Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Tuyển tập các truyện ngắn của nhà văn Đặng Ái

2 trả lời, 1.796 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-10-18 16:33:24kankun>
Giai điệu mùa thu
 
    Hai cha con rẽ vào khu vực phố cổ. Những đường phố hẹp ngoằn ngoèo, những ngôi nhà một tầng, hai tầng hẹp và dài như cái ống, lần lượt lướt qua mũi xe hon đa. Dãy phố cần tìm đây rồi. Bố cho xe chạy chậm hơn, ngoái cổ quan sát số nhà.
    - Một trăm năm sáu bố ạ. Một trăm năm sáu!
    Cuối cùng cái số nhà ấy cũng đã hiện ra trên một tấm biển đã tróc hết sơn, chỉ còn in hình con số lờ mờ. Hai cha con chỉ dám chắc nó đúng là 156 khi thấy nó bị kẹp giữa hai biển số 154 và 158. Đó là một căn nhà lợp ngói ống, trên diềm mái cong vút. Vữa trát mặt trước đã bị long lở, nhìn thấy từng lớp vôi quét phủ lên nhau và thấy cả những viên gạch mỏng đã sứt sẹo, ám đen.
    Hai cha con đi vào cổng nách. Họ đi qua một cái sân lát gạch bát mà nhiều viên đã võng xuống vì thời gian.
    - Gác hai bố ạ, gác hai!
    Huyền Chi lại nhắc bố và cô bé cũng ngửa cổ nhìn chung quanh tìm lối lên gác. Té ra là phải đi qua một gian nhà nữa, ngày xưa không biết người ta dùng làm gì, còn bây giờ là căn bếp chung. Hai cha con lách người giữa những chạn bát, bếp dầu và nồi niêu…Nền xi măng dưới chân ẩm nhớp. Lối lên gác ngay cuối gian nhà.
    Đó là một cầu thang bằng gỗ dốc và ọp ẹp, cứ mỗi bước chân ván lát lại lung lay.
    - Lên gác rẽ tay phải!
    Huyền Chi lại lẩm nhẩm nhắc bố. Và không phải bố mà cô bé là người đầu tiên đứng trước cánh cửa gỗ khép hờ. Cô rụt rè đưa tay gõ nhẹ vào cánh cửa.
    - Mời vào! - Từ trong nhà vọng ra tiếng nói nhỏ và tiếng chân bước nhẹ trên sàn.
    Cửa mở ra, một làn bụi mọt như phấn vàng từ từ bay xuống…Người đàn ông trong bộ quần áo ngủ sọc xanh xuất hiện trước khung cửa.
    - Chào chú! - Huyền Chi nói khẽ.
    - A, cô bé đã đến! – Chú ta reo lên, đặt một tay lên đầu Huyền Chi, một tay bắt tay bố.
    Huyền Chi nhìn thoáng nhanh căn phòng rộng chưa đến mười lăm mét vuông. Tất cả đều cũ kỹ. Một giá sách với những gáy sách ố vàng, một cái tủ nhỏ chạm trổ cầu kỳ, mấy cái ghế tròn cao lênh khênh, đen bóng, một cái bàn vuông đặt sát vào tường, một góc mộng hờ đã trám sơn. Trên tường một bức tranh sơn dầu đã rạn nứt, vẽ một lối đi nhỏ giữa cánh rừng âm u… Trên cái gạt tàn giữa bàn, một điếu thuốc lá hút dỡ không biết từ bao giờ, đã ngả màu vàng nâu…Căn phòng bốc lên một mùi mốc ẩm cổ kính như đã  bị lãng quên từ lâu.
    Huyền Chi là học trò của nhạc viện. Cô bé đã học viôlông năm nay là năm thứ sáu. Hàng ngày mỗi buổi sáng bố lại đưa Huyền Chi đến trường. Cô bé đội mũ rộng vành, mặc bộ quần  áo sặc sỡ, tay ôm đàn, ngồi sau xe. Đến trưa, bố lại đứng ở sân nhạc viện chờ đón cô bé về. Ở trường và ở nhà, Huyền Chi không phải làm việc gì ngoài việc tập những bản nhạc. Cô bé phải giữ gìn các ngón tay sao cho nó mềm mại nhạy bén. Đối với nghệ sĩ viôlông, ngón tay là tài sản quý giá nhất. Thỉnh thoảng Huyền Chi biểu diễn ở nhạc viện, hoặïc cũng có khi bố đưa cô bé đến đài phát thanh. Các bản nhạc cô bé thu ở đó được phát trong các buổi phát thanh dành riêng cho thiếu nhì.
    Một nhà báo, khi giới thiệu những nghệ sĩ tí hon của nhạc viện đã viết về Huyền Chi: “Với tấm áo màu lửa, Huyền Chi nhanh nhẹn bước lên sân khấu. Em  đã chiếm được cảm tình của khán giả ngay từ nự cười mỉm đầu tiên. Rồi tiếng đàn vút lên, lúc khoan thai, lúc réo rắt. Bản nhạc tuyệt vời của nhà vĩ cầm bậc thầy Paganini đã làm mọi người nghẹn ngào xúc động. Không còn nghi ngờ gì nữ, Huyền Chi là một nghệ sĩ vĩ cầm đầy hứa hẹn. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng em đã học được một trong những đức tính quý báu của những nghệ sĩ lớn: Em luôn luôn giữ gìn và chăm chút đôi tay mình. Hơn nữa, không bao giờ em biểu diễn những bản nhạc mà không tập luyện trước tới mức nhuần nhuyễn…Đó cũng là bí quyết thành công bước đầu của em…”.
    Bài báo ấy bố cắt lồng trong khung kính, treo trước bàn học của Huyền Chi. Cô bé trở thành niềm tự hào của gia đình và nhà trường.
    Hơn một tháng trước đây Huyền Chi đã đến biểu diễn tại Viện Quân y. Tốp nghệ sĩ tí hon, như một bầy chim ùa vào phòng bệnh, nơi các chú thương binh đang điều trị. Ởû đây nhiều chú phải nằm bẹp trên giường do những vết thương quá nặng. Các em bắt đầu hát, chơi các loại nhạc cụ: ghi ta, thập lục, kèn và Huyền Chi trong tấm áo đỏ quen thuộc của mình, kéo viôlông. Huyền Chi coi đây là một buổi biểu diễn thực thụ. “Khi xuất hiện trước công chúng, dù ở đâu em cũng phải coi là một buổi biểu diễn thực thụ – Cô giáo của Huyền Chi căn dặn em nhiều lần như vậy – Em phải biểu diễn bằng tất cả tâm hồn mình và với những nhạc phẩm đã được chuẩn bị chu đáo. Đó là sự tôn trọng người nghe và tôn trọng âm nhạc của mình”.
    Đứng ở giữa lối đi trong căn phòng trắng toát ấy. Huyền Chi đã chọn những bản nhạc hay nhất. Các chú thương binh vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Có chú dùng thìa gõ vào ca sắt keng keng… Chưa bao giờ Huyền Chi gặp một đối tượng như thế. Ban đầu em thấy hơi sờ sợ vì những cánh tay cụt, vì những cái chân bó bột, vì những cục bông băng sù sụ và cả vì thuốc sát trùng, cái mùi rất bệnh viện, cứ sộc lên mũi. Nhưng nỗi sợ hãi thoáng qua nhanh. “Các em đến biểu diễn phục vụ các chú thương binh, những người đã hy sinh xương máu và tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc cho cuộc sống hoà bình của chúng ta” Huyền Chi nghe vang bên tai lời dặn của cô giáo.
    Khi Huyền Chi kéo bài thứ hai, một khúc nhạc của Bigiê, em chợt thấy một chú thương binh nhìn em chăm chú và mắt chú long lanh nước.  Chú nằm trên một chiếc giường trong góc phòng. Trên mình chú phủ một tấm chăn trắng mỏng. Khuôn mặt chú trắng xanh, cái nước da của người lâu ngày không thấy ánh nắng. Huyền Chi bước đến gần chú hơn trong khi vẫn đàn. Hình như hiểu  được cô bé, chú thương binh nở một nụ cười nhợt nhạt. Chưa bao giờ cô bé chơi đàn trong khung cảnh như thế. Trái tim cô bé rung lên những đợt sóng xúc động. Bản nhạc vừa dứt, cả căn phòng như lặng đi. Rồi một đợt nồng nhiệt những tiếng hoan hồ theo cái kiểu của các chú thương binh. Còn chú thương binh nằm, yếu ớt đưa tay vẫy Huyền Chi lại gần hơn.     
    - Cháu có biết bản “Mùa thu trong thành phố” không? “Mùa thu trong thành phố” ấy!
    - Dạ, cháu có biết!
    - Chú muốn nghe bản này!
    Huyền Chi đâm bối rối:
    - Thưa chú, bản này cháu chưa thuộc lắm… Cháu mới biết sơ sài…
    Chú thương binh thở dài:
    - Đã mười lăm năm rồi chú không được nghe!
    Huyền Chi nhìn thẳng vào mắt chú. Khi nói câu âý chú biểu lộ một nỗi buồn và một thèm khát không thể tả được. Như có một ma lực ngoài ý thức, Huyền Chi đặt cây đàn lên vai. Cây ác sê nghiêng nghiêng bắt đầu lướt trên dây đàn. Cô bé quên hết những lời dặn dò của cô giáo, quên hết những qui định ngặt nghèo mà người nghệ sĩ biểu diễn phải có…Cô chỉ thấy không thể từ chối ánh mắt chú thương binh, muốn cho bản nhạc vang lên ngay tại đây trong lúc này.
    Bản nhạc mở đầu bằng giai điệu chậm rãi bay bổng, mô tả bầu trời xanh lãng đãng gió thu. Rồi tiếp đó là những đợt sóng lăn tăn trên mặt hồ, rồi những chiếc lá vàng lao xao trên cành cây, và tiếng chân người đi gợi nhớ những kỷ niệm sâu lắng về những mùa thu rực rỡ đã qua…Nhưng chưa đi được phần đầu của bản nhạc, cây ác sê bỗng dưng ngập ngừng rồi như không còn đủ sức chạy trên dây, nó thõng xuống. Khuôn mặt Huyền Chi lấm tấm mồ hôi. Cô bé muốn oà lên khóc. Ấy vậy mà Huyền Chi hình dung ra tất cả, chỉ những ngón tay lóng ngóng như muốn phản lại em.
    - Thôi thôi cô bé ạ! Đúng là cô bé chưa thuộc! Nhưng chú nghe được tất cả rồi. Cám ơn cháu!- Chú thương binh nói, dường như chỉ để an ủi cô bé.
    Buổi biểu diễn kết thúc. Với tâm trạng buồn bã Huyền Chi bước ra khỏi cổng bệnh viện. Thực ra em chẳng có lỗi gì. Nhưng sao em vẫn thấy buồn và băn khoăn.
    Chừng một tuần sau, một hôm Huyền Chi bảo bố:
    - Bố ơi, cho con đến bệnh viện quân y. Con muốn chơi cho chú thương binh nghe bản “Mùa thu trong thành phố…”.
    Buổi sáng chủ nhật ấy, cô y tá trực tươi cười đến báo với Hà:
    - Anh Hà có người nhà đến chơi nhé!
    Hà hơi sửng sốt. Anh làm gì có người nhà ở thành phố này? Là người gốc ở đây, nhưng bây giờ Hà như rơi vào cảnh hoàn toàn cô đơn. Bố mẹ anh đã mất, mấy người anh đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh, ở Tây Nguyên, một cô em  đang học ở nước ngoài. Không còn ai là người thân thích gần đây. Chỉ có vài người bạn thời niên thiếu. Nhưng không ai biết anh đã trở về, nằm ngay cái bệnh viện quân đội chỉ cách nhà mấy dãy phố này. Anh không muốn báo tin cho ai. Hà còn đương băn khoăn chưa biết ai tìm mình thì Huyền Chi xuất hiện.
    Hà nhận ra cô bé kéo đàn viôlông ngay mặc dù hôm nay cô bé ăn mặc khác.
    - Chào  chú ạ! – cô bé ngượng ngập.
    - Cô bé đến gặp tôi ư? – Hà mỉm cười hỏi lại, cũng là để chào cô bé.
    - Dạ, cháu đến thăm chú ạ!
    Cô bé ngồi sau một cái ghế sơn trắng, một cái ghế bệnh viện, cảm thấy mình như người lớn thực sự. Em cố hình dung trong những trường hợp như thế này người lớn người ta làm sao?
    - Cháu có món quà nhỏ biếu chú, chú ăn chóng lành bệnh! - Vừa nói Huyền Chi vừa lấy từ trong túi cói ra mấy quả hồng xiêm.
    Hà nhìn những quả hồng xiêm mỡ màng đang từ trong túi cói qua tay cô bé, đậu trên táp đờ luy. Một nụ cười nhợt nhạt nở trên khuôn mặt, nhưng đôi mắt người thương binh lại ánh lên sáng ngời.
    - Mùa này đã có hồng xiêm rồi ư?
    - Dạ - cô bé bẽn lẽn trả lời – Chú có đau lắm không?
    - Bây giờ thì không đau nữa!
    - Thế lúc nào thì đau?
    - Lúc mới bị thương. Đau đến nỗi, chú tự nhủ, nếu chỉ đau thêm một tí nữa là chết mất. Thế rồi nó cứ đau thêm từng ngày, từng đêm, không lúc nào ngừng, ngay cả trong giấc ngủ. Vậy mà vẫn không chết. Thế là cơn đau phải thua…
    Cô bé rùng mình:
     - Kinh quá chú nhỉ?
   Rồi cô bé như nhận lỗi:
    - Hôm nọ cháu không thể chơi bài “Mùa thu trong thành phố”, cháu rất buồn. Nhưng rồi cháu đã tập cho kỳ được để chơi cho chú nghe. Hiện nay cháu đang tập, cháu tập từng mơ duya một rất chậm vì cô giáo cháu nói, không nên vội vã trong bất cứ trường hợp nào!
    - Cô giáo cháu nói đúng đấy! Vì chú không có đức tính ấy nên không trở thành nghệ sĩ viôlông được!
    - Chú cũng từng chơi viôlông ư - Huyền Chi ngạc nhiên hỏi.
    Hà khẽ gật đầu.
    Thực vậy, Hà vốn sinh ra trong một gia đình nền nếp. Bố anh, một công chức, chăm lo việc học hành cho các con một cách chu đáo. Khi Hà lớn lên, cùng với việc học văn hoá, anh được học nhạc.Trong nhà đã sẵn có một cây viôlông và bản nhạc đầu tiên anh chơi là bản “Mùa thu trong thành phố”. Thực ra nên tập trước những bản nhạc khác dễ hơn, như những khúc luyện tập Sopanh chả hạn. Nhưng vì Hà yêu thích bản nhạc ấy. Nó gắn bó với tuổi thơ anh: Trong ngôi nhà cũ kỹ có một cái máy hát quay tay, cũng cũ kỹ. Ngày nào bản nhạc cũng từ đó vang lên. Nhưng rõ ràng là Hà không có thiên bẩm nghệ sĩ. Anh chơi như người không hồn. Ông bố thường nói vậy khi anh nâng cây đàn lên vai. Hơn nữa, bây giờ tay anh đã bị hỏng.
    Từ hôm đó mỗi tuần vài lần, Huyền Chi đến thăm Hà. Hai chú cháu nói chuyện về âm nhạc, những nhạc sĩ mà họ ưa thích và đủ các thứ chuyện về thành phố mà họ coi là của chung. Tuy nhiên câu chuyện của họ nhiều khi bị kênh như không thể nào hiểu được nhau. Anh thương binh nói về một thành phố xa xưa cách đây cả chục năm vẫn còn đằm trong kỷ niệm của anh. Còn Huyền Chi nói về thành phố bây giờ theo như con mắt trẻ thơ của cô bé. Nhưng dẫu sao câu chuyện vẫn làm họ ưa thích. Và vào một ngày chủ nhật cô bé đã mang theo cây đàn đến. Cô tươi cười nói:
    - Hôm nay cháu sẽ chơi cho chú nghe bản nhạc của chú!
    Khi cô bé đặt cây đàn lên vai, Hà cảm thấy mình bắt đầu bồng bễnh trong một màn sương kỷ niệm thiêng liêng. Cô bé chơi bản đàn thật tuyệt. Hà cảm như thấy lại những âm thanh ngày xưa đúng như anh nghe được trong cái máy hát ấy. Cô bé này là một tài năng âm nhạc thực thụ đây, anh nghĩ khi cô bé chơi xong bản nhạc, buông thõng cây ác sê xuống, má ửng hồng, nhìn anh bằng đôi mắt long lanh…
    ….Bây giờ trong ngôi nhà cũ kỹ của mình, Hà tươi cười đưa tay chỉ cái ghế tròn và cao lênh khênh, nói với người cha của Huyền Chi:
    - Mời anh ngồi tạm đây! Tôi rất vui khi anh và cháu đến, Tìm nhà khó lắm phải không? Giá như tôi không bệnh hoạn thì tôi sẽ đến chỗ anh chứ không để anh và cháu phải mò mẫm tới cái khu phố cổ này.
    Từ lâu họ đã là người quen thân, thế mà sao hôm nay chú Hà lại có vẻ khách khí thế.
    - Cũng là một buổi đi chơi thú vị chú ạ! – Người bố nói – Chú thấy khoẻ nhiều chứ?
    - Vâng, tôi khoẻ. Chắc là còn lâu mới bình phục, nhưng đã khoẻ lên rất nhiều!
    Một lát sau Hà nói:
    - Tôi rất mến em Huyền Chi và cảm kích trước tấm lòng của em đối với tôi. Từ lâu tôi đã có ý định tặng em một món quà, nhưng  bây giờ mới có điều kiện thực hiện. Nhờ anh lên gác cùng tôi…
    Hà và người cha lên cầu một cầu thang gỗ dốc đứng. Hai người chui lên mái trần chật hẹp. Chỉ còn mình Huyền Chi ở lại dưới nhà. Cô bé nghe những tiếng động trên trần, rồi những lớp bụi mỏng từ từ rơi xuống. Tiếng khuân đồ đạc lịch kịch một lúc rồi bỗng rung lên một tiếng như ác sê chạm vào dây đàn…
    Hà và người cha theo nhau xuống thang, trong tay Hà một hộp đàn cũ kỹ đầy bụi bám. Cả hai người đều nhọ nhem. Mặt hớn hở, Hà đặt hộp đàn xuống sàn nhà, cẩn thận phủi bụi ngoài hộp và loay hoay mở cái khoá han rỉ ra. Tiếng sắt rỉ kêu rít lên, ghê người, khiến Huyền Chi rùng mình.
    Hộp đàn mở ra, trong lớp nhung lót màu đỏ, hiện ra một cây đàn nâu cũng cũ kỹ như chính cái hộp, như chính căn phòng, như chính dẫy phố của nó…
    Cây đàn được mang từ nước ngoài về từ đầu thế kỷ. Lúc đó nó đã cũ kỹ lắm rồi. Không biết bằng cách nào, người ông của Hà có được cây đàn ấy. Nhưng ông hoàn toàn không biết  gì về âm nhạc. Cây đàn chỉ được giữ trong nhà như một thứ trang trí. Rồi bố Hà lớn lên. Ông tập tọng chơi. Nhưng cũng chỉ được vài hôm. Cây đàn lại bị treo lên. Rồi đến Hà. Anh say mê với những âm thanh của nó. Cũng đã có hy vọng trở thành nhạc sĩ viôlông. Nhưng mấy lần thi vào trường nhạc đều bị trượt. Anh chưa thất vọng. Nhưng cuộc chiến tranh đã cần đến anh. Anh mang cây đàn cất chung với những đồ đạc cũ kỹ của gia đình. Nó đã nằm yên trên ấy mười mấy năm trời…
Hà nâng cây đàn lên ngắm nghía như một báu vật. Mà thực ra đối với người chơi đàn, một cây đàn tuổi tác như thế thực sự đã là một báu  vật. Anh thận trọng lên dây đàn. Tiếng khoá kêu ken két.
    - Cần phải nhỏ vào một ít dầu – Anh nói như nói một mình - Đã lâu quá không đụng đến nó.
Chật vật lắm Hà mới lên được đây vì hình như cây đàn giận dỗi vì bị bỏ quên quá lâu. Một chút nhựa thông nhỏ như cái móng tay còn lại nhét trong hộp đàn cũng đủ anh chuốt lại cây ác sê.
    - Cháu thử  xem nào! - Khuôn mặt sáng lên,. Hà bảo Huyền Chi
   Cô bé run lên khi chạm vào cây đàn cổ. Hơi gỗ và hơi thời gian mát lạnh thấm qua làn da tay rất nhậy cảm của cô bé. Cần đàn nhiều chỗ đã mòn lớp vécni vì tay người bấm, cả cây ác sê cũng vậy, ở chỗ tay cầm… Nó đã ca hát ở những đâu, trong những lâu đài sang trọng hay trên tay những nhạc công nghèo?
    - Cháu chơi “Mùa thu trong thành phố”? - Cô bé rụt rè hỏi.
    Đứng bên cửa sổ, anh thương binh gật đầu âu yếm và anh nhìn chầm chằm chặp vào khuôn mặt xinh đẹp đầy xúc động cuả cô bé. Người cha lặng lẽ ngồi trên chiếc ghế cao hút thuốc. Ông là nghệ sĩ của một dàn nhạc lớn, nên ông hiểu. Phút chốc âm nhạc vang lên. Một thứ âm thanh trong vắt, kỳ diệu của cây đàn từng trải bao năm tháng, lọc qua tâm hồn trẻ thơ của một cô bé xinh đẹp đầy tài năng.
    Ngoài cửa số, bầu trời trong vắt lãng đãng những áng mây trắng nhẹ trên những mái nhà rêu mốc nhấp nh
ô…
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-10-18 16:33:20kankun>
Nhà hàng hải
 
            Hồi đầu học kỳ một, chi đội 5B của chúng tôi ra một câu hỏi: “Bạn thích môn học nào nhất?”
            Tất cả đội viên đều phải trả lời. Câu trả lời được ghi vào một mảnh giấy nhỏ và được chuyển cho thầy giáo các bộ môn.
            Phải nói là việc ấy gây nên một không khí tranh luận về học tập rất sôi nổi trong lớp.
Những câu trả lời rất khác nhau.
Thằng Quang đét trả lời nó thích môn toán. Uớc mơ của nó là sau này sẽ làm kế toán trưởng như ông bố rất được mọi người trọng vọng của nó, hiện đang làm kế toán trưởng ở nhà máy xi  măng. Cái Hường thích môn sinh vật, nó sẽ làm một nhà thực vật học, chuyên lai tạo, cấy ghép cành chanh vào gốc cam như ông Mít – Su-rin. Cái én, một con bé răng sún, có khuôn mặt xinh xinh như các tấm ảnh bé ngoan ở bìa lịch thì lại thích môn lịch sử. Nó nói môn học này sẽ cho nó nhiều hiểu biết để sau này nó có thể khai quật các ngôi mộ cổ. ý định của nó làm cả lớp hết sức ngạc nhiên. Vì nhẽ ra nó thích làm một danh ca hay bác sĩ thì đúng hơn. Các bạn thử nghĩ xem, một đứa con gái răng sún mà lại thích tìm hài cốt! Thằng Vọng muốn làm một ngôi sao trên sân cỏ nên nó thích môn thể dục. Có thể nó sẽ đạt được ý muốn vì nó có cặp giò vòng kiềng! Cái Dậu muốn làm cô giáo. Nó cứ băn khoăn không biết nên thích môn gì? Ôi cái con bé ấy! Chẳng bù cho thằng Phú gà tồ! Thằng gà tồ “thích nhất” những bốn môn cơ!
Mấy đứa thích trở thành nhà vật lý hay hoá học, tất nhiên chúng ghi các môn đó. Còn loại có tâm hồn thi sĩ như thằng Thuật sài thì nó chấm môn văn rồi. (Xin tiết lộ cho các bạn biết là từ năm lớp bốn nó đã biết làm thơ. Nó làm những bài thơ lục bát gieo vần ở chữ thứ sáu câu lục với chữ thứ bẩy câu bát).
Còn tôi, tôi thích môn địa lý.
Tất cả các nhà hàng hải đều giỏi môn này. Mà tôi chỉ có một mong ước trở thành người chinh phục đại dương…
Giờ địa lý đầu tiên.
Chúng tôi ngồi im lặng chờ thầy giáo dến.
Đó là một thầy giáo già. Có lẽ thầy đã gần sáu mươi tuổi. Dáng người thầy cao cao. Tuổi tác đã làm thầy trở nên gầy gò và bước đi hơi chậm chạp. Mái tóc thầy nhiều sợi bạc hơn sợi đen; có thể nói là thầy không còn sợi tóc nào đen, sợi nào chưa bạc cũng đã ngà ngà. Ngay lông mày thầy cũng có vài sợi trắng. Quần áo thầy mặc hơi rộng quá, nhưng những bộ quần áo ấy được giữ gìn cẩn thận, nguyên nếp. Ngay cả những lúc nóng nực thầy vẫn bỏ áo trong quần và cài khuy tay cẩn thận. Thầy mang một cái cặp da nhỏ màu nâu, ở các góc đã sờn trắng, vì dùng lâu năm. Thầy còn mang theo một quả cầu và bàn tay gầy guộc bên kia lại còn cầm tấm bản đồ thế giới cuộn tròn như cái bóng đèn tuýp. Nhưng đáng chú ý nhất vẫn là cái thước của thầy. Nó hình vuông, mỗi chiều khoảng hai phân và chiều dài tới hơn một mét, bằng gỗ lim đen bóng. Sau này chúng tôi biết đó là cái thước do một học sinh cũ tự làm lấy, tặng thầy, cách đây đã gần ba mươi năm.
Nhìn dáng thầy như vậy, tất cả mọi người đã phải kính trọng thầy. Những thằng ngỗ ngược nhất trong lớp cũng trở nên biết điều.
Thầy bước vào. Tất cả chúng tôi đứng dậy chào. Thầy hơi cúi đầu chào lại rồi vẫy tay, ra hiệu chúng tôi ngồi xuống.
- Chúng ta làm quen với nhau nhé! – Thấy nói bằng giọng hơi rè vì đã phải nói quá nhiều trong gần bốn mươi năm – Tôi là Đinh Ngọc Lan, chuyên giảng môn địa lý. Từ nay tôi sẽ phụ trách lớp ta về môn này. Các anh chị cứ gọi tôi là thầy Lan.
Nói xong thầy lại bàn của thầy, xếp tất cả dụng cụ giảng dạy lên mặt bàn. Thầy mở cặp, lấy ra trong đó một chiếc ống tay giả bằng vải đen, lòng vào cánh tay phải lên đến tận khuỷu. ống tay giả này có tác dụng không cho bụi phấn bám vào áo. Rồi mở hộp kính, thầy thay chiếc kính trắng đang đeo trên mắt bằng cái kính trắng khác. Thầy giở tấm bản đò, treo lên bảng, cẩn thận vuốt hai góc dưới cho phẳng.
Chúng tôi lặng im theo dõi từng động tác của thầy…
ở thầy có những điều làm chúng tôi ngỡ ngàng. Nào là hai cái kính, nào là chiếc ống tay giả. Nào là cái thước đáng được đưa vào phòng truyền thống với cái cặp da cũng có giá trị như vậy. Nhưng hơn tắt cả, thầy đã gọi chúng tôi bằng “anh, chị” một cách thân mật như tôn trọng dù chúng tôi chỉ đáng là cháu nội thầy. Các thầy, cô trẻ chỉ gọi chúng tôi bằng “em”. Còn khi nào gọi bằng “anh, chị”, thì coi chừng! Bão táp sắp nổi lên đấy!
Sau khi đã làm xong những động tác cần thiết mở đầu một giờ học, thầy giở quyền sổ điểm ra. Thầy lặng lẽ rê cây bút từ trên xuống dưới theo cột lên chúng tôi lại một lần rê nữa từ dưới lên trên, nhanh hơn. Rồi lại rê xuống…
- Anh Thái Văn Trừng! – Thầy gọi và chấm một cái vào phía cuối dòng tên.
Tôi đứng dậy, không nén được hồi hộp.
Thầy lại thay kính, nhìn tôi một lát, như thăm dò xem trò Thái Văn Trừng của thầy ra sao? Rồi thầy rời ghế, bước chậm rãi ở lối đi giữa hai dãy bàn, đến chỗ tôi ở cuối lớp.
Sắp phải trả lời một câu hỏi đây. Tôi lo phát sốt. Có thể thầy sẽ hỏi về diện tích đồng bằng Nam Bộ, hoặc tình hình khoáng sản nước ta? Câu nào thì tôi cũng bí. Thầy mà hỏi tên cái mỏm đất tột cùng ở phía Bắc thì càng gay!
ở các môn khác đã mấy đứa bị bắt cóc rồi. Có đứa bị hỏi về cách chăn nuôi gà, có đứa phải đọc thuộc lòng bài “Mình về với Bác đường xuôi…”. Lại có đứa phải cầm phấn giải ngay một bài toán “Hai đội sản xuất có cùng một số lao động chính như nhau, đội một có 50 héc-ta, đội hai có 70 hécta”.
Những câu hỏi đáng sợ!
Tôi đạp thằng Quang đét một cái. Như vậy là tôi ngầm bảo nó, hễ thầy hỏi là phải giở sách ra nhắc tôi ngay. Về điểm ấy thì ngồi phía cuối lớp tiện lợi lắm, các bạn nhác học ạ!
Đến cạnh tôi, thầy đặt bàn tay gầy guộc của thầy lên vai tôi. Vì chưa hiểu dụng ý của thầy nên tôi thầy gai khắp người, sống lưng thì lạnh toát đi.
Nhưng tôi thầy ấm áp hẳn lên khi cũng với bàn tay ấy thầy vuốt ve tôi một cách âu yếm!
- Thội anh ngồi xuống! – Thầy nói, xoa đầu tôi lần nữa, trước khi quay lại bục giảng.
Tôi thấy lạ lùng quá. Thằng Quang đét và những đứa khác cũng thấy lạ lùng không kém. Chúng quay cả lại phía tôi, trố mắt lên như hỏi: “Vì sao cậu “thoát nạn” thế?”.
- Các anh chị! – Giọng thầy Lan vang lên -  Tôi vô cùng sung sướng được biết rằng trong lớp ta có những anh, chị yêu thích môn địa lý, như anh Trừng chả hạn! Lòng yêu thích của anh, chị làm tô vô cùng cảm động. Xin các anh, chị hãy vui lòng nhận ở ông giáo già này lời cảm ơn chân thành vì lòng yêu thích đó. Cũng xin các anh, chị hãy cố gắng cùng tôi, chúng ta hoàn thành tốt chương trình nghiên cứu môn địa lý rất phức tạp nhưng cũng rất bổ ích này. Mong các anh, chị hãy cho thầy giáo già của các anh, chị những niềm vui khi được ghi vào bài của các anh chị những điểm 10, điệm 9 bằng mực đỏ!
Trong lúc nói thầy hay nhìn tôi. Điều đó làm tôi sung sướng, hãnh diện. Điều đó cũng làm tôi thấy rằng mình phải cố gắng học môn địa lý thật giỏi, nếu không muốn lâm vào hoàn cảnh của một thằng học trò bạc bội!
Một lần nữa xin cám ơn các anh, chị đã yêu thích môn học của tôi!
Thầy lấy khăn mùi xoa, chấm chấm hai mi mắt…
Giọng xúc động và những giọt nước mắt của thầy làm tôi cũng rưng rưng…
Sau đó thầy bắt đầu nói về môn địa lý. Vừa nói thầy vừa xoay quả cầu cho nó quay tít, dùng thước trỏ bản đồ hoặc viết vài chữ lên phần bảng không bị tấm bản đồ che lấp.
Thầy nói rằng trên hành tinh vĩ đại của chúng ta có nhiều vùng rất khác nhau về nhiệt độ, gió mưa, sông ngòi, cây cỏ, loài vật, giống người…Những sự khác nhau đó đều có những nguyên nhân mà môn địa lý có nhiệm vụ nghiên cứu. Địa lý làm cho người ta biết được những tài nguyên nổi và tài nguyên chìm sâu trong lòng đất, trong lòng biển…Môn địa lý đưa người ta đến những vùng xa xôi, vùng cực băng giá hayvùng xích đạo quanh năm chói chang ánh mặt trời. Môn địa lý cho người ta biết những dòng sông và những dãy núi mà trong đó chứa đựng những năng lượng khổng lồ hoặc những kho châu báu vô tận. Môn địa lý còn cho người ta biết những vực sâu đại dương, những đảo san hô, những con đường vòng quanh thế giới. Môn địa lý cũng đem đến cho con người những kiến thức về trình độ phát triển của một quốc gia. Nguồn gốc và tài năng của các chủng tộc muôn nghìn màu sắc. Học địa lý người ta còn hiểu được những núi lửa – những hoả diệm sơn – giận dữ như thế nào, thế nào là sự hình thành một trận giớ và trong cơn bão chứ đựng một năng lượng bằng bao nhiêu triệu ki lô oát! Địa lý còn khẳng định sức mạnh cải tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phải phục vụ mình của loài người. Địa lý, địa lý! Đó là môn học phức tạp nhưng vô cùng lý thú.
Cuối cùng thầy giáo kết luận:
- Các anh, chị! Vậy là môn địa lý đã mở ra trước mắt các anh, chị trang đầu! Rồi đây chúng ta sẽ đi sâu vào những trang khác với những câu chuyện hấp dẫn. Tôi hy vọng tất cả các anh, chị đều yêu thích môn học này như anh trừng!…Còn anh Trừng, anh có thể hứa với ông già này, rằng anh sẽ trở thành một cây địa lý của lớp không?
Tôi đứng dậy run run hứa:
- Thưa thầy em sẽ trở thành cây địa lý và nhà hàng hải ạ!
Thầy rất hài lòng, tháo cái ống tay giả ra. Vừa lúc ấy trồng tan học. Phải nói là thầy giảng bài rất tài tình, không thừa thiếu một phút!…
Chẳng có lý do gì để tôi không trở thành “cây địa lý” cả. Tôi học bài địa lý rất hứng thú. Vì hứng thú nên tôi chóng thuộc bài. Về bản đồ là việc bọn học trò rất sợ. Nhưng tôi cũng tìm cho mình được một cách vẽ nhanh mà chính xác. Bản đồ của tôi được tô nhiều màu: biển màu xanh nước biển, đồng bằng màu xanh lá cây, cao nguyên màu gạch non…rất đẹp mắt. Tôi lại còn có thể vẽ bản đồ mà không có mẫu, hoặc phóng to một bản đồ nhỏ trong sách thành một bản đồ rất to, chỉ bằng cách kẻ dăm bảy ô vuông.
Tôi còn biết cả những điều mà chỉ có các anh chị lớp sáu hay lớp bảy mới biết được! Chẳng hạn tôi biết nước Hà Lan ở dưới mực nước biển, dãy Hy-ma-lay-a cao nhất thế giới, còn vực Ma-rri-an thì sâu tới hơn mười một ki lô mét…Mặc dù chưa tận mắt trông thấy nhưng tôi có thể tả một cách hấp dẫn một cánh rừng tai-ga ở vùng Xi-bia, những con chim cánh cụt nổi tiếng ở châu Nam Cực.
Tôi là niềm tự nào của thầy Lan, niềm tự hào của cả lớp, niềm tự hào của đại gia đình các nhà hàng hải tương lai và cũng là niềm tự hào của tôi.
ở sổ điểm, chỗ môn địa lý, những điểm mười, điểm chín của tôi xếp hàng rất chỉnh tề.
Nhưng ở chỗ các môn khác những điểm kém luôn luôn xuất hiện. Không chỉ có ba và bốn đâu, thỉnh thoảng có cả “gậy” và “ngỗng” nữa.
Chi đội coi đó là hiện tượng không tốt. Các bạn nhắc tôi không được học lệch. Tôi tỉnh khô.
Một buổi sinh hoạt đội, cái én, cái con sún răng thích dào mộ cổ ấy, tấn công tôi bằng giọng gay gắt:
- Bạn Trừng học rất giỏi môn địa lý. Như vậy là rất tốt. Nhưng còn các môn khác, tại sao bạn lại xơi lắm ngỗng như vậy? Mà toàn là ngỗng quay béo ú nhé! (cả lớp cười bò ra). Một đội viên phải phấn đấu học giỏi tất cả các môn học. Bạn không xấu hổ ư, khi thầy Đồng, thầy Ca, cô Ngạn cứ phải phàn nàn về bạn?
Chà! Đồ sún răng. Tôi thầm  tiếc là đã bầu nó làm phân đội phó hôm nào!
Giơ tay lên, xin được nói, tôi phản công nó ngay:
- Bạn én phê bình tôi học lệch, còn bạn thế nào? thậm chí bạn cũng chẳng biết múi giờ là gì?
Có thể là tôi đã dánh trúng chỗ hiểm. Cái én đỏ mặt lên vì xấu hổ: Trong khi cả thế giới nhất trí chia các múi giờ theo kinh tuyến thì nó lại bảo là múi giờ tính bằng vĩ tuyến. Chuyện ấy đã được lên báo liếp với các tranh vẽ của thằng hoạ sĩ Nam rồi. Mà trong tranh nó lại sún những bốn cái răng kia!
Sau một phút xấu hổ, cái én cố gắng đáp lại, giọng càng gay gắt, mặt càng đỏ hơn.
- Tôi đã biết múi giờ rồi. Trong tuần này tôi cũng đã được một điểm bảy về môn địa. Còn bạn thì có dám phấn đấu để tuần sau được bảy điểm môn lịch sử không nào? Trước cả lớp, bạn có dám hứa hẹn không?
Tôi đang nghĩ cách chống lại thì tất cả mọi người đã nhao nhao lên:
- Môn toán nữa!
- Môn văn nữa!
- Môn ngoại ngữ nữa!
Dường như tôi bị cả chi đội tấn công. Chiến đấu với cái én đã khó, chiến đấu với cả lớp lại càng gay go. Nhưng tôi có lý lẽ của tôi chứ!
- Tôi không thích đào mộ cổ, không thích làm thơ, không thích làm kế toán…tôi chỉ thích làm nhà hàng hải thôi! Vì vậy tôi chỉ  cần học giỏi môn địa lý là đủ rồi. Xin hỏi các bạn tôi cần gì phải biết ghép cam với chanh khi tôi đang lái tàu vượt đại dương?
- Bạn Trừng nói không đúng! – “Cô giáo Dậu”  lên tiếng – Hiện nay bạn không phải thuyền trưởng mà là học sinh. Bạn có nhiệm vụ phải học giỏi tất cả các môn. Nếu ai cũng chỉ học một môn như bạn thì đây không phải là lớp học nữa, không phải 5B nữa, chúng ta cũng không phải học sinh nữa… Bố tôi là thợ nguội ở nhà máy thế mà còn phải học thêm những sáu môn trong lớp bổ túc buổi tối đấy!
Lời phát biểu của “cô giáo” được một tràng vỗ tay rất dài ủng hộ. Thậm chí thằng Vọng “cầu thủ” còn thò bón ngón tay vào miệng huýt còi tán thành nhiệt liệt. Tôi giận nó lắm, đồ bênh gái!
Có lẽ đã xảy ra một trận đánh nhau giữa tôivà nó, nếu hết giờ họp nó không lao ra sân bóng bằng lối cửa sổ.
Chi đội đã quyết nghị bắt tôi học đều các môn!
Nhưng tôi  mặc kệ. Đã bảo rằng tôi chỉ thích làm nhà hàng hải. Vì vậy tôi phải tập trung sức cho môn địa lý. Ai cũng biết phân tán tư tưởng thì tác hại thế nào!
Vì vậy tôi vẫn được mười và chín môn địa, “gậy” và “ngỗng” các môn khác. Tôi rất bằng lòng như vậy. Chỉ hơi  tiếc rằng không có điểm 11 để thầy Lan ghi vào sổ cho tôi mà thôi.
Có hôm thầy Lan gặp tôi ở hành lang trong giờ chơi:
- Anh học lệch như  vậy tôi rất không hài lòng – Thầy nói – Anh nghĩ sao thế, anh Trừng?
Trời ơi! Đến thầy mà còn hỏi tôi nghĩ gì nữa! – Tôi nghĩ rằng tôi  sẽ chinh phục biển chứ gì! – Và tôi đã học giỏi môn của thầy, thế mà thầy còn không hài lòng ư? Không, thầy nói thế thôi, chứ…thầy rất hài lòng về tôi!…
Nhịp điệu “mười và chín”, “gậy” và “ngỗng” vẫn diễn ra bình thường!
Thế rồi… tôi phải kể tỉ mỉ với các bạn chuyện này.
ở trường tôi, cửa nữa tháng lại có một buổi họcđược gọi là “trò chơi”. Nào trò chơi toán học, trò chơi ngoại ngữ, trò chơi sinh vật, trò chơi thể dục thể thao…Trong buổi ấy bạn có thể bắt thăm lấy các câu hỏi, nếu bạn muốn cũng có khi là thăm dành cho tập thể, tất cả cùng suy nghĩ rồi cử một đứa trả lời. Cũng có thể bạn sẽ được đổ a-xít vào ba-giơ hoặc gõ ma-níp truyền đi những bức điện “tạch tè, tạch tạch tè,…”… Với những trò chơi ấy cần phải nhanh nhẹn, thông minh và cần nhất là học giỏi! Nói chung là…khá đau đầu!… Nhưng cũng thúvị. Vì rất có thể bạn sẽ được cô giáo tặng một quyển truyện, một tấm giấy quỳ, hoặc một cái com-pa bằng đồng có chốt hàm khẩu độ hẳn hoi.
Hôm ấy là trò chơi địa lý.
Tất cả bọn hối 5 gồm ba lớp, một trăm bốn mươi hai đứa, đều được mời đến hội trường. ở đây có những dãy ghế băng, có sân khấu, dùng để họp mít tinh hay biểu diễn văn nghệ.
Điều khiển trò chơi hôm nay là thầy Lan, thầy giáo già vô cùng kính yêu của tôi.
Có thể ở đâu đó người ta có những văn phòng địa lý rất hiện đại, gồm cả bầu trời sao với kính thiên văn, với những gì gì nữa ấy, còn chúng tôi, chúng tôi chỉ có độc một tấm bản đồ.
Nhưng đây không phải là tấm bản đồ thường. Trước hết nó rất to, một chiều ba mét và chiều kia tới gần năm mét. Sau nữa, bạn có thể làm cho bất cứ một quốc gia nào, một thành phố lớn hoặc một hòn đảo nào sáng lên bằng một hệ thống công tắc điện lắp ở góc bản đồ. Mà không phải chỉ có ánh sáng trắng, còn nhiều màu sặc sỡ khác. Đây là công trình của thầy Lan và các anh chị lớp trên làm từ những năm trước.
Chúng tôi hì hục khiêng nó vào, đặt chính giữa sân khấu. Thầy Lan mang cái ghế tựa, ngồi phía dưới. Tất cả đồ đạc của thầy đặt ở mép dân khấu, nơi có biểu diễn văn nghệ người ta đặt hộp đèn, hắt ánh sáng lên diễn viên.
Đã đến giờ. Tất cả chúng tôi chen chúc nhau lên những dãy ghế gần nhất. Một trăm bốn mươi hai đứa, thế mà lọt thỏm giữa hội trường!
Có thể nói là tôi rất hồi hộp. Vì chỉ tí tẹo nữa tôi sẽ được bốc thăm. Và ở đây, trước cả khối, chứ không riêng 5B, tôi sẽ được các bạn tung hô nhiệt liệt!
- Các anh các chị có thích đi du lịch không? – Thầy giáo hỏi.
- Có, có!
- Thưa thầy có ạ! – Chúng tôi nhao nhao lên. Được đi dulịch thì còn gì bằng.
Chờ cho trật tự ổn định lại thầy hỏi tiếp:
- Vậy ai trong số các anh chị có thể đưa mọi người đi nào?
Im lặng.
Có mấy đứa ngoái nhìn tôi. Nhưng tôi làm sao có thể đưa chúng đi du lịch được, khi còn ngồi trên chiếc ghế băng này?
Thầy giáo nhìn tôi, mỉm cười “Chết nỗi! Thầy nghĩ là tôi làm được việc đó sao?”. Tôi vội cụp mắt xuống lo lắng. “Sắp gọi này, sắp gọi này”…
Thầy gọi thật:
- Anh Thái Văn Trừng, 5B! Mời anh lên đây.
Tôi đilên trong nhịp trống ngực đổ hồi như trống hộ đê.
- Em…thưa thầy…-Tôi định từ chối.
Song thầy kéo tôi lại gần, xoay người tôi lại phía các bạn, và bàn tay gầy guộc của thầy vuốt vuốt vai tôi rất âu yếm. Tôi hơi vững lòng. Nhưng cũng chưa hiểu rồi cái gì sẽ đến đây.
- Tôi xin giới thiệu với các anh chị, anh Thái Văn Trừng là một “cây địa lý” của5B. Về môn địa lý, anh Trừng làm tôi rất tự hào…Còn, hôm nay, anh Trừng sẽ làm cho các anh chị khác thấy, để trở thành một nhà hàng hải chân chính, người ta cần những gì!
Những tiếng vỗ tay vang lên rầm rộ. Tôi cảm thấy sung sướng vô hạn. Các bạn hoan hô tôi!
- Anh Trừng – thầy lại nói – giả sử thế này. Đây là một con tàu lớn, có nhiều phương tiện đại. Tất cả các bạn ngồi kia là hành khách, còn anh là thuyền trưởng. Trên người anh không phải là chiếc quần xanh với áo sơ mi cộc tay, mà là bộ quần áo của thuyền trưởng, màu trắng, có gù vai bằng kim tuyến. Đầu anh đội mũ kê-pi, chân đi giầy da không ngấm nước. Đó là giả sử như vậy. Anh có nhiệm vụ đưa một trăm bốn mươi hai hành khách kia đi vòng quanh thế giới!
Lại những tràng vỗ tay như sấm, lại tiếng la thét kích động. Và vút lên một tiếng còi mồm chói tai của thằng Vọng cầu thủ.
Tôi hiểu ra ý định của thầy và cũng hiểu rằng việc này tôi có thể làm một cách dễ dàng.
Thầy trao cho tôi cái thước trứ danh của thầy và ra hiệu bảo tôi trèo lên sân khấu.
Nếu bạn từng lên sân khấu, bạn sẽ biết cảm giác của tôi lúc này! Vừa hồi hộp vừa hãnh diện. Tôi tự nhủ mình hãy trẫn tĩnh. Thầy giáo nhìn tôi, nhắc:
- Kìa! Anh bắt đầu đi chứ! Bây giờ con tàu chúng ta đang ở cảng Hải Phòng. Đã đến giờ xuất phát.
- Thưa thầy, thưa các bạn…- Tôi mở đầu.
- Không! Không! – Thầy giáo xua tay – Lúc này anh đang là thuyền trưởng còn các bạn anh là hành khách!
- Các vị khách thân mến – Tôi nói và bật một công tắc. àung cảng Hải Phòng sáng lên, màu xanh lá cây – Bây giờ chúng ta xuất phát! Tôi sẽ đưa các vị đi vòng quanh thế giới theo hướng tây, hướng cùng chiều với một thứ gió từ 30 vĩ độ Bắc và 30 vĩ độ Nam thổi về xích đạo, mà các nhà hàng hải chúng tôi quen gọi là “mậu dịch phong”…Nhưng trước khi đến những đất nước, vùng biển xa lạ, chúng ta hãy ghé vịnh Cam Ranh. Đây là một vịnh lớn và kín…tót bậc nhất ở nước ta và cũng bậc nhất thế giới. Người ta đã gọi Cam Ranh là một kỳ quan của thiên nhiên đấy!
Sau câu nói, chúng tôi đã đến Cam Ranh. Đèn ở cảng Cam Ranh đã nhấp nháy, chứng tỏ điều đó…
Từ biệt Cam Ranh, vịnh biển thần tiên, tôi cho tàu vượt qua eo Mã Lai. Nhiều hành khách muốn tôi cho họ biết thành phố Xanh-ga-po ở chỗ nào. Tôi liền giảng cho mọi người rằng đó là một thành phố có hàng trăm cao ốc – một cái chợ buôn bán sầm uất của thế giới. Chúng tôi vừa đi vừa ngắm ấn Độ Dương êm ả. Vì còn phải đi đường dài nên chúng tôi chỉ ghé lại Xri-lan-ca một lát. Tuy vậy chúng tôi cũng đã có dịp uống nước dừa, đặc sản của “đất nước rực rỡ” này. Cái én – lúc này đã là nhà sử học chính cống – trỏ cho mọi người một công trình kiến trúc tuyệt đẹp gồm nửa quả cầu màu trắng đỡ một khối lập phương và một tháp nhọn màu vàng. Nhà sử học bảo đó là một trong những đa-gô-ba (mộ cổ), bên trong có hài cốt vua chúa hay nhà truyền đạo Phật… Chúng tôi vẫy chào hòn đảo ấy, vẫy chào cả lục địa ấn Độ cổ kính nơi có cây cột sắt tuyệt vời… Chẳng mấy chốc con tàu của chúng tôi chỉ còn cách bờ biển Trung Đông năm mươi hải lý. Bây giờ có hai lối đi. Một là vòng xuống phía nam, ghé qua nước Man-gát. Có thể mua một ít ca-cao ở đây, để dành uống dần. Sau đó đến mũi Hảo Vọng đầy sóng gió… Nhà thơ Thuật không thích đi lối đó. Anh ta kể truyện “Người thuỷthủ Xin-bát trong bộ “Một nghìn lẻ một đêm” và đòi ghé lại A-đen hoặc Cai-rô để thăm những người A Rập. Tôi thấy cũng có lý vì tàu chúng tôi cần lấy thêm dầu, mà đây là cái rốn dầu của thế giới, tốt quá đi chứ!
Con tàu vào Hồng Hải. Hường, nhà nữ sinh vật học cho hay rằng nước biển ở đây sở dĩ có màu đỏ vì trong đó có một loài tảo đỏ sống dày đặc. Qua kênh Xuy-ê chúng tôi vào Địa Trung Hải – cái nôi của một nền văn hoá rực rỡ. Vì  quá hâm mộ nước ý nên chúng tôi dừng lại ở đó để ngắm trời xanh và nghe những bản tình ca… Dân ý rất tốt bụng. Chia tay họ tôi không khỏi nhớ nhung…
Lại nhằm hướng tây đi tới. Chẳng bao lâu con tàu đã vào lãnh hải của Ma-rốc va Tây Ban Nha ở eo Zi-bran-ta. Chúng tôi đi giữa hai châu lục, và bằng mắt thường có thể trông thấy những dọi cát và cây cối của cả hai chân vì có chỗ eo biển chỉ rộng 14 ki lô mét!
Trước mắt tôi, đã là Đại Tây Dương, đại dương thứ hai trên hành tinh, nơi có dòng hải lưu nóng Gơn-xtơ-rim và dòng hải lưu lạnh Grô-en-lan nổi tiếng. ở đại dương này chúng tôi được ngắm bình minh và hoàng hôn đỏ thẫm. Một số người muốn được thấy băng giá vĩnh cửu nên yêu cầu tôi rẽ về phương bắc, nhằm Băng Đảo, hòn đảo lớn nhất địa cầu. Tôi cũng rất muốn mắt mình được chói ngợp trong màu băng giá long lanh. Nhưng bây giờ đang mùa xuân, mùa băng tan. Tôi không dám mạo hiểm. Vì có thể chúng tôi sẽ bị những núi băng trôi nghiền nát, như cối xay nghiền cà phê!
Tôi cho tàu lao nhanh. Chân vịt quạt nước sùng sục hết cỡ, phun về phía sau cả một dải bọt trắng xoá. Tôi vượt đại dương này trong  năm phút, vừa đủ để nói vài điều chủ yếu về nó. Phút thứ sáu, chúng tôi đã cập bến La Ha-ba-na. Trong đêm, thành phố rực sáng, lộng lẫy. ở hòn đảo Cu Ba này thì khỏi phải nói nhiều. Chúng tôi được ăn mía thả cửa, có thể ăn một cây, hoặc hai cây, tuỳ ý.
Trong khi nghỉ ngơi ở đây, tôi cho hành khách biết là sắp tới, chúng tôi đi vào vùng “tam giác quỷ” khét tiếng. Nghe nói đến “tam giác quỷ” nhiều người sợ vàng mắt. Nhưng tôi bảo với họ rằng không phải lúc nào qua đó cũng gặp nạn.
Trung phong xuất sắc của tội tuyển bóng đá quốc gia, anh bạn Vọng của tôi, năn nỉ tôi cho tàu đi dọc bờ biển Nam Mỹ. Anh ta muốn có dịp ghé Bra-xin hay ác-hen-ti-na để thi thố tài năng với các cầu thủ ở những “đất nước bóng đá” này. Được xem các cầu thủ loại nhất thế giới đã thì còn gì bằng! Song tôi thấy không thể chiều anh bạn. Là một nhà hàng hải có lương tâm và dày dạn kinh nghiệm tôi không thể đưa hàng trăm hành khách vào chốn nguy hiểm được. Ai mà biết, những gì sẽ xảy ra khi con tàu phải che lách trong eo Ma-gien-lăng ở chót cùng lục địa ấy!
Tôi quyết định đi qua kênh Pa-na-ma. Xin chào Cu Ba anh hùng, chào Đại Tây Dương đầy bí ẩn! Tạm biệt  nhé…
Và chúng tôi vào kênh, lần lượt vượt qua 25 cửa âu cảu đoạn đường 150 ki lô mét.
ở kênh này, nhiều người thấy bực mình: có những chỗ con tàu phải để cho hệ thống tời hai bờ kênh kéo đi như kéo một chiến xà lan hạng bét! Có ai đó kêu lên “Nừu vào tay tôi, tôi đã thiết kế kênh theo kiểu khác đi rồi!”.
Nhưng chúng tôi đã ra đến Thái Bình Dương, Biển mẹ! Chao ôi! Thái Bình Dương vĩ đại, kỳ tích số một của tạo hoá! Nhìn những con sóng vỗ bên mạn tàu, tôi cứ bâng khuâng tự hỏi, có con sóng nào ở đây đã từng vỗ vào bờ cát quê ta? Phải, có thể thế lắm chứ, dù cách nhau chiều rộng của Thái Bình Dương, nửa vòng quả đất!
Vì muốn mau về đến đích, cũng vì đã mệt mỏi, tôi cho tàu chạy với…tốc độ ánh sáng! Chớp một cái chúng tôi đã ở toạ độ 176 kinh độ đông – 25 vĩ độ bắc! Chính giữa đại dương.
Tôi định chớp một cái nữa để về đến Hải Phòng thì…xảy ra một sự cố ghê gớm, không ai có thể ngờ trước.
Thầy giáo già của tôi lên tiếng:
- Đồng chí thuyền trưởng, đồng chí có thể nói cho mọi người biết vì sao có cái tên Thái Bình Dương được không?
Tôi vui lòng giải thích ngay về cái tên đó và nói thêm:
- Nhưng Thái Bình Dương lại là đại dương hung dữ nhất! ở đây thường có sóng thần do núi lửa và động đất gây ra. Sóng thần có thể cuốn đi một khu phố hoặc một quả núi. Đối với nó, những con tàu chỉ là cái vỏ trấu! Bão biển cũng là tai hoạ thường gặp. Trong cơn bão, sóng có thể cao đến năm, sáu mét. Gặp vật cản, nó chồm lên tới ba mươi, bốn mươi mét!…
- Lúc này con tàu của chúng ta đang gặp một cơn bão kiểu ấy – Thầy giáo tôi nói – Gió thổi lồng lộn, sóng đánh bốn bề. Biển đang gào thét đòi nuốt chửng tất cả những gì nổi trên mặt nó. Số phận của con tàu và một trăm bốn mươi hai hành khách đặt cả nơi thuyền trưởng, thuyền trưởng hãy quyết định đi!
Tôi ra lệnh:
- Tất cả rời mặt boong! Tôi sẽ tìm nơi cho tàu ẩn nấp ở hòn đảo kia…
- Không! Đang đêm! Tất cả ngập trong bóng tối và cơn phẫn nộ của biển! Chẳng ai nhìn thấy gì hết! Thuyền trưởng làm sao biết có hòn đảo? – Thầy giáo lại hỏi.
- Em xác định được toạ độ, thưa thầy – Tôi nói và ở chỗ hòn đảo ấy loé lên một tia sáng! Rồi tắt ngấm. Cái bóng đèn pin ở đảo phía sau bản đồ cháy rồi. Mà cháy đúng lúc con tàu đang nguy ngập! Chán quá.
- Đó là đảo gì? – Tiếng thầy giáo lại vang lên sau lưng tôi.
- Đó là đảo…đảo…- Tôi ghé mắt vào gần tấm bản đồ. Nhưng trời hại tôi! Tên đảo viết bằng tiếng Nga…
- Đảo gì thuyền trưởng?
- Dạ, thưa…- Tôi lo sợ đến nghẹn ngào. Và tủi hổ quá chừng! Hơn một trăm cặp mắt đang nhìn vào tôi, trong đó có những cặp mắt chế giễu. Chỉ có một từ Nga mà cũng không đọc được! Tôi muốn bứt một tai mình ném xuống đất!
- Thôi! Không phải nói tên đảonữa! Đó chưa phải là sự trừng phạt lớn nhất đối với những anh thường xơi “gậy” ngoại ngữ đâu! Còn nhiều điều khó chịu hơn kia – Thầy giáo nói, vẫn cái giọng khàn khàn chậm rãi, nhưng tôi có cảm giác như đây mới là bão táp thực sự đổ xuống đầu tôi – Anh cho tàu ghé vào đó đi! Nhớ là xung quanh mịt mùng, không nhìn thấy gì hết. Số phận con tàu và hành khách đng trong tay anh, nhà hàng hải ạ!
Tôi nhớ ra con tàu của tôi có nhiều máy móc hiện đại.
- Em sẽ cho máy móc làm việc!
- Đúng!
Tôi lao vào khoang chỉ huy. ở đây, tất cả các máy báo động – nhấp nháy liên hồi. Tôi cũng chìm ngập trong cái màu đỏ dễ làm người hoảng hốt ấy. Gió đang mạnh lên. Trong khoang hành khách có những tiếng đồ dùng rơi vỡ loảng xoảng, tiếng người say sóng nôn oẹ. Tàu tròng trành dữ dội. Tôi nghe những tiếng răng rắc! Và tiếng nước chảy ồ ồ… Có lẽ một khoang nào đó đã thủng! Phải nhanh tay mới được!
Tôi định vặn một cái núm điều khiển nào đó để con tàu vào nằm yên ấm ở cái cảng tôi không biết tên. Nhưng phía sau tôi lại…vang lên giọng nói của thầy Lan:
- Muốn điều khiển được những máy móc hiện đại ấy anh phải biết tính toán sức gió, tốc độ sóng, sức nặng của con tàu…Anh phải biết làm những bài toán có đồ thị pa-ra-bôn và phương trình mũ… Nhưng anh có chịu học toán và lý đâu..
Tôi sững lại, không phải trong buồng điều khiển mà…giữa sân khấu. Cảm giác lo sợ và xấu hổ còn dữ dội hơn lúc nãy.
- Anh đã không tính toán được, không điều khiển được con tàu – Thầy giáo nói – Trong tai biến nhiều khi chỉ chậm một phút thôi, đã tan tành tất cả. Vì anh dốt toán nên con tàu đâm vào đá ngầm rồi đó. Nó bị xé tan ra hàng trăm mảnh! Tất cả hành khách và thuyền trưởng nữa đều bị hất lên đảo hoang. Rét mướt, tơi tả. Thảm trạng ấy anh phải chịu trách nhiệm. Nhưng người ta sẽ xử anh sau…Còn lúc  này, anh vẫn phải thi hành công vụ. Anh phải kiếm cái ăn, nuôi sống từng ấy con người chứ! Nhưng anh có còn đủ sức khoẻ để lê bước đi sau một cuộc hành trình dài và cơn bão biển đó không nhỉ?…Tôi biết là anh không chịu học môn thể dục…
- Thưa thầy em sẽ học và đủ sức khoẻ chịu đựng ạ. Tôi nói trong nghẹn ngào, tôi đã hiểu phần nào ý đồ của thầy.
- Phải, tôi tin anh rèn luyện thì chịu đựng được…Nhưng anh không chịu học môn sinh vật! Mà trên đảo toàn là cây cỏ dại. Có thứ ăn vào sẽ khoẻ người, bổ như sâm! Cũng có thứ chỉ nếm thôi cũng đủ ngộ độc…
Tôi đưa mắt nhìn cái Hường, cái con bé thích ghép cây, lúc này đã là một nhà sinh học trứ danh: “cứu tớ với!”. Nó hiểu ý tôi, nhưng lại nói oang oang:
- Mình bị say sóng và bị thương nữa! Trong hoạn nạn không chịu cứu giúp nhau lại bịa ra cái trò chết ngất. Tôi đành hứa với thầy:
- Em sẽ học môn sinh vật ạ!
Thầy khẽ gật đầu. Không khí lúc này thật trang nghiêm. Hình dong tôi thảm hại, có lẽ rất dễ chế giễu. Nhưng tất cả cứ im thin thít. Thậm chí đến thở bọn bạn tôi cũng thở nhẹ.
Bỗng thầy giáo lại lên tiếng, vui vẻ:
- ồ! Thuyền trưởng ạ, đây không phải là hoang đảo! Có người lại phía chúng ta kia kìa! Anh không biết ngoại ngữ chắc là chả làm cho họ hiểu cần phải giúp anh những gì…Nhưng thôi. Cứ cho là anh giỏi ngoại ngữ!… Những người tốt bụng ấy sẽ cho anh và hành khách ăn uống, thuốc men và những thứ anh yêu cầu! Thậ là may mắn. Đất trời trở lại bình an rồi. Một ngày rất đẹp, có nắng và biển xanh ngăn ngắt! Người đứng đầu hòn đảo này thật là dễ mến! Ông ta mời thuyền trưởng đến toả Thị sảnh nói chuyện. Sau khi thăm hỏi nhau rồi, ông ta muốn thuyền trưởng cho ông ta một khái niệm về đất nước thuyền trưởng, nước Việt Nam mà ông ta biết là ở bán đảo Đông Dương ấy… Cách tốt nhất là thuyền trưởng nói với vị chủ nhà mến khách quá trình lịch sử và văn học nghệ thuật của đất nước mình. Nhưng như vậy lại phải giỏi sử và thông hiểu văn học nghệ thuật chứ!…Ôi! Xấu hổ! Nếu không nói được về Bà Triệu, về Kiều, về Nam Cao…! Thế mà người ta sẽ đánh giá Tổ quốc anh qua anh đấy anh ạ!…Một thuyền trưởng không hiểu về Tổ quốc mình. Trời ơi!…Thà hết chìm dưới đáy biển còn hơn lâm vào tình thế ấy!
Tôi toát mồ hôi hột. Chân tôi tự nhiên run run. Tôi muốn khóc lên. Muốn làm việc gì thật dữ dội. Muốn rủa mình thật độc. Tôi đã biết  muốn thành nhà hàng hải người ta phải chuẩn bị cho mình những gì và chuẩn bị như thế nào rồi!
- Em…em…thưa thầy…- Tôi định thú nhận điều đó. Nhưng thầy giáo khoát tay ra hiệu không cần.
Thầy đứng dậy, chậm rãi đi về phía cửa nách, lên sân khấu. Thầy cầm lấy cái thước trứ danh từ tay tôi, nói nhỏ:
- Anh có thể về chỗ!
Tôi loạng choạng đi ra cửa nách. ở cái xó không ai trông thấy được, tôi đã lau trộm hai giọt nước mắt nóng hổi. Xuống ghế ngồi, mắt tôi đỏ hoe. Tất cả, một trăm bốn mươi mốt đưa bạn đều nhìn tôi. Nhưng không đứa nào tỏ ý cười cợt hoặc chế giễu. Chúng thông cảm với tôi…
ở trên sân khấu, thầy giáo già chống thước lặng lẽ nhìn tất cả học sinh thân yêu của thầy. Thầy đứng nghiêng nghiêng và chúng tôi thấy mái đầu bạc của thầy hơi rung rung trong một niềm xúc động sâu sắc. Thầy đã già quá, gầy và yếu. Lòng tôi xót xa vì thấy rằng qua bao nhiêu năm tháng, thầy đã mất bao sức lực để lo lắng cho tương lai của các thể hệ học trò, lẽ ra thầy phải được yên tâm, hoàn toàn yên tâm…thế mà chúng tôi, vẫn còn làm thầy phải lo lắng chưa nguôi…
- Các anh, các chị! – Tiếng thầy vang lên, lại càng rè hơn bất cứ lúc nào. Những âm thanh rè rè ấy cưa vào trái tim chúng tôi như một lưỡi cưa – Anh Thái Văn Trừng đã chứng minh cho mọi người thấy, muốn thành một nhà hàng hải chân chính, người ta cần thông thạo những gì! Còn các anh, các chị khác, những người muốn trở thành kỹ sư, bác sĩ, thợ tiện, lái máy cày, nhà vật lý, nhà thơ, hoa tiêu, nhà sinh vật, kế toán…thì sao? Câu trả lời đã rõ ràng, không thể thành người thợ giỏi nếu không biết vật lý, cũng như không thể trở thành nhà vật lý nếu không biết hoá học! Sau này mỗi anh mỗi chị chỉ phục vụ Tổ quốc bằng một nghề thôi, nhưng nhà trường vẫn phải dạy các anh, các chị cả mười môn học vì lẽ đó!…Tôi, một thầy giáo già đã gần bốn mươi năm trong nghề, đã dạy dỗ gần bốn mươi lứa học sinh như các anh chị…Xin có một lời khuyên: Các anh chị hãy suy nghĩ kỹ về những gì học được hôm nay!
Thầy dừng lại, bước xuống…
Bọn chúng tôi nhìn nhau như tất cả đều có lỗi. Khác với bất cứ buổi nào, lần này  chúng tôi ra về trong im lặng. Chặng riêng gì tôi, đứa nào cũng găm một ý nghĩ, một quyết tâm mới trong đầu!
Tôi cương quyết bỏ đi một  nửa cái nhịp điệu “mười và chín”, “gậy và ngỗng”! Tôi chỉ cần nửa trên “mười và chín” thôi!
Và tôi đã làm như thế!
Tôi mơ ước khi tôi đã được mặc y phục thuyền trưởng thực sự, tôi sẽ đến bên thày, cung kính mời thầy lên con tàu của tôi, đi một vòng quanh thế giới rồi thưa:
- Em trở thành một nhà hàng hải chân chính là nhờ công ơn dạy dỗ của thầy!
Chắc là thầy sẽ rất vui. Thầy sẽ nói một lời cảm ơn vì thầy vẫn có thói quen cảm ơn những trò mang lại cho thầy niềm vui.
Đăng nhập để trả lời
0
Lâu đài hoang phế
 
Ngày tôi về công tác ở tỉnh xa, Hoàng rủ ra quán bia hơi làm bữa chia tay. Được vài chầu, hình như nhớ ra điều quan trọng, Hoàng vỗ đùi bảo:
- Anh vào trong ấy nếu rỗi tìm đến anh Tú nhé. Đó là bạn hồi đại học của tôi. Nghe nói ông ta đang làm trưởng phòng kế hoạch của một sở trong tỉnh. Vui phải biết.
Hoàng nháy mắt hứa hẹn nhiều sự rôm rả. Sau đó vui miệng Hoàng kể cho tôi nghe về Hà Văn Tú. Thì ra đó một ông bộ đội đi học. Lớn tuổi, lắm kinh nghiệm trường đời, Tú thường kể chuyện quan hệ trai gái một cách trắng trợn làm cho bọn sinh viên chíp hôi vừa ngượng chín người vừa thích thú. Đổi lại, chúng làm hộ bài cho “anh giai” để “anh giai” có cái bằng tốt nghiệp nhẹ nhàng. Sau đó Tú được đi Liên Xô một thời gian nhưng không thành phó tiến sĩ, cũng không có của nả gì đem về. Gặp lại lũ nhóc ở trường cũ, anh khoe vú con gái Nga to thế này, lông lá nó thế này, nó giãy dụa thế kia!
Tôi bảo:
- Ông ấy học hành như thế thì làm ăn thế quái nào được, lại còn kế hoạch nữa!
Hoàng giảng giải:
- Anh chớ lo. Kế hoạch thời bao cấp có nghĩa là phân phối hàng hóa vật tư về các nơi, nếu thừa thiếu thì lại làm lại. Còn kế hoạch bây giờ lại càng nhàn, vì thị trường tự nó lo liệu lấy. Tôi sợ ông ấy làm việc khác mới khốn khổ.
Tôi về địa phương, bận lắm việc, quên phắt ông bạn Đinh Văn Tú của Hoàng. Nhưng buổi tối nọ, tôi đến ăn cơm nhà một ông giáo, bạn tôi. Vợ ông ta là Biển, một kỹ sư hóa thực phẩm, tôi cũng đã quen từ lâu. Đó là một người đàn bà giỏi giang nghề nghiệp, nhanh nhẹn, tháo vát và khá ác khẩu. Trong bữa cơm Biển luôn luôn kể về cái công ty sản xuất thực phẩm nơi cô làm việc. Tôi sẽ chẳng chú ý làm gì, nếu cô không gọi tên người giám đốc: Đinh Văn Tú.
Thế là chợt nhớ ra ông bạn của Hoàng, tôi chống đũa hỏi, có phải cái ông tôi định tìm đó chăng?
Biển trả lời rất nhanh.
- Chứ còn ai vào đấy nữa bác. Lãnh đạo kinh khủng lắm bác ạ. Lỗ liểng xiểng. Lại còn biếu xén đút lót khắp nơi. Lại còn cho là mình năng động. Lại còn… Năm nay có khi bọn em chết đói.
Qua lời kể của Biển tôi hình dung cái xí nghiệp đang trên đà đi xuống. Ngày xưa nhu cầu tiêu dùng không cao, nhưng bên ngoài không ai được tham gia sản xuất thì sản phẩm của xí nghiệp đắt như tôm tươi. Dẫu là cái bánh dai ngoách hoặc cứng như đá, hoặc lên mùi mốc meo… vẫn là của quý. Phải chờ phân phối.
Cái thời ấy qua đi thì nhờ có “hiệp định” mà xí nghiệp đứng vững, thậm chí còn phát triển hơn. Cái hiệp định nói ở đây là ký kết giữa ta với Liên Xô và các nước Đông Âu. Chúng ta ăn viện trợ của người ta, xây các nhà máy, các nông trường, các vùng cây công nghiệp và thanh toán bằng sản phẩm trong đó có thực phẩm chế biến. Dân Liên Xô nghèo, ăn uống dễ dãi. Bao nhiêu hàng của ta xuất sang đều xơi tất, cấm có chê. Mà có chê thì cũng cứ phải ăn, vì theo hiệp định mà. Còn hơn là không đòi được nợ.
Rồi hệ thống Đông Âu và Liên Xô tan rã. Hàng hiệp định không xuất được nữa. Lúc này thị trường nội địa đã bung ra, lắm kẻ cạnh tranh. Nào hàng ngoại giá đắt nhưng mà tốt, đẹp. Nào hàng tư nhân tuy có kém chất lượng một tí nhưng giá rẻ, ê hề. Giám đốc cũ thấy thế nguy không phương cứu chữa, bèn tự cứu lấy thân bằng cách chạy chọt, chuyển về làm ở cái ban nghiên cứu kinh tế của tỉnh, nhàn thân lại được cái tiếng oai vệ.
Tổ chức vừa đánh tiếng tìm người thay thế thì Đinh Văn Tú lao đơn.
Nào đã tốt nghiệp đại học, đã tu nghiệp ở nước ngoài, nào tuổi đang độ chín, nào đã kinh qua chiến đấu, nào đảng viên lâu năm… Tú chẳng thiếu một tiêu chuẩn nào cho một giám đốc của một xí nghiệp. Hơn nữa, cái phòng kế hoạch ở sở cũng muốn đẩy anh đi cho nhẹ nợ.
Thế là anh trở thành giám đốc. Biển ca tụng tân giám đốc:
- Ông ấy làm giám đốc mấy tháng nay rồi mà xí nghiệp cứ lẹt bà lẹt bẹt. Mà hay văng tục, hách dịch phải biết.
Tôi ngồi nghe một lô những chuyện mà theo Biển đó là biểu hiện hách dịch, ngu dốt của Tú. Vốn biết cô ác khẩu, nóng nẩy mà lòng dạ thẳng ngay, tôi nói đùa:
- Giám đốc nào mà chả hách dịch? Nhu nhơ, các cô lại chẳng đòi làm mẹ người ta sao?
Biển phá lên cười:
- Ấy là em nói như vậy, vì sốt ruột lắm anh ạ. Hôm qua ông ta gọi em lên bảo: “Mi là kỹ thuật, mi phải chịu trách nhiệm về lỗ lãi của xí nghiệp”. Anh bảo thế có ngang không?
… Mấy hôm sau tôi nhận được một cú điện thoại. Người ở đầu dây bên kia xưng tên là Đinh Văn Tú. Thì ra Biển đã nói chuyện tôi với giám đốc của cô. Anh Tú hẹn tôi đến xí nghiệp chơi. Lần đầu tiên gặp nhau anh đã bỗ bã:
- Chú mày là bạn của thằng Hoàng thì tao coi như là bạn của tao.
Anh dẫn tôi đi tham quan mấy ban phòng với đồ đạc ọp ẹp, mốc meo với những con người uể oải ngơ ngác, qua mấy phân xưởng nhớp nháp mùi đường vương vãi lên men chua lòm. Và chặng cuối cùng là quán thịt chó đầu phố. Anh gọi các món rồi chúng tôi vừa ăn vừa chuyện.
- Chú mày đã thấy cơ ngơi của tao rồi. Khó khăn lắm, toát mồ hôi hột. Đ... mẹ lão Sần chứ, (Sần là tên ông giám đốc tiền nhiệm), ngu như chó, ỉa vãi ra, giờ anh mày phải dọn.
- Nghe nói anh xung phong làm giám đốc cái xí nghiệp đang tụt dốc này vì khoái làm quan hả?
- Ê chú mày chỉ nghe bậy bạ – Anh nhếch mép cười vẻ khinh đời – Thẳng đ… nào chả thích làm quan. Tao muốn làm ăn lớn, tung hoành cho thiên hạ biết tay. Mày phải giúp tao nghe chưa, sẽ có màu tử tế.
Tôi vội thanh minh:
- Anh Tú ạ, tôi không phải là dân kinh doanh nên không biết gì về lĩnh vực này cả, làm sao có thể giúp anh?
Tú cười ha hả rồi đả cạn một chén rượu trắng. “Khí thế” lên cao, anh nói oang oang:
- Muốn làm ăn lớn phải có chí và có vốn. Chí thì tao có thừa, vốn đang thiếu. Chưa tìm cách gì để có được vốn. Không phải vài chục, vài trăm triệu vớ vẩn mà hàng tỉ, chú mày hiểu chưa! Khốn nạn thân tao vừa mới bắt mối được với thằng ngân hàng cổ phần Nam Phố thì nó lại đi tù mất. Chậm một tí nữa là tao đã vay được kha khá.
Tôi nói:
- Đó là phúc cho anh. Nếu anh vay được tiền của người ta chắc giờ này đang ngồi trả lời thẩm vấn của mấy chú cảnh sát kinh tế.
Anh à lên lại cười ha hả:
- Ừ thì nói thế để chú mày biết. Ông anh mày có ngu lắm đâu. Tao đang cho làm dự án đầu tư khoảng sản trăm ngàn đô. Chú mày hay đi đây đi đó thấy thằng nào có khả năng đầu tư thì hô một tiếng nha! Nếu có triệu đô tao sẽ cho thiên hạ biết tay.
Thấy anh bốc quá, tôi vội kìm bớt lại:
- Dụ được người ta bỏ tiền cho mình xài đâu có dễ. Có những dự án mãi mãi chỉ là dự án thôi, vì không khả thi, không thuyết phục, không sinh lãi. Cái dự án của anh thế nào?
Anh trợn mắt:
- Chú mày còn hỏi thế nào à? Ở trong đầu anh thì toàn là vàng nghe chưa! Hết ý nhá!
Rồi anh kể cho tôi sơ qua về cái dự án của anh. Tôi chẳng hiểu về kinh tế nhưng nghe cứ như trò đùa mà không kìm được những cái lắc đầu sợ hãi. Anh cười khành khạch, ra vẻ bề trên rộng lượng:
- Thôi không hiểu thì cứ uống đi. Rôi anh kiếm được tiền cho chú mày coi! Bảo thằng Hoàng chuẩn bị, tao hô một tiếng là phải tiếp cận các đại ca. Gái có công chồng chẳng phụ. Nghe chưa?
Hoàng là cán bộ cấp vụ, một nhân vật đang được bề trên tin cậy. Anh Tú hy vọng nhiều ở hắn ta.
Một đêm tôi lợi dụng điện thoại cơ quan chuyện vãn với Hoàng. Giữa chừng câu chuyện, chúng tôi nói về cái dự án của Hà Văn Tú. Hoàng cười ngất: “Cái dự án đó anh ấy đã nhờ tôi giới thiệu với các công ty nước ngoài, nhưng tôi không dám. Vì nó dở hơi. Anh nên khuyên anh Tú đổi hướng khác đi”.
Nhưng ai mà khuyên được người đang lên đồng? Tôi nói ý của Hoàng,  anh đỏ mặt mắng như mắng con:
- Thằng nhóc, tao sẽ làm cho nó xem!
Mấy tháng sau, vào dịp tổng kết cuối năm, tôi nhận được cái giấy mời của xí nghiệp anh Tú, mời đến dự lễ mừng công đón nhận danh hiệu lá cờ đầu toàn ngành. Tôi hết sức kinh ngạch, cái xí nghiệp ấy mà lại là lá cờ đầu? Nhưng đó là sự thật.
Cổng xí nghiệp căng cờ hoa biểu ngữ đỏ chói. Quan khách đến dự rất đông. Cũng rất đông các nhà báo. Trước hàng trăm người với các loại máy ghi âm, máy ảnh, camêra, Đinh Văn Tú đọc một bản báo cáo hùng hồn về kết quả sản xuất kinh doanh. Nào doanh thu, nào lãi, nào mức sống của cán bộ công nhân viên, nào chấp hành chỉ thị này, thực hiện nghị quyết khác. Không hiểu sao anh có thể bươi từ cái ổ ẩm thấp hôi hám đó những số liệu, những ngôn từ hay ho đến thế? Bịa trắng trợn mà mọi người cứ vỗ tay rào rào, lại có cả đại biểu cấp trên đứng dậy bắt tay ôm hôn, trao cờ rạng rỡ!
Sau buổi lễ, cả đoàn rồng rắn đến khách sạn.
Bàn ăn phủ khăn trắng tinh tươm, với những món đặc sản đắt tiền. Quan khách còn được túi quà mang về. Tùy từng loại khách mà tặng quà. Cánh nhà báo kháo nhau: “Ông Tú chịu chơi”. Biển nói với tôi: “Cái túi quà ấy là bánh kẹo ngoại dán nhãn xí nghiệp. Còn khách sạn thì ăn chịu. Bọn em không hiểu ông Tú nghĩ thế nào mà lại làm như thế?”.
Hỏi ra thì tôi được biết khi sắp vào mùa tổng kết, ban thi đua ra sức chọn lá cờ đầu toàn ngành. Các công ty xí nghiệp trong ngành không ai dám nhận. Đang lúc làm ăn nhộm nhoạm họ sợ ôm vào cái danh hão sẽ bị để ý, thuế má, nộp ngân sách, hàng ngàn thứ đóng góp khác đều phải tăng. Ngoài ra còn bị dòm ngó rầy rà. Khi Đinh Văn Tú đứng ra nhận, mọi người bụm miệng cười, ngỡ là thua lỗ đau quá, anh ta nhận đểu cho bõ tức. Ai ngờ Tú làm thật. Người ta cho là anh chập mạch, anh điên. Muốn điên được điên. Thôi thì cho nó, nhất trí một trăm phần trăm.
Không ai biết rằng đó là một âm mưu, một cao kiến siêu đẳng.
Sau khi tổ chức đón danh hiệu lá cờ đầu một cách tưng bừng, Tú xin đổi xí nghiệp thành công ty (cho nó theo kịp thời đại), rồi lao dự án đến từng cửa, đề nghị đầu tư. Lần này không thèm chờ bọn nước ngoài mà xin ngay ngân sách nước mình. Khi Đinh Văn Tú hội đủ các chữ ký, rút trong ngân quỹ một đống tiền, các đơn vị bạn mới ngã ngửa người.
Họ vác đơn đi kiện, nhưng các cụ bề trên đều bảo, nó là đơn vị lá cờ đầu nên phải đầu tư cho nó để giữ phong trào. Các chú mày về phấn đấu đi, nếu thành là còa đầu rồi cũng được đầu tư. Thế mới đểu. Quả là thằng làm ăn gớm mặt láu cá.
Bữa ấy anh Tú lại gọi đến tôi, nhưng không phải quán thịt chó bình dân góc phố mà nhà hàng đặc sản có khăn thơm lau tay, có các em ngồi chầu bên cạnh. Anh vê bộ ria mép hít le, cười mãn nguyện:
- Chú mày thấy chưa? Tớ đã nói là làm… Cụng ly mừng thắng lợi.
Anh oang oang tuyên bố về dự định làm ăn lớn của mình rồi xuống giọng hỏi:
- Chú mày bảo tớ có nên họp báo không?
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
- Anh họp báo làm gì. Đã làm được gì đâu mà anh rùm beng lên. Nhỡ may cánh nhà báo tọc mạch đến công việc của anh thì sao?
- Chú mày khờ lắm, không hợp với kinh tế thị trường. Tớ họp báo để tớ nói chứ không phải để cho chúng nó hỏi. Giống như Tổng thống Mỹ ấy, dọc một bản tuyên bố rồi giải tán. Mà tớ nói về tương lai cho chúng nó tha hồ tuyên truyền. Cuộc họp báo diễn ra đúng như thế.
Dăm bữa nửa tháng sau ngày họp báo, báo chí địa phương tới tấp nói về Đinh Văn Tú. Anh được ca ngợi như một giám đốc năng động, có tầm nhìn xa, đầy triển vọng, là tấm gương cho các doanh nghiệp khác học tập.
Có tiền đầu tư để phát triển sản xuất, anh Tú chơi ngay một con xe Lada, loại xe khá xịn lúc bấy giờ, quăng chiếc “Ru-ma-ni vừa đi vừa đẩy” cho phân xưởng sản xuất, chuyên đi chở vỏ thùng. Cái đòn tuyên truyền vô cùng lợi hại, chẳng biết từ lúc nào, Đinh Văn Tú được coi như một nhà doanh nghiệp tầm cỡ của địa phương, mặc dù thực tế anh chưa làm ra được một xu. Anh ngồi trong Lada bon bon đến các giám đốc, các vị lãnh đạo tỉnh, chơi thân bỗ bã như người nhà.
Thời kỳ này anh mãn nguyện lắm, thần thế lắm. Anh dám làm mọi việc.
Anh phịa ra việc lắp đặt một dây chuyền sản xuất cực kỳ hiện đại, theo như mấy bài báo, theo lời cả mấy cụ bề trên, sản phẩm có thể đánh bại các loại hàng nhập của các nước tiên tiến, đòi ngân hàng cho vay tiền rồi trút hết ra xây trụ sở thật lớn, mà anh gọi là lâu đài. Giở bản vẽ tô màu xanh đỏ lòe loẹt ra anh chỉ cho tôi:
- Tầng dưới, mặt phố, cho thuê cửa hàng. Tầng hai là nơi làm việc của văn phòng công ty. Tầng ba, tầng bốn, tầng năm, tầng sáu, tầng bảy là khách sạn. Tầng thượng, cà phê. Chỉ bán đêm cho các anh chị khoái nhau đến tha hồ giải quyết, dưới trăng sao. Sướng không?
Lâu đài nhanh chóng mọc lên, hai, ba, rồi bốn tầng… nó đồ sộ án ngữ cả một dãy phố. Trong lúc vôi cát xi măng đang tới tấp đưa đến, anh Tú cho ngay chiếc Lada về hưu, nhặt luôn chiếc Toyota mới kít, kịp bắt vào trào lưu chơi xe Nhật của các giám đốc.
Thấy anh Tú làm tợn quá, mấy “thằng cha rỗi hơi” biết tí chút về chính sách chế độ, đâm đơn thắc mắc. Nhưng anh đã làm cho các cụ lớn thấy anh là người sống rất tình cảm, biết điều với các cụ, rất được các cụ bà sủng ái, lại có máu làm ăn lớn, nhất định không phụ lòng các cụ. Thay vì phạt roi, bởi anh đã sử dụng vốn sai mục đích, người ta quyết định cho anh được xây dựng. Phải ủng hộ người bạo dạn. Nếu những ý đồ lớn mới nảy ra đã bị những cái đầu cổ hủ giập tắt thì bao giờ chúng mình mới tiến bộ? Lý luận của các cụ như thế. Thế là chỉ trong một đêm, Đinh Văn Tú đã biến hàng tỉ tiền nợ thành tiền ngân sách nhà nước cấp.
- Chú mày thấy anh chưa? – Gặp tôi ở một cuộc học Nghị quyết (anh lại cũng đã được gọi đi học nghị quyết cùng cán bộ chủ chốt tỉnh nữa, đi đi lại lại trong hội trường lớn, cứ như cán bộ chủ chốt xịn – điều mà các giám đốc khác không dám mơ), anh gõ gõ lên đầu bảo – nên sự nghiệp hay không là ở cái đầu này này. Chỉ tháng sau là công trình của tao xong phần xây dựng. Tao sẽ trang bị nội thất xịn, biến nó thành cái khách sạn hạng nhất ở tỉnh này. Bây giờ là thời kỳ mở cửa, nước ngoài sẽ kìn kịt kéo vào đòi đầu tư! Chúng cần chỗ ngủ, chỗ chơi. Thì đây, lâu đài của ông Đinh Văn Tú. Cần đặc sản có đặc sản, cần gái có gái. Có bao nhiêu tớ vơ hết, chú mày hiểu chưa? Bọn Công ty du lịch sẽ trơ mắt.
Tôi ngơ ngơ hỏi anh:
- Nhưng mà trang bị cho cái lâu đài của anh, theo như anh nói thì hết cả một núi tiền. Vậy thì anh kiếm ở đâu ra?
Anh Tú cười độ lượng:
- Chú mày ngốc lắm, trước kia tay không anh còn bắt được giặc, huống là bây giờ. Này, anh nói cho mà nghe, anh sẽ vay ngân hàng… sau đó…alê… hấp!... Lại hóa phép thành nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Hóa phép thành tiền chùa, cứ thế mà tiêu.
Tôi thấy kinh hãi cái cung cách làm ăn của anh, nhưng là dân ngoại đạo, không hiểu mô tê gì nên không dám ho he. Hẳn là thấy mặt tôi thộn ra, anh vỗ vai:
- Chú mày cứ yên trí. Các cụ cũng mong mình chơi thế để các cụ có lộc mà sống, chứ ba đồng lương nhà nước thì làm sao béo đỏ ra được?
Thế rồi anh Tú cứ bài sẵn mở ra, anh vay tiền ngân hàng, toàn là vay ngắn hạn, để trang bị nội thất cho cái lâu đài của anh. Rặt đồ ngoại tậu từ Âu Mỹ. Chẳng biết giá cả đắt rẻ ra sao. Người bán, người mua, người môi giới, người duyệt chi... đều bóng nhẫy như nhập ngoại!
Nhưng anh không biết lời cổ nhân: “Tao vật đố kỵ toàn”, nghĩa là trời không cho cái gì hoàn mỹ. Vậy thì ý đồ của anh cũng không thể được hoàn mỹ.
Chẳng bao lâu, công việc trang bị lâu đài của anh đang dở dang thì ngân hàng đã gửi trát đến đòi nợ. Anh Tú chạy đến các cụ bề trên xin “hóa phép” thành ngân sách nhà nước, nhưng không hiểu sao cụ nọ cứ đùn đẩy cho cụ kia, có cụ chỉ gật gừ rồi để đó. Mọi sự chạy chọt cửa trước cửa sau đều không kết quả. Trong khi anh vắt óc tìm nguyên nhân cơn cớ chi lần này các cụ lại lạnh nhật với anh như thế thì lãi mẹ đẻ lãi con, nợ nần ngày càng chồng chất…
Bữa nọ có thằng cu cán bộ ngân hàng đến kiểm tra công việc kinh doanh của xí nghiệp và tình hình sử dụng vốn vay. Anh đã cho quân nhét vào tay hắn một phong bì dày cộp nhưng mặt hắn cứ lạnh tanh khi phán rằng nếu xí nghiệp không sớm nộp tiền cho ngân hàng thì sẽ bị phong tỏa tài khoản. Hắn ra vẻ đau khổ với anh:
- Thực tình em muốn giúp bác nhưng không còn cách nào cả. Bề trên vừa mới chỉ thị phải quản lý thật chặt các nguồn vốn. Đã có một số cán bộ ngân hàng bị làm thịt vì lơi lỏng chuyện này. Mà chúng em thì chưa muốn chết, bác thông cảm cho.
- Tao sẽ đến gặp Giám đốc Ngân hàng?
- Thì chính sếp bảo em đến đây làm riết róng vào mà lị.
- Trước đây ông ta cứ giục tao vay, sao bây giờ lại giở quẻ thế?
- Mỗi thời mỗi khác, bác là dân kinh doanh lão luyện bác còn lạ gì nữa.
Tuy đang bực mình nhưng được khen là dân kinh doanh lão luyện anh Tú cũng thấy phổng mũi. Anh trỏ vào mặt mình hỏi thằng ngân hàng:
- Chú mày thấy tao có phải là thằng mất nghiệp đến nơi rồi không?
Thằng cu ngân hàng chưa kịp trả lời thì anh đã phì một bãi nước bọt:
-Đ.mẹ! Chỉ khó khăn tí thôi. Chú mày mà giúp tao vượt qua khó khăn này, tao không quên đâu.
- Thực là em chịu chết. Đằng nào bác cũng phải trả nợ.
- Đảo nợ được không? Chú mày bàn với giám đốc cho tao vay món khác, đập ngay vào đấy.
- Nhưng ông bác phải có gì thế chấp, đất đai, nhà cửa chả hạn…
- Cái văn phòng Công ty đang xây được không?
- Văn phòng này là tiền ngân hàng chứ đâu phải tiền của bác?
- Nhưng tao đã vay thì coi như tiền của tao chứ?
- Bác nói nghe cũng được. Nhưng sao bác lại không nghĩ đến mấy dãy nhà kho ở gần bờ sông nhỉ? Thị trường đất đai đang sốt đùng đùng. Hai dãy nhà kho với các sân phơi rộng mênh mông để vương vất từ thời bao cấp. Chỗ ấy mà bán đi thì thừa sức trang trải mọi thứ.
- A… đây rồi. – Anh Tú reo lên, đúng như kiểu ông bác học Ac-si-met ngày xưa – có thế sao mình không nghĩ ra nhỉ. Ngu, ngu, ngu!... Khá khen cho chú mày!
    Tên ngân hàng chỉ giáo:
- Chỗ ấy bác có thể chia ra làm tám chục lô đất. Mỗi lô sáu mươi mét vuông, bán rẻ thối mỗi mét năm chỉ, cũng có ngay 2.400 cây vàng. Trừ đầu trừ đuôi, cũng còn 2.000 cây.
- Chú mày nói đúng. Nhưng làm sao chú mày biết tường tận đến thế?
- Bọn em phải nắm vững để tham mưu cho bác chứ.
Anh Tú cười khành khạch:
- Thằng này đểu, xỏ lá, ba que! Mày có âm mưu từ trước mới xui sếp mày đòi nợ tao phải không?  Đúng là loài mất dạy! Được lắm, từ nay tao kết nạp làm đệ tử, cùng làm ăn. Ha, ha…Đi ngay, đi ngay!
Anh lôi thằng tân đệ tử ra xe, phóng như bay đến bãi biển có chỗ tắm tiên nổi tiếng “trác trụy”!
Thế rồi cái khoảnh đất ấy được san mặt bằng, chia lô, quy ngay thành tiền. Ngân hàng làm thủ tục cho Tú thế chấp, đảo nợ, lại còn vay thêm được mấy trăm triệu nữa. Liền đó số đất được rao bán. Một số quan chức được phần tốt, giá mềm. Nhiều người trong số họ, không thèm biết mặt đất đai, sai Tú sang tên ngay cho người khác có nhu cầu sử dụng, kiếm chênh lệch ngon lành. Vì thế việc của anh Tú làm, nhiều người biết là sai trái, song tất cả êm re.
Có tiền rồi anh Tú nghe các quân sư, bay vù sang một nước tây Âu, tìm đối tác làm ăn. Sau vài tháng thưởng thức các loại rượu ngon, gái đẹp anh mua về một dây chuyền sản xuất được giới thiệu là tốt nhất, hiện đại nhất thế giới. Nhưng vì nó hiện đại quá, nhất là công suất lớn quá, về nhà chỉ chạy được dăm bữa là hết veo nguyên liệu, lại phải dừng. Mấy tháng sau, cho chạy lại thì không sao trơn tru nữa. Chạy một lúc nó lại ì ra ăn vạ.
Dư luận ầm ĩ về việc anh Tú mua phải máy dởm. Anh văng tục: “Đ… mẹ những đứa ghen ăn tức ở, chúng nó ngu si kỹ thuật biết cái mẹ gì là mới với cũ. Tao thách châu chấu đá xe đấy!” Quả nhiên, chỉ dăm bữa nửa tháng, cái vụ “dây chuyền hiện đại” bị dẹp sang một bên, bởi rất đúng lúc, anh công bố lâu đài của anh đã hoàn thiện. Anh tổ chức một bữa khánh thành theo kiểu “thông xe kỹ thuật” chưa từng có, với đội ngũ những người phục vụ thuê từ thủ đô về. Các quan chức được một ngày đập phá tưng bừng, dân chúng lác mắt. Tôi chỉ nghe nói đến cuộc khai trương đó chứ không được dự, bởi vì dịp đó, tôi đã chuyển về làm việc ở thủ đô, trong cái viện nghiên cứu khoa học lặng lẽ của tôi hiện nay.
Sau đó dăm ba tháng, có dịp công tác qua, tôi ghé thăm anh Tú. Lâu đài của anh vẫn chưa hoàn chỉnh. Nghe đâu còn phải chờ lắp thêm một thiết bị gì đó mới đón khách được. Anh hét quân bố trí cho tôi một căn phòng trong khách sạn của người khác. Tôi nhìn thấy những vết bụi mỏng trên bàn ghế, mới hay khách sạn khá vắng khách, lạnh lẽo. Phải, gì mà không lạnh, không vắng. Cái tỉnh tuy lớn nhưng chưa thu hút được nhiều nguồn đầu tư, khách qua lại chẳng bao nhiêu. Dân sở tại thì ai động rồ mà kéo đến thuê ở! Thế mà anh Tú xây đồ sộ, trang bị đắt tiền, kiểu này vỡ như chơi!.
Khi tôi nói lên nhận xét của mình, anh cười khà khà:
- Chú mày có lòng lo cho anh là tốt. Nhưng khỏi cần. Anh nói cho chú mày biết nhá, anh phải làm trước để đón cơ hội đầu tư. Trâu chậm uống nước đục, người chậm cực thân, hiểu chưa. Anh đây phải chạy trước. Rồi đây nhất định tỉnh mình còn mở rộng cửa làm ăn với nước ngoài. Bọn Đài Loan đang khảo sát làm nhà máy xi măng, bọn Pháp đang muốn xây dựng cảng, bọn Nhật sẽ mở một nhà máy chế biến măng… Anh hỏi chú mày, chúng nó vào đây sẽ ngủ đâu? Ở cái khách sạn hôi như ổ chó này à? Lại còn chơi nữa. Phải có tắm hơi, mát – xa, gái gú cho chúng giải sầu…
Anh nói như cái máy, như người mộng mị, với những kế hoạch như trò chụp giật. Khi hỏi đến nghề chính của công ty anh, anh tặc lưỡi:
- Cái trò vặt ấy chú mày quan tâm làm gì…
Tôi chỉ biết về cái phân xưởng ấy qua lời Biển, cô vợ ông giáo bạn tôi. Biển kể:
- Cái dây chuyền ông ấy mua ở tây về đem bán cho khu gang thép rồi. Mười cái xe chở sắt vụn kìn kìn. Công nhân ngao ngán lắm, lương cơ bản cũng không đủ. Nợ nần chồng chất, mỗi tháng trả hàng trăm triệu tiền lãi ngân hàng. Cán bộ kỹ thuật chuyển đi gần hết. Em cũng sắp chuyển sang nhà máy khác rồi. Ông ấy (anh Tú) bảo chuyển hết đi càng nhẹ nợ, để có chỗ ông ấy đưa dám 5C (con cháu các cụ cả) vào làm. Lại muốn các cụ mở kho nhà nước trả nợ. Trần đời em chưa thấy ai làm ăn như ông Tú nhà anh! Anh bảo ông ấy từ chức đi, may ra cứu vãn được tình thế, chứ để quá đi nữa, chết không kịp ngáp.
Tôi về Hà Nội thuật lại cho Hoàng những gì mình đã nghe, đã thấy ở ông “anh giai” của Hoàng. Cậu ta lắc đầu kinh sợ, vội gọi điện thoại cho anh Tú, định khuyên anh hãm phanh gấp gấp không thì chết. Chưa kịp nói hết ý đã bị anh mắng xối xả. Tất nhiên là anh mắng theo kiểu bề trên thân tình. Nhưng qua đó cũng thấy là không thể lay chuyển ý chí của anh.
- Thôi, không thể nói được – Hoàng bảo – không sớm thì muộn, người ta cũng xử lý.
Quả như lời Hoàng.
Một hôm, tôi và Hoàng đang ngồi uống trà với nhau ở nhà Hoàng chợt một người đột nhiên xuất hiện. Lùn, mập, bộ ria đen lấc cấc… đó chính là Đinh Văn Tú. Đúng là anh Tú, chỉ có thần sắc không được sáng sủa, xem như là của một người đang lâm nạn. Vừa bước chân vào nhà, anh Tú đã ầm ĩ:
- A… Tóm được cả hai thằng đây rồi. Tao có việc cho chúng mày đây.
Hoàng mời anh ngồi, rót nước, nhẹ nhàng hỏi:
- Có việc gì thế anh?
- Việc của tao mà chúng mày không biết à?
Tôi và Hoàng ở người nhìn nhau. Sau rồi Hoàng nói:
- Anh có hàng trăm việc quan trọng, đàn em làm sao biết hết?
- Lũ khốn nạn, lũ mất dạy, lũ ăn cháo đá bát… Phen này tao giết chết hết.
Đầu tiên tôi phát hoảng, cứ tưởng anh chửi bọn chúng tôi về cái tội gì đó. Sau rồi mới biết cái lũ gì gì ấy, chính là các cụ, là quan chức của tỉnh anh…”.
Cái lũ ấy vừa mới cho anh thôi chức giám đốc công ty, thay vào đó là một thằng khác! Cho nên anh xách ca-tap lên trung ương kiện lại. Anh đến gặp Hoàng để tâm sự, cũng là để may ra với cái chức Vụ trưởng, Hoàng có thể nhúng tay vào can thiệp cho anh. Anh ngồi kể một lô một lốc những chuyện hay của anh, chuyện dở, chuyện hèn của thiên hạ, rồi quăng lên bàn một tập đơn kính gửi đến tất cả các vị lãnh đạo, các cơ quan đoàn thể Trung ương.
- Đó, hai thằng đọc đi. Nhất là thằng Hoàng, mày gần gũi các cụ Trung ương, mày phải ra sức tác động. Lũ mất dạy, lũ khốn nạn, lũ…
Mặt anh đỏ bừng bừng, đầy phẫn khí. Xem ra, anh sẵn sàng quyết tử cho trận này. Nhưng quyết tử được vài tháng thì lực anh đuối dần, vì không có viện binh. Thế thì anh phải ốm, nằm viện điều trị. Rồi anh rút đơn kiện, xin lỗi các cụ. Con cái nó dại, các cụ phạt đòn, nhưng không đánh chết. Anh được người ta cho sung vào cái ban chỉ đạo kinh tế. Ở đấy đã có sẵn khá nhiều các vị nguyên giám đốc, trưởng phó ngành rất giàu kinh nghiệm. Tất nhiên là có cả lão Sần, người tiền nhiệm của anh Tú. Anh cạo nhẵn bộ ria hít le lấc cấc, nhập vai nhà lý luận, thỉnh thoảng cắp cặp đến các công ty, xí nghiệp chỉ đạo sản xuất kinh doanh.
Còn cái lâu đài của anh, tỉnh chưa tìm được cho nó người chủ để đưa nó vào kinh doanh. Người chưa kinh qua thì không được tin tưởng, người có tí chức vụ thì chẳng ai dại gì gánh lấy một núi nợ nần. Cái lâu đài dang dở án ngữ hai mặt phố vẫn đứng đấy, đóng im ỉm bằng một hàng rào thép gai, ngày một xuống cấp, cũ mốc đi. Đã có vài chú chim trời bay qua vãi phân xuống, hóa thành cỏ, mọc trùm mấy ô cửa sổ trống hoắc… Nó đứng đó, cứ như một giáo cụ trực quan cho một bài giảng về một cung cách làm ăn thời nhập nhoạng…
Đăng nhập để trả lời
0