Bài quyền Ngọc Trản
(Võ Bình Định)
Trong các bộ môn về quyền thuật của võ cổ truyền Bình Định, không thể không đề cập đến bài quyền "Ngọc Trản" bởi lẽ đây là "bài ruột" mang đầy đủ các yếu tố cơ bản và là một trong những bài chính thống, tiêu biểu, được tất cả các môn phái trong tỉnh truyền dạy và phổ biến rộng rãi trong nhân dân từ xưa đến nay.
Bài quyền Ngọc Trản có lối đánh công phu, toàn diện, kín đáo, chắc đòn, kết hợp nhu cương đúng lúc, đúng chỗ. Lại có những thế né tránh, phản đòn rất lợi hại. Di chuyển nhẹ nhàng, nhanh nhạy, linh hoạt, khi trụ ngựa và ra đòn thì vững chắc và mạnh.
Bộ tay ra đòn mạnh, nhanh, chính xác, có lúc vờ như thủ để đánh lừa đối phương, hay dụ đối phương với thế vây hãm để tiêu diệt theo dạng "Hư hư thực thực".
Đặc biệt vừa qua, Ban nghiên cứu (Sở TDTT Bình Định) cũng đã phát hiện một số tư liệu cổ đều có ghi tên bài thiệu về quyền "Ngọc Trản". Để góp phần làm sáng tỏ và đi đến thống nhất tên gọi, lời thiệu với từng động tác một cách chuẩn xác hơn, xin giới thiệu cụ thể bài quyền Ngọc Trản.
Qua bài thiệu cổ mới phát hiện của bài Ngọc Trản, ta nhận thấy tính liên hoàn âm-dương được xuyên suốt.
Ví dụ như: Hoành Tả, Tọa, Bạch xà lan hổ.
Thì: Hữu hoành sát, Thanh long biên giang, Phụ tử tương tùy
Và: Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ,
Thì: Tả hoành sát, Thanh long biên giang, Phụ tử tương tùy.
So sánh các bài thiệu cổ mới phát hiện với bài thiệu đã lưu hành hiện nay có một vài chỗ khác biệt. Có lẽ người đời sau đã ghi nhầm, hay tam sao thất bổn.
Ví dụ: Hoành Tả, Tọa, bạch xà lan lộ.
Thì lại: Tả hoành sát, Thanh long biên giang.
"Hoành Tả" và "Tả Hoành" không mang tính âm-dương, ngũ hành của người xưa về cách cấu trúc một bài võ trong võ cổ truyền Bình Định.
Qua thời gian, bài quyền Ngọc Trản vẫn sáng chói như một chén ngọc. Số vốn quý võ công đã được gói ghém trong đó cũng được lưu truyền cho những người có đạo đức tốt, có tấm lòng vì con người, vì nền võ học của dân tộc.
Ngọc Trản còn có nghĩa: "Ngọc" là sự trong sáng, trung thực, phản chiếu sự vật được thể hiện ý niệm, trí tuệ. "Trản" là san bằng mọi chướng ngại mang tính đối phó ở giai đoạn đầu, tức hóa giải và có hài hòa ở giai đoạn cuối được thể hiện ở tay, chân và thân mình. Trong đó dĩ nhiên cần phải tính đến công sức luyện tập tinh nhuệ của thể chất, ý thức được thống nhất thành một ý niệm duy nhất. Ý niệm đó chuyển toàn bộ như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó là một bí quyết luyện tập của lối quyền âm-dương trong Ngọc Trản công.
a) Nội dung bài thiệu cổ về quyền "Ngọc Trản" được trích trong tập tư liệu Hán-Nôm được phát hiện tại từ đường dòng họ Trương ở xã Mỹ Hòa-Phù Mỹ do ông Trương Đức Hồng cung cấp, ông Phạm Đình Phong sưu tầm.
* Phần Phiên âm:
1. Ngọc Trản ngân đài.
2. Tả, hữu tấn khai thập tự.
3. Luyện diệp liên hoa.
4. Đả sát túc, tọa, hồi mai phục.
5. Tấn đả tam chiến
6. Thoái thủ nhị linh.
7. Hoành tả, tọa, bạch xà lan lộ.
8. Hữu hoành sát thanh long biên giang.
9. Phụ tử tương tùy.
10. Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ.
11. Tả hoành sát thanh long biên giang.
12. Phụ tử tương tùy.
13. Hồi tàng địa hổ.
14. Song phi, quyển dực.
15. Hạ bàn đoản đả.
16. Hồi, tiểu tọa khai cung.
17. Huỳnh long quyển địa.
18. Tấn, đả song quyền.
19. Hoành tả, phục hạc khai linh.
20. Trực tiền quyển địa.
21. Tấn, đả song quyền.
22. Hoành hữu, phục hạc khai linh.
23. Trực tiền quyển địa.
24. Tấn, đả song quyền.
25. Hướng, hậu đả thập tự.
26. Diện tý.
27. Hồi, tẩu mã giang tiên.
28. Bái tổ, lập như tiền.
* Dịch nghĩa:
1. Chén ngọc đài vàng.
2. Tiến, mở thế chữ thập bên trái và bên phải.
3. Chọn lá liền hoa.
4. Đánh sít chân, tọa thế "hồi mai phục".
5. Tiến, đánh ba bận.
6. Lui, hai tay sắc sảo.
7. Xoay trái, tọa thế "Bạch xà lan hộ" (con rắn trắng qua đường cỏ).
8. Chém ngang bên phải bằng thế "thanh long biên giang" (con rồng xanh trên sông bên).
9. Thế cha con nương tựa nhau.
10. Hoành bên phải, tọa thế "Bạch xà lan hộ" (con rắn trắng qua đường cỏ).
11. Hoành bên trái quét thế "thanh long biên giang" (con rồng xanh trên sông bên).
12. Thế cha con nương tựa nhau.
13. Trở về thế rắn hổ đất núp.
14. Đá song phi (hai chân bay) rồi thế chim cuốn cánh.
15. Đánh vắt mâm dưới.
16. Về, tọa, xổm mở cánh cung.
17. Thế rồng vàng cuốn đất.
18. Tiến đánh hai đấm.
19. Xoay trái, thế "phục hạc khai linh" (chim hạc giúp phơi cánh).
20.Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước.
21. Tiến đánh hai đấm.
22. Xoay phải, thế "phục hạc khai linh" (chim hạc giúp phơi cánh).
23. Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước.
24. Tiến đánh hai đấm.
25. Chuyển phía sau đánh thế chữ thập.
26. Mặt nhìn hướng tý (hướng Bắc).
27. Trở về thế "tẩu mã giang tiên" (ông tiên ruổi ngựa trên sông).
28. Vái tổ, đứng như trước.
b) Những động tác trong bài quyền Ngọc Trản:
- Đứng theo tư thế dịch cân, thủ môn hiệu theo võ Bình Định, lễ tổ, mắt nhìn thẳng ra phía trước.
- Ở bộ vị, trụ ngựa theo tư thế ngựa tứ bình. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Ở bộ vị, dương quyền ở hai tay trái và phải ở bộ vị, xòe hai chưởng, sau đó tay phải theo dương chưởng, tay trái theo âm chưởng, áp sát vào nhau thủ sát nơi chấn thủy. Bái tổ. Hai mắt nhìn thẳng.
Ngọc trản, ngân đài:
Ngọc trản: Ở bộ vị, tay phải đưa lên bên bắc lần theo thượng bộ trái qua phải. Cùng lúc chân trái bước lên trước một bước đứng theo tư thế ngựa kim kê. Đồng thời tay trái thủ quyền đâm ra trước theo quy tắc dương-âm quyền; tay phải đánh giật chỏ về sau, thủ dương quyền nơi thắt hông bên phải. Hai mắt nhìn phía trước
*Ngân đài: Ở bộ vị giữ y tư thế, tay trái xòe dương đao, theo hướng đạo từ trái qua phải. Đồng thời, tay phải đánh thẳng nắm lên từ dưới lên trên, cùng lúc dương đao tay trái thủ dưới chỏ tay phải, hông tay bên phải. Hai mắt nhìn phía trước.
Tả, hữu, Tấn, Khai, Thập tự:
*Tả: Ở bộ vị, tay trái bắt dương đao lên từ phải sang. Đồng thời, chân phải bước lên phía trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc, tay phải đánh âm đao từ trên xuống. Đồng thời, âm-dương đao đâm thẳng ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng trước.
*Hữu: Ở bộ vị, tay phải bắt dương đao lên từ trái sang phải. Đồng thời, chân trái bước tới phía trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay trái đâm đao từ trên xuống. Đồng thời, âm-dương đao đâm thẳng ra trước. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
*Tấn: Ở bộ vị, chân phải ở sau bước tới một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay phải thủ dương quyền, tay trái thủ âm quyền đánh thẳng từ phải, trái vào thủ âm dương quyền nơi trước ngực. Hai mắt nhìn về phía trước.
*Khai: Ở bộ vị, chân phải ở trước bỏ về phía sau một bước, đứng theo tư thế ngựa tứ bình, cùng lúc hai âm-dương quyền mở (xé) từ trong ra hai bên trái, phải ở phần trung bộ. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
*Thập tự: Ở bộ vị, chân phải ở sau giở lên, bỏ nhảy về phía sau một bước, đồng thời ngồi sát xuống, cùng lúc chân trái ở trước kẹp sát nhượng, bàn chân thẳng xuôi lót sát vào mông bên trái, trụ theo ngựa Thập Tự. Cùng lúc tay phải ở sau nắm dương quyền thủ ngang trên trán, tay trái ở trước nắm âm quyền thủ dưới mông bên trái. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Luyện diệp Liên Hoa (Đánh ba lần):
* Lần 1: Ở bộ vị, tay trái bắt âm chưởng lên, từ phải sang trái. Cùng lúc ngửa nhổm đứng lên, chân phải ở sau bước tới trước một bước, đứng tư thế ngựa kim kê. Đồng thời, tay phải đánh dương chưởng theo. Cùng lúc đánh thẳng hai chưởng âm-dương ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Lần 2: Ở bộ vị, tay phải bắt âm chưởng lên từ trái sang phải. Đồng thời tay trái bước tới trước một bước, đứng tư thế ngựa kim kê, cùng lúc tay trái đánh dương chưởng theo. Đồng thời, đánh thẳng hai chưởng âm-dương ra trước. Hai mắt nhìn phía trước.
*Lần 3: Ở bộ vị, tay trái lại bắt âm chưởng lên từ phải sang trái, chân phải ở sau bước tới một bước, đứng tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay phải đánh dương chưởng theo, đồng thời, hai âm chưởng ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Đả sát túc, Tọa, hồi mai phục:
* Đả sát túc: Ở bộ vị, chân trái ở sau đá thẳng ra trước. Ngồi thấp ngựa xuống, cùng lúc tay trái ở trước đâm thẳng nắm quyền từ trên xuống đất. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Tọa, hồi mai phục: Ở bộ vị, chân phải ở sau giở lên cùng lúc nhảy về sau một bước. Tọa ngựa, tay phải thủ dương quyền ngang lên trán. Tay trái thủ âm quyền trước gối chân trái ở trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Tấn đả tam chiến:
* Lần 1: Ở bộ vị, nhổm ngựa lên, chân phải bước tới trước một bước đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay phải đánh dương quyền từ trên xuống, từ phải sang trái. Đồng thời, tay trái ở sau nơi hông bên trái đâm thẳng quyền ra trước theo âm dương quyền. Tay phải thu về thủ nơi hông phải. Hai mắt nhìn phía trước.
* Lần 2: Ở bộ vị, tay trái giữ y tư thế, chân trái ở sau, bước tới trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay trái đánh quyền từ trên xuống theo dương quyền. Đồng thời, tay phải ở sau đâm thẳng âm dương quyền từ hông phải ra trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Lần 3: Ở bộ vị, tay phải giữ y thế, chân phải ở sau bước tới một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay phải đánh quyền từ trên xuống theo dương quyền đồng thời tay trái ở sau đâm thẳng dương âm quyền từ hông trái ra trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Thoái thủ nhị linh:
Ở bộ vị, chân phải ở trước, bỏ về sau một bước, đứng ngựa theo tư thế ngựa kim kê. Đồng thời, đánh thẳng sát hai nắm quyền từ dưới lên trên theo chiều mu bàn tay hướng về phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Hoành tả, Tọa, Bạch xà lan lộ:
* Hoành tả: Ở bộ vị, chân trái ở trước, bỏ qua bên trái một bước đứng theo tư thế ngựa ngang về bên trái. Đồng thời, tay trái thủ âm quyền ngang trên trán; tay phải thủ dương quyền theo hông bên phải. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Tọa: Ở bộ vị, chân trái ở bên tả, giở lên nhảy về bên trái một bước, đồng thời tọa ngựa xuống. Tay trái thủ âm quyền ngang trên trán, tay phải thủ dương quyền trước gối bên phải. Hai mắt nhìn thẳng về trước.
* Bạch xà lan lộ: Ở bộ vị, chân phải bước tới trước một bước, đứng theo tư thế bộ hạ, cùng lúc thân pháp hướng ra phía trước, ngực bên phải áp sát chân phải ở phía trước. Đồng thời tay phải ở phía trước thủ xà chỉ đánh thẳng từ sau ra trước; tay trái đánh xà chỉ về sau. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Hữu hoành sát, Thanh long biên giang:
Hữu hoành sát: Ở bộ vị, chân phải ở trước đánh xé ngang qua bên phải, đồng thời tay phải thủ âm quyền theo chân phải, tay trái thủ dương quyền trên trán. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
*Thanh long biên giang: Ở bộ vị, giữ y bộ vị ngựa, tay phải đánh âm quyền từ dưới lên, tay trái đánh dương quyền từ trên xuống. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Phụ tử tương tùy:
Ở bộ vị, chân trái ở bên trái, bước tới trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê, cùng lúc hai tay áp sát hai âm quyền đánh thẳng từ dưới lên. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ:
* Hoành hữu: Ở bộ vị, chân phải ở sau, bỏ ngang qua bên phải một bước, đứng theo tư thế ngựa bên phải; đồng thời tay phải thủ âm quyền ngang trên trán; tay trái thủ dương quyền theo hông bên trái. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Tọa: Ở bộ vị, chân phải ở bên phải giở lên nhảy về bên phải một bước, đồng thời tọa ngựa xuống, tay phải thủ âm quyền ngang trên trán, tay trái thủ dương quyền trước gối bên trái. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Bạch xà lan lộ: Ở bộ vị, chân trái bước tới trước một bước, đứng theo tư thế bộ hạ, cùng lúc thân pháp hướng ra phía trước, ngực bên trái áp sát gối bên trái ở phía trước. Đồng thời, tay trái ở trước thủ xà chỉ đánh thẳng từ sau ra trước, tay phải đánh xà chỉ về sau. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Tả hoành sát, Thanh long biên giang:
* Tả hoành sát: Ở bộ vị, chân trái ở trước đánh xé ngang bên trái, đồng thời tay trái thủ âm quyền theo chân trái, tay phải thủ dương quyền trên trán. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Thanh long biên giang: Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa, tay trái đánh âm quyền từ dưới lên, tay phải đánh dương quyền từ trên xuống. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Phụ tử tương tùy:
Ở bộ vị, chân phải ở bên phải bước tới trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê, cùng lúc hai tay áp sát hai âm quyền đánh thẳng từ dưới lên. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Hồi tàng địa hổ:
Ở bộ vị, chân phải ở trước, bỏ theo phía trước về phía sau một bước. Đồng thời, tay phải đánh vắt dương chưởng từ sau ra trước, từ dưới lên trên, tay trái thủ âm chưởng trên trán; cùng lúc chân trái giở lên, nhảy về phía sau một bước, trụ theo tư thế hổ tấn. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Song phi quyển dực:
* Song phi: Đá, đánh ba lần.
Ở bộ vị, nhún nhảy cao người trên mặt đất, đồng thời chân trái đá theo phía trước, cùng lúc tay trái đánh dương quyền theo từ trên xuống dưới. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Ở bộ vị, tiếp tục nhảy cao người đá chân phải ra phía trước cùng lúc tay phải đánh dương quyền theo từ trên xuống dưới. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
Ở bộ vị, tiếp tục nhảy cao người, đá chân trái ra phía trước, đồng thời đánh dương quyền tay trái từ trên xuống dưới. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Quyển dực: Ở bộ vị, chỏ tay trái đánh cuộn tròn từ trước ra sau, đồng thời đánh dực chỏ trái từ sau ra trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Hạ bàn, đoản đả:
* Hạ bàn: Ở bộ vị, chân phải ở trước đánh xé ngang gót chân sát mặt đất từ phải sang trái, đồng thời tay trái đánh vớt âm quyền theo từ phải sang trái, từ dưới lên trên. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Đoản đả: Ở bộ vị, giữ y bộ vị, tay phải ở bên phải đánh thẳng dương quyền từ sau ra trước, từ trên xuống dưới. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Ở bộ vị, chân phải ở bên phải đạp thẳng gót chân ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Hồi tiểu họa, khai, cung:
* Hồi tiểu họa: Ở bộ vị, chân trái ở sau giở lên nhảy về sau một bước, tọa ngựa, tay phải thủ dương quyền nơi gối chân phải ở trước, tay trái thủ âm quyền trên trán. Hai mắt nhìn phía trước.
* Khai, cung: Ở bộ vị, chân trái ở sau bước tới trước một bước, đứng theo tư thế ngựa tứ bình. Đồng thời, đánh xé hai nắm quyền từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Ở bộ vị, chân phải ở sau bước tới trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay phải thủ dương quyền, tay trái thủ âm quyền đánh móc ngang từ ngoài vào trong, âm-dương quyền thủ trước ngực. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Huỳnh long quyển địa:
Ở bộ vị, chân trái ở sau bỏ về sau một bước. Đồng thời triển người về sau. Hai bàn tay chụp xuống sát mặt đất, cùng lúc đánh ngược lại từ dưới lên, từ sau ra trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Ở bộ vị, bàn chân trái ở sau rút lên sát bàn chân phải ở trước, đồng thời chân phải ở trước bỏ về sau một bước, thân người triển về phía sau, cùng lúc chụp hai bàn tay xuống sát mặt đất. Đồng thời đánh ngược lại, từ dưới lên, từ sau ra trước. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
Tấn, đả, song quyền:
Tấn: Ở bộ vị, giữ y bộ vị, tay phải ở sau đấm thẳng âm quyền ra trước, tay trái thủ dương quyền nơi hông trái. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Đả: Ở bộ vị, chân phải ở sau đá trước thẳng gót chân từ sau ra trước. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
* Song quyền: Ở bộ vị, tay trái ở sau đang thủ dương quyền đâm thẳng âm quyền ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Ở bộ vị, giữ y bộ vị ngựa, chân phải ở trước, chân trái sau; tay phải ở trước đang thủ dương quyền, đâm thẳng âm quyền ra trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Hoành tả, phục hạc khai linh:
Hoành tả: Ở bộ vị, chân trái ở sau bỏ ngang qua bên trái một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê, tay trái thủ âm quyền trên trán, tay phải thủ dương quyền nơi mông đùi phải. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Phục hạc khai linh: Ở bộ vị, chân trái ở bên trái, bước tới trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay trái đánh âm chưởng theo từ trên xuống, tay trái sang phải. Tay phải thủ dương chưởng trên trán. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Ở bộ vị, giữ y bộ vị, tay trái ở trước tiếp tục đánh ngược lại theo dương chưởng. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa, hai tay thủ hạc chỉ, tay trái ở trước đánh hạc chỉ từ trên xuống; tay phải ở sau đánh hạc chỉ từ dưới lên. Hai tay thủ theo hạc chỉ âm dương. Hai mắt nhìn phía trước.
Trực tiền quyển địa:
bộ vị, chân phải ở sau, quét bàn chân sát mặt đất cong tròn từ sau ra trước, đứng theo tư thế ngựa bộ hạ. Cùng lúc hai tay bắt đánh hai dương quyền từ trên xuống, đồng thời đánh móc thẳng hai nắm quyền từ dưới lên. Hai mắt nhìn phía trước.
Tấn, đả, song quyền:
* Tấn: Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa, tay trái ở sau đấm thẳng, nắm quyền ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Đả: Ở bộ vị, chân trái ở sau đá thẳng từ sau ra trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Song quyền: Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa chân trái trước, chân phải sau. Đồng thời tay phải ở sau đâm thẳng nắm quyền ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Ở bộ vị, giữ y bộ vị, tay trái ở trước tiếp tục đâm thẳng nắm quyền ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng về trước.
Hoành hữu, phục hạc khai linh:
* Hoành hữu: Ở bộ vị, chân phải ở sau, bỏ ngang qua bên phải một bước, đứng theo tư thế ngựa ngang, tay phải thủ âm quyền trên trán, tay trái thủ dương quyền nơi mông đùi chân trái. Hai mắt nhìn phía trước.
* Phục hạc khai linh: Ở bộ vị, chân phải ở bên phải, bước tới trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc, tay phải đánh căn chưởng theo từ trên xuống, từ phải sang trái; tay trái thủ dương chưởng trên trán. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Ở bộ vị, giữ y bộ vị, tay phải ở trước tiếp tục đánh ngược lại theo dương chưởng. Hai mắt nhìn phía trước.
Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa, hai tay thủ hạc chỉ, tay phải ở trước, đánh hạc chỉ từ trên xuống, tay trái ở sau đánh hạc chỉ từ dưới lên. Hai tay thủ theo hạc chỉ âm-dương. Hai mắt nhìn phía trước.
Trực tiền quyển địa:
Ở bộ vị, chân trái ở sau, quét bàn chân sát mặt đất cong tròn từ sau ra trước, đứng theo tư thế ngựa bộ hạ. Cùng lúc hai tay bắt đánh hai dương quyền từ trên xuống, đồng thời đánh móc thẳng hai nắm quyền từ dưới lên. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Tấn, đả, song quyền:
* Tấn: Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa, tay phải ở sau đâm thẳng nắm quyền ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Đả: Ở bộ vị, chân phải ở sau, đá thẳng từ sau ra trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Song quyền: Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa, chân phải trước, chân trái sau. Đồng thời tay trái ở sau đâm thẳng ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Ở bộ vị, giữ y bộ vị, tay phải ở trước, tiếp tục đâm thẳng nắm quyền ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Hướng hậu đả Thập Tự:
* Hướng hậu đả: Ở bộ vị, chân trái ở sau, đá theo chiều sau lưng cùng lúc thu chân về vị trí ngựa trước khi đá. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Thập tự: Ở bộ vị, chân trái ở sau giở lên, nhảy về sau một bước, tọa ngựa theo tư thế ngựa Thập Tự. Hai mắt nhìn phía trước.
Diện Tý:
Ở bộ vị, chân trái ở sau bỏ sang bên trái một bước, đứng theo tư thế ngựa ngang. Cùng lúc, tay trái đánh móc nắm quyền từ dưới lên, từ phải qua trái. Tay phải thủ âm quyền nơi cùi chỏ tay trái. Hai mắt nhìn phía trước.
Hồi tẩu mã giang tiên:
* Hồi tẩu mã: Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa, tay trái đánh dương quyền từ trái qua phải, từ trên xuống dưới. Tay phải thủ âm quyền ngang trên trán. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Giang tiên: Ở bộ vị, chân trái ở bên trái, bước tới trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê, cùng lúc, tay trái đánh móc thẳng nắm quyền từ dưới lên trên. Tay phải thủ âm quyền kề nơi chỏ tay trái. Hai mắt nhìn phía trước.
(Những động tác bái tổ hết bài thảo)
Bái tổ, lập như tiền:
Ở bộ vị, chân phải ở sau, bước tới trước một bước, bỏ về bên phải, đứng theo tư thế ngựa tứ bình. Cùng lúc tay phải thủ dương chưởng, tay trái thủ âm chưởng, áp sát nhau, thủ trước ngực, bái tổ. Hai mắt nhìn phía trước.
Theo "Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định"
(Còn tiếp)