BÀN LUẬN VỀ TÁC PHẨM “CHIẾU DỜI ĐÔ”
Tôi vừa đọc xong bài viết: “Tư tưởng chính của Lý Thái Tổ trong bài THỦ CHIẾU NĂM CANH TUẤT 1010” của PGS. Nguyễn Đăng Na (Văn học và Tuổi trẻ tháng 7+8+9/2010). Đây là bài viết được tòa soạn xếp vào mục: “Khám phá văn bản tác phẩm để phát hiện những lớp nghĩa mới hoặc bị bỏ quên” và đề nghị “các nhà nghiên cứu và bạn đọc cùng suy ngẫm trao đổi”.
Trong bài viết này, PGS. Nguyễn Đăng Na đưa ra một số cách hiểu mới về các vấn đề sau:
1. Vấn đề thứ nhất: Nhà Thương bao lần thiên đô
Các văn bản trước đây chỉ kể được có 4 đời vua nhà Thương thiên đô là: “Vua Thành-Thang (1766-1553 trước T.L.K.N) đóng đô đất Bạc quốc hiệu là Thương.Vua Trọng-Đinh (1562-1549 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Ngao. Vua Hà-đản-Giáp (1534-1525 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Tương. Vua Tổ-ất (1525-1506 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Cảnh và đất Hinh. Vua Bàn-Canh (1401-1373 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Ân-quốc hiệu là Ân. Vì thế đời nhà Thương có khi gọi kiêm cả là Ân-Thương”.
Ngoài 4 đời vua trên, PGS. Nguyễn Đăng Na cho biết các nhà khảo cổ học và văn học cổ Trung Hoa phát hiện thêm vua Nam Canh thiên đô trước Bàn Canh và sau Tổ Ất. Như vậy là “Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên” đã đủ 5 đời vua nhà Thương “thiên đô”.
2. Vấn đề thứ hai: Tam đại trong câu “ Khởi tam đại chi sổ quân câu tuận kỉ tư, vọng tự thiên tỉ” là những triều đại nào?
Các văn bản trước đây đều cho “tam đại” là ba triều đại Hạ, Thương, Chu thuộc Trung Quốc cổ đại.
PGS. Nguyễn Đăng Na cho “tam đại gồm Xưa và Nay”. Ông lập luận:
Mở đầu Thủ chiếu, Thái Tổ viết: “Tích Thương gia…, Chu thất…”. Rõ ràng, Ngài chẳng nói gì về nhà Hạ cả. Ngài chỉ nói nhà Thương, nhà Chu. Thế thì làm sao gọi 2 nhà (Thương, Chu) là Tam (đại)? Nghĩa là, không thể làm phép tính 2=3! Hơn nữa, Ngài đã viết: Tích-xưa (Thương gia và Chu thất), thì tất nhiên phải cí vế thứ 2: Kim-nay. Vậy, nay là ai? … Tiếp đó, PGS trích dẫn thiên Quý nhân trong Lã Thị Xuân thu của Lã Bất Vi về nguồn gốc vô địch của Tam đại rồi khẳng định: “Lý Thái Tổ cũng nghĩ Tam đại như vậy, gồm Xưa và Nay. Xưa-chuyện cổ, là nhà Thương, nhà Chu. Nay-chuyện đương thời, là nhà Đinh, nhà Lê và dù ẩn mình, người Thủ chiếu vẫn phải xuất hiện; Thái Tổ. Lại nữa, khi nói về Tam đại, Thái Tổ đang kể 2 nhà Đinh-Lê (Đinh Lê nhị gia), bỗng, Ngài thốt ra cảm thán: Trẫm vô cùng đau lòng… (Trẫm thậm thống chi…); nghĩa là, có nhà Lý nữa! Vậy là đủ Tam đại: Xưa và Nay. Xưa có nhà Thương, nhà Chu. Nay có nhà Đinh, nhà Lê và Trẫm cộng lại là Tam đại đương thời: Đinh+Lê+Lý=3”.
3. Vấn đề thứ ba: Tên bài chiếu
Nhiều văn bản hiện hành có tên bài là Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô). Nhưng theo PGS. Nguyễn Đăng Na đó là tên do các nhà soạn sách tự đặt ra chứ trong văn bản của Lý Thái Tổ không có tên đề bài. PGS viện dẫn một số tài liệu như Đại Việt sử kí toàn thư (Nxb KHXH, tập một, Hà Nội, 1967) “chỉ nói Đế Thủ chiếu và không đặt tên bài chiếu là gì”, Hoàng Việt văn tuyển , quyển 5 của Bùi Huy Bích “đặt tên là Tỉ đô Thăng Long chiếu”… Sau đó khẳng định: “tới năm 1825, bài Thủ chiếu chưa có tên là Thiên đô chiếu”.
Là học trò của PGS. Nguyễn Đăng Na nhưng tôi cũng xin bàn góp những vấn đề mà PGS đưa ra. Trong ba vấn đề PGS đưa ra, vấn đề thứ nhất không cần bàn cãi gì nữa. Các tài liệu khảo cổ học và văn học của Trung Quốc đã dày công nghiên cứu và khẳng định điều đó rồi. Hai vấn đề còn lại, học trò không hoàn toàn đồng tình với ý kiến của Thầy.
Theo thiển ý của tôi cách lý giải về Tam đại của PGS mang tính suy luận chủ quan. Tích-Xưa; Kim-Nay cũng chỉ có 2 chứ chưa phải là 3 (tam). Vả lại, trong văn bản chỉ có từ Tích (Tích Thương gia…) chứ không hề có từ “kim” nào cả. Mặt khác, cách hiểu của PGS: “Xưa có nhà Thương, nhà Chu. Nay có nhà Đinh, nhà Lê và Trẫm cộng lại là Tam đại đương thời: Đinh+Lê+Lý=3” là trái với dụng ý của Lý Thái Tổ. Chúng ta hãy đọc lời phê phán của Lý Thái Tổ đối với các triều Đinh, Lê: “Nhi Đinh Lê nhị thị nãi tuận kỉ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thương an quyết ấp vu tư chi thế đại phất trường, toán số đoàn xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghim trẫm thậm thống chi” (Thế mà hai nhà Đinh, Lê theo ý riêng của mình, quên cả mệnh trời, không noi theo dấu cũ Thương Chu , cứ đóng yên đô ấp ở đấy, khiến cho triều đại không bền, vận số ngắn ngủi, trăm họ thêm hao tổn, muôn vật không thích nghi, trẫm rất đau xót về việc đó). Như thế, không thể đồng nhất nhà Đinh, nhà Lê với nhà Lý được như ý PGS.
Vậy, Tam đại là những triều đại nào? Theo tôi, Tam đại là ba triều đại Thương, Ân-Thương, Chu thuộc Trung Quốc cổ đại. Nhà Thương đến đời Bàn Canh thiên đô sang đất Ân, lấy quốc hiệu là Ân. Điều này chính PGS Nguyễn Đăng Na cũng đã trích dẫn: “Vua Bàn Canh (1401-1373 trước TLKN) thiên đô sang đất Ân-quốc hiệu là Ân.Vì thế đời nhà Thương có khi gọi kiêm cả là Ân-Thương” trong bài viết của mình.
Còn bài chiếu có tên hay không là một vấn đề rất khó lý giải. Muốn biết rõ phải có văn bản gốc. Thời ấy viết vào trúc tre chứ chưa in ấn vào giấy nên không có nhiều bản như ngày nay. Hơn thế, trong cả ngàn năm biết bao phen thay đổi sơn hà, bao phen kinh thành rơi vào tay quân xuân lược. Đó là chưa kể hơn 20 năm dân tộc ta nằm dưới ách đô hộ của nhà Minh và hơn 65 năm dưới ách đô hộ của thực dâp pháp. Loại văn bản nêu cao tinh thần dân tộc như Thiên đô chiếu làm sao chúng không thiêu hủy? Việc viện dẫn hai tài liệu như trên, rồi kết luận: :“tới năm 1825, bài Thủ chiếu chưa có tên là Thiên đô chiếu” của PGS. Nguyễn Đăng Na có vội vã quá không? Vấn đề này, theo tôi chúng ta nên phải nghiên cứu thật kỹ rồi mới kết luận được. Tuy nhiên, một văn bản trong văn học cổ (nhất là của vua chúa) thường rất mẫu mực về thể loại, bố cục, kết cấu, hành văn… nên một số tác giả soạn sách đặt tên bài chiếu là Thiên đô chiếu cũng chẳng có gì sai trái.
Trền đây là một số suy nghĩ nông cạn của bản thân, rất mong nhận dược nhiều ý kiến bàn luận của các bạn trên diễn đàn vnthuquan.
Tôi vừa đọc xong bài viết: “Tư tưởng chính của Lý Thái Tổ trong bài THỦ CHIẾU NĂM CANH TUẤT 1010” của PGS. Nguyễn Đăng Na (Văn học và Tuổi trẻ tháng 7+8+9/2010). Đây là bài viết được tòa soạn xếp vào mục: “Khám phá văn bản tác phẩm để phát hiện những lớp nghĩa mới hoặc bị bỏ quên” và đề nghị “các nhà nghiên cứu và bạn đọc cùng suy ngẫm trao đổi”.
Trong bài viết này, PGS. Nguyễn Đăng Na đưa ra một số cách hiểu mới về các vấn đề sau:
1. Vấn đề thứ nhất: Nhà Thương bao lần thiên đô
Các văn bản trước đây chỉ kể được có 4 đời vua nhà Thương thiên đô là: “Vua Thành-Thang (1766-1553 trước T.L.K.N) đóng đô đất Bạc quốc hiệu là Thương.Vua Trọng-Đinh (1562-1549 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Ngao. Vua Hà-đản-Giáp (1534-1525 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Tương. Vua Tổ-ất (1525-1506 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Cảnh và đất Hinh. Vua Bàn-Canh (1401-1373 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Ân-quốc hiệu là Ân. Vì thế đời nhà Thương có khi gọi kiêm cả là Ân-Thương”.
Ngoài 4 đời vua trên, PGS. Nguyễn Đăng Na cho biết các nhà khảo cổ học và văn học cổ Trung Hoa phát hiện thêm vua Nam Canh thiên đô trước Bàn Canh và sau Tổ Ất. Như vậy là “Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên” đã đủ 5 đời vua nhà Thương “thiên đô”.
2. Vấn đề thứ hai: Tam đại trong câu “ Khởi tam đại chi sổ quân câu tuận kỉ tư, vọng tự thiên tỉ” là những triều đại nào?
Các văn bản trước đây đều cho “tam đại” là ba triều đại Hạ, Thương, Chu thuộc Trung Quốc cổ đại.
PGS. Nguyễn Đăng Na cho “tam đại gồm Xưa và Nay”. Ông lập luận:
Mở đầu Thủ chiếu, Thái Tổ viết: “Tích Thương gia…, Chu thất…”. Rõ ràng, Ngài chẳng nói gì về nhà Hạ cả. Ngài chỉ nói nhà Thương, nhà Chu. Thế thì làm sao gọi 2 nhà (Thương, Chu) là Tam (đại)? Nghĩa là, không thể làm phép tính 2=3! Hơn nữa, Ngài đã viết: Tích-xưa (Thương gia và Chu thất), thì tất nhiên phải cí vế thứ 2: Kim-nay. Vậy, nay là ai? … Tiếp đó, PGS trích dẫn thiên Quý nhân trong Lã Thị Xuân thu của Lã Bất Vi về nguồn gốc vô địch của Tam đại rồi khẳng định: “Lý Thái Tổ cũng nghĩ Tam đại như vậy, gồm Xưa và Nay. Xưa-chuyện cổ, là nhà Thương, nhà Chu. Nay-chuyện đương thời, là nhà Đinh, nhà Lê và dù ẩn mình, người Thủ chiếu vẫn phải xuất hiện; Thái Tổ. Lại nữa, khi nói về Tam đại, Thái Tổ đang kể 2 nhà Đinh-Lê (Đinh Lê nhị gia), bỗng, Ngài thốt ra cảm thán: Trẫm vô cùng đau lòng… (Trẫm thậm thống chi…); nghĩa là, có nhà Lý nữa! Vậy là đủ Tam đại: Xưa và Nay. Xưa có nhà Thương, nhà Chu. Nay có nhà Đinh, nhà Lê và Trẫm cộng lại là Tam đại đương thời: Đinh+Lê+Lý=3”.
3. Vấn đề thứ ba: Tên bài chiếu
Nhiều văn bản hiện hành có tên bài là Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô). Nhưng theo PGS. Nguyễn Đăng Na đó là tên do các nhà soạn sách tự đặt ra chứ trong văn bản của Lý Thái Tổ không có tên đề bài. PGS viện dẫn một số tài liệu như Đại Việt sử kí toàn thư (Nxb KHXH, tập một, Hà Nội, 1967) “chỉ nói Đế Thủ chiếu và không đặt tên bài chiếu là gì”, Hoàng Việt văn tuyển , quyển 5 của Bùi Huy Bích “đặt tên là Tỉ đô Thăng Long chiếu”… Sau đó khẳng định: “tới năm 1825, bài Thủ chiếu chưa có tên là Thiên đô chiếu”.
Là học trò của PGS. Nguyễn Đăng Na nhưng tôi cũng xin bàn góp những vấn đề mà PGS đưa ra. Trong ba vấn đề PGS đưa ra, vấn đề thứ nhất không cần bàn cãi gì nữa. Các tài liệu khảo cổ học và văn học của Trung Quốc đã dày công nghiên cứu và khẳng định điều đó rồi. Hai vấn đề còn lại, học trò không hoàn toàn đồng tình với ý kiến của Thầy.
Theo thiển ý của tôi cách lý giải về Tam đại của PGS mang tính suy luận chủ quan. Tích-Xưa; Kim-Nay cũng chỉ có 2 chứ chưa phải là 3 (tam). Vả lại, trong văn bản chỉ có từ Tích (Tích Thương gia…) chứ không hề có từ “kim” nào cả. Mặt khác, cách hiểu của PGS: “Xưa có nhà Thương, nhà Chu. Nay có nhà Đinh, nhà Lê và Trẫm cộng lại là Tam đại đương thời: Đinh+Lê+Lý=3” là trái với dụng ý của Lý Thái Tổ. Chúng ta hãy đọc lời phê phán của Lý Thái Tổ đối với các triều Đinh, Lê: “Nhi Đinh Lê nhị thị nãi tuận kỉ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thương an quyết ấp vu tư chi thế đại phất trường, toán số đoàn xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghim trẫm thậm thống chi” (Thế mà hai nhà Đinh, Lê theo ý riêng của mình, quên cả mệnh trời, không noi theo dấu cũ Thương Chu , cứ đóng yên đô ấp ở đấy, khiến cho triều đại không bền, vận số ngắn ngủi, trăm họ thêm hao tổn, muôn vật không thích nghi, trẫm rất đau xót về việc đó). Như thế, không thể đồng nhất nhà Đinh, nhà Lê với nhà Lý được như ý PGS.
Vậy, Tam đại là những triều đại nào? Theo tôi, Tam đại là ba triều đại Thương, Ân-Thương, Chu thuộc Trung Quốc cổ đại. Nhà Thương đến đời Bàn Canh thiên đô sang đất Ân, lấy quốc hiệu là Ân. Điều này chính PGS Nguyễn Đăng Na cũng đã trích dẫn: “Vua Bàn Canh (1401-1373 trước TLKN) thiên đô sang đất Ân-quốc hiệu là Ân.Vì thế đời nhà Thương có khi gọi kiêm cả là Ân-Thương” trong bài viết của mình.
Còn bài chiếu có tên hay không là một vấn đề rất khó lý giải. Muốn biết rõ phải có văn bản gốc. Thời ấy viết vào trúc tre chứ chưa in ấn vào giấy nên không có nhiều bản như ngày nay. Hơn thế, trong cả ngàn năm biết bao phen thay đổi sơn hà, bao phen kinh thành rơi vào tay quân xuân lược. Đó là chưa kể hơn 20 năm dân tộc ta nằm dưới ách đô hộ của nhà Minh và hơn 65 năm dưới ách đô hộ của thực dâp pháp. Loại văn bản nêu cao tinh thần dân tộc như Thiên đô chiếu làm sao chúng không thiêu hủy? Việc viện dẫn hai tài liệu như trên, rồi kết luận: :“tới năm 1825, bài Thủ chiếu chưa có tên là Thiên đô chiếu” của PGS. Nguyễn Đăng Na có vội vã quá không? Vấn đề này, theo tôi chúng ta nên phải nghiên cứu thật kỹ rồi mới kết luận được. Tuy nhiên, một văn bản trong văn học cổ (nhất là của vua chúa) thường rất mẫu mực về thể loại, bố cục, kết cấu, hành văn… nên một số tác giả soạn sách đặt tên bài chiếu là Thiên đô chiếu cũng chẳng có gì sai trái.
Trền đây là một số suy nghĩ nông cạn của bản thân, rất mong nhận dược nhiều ý kiến bàn luận của các bạn trên diễn đàn vnthuquan.
Thah

