CICHORIUM INTYBUS - CHICOREE SAUVAGE
Họ : Asteraceae
Tên gọi khác : Chicorée arrière , Barbe de capucin.
Là một loài thảo mộc thường niên hoặc sống lâu thân cao từ 30cm đến 1 m, phát triển dễ dàng ở những nơi hoang dã, bờ rào, lề đường trên toàn Bắc bán cầu .
Thích hợp với nơi có mặt đất tương đối bằng phẳng, với ít nhiều chất vôi trong đất. Đây là một loài hoa dại rất quen thuộc tại Châu-Úc và Châu-Mỹ .
Thân nhánh mảnh mai nhưng rất dai bền , vươn cao lên và đôi khi rối nhánh vào nhau . Lá có dang rất giống với Pissenlit ( bồ công anh ) , có khứa răng ăn sâu , chẻ rời ra khỏi thân nhánh hoặc lặt ngược mặt .
Mỗi nhánh Cichorium sáng rực rỡ vào độ đầu và cuối hè với những đóa hoa màu xanh dịu, nhiều cánh nằm xen kẽ , đầu cánh có răng cưa . Nhụy từng chùm tua tủa tách rời khỏi đài hoa.
Thân cây có chất nhựa trắng rất đắng .
Từ hơn 4000 năm trước lịch Thiên Chúa Giáo, người Ai-cập, Hy –lạp đã thường xuyên nhắc nhở đến sự hữu dụng của Cichorium :
Dioscoride ( vers 40 –Vers 90 ,sau kỷ nguyên Công giáo), bác sĩ của Hy-lạp đã thường ra toa và khuyến khích người ta nên dùng dựoc chất chiết từ Cichorium để làm khỏe bao tử .
Pline coi đó là thuốc làm cho cơ thể giảm đi sự khó chịu, nóng bức .
Nữ thánh Hildegarde ( thời kỳ Trung cổ ) đã xử dụng nó như thuốc rượu giúp dễ tiêu hóa.
Galien , bác sĩ Ai- cập ( sinhkhoảng 129 hoặc 131, mất vào đầu đệ tam thế kỷ 201 hoặc 216 ) gọi Cichorium là bạn tốt của gan .
Chicorée scacrole và frisée ( Cichorium endiva ) là giống thường niên, một loài rau cải ăn sống rất thịnh hành .
Chicorée scarole
Chicorée Scarole có lá rộng bảng và dợn sóng, trong khi chicorée frisée với lá mặt hẹp và răng cưa rất nhỏ .
Endive
Chicorée « Witloof « ( endive ) sauvage đã được chuyên trồng bắt đầu từ Bỉ quốc được coi là một loài rau cỏ ăn sống hoặc nấu chín , rất tốt cho cơ thể
Chicorée frisée
Củ rễ của Chicorée « Magdeburg « hoặc « Brrunswick « ngày nay rất được thông dụng để chế biến thành thức uống giống như cà-phê, nhưng lại không nhiều độc hại như cà phê( khi ta dùng quá nhiều )
Tóm lại tất cả các nhà khoa học từ thời xưa luôn luôn đồng ý với những hữu dụng thực thụ của Cichorium : Khai vị, tiêu hóa, tiểu tiện thông suốt , trị chứng nhiễm trùng bọng đái, trị bệnh thống phong.
Rễ của Cichorium chứa rất nhiều chất inuline
Lá có nhiểu vitamine ( sinh tố ) và sels minéraux ( khoáng chất)
Vị đắng là do những resquiterpenique
Theo truyền thuyết dân gian thì Chicorée là đôi mắt màu xanh thẳm của một cô gái khóc tiễn biêt người tình ra đi mãi mãi .
Người Đức lại cho là có một cô con gái không thể ngừng rơi lệ khi hay tin người yêu đã mất , nước mắt ấy hóa thành những đóa hoa dại xanh ngan ngát dưới những ngày ấm áp nắng đẹp .
TN, ngày 4-09-2011
Hình 2, 3,4 sưu tầm từ net.

Thơ rơi
[link=http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=787518]Trang chính