Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Đọc thơ Nguyễn Hữu Hà

0 trả lời, 439 lượt xem — Trang 1 / 1
Đọc thơ Nguyễn Hữu Hà

Anh Chi

Nguyễn Hữu Hà làm thơ từ ba mươi năm trước, nhưng dăm năm trở lại đây, thơ anh xuất hiện nhiều trên báo chí. Anh được bạn đọc chú ý bởi một hơi thơ chân thành, chứa đựng nhiều bài học cuộc đời. Năm 1999, anh xuất bản tập thơ Khoảng lặng. Năm 2001, anh cho in tiếp tập thơ Khúc giao mùa. Và đầu năm 2004, anh lại có tập Chiều không yên. Một nhà thơ có uy tín đã từng nhận xét về Nguyễn Hữu Hà: “Đó là một trái tim không yên ổn…”. Vâng! với một trái tim không thể yên ổn người ta mới viết những câu thế này: Giá mà gom được lo âu - Quanh năm đổ xuống sông sâu vẫn thừa (Tự vịnh); Buồn đâu vô cớ rỗng không cả trời (Đò chiều); Có đêm ta về lại cánh đồng - Trăng lạnh buốt những nấm mồ bát úp (Những giấc mơ)… Và, không yên ổn tới mức phấp phỏng lo sợ:

Sợ khi thức dậy vườn vắng tiếng chim

Sợ buổi ra sông côi cút bóng thuyền

Sợ viếng người thân đã khô nước mắt

Sợ lúc bỏ đi chẳng có ai tìm

(Vô đề)

Chúng tôi muốn nhận xét cho đầy đủ hơn về Nguyễn Hữu Hà, rằng, bởi một trái tim không yên ổn, nên sống giữa cuộc đời này anh cứ phải tìm kiếm chốn nương tựa. Và những cái anh luôn tìm tới, là hình ảnh về người mẹ, là tuổi thơ trong trẻo, là đồng đất sông nước quê hương, là thời trai nhiều say đắm, là những ngày chiến đấu đầy thương đau và kiêu hãnh, là những người từng cùng anh sẻ chia buồn vui sướng khổ, là cả sự mất mát lẫn khát vọng sống… Tất cả, đều không ở đâu xa xôi, mà ở ngay trong anh, trong cái cõi ký ức của bản thân anh. Ký ức, có khoảng thật êm sâu, thật đắng đót:

Cái thời ngọt bưởi chua chanh

Bởi nhiều đắm đuối nên đành

trắng tay

(Thăm Vĩnh Yên)

Ký ức, có khi là một thời điểm trái tim bỗng trở nên hoang vu, cô quạnh, như trong bài Về quê ngày giỗ mẹ:

Tôi hoá thành côi cút giữa làng

Đồng khói trắng hoa lau phơ

phất trắng

Trong ký ức, có một khối đau mà thời gian không thể làm tiêu tan, như một ngày anh mất người đồng đội. Hôm đó, sắp thay phiên gác - quả pháo vu vơ cướp trắng Tuân đi. Hôm đó, Tuân chưa ăn bữa chiều. Vậy nên mấy chục năm sau thơ vẫn còn tức tưởi:

Tuân mất đi để lại suất cơm chiều

Ngần ấy năm cơn đói có còn theo?!

(ám ảnh)

Ký ức, là nơi lắng đọng rất nhiều kinh nghiệm trường đời, khi cần, lục lọi trong đó những bài học thật lớn:

sống chết cách nhau một vạt cỏ xanh

vinh nhục cách nhau tường rào

dây thép

no đói cách nhau qua làn khói bếp

người cách xa người bởi chính

người thôi

(Vô đề)

Nguyễn Hữu Hà khá giống số lớn nhà văn, nhà thơ cùng lứa tuổi, là thời thơ ấu thường được học hành dưới mái trường xã hội chủ nghĩa và ôm những giấc mộng hạnh phúc rộng lớn. Khi vừa trưởng thành thì cả dân tộc dồn sức cho việc đánh giặc giữ nước, tất cả lao vào chiến đấu và lao động. Sau đó mới là việc viết văn, làm thơ. Trường hợp cụ thể Nguyễn Hữu Hà, sau chiến tranh anh được chọn đi học tập ở nước ngoài. Chính thời gian này anh bắt đầu viết những bài thơ đầu tiên. Bài Qua Xibêri, năm 1976, viết trên đường đi sang châu Âu. Tiếp đó, bài Mùa hè đầu tiên, bài Gửi Vêra, bài Nón bài thơ… Nhưng đến bài Trước nền tượng Julius Fuxích, cái tôi thi sĩ của anh mới cứng cáp: Một phần đời tôi phiêu dạt quê ông - Con Người nhất những con người Tiệp Khắc… Năm 1989, ở Praha, Gió hun hút những ngày phản bội - Tôi dẫm lên những tờ rơi báng bổ - Những vụn vờ như thể máu loang… Lời thơ như trò chuyện, lại như tự sự, thấy se thắt lòng bởi, Nơi ông đứng ngày xưa - Chỉ còn lại một nền đá trắng. Hai câu kết ưu tư và trầm tĩnh, hơn những lời an ủi thường tình:

Đặt bông hồng yếu mềm trên

tuyết trắng

Xin được sẻ chia ấm lạnh cùng người

Từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, cuộc sống trên đất nước ta cũng có những thử thách lớn. Con người hứng chịu nhiều va đập, xáo trộn. Nguyễn Hữu Hà viết nhiều hơn hẳn thời kỳ trước đó. Có thể nói, ý thức công dân trong thi sĩ Nguyễn Hữu Hà trỗi lên mạnh mẽ với cái nhìn thẳng thắn vào thời cuộc. Các bài Trong bệnh viện, Khách quê, Với em bé bán than, Nhọc nhằn… là những trăn trở khôn khuây trước những thân phận con người trong cuộc sống đang mở ra nhiều tầng, nhiều vẻ. Nhưng ẩn sau tất cả, ta thấy có một lòng tha thiết thương người, yêu đời: Em bé bán than mê mẩn đếm tiền - Cất vào đâu cũng lem luốc mất tờ bạc lẻ (Em bé bán than). Còn người nữ công nhân làm đường một buổi chiều, nắng nung chín con đường - Em giấu mặt vào vuông khăn - Dáng xiêu vẹo làm sao giấu được (Nhọc nhằn). Về thăm một bạn chiến đấu cũ, anh không kìm được nỗi bức bí trong lòng: Mấy mươi năm quê bạn vẫn nghèo - đơn xin việc chỉ biết nghề đánh giặc - dai dẳng bám theo cơn sốt rét (Thăm bạn)… Cuộc đời càng ngổn ngang trăm mối, trái tim càng không yên. Đôi khi nhà thơ thở dài: Những cánh buồm nâu thuyền dong ngược - Ta đứng chồn chân ngóng mẹ về (Bến sông ngày vắng mẹ). Nguyễn Hữu Hà ưu tư rất nhiều, lắm khi phải Đốt thuốc ngồi đợi sáng (Đêm Hải Lăng), có lúc tự trách cứ mình, Đến bạc tóc vẫn còn nông nổi… Thật là nhiều day dứt trước thực tế cuộc đời. Có lẽ, nỗi day dứt đến khắc khoải trong anh, là khi nghĩ về những người bạn chiến đấu đã không còn được sống nữa. Thường nhật, nó ẩn khuất dưới đáy lòng, cứ gặp dịp là dào lên. Một buổi trưa Quảng Trị khi Lũ lượt người vào Hội thánh La Vang - Tôi một mình ngược ra Thành Cổ. Nơi đây, gió Lào, cỏ xác xơ trên những nấm mộ... những lá dừa như gươm múa quanh năm, và:

Lính trăm vùng đã nằm xuống đây

Tôi may mắn sống phần đời còn lại.

May mắn được sống, và ý thức rất rõ mình nợ nần. Vậy nên hay mất ngủ. Mất ngủ nhiều đêm mới viết thế này: Mất ngủ - Thêm vài sợi bạc trên đầu - Thêm một ngày sống đời nhân nghĩa (Đêm mất ngủ)… Thấy rất rõ Nguyễn Hữu Hà là nhà thơ tả thực. Cuộc sống được anh nhìn nhận thẳng thắn và đưa vào thơ một cách chân thực và tự nhiên. Đó thường là những cảnh huống đời sống với nhiều gian khổ, thậm chí còn cay cực, nhưng đáng được nâng niu và trân trọng. Anh là người thật lòng gắn bó với đời sống, cái đời sống có lúc anh đã Tìm không ra một chỗ thảnh thơi… Nhưng, nếu gắn lòng với nó, vẫn tìm thấy chốn nương tựa:

Ta hoang mang giữa đất và trời

Đành trở lại cánh đồng xưa của mẹ

Lúa vẫn hồn nhiên xanh ngút thế

Chiếc vó bè thủng thẳng kéo

trăng lên

(Tản mạn đêm không ngủ)

Chúng tôi đọc thơ Nguyễn Hữu Hà, từ những bài thời kỳ anh mới sáng tác cho đến những bài gần đây, và hình dung anh trong cuộc đi mải miết tới thơ. Trên con đường thơ ấy, chính anh cũng biết là rất dài xa, càng đi, anh càng nặng lòng với đời hơn. Đây là bài Trúc Phật Bà:

Tôi trồng trước cổng khóm trúc

Phật Bà

Lấy chốn bình tâm đi về sớm tối

Ban ngày từng đốt nhích lên gắng gỏi

Ban đêm chở che trai gái hẹn hò



Mai sau thành đôi mai sau dang dở

Lá trúc sẽ ghi không sót một ai

Yêu thương bấy nhiêu vẫn còn

chưa đủ

Phận mình thì mỏng phận cây

thì dài…

Tứ thơ có sức khái quát, những câu thơ mang hơi hướng cổ điển. Tình thơ thấm thía, lời thơ ân cần, trìu mến. Đó là mong ước về cõi đời dài lâu của nhà thơ, và của chúng ta nữa. Nguyễn Hữu Hà là một nhà thơ tả thực, nhưng không có nghĩa là anh không có những câu thơ bay bổng, lung linh. Một sớm mùa thu trở lại sông Cầu, anh viết: Sương mỏng quá người không dám nói - Sợ chim vườn đang hót rủ nhau đi. Một buổi chiều vào Văn Miếu, bỗng nghĩ về một người con gái: Anh hồi hộp nhặt viên sỏi nhẵn - Em đánh rơi trong cỏ tự bao giờ. Còn trời xanh bên trên mộ người bạn thiệt phận thì: Trời xanh nguyên sắc cũ - Phận bạc phải cam lòng. Anh mô tả đêm ở Đồng Đăng tinh tế và đa cảm thế này: Hương hồi bay thản nhiên trong gió - Tiếng thở dài đôi bím tóc đi qua. Bài Chiều đông, viết ở Paris:

Nắng hồng dưng hiu hắt cả trời

Gió cũng khác màu mây cũng khác

Lá rụng tơi bời con đường đá lát

Khải Hoàn Môn đâu phải cổng

làng ta!

Xét về bản chất, có thể nói, các nhà thơ hiện thực viết những câu bay bổng là để trình bày những điều dưới mặt đất, những chuyện buồn vui, sướng khổ của cõi đời. Nguyễn Hữu Hà cũng vậy, anh đi trên con đường của số phận, nhận thức về nó và thổ lộ bằng thơ những sáng tạo còn khiêm tốn, nhưng của riêng anh.

Chúng tôi biết, Valéry có nói đến những phương pháp nhận thức của thi sĩ, trong đó có phương pháp nhận thức bằng thơ. Dùng mơ để tiếp cận cõi thực. Không biết Nguyễn Hữu Hà có quan tâm đến luận điểm đó của Valéry không? Mà anh biết hay không, có lẽ chả quan trọng gì. Điều đáng nói là một bài thơ anh viết gần đây, bài Những giấc mơ:

Có đêm ta về lại cánh đồng

Trăng lạnh buốt những nấm mồ

bát úp

Nội ngoại nằm đây mà không gặp

Khói nhang lên chẳng nhắn được gì.

Chỉ trong mơ mới có thể như vậy. Tổ tiên ở đâu đó trong những nấm mồ bát úp lạnh buốt dưới trăng. Chẳng nhắn được gì, thật là thương cảm, diết da. Khổ thơ thứ hai:

Có đêm ta về lại rừng già

Mặc áo lính khi mười chín tuổi

Sau trận bom cá phơi trắng suối

Đói thắt lòng nhắm mắt lội qua

Đây chính là cái quãng đời đi đánh giặc, thuở đang trai, bước qua máu lửa, thương đau. Hai khổ thơ tiếp theo:

Có đêm ta được ghé thăm nhà

Mẹ lập cập vấp vào bậu cửa

Rạ thì ướt không cách chi nhóm lửa

Bưng bát cơm khê khét nghẹn lòng



Có đêm ta về lại dòng sông

Đen đặc những người mê man là củi

Ta lặn ngụp trong lũ nguồn dữ dội

Có đen tròn đôi mắt ngóng theo.

Quê hương đấy, là gốc rễ đời ta đấy. Mẹ mong ngóng hoài, nên ta về là mừng đến lập cập vấp cả vào bậu cửa. Rơm rạ thì ướt, nên cơm mới khê khét. Là mơ, nhưng con sông Hồng là con sông thực của đời anh. Mùa lũ, nước cuốn về cơ man là củi, và đen đặc người vớt củi. Anh cũng trong đám người đó, khác một chút là “có đen tròn đôi mắt dõi nhìn theo”…

Khổ thơ tiếp theo viết về trạng thái tỉnh, từ thực tại nhìn nhận về mơ:

Những cơn mơ quanh quẩn

bấy nhiêu

Như chiếc đèn kéo quân đêm

đêm vòng lại

Quá khứ đeo đẳng thế, cứ đêm đêm là quay trở lại. Cơn mơ vòng lại với anh, hồn anh thì vòng lại quá khứ. Đấy là những cuộc tiếp cận chính cuộc đời mình. Một cuộc đời có cội nguồn, có nghèo khổ gian truân, có máu lửa hy sinh. Một đời người trong đời sống của đất nước, quê hương. Câu thơ kết bình dị như một lời nhắn nhủ đầy trách nhiệm:

Ta từng ngày mắc nợ những giấc mơ

Sức nặng của kinh nghiệm sống, khả năng truyền cảm không chỉ nằm trong câu chữ, mà ở ngay trong cấu trúc chỉnh thể của bài thơ. Dường như nhà thơ đã đem những cảnh huống tiêu biểu trong trường đời của mình để tạo thành bài thơ, nên nó có sức khái quát thật tự nhiên. Một đời thi sĩ, có thể có nhiều bài thơ hay, tâm đắc, nhưng những bài như thế này hẳn không có nhiều.

Như đã từng nhận xét ở trên, Nguyễn Hữu Hà là người có trái tim không yên ổn và luôn luôn phải tìm kiếm trong cõi ký ức của mình chốn nương tựa. Đó chính là cuộc tìm kiếm những ý nghĩa cuộc đời, và cũng là của thơ anh. Cõi ký ức của người ta, chính là tâm can trí não, nơi chứa chất mọi buồn vui sướng khổ, nơi ghi giữ những bài học trường đời. Vậy nên, nếu là thơ tìm được từ đó, sẽ là những bài thơ cần thiết cho đời, chí ít cũng là những bài thơ không xa lạ với mỗi chúng ta.

Hà Nội, 2-2004



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0