Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Đôi nét về Nguyễn khải qua "Thượng Đế thì cười"

0 trả lời, 522 lượt xem — Trang 1 / 1
Đôi nét về Nguyễn khải qua "Thượng Đế thì cười"

Đông La

“Thượng đế thì cười” (tiểu thuyết của Nguyễn Khải, Nxb Hội Nhà văn) thực chất là một cuốn hồi ký, nhưng lại được viết theo hình thức của một tiểu thuyết; tức các nhân vật đều có thực, còn kết cấu, văn phong thì được viết theo kiểu tiểu thuyết. Xuất phát từ câu chuyện người vợ, sau cả quãng đời dài cùng ông gắn bó, ngọt bùi cùng sẻ, đắng cay cùng chia, về già lại đâm ra ghen tuông, khiến ông nhà văn vốn rất khéo xử với đời lại không biết xử thế nào với vợ... toàn bộ cuộc đời của Nguyễn Khải (NK) đã được dựng lên. Qua đó, ta thấy cuộc đời NK là một sự pha trộn bởi những điều trái ngược nhau. Nếu ông là một đứa con thêm bị sỉ nhục, bị bỏ rơi của một ông bố thiếu tình thương và trách nhiệm thì ông lại là đứa con yêu của cách mạng. Xuất thân không may bao nhiêu thì cuộc đời lại bù đắp cho ông bấy nhiêu. Những năm kháng chiến chống Pháp gian khổ hy sinh là thế, nhưng với riêng NK lại là những ngày vui nhất. Khi thoát khỏi cái ngục tù của sự ghẻ lạnh, cái bấp bênh và mong manh của nỗi bơ vơ, được gia nhập quân đội, chàng thiếu niên NK như con chim sổ lồng, vùng vẫy thỏa thích giữa bầu trời tự do, bởi thế có lúc mới “tự dưng chạy như thằng rồ” đơn giản chỉ vì “thấy vui quá thì chạy” mà thôi. Còn trong kháng chiến chống Mỹ, khi cả nước chia ly, cả nước không nhà nào không có người thân nơi đầu rơi máu chảy, riêng NK: “Vợ chồng hắn suốt bốn mươi lăm năm chưa môït lần ăn tết lẻ loi ”, đôi lúc ông còn phải tự thấy ngượng, tự thấy mình có lỗi vì sự quá may mắn của mình. Không chỉ thế, từ một đứa bé trước mắt ông bố chỉ là một “thằng mán tiền”, ông lại trở thành một sĩ quan cao cấp, một nhà văn danh tiếng. Xuyên suốt TĐTC, NK đã bộc bạch, bày tỏ lòng biết ơn sâu xa với cách mạng: “Nếu không có cách mạng thì mãi mãi hắn sẽ bị ám ảnh là một đứa trẻ bị ruồng bỏ... chỉ xứng đáng có một thân phận hèn mọn”. Chính cách mạng đã cho ông lòng tự tin, biết lãng mạn, biết mộng mơ và biết xây đắp chí hướng. Và rồi hiện thực của đất nước, của cuộc đời ông đã diễn ra còn kỳ lạ hơn cả những giấc mơ của ông. Về điều này, Vương Trí Nhàn, trong bài viết “Trở lại cái thời lãng mạn” đăng trên Văn nghệ gần đây, đã trích câu của NK: “... có nhiều trang viết đã làm tôi xấu hổ…những trang viết chủ quan, kiêu ngạo chỉ khẳng định có một niềm tin, một lẽ sống...” để nói ông đã quên điều tự kiểm này khi viết TĐTC, lại quay lại với “cái thời lãng mạn”. Theo tôi nhận định này không được đúng. Ý trên NK muốn tự phê cách viết phiến diện do trình độ cũng như xu thế chung của một thời, chưa phản ánh đầy đủ và sâu sắc hiện thực cuộc sống. Còn trong TĐTC, đối tượng là chính cuộc đời ông, rõ ràng ông đã viết rất chân thực, nhiều chỗ tỉ mỉ đến tận chân tơ kẽ tóc. Lòng biết ơn cách mạng của ông là tình thực bởi chuyện cách mạng đã đổi đời ông là sự thực. Còn một người như ông, bây giờ lại tỏ ra tiên phong, đổi mới, tự phủ nhận mình rồi phủ nhận tất cả, theo tôi là không công bằng, phi logic, không đúng với quy luật tâm lý. Tổng thống Nga Putin, nhân vật hiện được cả thế giới khâm phục, như một huyền thoại, “trong nháy mắt” đã làm cho cả cái nước Nga cồng kềnh rệu rã hồi sinh, chỉ một câu nói của ông thôi cũng đủ chứng tỏ ông tại sao lại có cái khả năng phi thường đó: “Nếu ai đó phủ nhận hoàn toàn quá khứ là người không có trái tim, còn ai đó cứ làm theo cái cũ sẽ là người không có đầu óc”. NK thấy thành tựu nhưng cũng thấy những sai lầm và ủng hộ cái đúng đắn, như đoạn ông viết về ông Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú: “Hình tượng cái kiên cường trong câm lặng của một Bí thư tỉnh ủy mãi mãi là chỗ dựa về tinh thần mỗi lần hắn ngập ngừng trước trang giấy”, rồi: “Một chủ trương rất hợp lòng dân, được dân ủng hộ mà một Đảng vì dân lại bảo người lãnh đạo có cái chủ trương đó... là người không trung thành với lý tưởng... là nghĩa làm sao!” . Viết vậy mà cho ông lại quay lại với lối viết một chiều của “cái thời lãng mạn” là không đúng. Tôi cho rằng cái quy luật tự phủ nhận, tự diễu cợt chẳng bao giờ là cái quy luật chung của việc viết hồi ký. NK cũng rất trung thực và rành mạch khi xác định trách nhiệm. Là một đảng viên, một sĩ quan quân đội, đồng thời là một nhà văn, NK biết rõ: “Những trách nhiệm ấy không phải luôn luôn hòa hợp được với nhau, có khi được là một đảng viên tốt, một quân nhân tốt thì lại là một anh nhà văn tồi”; và khi có sự va chạm thì NK đã đặt trách nhiệm đảng viên lên cao hơn, sẵn sàng chấp nhận mình là nhà văn loại 2, loại 3, bởi với ông: “không có cách mạng thì đến làm người tầm thường cũng khó nói gì làm môït nhà văn”. Tuy nhiên, TĐTC còn có giới hạn, một nhà văn thông minh giàu chất suy tư, có thể như một nhà tư tưởng, không hiểu sao những vấn đề cấp thiết của hiện tại như sự mất đoàn kết, sự tham nhũng, nền kinh tế tụt hậu, sự tha hóa lối sống... gần như không được NK nghĩ tới trong cuốn sách quan trọng, “tổng kết” cả cuộc đời của mình này.

Qua TĐTC, hiểu được cuộc đời NK, tôi bỗng thấy thương ông, những tưởng một người số đỏ như ông chỉ luôn được sống trong cái vầng hào quang muôn hồng ngàn tía của danh vọng, nào ngờ ông cũng phải trải qua tất cả những gì thuộc về nỗi bất hạnh của một kiếp người, mà đến một người số đen như tôi cũng không bao giờ phải trải. Tôi từng biết sơ qua hoàn cảnh xuất thân của ông, nhưng không ngờ nó lại là nỗi đau, nỗi hận đã theo ông suốt cả cuộc đời như thế. Làm sao không đau cho được khi một đứa bé nằm quay mặt vào tường nghe người bố đến nói những lời sau cùng với mẹ trước khi vứt bỏ mẹ con ông một cách lạnh lùng. Ngay cả khi ông đã thành đạt, sau đến 30 năm mới gặp lại cha, ông đã tha thứ tất cả bởi chỉ mong có được sự xum họp, sự đoàn tụ như bao gia đình bình thường, nhưng rồi vẫn chỉ là gượng gạo, là nhạt nhẽo; ngay lần gặp cuối cũng vẫn là cảnh cha trong nhà, con ngoài sân, ở giữa là cái cánh cửa sắt-cái cánh cửa định mệnh, nó như được làm nên bằng sự bất công, sự phi lý, mãi mãi ngăn cách, mãi mãi không cho ông đến được với tình phụ tử đích thực, thiêng liêng! Hỏi có còn nỗi đau nào hơn? Vậy mà NK vẫn có một nỗi đau còn lớn hơn thế nhưng nó ngược với nỗi đau trên. Nếu ông có cha mà không bao giờ có được tình cha thì với đứa con trai đầu lòng thông minh và khỏe mạnh, ông đã có nó với tất cả tình thương yêu và niềm hy vọng, nhưng ác thay, thần chết lại bất ngờ cướp nó khỏi vòng tay của vợ chồng ông khi nó 15 tuổi. Một nỗi đau đến mức khiến vợ ông phải vọt ra sữa non, đái ra máu tươi! Hỏi có ai đã đọc được một chi tiết tương tự như vậy trong văn chương cổ kim Đông Tây chưa?

Những chi tiết đời thường của gia đình NK trong TĐTC cũng khiến ông gần gũi hơn với mọi người. Không ngờ một người như ông, khi gia đình gặp cảnh túng bấn, cũng đã phải tính đến làm cả hầu bàn, làm gác cổng, vui lòng nhận cả những đồ như của bố thí “... các chị cho gì đều nhận, mà của cho cũng nhếch nhác lắm, là cho người nghèo, người không được trọng... lúc đến tay nhẹ ra về tay nặng toàn thứ tập tàng... nhà có tiền không dùng nhưng nhà nghèo vẫn phải dùng. Chị và các cháu sẽ khinh nhưng vợ con lại mừng, thôi, lấy cái vợ con mừng làm nước rửa đi cái nhục, chả sao cả”. Nếu là người thường không nói làm gì, nhưng với một nhà văn danh tiếng, đầy lòng tự trọng như ông, làm được như vậy cũng là một sự hy sinh, không cao cả như vì nước, vì dân, nhưng vì con cái cũng là điều đáng trọng.

TĐTC là cuốn hồi ký của một nhà văn già trải nhiều, biết nhiều và đã hiểu nhiều. Ông viết: “Cái thời đòi sự thắng bại đã qua, chỉ còn lại một cách sống hiền minh giữa những người già”. Ông đã viết TĐTC theo tinh thần này. Vốn luôn tự nhận mình là một người yếu đuối, con người của suy nghĩ chứ không phải của hành động “nghĩ như triết nhân làm như con trẻ” ông yêu quý những nhân vật có những phẩm chất mà ông không có, những người say mê hành động. Nếu hồi trẻ ông đã thấy vẻ đẹp của bình minh, của những chiến công thì ở TĐTC, ông đã biết đến cả vẻ đẹp của hoàng hôn, của những sự thất bại. Nhiều suy ngẫm của NK thật thâm thúy, sâu sắc. Ông kính trọng nhà văn Trần Kim Trắc, một người có tấm lòng vị tha, đã không hề hận những người từng gây nên nỗi bất hạnh cho mình mà trên gương mặt còn luôn nở một nụ cười khiêm nhượng. Nhìn nụ cười của nhà văn, ông thấy như nụ cười của một người “đã vượt khỏi sông mê, đã tới được bến bờ của Giác Ngộ”, nụ cười của một người đã biết cảm ơn đến cả những điều bất hạnh, biết ơn cuộc đời đã tàn nhẫn với mình, biết ơn bạn bè đã gây khó cho mình. Với nhà văn Vũ Bão, NK không ngờ bài phê phán của mình sau 42 năm mà: “... Nỗi đau của bạn vẫn còn nguyên đó, nguyên vẹn, tươi mới” và ông nhận ra: “Thì ra người cầm dao không thể có cùng một nỗi đau với người bị chém”. Bằng những chứng nghiệm của đời mình, ông viết: “Từ đó hắn bắt đầu biết sợ luật quả báo, luật bù trừ của ông Trời, rất hãi cái ngông nghênh của sự được thời, cái lấn sân lấn phần của kẻ hãnh tiến, chỉ xin nhận phần thiếu chứ không dám tranh phần dôi, thích đứng phía sau hơn chen ngồi phía trước, thích nhường nhịn, thích rút lui, vì tin rằng cái hụt cái thiếu của mình sẽ được bù lại cho con cho cháu”ù.

Còn một điều nữa đã làm nên nét rất riêng của tính cách NK. Tôi cũng có may mắn, ba, bốn lần gì đó được gặp NK. Ấn tượng của lần gặp đầu giờ vẫn còn nguyên vẹn. Mới đó mà đã hai chục năm trôi qua rồi! Tôi vốn đã quen nhà thơ Chế Lan Viên, nghe người ta ví NK như một “CLV văn xuôi” nên muốn biết cả hai cho đủ bộ và cũng muốn ông góp ý mấy truyện ngắn đầu tay. Ông đã tiếp tôi thật chu đáo, ông pha nước, mua thuốc, đọc 3 truyện thì khen một, mà còn khen rất ghê nữa. Vậy là cuộc gặp của người viết trẻ với một nhà văn danh tiếng quá thành công. Nhưng không hiểu sao tôi cứ hay so sánh hai người với nhau. Với CLV, lúc đầu gặp được ông quá khó khăn, nhưng khi ông biết đến mình rồi thì lại quá gần gũi, thân tình, ông là người biết sống vì mình nhưng cũng còn biết vì người khác. Còn NK, gặp ông thật dễ dàng, ông ân cần chu đáo thế, mà không hiểu sao tôi vẫn cảm thấy quá xa cách. Qua TĐTC, tôi nhận thấy, thì ra điều đó chính là do tính cách ông, cái tính cách được hình thành do sự pha trộn hai điều khác biệt: dòng máu quan lại và thân phận đứa con bị ruồng bỏ. Từng là đứa trẻ yếu đuối, bị số phận đẩy vào nghịch cảnh bơ vơ, vào đời NK luôn nhân nhượng, không muốn làm mất lòng bất kỳ ai, nhưng tôi cảm thấy, làm vậy, ông khó mà được lòng ai hoàn toàn. Bởi con người ta cần sự chân thành, sự chia sẻ. NK tham dự tất cả nhưng hình như ông ít chia sẻ. Ông đến với mọi người nhưng vẫn tạo cho mình một khoảng cách. Hình như cái dòng máu quan lại đã không cho ông bước qua cái ranh giới ấy để hòa đồng với mọi người. Với bậc đàn anh, ông viết: “Ngồi nói chuyện với các bậc đàn anh Hữu Loan, Hoàng Cầm, tuy hắn rất ngưỡng mộ tài thơ của các anh ấy nhưng vẫn hơi khó chịu khi tiếp xúc. Ở hắn có cái sạch sẽ, cái chừng mực của một viên chức. Ở các anh ấy có mùi khét nồng, có cả mùi chua gắt của những đời người có lắm nỗi gian truân”. Với bậc thầy: “Ngay như cụ Nguyễn Tuân là ông thầy trong tâm tưởng của hắn, hắn cũng chỉ đứng xa nhìn ngắm cụ, ngưỡng mộ tài văn của cụ, chứ cũng không muốn làm thư đồng hầu cụ trong một chuyến đi dài”. Với bạn bè, những người “có cùng dòng máu công chức”: “... hắn cũng không khoái được gần gũi họ. Những cử chỉ, những lời nói đắn đo, mực thước ở họ khiến hắn chỉ muốn bật cười, chả lẽ hắn lại là người như thế, là nghệ sĩ mà có thể sống nhạt nhẽo đến thế!”. Và, với những “nghệ sĩ tự do”: “... hắn, ... một viên chức đang muốn biến hóa thành một nghệ sĩ tự do, nhưng…cái đuôi viên chức thỉnh thỏang lại lấp ló lòi ra nếu như bạn bè luận bàn về chính trị tự do quá, luận bàn về đàn bà lỗ mãng quá, cười hét to quá, nói năng tục tĩu quá...” Như vậy, có lẽ ông không có một người bạn nào thực sự tri kỷ, thực sự tâm giao, một người có thể “sống chết có nhau” theo đúng nghĩa cao quý nhất của tình bạn. Những sắc thái khác nhau của cái “cung cách ứng xử Nguyễn Khải”: “tỉnh táo”, “tự giới hạn”, “lui tới”, “nhân nhượng”, “thỏa hiệp”... ông đã thực hiện tất cả chỉ với một mục đích là muốn được yên thân để viết, với ông, việc viết lách là quan trọng nhất.

Trong TĐTC, Nguyễn Khải giành khá nhiều tâm sức kể lại hành trình viết văn của mình. Tự phát trở thành nhà văn, không qua trường lớp nào, sau những vụng dại, thất bại ban đầu, ông đã tự rút ra được những bài học kinh nghiệm: “... có bao nhiêu cái lạ mà viết dở quá…Tại sao ư? Tại vì hắn đã đọc quá nhiều thứ văn chương ao tù, ngòi cạn của một thời làm dân thuộc địa với những hy vọng, lo lắng vặt vãnh, tủn mủn của cuộc sống tẻ nhạt…không thể dùng cái hành trang quá nghèo nàn để bước vào một xã hội bắt đầu có sóng to gió lớn... Lấy cái ngắn hẹp để mặc vào cái rộng lớn làm sao vừa”. Khi viết truyện ký “Người con gái quang vinh”, ông thấy “văn của mình mà không dám đọc lại” rồi ông cũng tự nhận ra do ông đã biến nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi thành người con gái Nga Zoia và kết luận: “Cái bắùêt chước, cái nhái lại, cái tình nguyện làm bản sao tồi trước sau cũng sẽ bị sức sống tiềm ẩn của dân tộc loại bỏ”. Sau gần chục năm thất bại, ông đã tự tìm ra một lối đi: “gạt bỏ những ý tưỏng có sẵn”; “thâm nhập vào cái bề bộn ngổn ngang” của cuộc sống “ghi lại thật trung thành” những gì tai nghe mắt thấy; “cảm nhận một cách hồn nhiên” những đúng sai, phải trái... “Nhà văn chỉ là người quan sát và ghi chép chứ không còn là người giật dây những con rối của mình”. Như vậy, có lẽ ông đã không ngờ rằng mình đã rút ra được cái điều cốt yếu nhất của văn chương hiện thực, đúng như Pautovxki đã từng viết đại ý: Nhà văn phải biết đặt cuôïc đời lên trên cuốn sách chứ không phải đặt cuốn sách lên trên cuộc đời. Bởi, cũng theo ý một nhà văn lớn của Nga khác mà tôi không nhớ chính xác: Cái sâu rộng của cuộc sống bao giờ cũng sâu rộng hơn cái khôn ngoan của người đời. Sau mấy chục năm, từ một sự tiếp cận khác, ông lại rút ra cái điều cơ bản ấy: “Nhà văn không phải lo sinh kế, văn chương... hóa ra trong veo vì thiếu hẳn cái đục của trần gian, mùi bùn của trần gian”. Trong TĐTC, NK cũng cho người đọc thấy những duyên cớ đã dẫn ông đến những đối tượng để rồi hình thành nên tác phẩm của ông. Dường như tất cả những cái đó ông đều được dẫn dắt bởi một sức mạnh vô hình, đó chính là cái vết thương định mệnh thuở thiếu thời. Về đề tài đạo Thiên Chúa, ông viết: “Từ nhỏ, hắn đã có thiên hướng về cái thiêng liêng... để tìm một chỗ ẩn náu cho cái thân phận bấp bênh của mẹ con hắn”; rồi: “Thực ra hắn chỉ viết hay những gì có liên quan đến những mộng mơ... đến tiểu sử và cái thế giới thầm kín của hắn”. Cũng chính vì thế ông rất dễ chạnh lòng trước những cảnh ngộ éo le, vẻ đói khát, thèm thuồng của những con người bất hạnh, vừa thương người vừa nghĩ đến thân, bởi chính mình cũng từng như thế, nếu không may đời mẹ con mình cũng sẽ mãi như thế. Đó là cảnh một bà lão ngồi bốc bún chấm muối ăn, vì không muốn phiền con mà chịu vất vưởng nơi đầu đường xó chợ nhặt hoa đại bán kiếm sống qua ngày; cảnh bà mẹ ăn nắm cháy trước mặt khách của con; chuyện vợ chồng người thương binh mù, từng đạâu đại học, đã tình nguyện nhập ngũ thay cho những kẻ cơ hội trốn nghĩa vụ hợp pháp, khi quay trở về lại thành ra kẻ làm thuê, thành con nợ của chính mấy kẻ trốn chạy ấy... Tất cả những mảnh đời ấy đều trở thành văn chương của ông, ông viết cho bạn đọc mà cũng là viết cho mình. Ông cũng rất thích những người có sức sống tinh thần mạnh mẽ, coi họ là những“nhân vật gan ruột”, một ông già vùng Đồng Tháp Mười nửa đời trước chiến đấu với quân thù, nửa đời sau lại phải chiến đấu với cái xấu, cái ác trong chính đội ngũ của mình (truyện Vòng sóng đến vô cùng). Ông cũng khâm phục những người bị lâm vào nghịch cảnh, không chịu qụy ngã mà còn chiến thắng số phận. Như chuyện đôi vợ chồng người thương binh, chồng bị bỏng bom napan toàn thân, bàn tay co quắp, vợ một cánh tay bị cụt, vẫn xây dựng được một gia đình hạnh phúc, còn sinh đến bốn đứa con xinh đẹp, ông coi như một “hiện tượng kỳ vĩ ”, một “biểu tượng của hồi sinh”: “Sức mạnh tái sinh của con người ta có thể sánh ngang với trời đất thật. Từ một đống thịt rữa nát chỉ để nuôi giòi, nuôi giun, bón đất mà thành một cơ nghiệp, một dòng họ và một tình yêu để lại mãi mãi cho hậu thế”(truyện Một bàn tay và chín bàn tay).

Tôi chưa đọc hết Văn chương NK, nhưng trong số đã đọc thì thích nhất ông viết về lĩnh vực tôn giáo, cụ thể là Xung đột và Cha và con và... Đây là 2 cuốn ông viết đúng theo kiểu “thâm nhập vào cái bề bộn ngổn ngang” của cuộc sống. Tôi thích vì sự am tường sâu sắc của ông, hiện thực qua ngòi bút ông hiện lên thật chi tiết, sống động. Ông còn có những suy ngẫm riêng, có thể là rất mới, về sự hoà hợp giữa đạo và đời, cái điều vốn đã có quá nhiều mâu thuẫn, quá nhiều đối kháng, kể cả xung đột nữa: “Bảo rằng tôn giáo sinh ra do bạc nhược và ngu dốt, chỉ đúng có một phần, tôn giáo cũng sẽ sinh ra khi con người đã tự ý thức như một chúa tể. Tôn giáo sẽ biểu hiện như một thăng hoa chứ không còn là một công cụ của đe dọa và áp bức. Nó sẽ thuộc phạm trù văn hóa chứ không thuộc phạm trù quyền lực như hiện tại. Linh mục sẽ chăm sóc linh hồn con người như một nghệ sĩ chứ không phải như một anh lính cảnh sát”(TĐTC, tr131).

NK có nhiều tiểu thuyết hơn với cách viết ngược với cách viết trên, ông không “gạt bỏ những ý tưởng có sẵn” mà ông đã có sẵn ý tưởng trong đầu, sau đó mới đi tìm nhân vật: “Nhận được ra một nhân vật có thể chuyển tải ý tưởng của mình là đã tìm được việc làm... Còn nhận được ra nhân vật của mình trong môi trường hoạt động quen thuộc của họ tức là cuốn sách đã được viết non nửa”. Chính bằng cách này NK đã viết được nhiều, từ cái khung hiện thực giản tiện nhất, chỉ cần một cuộc gặp gỡ, hoặc mối quan hệ của một nhóm bạn, rồi qua đối thoại, qua hồi ức, ông có thể viết được tất cả mọi chuyện. Đọc những quyển sách này có thú vị là biết được nhiều tư liệu qúy, những lĩnh vực độc đáo, những nhân vật ấn tượng, nhiều suy tư sâu sắc của tác giả, nhưng tôi vẫn không thích bằng kiểu viết trên của ông, bởi chúng có sự gò bó của sắp xếp, sự sơ lược, ta thường được nghe nhân vật kể chuyện chứ không được chứng kiến nhân vật sống, giống như xem bộ phim chỉ chiếu hình ảnh nhân vật ngồi nói vậy. Tôi thấy ở NK có hai cách xử lý ngược nhau, có những vấn đề nhỏ ông viết thành những cuốn sách to và có những vấn đề rất to ông lại viết thành những cuốn sách rất nhỏ. Tôi cứ nghĩ, nếu ông gom mấy cuốn sách nhỏ lại, với khả năng của ông, với sự hiểu biết nhiều như ông, với lối viết kiểu “thâm nhập vào cái bề bộn ngổn ngang của cuộc sống” như Xung đột, kiểu “dựng chuyện” chứ không phải “kể chuyện”, rất có thể ông đã viết được một tác phẩm lớn, xứng tầm với lịch sử đất nước, cuốn sách mà mọi người đang trông đợi.

Thực ra điều đầu tiên khiến tôi tìm đọc TĐTC là muốn xem NK viết thế nào khi có trong tay cái “bí kip”(cuốn Nghệ thuật tiểu thuyết của Kundera, Nguyên NgoÏc dịch). Theo tôi điều này rất khó. Với Kundera, nền tảng triết lý văn chương của ông là Hiện tượng luận, học thuyết nghiên cứu và cho quá trình nhận thức diễn ra theo kiểu “Tôi tư duy cái tư duy của tôi khi nó đang tư duy”, cho thế giới hiện thực là thế giới của “cái tôi ý thức”, sự nhận thức chính là hành động “trực quan trực tiếp bản chất đối tượng”, gạt sang bên toàn bộ thế giới khách quan, toàn bộ thế giới của các học thuyết, các quan niệm (đặt thế giới trong ngoặc). Theo ông, “cái tôi”ù chính là “bản chất hiện sinh”; một chủ đề là “một câu hỏi hiện sinh”; ngay cả lịch sử cũng phải “được hiểu, được phân tích như một tình huống hiện sinh”. Vì thế ông cho rằng: “tiểu thuyết khảo sát không phải hiện thực mà khảo sát cuộc sống, cuộc sống không phải là những gì diễn ra mà cuộc sống là vùng các khả năng của con người, tất cả những gì con người có thể trở nên, tất cả những gì con người có thể”... (dẫn theo Nghệ thuật tiểu thuyết của Kundera).

Vì thế, trong TĐTC, thực chất NK chưa áp dụng gì cái “bí kip” trên, cách viết của ông vẫn là cách viết hiện thực. Nhưng chả sao cả, tôi vẫn thích đọc, đơn giản chỉ vì ông viết rất thực và cuộc đời ông cũng nhiều chuyện.

(Báo Văn Nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0