thất Khê và Cao Bằng thì có chăng là nhìn trên sa bàn hay trên bản đồ. Còn muốn nhìn thực địa thì dù ống nhòm bội số lớn đến mấy cũng không thể thấy được vì đây là một vùng núi rừng trùng điệp của biên giới Đông Bắc. Chỉ cần ngẩng đầu lên là “tầm mắt đập ngay vào sườn núi”.

Trong dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, thấy quá nhiều thông tin rất lạ chung quanh sự kiện lịch sử trọng đại này, rải rác trên sách báo, bài diễn văn và bài phát biểu trong hội thảo.

Một ví dụ về tài liệu dịch. Tôi có thể không dẫn chứng cụ thể nhiều tài liệu dịch trong đó có những từ hay cụm từ bị dịch sai một cách kỳ lạ (ví như soldat de 2è classe được dịch là lính loại 2 - trong quân ngũ, ta cũng như tây, đó là binh nhì). Điều tôi dẫn ra đây là bản dịch cuốn sách của Jules Roy (Trận Điện Biên Phủ). Cuốn sách được dịch và in rất đẹp, người dịch được giới thiệu “là một nhà nghiên cứu sử học, dịch với tất cả tri thức, tài năng và tấm lòng”. Nhưng rất tiếc rằng có một nhà nghiến cứu nói với tôi: cuốn sách dịch quá dở. Vì đã có trong tay cuốn sách đó nên tôi đồng tình và nói thêm: nếu ai đi tìm và đối chiếu với nguyên bản của Jules Roy thì có thể rút ra kết luận rằng: cuốn sách không thể dùng được nếu muốn sưu tầm một cách nghiêm túc những tư liệu từ phía bên kia .

Trên Báo Lao động số Xuân Giáp Thân, trong bài Trái tim Điện Biên Phủ, một vị nghệ sĩ Nhân dân viết như thế này: Thung lũng Điện Biên Phủ có lẽ là một trong những nơi tập trung nhiều “linh hồn bất tử “ nhất trên đất nước ta từ trước đến nay. Trong nghĩa trang dưới chân đồi A1 chỉ có 4 anh hùng liệt sĩ có tên trên bia mộ. Đó là Cù Chính Lan, Bế Văn Đàn một bên và Phan Đình Giót, Trần Can một bên. Xin hỏi: Tại sao lại quên Tô Vĩnh Diện và tại sao Cù Chính Lan hi sinh ngày 13 tháng 12 năm 1951 trong trận Giang Mỗ (chiến dịch Hòa Bình) lại về an nghỉ tại Điện Biên Phủ? Ai đã cải mộ anh về A1?

- Ai có quyền thay đổi phương châm tác chiến chiến dịch Điện Biên Phủ? Có người nói trên VTV rằng chỉ có Bộ Chính trị và Hồ Chủ tịch mới có quyền làm việc đó. Sự thật không phải thế. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên đường ra mặt trận, Cụ Hồ bảo: Tướng quân tại ngoại, giao cho chú toàn quyền quyết định. Và trên thực tế là: chiều 26 tháng 1-1954, (sau 12 ngày đêm theo dõi tình hình và suy nghĩ cân nhắc, — chứ không phải chỉ qua một đêm không ngủ như đã nói trên VTV), Đại tướng đã thuyết phục tập thể Đảng ủy mặt trận và đi đến quyết định thay đổi phương châm từ “đánh nhanh thắng nhanh” thành “đánh chắc tiến chắc”, rồi hạ lệnh kéo pháo ra, lệnh cho bộ binh lui về vị trí tập kết, lệnh cho 308 sang Thượng Lào, đồng thời biên thư hỏa tốc cho người về báo cáo Bộ Chính trị và Cụ Hồ.

- Cũng trong ngày 26 tháng 4-2004, có người nói trong buổi giao lưu trên VTV rằng đại đoàn 308 sang chiến đấu ở lưu vực sông Nậm Hu (Thượng Lào) đã được tiếp tế 2.000 tấn gạo. Đại đoàn rời Điện Biên Phủ ra đi đêm 26 tháng 1-1954 và trở lại Hồng Lếch (nơi tập kết ở phía tây cánh đồng Mường Thanh) ngày 23 tháng 2, như vậy thời gian đi chiến đấu độc lập trên chiến trường Lào là 28 ngày. Một bài toán giản đơn bằng số tròn cho thấy: mỗi người ăn nhiều nhất mỗi ngày một kilô gạo, nhân với quân số 10.000 người, nhân với 28 ngày, thành 280 tấn. Sách Lịch sử hậu cần QĐNDVN 1944-1954, trang 277 viết: bạn đã huy động 300 tấn lương thực, thực phẩm. Nói 2.000 tấn gạo tức là nói sai sự thật tới gần 7 lần.

Tháng 4-2004, cũng trong một cuộc giao lưu trên VTV theo chủ đề An toàn khu với Điện Biên Phủ, một vị lãnh đạo Tỉnh nọ đã nói rằng tháng 6 năm 1953 ở một địa phương nào đó trong tỉnh, đại đoàn 308 đã đắp mô hình Điện Biên Phủ — có cả Đồi A1 — cho bộ đội tập đánh công kiên, chuẩn bị tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Xin thưa, bấy giờ tướng Navarre mới sang, kế hoạch Navarre chưa có (24 tháng 7 mới được Paris thông qua), chưa hề có chuyện tổng chỉ huy Pháp ném quân dù xuống chiếm Điện Biên Phủ và xây dựng tập đoàn cứ điểm. Mùa hè năm 1953, bộ đội ta đắp cứ điểm để tập đánh công sự vững chắc ở Đồng Thịnh (Đại Từ - Thái Nguyên) là nhằm chuẩn bị tiến công địch ở Nà Sản, một tập đoàn cứ điểm mà năm trước — trong chiến dịch Tây Bắc — ta không đủ sức tiêu diệt. Tháng 8-1953 Navarre rút quân khỏi Nà Sản, tháng 11 ném quân xuống chiếm Điện Biên Phủ, đầu tháng 12 hạ quyết tâm xây dựng tập đoàn cứ điểm trên cánh đồng Mường Thanh. Ta mất mục tiêu Nà Sản nhưng lại có thời cơ khác để vận dụng kết quả huấn luyện về đánh công sự vững chắc vào trận tiêu diệt tập đoàn cứ điểm địch ở Điện Biên Phủ.

Trong cuộc hội thảo về Điện Biên Phủ ở Hà Nội, có người nói với khách nước ngoài rằng chiến dịch Biên giới quan trọng hơn chiến dịch Điện Biên Phủ. Đúng là chiến dịch Biên giới có một vị trí rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Thắng lợi trên đường số 4 cuối năm 1950 đánh dấu một mốc chuyển biến cơ bản cả về thế và lực có lợi cho ta. Ta đã thoát khỏi tình thế chiến đấu trong vòng vây như 5 năm trước đó. Nhưng về quy mô lực lượng cũng như về ý nghĩa chiến lược trong cả 44 chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Pháp, không chiến dịch nào có thể ngang tầm với chiến dịch Điện Biên Phủ.

Có tờ tạp chí chuyên ngành cũng để lại những sai sót đáng tiếc trong số chuyên san về Điện Biên Phủ. Chỉ xin dẫn hai ví dụ :

1. - Ngay trang đầu, có bức ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bên trái là ông Nguyễn Chí Thanh, bên phải là ông Văn Tiến Dũng. Bức ảnh có lời chú thích : Đại tướng Võ Nguyên Giáp phổ biến kế hoạch tác chiến Điện Biên Phủ. Chúng ta biết ông Giáp rời Tổng hành dinh lên đường ra mặt trận ngày 5 tháng 1 năm 1954. Ngày 12 nghe Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái báo cáo sơ bộ về kế hoạch tác chiến chiến dịch ở Tuần Giáo. Ngày 14 phổ biến kế hoạch trong hội nghị cán bộ chiến dịch. Ngày 26 quyết định thay đổi cách đánh. Vậy ông Giáp phổ biến kế hoạch tác chiến chiến dịch Điện Biên Phủ cho Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Nguyễn Chí Thanh vào lúc nào? Chúng ta đều biết cả hai ông Nguyễn Chí Thanh và Văn Tiến Dũng đều không có mặt trong chiến dịch này.

2.- Trang 10, có tác giả viết: Pháp thua về chiến lược... là đã bị đối phương buộc phải chấp nhận một trận quyết chiến chiến lược sớm hơn nhiều so với dự tính, trên một chiến trường do đối phương lựa chọn, đó là Điện Biên Phủ. Qua hai tập hồi ký của Navarre, người đọc thấy viên tổng chỉ huy Pháp coi cánh đồng Mường Thanh là một địa bàn lý tưởng, với địa hình rất rộng và bằng phẳng, thuận tiện cho việc lập một căn cứ không quân - lục quân, nên ông ta đã chọn Điện Biên Phủ để xây dựng tập đoàn cứ điểm để ngăn chặn ta tiến quân sang Thượng Lào và nếu ta “liều mạng húc vào” thì nhất định sẽ bị quân Pháp tiêu diệt. Như vậy phía Pháp chọn Điện Biên Phủ chứ không phải ta chọn. Điều này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử (trang 89) như sau: “Nếu kẻ địch chấp nhận trận đánh ở Điện Biên Phủ, thì đây cũng là chiến trường do chúng lựa chọn’’.

Gần đây nhất, trong dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám cũng có những bài báo đáng chú ý. Vài ví dụ :

- Báo Quân đội nhân dân số 15561 ngày 23-8-2004 có đăng bài Từ Pác Bó đến Tân Trào - cái nhìn sau 59 năm, nói đến việc dựng cuốn phim về chặng đường Cụ Hồ từ Pác Bó về Tân Trào tháng 5 năm 1945. Pác Bó thuộc Hà Quảng - Cao Bằng, tức thuộc vùng Bắc - Đông Bắc của Tổ quốc. Vậy mà không hiểu sao hai tác giả bài viết lại chuyển mảnh đất lịch sử nổi tiếng này sangTây Bắc. Trong bài viết có những câu như sau: “Đoàn làm phim đã lặn lội lên Tây Bắc để quay phim, tái hiện lại một cách chân thực và sinh động những nẻo đường nơi Bác đã đi qua trên hành trình gian khổ ấy. Trung tuần tháng 8 năm 2004, sau nhiều ngày trèo đèo lội suối lên Tây Bắc, vượt qua những cơn mưa đầu nguồn cuối hạ dữ dội, những thác nước băng băng, sống lại với hành trình Pác Bó, Tân Trào, bộ phim đã được quay và dựng xong...”. Cũng trong bài báo, khi nói về việc bà con địa phương dùng thuốc dân gian chữa bệnh cho Cụ Hồ khi Cụ bị ốm ở Tân Trào hồi tháng 7-1945, các tác giả viết: May mắn sao, một thầy lang người Tày được tìm về bắt mạch và cắt thuốc cho Bác vượt qua cơn bệnh hiểm nghèo. Cách mạng thành công, cho đến bây giờ, vẫn chưa biết được bà lang ấy là ai — nhưng câu chuyện ấy như một điều nói lên tình cảm của đồng bào Tây Bắc với Bác biết bao sâu nặng...” Đã từng có bài báo nói Tân Trào thuộc Thái Nguyên. Bây giờ lại có bài báo nói Pác Bó và Tân Trào thuộc Tây Bắc. Thật khó mà hiểu được người viết thiếu trách nhiệm đối với bạn đọc đến như thế nào?

- Viết về thời điểm giành chính quyền ở Hà Nội, có bài Gặp lại người cắm cờ đỏ sao vàng trên nóc phủ Khâm sai - đăng trên Quân đội nhân dân cuối tuần 22-8-2004, trong đó có câu (do ông Quang Ngọc — người cắm cờ trên phủ Khâm sai ngày 19-8-45 kể lại cho nhà báo Nguyễn Ngọc Lan): “Đứng trên nóc nhà cao tầng nhìn xuống, tôi được chứng kiến cảnh hàng nghìn người đang đứng chật kín cả một đoạn đường, ai cũng giơ tay vẫy vẫy, miệng hô vang khẩu hiệu “Đả đảo bọn đế quốc”, “Việt Nam độc lập muôn năm”, “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Xin thưa: Hà Nội giành chính quyền 19-8-1945, ngày 22-8-1945 Cụ Hồ mới rời Tân Trào, chiều 25 về đến Hà Nội và ngày 2-9-1945 mới ra mắt quốc dân. Trước ngày Cụ đọc Tuyên ngôn độc lập, nhân dân ai mà biết có Cụ Hồ làm Chủ tịch nước để mà hô “muôn năm”? Một điều nghi vấn khác là tại sao một đội Thanh niên xung phong Trung ương đầu tiên được thành lập ở Núi Hồng (Thái Nguyên) theo chỉ thị của Bác Hồ lại được giao nhiệm vụ cắm cờ trên nóc phủ Khâm sai trong cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội?

Trong một cuộc họp tại trụ sở báo Quân đội nhân dân bàn về việc viết bài nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội, có một cộng tác viên nhắc lại mấy yêu cầu đối với tác giả, dịch giả và Ban biên tập, đó là: mới, đúng, đủ, rõ, hay. Tôi cho rằng đạt được cả 5 yêu cầu trên đây thì quý hoá vô cùng. Nhưng, để thể hiện trách nhiệm đối với người đọc, nhất là để giúp các bạn đọc trẻ hiểu chính xác sự thật lịch sử, yêu cầu hàng đầu phải là đúng đã. Chỉ cần phát hiện một chi tiết không đúng, một sự kiện “tam sao thất bản”, người đọc sẽ không tin cả bài báo, thậm chí cả quyển sách. Và như vậy là thiếu trách nhiệm với người đọc. Hãy nói, kể, viết những gì đúng như lịch sử đã diễn ra. Hãy thận trọng tìm những từ ngữ nào chuẩn nhất khi dịch sách nước ngoài, nhất là trong điều kiện được gọi là “loạn từ điển” như hiện nay. Đấy là lương tâm và trách nhiệm của nhân chứng, của người viết, người dịch, người nói và của tất cả mọi người trong các khâu liên quan đến việc ra đời của một công trình nghiên cứu lịch sử dù lớn hay nhỏ, dù là sử chính thống hay ký sự lịch sử, chuyện kể, hồi ký, hồi ức… do tác giả tự viết hay người khác “thể hiện”.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0