Diễn Đàn » Sách - Tài Liệu Đông Y

Những loại ngũ cốc và trái cây lợi và hại cho sức khoẻ của chúng ta như thế nào ?

8 trả lời, 6.789 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-08-02 11:05:39Ct.Ly>

Không nên ăn nhiều vải một lúc


Vải là một loại quả ngon, giàu chất dinh dưỡng và có thể chế biến thành một thứ nước giải khát tốt. Tuy nhiên, nếu ăn quá nhiều có thể gây ra chứng "say vải".









Trong 100g cùi vải có 87,3g nước, 0,7g pro-tit, 0,5g axit hữu cơ, 10g glucid, 1,1g xenluloza. Như vậy, tỷ lệ glucid chứa trong cùi vải rất cao và chủ yếu là đường glucoza. Ngoài ra, trong cùi vải còn có nhiều muối khoáng và vitamin: 6mg canxi, 34mg phot-pho, 0,5mg sắt, 0.02mg vitamin B1, 0,04mg vitamin B2, 0,07mg vitamin PP, 36mg vitamin C...  
Theo kinh nghiệm của người dân vùng trồng vải, không nên ăn quá nhiều vải một lúc. Ăn nhiều có thể gây nóng, làm rối loạn chuyển hoá đường trong cơ thể, gây ra chứng "say vải" rất khó chịu như: Chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn, tim đập nhanh, toát mồ hôi, miệng khô khát, mỏi mệt...
 
Nguyên nhân gây ra "say vải" được giải thích như sau: Trong cùi vải có nhiều đường glucoza, nếu ta ăn một lúc quá nhiều vải (500g trở lên) sẽ có một lượng lớn đường glu-coza vào máu, vượt quá khả năng hấp thu chuyển hoá của gan, khiến cơ thể tiết insuline tăng lên để làm hạ nồng độ đường máu xuống, gây ra phản ứng đường máu thấp tức thời với các triêu chứng được gọi là "say vải" nói trên. Để đề phòng chứng này, ta không nên ăn quá nhiều vải một lúc mà nên ăn rải rác trong ngày, mỗi lần ăn dăm, mười quả. Trẻ nhỏ càng không nên cho ăn nhiều vải một lúc.
 
Ngoài chứng "say vải", có người sau khi ăn vải bị nôn nao, nổi mề đay, đau bụng, có khi nôn mửa. Các triệu chứng này không phải do vải mà do một loài nấm sống ở núm những quả vải bị giập nát, ủng thối gây ra. Vì vậy khi ăn vải ta chỉ nên chọn ăn những quả tươi ngon, lành lặn, không nên ăn những quả đã bị giập, bị ủng.
 
Tuy nhiên, ngoài giá trị dinh dưỡng, cùi vải còn được nhân dân ta dùng làm thuốc. Theo các sách thuốc cổ, cùi vải vị ngọt, chua, tính bình, không độc, có tác dụng nuôi huyết, làm hết phiền khát, tiêu thũng. Trong nhân dân, cùi vải thường được dùng chữa thiếu máu (lấy cùi vải, táo tầu, mỗi loại 10 quả, sắc uống), chữa mụn nhọt (giã nát cùi vải với ô mai làm thành thuốc cao đắp lên nhọt), thúc sởi chóng mọc (lấy cùi vải 10 quả sắc uống)...


 
Theo Kim Minh
Khoa học & Đời sống

Đăng nhập để trả lời
0
5 “đối tượng” nên hạn chế ăn dưa hấu


Dưa hấu đỏ tươi, dòn, ngọt, mát thật hấp dẫn trong những ngày hè oi bức. Tuy nhiên, với một số nhóm người thì ăn nhiều dưa hấu lại “lợi bất cập hại”.









1. Người mắc bệnh tiểu đường  
Dưa hấu chứa hơn 5% đường các loại, chủ yếu là đường glucoza, đường mía, và đường fructoza. Vì thế ăn nhiều dưa hấu sẽ khiến lượng đường trong máu tăng cao.
 
Ở người bình thường, cơ thể sẽ tiết ra insulin giúp duy trì ổn định nồng độ đường trong máu và trong nước tiểu trong khi những người mắc bệnh tiểu đường lại hoàn toàn ngược lại. Ăn nhiều dưa hấu trong một thời gian ngắn không những làm cho lượng đường trong máu tăng cao mà còn làm rối loạn quá trình chuyển hóa chất trong cơ thể (đặc biệt những người mắc bệnh tiểu đường nặng) gây ngộ độc, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.
 
Nếu đã ăn nhiều dưa hấu thì cần giảm ăn các thực phẩm chứa nhiều cacbonhydrat như cơm, các loại mỳ… tương ứng để tránh tình trạng bệnh ngày càng trầm trọng.
 
2. Những người mắc các bệnh về thận
 
Thận yếu thường gây phù do chức năng bài tiết nước cũng như “thanh lọc” các chất có hại trong cơ thể suy giảm.
 
Ăn quá nhiều dưa hấu sẽ làm tăng lượng nước trong cơ thể trong khi cơ thể không kịp bài tiết khiến dung lượng máu tăng lên, gây sưng phù, mệt mỏi, kiệt sức.
 
Vì vậy, khuyến cáo những người thận yếu hoặc mắc các bệnh về thận nên ăn ít hoặc không nên ăn dưa hấu để đảm bảo sức khỏe.
 
3. Giai đoạn đầu mắc cảm cúm
 
Dù là mùa đông giá rét hay mùa hè oi bức, giai đoạn đầu của cảm cúm đều chưa quá nghiêm trọng, nếu điều trị kịp thời sẽ giúp giảm được tác hại của bệnh.
 
Dưa hấu có tính hàn nên sẽ gây phản ứng bất lợi cho sức khỏe của những người mới nhiễm cúm.
 
4. Những người mắc bệnh viêm, loét miệng
 
Theo quan niệm của Đông y, nguyên nhân gây ra bệnh viêm loét miệng là do âm suy nội nhiệt, suy hỏa thượng. Còn dưa hấu có công dụng lợi tiểu nên nếu ăn quá nhiều dưa hấu sẽ làm cho lượng nước trong cơ thể bị bài tiết ra ngoài nhanh và nhiều ,gây thiếu nước ở khoang miệng làm miệng càng khô, gây âm suy, nóng trong, quá trình mắc bệnh kéo dài khó mà điều trị tận gốc.
 
5. Sản phụ
 
Thể chất của sản phụ vô cùng yếu, nếu ăn nhiều dưa hấu sẽ làm tính hàn trong cơ thể tăng lên, từ đó ảnh hưởng đến tính khí của sản phụ (nóng giận thất thường, vô cớ).  

Theo Phạm Hằng
Thể thao & Văn hóa
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-08-02 11:12:28Ct.Ly>

“Bí mật” của 10 loại ngũ cốc với sức khoẻ


Các loại ngũ cốc không chỉ có giá trị về mặt dinh dưỡng mà còn là vị thuốc chữa bệnh hiệu quả. Dưới đây là những khám phá mới nhất của các nhà khoa học Trung Quốc:









1. Lúa mì  
Lúa mì là loại ngũ cốc rất giàu canxi, phốt pho và các amilaza, mantoza khác giúp cho hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả. Ngoài ra, trong lúa mì còn có một hàm lượng lớn vitamin E và các nguyên tố cần thiết giúp lưu thông máu, “nuôi dưỡng” hệ tim mạch.   Thường xuyên ăn lúa mì còn giúp cho bạn có một trí nhớ tuyệt vời và một tinh thần minh mẫn.

 
2. Kê
 
Lượng vitamin B1, B2 có trong hạt kê cao hơn từ 1 - 1,5 lần so với lúa gạo. Ngoài ra trong hạt kê còn có chứa nhiều nguyên tố vi lượng khác như methionine (một amino axit thiết yếu) vì thế loại hạt này có tác dụng duy trì tế bào não, tăng cường trí nhớ và làm giảm quá trình lão hóa.
 
Nên bổ sung cháo kê, hay những thực phẩm được chế biến từ hạt kê vào thực đơn của bạn để có một bộ não khỏe mạnh.
 
3. Ngô
 
Các nhà khoa học gọi ngô là “thực phẩm vàng” vì lượng xenluloza trong ngô cao hơn từ 4 - 10 lần so với gạo và các loại bột khác. Xenluloza có tác dụng kích thích nhu động dạ dày ruột, giúp ích cho quá trình tiêu hóa. Bên cạnh đó, trong ngô có chứa nhiều axit béo và axit không no như axit linolic, nên có tác dụng bảo vệ não bộ và giảm lượng mỡ trong máu.
 
4. Đậu tương
 
Đậu tương là loại đậu có hàm lượng protein cao nhất trong các thực phẩm họ đậu. Hàm lượng protein trong một hạt đậu chiếm tới 38% trọng lượng của hạt đậu, khối lượng còn lại là của cacbonhydrat và các chất béo.Vì là thực phẩm giàu protein, nên đậu tương nguồn dinh dưỡng dồi dào và quý giá đối với sức khỏe con người.   Ăn đậu tương mỗi ngày có tác dụng chống ung thư, phòng tránh bệnh loãng xương và giảm nguy cơ mắc các bệnh về thận.  
5. Đậu xanh
 
Đậu xanh có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chống mụn nhọt, rôm sẩy. Ngoài ra, vỏ đậu xanh còn có tác dụng giải độc, chống mờ mắt. Đậu xanh được dùng nhiều trong chế biến món ăn và là loại nước giải khát rất tốt trong ngày hè.
 
6. Đậu đũa
 
Theo Đông y, đậu đũa có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng bổ thận, thanh nhiệt, giải độc, lợi yết hầu. Đậu đũa là vị thuốc hữu hiệu chữa các bệnh về thận và các bệnh của nam giới.
 
7. Yến mạch
 
Ngoài lượng protein nhiều hơn gạo, yến mạch còn có hàm lượng bột mì cao hơn 1,6 - 2,6 lần, hàm lượng chất béo cũng cao hơn 2 - 2,5 lần so với gạo. Tuy hàm lượng dinh dưỡng cao nhưng yến mạch lại được coi là một trong những loại thực phẩm ăn kiêng hàng đầu.
 
8. Kiều mạch
 
Kiều mạch có tác dụng giúp dạ dày co bóp tốt, nhuận tràng, thông đại tiện nên giải độc rất tốt.
 
Bạn hãy nghiền kiều mạch nấu chín thành nước để uống hoặc khi uống cho thêm một số nước hoa quả khác như là táo nho vừa cung cấp được thêm nhiều thành phần dinh dưỡng lại vừa lợi tiểu tiện.
 
9. Đại mạch
 
Lúa mạch hay con gọi la đại mạch, ngoài công dụng làm lương thực như gạo tẻ, còn có thể dùng làm thuốc uống chữa các bệnh như sỏi niệu đạo, trướng bụng, đầy hơi. Ngoài ra, lúa mạch còn là thực phẩm rất tốt cho phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh vì cung cấp một hàm lượng dinh dưỡng dồi dào.
 
10. Cao lương
 
Cao lương là loại cây có vị ngọt ấm, có tác dụng rất tốt trong điều trị các bệnh về dạ dày. Khi bạn thấy cơ thể có những dấu hiệu tiêu hóa kém, có thể dùng cao lương sắc uống từ 2 - 3g mỗi ngày, sẽ thấy hiệu quả tức thì.



Theo dantri


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-08-02 11:28:59Ct.Ly>
10 loại rau tốt nhất cho sức khỏe



Rau quả là một phần quan trọng trong bữa ăn với nhiều dinh dưỡng và chất xơ. Hãy nhớ ăn rau hàng ngày giúp cơ thể bạn chống lại các bệnh như ung thư, bệnh tim và tiểu đường.


Vậy những loại rau quả nào tốt nhất cho bạn để chống lại bệnh tật?




Cà chua


Mặc dù là một loại quả nhưng cà chua lại được sử dụng như một loại rau phổ biến. Chứa nhiều lycopen, những thể cầu màu đỏ tuyệt đẹp này được biết đến với khả năng chống lại bệnh ung thư. Không chỉ có đầy loại vitamin (từ vitamin A đến vitamin K), các dưỡng chất này cũng giữ cho huyết áp của bạn ổn định




Bông cải xanh (hoa lơ xanh) Brocoli


Có rất ít thực phẩm chứa nhiều chất chống lại bệnh tật như bông cải xanh. Loại rau thuộc họ cải này có nhiều chất chống oxi hóa (antioxidants) giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh dạ dày, bệnh phổi và ung thư ruột. Bông cải xanh rất giàu beta-carotene, vitamin C và folate, tất cả các chất này đều có khả năng tăng cường miễn dịch trước các bệnh cảm lạnh và cúm.
Cải Brussels
Những ngọn rau nhỏ màu xanh này đặc biệt quan trọng với phụ nữ mang thai vì chúng chứa nhiều axit folic, các vitamin nhóm B, giúp ngăn chặn các khiếm khuyết thuộc hệ thống thần kinh. Cải Brussels cũng chứa vitamin C và K cũng như các chất xơ, kali, axit béo omega 3.


Cà rốt


Thứ củ màu vàng cam tuyệt đẹp này rất tốt cho mắt, da và tóc của chúng ta. Chúng là loại rau giàu vitamin A nhất. Ngoài ta cà rốt còn có nhiều vitamin C giúp bảo bệ hệ tim mạch của bạn khỏi các tác nhân gây hại.
Các loại bí
Vitamin C và beta-carotene là một nguồn kháng viêm tự nhiên dồi dào trong quả  bí, nhất là bí ngòi. Những dưỡng chất này giúp cải thiện tình hình các bệnh hen suyễn, viêm khớp đau khớp. Trong quả bí còn có nhiều kali, magie và chất xơ.


Khoai lang

Loại củ này chứa nhiều vitamin A, C và magie, giúp chống lại ung thư. Đây cũng là nguồn cung cấp chất sắt, chất xơ tự nhiên, nó không chỉ đem lại năng lượng mà còn giúp ổn định hệ tiêu hóa.
Cà tím
Gồm nhiều dưỡng chất tốt cho tim, cà tìm rất giàu chất chống oxi hóa như nasunin (hợp chất duy nhất bảo vệ não bộ của bạn khỏi các tổn thương). Và vì cà tím rất dồi dào lượng chất xơ và kali nên các nhà nghiên cứu cho rằng loại rau quả này có thể giảm nguy cơ bị đột quỵ và chứng đãng trí.




Ớt chuông
Dù bạn thích ớt chuông dạng nào: màu vàng, đỏ hay cam thì chúng đều tốt cả. Các loại ớt này chứa nhiều chất tốt cho tim như lycopen và axit folic. Và các chuyên gia đưa ra lời khuyên rằng nếu ăn ớt chuông hàng ngày có thể giảm được nguy cơ ung thư phổi, ruột kết, bàng quang và tụy.
Rau chân vịt
Các nhà nghiên cứu cho biết ăn nhiều rau chân vịt có thể ngăn chặn các bệnh về tim, các bệnh về khớp và chứng loãng xương.


Hành tây
Loại rau củ có mùi vị cay hăng này rất tốt cho những người đang hoặc có nguy cơ mắc chứng loãng xương. Hành tây chứa chuỗi axit amin GPCS, chất làm chậm quá trình mất canxi trong cơ thể con người. Hành tây còn có nhiều vitamin C và folate nên nó cũng rất hữu ích trong chống lại bệnh tim và đái đường.
 (Theo aFamily/She)
Đăng nhập để trả lời
0


Trái Bưởi


Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức

Kết quả một nghiên cứu dịch tễ công bố trong British Journal of Cancer, số tháng 7 năm 2007 đã gây nhiều thắc mắc e ngại cho bà con vẫn thường ăn bưởi mỗi buổi sáng để giảm cân. Và cũng gây ảnh hưởng tới sự tiêu thụ, mua bán bưởi tại nhiều nơi, trong đó có Việt Nam.


Nghiên cứu được mấy khoa học gia tại hai Ðại học Southern California và Hawai thực hiện. Họ yêu cầu hơn 46,000 phụ nữ trong tuổi mãn kinh trả lời mấy câu hỏi như bao lâu ăn bưởi một lần và ăn nhiều hay ít trong thời gian 12 tháng vừa qua. Trong số các phụ nữ này, có 1,657 vị đã được chẩn đoán ung thư vú. Kết quả gợi ý là phụ nữ ăn từ ¼ trái bưởi hoặc nhiều hơn mỗi ngày có thể tăng rủi ro ung thư vú lên tới 30% so với người không ăn bưởi. Lý do là bưởi có thể làm tăng hàm lượng estrogen trong máu. Mà cao estrogen là một trong nhiều rủi ro đưa tới ung thư nhũ hoa.


Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng, một phân tử có tên P450 3A4 (CYP3A4) có ảnh hưởng vào sự chuyển hóa hormon estrogen. Và bưởi có thể làm tăng hàm lượng estrogen bằng cách ức chế phân tử kể trên, khiến cho estrogen tích tụ nhiều hơn. Tuy công bố như vậy, nhưng các nhà khoa học cũng vội vàng lưu ý rằng, đây mới chỉ là nghiên cứu sơ khởi với trái bưởi chứ chưa phải là với nước bưởi và cần phải có nhiều nghiên cứu khác để xác định.

Bình luận về kết qủa này, phát ngôn nhân khoa học Liz Baker của Cancer Research UK, nói: "Mặc dù các hóa chất trong trái bưởi đã được biết là có tương tác với mấy dược phẩm, nhưng kết quả này mới chỉ là nghiên cứu đầu tiên và duy nhất nói lên sự liên hệ giữa bưởi và rủi ro ung thư và chính các nhà nghiên cứu cũng đồng ý là cần có nhiều nghiên cứu khác để xác định. Ngoài ra, ai cũng biết rằng tiêu thụ một hỗn hợp năm loại rau trái mỗi ngày có thể làm giảm rủi ro của nhiều bệnh, kể cả vài loại ung thư."

Tiến sĩ khoa học dinh dưỡng Joanne Lunn tại British Nuitrition Foundation cho hay, đây là một cuộc nghiên cứu lý thú nhưng nghiên cứu này cũng chỉ là một mảnh của trò chơi lắp hình, có thể giúp ta hiểu hơn ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sức khỏe.

Kết quả trên được phổ biến rộng rãi trong dân chúng qua báo chí, truyền thanh. Bà con đồng hương trong ngoài nước xôn xao, e ngại không dám ăn bưởi, báo hại nông dân kêu trời như bọng, vì bưởi trồng thì nhiều mà người mua giảm trông thấy. Thiệt hại quá lớn khiến cho người đứng đầu hành chánh Việt Nam phải ra lệnh điều tra nguồn thông tin.

Có nhiều giống bưởi khác nhau. Theo tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, Chủ tịch Southern Fruit Tree Research Institute, nghiên cứu tại Hoa Kỳ tập trung ở loại bưởi chùm Citrus Paradisi, khác với bưởi Citrus Maxima trồng ở Việt Nam. Bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, Giám đốc viện Ung Thư Sài Gòn cũng lên tiếng trấn an đồng hương trong nước là bưởi ở Việt Nam an toàn.

[color="darkgreen"]Xin cùng tìm hiểu thêm về những trái bưởi thơm ngon này.[/color]

Bưởi (Grapefruit) là cây cùng họ với cam quít, trái tròn, to, vỏ mỏng, màu vàng, múi nhiều nước giôn giốt chua ngọt, gây cảm giác dễ chịu khi ăn.

Theo nhiều nhà thảo mộc, bưởi có nguồn gốc Trung Hoa và Ấn độ tử nhiều ngàn năm về trước. Ở Tây phương, bưởi được Griffith Hughes mô tả đầu tiên vào năm 1750 và gọi bưởi là "trái cấm" của hải đảo Barbados.

Bưởi được trồng nhiều ở Jamaica. Sau đó giống bưởi được đem trồng tại nhiều quốc gia Bắc Mỹ. Tại Hoa Kỳ, các tiểu bang Florida và Texas là nơi trồng nhiều bưởi nhất.

[color="darkgreen"]Có nhiều loại bưởi khác nhau như:[/color]

- [color="darkgreen"]Bưởi Duncan[/color] hình tròn, lớn tới 12 cm đường kính, vỏ vàng lạt, cùi (pulp) mềm nhiều nước, vị thơm.

- [color="darkgreen"]Bưởi không hột Marsh[/color] hình tròn hơi dẹp hai đầu, kích thước từ 9-12 cm, vỏ nhẵn mầu vàng nhạt, cùi rất nhiều nước với vị thơm đặc biệt.

- [color="darkgreen"]Bưởi Paradise Navel[/color] hình cầu dẹt, nhỏ trái.

- [color="darkgreen"]Bưởi Star Ruby[/color] vỏ mầu vàng, cùi chứa nước mầu đỏ, có hoặc không có hột.

Bưởi Việt Nam có cùi dầy, múi to mà nhiều loại rất ngọt như bưởi ở các địa phương [color="darkgreen"]Ðoan Hùng, Hưng Yên, Phúc Trạch, năm Roi, Biên Hòa...[/color]

Khí hậu ấm nóng vùng nhiệt đới rất thích hợp cho sự tăng trưởng của bưởi. Ðộ ẩm cao làm vỏ mỏng trong và vỏ bưởi dày hơn khi không khí khô.

Mặc dù bưởi có quanh năm, nhưng từ mùa đông tới đầu xuân, bưởi ngon hơn.

Thành phần dinh dưỡng

Một trái bưởi cỡ trung bình cung cấp khoảng: 200 calori, 39mg sinh tố C, 4,500 IU sinh tố A, 325mg kali, 40mg calci, 50mg phosphore, 25mcg folate, 1mg sắt, 1g chất xơ hòa tan pectin. Loại bưởi mầu đỏ và hồng còn có thêm beta carotene, một chất chống oxy hóa mà cơ thể sẽ chuyển hoá thành sinh tố A. Bưởi có thể ăn trái hoặc vắt lấy nước. Trái bưởi cắt đôi rồi xúc ăn bằng thìa hoặc bóc vỏ ăn từng múi.

Cất giữ bưởi

Bưởi có thể để ngoài phòng ít ngày cho thêm chín rồi cất trong tủ lạnh. Nước bưởi cần được chứa trong bình thủy tinh, cất trong tủ lạnh. Nên đổ nước bưởi đầy gần nắp bình để tránh bị oxy hóa, làm mất sinh tố C. Khi mua, lựa trái bưởi chắc, nặng, vỏ nhẵn thín, mỏng thì mới nhiều nước. Thường thường bưởi có vỏ màu vàng, nhưng nếu hơi xanh thì nước ngọt hơn. Tránh trái bưởi mà vỏ phồng lên, nhẹ tều vì ruột khô teo, không có nước.

Ích lợi cho sức khỏe


Bưởi vừa là loại trái cây được nhiều người ưa thích, vừa có tác dụng trong việc phòng bệnh và đôi khi chữa bệnh nữa. Trước hết, bưởi là nguồn cung cấp sinh tố C rất phong phú mà sinh tố này có nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe.

1. Kết quả nhiều nghiên cứu cho biết sinh tố C: tăng cường hệ thống miễn nhiễm giảm rủi ro cảm cúm do nhiễm vi khuẩn, virus; là chất chống oxy hóa rất mạnh, giúp làm chậm sự hóa già và tổn thương của tế bào; giảm cholesterol nhờ đó ít nguy cơ bệnh tim mạch; giúp cơ thể hấp thụ nhiều chất sắt; làm vết thương mau lành; và tránh khỏi bệnh hoại huyết vì thiếu sinh tố này. Những trái bưởi có màu hồng hoặc đỏ là nhờ có chất lycopene, thuộc nhóm carotenoid. Lycopene làm giảm nguy cơ cơn suy tim (heart attack) và ung thư nhiếp tuyến.

2. Nhiều nghiên cứu cho biết ăn bưởi trái tim sẽ tốt hơn, cholesterol xuống thấp, làm giảm nguy cơ ung thư, tránh được các bệnh nghẽn tắc động mạch. Thực vậy, bưởi có nhiều chất xơ hòa tan pectin. Mà các chất xơ thì có công dụng làm giảm cholesterol trong máu, do đó làm giảm nguy cơ vữa xơ động mạch. Nhiều nghiên cứu cho thấy chất pectin còn công hiệu hơn thuốc cholestyramine vẫn được dùng để làm giảm cholesterol trong máu. Bác sĩ James Ceda quan sát một nhóm người ăn bưởi đều dặn mỗi ngày thì thấy cholesterol giảm xuống tới 8%.

3. Kết quả nghiên cứu ở Hà Lan cho hay bưởi giảm nguy cơ ung thư bao tử, còn kết quả bên Thụy Ðiển nói bưởi giảm nguy cơ ung thư tụy tạng. Các nhà nghiên cứu tại Ðại học Harvard theo dõi sự dinh dưỡng của hơn 48,000 bác sĩ và nhân viên y tế, thấy rằng những người tiêu thụ thực phẩm có nhiều lycopene sẽ giảm nguy cơ bị ung thư nhiếp tuyến tới 50%. Lycopene có rất nhiều trong bưởi. Ngoài ra, các hóa chất khác trong bưởi như phenolic acid, limonoid, bioflavonoid cũng có tác dụng ức chế với sự tăng trưởng của tế bào ung thư.

4. Nhiều người bị đau nhức khớp xương, ăn bưởi thấy như bớt đau, có lẽ là nhờ bưởi có những phytochemical ngăn chặn chất prostaglandins làm viêm khớp xương.

5. Bưởi là món ăn được những người muốn giảm cân ưa chuộng. Có người sáng dậy điểm tâm bằng một trái bưởi, rồi ăn trưa cũng bưởi để "giữ eo". Lý do là đã có một phong trào cổ võ bưởi có khả năng đặc biệt tiêu hủy những tảng mỡ béo ở vòng số 2, số 3. Ðây có lẽ là một thông tin hơi phóng đại, vì không có thực phẩm nào có thể làm tiêu mỡ béo. Tuy nhiên, vì có ít năng lượng và nhiều chất xơ, ăn nửa trái bưởi đã gần no bụng, nên chỉ có thể ăn thêm được một ít thức ăn khác, nhờ đó mà không mập. Nước hạt bưởi được giới thiệu như có chứa một chất kháng sinh, trị vi khuẩn và nấm. Ðó là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Sakamato.S Maitani vào năm 1996 và nhiều nghiên cứu khác tại Ba Tây, Áo, Viện Pasteur Paris.

Các cụ ta lấy lá bưởi đun sôi để xông, tắm làm giảm nhẹ các khó chịu của cảm lạnh nhức đầu. Dân gian dùng hạt bưởi đốt cháy thành than, nghiền nhỏ để chữa nhiễm trùng chốc đầu ở trẻ em.

Tương tác giữa bưởi và dược phẩm

Bưởi có tương tác khá mạnh đối với một số dược phẩm thường dùng. Nước bưởi ngăn cản tác dụng chuyển hóa và hấp thụ dược phẩm của một loại enzyme trong ruột, khiến cho hàm lượng thuốc lên cao, đôi khi gây ra tác dụng phụ có hại. Tương tác này đã được biết tới từ lâu nhưng nhiều khi bệnh nhân và ngay cả bác sĩ cũng quên hoặc không để ý tới. Do đó, cơ quan Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ đã yêu cầu các nhà bào chế phải ghi rõ lời báo động tương tác này trong phần giới thiệu các loại thuốc mới ra đời.

Các dược phẩm sau đây có thể có tương tác với bưởi: thuốc chữa cao cholesterol như Lipitor (Atorvastin), Zocor (Simvastin), Mecavor (Lovastin), Baycol (Cerivastatin); thuốc hạ huyết áp Plendil (Felodipine), Sular (Nisoldipine), Adalat, Procardia (nifedipine), Nimotp (nimodipine); thuốc trị tâm bệnh Buspar (Buspirone), Halcion (Triazolam), Tegretol (Carbamapezine), Valium (Diazepam), Zoloft (Sertraline), Anafranil (clomipramine); thuốc trị nhiễm HIV Invirase (Saquinavir), Crivivan (indinavir); kháng sinh clarithromycin, erythromycin; thuốc trị giun sán albendazole; thuốc trị loạn cương dương Viagra.

Nếu đang dùng các dược phẩm kể trên, không nên ăn hoặc uống nước bưởi, ngoại trừ khi có sự đồng ý của bác sĩ. Cũng không nên đợi 24 giờ sau khi ăn bưởi rồi mới uống thuốc, vì tương tác vẫn xảy ra.

Kết luận

Xin bà con đừng vội vàng liệng bỏ những trái bưởi mọng ngọt tràn đầy dinh dưỡng, những ly nước bưởi mát lạnh, thơm ngon. Và cũng cần sáng suốt trước kết quả một vài nghiên cứu về một vấn đề sức khỏe, bệnh tật nào đó. Kết quả một nghiên cứu đầu tiên bao giờ cũng là tin "nóng hổi", "sốt dẻo", gây nhiều chú ý, nhưng kết quả này chưa phải là kết luận chung của y khoa học. Thông thường, các nghiên cứu khoa học đều được thực hiện một cách nghiêm túc, trải qua nhiều giai đoạn với nhiều kiểm chứng khắt khe trước khi kết luận.

Cho nên nếu chỉ mới là kết quả của một vài nghiên cứu, thì xin hãy bình tâm, không nên hoảng hốt. Ta cứ từ từ đế cao cảnh giác theo dõi và từ từ tiếp tục "vừa phải" thói quen tốt đang có. Chờ tới khi các giới chức hữu trách có thẩm quyền "đóng triện son" phán quyết tốt- xấu rồi đáp ứng ngay, xét ra có lẽ cũng chưa đến nỗi muộn.



ngochuynh (Theo TTVHN)
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0

Cẩn trọng khi sử dụng nha đam


Vài năm gần đây, cây nha đam được nhiều người sử dụng để làm đẹp và trị bệnh.

[color="darkgreen"]Nha đam cung cấp hai chất chính:[/color] gel (phần trắng, nhớt sau khi gọt bỏ vỏ xanh) và nhựa cây (màu vàng, chảy ra ở mặt cắt của lá).

Gel nha đam được ghi nhận có tác dụng tốt trong những bệnh lý như: đái tháo đường, vảy nến, tăng cholesterol máu, bỏng, tổn thương da do tia xạ sau điều trị ung thư, giúp nhanh lành vết thương... Còn phần nhựa cây, là vị thuốc lô hội trong Đông y, vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, thông tiện, là chất tẩy xổ mạnh, chữa táo bón.


Tuy nhiên, không phải nha đam đều tốt cho mọi người. Khi sử dụng cần thận trọng đối với những đối tượng sau:

- Phụ nữ có thai và đang cho con bú: Một vài báo cáo cho thấy, nha đam có thể liên quan với sẩy thai, dị tật bẩm sinh. Phụ nữ có thai và đang cho con bú không nên dùng các sản phẩm từ nha đam.

- Trẻ em dưới 12 tuổi: Nha đam gây đau bụng, vọp bẻ và tiêu chảy.

- Bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị thuốc: Một vài nghiên cứu cho thấy, gel nha đam có tác dụng giảm mức đường huyết. Nếu bạn bị đái tháo đường và đang điều trị thuốc mà muốn dùng nha đam, hãy theo dõi chỉ số đường huyết chặt chẽ hơn để phòng ngừa biến chứng hạ đường huyết quá mức, có biểu hiện nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, đánh trống ngực, run… nếu nặng hơn có thể gây giảm khả năng tập trung, lú lẫn, hôn mê...

- Người mắc bệnh trĩ: Khi dùng nha đam, đặc biệt là có lẫn nhựa cây sẽ gây kích thích đại tràng, có thể làm bệnh nặng hơn.

- Người có bệnh lý thận: Không nên dùng liều cao hoặc kéo dài vì một số hợp chất trong nhựa cây khi tích lũy sẽ gây suy thận.

- Phẫu thuật: Do tác dụng làm giảm đường huyết nên nha đam sẽ gây khó khăn trong việc kiểm soát mức đường huyết trong và sau phẫu thuật. Nên ngưng dùng nha đam ít nhất hai tuần trước khi phẫu thuật.

- Người đang dùng thuốc Digoxin chữa suy tim, thuốc lợi tiểu, thuốc kháng đông, thuốc chống rối loạn nhịp… chú ý vì nha đam nhuận tràng, gây tiêu chảy và làm giảm ion kali trong cơ thể, gây tăng tác dụng phụ của thuốc.

- Người cao tuổi hay người thường bị đầy bụng, ăn không tiêu, đi cầu phân sống, tiêu chảy: Theo Đông y, những chứng trên gọi là bệnh lý tỳ vị hư hàn, không nên dùng nha đam.



Một số cách chế biến nha đam đơn giản, dễ thực hiện, có tác dụng tốt trong các bệnh lý đường tiêu hóa như nhiệt miệng, viêm loét dạ dày-tá tràng, viêm gan, hội chứng đại tràng kích thích, táo bón... đồng thời giúp tăng sức đề kháng và miễn dịch cho cơ thể:

- Sơ chế: gọt bỏ phần vỏ xanh và gai hai bên lá, rửa kỹ với nước muối loãng nhiều lần để làm trôi sạch phần nhựa màu vàng, sau đó xắt hạt lựu hay thành từng miếng nhỏ vừa ăn.

- Nha đam, mật ong (ba-bốn muỗng cà phê): dùng tươi hoặc xay sinh tố.

- Nha đam trộn sữa tươi (200ml) hoặc sữa chua (một hũ).

- Nha đam, nghệ vàng (dạng bột từ một-hai muỗng cà phê), có thể kết hợp thêm cam thảo 6-8g.

- Canh nha đam, rong biển, có thể nấu với thịt hoặc tôm, tép: sau khi nấu nước dùng, nêm vừa ăn, đợi nước sôi lại, bạn hãy cho nha đam và rong biển vào sau cùng.

Dùng nha đam làm thực phẩm sẽ đem lại nhiều tác dụng tốt nếu chúng ta sơ chế đúng cách, loại bỏ sạch phần nhựa màu vàng, đồng thời dùng phần gel nha đam với lượng thích hợp, thường trong khoảng 100-200mg trong một ngày.

Lưu ý, những thực phẩm chế biến có sử dụng nha đam chỉ nên dùng hai-ba lần trong một tuần. Nếu dùng với mục đích nhuận trường, chữa táo bón không nên dùng quá hai tuần.


Theo BS Nguyễn Văn Đàn - Phụ nữ
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0

Củ cải - Nhân sâm mùa đông


Củ cải trắng là món ăn không thể thiếu của rất nhiều gia đình trong mùa đông, ngoài nấu canh, xào với thịt, kho thịt…củ cải còn có rất nhiều cách ăn mới và có tác dụng chữa bệnh.


Củ cải là thực phẩm tốt nhất trong các loại rau, thành phần dinh dưỡng phong phú, hàm chứa phong phú vitamin B và nhiều loại khoáng chất, trong đó hàm lượng vitamin C nhiều gấp 10 lần so với quả Lê. Củ cải còn có tác dụng chống vi rút, chống ung thư.

1. Trong củ cải hàm chứa nhiều chất xơ có thể kích thích dạ dày, đường ruột nhu động, giảm bớt thời gian lưu lại của “chất thải” ở trong đường ruột, phòng chống ung thư kết tràng và ung thư trực tràng.

2. Acid ribose kép trong củ cải có tính chịu đựng khá cao đối với chất xúc tác ở trong khoang miệng. Khi nuốt vào không dễ bị thoái biến, không có tác dụng phụ.


3. Trong củ cài hàm chứa dầu cải và glycoside, có thể phát huy tác dụng đối với nhiều loại chất xúc tác, hình thành nên thành phần chống ung thư có vị cay cay. Vì vậy, củ cải càng cay, thành phần này càng nhiều, khả năng chống ung thư cũng càng tốt.

Cách sử dụng củ cải để phòng chống bệnh tật

[color="darkgreen"]1. Củ cải luộc - tốt hơn cả thuốc dạ dày[/color]

Vitamin C ở trong củ cải có thể giúp bài trừ chất thải ở trong cơ thể, thúc đẩy cơ thể trao đổi chất cũ mới, đặc biệt là củ cải trắng hoặc củ cải nước giàu chất xúc tác có tác dụng thúc đẩy tiêu hóa.

Thông thường, chất xúc tác có khả năng hấp thụ tinh bột trong thực phẩm, càng có thể hóa giải thức ăn tích trữ trong dạ dày, có tác dụng tiêu hóa rất tốt, phòng chống được đau dạ dày và loét dạ dày.

Canh củ cải nấu với cải bắp kèm đậu phụ không những đem lại mùi vị rất ngon mà còn có thể gia tăng tiêu hóa, dưỡng dạ dày và giữ ấm cho cơ thể.

[color="darkgreen"]2. Kẹo củ cải - giảm nhẹ đau họng[/color]

Trong củ cải hàm chứa một lượng chất cay nhất định. Điều này làm cho củ cải có một vị cay tự nhiên. Ngoài ra, bản thân củ cải còn có chức năng trợ giúp tiêu hóa, đối với những người mùa đông hay bị tắc mũi, đau họng do cảm mang đến, có thể dùng củ cải để giải quyết những vấn đề nhức đầu này.

Băm nhỏ củ cải trắng ép thành nước, chuẩn bị một miếng vải mỏng hoặc lấy một miếng bông tăm nhúng vào nước củ cải. Sau đó cắm vào trong lỗ mũi. Làm từ 2-3 lần, mỗi lần khoảng 5 phút, triệu chứng tắc mũi sẽ tự nhiên mất đi.

Người bị đau họng có thể tự chế cho mình một ít “ kẹo củ cải”. Lấy củ cải chia thành những miếng nhỏ, trộn vào một lượng mật ong thích hợp và muối, chờ cho củ cải nổi lên trên mật ong thì vớt ra, mỗi lần bị đau họng ăn một chút, bệnh tình sẽ dần dần giảm nhẹ.

[color="darkgreen"]3. Uống trà lá củ cải trắng - đẹp da[/color]

Ăn lá củ cải đẹp da, có thể bạn chưa được biết đến điều này hoặc cảm thấy ăn nhiều củ cái như thế mới có tác dụng làm đẹp? Thực ra chúng ta không cần ăn nhiều củ cải, tự mình làm một ít trà lá củ cải, như thế không những có thể hưởng thụ các giá trị dinh dưỡng của củ cải mà cũng không cần phải ăn nhiều củ cải.

Trong lá củ cải giàu vitamin A, vitamin C, đặc biệt là hàm lượng Vitamin C nhiều hơn 4 lần so với củ. Vitamin C có thể phòng chống da lão hóa, ngăn chặn hình thành các vết thâm nám, giữ cho da được trắng mềm. Ngoài ra, vitamin A và C đều có tác dụng chống oxy hóa, khống chế các bệnh ung thư, cũng có thể phòng chống lão hóa và xơ cứng động mạch vv.

Ngoài vitamin, hàm lượng chất xơ trong củ cải cũng khá nhiều, đặc biệt là chất xơ thực vật trong lá càng phòng phú. Các chất xơ thực vật này có thể xúc tiến dạ dày nhu động, tiêu trừ táo bón, có tác dụng bài trừ độc tố, từ đó cải thiện làn da thô ráp, mụn bọc vv.

Khi chúng ta làm trà là củ cải, đầu tiên rửa sạch lá củ cải, phơi khô 3-4 ngày, sau khi phơi khô, lấy 30g lá cho vào ấm nấu cùng với 1 lít nước, sau khi sổi chỉnh lửa nhỏ vừa, nấu thêm vài phút nữa, sau đó lọc nước ra uống. Nếu bạn cảm thấy mùi vị không ngon thì có thể thêm vào một ít đường thì sẽ dễ uống hơn.

[color="darkgreen"]4. Ăn củ cải sống - nhuận phổi[/color]

Củ cải tính mát có công dụng nhất định trong việc trị ho, nhuận phổi, đặc biệt là vào mùa đông, một số người thường xuất hiện nhiều đờm khô, phổi cũng không được thoải mái, lúc này ăn một ít củ cải sẽ có tác dụng hỗ trợ trị liệu.


Ăn củ cải sống vừa bổ sung nước cho cơ thể, có thể lợi tiểu, có ích cho sức khỏe

Hiệu quả giảm đau của củ cải rất tốt. Điều này là do củ cải có chức năng lợi tiểu, có thể dùng để tẩy trừ sưng viêm, chất cay kháng khuẩn còn có thể hoạt lạc gân cốt, có hiệu quả giảm đau.

Mùa đông nếu đau mỏi cơ bắp hoặc đau khớp, có thể trực tiếp lấy củ cải gọt vỏ, lấy vỏ đắp lên chỗ đau, cũng có thể bỏ vỏ củ cải vào trong một cái túi vải để chườm nóng. Khi bị đau răng, có thể đặt túi chườm nóng lên bề mặt da trên má, cũng có thể dùng bông tăm nhúng vào nước củ cải và đắp vào chỗ răng đau.

Củ cải làm món ăn không bị nóng, mùa đông lạnh chúng ta thường ăn nhiều thịt, ăn thịt sẽ sinh đờm, dễ bị nóng. Khi ăn thịt chúng ta nên kết hợp với một ít củ cải hoặc làm một số món ăn củ cải, như thế không dễ bị nóng và càng có tác dụng bổi bổ dinh dưỡng rất tốt.


Theo Dân Trí



Củ cải giã nát chữa nhiệt miệng


Củ cải dùng làm rau ăn, có thể chế biến thành nhiều món ăn như luộc, kho với thịt, cá, làm dưa... rất ngon miệng. Ngoài ra, với vị cay, tính lạnh, củ cải còn là một vị thuốc.

Củ cải trắng chứa 92% nước; 1,5% protit; 3,7% gluxit; 1,8 celluloz. Lá và ngọn chứa tinh dầu và một lượng đáng kể vitamin A và C. Một số bài thuốc từ củ cải như sau:

[color="darkgreen"]Trị chứng khản tiếng, không nói được:[/color] Củ cải sống 300g rửa sạch vắt lấy nước, gừng sống 20g giã vắt lấy nước, trộn hai thứ vào nhau rồi uống ngày 3 lần, uống 2 ngày là khỏi.

[color="darkgreen"]Trị chứng chảy máu cam:[/color] Củ cải sống 300g rửa sạch giã vắt lấy 1/2 bát nước hòa thêm một ít rượu rồi đun nóng, lấy nước này nhỏ vào mũi ngày 3 - 4 lần.

[color="darkgreen"]Trị chứng lở loét miệng do nhiệt:[/color] Giã củ cải sống 300g rồi vắt lấy nước hòa thêm một ít nước lọc, súc miệng ngày 3 lần, dùng 2 ngày khỏi.



Củ cải chữa nhiệt

[color="darkgreen"]Trị đại tiện ra máu: [/color]Củ cải sống 200g giã nát, lọc lấy một chén nước nhỏ cho 4 thìa nhỏ nước mật ong, đun chín và uống nước này vào buổi sáng hằng ngày.

[color="darkgreen"]Trị đau sỏi mật: [/color]Củ cải sống 300g thái to thành từng miếng như ngón tay, tẩm với mật ong màu vàng nhạt, không dùng mật ong màu nâu sẫm. Đặt củ cải đã tẩm mật ong lên chảo rồi sấy khô trên than hoặc lửa. Khi khô lại tẩm mật ong và sấy khô không để chảy nước, ăn củ cải sấy khô và uống một ít nước muối loãng ngày 2 lần, dùng trong một tháng.

[color="darkgreen"]Trị chứng nước tiểu đục:[/color] Người bị nước tiểu đục do lo nghĩ nhiều, hoặc tửu sắc quá độ, lấy 200g củ cải trắng khoét rỗng bỏ hết ruột bên trong rồi nhét đầy ngô thù du (có bán tại hiệu thuốc Bắc), đậy kín lại.

Hấp chín củ cải bằng chõ rồi lấy ra bỏ hết ngô thù du, củ cải sấy khô, tán bột cho thêm chút bột quấy đặc vào và viên lại thành viên nhỏ như hạt đậu xanh. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống khoảng 30 - 40 viên với nước, rất hiệu nghiệm.

Theo BS Nguyễn Long


Củ cải chữa ho lâu ngày


Củ cải vị ngọt cay, hơi đắng, không độc, có tác dụng long đờm chữa ho, chữa lỵ, ung thư, đại tiểu tiện không thông và đặc biệt làm giảm huyết áp.

Ngoài giá trị ăn uống, củ cải và hạt cải củ đều là những vị thuốc Đông y được dùng từ lâu đời với tên gọi "la bặc căn" và "la bặc tử".

Trong sách "Lĩnh Nam bản thảo" của Hải Thượng Lãn Ông có ghi củ cải tên thuốc là "la bặc căn" vị ngọt cay, hơi đắng, không độc, có tác dụng long đờm, tiêu thũng, tán phong tà, phá ứ, thông tê, trừ lỵ.




Trong dân gian, củ cải thường được dùng để chữa ho khản tiếng và giúp nhuận tràng


Còn hạt cải củ tên thuốc là "la bặc tử" vị cay ngọt, tính bình, có tác dụng trừ đờm, chữa ho, chữa lỵ, ung sang, đại tiểu tiện không thông...

Những nghiên cứu gần đây của một số nhà khoa học nước ngoài còn phát hiện thấy, hạt cải củ có tác dụng hạ huyết áp, cả nước ép củ cải tươi cũng có tác dụng giảm huyết áp nhẹ. Do đó, người bị tăng huyết áp, xơ cứng động mạch uống nước ép củ cải pha với mật ong là món ăn hỗ trợ rất tốt cho việc chữa bệnh.

Để làm thuốc, mùa xuân người ta thu hái củ cải về, rửa sạch, dùng tươi. Đến mùa hè, quả chín sẽ hái quả về, phơi khô, sàng sẩy lấy hạt. Hạt củ cải hình trứng dẹt, dài 2,5 - 4mm, rộng 2 - 3mm; Những hạt mẫm chắc, màu nâu đỏ là tốt. Về thành phần hoá học chủ yếu của hạt cải củ là chất dầu, trong đó có hợp chất sunfua.

Trong dân gian, củ cải thường được dùng để chữa ho khản tiếng và giúp nhuận tràng. Hạt củ cải được dùng chủ yếu để chữa ho có nhiều đờm:

-[color="darkgreen"] Chữa viêm khí quản, ho, nhiều đờm, khó thở:[/color] Lấy củ cải rửa sạch, thái vụn hoặc thái thành từng sợi mỏng, trộn với mạch nha ăn có tác dụng hạ khí, tiêu đờm, dễ thở.

[color="darkgreen"]- Trường hợp mất tiếng, khó nói:[/color] Vắt lấy nước củ cải sống trộn với nước gừng sống, lượng hai thứ bằng nhau, ngậm trong cổ họng sẽ thấy hiệu quả tốt.

[color="darkgreen"]- Chữa ho lâu năm bằng hạt củ cải:[/color] Lấy 10g hạt củ cải (sao), 10g tử tô (sao), 3g bạch giới tử (sao). Đem tất cả tán nhỏ, cho vào một cái túi nhỏ, thêm 500ml nước, sắc còn 300ml. chia làm 3 lần uống trong ngày.



Theo BS Kim Minh
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-01-07 14:20:22Ct.Ly>
Top 10 thực phẩm cho khung xương chắc khoẻ
  Bổ sung những thực phẩm hợp lý trong chế độ ăn hàng ngày giúp xương chắc khoẻ và giảm tối đa nguy cơ mắc bệnh loãng xương khi bước vào độ tuổi trung niên.   1. Càng cua Càng cua rất giàu protein và ít chất béo, phần thịt trong càng cua có chứa nhiều kẽm, khoảng 7 miligrams kẽm trong 100g thịt càng cua. Kẽm có tác dụng chống lại quá trình ôxy hoá, hỗ trợ giúp xương chắc khoẻ và cải thiện hệ miễn dịch, giảm viêm nhiễm đường hô hấp Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan mật thiết giữa việc cung cấp đủ kẽm và khả năng miễn dịch của cơ thể. Vậy nên, mỗi tuần nên bổ sung cua trong chế độ ăn 1 lần, khẩu phần khoảng 200g cua /người.  



 


 

2. Mận sấy khô


 


Mận sấy khô rất tốt cho hệ xương.

  Trong mận sấy khô có chứa nhiều đồng và boron giúp ngăn ngừa chứng loãng xương, chất xơ inulin có hiệu quả với các vi khuẩn đường ruột, tốt cho hệ tiêu hoá vì thế giúp cơ thể hấp thu canxi hiệu quả. Nên ăn từ 4 - 5 quả mận sấy khô mỗi ngày để tăng cường năng lượng và độ chắc khoẻ của xương.  


3. Cải chíp 


  


Trong cải chíp rất giàu canxi cho xương chắc khoẻ, vitamin A, C, axit folic, sắt, beta- carotene và kali. Kali rất tốt cho hệ thần kinh, các cơ bắp và giảm huyết áp. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng beta - carotene giúp giảm nguy cơ ung thư bàng quang và ung thư phổi. Nên ăn 1 bát rau cải chíp mỗi ngày. 


 4. Con hàu    


 


Hàu và các loại tôm, cua, sò, hến  là nguồn kẽm, canxi, đồng, sắt, iot, kali và selen tuyệt vời. Tuy nhiên hàu xếp vị trí  đầu bảng với khả năng tăng cường lượng testosterone, bảo vệ cơ thể ngăn ngừa bệnh ung thư tuyến tiền liệt.


 
  5. Chuối 

 
 

Trong chuối có tập trung lượng trytophan và serotonin cao, đặc biệt là kali- chất điện phân ngăn ngừa mất canxi của cơ thể. Chuối cũng rất tốt cho hệ thần kinh, tăng cường khả năng miễn dịch và giúp cơ thể chuyển hoá protein. Ăn 1 quả chuối mỗi ngày giúp cung cấp lượng kali và carbohydrate cần thiết cho cơ thể.  

 6. Kiwi

 
 

Trong quả kiwi có chứa nhiều kali giúp bảo vệ xương, giàu vitamin C và lutein giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Kiwi còn tăng cường năng lượng cho cơ thể. Nên ăn kiwi cả vỏ vì vỏ kiwi chứa nhiều dưỡng chất và không độc.  


7. Súp lơ xanh 

 
   

Trong bông cải xanh có chứa lượng canxi, mangan, kali, phốt pho, magiê và sắt khoẻ mạnh. Ngoài ra còn chứa nhiều vitamin A, C, K và phytonutrient sulforaphane mà theo các nghiên cứu tại Đại học Johns Hopkins thì các chất này là có khả năng chống ung thư hiệu quả. Chất indole-3-carbinol trong bông cải xanh giúp giảm lượng estrogen thừa. Các loại rau cải bắp, cải xoăn cũng chứa nhiều vitamin và chất khoáng tốt cho sức khoẻ.  

8. Rau bina   



  

Rau bina rất giàu vitamin K giúp tăng độ chắc khoẻ của cơ bắp và tăng mật độ chất khoáng trong xương, chống loãng xương và giảm gãy xương. Rau bina cũng giàu canxi, phốt pho, kali, kẽm và selen giúp bảo vệ gan và bệnh Alzhimer. Nghiên cứu đăng trên Tạp Chí Dinh Dưỡng chỉ ra rằng chất carotenoid neoxanthin trong rau bina có khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư tuyến tiền liệt, beta- carotene chống lại ung thư ruột kết. Nên ăn rau bina 4 lần 1 tuần.

  9. Tỏi tây 


 
   

Các loại rau thuộc họ hành tỏi có chứa nhiều thiamine, riboflavin, canxi và kali giúp tăng độ chắc khoẻ của xương. Lượng axit folic và vitamin B thấp có thể ảnh hưởng xấu đến amino axit homocystein trong máu. Ăn tỏi tây giúp cung cấp cho cơ thể lượng axit folic và vitamin B cần thiết. Hơn nữa tỏi tây còn hỗ trợ chức năng tình dục và giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt. 

 10. Atisô  



 
 

  Được biết từ lâu với tác dụng kích thích tình dục, atisô rất giàu chất xơ, chứa nhiều magiê và kali giúp xương chắc khoẻ. Lá cây atisô giàu flavonoids và polyphenols - chất chống ôxy hoá giúp giảm nguy cơ đột quỵ và vitamin C giúp cải thiện hệ miễn dịch.
Đăng nhập để trả lời
0
Mỗi ngày ăn một quả chuối sẽ không cần bác sĩ
Quý Ta sưu tầm 








Nếu chúng ta muốn có nghị lực và sức khoẻ làm việc không gì tốt hơn là ăn một trái chuối. Chuối có ba thứ đường (scucrose, fructose và glucose), hợp với chất sơ vì vậy chuối giúp ta thêm nghị lực ngay tức khắc. Khảo cứu đã chứng minh là 2 quả chuối có thể cho ta sức mạnh để tập thể dục luôn trong 90 phút. Vì thế là chuối trở thành trái cây mà lực sĩ ưa thích nhất. Không những giúp ta có sức lực mà còn ngăn ngừa một số bệnh tật nữa:
Bệnh tinh thần suy yếu
Theo việc thăm dò các bệnh nhân có tinh thần suy yếu, nhiều người cảm thấy khoẻ hơn sau khi ăn một trái chuối, tại vì chuối có chất tryptophan một loại protein mà cơ thể cần để biến đổi ra serotonin là một chất có duợc tính làm cho tinh thần thoải mái, sảng khoái và làm ta sung sướng hơn.
Bệnh Trầm Uất Đứng uống thuốc chỉ nên ăn 1 trái chuối là có sinh tố B6 làm cân bằng số lượng đường trong máu có ảnh huởng đến tinh thần chúng ta.
Bệnh Thiếu Máu Vì chuối có nhiều chất sắt nên giúp sản xuất Hemoglobin trong máu giúp chống bệnh Thiếu máu.
Áp suất máu Trái cây duy nhất cuả miền nhiệt đới này rất có nhiều chất Potassium, nhưng lại chứa ít muối cho nên giúp điều hòa áp suất máu. Vì vậy mà cơ quan FDA (Food and Drug Administration) của Mỹ mới cho phép kỹ nghệ sản xuất chuối có thể công nhận rằng chuối là thứ trái cây có thể giảm thiểu nguy hiểm bị áp suất máu cao và bệnh đứng tim.
Trí thông minh 200 học sinh đã tham gia cuộc thử nghiệm khảo sát tại trường Trung Học Twickenham bằng cách ăn chuối sáng trưa chiều để óc sáng suốt hơn khi làm bài thi. Kết quả cho biết chất potassium trong chuối đã làm cho học sinh sáng suốt và lanh lẹ hơn.
Chống táo bón Vì chuối có nhiều chất sơ nên ăn chuối sẽ làm cho tiêu hóa tốt mà không cần đến thuốc sổ.
Say rượu Làm một banana shake, một thứ cà rem có thêm mật ong sẽ giúp cho bao tử dễ chịu hơn và sẽ giúp điều hoà chất lượng đường trong khi đó sữa sẽ làm tăng chất nước trong cơ thể.
Sôi bụng, Khó tiêu Chuối có chất chống átxít trong cơ thể nên nếu bạn bị nóng ran hay sôi bụng khó tiêu thì nên ăn một quả chuối, nó sẽ giảm thiểu số át xít trong bao tử.
Nhức mỏi,đau đớn buổi sáng: Trong ngày nên ăn chuối giữa các bữa cơm sẽ làm tăng lượng đường cần thiết trong máu và giúp trong nhức mỏi đau đớn mỗi buổi sáng.
Trị muỗi đốt Nếu bị muỗi đốt thì bóc vỏ chuối ra và xoa vào vết muỗi đốt sẽ không bị ngứa hay bị sưng lên.
Thần kinh hệ Chuối có rất nhiều sinh tố B nên giúp cho thần kinh hệ thăng bằng. Trong một cuộc khảo cứu 5,000 bệnh nhân béo phì tại một nhà thương cho thấy là đa số có những công việc điên đầu nhiều áp lực. Nghiên cứu tại viện Tâm lý học tại Úc Châu cho biết càng bị áp lực nhiều thì người ta càng ăn nhiều xúc cù là. Vì vậy phải kiểm soát điều chỉnh mức lượng đường trong máu bằng cach ăn chuối mỗi 2 tiếng đồng hồ nếu làm những việc cần suy nghĩ và có nhiều áp lực.
Loét bao tử Chuối dùng trong lương thực hằng ngày giúp cho hệ thống tuần hoàn vì có chất sơ và mềm. Là một trái cây ăn sống được để chữa trị bệnh loét bao tử. Nó cũng giúp trị tình trạng có quá nhiều at xít trong bao tử làm giảm đau nhức vì thành bao tử được chuối bảo vệ.
Nóng sốt Nhiều quốc gia trên thế giới cho rằng chuối là là một loại trái cây giảm nhiệt trong người đàn bà đang mang thai. Tại Thái Lan người ta cho phụ nữ mang bầu ăn chuối để sinh con với nhiệt độ bình thường.
Bệnh thời tiết theo mùa Chuối có trytoplan và chất làm dịu tính tình cho nên rất hiệu quả cho những người bị bệnh thời tiết theo từng mùa.
Hút Thuốc Vì chuối có sinh tố B6, B12, potassium và magnesium cho nên nó sẽ giúp cho người muốn bỏ thuốc lá lấy lại quân bình vì thiếu chất nicotin trong cơ thể.
Tâm Trạng Căng Thẳng Potassium là một khoáng chất quan trọng cho cơ thể vì nó quân bình nhịp tim, chuyển dưỡng khí lên óc, và điều hoà chất lượng nước trong mình. Vì vậy chuối có nhiều chất potassium giúp ta giữ được thế quân bình khi tâm thầm bị căng thẳng đòi hỏi nhiều chất potassium.
Đột quỵ Theo cuộc khảo cứu của ,b&gt;'The New England Journal of Medicine' thì ăn chuối là giảm nguy cơ bị đột quỵ tới 40%!
Mụn cóc, mụn cơm Có thể chưã trị những mụn cơm mụn cóc ngoài da bằng cách lấy vỏ chuối chà lên phiá ngoài, lấy một miếng băng plastic dán vào để giữ vỏ chuối trên mụn cóc đó, sẽ khỏi.
Kết luận Trái chuối có thể chữa nhiều bệnh. Nếu ta so sánh với trái táo (apple), thì nó có gấp 4 lần chất đạm (protein), 2 lần chất carbohydrate (ho85p chất đường và tinh bột), 2 lần chất lân tinh và 5 lần chất sắt và sinh tố A và gấp 2 lần khoáng chất và các sinh tố khác, nhất là potassium. Vì vậy có lẽ là phải đổi câu ngạn ngữ là: 

Một trái chuối mỗi ngày, mời bác sĩ đi chỗ khác chơi! "A Banana a day keeps the doctor away"!
Đăng nhập để trả lời
0