Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

Những Công Nghệ Đã Được Phát Minh Từ Đời Tám Hoánh

3 trả lời, 5.642 lượt xem — Trang 1 / 1

 
Những Công Nghệ Đã Được Phát Minh Từ Đời Tám Hoánh
 
Nhiều công nghệ hiện đại chúng ta quen gọi là phát minh của thời nay thực ra là đã được phát minh từ rất lâu rồi. Những người sống trong thế kỷ này vẫn tự hào rằng thời của chúng ta khoa học có những bước tiến mà cha ông chúng ta chưa mơ đến. Tiền nhân tìm ra lửa, làm ra bánh xe và tiếng nói, nhưng chúng ta có công nghệ. Tuy nhiên, tất cả không hẳn thế. Nhiều công nghệ hiện đại mà chúng ta quen gọi là của thời nay, thực ra đã được phát minh ra từ trước đó rất lâu.



- Ô tô
Ô tô được coi là phát minh của cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trên thực tế, người đầu tiên nghĩ ra chiếc xe vận chuyển vũ khí mà không cần ngựa kéo là nhà phát minh người Pháp Nicolas Joseph Cugnot. Tuy nhiên phát minh của ông không phổ biến được vì thiết kế chưa hoàn chỉnh, khi chạy thử ông đã đâm vào tường vì xe rất khó lái và chạy chậm.
 
 
 

- iPod (máy nghe nhạc nén)
iPod được coi là phát minh của hãng Apple vào năm 2001. Trên thực tế, công nghệ này do kĩ sư Kane Kramer phát minh ra từ năm 1979 nhưng do bộ nhớ quá bé – chỉ đủ cho ghi nhạc 3 phút rưỡi nên phát minh này không áp dụng được. Ý tưởng lập một kho lưu trữ nhạc để người sử dụng tải nhạc vào máy qua đường dây điện thoại cũng không thành. Kramer phải bán nhà rồi cùng vợ và hai đứa con đi thuê nhà ở.
 
 

- Máy vi tính
Máy vi tính được coi là phát minh của Konrad Zuse trong thời chiến tranh Thế giới thứ 2. Trên thực tế, người phát minh ra chiếc máy tính như bây giờ là nhà toán học người Anh Charles Babbage. Ông này nghĩ ra nhưng không tự thiết kế được. Năm 1822 Charles Babbage kêu gọi chính phủ Anh cung cấp tài chính cho dự án. Ông được cấp 1500 bảng nhưng không thể hoàn thành dự án trong 3 năm. Mặc dù chiếc máy tính không thành nhưng dự án của ông đã làm xuất hiện một nghề nghiệp mới: lập trình, mà tiểu thư Ada Lovelace – con gái của nhà thơ Byron là lập trình viên đầu tiên trên thế giới đã lập chương trình cho dự án không thành này.
 
 

- Tàu ngầm
Tàu ngầm được coi là phát minh của thời chiến tranh Thế giới thứ 1. Trên thực tế, bản vẽ của con tàu giống như tàu ngầm hiện nay là của William Bourne từ năm 1578. Còn năm 1623 nhà bác học Hà Lan Van Drebbel là người chế tạo ra chiếc tàu ngầm có hình dáng giống với chiếc tàu ngầm hiện nay.

 
 

- Máy bán hàng
Máy bán hàng được coi là phát minh của đầu thập niên 80 thế kỷ 19. Những máy bán tem thư, sách, bưu ảnh lần đầu tiên được chào hàng tại triển lãm công nghiệp thế giới ở London. Các nhà công nghiệp Mỹ sản xuất máy bán kẹo cao su, đồ uống, snack và đặt chúng ở các đường hầm của thành phố New York.
Trên thực tế, chiếc máy như vậy đã được Hero người Alexandria (Ai Cập) phát minh ra từ thế kỷ thứ 1. Máy này nhận đồng tiền xu và phân phối cho người mua một lượng cố định nước thánh. Khi đồng tiền được đặt vào, nó rơi trên một cái chảo gắn liền với một đòn bẩy. Đòn bẩy làm mở ra một cái van để cho luồng nước chảy ra ngoài. Cái chảo không ngừng để đối trọng với đồng tiền cho đến khi nó rơi ra, tại thời điểm nào đó đòn bẩy sẽ tắt van.
 
 
 

- Súng phun lửa
Súng phun lửa được coi là phát minh vào năm 1901 cho quân đội Đức. Những chiếc súng phun lửa hiện đại được sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ 1. Trong chiến tranh thế giới thứ 2 quân đội rất nhiều nước được trang bị loại vũ khí này.
Trên thực tế, cốt lõi của nguyên tắc súng phun lửa là phát minh của người Hy Lạp cổ đại từ thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên (chính xác là của một hàng binh người Syria năm 673 tr. CN). Đấy là loại vũ khí có tên gọi là “lửa Hy Lạp” (Greek fire) – một hỗn hợp gồm dầu lửa, diêm sinh và dầu thực vật – được người Byzantine dùng để đốt thuyền bè của đối phương mà dùng nước không dập tắt được.
 


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-09-16 04:04:48phuongthao02>
Về Những Giấc Mơ
 
Ai cũng có giấc mơ. Mọi người đều có giấc mơ, trừ những người mắc bệnh tâm lý đặc biệt. Đàn ông và phụ nữ mơ và cảm giác khác nhau. Đàn ông thường mơ về những người đàn ông khác, còn phụ nữ mơ về đàn ông và phụ nữ ngang nhau.


Giấc mơ tốt cho sức khỏe. Những nghiên cứu mới nhất cho thấy mơ là tốt cho sức khỏe con người. Những người tham gia thử nghiệm cho thấy nếu trong phần đầu của giấc mơ mà họ bị thức dậy thì họ dễ nổi nóng và rất khó tập trung mặc dù họ vẫn được cho ngủ 8 tiếng. Những ngày sau đó họ ngủ sâu và mơ nhiều, có vẻ như đầu óc bù lại phần thiệt thòi cho khi làm thí nghiệm.


Trong mơ ta thấy những đồ vật quen thuộc. Khi mơ ta thường thấy nhiều chỗ không quen, nhiều người ta không biết. Theo những nghiên cứu thì những chỗ, những người không quen biết này ta đã từng thấy ở đâu đó ngoài đời nhưng ta đã quên mất. Truyền hình, sách, báo, quảng cáo các kiểu là nơi mang đến cho ta nhiều gương mặt mới, nhiều phong cảnh, âm thanh và nhiều ấn tượng. Phần lớn bị quên nhưng đầu óc của ta lấy những gì từng tiếp nhận để làm nên những giấc mơ.


Giấc mơ màu và giấc mơ đen trắng. Khoảng 20 % chỉ thấy những giấc mơ đen trắng, 80 % còn lại thấy những giấc mơ màu. Đa số người mơ những giấc mơ có những nét đặc trưng. Đó là khung cảnh nơi trường học, nơi làm việc, đi chơi, cảm giác bị truy đuổi, khó đi lại hay chạy trốn, cảm giác bị muộn giờ, thi rớt, thấy người thân yêu của mình bị chết, bị rơi ngã hoặc tai nạn vv…


Người mù cũng mơ thấy. Nếu một người bị mù sau khi sinh ra thì vẫn thấy giấc mơ như người sáng mắt. Nếu một người bị mù bẩm sinh thì cũng vẫn có giấc mơ nhưng những hình ảnh khác với những người mắt sáng. Đấy là những sự hình dung âm thanh, mùi, cảm giác mà thường người mù rất nhạy cảm. Thật khó hình dung nhưng nhu cầu trong mơ của cơ thể là rất lớn, đến mức người ta có thể ngủ trong mọi hoàn cảnh.


Ta quên đến 90 % những giấc mơ. Sau khi tỉnh dậy 5 phút là chúng ta quên một nửa những gì thấy trong mơ và 5 phút tiếp theo – có thể đến 90 %. Nhà thơ Anh nổi tiếng Samuel Taylor Coleridge một hôm mơ thấy rất rõ ràng nên tỉnh giấc là ông viết ngay ra giấy. Thế là có một trường ca Kubla Khan nổi tiếng nhưng không có kết thúc vì nhà thơ quên nội dung của giấc mơ khi có khách đến. Robert Louis Stevenson viết Dr. Jekyll and Mr. Hyde, Mary Shelley viết Frankenstein nổi tiếng hay nhà bác học Dmitry Mendeleev tìm ra bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học đều là những kết quả từ những giấc mơ.


Những người đã bỏ thuốc lá mơ những giấc mơ đẹp. Người đã bỏ thuốc lá có những giấc mơ đẹp và hoành tráng hơn là người đang hút thuốc hoặc người không hút thuốc. Theo Journal of Abnormal Psychology thì trong một cuộc thử nghiệm có 300 người tham gia, 1/3 khẳng định rằng họ hút thuốc trong mơ và họ tỏ ra thất vọng là đã không kiềm chế được. Số còn lại cho rằng họ thấy giấc mơ đẹp, hoành tráng và thực tế hơn so với khi còn hút thuốc.


Giấc mơ và những yếu tố bên ngoài. Những yếu tố bên ngoài như: âm thanh, ánh sáng, mùi, xúc giác – thường được truyền vào giấc mơ và kết hợp với những gì xảy ra trong mơ. Tiếng nhạc trong buổi sớm từ đâu đấy thường đi vào giấc mơ của ta, ánh sáng mạnh và mùi cũng vậy... Có khi ta cảm thấy khát nước và ta uống nước trong mơ nhưng không đã cơn khát… Khi thức dậy quả là ta khát nước và chỉ dìm được cơn khát ngoài đời thực. Chính yếu tố này là cảm hứng cho danh họa Salvador Dalí vẽ bức họa độc đáo và nổi tiếng: Sueño causado por el vuelo de una abeja alrededor de una granada un segundo antes de despertar (Giấc mơ từ những con ong bay quanh cây lựu trước khi tỉnh giấc một giây).


Khi mơ thân thể ta bị tê liệt. Khi ta mơ thì cơ thể không nhúc nhích để không lặp lại những gì đang xảy ra trong mơ – tuyến nội tiết cung cấp chất hữu cơ cho giấc mơ, còn não truyền tín hiệu làm giãn cơ bắp. Ngoài ra, nếu người ngủ mà ngáy to thì trong thời điểm ngáy không mơ được. Trẻ em dưới 3 tuổi không mơ thấy bản thân mình, còn từ 3 đến 8 tuổi thấy nhiều ác mộng hơn người lớn. 
 
 

 

 
Những Cách Đặt Tên Cho Công Ty
 
Người sáng lập đặt tên cho công ty của mình cũng như cha mẹ đặt tên cho con cái vậy. Đó là những gửi gắm, những ước mong thầm kín được đặt vào cái tên. Có nhiều trường hợp người sáng lập chỉ việc lấy tên của mình đặt cho tên công ty. Lại có nhiều trường hợp rất ngẫu nhiên, thậm chí nhầm lẫn, kể cả nửa đường đứt gánh... Nhưng có lẽ Đức Chúa Trời chỉ xét theo sự chân thành, theo cái tâm của người đặt nên công ty của họ ngày càng phát triển, sản xuất và buôn bán ngày một phát tài. Xem cách đặt tên của các công ty lớn trên thế giới ta sẽ thấy một điều là công ty của họ đã lớn từ việc lựa chọn cái tên.
Dưới đây là tên các công ty lớn trên thế giới được giải mã theo những giả thiết đáng tin cậy nhất và đã trở nên phổ biến. Tên các công ty xếp theo trật tự ABC.

Adobe – tên công ty này lấy từ Adobe Creek, là tên con sông gần nhà của người sáng lập John Warnock.
Adidas – là tên của người sáng lập công ty Ali Dassler. Ông chủ công ty không muốn dùng đầy đủ tên của mình. Tên ông là Adolf.
Apache – công ty này lúc đầu sản xuất bảng nối cho các chương trình. Từ đó mà có APAtCHy, sau chuyển thành Apache.
Apple – là thứ quả yêu thích của người sáng lập công ty Steve Jobs (nó là trái cấm vườn địa đàng). Suốt ba tháng trời đi tìm một tên gọi mà chưa được, một hôm Steve Jobs đưa ra cho đồng sự tối hậu thư: “Tôi sẽ gọi công ty Apple, nếu 5 giờ sáng mai các anh không có đề nghị nào hay hơn”. Apples Macintosh – tên một loại táo có khắp thị trường nước Mỹ từ ngày đấy.
Canon – dựa theo Kwanon, nghĩa là Phật Quan âm (tiếng Anh: Buddhistic Goddess of Mercy), nhưng để tránh sự phản đối của các tổ chức tôn giáo, được viết thành Canon.
Casio – được đặt theo tên người sáng lập Kashio Tadao.
Cisco – viết tắt từ San Francisco.
Compaq – com và paq (một chi tiết kết nối).
Corel – dựa theo tên người sáng lập công ty, Michael Cowpland. Giải mã từ: COwpland REsearch Laboratory (Phòng thí nghiệm khảo cứu của ông Cowpland).
Daewoo – nhà sáng lập công ty Kim Wo Chong gọi tên công ty của mình rất khiêm tốn: “Đại Hoàn vũ”. Tiếng Việt nghe như Đê-U-u…
Fuji – núi Phú Sĩ, ngọn núi cao nhất nước Nhật.
Google – tên này từ Googol, có nghĩa là số 1 với 100 số không. Google do Milton Sirotta, cháu của nhà toán học Mỹ, Edward Kasner nghĩ ra. Từ “A Google” được ghi trong tấm ngân phiếu của người sáng lập đầu tiên gửi các đồng sự của mình. Thế rồi tất cả nhất trí gọi hệ thống tìm kiếm như vậy.
HP (Hewlett-Packard) cả hai nhà sáng lập công ty Bill Hewlett và Dave Packard đã quyết định tung đồng xu để xác định tên ai đứng trước. Và như chúng ta đã biết, Bill may mắn hơn.
Hitachi – tiếng Nhật nghĩa là “Mặt trời mọc”.
Honda – được đặt theo tên người sáng lập Soichiro Honda.
Honeywell – được đặt theo tên người sáng lập Mark Honeywell.
Hotmail - Jack Smith và Sabeer Bhatia quyết định chọn từ này vì trong nó có cả các chữ HTML (ngôn ngữ của trang web).
Hyundai – tiếng Hàn nghĩa là “Đương thời”.
IBM – International Business Machines.
Intel – Bob Noyce và Gordon Moore muốn đặt tên công ty là Moore Noyce nhưng lúc đó đã có mạng lưới cửa hàng tồn tại. Bởi vậy, cả hai người quyết định dừng lại ở chữ viết tắt của INTegrated Electronics.
Kawasaki được đặt theo tên người sáng lập Shozo Kawasaki.
Kodak – k là chữ cái yêu thích nhất của George Eastman, người sáng lập công ty này. Ông ta đi tìm một từ mà bắt đầu và kết thúc bằng k. Mặt khác, chữ k trong bảng an-pha-bê của tất cả các ngôn ngữ (trừ các ngôn ngữ tượng hình) đều viết giống nhau. Và một điều nữa, khi ta chụp ảnh thì tiếng máy ảnh nghe như: cô-ô-đắc (Kodak).
Konica – trước đây có tên là Konishiroku Kogaku.
LG – là hai chữ cái đầu của các brand-name: Lucky и Goldstar.
Lotus – người sáng lập công ty này Mitch Kapor tập thiền. Từ đó công ty lấy tên theo một kiểu ngồi thiền.
Microsoft — MICROcomputer SOFTware. Đầu tiên viết Micro-Soft. Sau đó người ta bỏ đi dấu gạch ngang.
Mitsubishi – do người sáng lập, ông Yataro Iwasaki nghĩ ra năm 1870. Từ này theo tiếng Nhật có nghĩa là “Ba viên kim cương”.
Motorola – người sáng lập, ông Paul Galvin nghĩ ra tên này khi công ty của ông bắt đầu sản xuất đài (radio) cho xe ô tô. Các công ty cung cấp phụ tùng thời đó đều có tên kết thúc bằng chữ “ola”.
Mustek – là Most Unique Scanning Technologies (công nghệ Scan tốt nhất), “k” thay vì “ch”.
Nabisco – đầu tiên là The NAtional BISCuit Company, từ năm 1971 đổi thành Nabisco.
NEC –  đầu tiên là Nippon Electric Company, Ltd. Viết tắt từ 1983.
Nikon – đầu tiên là Nippon Kogaku, nghĩa là “quang học Nhật Bản”.
Nintendo – bao gồm ba từ Nhật Nin-ten-do, có nghĩa là “trời xanh cảm tạ công việc nặng nề”.
Nissan – trước kia có tên là Nichon Sangio, nghĩa là “công nghiệp Nhật Bản”.
Nokia – đầu tiên là một nhà máy chế biến đồ gỗ, sau đó sản xuất cả những sản phẩm từ cao su ở thành phố Nokia, Phần Lan.
Novell – do vợ của George Canova, người đồng sáng lập công ty nghĩ ra. Cô này đã nhầm lẫn khi nghĩ rằng “Novell”, tiếng Pháp nghĩa là “mới”.
Oracle – những nhà sáng lập, Larry Ellison và Bob Oats thực hiện một dự án cho CIA, mật mã của dự án này là Oracle. Sau đó dự án bị hủy nhưng cái tên thì vẫn còn lại.
Philips – mang họ của người sáng lập. Công ty này do Gerard Philips thành lập năm 1891 ở Eindhoven, Hà Lan.
Samsung – tiếng Hàn nghĩa là 3 ngôi sao.
Sanyo – tiếng Hán nghĩa là “ba đại dương”.
SAP – “Systems, Applications, Productss in Data Processing”, do 4 người trước đây làm cho hãng IBM thành lập. Cả bốn người cùng làm ở nhóm Systems/Applications/Projects.
SCO – xuất phát từ: Santa Cruz Operation.
Siemens – do Werner von Siemens thành lập năm 1847.
Sony – từ tiếng Latin “Sonus”(âm thanh), còn sonny nghĩa là cô bé (tiếng lóng).
Subaru – là tên một chòm sao.
SUN – là công ty phần mềm do 4 cựu sinh viên Đại học Stanford sáng lập. SUN là viết tắt của Stanford University Network.
Suzuki – được đặt theo tên người sáng lập Michio Suzuki.
TDK – Tokyo Denki Kogaku.
Toshiba – là tên ghép của hai công ty hợp nhất Tokyo Denki (Tokyo Electric Co) và Shibaura Seisaku-sho (Shibaura Engineering Works).
Toyota được đặt theo tên người sáng lập Sakichi Toyoda. Sau đó đổi sang Toyota cho dễ nghe hơn. Toyota bằng tiếng Nhật gồm 8 chữ cái (số 8 là con số may mắn của người Nhật).
URSA – là công ty Sao Đại Hùng (URSA – MAJOR là chòm sao Đại Hùng bằng tiếng Anh). Một cách gọi khác: United Recources of Sea Association. Công ty 100% vốn nước ngoài này đặt ở Cam Lâm, Khánh Hòa.
Xerox – tiếng Hy Lạp: xer – nghĩa là khô. Nhà phát minh Chester Carlson muốn lấy tên là “khô” bởi vì vấn nạn của máy photocopy thời đó là “ướt”.
Yahoo – từ này do nhà văn Jonathan Swift nghĩ ra trong cuốn “Những cuộc phiêu du của Gulliver (Gulliver's Travels). Những nhà sáng lập công ty, Jerry Yang và David Filo chọn tên này vì họ tự coi mình là những Yahoo. Tuy nhiên, hiện nay có xu hướng giải mã tên này là: Yet Another Hierarchical Officious Oracle (nghe có vẻ như: “Thêm một hệ thống tìm kiếm xây dựng theo nguyên tắc thứ bậc).
3Com – lấy từ Computer Communication Compatibility Corporation, bỏ đi chữ cuối cùng.
3D – Minnesota Mining and Manufacturing Company. 




Các công ty lớn của Việt Nam chưa được đưa vào danh sách này vì chưa có thông tin đáng tin cậy. Có thể do người Việt Nam chúng ta chưa có thói quen làm việc này. Mà cũng có thể là các đại gia của Việt Nam chưa ổn định vị trí một cách tương đối (trừ những đại gia được nhà nước đỡ đầu). Cũng có thể do những lý do khác nữa. Chúng ta sống trên đất Việt Nam, hàng ngày trực tiếp hoặc gián tiếp có sự tiếp xúc với các công ty lớn nhưng đôi khi chúng ta không biết xuất xứ tên gọi của chúng ngoài những thông tin truyền miệng hoặc quảng cáo, kiểu như:
Hòa Phát – ông chủ công ty chọn tên này với mong muốn cho việc làm ăn buôn bán của công ty cùng lắm là “Hòa”, còn lại thì chỉ có “Phát”!!!
STC - công ty sách và thiết bị trường học (thường được đọc là sờ - ti – cô). Một giả thiết khác: Sáng Tác company của FPT, gắn liền với văn hóa sờ-ti-cô của "sách đỏ FPT" làm xôn xao dư luận một thời.
Nói chung, danh sách các công ty lớn của Việt Nam (và thế giới) sẽ còn tiếp tục được bổ sung.

© Nguyễn Viết Thắng biên soạn loạt bài
 "Khoa Học Phổ Thông"
printed with kind permission
Đăng nhập để trả lời
0
Những nhà phát minh không được trả xu nào

----Trong số những người sống trên thế giới này có những người thường xuyên suy nghĩ, phát minh ra cái gì đấy, họ cố gắng làm cho cuộc sống này ngày một hoàn hảo hơn. Những phát minh lớn hoặc bé, vĩ đại hoặc bình thường: từ cách dán chiếc hộp giấy đến những loại thuốc chữa bách bệnh. Có những phát minh làm đổi thay thế giới và có mặt trong mỗi ngôi nhà trên khắp hành tinh. Những người phát minh ra chúng giàu có, họ được hưởng phần trăm từ việc tiêu thụ sản phẩm và luôn chiếm thứ bậc cao trong bảng xếp hạng tỷ phú của tạp chí “Forbes”. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Hóa ra vẫn còn nhiều phát minh có qui mô và tầm cỡ đã “cho không, biếu không” cho nhân loại: tác giả của những phát minh này đã quên đăng ký thành quả của mình và cuối cùng họ không được trả một xu nào.




Karaoke
Thật khó hình dung được ngành công nghiệp giải trí nếu thiếu karaoke. Không chỉ là các quán karaoke mà còn ở vô khối các nơi khác, kể cả trong mỗi gia đình. Thật khó tin, nhưng người phát minh ra kỹ thuật cũng như loại hình giải trí này không được trả một xu nào.

Hơn 30 năm trước Daisuke Inoue là nhạc công của một ban nhạc vô danh tiếng thường chơi ở các phòng trà. Các nhạc công cảm thấy thương cho khán giả không biết làm gì mỗi khi họ giải lao. Thế là Inoue nghĩ ra máy karaoke, xóa giọng hát, để lại phần nhạc đệm và đề nghị khán giả mua vui mỗi khi các nhạc công nghỉ uống cà phê hay uống trà. Đấy là vào năm 1971. Khán giả các phòng trà cảm thấy thích thú với kiểu hát này, họ cùng nhau hát đồng ca mỗi khi ban nhạc nghỉ giải lao. Thế rồi ban nhạc đã làm 11 chiếc máy hát loại này, mỗi chiếc bán được 100 yen, nghĩa là khoảng 80 cent. Ba năm sau đó karaoke được các công ty đưa vào sản xuất hàng loạt, còn Inoue vẫn không có ý định đăng ký phát minh của mình.

Từ năm 1987, khi đĩa compact xuất hiện thì karaoke phát triển với tốc độ chóng mặt. Ngày nay karaoke là gì thì cả thế giới đều biết nhưng tên tuổi nhà phát minh ra nó không mấy ai biết. Daisuke Inoue không được trả xu nào cho phát minh của mình, mặc dù tạp chí Time từng gọi ông là một trong những người có ảnh hưởng nhất của châu Á và năm 2004 ông được trao giải IgNobel vì “đã tạo ra một thiết bị giúp con người biết chịu đựng nhau”.

Hiện tại ông sống cùng vợ và hai đứa con, buôn những mặt hàng do ông sáng chế ra: thuốc diệt gián cho máy karaoke và cả thiết bị điện phân nước cho máy giặt, máy rửa chén bát không dùng bột giặt hay hóa chất. Thái độ của ông đối với lễ khải hoàn không thành, đối với sự đánh mất tiền dòng bạc chảy là bàng quan và chịu đựng – đức tính của những người theo trường phái khắc kỷ. Ông nói rằng ông từng hát với chiếc máy do mình phát minh ra chỉ 4 hay 5 lần gì đó trong đời, lần đầu tiên là trong dịp sinh nhật 59 tuổi. “Đôi khi – ông tâm sự – tôi ngắm nhìn chiếc máy hát karaoke hiện đại và nghĩ: “Nó mới tuyệt vời làm sao!” nhưng tôi chẳng có liên hệ gì với nó cả”.





Ông vua “chuột máy tính”
Douglas Engelbart, cũng như Daisuke Inoue, có thể nói rằng phát minh của ông được cả thế giới sử dụng. Ông là nhà sáng chế đã nghĩ ra con chuột – tay lái của máy tính – năm 1964. Con chuột ra đời như một sản phẩm phụ của hệ thống oN-Line System (NLS), dùng để điều khiển các “cửa sổ”. Con chuột đầu tiên trông như cái hộp gỗ phía dưới có hai bánh xe (dọc và ngang) và có một nút bấm. Sau đó Bill English và Jeff Rulifson đã cải tiến hình dáng gần giống với con chuột ngày nay, còn hai bánh xe được thay bằng viên bi tròn. Trước thập niên 1980 con chuột còn là một thứ kỳ dị và chỉ trở thành phổ biến sau khi công ty Apple quyết định trang bị nó cho việc sử dụng hệ điều hành mới. Steve Jobs đặt cho công ty Hovey-Kelley Design thiết kế những con chuột chất lượng cao với giá khoảng 20 – 30 đô la. Sau đó con chuột trở thành nguyên nhân thành công của máy tính Macintosh năm 1984. Sự thành công vang dội của hệ điều hành Windows 95 của Microsoft cũng nhờ vai trò vô cùng quan trọng của con chuột.

Thế còn người phát minh? Chắc là cũng giàu như Bill Gates? Hóa ra không phải thế. Năm 1968 Douglas Engelbart được trả 10 ngàn đô la cho phát minh và ông mua được một ngôi nhà nhỏ ở vùng ngoại ô, còn ngày 1 tháng 12 năm 2000 ông được tặng huân chương công nghệ (The National Medal of Technology) cho toàn bộ phát minh trong lĩnh vực công nghệ thông tin, trong đó có con chuột máy tính. Đã đành, người phát minh ra con chuột máy tính không nghèo khổ như “con chuột” nhưng ông đã không thu về hàng triệu, hàng tỷ đô la mà đáng ra ông có được.






Lúc nào cũng uống Coca-Cola
Có lẽ John Pemberton là nhà phát minh thiếu thực tế nhất. Mùa hè năm 1886 ông thử nghiệm một loại nước xi-rô. Thứ nước ép mà ông làm ra, sau khi uống thử thấy được, ông mang ra nhà thuốc Jacob’s để bán cho người sử dụng. Theo hướng dẫn của Pemberton, nhà thuốc pha thứ nước này với nước lã rồi bán với giá 5 cent một ly. Năm đầu tiên bán được 50 đô la trong khi tiền bỏ ra quảng cáo là 79,96 đô la. Năm sau đó hàng bán chạy hơn nhiều nhưng Pemberton không nhìn ra tiềm năng của mình nên đã bán công thức cho công ty Jacob’s. Theo tính toán của con cháu ông thì số tiền thu được là 1989 đô la 36 cent. Sau này, như chúng ta đã biết, thứ nước uống do Pemberton làm ra đã mang lại cho những người sở hữu Coca-Cola số lợi nhuận không thể kể hết.

Hiện nay, Coca-Cola là thương hiệu đắt giá nhất hành tinh, được các chuyên gia đánh giá là khoảng 75 tỷ đô la. Thế nhưng trong số những người trở nên giàu có nhờ phát minh của Pemberton không hề có con cháu hoặc những người bà con của ông.






Súng AK-47
Mikhail Kalashnikov, người sáng chế ra súng tiểu liên AK-47 nổi tiếng cũng không hề kiếm được tiền từ phát minh của mình. “Nhà nước lấy hết tất cả” – nhà sáng chế tâm sự. AK-47 là tên viết tắt của “Automat Kalashnikov mẫu năm 1947”, là loại súng tiểu liên phổ biến nhất trên thế giới vì độ tin cậy cao trong điều kiện chiến đấu không tiêu chuẩn và có giá rẻ được quân đội rất nhiều nước sử dụng, trong đó có Việt Nam.

Kể từ năm 1947 nước Nga đã bán hơn 100 triệu khẩu súng AK-47 nhưng người sáng chế không được trả xu nào. Gần đây, Kalashnikov ký hợp đồng với một công ty cho phép công ty này sử dụng thương hiệu “Kalashnikov”, đổi lại ông được hưởng 30 % doanh thu từ các mặt hàng sử dụng thương hiệu này. Các mặt hàng mang thương hiệu “Kalashnikov” là ô dù (không phải súng), vợt tennis, lotion dùng sau khi cạo râu và một số loại nước cocktail.






Kính vạn hoa
Kính vạn hoa do nhà bác học người Scotland David Brewster sáng chế ra năm 1816 khi ông làm thí nghiệm về phân cực ánh sáng. Mẫu thiết kế ban đầu được làm từ một cái ống, bên trong đặt cặp gương ở một đầu, đầu kia đặt một đĩa kính mờ. Brewster để ý thấy rằng những chuỗi hạt kính ông đặt ở giữa cùng với gương tạo nên những hoa văn thật diệu kỳ. Những hoa văn này thay đổi theo góc đặt của gương. Xác suất để thu được hai hình giống nhau là vô cùng bé. Brewster đặt tên cho nó là “kaleidoscope” có gốc từ tiếng Hy Lạp và có nghĩa là “ngắm những hình ảnh đẹp”.

Mặc dù Brewster đã đăng ký bản quyền phát minh kính vạn hoa nhưng sau đó ông chẳng thu được đồng nào từ sản phẩm được sản xuất hàng loạt dùng làm đồ chơi này. Bản quyền của ông đăng ký chưa đầy đủ theo như nhiều người hiểu. Nhiều nhà doanh nghiệp sau đó đã sản xuất hàng trăm ngàn kính vạn hoa thu lợi nhuận cả núi tiền nhưng Brewster không được trả xu nào.






Ghim kẹp giấy
Từ thế kỷ 17 con người đã biết cách xếp các tờ giấy vào nhau rồi xâu một sợi dây qua lỗ ở góc phía bên trên. Năm 1835 một bác sĩ ở New York đã làm ra một chiếc máy sản xuất kim găm dùng cho thợ may và dùng để găm giấy. Còn chiếc ghim kẹp giấy đầu tiên là do nhà sáng chế người Na Uy Johan Vaaler nghĩ ra năm 1899. Johan Vaaler không thu được đồng nào từ phát minh này vì ông không làm tìm được nguồn vốn đầu tư hay nhà sản xuất, là điều mà những người Anh (công ty Gem Manufacturing Ltd) đã làm được vào năm 1900.

Thật khó hình dung ra khối lượng giấy tờ văn bản ngày nay mà không có ghim kẹp giấy. Và cũng thật khó hình dung ra số tiền mà con cháu của Johan Vaaler có lẽ đã được hưởng nếu ngày đó ông đã đăng ký được phát minh của mình.






Đĩa CD
Đĩa CD thường được coi là phát minh của người Hà Lan (công ty Philips) và người Nhật (công ty Sony). Phát minh này ra đời trong thập niên 1980, thế kỷ XX. Bản quyền của hai công ty nói trên được nhiều nguồn thừa nhận, kể cả bộ bách khoa toàn thư đại chúng phổ biến khắp thế giới như Wikipedia. Tuy nhiên có một giả thiết khác cũng chính xác không kém: đĩa CD do nhà vật lý Mỹ James Russell phát minh từ thập niên 1960, thế kỷ XX. Ông đã thực hiện một ý tưởng có tính bước ngoặt, nghĩ ra một thiết bị không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa các thành phần của quá trình thu, phát. Đấy chính là đĩa CD đầu tiên.

Năm 1971 Eli Jacobs thành lập công ty Optical Recording và mời Russell cộng tác để làm đĩa video. Ý tưởng chỉ là để ghi các chương trình truyền hình trên đĩa nhựa rồi gửi theo đường bưu điện cho những người cần xem những chương trình truyền hình mà họ yêu thích vào bất cứ lúc nào. Năm 1974 công ty trưng bày máy ghi và đọc đĩa ở triển lãm ở Chicago, năm 1975 đại diện của công ty Philips thăm phòng thí nghiệm của Russell và nói rằng đĩa này chỉ để lưu dữ liệu chứ không dùng cho video hoặc audio được. Hai tháng sau lần thăm phòng thí nghiệm của Russell, công ty Philips giới thiệu đĩa CD – giống hệt như đĩa của Russell. Sau đấy, không chỉ Philips mà cả Sony và một số công ty khác đã phát triển công nghệ của Russell mà không nhắc gì đến tên ông. Russell cũng không đòi hỏi gì, ông chỉ nói rằng có thể là những người ở các nơi khác nhau cùng nảy ra một ý tưởng trong cùng một lúc, nhưng cuối cùng thì họ cũng đã trả tiền.

Quả thật, Philips và Sony có trả tiền bản quyền cho Viện Battelle Memorial, công ty Optical Recording và ông chủ Eli Jacobs. Năm 1992 Time Warner và một số nhà sản xuất khác kiện công ty Optical Recording ra tòa và cuối cùng họ đã phải trả 30 triệu đô la do vi phạm bản quyền vì tòa cho rằng bản quyền là của Optical Recording. Từ tất cả những số tiền trên James Russell không được một xu nào vì cả 26 bản quyền liên quan đến đĩa CD đều là của công ty Optical Recording.

Đăng nhập để trả lời
0
Những nhà phát minh đánh cắp ý tưởng



Galileo Galilei

Nếu ta hỏi một học sinh phổ thông trung học rằng cống hiến đáng kể của Galilei cho khoa học là gì thì chắc chắn câu trả lời sẽ là kính viễn vọng. Trên thực tế Galilei không phải là người đầu tiên phát minh ra kính viễn vọng. Ông là người đánh cắp ý tưởng.

Vậy thì ai là người phát minh ra kính viễn vọng? Đó là nhà bác học người Hà Lan, Hans Lippershey. Ông là người đầu tiên chế tạo ra kính viễn vọng năm 1608 và đã cố gắng để đăng ký phát minh này nhưng không được chấp thuận. Galilei biết thông tin này và năm 1609 đã chế tạo chiếc kính viễn vọng của mình. Cần phải nói rằng độ phóng đại của kính viễn vọng do Galilei chế tạo lớn hơn nhiều so với kính viễn vọng của Hans Lippershey. Và mặc dù Galilee cũng không đăng ký được phát minh này nhưng người thời nay chỉ nhắc đến Galilei mà không biết gì đến Hans Lippershey khi nói về kính viễn vọng.



Thomas Edison

Thomas Edison nổi tiếng là một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất mọi thời đại với 1093 phát minh. Đã đành, ở đời này có thể có người đàn ông đi khắp nơi bắt cóc rất nhiều đứa trẻ đem về nhà mình nuôi. Nhưng như thế không có nghĩa rằng ông là người bố có nhiều con cái nhất. Và cũng không ngoa nếu có ai đó gọi ông là “kẻ ăn cắp chuyên nghiệp”. Những điều này rất đúng với Thomas Edison và đã từng được chứng minh, tuy vậy, ở nhà trường các em học sinh vẫn được dạy rằng điện, phim, bóng đèn dây tóc và vô khối thứ quan trọng khác là phát minh của Thomas Edison. Danh mục những phát minh của Thomas Edison rất dài, ở đây chỉ dừng lại một trong số đó – bóng đèn dây tóc.

Vậy thì ai là người phát minh ra bóng đèn điện? Đó là Jean Foucault, Humphrey Davy và một số người nữa, tuy nhiên, người đầu tiên sáng chế ra bóng đèn dây tóc là nhà phát minh người Đức, Heinrich Goebel. Goebel từng cố thuyết phục Edison mua phát minh của mình nhưng Edison đã từ chối vì không thấy có lợi gì ở phát minh này. Sau khi Goebel chết, Edison đã mua lại phát minh này ở người góa phụ nghèo với giá rẻ hơn nhiều so với giá chào của Goebel. Không chỉ dừng lại ở đây, Edison còn mua phát minh bóng đèn của Joseph Swan, sau Goebel nhưng trước Edison một năm. Thế nhưng bây giờ người ta chỉ dạy cho học sinh rằng bóng đèn là phát minh của Thomas Edison.



Alexander Graham Bell

Người đời coi Bell là người sáng chế ra máy điện thoại. Ông là người thường xuyên tiếp xúc với những người điếc, kể cả mẹ và vợ mình, thành ra, thật khó hiểu một điều: ông sáng chế ra máy điện thoại để làm gì.

Vậy thì ai mới là người sáng chế ra máy điện thoại? Năm 1860 một người Ý tên là Antonio Meucci đã công bố chiếc máy điện thoại do ông nghĩ ra và gọi nó là teletrofono. Chính ông là người đã phát minh ra máy điện thoại. Tuy nhiên, là một người nhập cư nghèo, ông đã không kiếm đâu ra 10 đô la để làm thủ tục đăng ký phát minh của mình. Hai năm sau đó Alexander Graham Bell nhận được bằng phát minh điện thoại, trở thành người nổi tiếng và giàu có. Còn người phát minh đích thực của điện thoại đã chết trong nghèo khổ và vô danh tiếng.



Albert Einstein

Trong tất cả các tài liệu khoa học cũng như các loại từ điển xưa nay đều gọi Albert Einstein là cha đẻ của Thuyết tương đối. Tuy vậy tất cả đều không hẳn đơn giản thế.

Vậy thì ai là người đầu tiên đưa ra Thuyết tương đối? Các nhà khoa học đều biết rằng Jules Henri Poincaré là người đã đưa ra Thuyết tương đối trước Albert Einstein. Tuy nhiên, Albert Einstein phủ nhận việc tiếp xúc với các công trình khoa học của Poincaré. Trong 30 cuốn sách và 500 bài báo của mình, Einstein không hề nhắc đến tên Poincaré.



Alexander Fleming

Người đời nhớ đến Alexander Fleming khi nói về penicillin và câu chuyện ông đã chữa bệnh viêm phổi cho Winston Churchill. Tuy vậy tất cả không hẳn thế. Thực ra, Winston Churchill không được chữa bằng penicillin và Fleming không phải là người đầu tiên phát minh ra penicillin.

Vậy thì ai là người phát minh ra penicillin? Xác định chính xác điều này không hề dễ nhưng đã từ rất lâu, trước Fleming, các bộ tộc ở Bắc Phi đã từng dùng penicillin để chữa bệnh. Năm 1897 Ernest Duchesne đã dùng mốc penicillum glaucoma để chữa bệnh sốt ban cho heo biển. Tuy vậy, người ta chỉ coi đó là chuyện vớ vẩn nên Ernest Duchesne không được nhận bằng phát minh. 10 năm sau đó Duchesne đã chết vì bệnh sốt này. Sau đó rất lâu Fleming tình cờ tìm ra penicillin và cũng không nghĩ rằng nó sẽ có ích cho ai đó. Các nhà khoa học Howard Florey, Norman Heatley, Andrew Moyer, Ernst Chain đã tiếp tục phát triển phát minh này và làm cho penicillin trở thành loại thuốc như ngày nay. [/align]
Đăng nhập để trả lời
0