Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

BÀN LUẬN VỀ "CHIẾU DỜI ĐÔ" CỦA LÝ THÁI TỔ

6 trả lời, 118 lượt xem — Trang 1 / 1
BÀN LUẬN VỀ TÁC PHẨM “CHIẾU DỜI ĐÔ”
 
Tôi vừa đọc xong bài viết: “Tư tưởng chính của Lý Thái Tổ trong bài THỦ CHIẾU NĂM CANH TUẤT 1010” của PGS. Nguyễn Đăng Na (Văn học và Tuổi trẻ tháng 7+8+9/2010). Đây là bài viết được tòa soạn xếp vào mục: “Khám phá văn bản tác phẩm để phát hiện những lớp nghĩa mới hoặc bị bỏ quên” và đề nghị “các nhà nghiên cứu và bạn đọc cùng suy ngẫm trao đổi”.
Trong bài viết này, PGS. Nguyễn Đăng Na đưa ra một số cách hiểu mới về các vấn đề sau:
1. Vấn đề thứ nhất: Nhà Thương bao lần thiên đô
Các văn bản trước đây chỉ kể được có 4 đời vua nhà Thương thiên đô là: “Vua Thành-Thang (1766-1553 trước T.L.K.N) đóng đô đất Bạc quốc hiệu là Thương.Vua Trọng-Đinh (1562-1549 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Ngao. Vua Hà-đản-Giáp (1534-1525 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Tương. Vua Tổ-ất (1525-1506 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Cảnh và đất Hinh. Vua Bàn-Canh (1401-1373 trước T.L.K.N) thiên đô sang đất Ân-quốc hiệu là Ân. Vì thế đời nhà Thương có khi gọi kiêm cả là Ân-Thương”.
Ngoài 4 đời vua trên, PGS. Nguyễn Đăng Na cho biết các nhà khảo cổ học và văn học cổ Trung Hoa phát hiện thêm vua Nam Canh thiên đô trước Bàn Canh và sau Tổ Ất. Như vậy là “Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên” đã đủ 5 đời vua nhà Thương “thiên đô”.
2. Vấn đề thứ hai: Tam đại  trong câu “ Khởi tam đại chi sổ quân câu tuận kỉ tư, vọng tự thiên tỉ” là những triều đại nào?
Các văn bản trước đây đều cho “tam đại” là ba triều đại Hạ, Thương, Chu thuộc Trung Quốc cổ đại.
PGS. Nguyễn Đăng Na cho “tam đại gồm Xưa và Nay”. Ông lập luận:
Mở đầu Thủ chiếu, Thái Tổ viết: “Tích Thương gia…, Chu thất…”. Rõ ràng, Ngài chẳng nói gì về nhà Hạ cả. Ngài chỉ nói nhà Thương, nhà Chu. Thế thì làm sao gọi 2 nhà (Thương, Chu) là Tam (đại)? Nghĩa là, không thể làm phép tính 2=3! Hơn nữa, Ngài đã viết: Tích-xưa (Thương gia và Chu thất), thì tất nhiên phải cí vế thứ 2: Kim-nay. Vậy, nay là ai? … Tiếp đó, PGS trích dẫn thiên Quý nhân trong Lã Thị Xuân thu của Lã Bất Vi về nguồn gốc vô địch của Tam đại rồi khẳng định: “Lý Thái Tổ cũng nghĩ Tam đại như vậy, gồm Xưa và Nay. Xưa-chuyện cổ, là nhà Thương, nhà Chu. Nay-chuyện đương thời, là nhà Đinh, nhà Lê và dù ẩn mình, người Thủ chiếu vẫn phải xuất hiện; Thái Tổ. Lại nữa, khi nói về Tam đại, Thái Tổ đang kể 2 nhà Đinh-Lê (Đinh Lê nhị gia), bỗng, Ngài thốt ra cảm thán: Trẫm vô cùng đau lòng… (Trẫm thậm thống chi…); nghĩa là, có nhà Lý nữa! Vậy là đủ Tam đại: Xưa và Nay. Xưa có nhà Thương, nhà Chu. Nay có nhà Đinh, nhà Lê và Trẫm cộng lại là Tam đại đương thời: Đinh+Lê+Lý=3”.
3. Vấn đề thứ ba: Tên bài chiếu
Nhiều văn bản hiện hành có tên bài là Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô). Nhưng theo PGS. Nguyễn Đăng Na đó là tên do các nhà soạn sách tự đặt ra chứ trong văn bản của Lý Thái Tổ không có tên đề bài. PGS viện dẫn một số tài liệu như Đại Việt sử kí toàn thư (Nxb KHXH, tập một, Hà Nội, 1967) “chỉ nói  Đế Thủ chiếu và không đặt tên bài chiếu là gì”, Hoàng Việt văn tuyển , quyển 5 của Bùi Huy Bích “đặt tên là Tỉ đô Thăng Long chiếu”… Sau đó khẳng định: “tới năm 1825, bài Thủ chiếu chưa có tên là Thiên đô chiếu”.
Là học trò của PGS. Nguyễn Đăng Na nhưng tôi cũng xin bàn góp những vấn đề mà PGS đưa ra. Trong ba vấn đề PGS đưa ra, vấn đề thứ nhất không cần bàn cãi gì nữa. Các tài liệu khảo cổ học và văn học của Trung Quốc đã dày công nghiên cứu và khẳng định điều đó rồi. Hai vấn đề còn lại, học trò không hoàn toàn đồng tình với ý kiến của Thầy.
Theo thiển ý của tôi cách lý giải về Tam đại của PGS mang tính suy luận chủ quan. Tích-Xưa; Kim-Nay cũng chỉ có 2 chứ chưa phải là 3 (tam). Vả lại, trong văn bản chỉ có từ Tích (Tích Thương gia…) chứ không hề có từ “kim” nào cả. Mặt khác, cách hiểu của PGS: “Xưa có nhà Thương, nhà Chu. Nay có nhà Đinh, nhà Lê và Trẫm cộng lại là Tam đại đương thời: Đinh+Lê+Lý=3” là trái với dụng ý của Lý Thái Tổ. Chúng ta hãy đọc lời phê phán của Lý Thái Tổ đối với các triều Đinh, Lê: “Nhi Đinh Lê nhị thị nãi tuận kỉ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thương an quyết ấp vu tư chi thế đại phất trường, toán số đoàn xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghim trẫm thậm thống chi” (Thế mà hai nhà Đinh, Lê theo ý riêng của mình, quên cả mệnh trời, không noi theo dấu cũ Thương Chu , cứ đóng yên đô ấp ở đấy, khiến cho triều đại không bền, vận số ngắn ngủi, trăm họ thêm hao tổn, muôn vật không thích nghi, trẫm rất đau xót về việc đó). Như thế, không thể đồng nhất nhà Đinh, nhà Lê với nhà Lý được như ý PGS.
Vậy, Tam đại là những triều đại nào? Theo tôi, Tam đại là ba triều đại Thương, Ân-Thương, Chu thuộc Trung Quốc cổ đại. Nhà Thương đến đời Bàn Canh thiên đô sang đất Ân, lấy quốc hiệu là Ân. Điều này chính PGS Nguyễn Đăng Na cũng đã trích dẫn: “Vua Bàn Canh (1401-1373 trước TLKN) thiên đô sang đất Ân-quốc hiệu là Ân.Vì thế đời nhà Thương có khi gọi kiêm cả là Ân-Thương” trong bài viết của mình.
Còn bài chiếu có tên hay không là một vấn đề rất khó lý giải. Muốn biết rõ phải có văn bản gốc. Thời ấy viết vào trúc tre chứ chưa in ấn vào giấy nên không có nhiều bản như ngày nay. Hơn thế, trong cả ngàn năm biết bao phen thay đổi sơn hà, bao phen kinh thành rơi vào tay quân xuân lược. Đó là chưa kể hơn 20 năm dân tộc ta nằm dưới ách đô hộ của nhà Minh và hơn 65 năm dưới ách đô hộ của thực dâp pháp. Loại văn bản nêu cao tinh thần dân tộc như Thiên đô chiếu làm sao chúng không thiêu hủy? Việc viện dẫn hai tài liệu như trên, rồi kết luận: :“tới năm 1825, bài Thủ chiếu chưa có tên là Thiên đô chiếu” của PGS. Nguyễn Đăng Na có vội vã quá không? Vấn đề này, theo tôi chúng ta nên phải nghiên cứu thật kỹ rồi mới kết luận được. Tuy nhiên, một văn bản trong văn học cổ (nhất là của vua chúa) thường rất mẫu mực về thể loại, bố cục, kết cấu, hành văn… nên một số tác giả soạn sách đặt tên bài chiếu là Thiên đô chiếu cũng chẳng có gì sai trái.
Trền đây là một số suy nghĩ nông cạn của bản thân, rất mong nhận dược nhiều ý kiến bàn luận của các bạn trên diễn đàn vnthuquan.
 
Thah
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-10-02 04:21:40sweet>
.

Kính chào các bạn trong Việt Nam Thư Quán.

Đọc xong bài viết trên mà toát mồ hôi, giật mình, và phải than rằng: dân Việt đang bị Hán hoá một cách quá lộ liễu!

Nhân một ngàn năm Thăng Long, tinh khí Việt thời Lý hiển linh, mong quý vị tri thức tại Việt Nam Thư Quán nêu rõ các điều sau đây:

1/ Lý Thái Tổ là vua Việt  Lịch sử Việt hoàn toàn KHÁC sử Tàu .
Xin đừng đem nhập nhằng Sử Tàu vào Sử Viêt.

2/ Tinh thần Ngàn Năm Thăng Long của Lý là tinh thần độc lập với Tàu, qua tuyên ngôn của danh tướng Lý Thường Kiệt, hai lần phạt Tống và chiến thắng hiển hách:


Nam Quốc Sơn Hà



          Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
          Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
          Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ?
          Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
        Dịch thơ:
                Sông Núi Nước Nam
                Sông núi nước Nam vua Nam ở
                Rành rành định phận tại sách trời
                Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm ?
                Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời !



              Chú thích:
              • Đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Bài thơ xuất hiện năm 1077 giữa cuộc chiến đấu oanh liệt trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (khúc sông Cầu thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc ngày nay) giữa quân dân Đại Việt và mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy. Tương truyền giữa lúc khó khăn, quân sĩ hai bên một đêm bỗng nghe tiếng ngâm vang vọng của bài thơ trên từ đền thờ Trương Hống Trương Hát (hai tướng tài của Việt Vương Triệu Quang Phục). Bài thơ góp phần khích lệ tinh thần chiến đấu của quân ta và khiến quân Tống hoang mang, rúng động, dẫn đến thất bại thảm hại của chúng chẳng bấy lâu sau đó.
              • Lĩnh Nam Chích Quái có chép một dị bản:
http://VoiceofVietnameseAmericans.blogspot.com
Đăng nhập để trả lời
0

Anh bạn ngày mai này! có một câu tôi muốn nói với anh bạn
   "Mọi sự thái quá đều không tốt"
Sự thật là sự thật và người có tri thức là người phải biết tôn trọng sự thật dù cho sự thật đó cay đắng đến thế nào cũng không thể dùng cái ngu dốt và cuồng tín như một tín đồ để che lấp đi. Đất nước việt nam cần những người yêu nưốc sáng suốt, hiểu biết chứ không cần Những tín đồ cuồng tín như đạo hồi. Chiêud dời đo của thái tổ viết và bằng tiếng tàu và dùng cách hành văn của tàu là một sự thật Vì lối hành văn theo kiểu xưa có nhiều chỗ khó hiểu nên bài viết đề cập đến chẳng có gì là tàu hoá ở đây cả. nghe người ta nói là một chuyện nhưng nghe rồi phải ngẫm nghĩ và biến nó thành tri thức của mình chứ lặp lại người ta như một con vẹt thì buồn lắm
Đăng nhập để trả lời
0
.



lặp lại người ta như một con vẹt thì buồn lắm








.
http://VoiceofVietnameseAmericans.blogspot.com
Đăng nhập để trả lời
0
Việc Lý Thái Tổ nhắc đến "nhà Thương", "nhà Chu", "Tam đại" hay thậm chí gọi Cao Biền là Cao Vương sẽ không làm người ta thấy người Việt bị Tàu hoá nếu nhìn nhận Tam đại Hạ, Thương, Chu và cả triều Lý Đường đều là sử Việt.

Câu đối ở đền Hùng:
Lịch Tam hoàng chí Tam vương, thần truyền thánh kế.

Đĩnh bách nam khai Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.

Dịch nghĩa:
Từ Tam hoàng đến Tam vương thần thánh truyền dõi
Sinh trăm trai mở Bách Việt, con cháu vun bồi.


Câu đối trên cho thấy từ trước người Việt vẫn coi Tam Hoàng, Tam Vương trong Hoa sử chính là những vị vua Hùng, đã khai sinh Bách Việt.

Thời Đường người Việt có anh em ông Khương Công Phụ đều đỗ tiến sĩ (đời Đường Đức Tông) rồi làm đến chức tể tướng triều Đường. Nếu nhà Đường không phải là triều đại của người Việt thì liệu ông Khương Công Phụ có thể làm đến tể tướng hay không? Thơ Đường luật cho tới nay chỉ còn mỗi tiếng Việt và tiếng Hán Việt (cũng là phát âm Việt) là làm được, cũng cho thấy ngôn ngữ thời Đường là ngôn ngữ Việt. Lý Thái Tổ dùng tiếng Việt (Hán Việt) nêu điển tích Việt (Thương Chu) có gì là Tàu hóa ở đây?
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài.
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=588939&mpage=1&key
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=547383&mpage=1&key
Đăng nhập để trả lời
0
Thời Đường người Việt có anh em ông Khương Công Phụ đều đỗ tiến sĩ (đời Đường Đức Tông) rồi làm đến chức tể tướng triều Đường. Nếu nhà Đường không phải là triều đại của người Việt thì liệu ông Khương Công Phụ có thể làm đến tể tướng hay không?


Đường không phải là triều đại của Việt.

Ông Khương Công Phụ không phải tên Việt, dù có đậu Tiến Sĩ cũng chỉ làm tay sai cho Tàu mà thội  Làm quan cho Tàu chẳng có gì làm vinh.

Văn hoá Việt có Lý Thường Kiệt, Đoàn thị Điểm, Nguyẽn Trãi, Nguyẽn Công Trứ, người khí khái yêu dân thương nước khác xa lũ nịnh thần một trời một vực.

Phong tục tập quán dưới thời Đường hoàn toàn khác phong tục tập quán Việt.
Đường Minh Hoàng dâm dục, đam mê tửu sắc, vì Dương Quý Phi mà hại trăm họ, cách sống lang chạ từng bày theo loài thú sống theo kiẻu văn minh du muc, y phục cũng khác xa cách ăn mặc của người Việt vốn ở ven sông, xứ nóng, văn minh Lúa Nước, Lạc Việt.

 Chuyện Đường Minh Hoàng du nguyệt điện và bánh nướng (bột mì, mỡ thú vật, lạp xường, mứt bí) của Tàu khác bánh dẻo (bột gạo, nhân hạt sen, hạt dưa) của Việt.

        Như nước Đại Việt ta từ trước
        Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
        Núi sông bờ cõi đã chia
        Phong tục Bắc Nam cũng khác

Nghiêu Thuấn là văn minh nông nghiệp, có thể là của Cổ Việt, nhưng đến Đường thì văn minh đã thay đổi rất nhiều, không còn là Việt nữa ,

Thơ Đường KHÁC XA lục bát của Việt.

Đã đến lúc phải phân biệt rõ ràng là Trung Cộng đã tràn vào ngồi trong Chính Trị Bộ của Đảng Cộng Sản, cho phép công an thẳng tay đánh chết người trên đường phố không chút thương tâm. Đó là văn minh du mục, sống theo loài thú dữ, không còn nhân tính nữa.

Than ôi! thảm thương cho văn hóa nô lệ phương Bắc dưới thời Cộng Sản thuộc.

Hãy vì sự sống còn của dân Việt mà thức tỉnh lại đi !

TỒN / VONG chứ đừng nói gì đến mong chuyện TỒN VINH!

Thảm!
http://VoiceofVietnameseAmericans.blogspot.com
Đăng nhập để trả lời
0
Đúng là triều đại nhà Đường (619-908) không phải là triều đại Việt nhưng thời kỳ này nước Việt thân yêu của chúng ta đang bị bọn phong kiến phương Bắc đô hộ. Hơn 1000 năm Bắc thuộc (179 TCN-938), do đó, một số người Việt đỗ đạt ra làm quan với nhà Đường cũng là chuyện bình thường vì lúc này nhà Đường coi nước ta là quận huyện của chúng. Chúng ta cũng không nên quá khắt khe coi họ là làm tay sai cho Tàu. Chỉ đến khi Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (938), cha ông ta mới hoàn toàn giành được độc lập, xây dụng quốc gia phong kiến độc lập tự chủ trải qua các triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê (Tên nước là Đại Cồ Việt); Lý, Trần, Lê (Tên nước là Đại Việt), Hồ (Tên nước là Đại Ngu), Nguyễn (Tên nước là Việt Nam). Tàu, Pháp, Nhật, Mỹ là những nước đã xâm lược, đặt nền thống trị trên đất nước ta. Mỗi tên mỗi thời đại, một cách thức đô hộ nhưng đều có chung một dã tâm là biến nước ta thành thuộc địa của chúng, biến dân ta thành nô lệ phục dịch cho chúng.
Bạn ngàymai không nên biến diễn đàn bàn luận văn học thành diễn đàn chính trị. Vả lại, mục đích bài viết của tôi là bàn về cách hiểu bài "Chiếu dời đô" của PGS.TS Nguyễn Đăng Na. Đề nghị quý vị đi vào trọng tâm vấn đề giúp nhé. Trân trọng cảm ơn!
Thah
Đăng nhập để trả lời
0