Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Dòng sông chảy mãi không già

0 trả lời, 428 lượt xem — Trang 1 / 1
Dòng sông chảy mãi không già

Đình Kính

Nhân nhà thơ Nguyễn Viết Lãm 85 tuổi (1919- 2004)



Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm quê gốc ở Dạ Lệ, Hương Thủy, Thừa Thiên- Huế. Nhưng ông sinh tại Quảng Ngãi (ngày 15-5-1919)

Quảng Ngãi là vùng đất nghèo, một vùng cát trắng khô cằn, khúc nối phía Bắc với phía Nam, nơi như thể đi qua chứ không phải chốn dừng lại. Song miền đất khô cằn đó đã để lại cho văn đàn một Bích Khê ngang tàng, tài hoa; một cốt cách thi sĩ khó ai bì. Đã để lại cho văn đàn một Tế Hanh lịch lãm trữ tình, và đã để lại một Nguyễn Viết Lãm, vừa là nhà thơ nhuần nhị, vừa là nhà văn hóa đa diện, đa tài. Tài ấy là năng khiếu, là sự đam mê và chí vươn tới. Song tài ấy có nguồn có rễ. Xuất thân trong một gia đình nho học, ông nội là Nguyễn Viết Song, từng đỗ tiến sĩ năm Tân Sửu (1901) đời Thành Thái 13, cùng khóa với cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và một thời từng là thầy dạy học của Nguyễn Sinh Cung, nên từ ấu thơ Nguyễn Viết Lãm đã sống trong không khí của văn chương.


Họ Nguyễn Viết có nhiều người khoa bảng, nhưng sống thanh bạch. Càng về sau, càng nghèo. Thân sinh nhà thơ làm nghề dạy học, sống hàn vị tại Quảng Ngãi, nơi đồng mía rừng gươm sáng loáng ánh sương, và là nơi: “Sông Trà giải lụa nước trong veo”. Thủa nhỏ Nguyễn Viết Lãm được cha dạy chữ, dạy đọc thơ. Chất chữ tình, uyên thâm, mộng mơ dân dã nơi những bài thơ Thu của Tam Nguyên Yên Đổ bén vào Nguyễn Viết Lãm như lửa gặp hanh. Âm vang những câu thơ một thủa đã tạo ra nơi tâm hồn nhạy cảm của ông chút men say. Đó là tình yêu ban đầu đối với thi ca. Men say ấy, theo thời gian dần dà ngấm thấm, lan tỏa. Rồi sách báo, các tạp chí Cấm Thành, Thần Kinh, Tiếng dân... đến với ông như thêm một sự khai tâm văn chương. Tay cầm quản bút ngàn cân nặng - Mắt ngắm tờ hoa vạn thước dài, câu thơ đeo đẳng cả một thời để mà suy mà ngẫm, mà sống…

Rồi như thể một tiền định, một tiền định may mắn, từ Quảng Ngãi Viết Lãm xuôi xuống Quy Nhơn, tiếp tục theo học. Tại đây, tâm hồn thơ vốn đã hình thành, manh nha có cơ nhập vào đại dương thi ca. Quy Nhơn thủa đó vốn là kinh đô của thi ca. Nơi đây, từ 1935 đã hình thành thái dương văn đàn gồm Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn và Chế Lan Viên. Khi “Thái dương văn đàn” ngừng hoạt động, nhóm thơ Quy Nhơn gồm Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan, Hoàng Diệp, Lữ Giang, Nguyễn Minh Vĩ, Huy Vân... và có thêm Nguyễn Viết Lãm, được thành lập. Khi Hàn Mặc Tử có Gái quê (1936), Chế Lan Viên có Điêu tàn (1937), Nguyễn Viết Lãm, với những bút danh Nguyễn Hạnh Đàn, Tường Khanh, Việt Chi bắt đầu có thơ, tiểu luận đăng rải rác trên các báo và tạp chí Tiểu thuyết thứ bảy, Sông Hương…

Năm 1939, khi Chế Lan Viên đi dạy học ở Đà Nẵng, Yến Lan ra Hà Nội, Hàn Mặc Tử lâm bệnh, Hoàng Diệp lên Huế, Lữ Giang vào bộ đội... Nguyễn Viết Lãm trở lại Quảng Ngãi dạy học, nhóm thơ Quy Nhơn thôi hoạt động.

Thời gian học ở Quy Nhơn chỉ ba năm nhưng đủ để Nguyễn Viết Lãm nhận ra nhiều điều, học hỏi được nhiều điều, và kết thân với nhiều người. Nguyễn Viết Lãm đã có thêm những người bạn mới: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử... Họ cùng nghèo, cùng đam mê, cùng chí hướng nên dễ hòa nhập và yêu thương. Chẳng ai rõ Nguyễn Viết Lãm hơn Chế Lan Viên. Cũng chẳng ai thông cảm với Hàn Mặc Tử hơn Nguyễn Viết Lãm. Mãi những năm sau này, tình bạn giữa Chế Lan Viên và Nguyễn Viết Lãm vẫn thủy chung gắn bó.

Hạnh phúc của con người là có lòng yêu thương và được yêu thương. Trong quá trình sáng tác của mình, Nguyễn Viết Lãm đã gắng bộc lộ nhận thức ấy. Với ông, thơ là địa hạt không có chỗ cho sự độc ác và hận thù. Thơ là điểm tựa của tâm hồn, thơ làm cho con người sống đẹp hơn, tốt hơn. Thơ khiến cho con người tin vào đồng loại hơn, tin vào con người hơn. Nguyễn Viết Lãm sáng tác, trước hết với tư cách một nhà văn hóa, một người hoạt động xã hội, rồi kế đó mới là tư cách một nhà thơ.

Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Viết Lãm tham gia công tác quản lý văn học của tỉnh, rồi lập ra nhóm “bạn học”, tiền thân của hội văn hóa và hội văn nghệ kháng chiến miền Nam Trung Bộ. Khi các hội văn nghệ được thành lập, ông là ủy viên thường trực liên đoàn văn nghệ kháng chiến Nam Trung Bộ, ủy viên Ban chấp hành chi hội văn nghệ khu Năm, hội trưởng hội văn nghệ Quảng Ngãi.

Hòa bình lập lại, ông tập kết ra Bắc, tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, và là chánh văn phòng đầu tiên của Hội. Trong cương vị của mình và với lòng nhân hậu vốn có, ông đã góp phần xây dựng cơ quan Hội Nhà văn, xây dựng tờ báo Văn nghệ để hai nơi đó trở thành địa chỉ tập hợp và quy tụ các nhà văn.

Năm 1958, Nguyễn Viết Lãm xuống thâm nhập thực tế tại Hải Phòng. Cùng với cố nhà văn Nguyên Hồng, ông là một trong những thành viên có công thành lập Hội văn nghệ Hải Phòng. Từ đấy ông định cư tại đất Cảng, cùng vui buồn với thành phố xô bồ lam lũ này, cùng thăng trầm với phong trào văn nghệ nơi đây. Hội văn nghệ, nơi một thời ông nắm giữ những trọng trách chủ chốt trở nên gần gũi gắn bó. Một đội ngũ nhà thơ do ông dìu dắt nay đã trưởng thành, là tác giả được nhiều bạn đọc biết đến. Đó là Thanh Tùng, Trần Lưu, Phạm Ngà, Thi Hoàng, Lê An Dương...

Nguyễn Viết Lãm là một cây bút đa năng. Ngoài thơ, ông viết hồi ký, bút ký, tiểu luận và dịch sách.

Khi cuộc sống đã được chiêm nghiệm, sáng tác văn xuôi của ông càng đậm. Cái già dặn của người từng trải, trí thức sách vở lẫn thực tiễn cuộc sống để lại dấu ấn trong từng trang viết. Tác phẩm của ông, dù ở thể loại nào đều được chi phối bởi cái nhìn đôn hậu. Mục đích là hướng tới sự thấu tình đạt lý.

Giải thơ về đề tài kháng chiến và sản xuất nông nghiệp, giải thưởng văn học mang tên Nguyễn Bỉnh Khiêm, giải thưởng khoa học về công trình nghiên cứu danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng gần hai mươi đầu sách, đủ các thể loại đã thể hiện một năng lực làm việc, một trí tuệ đáng nể, một sự say mê và một ý thức với nghề ở ông.

Dù viết nhiều thể loại, ta vẫn quen với một Nguyễn Viết Lãm, nhà thơ. Chín tập thơ đã xuất bản, trong đó năm 2004, dù đã ở tuổi tám lăm vẫn có hai tập Bài thơ viết ngày mưa tạnh - (Nhà xuất bản Văn học) và Hương Ngâu - (Nhà xuất bản Hội nhà văn) là một đóng góp không nhỏ cho thơ ca.

Như phần lớn các nhà thơ thời tiền chiến, do hoàn cảnh lịch sử, sáng tác của Nguyễn Viết Lãm ít nhiều chịu ảnh hưởng của thơ lãng mạn Pháp lúc bấy giờ. Dẫu vậy tâm hồn ông luôn kết dính với dân tộc, với nhân dân, với Đảng. Ông viết về Đảng với tất cả sự hồn nhiên, chân thành, trong sáng, ngưỡng mộ và biết ơn. Ông là một trong số không nhiều lắm các nhà thơ thường xuyên có sáng tác về Đảng.

Ta đi trên sông

Nghe thuyền nói biết ơn dòng nước

Những trưa hè nắng gắt

Nghe con đường nói biết ơn cây

Nghe đồng cát biết ơn bóng mây.

Thấy nắng xuân nhớ mùa chim én

Nghe trái đất biết ơn khí quyển.

Cho trời xanh năm tháng cứ xanh thêm...

Tuyển tập Nguyễn Viết Lãm, Nhà xuất bản Văn học cho ra đời năm 1997 là cuộc duyệt lại một đời văn. Một đời văn phong phú, đa dạng và trách nhiệm. Trách nhiệm với đời và trách nhiệm với ngòi bút của mình. Tác phẩm của ông, ngoài giá trị văn chương, còn là vai trò nhân chứng của nhà văn đối với lịch sử.

Đọc ông, ta bắt gặp những kỷ niệm của một thời. Ta gặp lại không gian Hàn Mặc Tử với sự luyến tiếc khôn nguôi. Ta phơi phới với không gian Chế Lan Viên hào hoa và trí tuệ. Và ta gặp lại không gian Quách Tấn, Yến Lan, Bích Khê ở vào thời khởi nghiệp thi ca... Đọc ông, theo đó ta lần ra hành trình một đời người, một đời thơ và một con người hoạt động cho xã hội.

ở tuổi 85, Nguyễn Viết Lãm vẫn trẻ trung, trẻ trung trong lối sống và trong sáng tác. Thơ ông bắt đầu từ cuộc sống rồi quay về với cuộc sống. Ông không câu nệ rằng thơ mình in ở báo nào, in ở đâu. Được quần chúng yêu thích, ông cho rằng mình thành công. Ông vẫn quan niệm rằng thơ viết về nhân dân và thuộc về nhân dân. Vì vậy, thơ trước hết cần dung dị.

Đánh giá về nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, nhà thơ Tế Hanh viết: “Qua một đời thơ hơn nửa thế kỷ của Nguyễn Viết Lãm, tôi rất mừng về người bạn thơ của mình, ghi nhận sự đôn hậu, thuỷ chung, tính nhất quán đối với thơ, đối với tình yêu và bạn bè, đối với lý tưởng mà anh đã chọn”.

Còn nhà thơ Lưu Quang Thuận thì cho rằng câu thơ của Nguyễn Viết Lãm thường giản dị, trong sáng do nhịp điệu êm ái nên đọc dễ thấm vào lòng. Nguyễn Viết Lãm là nhà thơ dung dị và công phu.

Tài là thứ trời cho. Người trời cho ít, kẻ cho nhiều. Song một người viết có trách nhiệm và tự trọng là gắng vét đến tận đáy, vét đến cùng kiệt những gì trời đã cho.

Điều ghi nhận ở nhà thơ Nguyễn Viết Lãm là ở tấm lòng, ở lối sống và một cái tình. Nguyễn Viết Lãm giống như con sông Trà Khúc bốn mùa xanh, cứ chảy mãi, chảy mãi không già.

Ngày 7 tháng 6 năm 2004



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0