<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-07 09:09:05Thanh Vân>
[color="#330099"][color="#330099"][color="#330099"]Khoa Học:
[color="#000099"]Sau Nhiều Năm Im Lặng, tòa Bạch Ốc phổ biến Phúc Trình về Khí Hậu
Trần Hồng Văn lược dịch
Sau nhiều năm im lặng, do lệnh của tòa án hôm thứ Năm ngày 29 tháng 5 năm 2008 vừa qua, tòa Bạch Ốc mới cho phổ biến một bản tài liệu được gọi là ?mối đe doạ cho quốc giả do con người tạo nên tình trạng hâm nóng trái đất.
Bản phúc trình dày 270 trang này là một tổng hợp các cuộc nghiên cứu trên nước Mỹ cũng như tại khắp nơi trên thế giới và là một vấn đề nhức nhối cho chính quyền của tổng thống Bush. Nhà khí hậu học người Gia Nã Ðại Andrew Weaver nói bản phúc trình này là một tin xấu cho nước Mỹ. Nhà sinh vật học Thomas Lovejoy, một khoa học gia duyệt lại bản phúc trình trước khi cho phổ biến đã nói: ?Ðây là một bức tranh nói lên tất cả mọi sự thay đổi trong hệ thống môi sinh trên toàn quốc và nó có ảnh hưởng trực tiếp cho mọi ngườỉ.
Bản phúc trình đã đề cập tới những vấn đề sau đây:
- Tử vong của con người gia tăng do ảnh hưởng của độ nóng cũng như mức ô nhiễm trong không khí.
- Càng ngày càng thiếu nguồn nước cho dân chúng trong các đô thị và ngành nông nghiệp. Từ California cho tới New York, nạn thiếu nước là mối lo ngại lớn lao.
- Thiếu hụt hàng tỉ dollars để xây dựng thêm các nhà máy điện. Ví dụ tại Seattle vào cuối thế kỷ này, mức tiêu thụ năng lượng sẽ tăng lên 146 %.
- Số tử vong và thiệt hại về vật chất sẽ tăng gấp bội do nạn cháy rừng, bão tố và các thiên tai khác. Trong 3 thập kỷ qua, mùa cháy rừng tại miền Tây đã tăng lên 78 ngày.
- Lan truyền bệnh tật do côn trùng hay các vi trùng lây lan qua thực phẩm và nước cũng như dịch bệnh gây thiệt hại cho ngân sách quốc gia khoảng 1.5 tỉ mỗi năm.
Bản phúc trình nói thêm: ? Cuối cùng, sự thay đổi về khí hậu sẽ ảnh hưởng tới hệ thống bảo vệ sức khỏe của nước Mỹ, nó có ảnh hưởng trực tiếp tới người nghèo, người lớn tuổi, người tàn tật và những người không có bảo hiểm?.
Theo phán quyết của tòa án vào năm 1990 thì cứ mỗi 4 năm, chính quyền phải công bố một bản phúc trình về sự thay đổi về khí hậu trên toàn cầu. Nhưng kể từ năm 2000, chính quyền đã im lặng, do đó, một nhóm nhà bảo vệ môi sinh đã xin tòa án một phán quyết buộc chính quyền Bush phải công bố phúc trình này vào cuối tháng 5 vừa qua.
Tóm Lược
1- Nhập đề:
Khí hậu đang thay đổi và sự thay đổi này có ảnh hưởng tới cả thế giới quanh ta. Ðể đối phó với những sự thay đổi này cũng như chuẩn bị cho những gì sẽ xẩy ra trong tương lai, những nhà lãnh đạo cần những dữ kiện về sự thay đổi khí hậu trên toàn cầu và hậu quả của nó trên đất nước này cũng như trên toàn thế giới nơi ta sinh sống.
Hội đồng khoa học quốc gia phối hợp, cân nhắc và diễn dịch những công trình nghiên cứu của Chương Trình Nghiên Cứu Thay Ðối về Khí Hậu (ỤS. Climate Change Science Program, CCSP) cũng như rút tỉa và tổng hợp những công trình nghiên cứu khoa học khác, bao gồm những phúc trình của Hội Ðồng Liên Quốc Gia về Thay Ðổi Khí Hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change, IPCC). Hội đồng sẽ phân tích những thay đổi hiện nay do thiên nhiên cũng như con người gây nên và sẽ phác hoạ một sự thay đổi trong tương lai, cũng như phân tích những hậu quả của sự thay đổi này trên môi sinh, nông nghiệp, nguồn nước, hệ thống xã hội, việc sản xuất năng lượng, vận tải và sức khỏe của con người. Ngoài phúc trình về sự thay đổi khí hậu ra, hội đồng cũng nói về những sự thay đổi khác như các nguồn nước, tình trạng các đại dương, bầu khí quyển, sản xuất của đất đai và các hệ thống sinh thái, tất cả có ảnh hưởng tới trái đất và con người.
2- Các nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu:
Càng ngày sự hiểu biết về khí hậu thay đổi càng nhiều khiến cho các nhà khoa học có những kết luận càng chính xác về các nguyên nhân cũng như những hậu quả. Ví dụ kết luận mới đây của IPCC cho biết nhiệt độ trung bình của trái đất đã gia tăng và phần lớn do việc sản xuất các chất tạo nên tình trạng ?nhà kiếng?, và chính là do con người đã tạo nên ảnh hưởng cho sự thay đổi khí hậu trên trái đất. Vài loại hơi được phóng thích vào bầu khí quyển đã giữ năng lượng mặt trời lại (Chính ra phải được phóng trở lại không gian), hậu quả là làm trái đất bị hâm nóng. Những chất hơi tạo nên tình trạng ?nhà kiếng? bao gồm hơi nước, carbon dioxide, methane, ozone, nitrous oxide, vài loại hơi chứa chất fluorine và chlorine, trong đó chất carbon dioxide giữ vai trò hàng đầu. Ví dụ trong thế kỷ thứ 18, độ đậm đặc của chất này trong bầu khí quyển là 280 ppm (phần triệu) đã lên tới mức 383 ppm vào năm 2007. Việc đốt các nhiên liệu hoá thạch (như than đá) cũng như việc khai thác đất đai là nguyên do chính cho sự gia tăng này. Nói chung thì những chất hơi trong bầu khí quyển tạo nên tình trạng ?nhà kiếng? gia tăng đáng kể trong thế kỷ vừa qua.
Cộng vào với chỉ số nhiệt độ trung bình, tác động của con người cũng ảnh hưởng sâu xa vào sự khắc nghiệt của thời tiết. Có nhiều chứng cớ về sự khắc nghiệt này như là sự thay đổi về số ngày băng giá hàng năm, số ngày nóng và lạnh, số đêm nóng và lạnh. Có nhiều chứng cớ con người làm trái đất nóng dần lên tạo nên những điều kiện khắc nghiệt về mùa hè tại vài vùng, làm tan các tảng băng đá vùng bắc cực, mực nước biển dâng cao, thay đổi về gió cũng như mưa trên đại lục.
Theo như phúc trình của CCSP, việc gia tăng các chất hơi trong hiện tượng ?nhà kiếng? do con người tạo ra đã làm gia tăng nhiệt độ trên mặt nước các đại dương khiến các trận bão có cường độ lớn thành hình. Có một mối liên kết chặt chẽ giữa nhiệt độ của nước trên mặt biển Ðại Tây Dương và những hoạt động của bão tố tại vùng này khi quan sát vế cường độ, và nhịp độ các trận bão trong suốt 50 năm qua.
3- Những chiều hướng và dự đoán trong sự thay đổi:
Phần này sẽ nói về những chiều hướng đã ghi nhận được và những dự đoán v
3.a- Nhiệt độ:
Hệ thống khí hậu trên trái đất đang nóng dần, đó là những chứng cớ quan sát được, như việc gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và nước biển, kết quả là băng đá tại bắc cực đang tan dần. Theo như tính toán của IPCC, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng trong 100 năm vừa qua là 1.33 độ F. trong khi nhịp độ gia tăng trong 50 năm qua gấp đôi so với 100 năm qua. Thêm vào đó, cũng với phúc trình của IPCC, nhiệt độ trung bình vùng Bắc Bán Cầu trong 50 năm sau của thế kỷ thứ 20 nóng hơn bất cứ 50 năm nào trong suốt 500 năm qua và cũng là giai đoạn nóng nhất tại Bắc Bán Cầu trong 1,300 năm qua.
Giống như nhiệt độ trung bình trên thế giới, nhiệt độ tại nước Mỹ cũng tăng trong thế kỷ thứ 20 và vào thế kỷ thứ 21. Thập niên vừa qua là thập niên nóng nhất trong hơn một thế kỷ qua. Nhiệt độ trung bình trên nước Mỹ gia tăng gần 0.6 độ F. cho mỗi thập niên trong vài chục năm gần đây.
Số luồng hơi nóng tăng lên kể từ năm 1950, nên nhớ là các luồng hơi nóng có liên hệ với nạn hạn hán. Trong khoảng năm 1930 được coi là khắc nghiệt và được ghi nhận trong lịch sử Hoa Kỳ. Trong vài thập niên vừa qua có rất ít ngày lạnh bất thường và cũng trong 10 năm qua, luồng hơi lạnh ít hơn bất cứ khoảng thời gian 10 năm nào, kể từ năm 1895.
IPCC kết luận là việc phóng ra các chất hơi tạo cho hiện tượng ?nhà kiếng? với tốc độ như hiện nay hay nhiều hơn nữa sẽ gây ra việc nhiệt độ gia tăng nhiều hơn nữa và có rất nhiều thay đổi ghê gớm trong thế kỷ thứ 21. Trong khoảng 20 năm tới, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên khoảng 0.3 tới 0.4 độ F. cho mỗi thập niên. Những sự thay đổi trong tương lai do thiên nhiên tạo ra như nhiều ngọn núi lửa sẽ hoạt động hơn cũng cộng thêm vào việc làm nhiệt độ trái đất gia tăng. Vào giữa thế kỷ thứ 21, nhiệt độ trái đất tăng lên từ 2 tới 3 độ F. và cho đến cuối thế kỷ sẽ tăng lên 7.2 độ F.
3.b Mưa, hạn hán:
Theo những dữ kiện ghi nhận được, tổng số lượng nước mưa trên toàn nước Mỹ tăng lên 6% kể từ năm 1901 đến 2005. Vùng chịu mưa nhiều nhất là miền Bắc Trung Tây và miền Nam Hoa Kỳ. Những trận mưa lớn tăng lên đáng kể nhất là trong ba thập kỷ cuối thế kỷ thứ 20 tại những vùng phía Ðông, đồng thời những trận hạn hán trầm trọng xẩy ra tại vùng Tây Nam kể từ năm 1999 tới 2007. Những vùng Ðông Nam cũng chịu những trận hạn hán đáng kể.
Thủy lượng tại các vùng miền Ðông Hoa Kỳ gia tăng 25% trong 60 năm qua, tuy vậy tại vùng Rocky Mountain thì giảm đi khoảng 2% cho mỗi thập niên trong thế kỷ qua. Với dự đoán trong thế kỷ thứ 21 thì vào mùa Ðông, lượng nước mưa sẽ gia tăng tại các vùng miền Bắc và giảm tại các vùng miền Tây Nam; Vào mùa hè lượng nước mưa sẽ giảm tại các vùng Tây Bắc và tăng tại vùng Alaska. Tổng quát thì lượng nước mưa sẽ tăng tại các vùng miền Bắc vào mùa đông và giảm đi tại các vùng miền Tây và miền Nam vào mùa hè. Trong thế kỷ thứ 21, Bắc Mỹ mưa sẽ ít nhưng lớn hơn. Bão tố nhiều hơn, kèm theo những trận sóng thần dọc theo các bờ biển.
3.c Băng đá và tuyết:
Những nhận xét chứng minh rõ là băng đá vùng Bắc Cực đã giảm 2.7% mỗi thập niên trong khoảng từ năm 1978 tới 2005. Sự giảm thiểu này rõ ràng nhất là vào mùa hè (giảm 7.4 % mỗi thập niên). Diện tích băng đá vùng Bắc Cực giảm khoảng 23% so sánh với nhận xét vào năm 2005. Thêm vào đó, chỉ trong khoảng thời gian từ năm 1987 tới 1997 chiều dầy trung bình của các tảng băng đá này giảm đi 3 feet (theo tài liệu của Sở Nghiên Cứu Khí Hậu vùng Bắc Cực và IPCC). Việc giảm chiều dầy và thu gọn diện tích các tảng băng làm cho lượng nước gia tăng và gió tạo nên các làn sóng mạnh và tạo nên hiện tượng soi mòn dọc theo bờ biển vùng Alaska.
Khoảng thời gian từ tháng Mười Một tới tháng Giêng kể từ năm 1915 tới 2004, tuyết bao phủ vùng Bắc Mỹ gia tăng, tuy vậy thời gian tuyết phủ vào mùa Xuân tại các vùng núi miền Tây Hoa kỳ giảm đi đáng kể trong hậu bán thế kỷ 20, theo phúc trình của IPCC thì nguyên nhân hiện tượng này là do ảnh hưởng của trái đất bị hâm nóng. Tại Alaska, những nơi bị băng đá che phủ đang tan dần với tỉ lệ 1.6 inches mỗi năm kể từ năm 1992.
Theo như các ghi nhận và phân tích trong suốt 150 năm qua tại Bắc bán cầu, thời gian các sông ngòi và hồ bị đông đá chậm hơn ( trung bình 5.8 ngày mỗi thế kỷ) và thời gian băng đá tan ra xẩy ra nhanh hơn ( trung bình 6.5 ngày mỗi năm). Thêm vào hiện tượng thay đổi về băng đá và tuyết, các tảng băng đang nhanh chóng mất dần khối lượng tại vùng Tây Bắc Mỹ và Alaska. Việc mất này xẩy ra rất nhanh chóng tại Alaska sau nửa thập niên 1990.
Khi mà nhiệt độ ngày càng gia tăng, tuyết phủ mặt đất ngày càng giảm, theo như IPCC thì vào cuối thế kỷ này, vào mùa hè tại các biển vùng Bắc cực sẽ không còn các tảng băng nữa, tuy vậy nhiều dự đoán cho là chỉ cho tới năm 2040 thì tình trạng này sẽ xẩy ra. Băng đá và những khối băng trên mặt đất sẽ mất dần khối lượng và sẽ tan nhanh vào mùa hè để lượng nước mưa sẽ nhiều hơn vào mùa đông. Hiện tượng này làm mực nước tại các đại dương tăng cao. (Trong một phúc trình công bố ngày 28 tháng 6, 2008 của Mark Serreze, khoa học gia tại Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Tuyết và Băng Ðá và là giáo sư tại Ðại Học Colorado thì vào mùa hè năm nay, 2008, các tảng băng tại Bắc Cực sẽ tan ra hết. Ðây là một biến cố xẩy ra lần đầu tiên trong lịch sử của trái đất. Ông tuyên bố là hiện nay chiều dầy các tảng băng này còn rất mỏng và xác xuất độ chính xác sự tiên đoán này là 50% - Ghi chú của người dịch)
3.d Mực nước tại các đại dương:
Kể từ năm 0 tới năm 1900 sau tây lịch, mực nước tại các đại dương thay đổi rất ít, qua đến thế kỷ thứ 20, mực nước tại đây đã dâng cao đáng kể và hiện nay mỗi ngày càng dâng cao với một tốc độ đáng ngại. Mực nước tại các đại dương trên toàn thế giới mỗi năm dâng cao 0.12 inches kể từ năm 1993 tới năm 2003, trong khi con số này là 0.067 inches mỗi năm trong suốt thế kỷ thứ 20. Có hai nguyên do làm gia tăng mực nước là: khí hậu toàn cầu gia tăng và các nguồn nước tại đại lục chẩy ra biển, kể cả việc các tảng băng ở cực địa cầu và băng đá che phủ mặt đất bị tan ra.
Các dữ kiện thu thập được cho thấy mực nước tại phần lớn vùng ven biển Ðại Tây Dương và Vịnh Mễ Tây Cơ thuộc hải phận Hoa Kỳ đang gia tăng từ 0.8 tới 1.2 inches mỗi thập niên. Tốc độ này thay đổi tại bờ biển vùng Louisiana (do đất bị chìm) cho tới vài vùng tại Alaska (do đất trồi).
Theo như dự đoán của IPCC, với nhiệt độ trên mặt nước biển như hiện nay, mực nước sẽ dâng cao từ 7 tới 23 inches vào cuối thế kỷ này (2090-2099). Do mực nước biển dâng cao cường độ các trận bão sẽ khốc liệt hơn, nhiều vùng bị tàn phá do các trận bão và sóng thần, và các vùng ven biển cũng bị soi mòn nhiều hơn.
3.e Bão tố vùng Ðại Tây Dương:
Cơ quan CCSP đưa ra nhận xét là số lượng bão tố hàng năm trong vùng Bắc Ðại Tây Dương đã gia tăng trong vòng 100 năm qua đi đôi với nhiệt độ tại mặt nước biển cũng gia tăng. Thêm vào đó, có nhiều bằng chứng cho thấy là trong hai thập niên vừa qua, độ cao các đợt sóng cũng tăng kết hợp với những trận bão thường xuyên và khốc liệt hơn. Cũng theo CCSP, tốc độ của gió và mưa trong các trận bão tăng mạnh hơn khi con người gây ra tình trạng hâm nóng trái đất.[/color][/color][/color][/color]
[color="#000099"]Sau Nhiều Năm Im Lặng, tòa Bạch Ốc phổ biến Phúc Trình về Khí Hậu
Trần Hồng Văn lược dịch
Sau nhiều năm im lặng, do lệnh của tòa án hôm thứ Năm ngày 29 tháng 5 năm 2008 vừa qua, tòa Bạch Ốc mới cho phổ biến một bản tài liệu được gọi là ?mối đe doạ cho quốc giả do con người tạo nên tình trạng hâm nóng trái đất.
Bản phúc trình dày 270 trang này là một tổng hợp các cuộc nghiên cứu trên nước Mỹ cũng như tại khắp nơi trên thế giới và là một vấn đề nhức nhối cho chính quyền của tổng thống Bush. Nhà khí hậu học người Gia Nã Ðại Andrew Weaver nói bản phúc trình này là một tin xấu cho nước Mỹ. Nhà sinh vật học Thomas Lovejoy, một khoa học gia duyệt lại bản phúc trình trước khi cho phổ biến đã nói: ?Ðây là một bức tranh nói lên tất cả mọi sự thay đổi trong hệ thống môi sinh trên toàn quốc và nó có ảnh hưởng trực tiếp cho mọi ngườỉ.
Bản phúc trình đã đề cập tới những vấn đề sau đây:
- Tử vong của con người gia tăng do ảnh hưởng của độ nóng cũng như mức ô nhiễm trong không khí.
- Càng ngày càng thiếu nguồn nước cho dân chúng trong các đô thị và ngành nông nghiệp. Từ California cho tới New York, nạn thiếu nước là mối lo ngại lớn lao.
- Thiếu hụt hàng tỉ dollars để xây dựng thêm các nhà máy điện. Ví dụ tại Seattle vào cuối thế kỷ này, mức tiêu thụ năng lượng sẽ tăng lên 146 %.
- Số tử vong và thiệt hại về vật chất sẽ tăng gấp bội do nạn cháy rừng, bão tố và các thiên tai khác. Trong 3 thập kỷ qua, mùa cháy rừng tại miền Tây đã tăng lên 78 ngày.
- Lan truyền bệnh tật do côn trùng hay các vi trùng lây lan qua thực phẩm và nước cũng như dịch bệnh gây thiệt hại cho ngân sách quốc gia khoảng 1.5 tỉ mỗi năm.
Bản phúc trình nói thêm: ? Cuối cùng, sự thay đổi về khí hậu sẽ ảnh hưởng tới hệ thống bảo vệ sức khỏe của nước Mỹ, nó có ảnh hưởng trực tiếp tới người nghèo, người lớn tuổi, người tàn tật và những người không có bảo hiểm?.
Theo phán quyết của tòa án vào năm 1990 thì cứ mỗi 4 năm, chính quyền phải công bố một bản phúc trình về sự thay đổi về khí hậu trên toàn cầu. Nhưng kể từ năm 2000, chính quyền đã im lặng, do đó, một nhóm nhà bảo vệ môi sinh đã xin tòa án một phán quyết buộc chính quyền Bush phải công bố phúc trình này vào cuối tháng 5 vừa qua.
Tóm Lược
1- Nhập đề:
Khí hậu đang thay đổi và sự thay đổi này có ảnh hưởng tới cả thế giới quanh ta. Ðể đối phó với những sự thay đổi này cũng như chuẩn bị cho những gì sẽ xẩy ra trong tương lai, những nhà lãnh đạo cần những dữ kiện về sự thay đổi khí hậu trên toàn cầu và hậu quả của nó trên đất nước này cũng như trên toàn thế giới nơi ta sinh sống.
Hội đồng khoa học quốc gia phối hợp, cân nhắc và diễn dịch những công trình nghiên cứu của Chương Trình Nghiên Cứu Thay Ðối về Khí Hậu (ỤS. Climate Change Science Program, CCSP) cũng như rút tỉa và tổng hợp những công trình nghiên cứu khoa học khác, bao gồm những phúc trình của Hội Ðồng Liên Quốc Gia về Thay Ðổi Khí Hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change, IPCC). Hội đồng sẽ phân tích những thay đổi hiện nay do thiên nhiên cũng như con người gây nên và sẽ phác hoạ một sự thay đổi trong tương lai, cũng như phân tích những hậu quả của sự thay đổi này trên môi sinh, nông nghiệp, nguồn nước, hệ thống xã hội, việc sản xuất năng lượng, vận tải và sức khỏe của con người. Ngoài phúc trình về sự thay đổi khí hậu ra, hội đồng cũng nói về những sự thay đổi khác như các nguồn nước, tình trạng các đại dương, bầu khí quyển, sản xuất của đất đai và các hệ thống sinh thái, tất cả có ảnh hưởng tới trái đất và con người.
2- Các nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu:
Càng ngày sự hiểu biết về khí hậu thay đổi càng nhiều khiến cho các nhà khoa học có những kết luận càng chính xác về các nguyên nhân cũng như những hậu quả. Ví dụ kết luận mới đây của IPCC cho biết nhiệt độ trung bình của trái đất đã gia tăng và phần lớn do việc sản xuất các chất tạo nên tình trạng ?nhà kiếng?, và chính là do con người đã tạo nên ảnh hưởng cho sự thay đổi khí hậu trên trái đất. Vài loại hơi được phóng thích vào bầu khí quyển đã giữ năng lượng mặt trời lại (Chính ra phải được phóng trở lại không gian), hậu quả là làm trái đất bị hâm nóng. Những chất hơi tạo nên tình trạng ?nhà kiếng? bao gồm hơi nước, carbon dioxide, methane, ozone, nitrous oxide, vài loại hơi chứa chất fluorine và chlorine, trong đó chất carbon dioxide giữ vai trò hàng đầu. Ví dụ trong thế kỷ thứ 18, độ đậm đặc của chất này trong bầu khí quyển là 280 ppm (phần triệu) đã lên tới mức 383 ppm vào năm 2007. Việc đốt các nhiên liệu hoá thạch (như than đá) cũng như việc khai thác đất đai là nguyên do chính cho sự gia tăng này. Nói chung thì những chất hơi trong bầu khí quyển tạo nên tình trạng ?nhà kiếng? gia tăng đáng kể trong thế kỷ vừa qua.
Cộng vào với chỉ số nhiệt độ trung bình, tác động của con người cũng ảnh hưởng sâu xa vào sự khắc nghiệt của thời tiết. Có nhiều chứng cớ về sự khắc nghiệt này như là sự thay đổi về số ngày băng giá hàng năm, số ngày nóng và lạnh, số đêm nóng và lạnh. Có nhiều chứng cớ con người làm trái đất nóng dần lên tạo nên những điều kiện khắc nghiệt về mùa hè tại vài vùng, làm tan các tảng băng đá vùng bắc cực, mực nước biển dâng cao, thay đổi về gió cũng như mưa trên đại lục.
Theo như phúc trình của CCSP, việc gia tăng các chất hơi trong hiện tượng ?nhà kiếng? do con người tạo ra đã làm gia tăng nhiệt độ trên mặt nước các đại dương khiến các trận bão có cường độ lớn thành hình. Có một mối liên kết chặt chẽ giữa nhiệt độ của nước trên mặt biển Ðại Tây Dương và những hoạt động của bão tố tại vùng này khi quan sát vế cường độ, và nhịp độ các trận bão trong suốt 50 năm qua.
3- Những chiều hướng và dự đoán trong sự thay đổi:
Phần này sẽ nói về những chiều hướng đã ghi nhận được và những dự đoán v
3.a- Nhiệt độ:
Hệ thống khí hậu trên trái đất đang nóng dần, đó là những chứng cớ quan sát được, như việc gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và nước biển, kết quả là băng đá tại bắc cực đang tan dần. Theo như tính toán của IPCC, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng trong 100 năm vừa qua là 1.33 độ F. trong khi nhịp độ gia tăng trong 50 năm qua gấp đôi so với 100 năm qua. Thêm vào đó, cũng với phúc trình của IPCC, nhiệt độ trung bình vùng Bắc Bán Cầu trong 50 năm sau của thế kỷ thứ 20 nóng hơn bất cứ 50 năm nào trong suốt 500 năm qua và cũng là giai đoạn nóng nhất tại Bắc Bán Cầu trong 1,300 năm qua.
Giống như nhiệt độ trung bình trên thế giới, nhiệt độ tại nước Mỹ cũng tăng trong thế kỷ thứ 20 và vào thế kỷ thứ 21. Thập niên vừa qua là thập niên nóng nhất trong hơn một thế kỷ qua. Nhiệt độ trung bình trên nước Mỹ gia tăng gần 0.6 độ F. cho mỗi thập niên trong vài chục năm gần đây.
Số luồng hơi nóng tăng lên kể từ năm 1950, nên nhớ là các luồng hơi nóng có liên hệ với nạn hạn hán. Trong khoảng năm 1930 được coi là khắc nghiệt và được ghi nhận trong lịch sử Hoa Kỳ. Trong vài thập niên vừa qua có rất ít ngày lạnh bất thường và cũng trong 10 năm qua, luồng hơi lạnh ít hơn bất cứ khoảng thời gian 10 năm nào, kể từ năm 1895.
IPCC kết luận là việc phóng ra các chất hơi tạo cho hiện tượng ?nhà kiếng? với tốc độ như hiện nay hay nhiều hơn nữa sẽ gây ra việc nhiệt độ gia tăng nhiều hơn nữa và có rất nhiều thay đổi ghê gớm trong thế kỷ thứ 21. Trong khoảng 20 năm tới, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên khoảng 0.3 tới 0.4 độ F. cho mỗi thập niên. Những sự thay đổi trong tương lai do thiên nhiên tạo ra như nhiều ngọn núi lửa sẽ hoạt động hơn cũng cộng thêm vào việc làm nhiệt độ trái đất gia tăng. Vào giữa thế kỷ thứ 21, nhiệt độ trái đất tăng lên từ 2 tới 3 độ F. và cho đến cuối thế kỷ sẽ tăng lên 7.2 độ F.
3.b Mưa, hạn hán:
Theo những dữ kiện ghi nhận được, tổng số lượng nước mưa trên toàn nước Mỹ tăng lên 6% kể từ năm 1901 đến 2005. Vùng chịu mưa nhiều nhất là miền Bắc Trung Tây và miền Nam Hoa Kỳ. Những trận mưa lớn tăng lên đáng kể nhất là trong ba thập kỷ cuối thế kỷ thứ 20 tại những vùng phía Ðông, đồng thời những trận hạn hán trầm trọng xẩy ra tại vùng Tây Nam kể từ năm 1999 tới 2007. Những vùng Ðông Nam cũng chịu những trận hạn hán đáng kể.
Thủy lượng tại các vùng miền Ðông Hoa Kỳ gia tăng 25% trong 60 năm qua, tuy vậy tại vùng Rocky Mountain thì giảm đi khoảng 2% cho mỗi thập niên trong thế kỷ qua. Với dự đoán trong thế kỷ thứ 21 thì vào mùa Ðông, lượng nước mưa sẽ gia tăng tại các vùng miền Bắc và giảm tại các vùng miền Tây Nam; Vào mùa hè lượng nước mưa sẽ giảm tại các vùng Tây Bắc và tăng tại vùng Alaska. Tổng quát thì lượng nước mưa sẽ tăng tại các vùng miền Bắc vào mùa đông và giảm đi tại các vùng miền Tây và miền Nam vào mùa hè. Trong thế kỷ thứ 21, Bắc Mỹ mưa sẽ ít nhưng lớn hơn. Bão tố nhiều hơn, kèm theo những trận sóng thần dọc theo các bờ biển.
3.c Băng đá và tuyết:
Những nhận xét chứng minh rõ là băng đá vùng Bắc Cực đã giảm 2.7% mỗi thập niên trong khoảng từ năm 1978 tới 2005. Sự giảm thiểu này rõ ràng nhất là vào mùa hè (giảm 7.4 % mỗi thập niên). Diện tích băng đá vùng Bắc Cực giảm khoảng 23% so sánh với nhận xét vào năm 2005. Thêm vào đó, chỉ trong khoảng thời gian từ năm 1987 tới 1997 chiều dầy trung bình của các tảng băng đá này giảm đi 3 feet (theo tài liệu của Sở Nghiên Cứu Khí Hậu vùng Bắc Cực và IPCC). Việc giảm chiều dầy và thu gọn diện tích các tảng băng làm cho lượng nước gia tăng và gió tạo nên các làn sóng mạnh và tạo nên hiện tượng soi mòn dọc theo bờ biển vùng Alaska.
Khoảng thời gian từ tháng Mười Một tới tháng Giêng kể từ năm 1915 tới 2004, tuyết bao phủ vùng Bắc Mỹ gia tăng, tuy vậy thời gian tuyết phủ vào mùa Xuân tại các vùng núi miền Tây Hoa kỳ giảm đi đáng kể trong hậu bán thế kỷ 20, theo phúc trình của IPCC thì nguyên nhân hiện tượng này là do ảnh hưởng của trái đất bị hâm nóng. Tại Alaska, những nơi bị băng đá che phủ đang tan dần với tỉ lệ 1.6 inches mỗi năm kể từ năm 1992.
Theo như các ghi nhận và phân tích trong suốt 150 năm qua tại Bắc bán cầu, thời gian các sông ngòi và hồ bị đông đá chậm hơn ( trung bình 5.8 ngày mỗi thế kỷ) và thời gian băng đá tan ra xẩy ra nhanh hơn ( trung bình 6.5 ngày mỗi năm). Thêm vào hiện tượng thay đổi về băng đá và tuyết, các tảng băng đang nhanh chóng mất dần khối lượng tại vùng Tây Bắc Mỹ và Alaska. Việc mất này xẩy ra rất nhanh chóng tại Alaska sau nửa thập niên 1990.
Khi mà nhiệt độ ngày càng gia tăng, tuyết phủ mặt đất ngày càng giảm, theo như IPCC thì vào cuối thế kỷ này, vào mùa hè tại các biển vùng Bắc cực sẽ không còn các tảng băng nữa, tuy vậy nhiều dự đoán cho là chỉ cho tới năm 2040 thì tình trạng này sẽ xẩy ra. Băng đá và những khối băng trên mặt đất sẽ mất dần khối lượng và sẽ tan nhanh vào mùa hè để lượng nước mưa sẽ nhiều hơn vào mùa đông. Hiện tượng này làm mực nước tại các đại dương tăng cao. (Trong một phúc trình công bố ngày 28 tháng 6, 2008 của Mark Serreze, khoa học gia tại Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Tuyết và Băng Ðá và là giáo sư tại Ðại Học Colorado thì vào mùa hè năm nay, 2008, các tảng băng tại Bắc Cực sẽ tan ra hết. Ðây là một biến cố xẩy ra lần đầu tiên trong lịch sử của trái đất. Ông tuyên bố là hiện nay chiều dầy các tảng băng này còn rất mỏng và xác xuất độ chính xác sự tiên đoán này là 50% - Ghi chú của người dịch)
3.d Mực nước tại các đại dương:
Kể từ năm 0 tới năm 1900 sau tây lịch, mực nước tại các đại dương thay đổi rất ít, qua đến thế kỷ thứ 20, mực nước tại đây đã dâng cao đáng kể và hiện nay mỗi ngày càng dâng cao với một tốc độ đáng ngại. Mực nước tại các đại dương trên toàn thế giới mỗi năm dâng cao 0.12 inches kể từ năm 1993 tới năm 2003, trong khi con số này là 0.067 inches mỗi năm trong suốt thế kỷ thứ 20. Có hai nguyên do làm gia tăng mực nước là: khí hậu toàn cầu gia tăng và các nguồn nước tại đại lục chẩy ra biển, kể cả việc các tảng băng ở cực địa cầu và băng đá che phủ mặt đất bị tan ra.
Các dữ kiện thu thập được cho thấy mực nước tại phần lớn vùng ven biển Ðại Tây Dương và Vịnh Mễ Tây Cơ thuộc hải phận Hoa Kỳ đang gia tăng từ 0.8 tới 1.2 inches mỗi thập niên. Tốc độ này thay đổi tại bờ biển vùng Louisiana (do đất bị chìm) cho tới vài vùng tại Alaska (do đất trồi).
Theo như dự đoán của IPCC, với nhiệt độ trên mặt nước biển như hiện nay, mực nước sẽ dâng cao từ 7 tới 23 inches vào cuối thế kỷ này (2090-2099). Do mực nước biển dâng cao cường độ các trận bão sẽ khốc liệt hơn, nhiều vùng bị tàn phá do các trận bão và sóng thần, và các vùng ven biển cũng bị soi mòn nhiều hơn.
3.e Bão tố vùng Ðại Tây Dương:
Cơ quan CCSP đưa ra nhận xét là số lượng bão tố hàng năm trong vùng Bắc Ðại Tây Dương đã gia tăng trong vòng 100 năm qua đi đôi với nhiệt độ tại mặt nước biển cũng gia tăng. Thêm vào đó, có nhiều bằng chứng cho thấy là trong hai thập niên vừa qua, độ cao các đợt sóng cũng tăng kết hợp với những trận bão thường xuyên và khốc liệt hơn. Cũng theo CCSP, tốc độ của gió và mưa trong các trận bão tăng mạnh hơn khi con người gây ra tình trạng hâm nóng trái đất.[/color][/color][/color][/color]
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai