Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Chất lính và hồn quê trong thơ Hữu Thỉnh

0 trả lời, 257 lượt xem — Trang 1 / 1
Chất lính và hồn quê trong thơ Hữu Thỉnh

Ngô Văn Phú

Hữu Thỉnh cùng trang lứa với Ngân Vinh, Vũ Đình Minh, Nguyễn Bách, một lớp nhà thơ đầu thời chống Mỹ ở Vĩnh Phúc. Tôi nghe nói Hữu Thỉnh có nhiều bài thơ “được lắm”, nhưng chưa chịu gửi đăng báo…

Có lẽ là do tính thận trọng của anh chăng!

Khi tôi về lấy tài liệu thêm về anh hùng Lê Xuân Tấu, để viết về chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tôi mới gặp anh, lúc ấy Hữu Thỉnh là trợ lý tuyên huấn ở Binh chủng thiết giáp… Suốt hàng tuần, ở cạnh nhau, anh không hề hỏi han gì về thơ, và cũng không đưa cho tôi bài thơ nào của anh cả!

Nhưng trong cuộc thi thơ 1971-1973 ở Báo Văn nghệ ít lâu, tôi đã được đọc thơ Hữu Thỉnh. Dạo ấy thể lệ dự thi là một chùm 5 bài. Những người nào được đăng chùm, thì gồm từ hai đến ba bài. Hữu Thỉnh in một chùm ba bài, vào chung khảo, và cuối cùng, đoạt giải nhất, trong đó có bài Chuyến đò đêm giáp ranh và Sức bền của đất… ở Chuyến đò đêm giáp ranh, thơ Hữu Thỉnh đã đằm chất lính và chất quê. Cả vùng giáp ranh, đêm chiến tranh, hiện rất rõ một không gian đồng áng:

Tiếng bìm bịp bập bềnh trong đêm nước lên,

Cỏ lác, cỏ lăn cứa vào đêm ram ráp,

ếch nhái nghiến răng sao mà sốt ruột

Chớp nhì nhằng, lô cốt méo bên sông…

nhưng cũng từ không gian vào trận ấy, đồng áng lại dồn nén, căng lên trong không khí chiến tranh. Và những câu thơ báo hiệu tài hoa đã hiện lên:

Gió thổi dài ẩm ướt về khuya

Con sóng nói nhịp chèo cũng nói

đêm căng như tờ giấy

chia đều sang hai trang…

Và, đoàn chiến sĩ qua sông với ríu ran chuyện lính… những chàng lính ấy vào trận với một tâm hồn lãng mạn không ngờ, trước một khoảnh khắc sông nước, đất trời đêm giáp ranh:

Bìm bịp chùm đôi kêu dính vào nhau,

tiếng nước vỗ tan ra rồi chập lại

đêm chỉ thực bằng âm thanh chừng ấy

tất cả là ru, tất cả là mơ.

Con đò rướn cao, sực đã tới bờ,

chúng tôi bước lên. Cát buổi chiều còn ấm,

đêm giáp ranh có cái gì đậm đậm

ở đầu môi, ở trong tóc, khắp làn da

đêm qua sông không nhìn rõ con đò

và người lái dồn bao nhiêu câu hỏi

Chúng tôi đi, còn tần ngần ngoái lại

Chỉ thấy vầng trăng cuối tháng mới quăng lên.



Chúng tôi đi với một niềm tin

Vầng trăng ấy chở chúng tôi cập bến.

Thời gian ấy, tôi ở ban sơ khảo, đọc được chùm thơ Hữu Thỉnh, tôi mừng lắm, mừng vì đất Vĩnh Phú (thời ấy còn gồm hai tỉnh chưa tách, là Vĩnh Phúc và Phú Thọ), sau Phạm Tiến Duật, có một nhà thơ của lính mà chắc chắn sẽ còn đi xa… Khi Phạm Tiến Duật nhận giải nhất Báo Văn nghệ ở cuộc thi thơ năm 1969-1970 thì Duật đã rất nổi tiếng. Còn Hữu Thỉnh, đoạt giải nhất cuộc thi này, thơ in chưa bao nhiêu. Lại xuất hiện trong lúc thơ bộ đội cũng đã nhiều cây bút xuất sắc cùng xuất hiện lúc này như Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Lâm Huy Nhuận, Hoàng Nhuận Cầm, Anh Ngọc, Trần Mạnh Hảo… Nhưng, những báo hiệu trong Chuyến đò đêm giáp ranh và Sức bền của đất, đủ cho tôi tin…

Và quả nhiên, niềm tin ấy không phải đợi chờ lâu.

Khi chiến dịch Hồ Chí Minh tiến vào giải phóng miền Nam, giải phóng Sài Gòn, Hữu Thỉnh theo binh đoàn thiết giáp. Và, chỉ sau ngày 30 tháng 4-1975, ít lâu, năm 1979, Hữu Thỉnh đã trình làng trường ca Đường tới thành phố. Sau chiến thắng 30-4, có thể nói là được mùa trường ca. Liên tục các tập trường ca ra đời. Hình như, chiến thắng vĩ đại trong cuộc chống Mỹ cứu nước, là một trong những nhân tố, thúc đẩy các nhà thơ viết trường ca… Mặt khác, những nhà thơ viết trường ca đều là những người tích luỹ được kinh nghiệm, vốn sống, sau nhiều năm lăn lộn ở chiến trường; dự nhiều những trận đánh, nếm nhiều gian khổ, chứng kiến biết bao điều kỳ diệu của đồng đội và nhân dân mình trong cuộc chiến đấu anh hùng. Đó cũng là một trong những nhân tố khác, khiến những trường ca chiến trận liên tiếp ra đời và thường là do những nhà thơ mặc áo lính viết… Từ năm 1974 đến khi bước vào thời kỳ đổi mới, khoảng những năm Tám mươi, liên tiếp những trường ca nối nhau ra đời: Kể chuyện ăn cơm giữa sân của Nguyễn Khắc Phục (1974), Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm (1974), Ba-dan khát của Thu Bồn (1977), Những người đi tới biển của Thanh Thảo (1977), ở làng Phước Hựu của Trần Vũ Mai (1978), Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh (1979) và sau này là Sông Mê công bốn mặt của Anh Ngọc và Đất nước hình tia chớp của Trần Mạnh Hảo…

Trường ca của Hữu Thỉnh viết vào quãng giữa . Thật ra, đó là một bút ký thơ, hoặc là tuỳ bút thơ, về chiến dịch Hồ Chí Minh, và nhân vật trung tâm của trường ca chính là tác giả, một người đã có vinh dự, theo binh đoàn xe tăng vào giải phóng Sài Gòn… Kết cấu của Đường tới thành phố cũng khá hiện đại… Những chương, những phân cảnh của từng chương, vừa có tính độc lập, mà vẫn có mối liên kết với nhau trong từng chương và trong toàn bộ tác phẩm. Lối viết từ những ấn tượng vào trận lớn ban đầu; từ việc đưa ra những nhân vật, tình huống cụ thể của những nhân vật có vai trò then chốt; của một đơn vị chủ công, khá quyết định trong việc mở đường tiến vào Sài Gòn… Những rung cảm lớn về đất nước về trách nhiệm, về sự gắn bó giữa cá nhân và đồng đội, là những ấn tượng bao trùm, khi những chiến sĩ trong chiến dịch Hồ Chí Minh bước vào trận đánh lớn. Những suy tư về quá khứ và hiện tại, cái bình thường và cái vĩ đại ở trong từng con người, ở cả một dân tộc, một đất nước anh hùng; sự âm thầm lặng lẽ của nhân dân trong lòng địch khao khát, sau bao nhiêu năm chiến đấu, chờ đạo quân lớn vào giải phóng, được viết trong những cảm hứng dào dạt, trong tầng tầng lớp lớp chen cài…

Lối kết cấu đa chiều này, nếu không có những đoạn thơ, những câu thơ có hồn giữ chân người đọc thì những nhược điểm, những sự lỏng lẻo của kết cấu cũng dễ được nhận ra…

Có người cho Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh hay về phần sau mà phần đầu thì tản mạn, còn trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo thì đoạn đầu rất xuất sắc, còn đoạn sau hơi rối!

Sau nhiều năm, đọc lại Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, tôi vẫn quý bởi tác phẩm này đã để lại được những dấu ấn, có tính lịch sử. Đọc ở đấy, người ta vẫn nhận ra được không chỉ cả nước vào trận, cả nước cho chiến thắng. Cái phần đầu có vẻ lỏng lẻo kia thực ra là tâm trạng đầy những thúc đẩy, những hy vọng, những liên tưởng của bất cứ ai vào trận. Những phân đoạn trường ca, tả đám đông, hay dừng lại đặc tả, đều có chất thơ, cái chất níu giữ được người đọc. Trường ca dài tới trên một ngàn câu, mà chủ đề vẫn luôn được các phân cảnh khắc hoạ khá rõ. Những điểm nhấn, có đoạn khá hay, khá ấn tượng:

Chị tôi không trẻ nữa, xóm làng thương ý tứ vẫn kêu cô,

Xóm làng thương không khóc con trước mặt,

hai mươi năm chị tôi đi đò đầy

cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc

vẫn được tiếng là người đứng vậy

nhưng anh tôi vẫn còn.

(…) chị tôi không thể làm như con rắn que cời,

lột cái xác già nua dưới gốc cây cậm quấy,

chị thiếu anh nên chị bị thừa ra

trong giỗ tết, họ hàng nội ngoại,

bao nhiêu tiếng cười vẫn côi cút một mình

những đêm, trở trời, trái gió

tay nọ, ấp tay kia

súng thon thót ngoài đồn dân vệ

một mình một mâm cơm

ngồi bên nào cũng lệch

chị tôi chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền.

Trường ca Đường tới thành phố đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn năm 1980. Sau đó Hữu Thỉnh còn viết thêm một trường ca nữa là Trường ca biển, về các chiến sĩ ở Trường Sa. Cả hai trường ca của anh đều để lại được ấn tượng trong lòng bạn bè và người đọc…

Nhưng phải chờ tới Thư mùa đông, người ta mới thật nhận ra được hồn thơ của Hữu Thỉnh.

Trong một người làm thơ, viết được câu hay, đoạn hay đã quý, nhất là bài thơ hay, bài thơ được đời nhớ và nhớ đời, thì đó là ao ước. ở Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, những câu thơ hay, câu thơ tài hoa không hiếm:

Đôi khi chợt thấy năm trôi vụt

Cá quẫy lòng ao cũng giật mình

Cây không đủ trái đền ơn đất

Mượn của trời thêm một chút hanh

(Cuối năm)

Phải gắn bó với đồng ruộng lắm, với quê hương lắm mới viết được những câu thơ như thế.

ở một thảo nguyên bao la, câu thơ tình của anh đã thả tình yêu vào đất trời rộng lớn:

Tê tái của lòng anh

Đem ghè mà khó vỡ

Gọi em tàn cơn mưa

Thảo nguyên còn để ngỏ

(Thảo nguyên)

Trong Thư mùa đông, bài Phan Thiết có anh tôi đã trở thành một bài thơ nổi tiếng. Lấy tấm lòng người lính để viết về một người lính, đồng thời là khúc ruột cắt đôi của mình, đã hy sinh… lấy tâm hồn của một đứa con của một làng quê lam lũ, xoay vần với nắng mưa, để đi tìm mộ anh bên bờ biển, với bao nhiêu kỷ niệm không phải chỉ riêng tình anh em, mà còn là sự gắn bó với quê kiểng, với nghĩa vụ rất giống nhau, của em cũng như của anh, để khóc một người thân đã ngã xuống vì Tổ quốc. Phan Thiết có anh tôi, có thể là một trong những bài thơ hay viết về chiến tranh, trong đó, chính trong cái bi thương đã toát lên tâm hồn chân thành, đôn hậu của người lính xuất thân từ đồng áng. Thơ viết một hơi đầy tràn cảm xúc:

(…) Những ngôi sao tìm cách sáng về khuya,

Những người lính mở đường đi lấy nước

Họ lách qua những cánh đồi tháng chạp

Trong đoàn người dò dẫm có anh tôi

Biển ùa ra xoắn lấy mọi người,

Vì yêu biển mà họ thành sơ hở

Anh tôi mất sau trận bom toạ độ

Mất chỉ còn cách nước một vài gang.



Anh ở đây mà em mãi đi tìm,

Em hy vọng để lấy đà, vượt dốc

Tân Cảnh

Sa Thầy

Đắc Oét

Đắc Tô



Em đã qua những cơn sốt anh qua

Em đã gặp trận mưa rừng anh gặp

Vẫn không ngờ có một trưa Phan Thiết

Em một mình đứng khóc ở sau xe



Cánh rừng kia trận mạc còn kia,

Vài bước nữa thì tới đường số Một,

Vài bước nữa

Thế mà

Không thể khác

Biển màu gì thăm thẳm lúc anh đi?

Trong Thư mùa đông còn nhiều bài thơ hay khác. Đó là những bài thơ có tính triết lý như Tôi bước vào thành phố, Chiếc vó bè, Người ấy, và đặc biệt là bài Hỏi. Đó là những suy nghĩ, tâm tư của Hữu Thỉnh trước nhân tình thế thái. Trong Thư mùa đông cũng có những bài thơ tình hay như Thư mùa đông, Em, nhưng, với Thơ viết ở biển, mới thấy anh nhà - quê, và anh lính Hữu Thỉnh, khi yêu đương cũng thật đắm đuối và lãng mạn:

Anh xa em,

Trăng cũng lẻ

Và mặt trời cũng lẻ

Biển vẫn cậy mình dài rộng thÕ

Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn

Gió không phải là roi mà vách đá phải mòn

Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím

Sóng chẳng đi đến đâu

nếu không đưa em đến

Dù sóng đã làm anh

nghiêng ngả

Vì em…

Với Thư mùa đông, thêm một lần, Hữu Thỉnh lại nhận được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1995. Năm 2001 Hữu Thỉnh được tặng Giải thưởng Nhà nước.

Trong vòng hơn mười năm, có được thành công ấy, giữa bốn thế hệ thơ đã có nhiều người nổi tiếng, đạt được như Hữu Thỉnh, không phải ai cũng làm được.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0