Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Mười đêm trong một phòng bar (và những điều tôi thấy) - T.S. Arthus 🔒

11 trả lời, 2.327 lượt xem — Trang 1 / 1
Mười đêm trong một phòng bar
(và những điều tôi thấy)
T.S. Arthus
Người dịch: Vũ Anh Tuấn
Nhà xuất bản Công An Nhân Dân
Lời giới thiệu
Timothy Shay Arthur là một nhà văn Mỹ rất nổi tiếng thế kỷ 19, nhưng vẫn còn điều được những độc giả Việt Nam biết đến. Ông sinh ngày 6/6/1809, tại New Windsor, New York. Năm 1820, khi T.S. Arthur lên 11 tuổi, cha ông là William Arthur, một người thợ xay, đã chuyển gia đình đến Baltimore, Maryland. ở đây, T.S. Arthur đã theo học trong một số trường của địa phương. Tuy nhiên, do hồi nhỏ sức khoẻ của ông rất kém, nên mẹ ông, bà Anna née Shay, đã dạy ông học ở nhà, đọc cho ông nghe những câu chuyện trong Kinh Thánh và kẻ cho ông nhiều câu chuyện về ông ngoại T.S. Arthur – tức của bà, Timothy Shay, một sĩ quan đã từng tham gia trong cuộc Cách mạng Mỹ.
Năm 14 tuổi, T.S. Arthur đã định theo học nghề thợ may, nhưng vì thị lực kém và không đủ điều kiện về sức khoẻ, sau đó ông đã chuyển sang làm việc cho một hãng buôn, rồi làm quản lý trong một thời gian ngắn cho một công ty đầu tư ở Louisville, Kentucky.
Vốn là người say mê văn học, ngay từ khi còn nhỏ, T.S. Arthur đã dành ra rất nhiều thời gian mà ông có thể để đọc và viết văn. Năm 1830, khi ông 21 tuổi, cái tên T.S. Arthur và một số bút danh của ông đã bắt đầu xuất hiện trên những tạp chí văn học địa phương. Năm 1833, T.S. Arthur làm biên tậ pviên cho tờ báo tên Báo của Câu Lạc bộ Văn học và thanh niên Baltimore (Baltimore Athenaeum and Young men’s paper).
Năm 1838, T.S. Arthurđã cho xuất bản một số truyện ngắn trong cuốn sách mang tên “Cuốn sách Baltimore” (The Baltimore book). Sau đó, ông đã xuất bản cuốn tiểu thuyết Sự bướng bỉnh (Insubordination), được nhiều độc giả yêu thich và được tái bản vào năm 1842. Arhtur bắt đầu quan tâm đến Hội hạn chế rượu của những người Washing ton (Washingtonian Temperance Society), một tổ chức do những người thuộc tầng lớp lao động địa phương thành lập để chống lại những ảnh hưởng tha hoá do rượu gây ra trong cuộc sống. T.S. Arthur thường đến dự những cuộc họp của hội với tư cách một nhà báo, và ông đã nhanh chóng trở thành người cổ vũ đắc lực cho phong trào đòi hạn chế rượu khi đó ở Mỹ, với một loạt bài viết về đề tài này vào năm 184o. Những bài báo trên đã được tái bản rộng rãi, sau đó, năm 1842, tập hợp lại để xuất bản thành cuốn sách “Sáu đêm với những người Washington (Six nights with the Washingtonians). Cuốn sách này đã được tái bản nhiều lần và khiến cho tên tuổi của T.S. Arthur trở nên nổi tiếng.
Năm 1840, T.S.Arthur lần đầu tiên có một truyện ngắn, mang tên “Mệt vì coi nhà” (Tired of Housekeeping), đăng trên Godey’s Lady’s Book, là nguyệt san được nhiều người Mỹ yêu thích nhất vào thời kỳ này. Được tiếp sức bởi sự thành công, năm 1841, ông đã chuỷên tới Philadelphia, đó là nơi đặt toà soạn của nhiều tạpchí nổi tiếng của Mỹ. Tại đây, ông tiếp tục viết cho nguyệt san Godey’s Lady’s Book và tham gia viết cho nhiều tạp chí danh tiếng khác. Hàng năm, ông đều cho xuất bản những cuốn sách bao gồm nhiều truyện ngắn được tập hợp từ các tác phẩm của ông đã được in trên các tạp chí. T.S. Arthur còn viết và xuất bản tiểu thuyết và những câu chuyện dành cho trẻ em. Năm 1852, T.S. Arthur đã đứng ra xuất bản một tạp chí được phát hành hàng tháng mang tên ông, đó là tạp chí Arthurs Home Magazine. Tạp chí này đăng nhiều tác phẩm của T.S.Arthurvà những tác giả nổi tiếng khác vào thời kỳ đó, trong đó có nhà văn Anh lừng danh Charles Dicken, và tạp chí Arthurs Home magazine vẫn tiếp tục được xuất bản nhiều năm sau khi ông qua đời. Ngoài ra, T.S. Arthur còn đứng ra xuất bản một số tạp chí khác như Giờ của Trẻ em (Children’s Hour, năm 1867) Người lao động (The Workingman, năm 1869).
T.S. Arthur được coi là người đã có những đóng góp lớn vào việc xây dựng nên các giá trị vê đạo đức trong xã hội Mỹ ở thời kỳ mà ông đang sống. Ông qua đời tại Philadelphia, Pennsylvania, Mỹ, vào ngày 6/3/1885, và được đưa đến an nghỉ tại nghĩa trang Woodlands, ở Philadelphia.

Trong số những tác phẩm của nhà văn T.S.Arthur, cuốn tiểu thuyết Mười đêm trong một phòng bar (và những điều tôi thấy) (Ten Nights in a Bar-Room and What I Saw There) được xuất bản vào năm 1854 – một năm trước khi nhà văn qua đời – là tác phẩm nổi tiếng nhất. Ngay sau khi được xuất bản, cuốn tiểu thuyết này đã gây được tiếng vang trong dư luận và bán rất chạy. Chẳng bao lâu sau, cuốn sách đã được chuyển thể thành kịch bản để trình diễn trên sân khấu. Vở kịch cũng được công chúng hâm mộ và vẫn tiếp tục được nhiều đoàn nghệ thuật dàn dựng một cách thành công trong thế kỷ 2o. Cũng trong những năm của thế kỷ 29, có ít nhất hai bộ phim đã được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết này.
Nội dung tiểu thuyết Mười đêm trong một phòng bar (và những điều tôi thấy) kể về một người thợ xay, mà nhiều người cho rằng được lấy nguyên mẫu từ người cha của tác giả, đã bỏ nghề để mở một quán trọ và háo hức làm giàu. Câu chuyện trong tiểu thuyết được thể hiện thông qua nhân vật người kể kể chuyện, là một vị khách thường lui tới quán sau những quãng thời gian khá dài và qua đó, đã được chứng kiến những biến đổi tha hoá trong cuộc sống của người chủ quán và cả nhiều người dân trong vùng, mà nguyên nhân là do rượu gây ra.
Mặc dù ra đời cách đây hơn một trăm năm, với bối cảnh về kinh tế, xã hội của thời kỳ đó còn chưa mấy phát triển, nhưng những vấn đề mà tiểu thuyết Mười đêm trong một phòng bar (vvz điều tôi đã thấy) đặt ra vẫn còn nguyên giá trị. Những vấn đề trên thậm chí còn trở nên nóng hổi hơn trong thời đại ngày nay, khi mà những nguy cơ lôi cuốn có thể dẫn đến sự suy thoái, tha hoá về lối sống và nhân cách của con người trong xã hội hiện đại còn lớn hơn nhiều. Trong đó, có thể kể đến lối sống hưởng thụ, chạy theo đồng tiền đang có chiều hướng gia tăng trong xã hội.
Hy vọng rằng, sau khi đọc cuốn tiểu thuyết Mười đêm trong một phòng bar (và những điều tôi đã thấy) mỗi người trong chúng ta sẽ tự rút ra được những điều bổ ích cho chính mình, như lời của tác giả “Nếu cuốn sách làm cho trái tim của bạn trăn trở trong khi đọc, giống như đã làm cho trái tim tôi trăn trở trong khi viết, thì nó sẽ không bị mất đi một cách vô ích”. Đó cũng là mong muốn lớn nhất của chúng tôi khi chọn dịch và giới thiệu cuốn tiểu thuyết này đến bạn đọc.
Người dịch
0
Đêm thứ nhất – Quán trọ "Lưỡi liềm và bó lúa"
Mười năm về trước, do yêu cầu của công việc, tôi đã trải qua một ngày ở Cedarville. Chiều muộn hôm đó, tôi dừng chân tại "Lưỡi liềm và bó lúa", một quán trọ vừa mới khai trương của một ông chủ mới, trong một ngôi nhà mới được xây với phần sân sau cùng rộng rãi, đủ chỗ để "làm chỗ ở cho cả người và thú"
Ngay khi tôi vừa bước ra khỏi chiếc xe trạm (xe ngựa chạy theo tuyến) cũ kỹ đầy bụi, trên suốt con đường gập ghềnh dài ba chục dặm, trong cảm giác vừa mệt vừa đói, thì khuôn mặt hiền lành, phúc hậu của Simon Slade, người chủ của quán trọ đã rạng rỡ hiện ra như một sự chào đón với cả tấm lòng, một cảnh tượng thật dễ chịu, và cái bắt tay của ông như của một người bạn tin cậy vậy.
Lúc vào đến căn phòng khách còn mới, đồ đạc được bày biện gọn gàng, ngay gần phòng bar, tôi cảm thấy mình đã thực sự tìm được một chỗ nghỉ ngơi dễ chịu sau một chuyến đi đầy mệt mỏi.
"Mọi thứ đều mới tinh", tôi hài lòng nhận xét trong khi đưa mắt nhìn quanh phòng, lên trần nhà trắng như màu tuyết, và nhìn sàn nhà được trải thảm rộng rãi.
"Chưa thấy ở đâu hấp dẫn như ở đây. Ông khai trương được lâu chưa?"
"Mới chỉ vài tháng", người chủ quán trả lời vẻ hài lòng. "Nhưng chúng tôi vẫn chưa được đông khách. Ngài biết đấy, phải cần có thời gian để mọi thứ đâu vào đấy. Ngài đã ăn tối chưa?"
"Chưa. Mọi thứ tại nhà hàng dọc đường, nơi tôi dừng chân để ăn tối, đều trông quá nhếch nhác, khiến tôi đã không thể dám ăn thử nữa. Còn bao lâu nữa thì bữa ăn đêm sẽ sẵn sàng?"
"Một giờ nữa", người chủ quán trả lời.
"Được, hãy cho tôi một suất xúc xích mềm, loại ngon, và việc thiếu bữa tối sẽ trở thành dĩ vãng ngay".
"Ngài sẽ có ngay một suất, được chế biến tương xứng cho một ngài hội đồng", người chủ quán nói. "Tôi cho rằng vợ tôi là người đầu bếp giỏi nhất ở Cedarville".
Trong lúc ông ta nói, một cô gái ăn mặc gọn gàng, khoảng mười sáu tuổi, với vẻ mặt xinh đẹp có sức cuốn hút, đi ngang qua phòng.
"Con gái tôi", ông chủ quán nói, trong khi cô gái biến vào sau khung cửa. Niềm tự hào ánh lên trong ánh mắt người cha, và sự âu yếm được thể hiện khi ông nói câu "con gái tôi" đã mách bảo tôi rằng, cô rất được ông thương yêu.
"Ông thật hạnh phúc vì có một người con xinh đẹp như vậy" tôi nói thêm để khen ngợi với sự lựa chọn từ ngữ thận trọng.
"Tôi là một người đàn ông hạnh phúc" người chủ quán mỉm cười trả lời, khuôn mặt tròn, sáng sủa, không gợn một nếp nhăn lo âu muộn phiền của ông rạng rỡ lên bởi sự hài lòng. "Tôi đã luôn là một người đàn ông hạnh phúc. Và vẫn luôn chờ đợi điều đó. Cuộc đời như thế nào, Simon Slade đón nhận thế ấy, và chẳng có gì khó khăn cả. Đây là con trai tôi, thưa ngài", ông nói thêm khi có một cậu bé khoảng mười hai tuổi đi vào phòng.
"Con chào quý ông đi".
Cậu bé ngước cặp mắt xanh thơ ngây nhìn tôi, đưa tay cho tôi bắt, và nói một cách lễ phép "Xin chào ngài". Tôi không khỏi có nhận xét rằng trên khuôn mặt có vẻ đẹp giống như con gái của cậu, sự rắn rỏi trong tính cách của cậu bé đã được thể hiện rõ.
"Tên cậu là gì?" tôi hỏi.
"Frank, thưa ngài".
"Frank là tên nó", người chủ quán nói "chúng tôi đặt tên con trai theo tên bác thằng bé. Frank và Flora – những cái tên nghe thật dễ thương. Nhưng ngài biết đấy, cha mẹ thường hay chọn những cái tên bé nhỏ và thể hiện sự cưng chiều".
"Thái quá còn hơn là ngược lại" tôi nhận xét.
"Đó chính là những điều mà tôi thường hay nói. Frank, con!" – người chủ quán gọi cậu bé – "có một vị khách đang đứng ở trong phòng bar, con có thể phục vụ ông ấy như cha vẫn làm".
Cậu bé nhanh nhẹn rời căn phòng, ngoan ngoãn làm theo lời cha.
"Một đứa bé tháo vát, thưa ngài, một đứa bé rất tháo vát. Ở trong phòng bar, nó giỏi như một người đàn ông vậy. Nó pha chế rượu toddy hoặc rượu punch thạo chẳng khác gì tôi".
"Nhưng" tôi gợi ý "ông không một chút e ngại về việc đưa một người quá trẻ như vậy vào môi trường cám dỗ nó?"
"Cám dỗ!" cặp lông mày thưa của Simon Slade thoáng nhíu lại. "Không, thưa ngài!" ông trả lời dứt khoát. "Dưới sự trông nom của nó, két tiền sẽ được an toàn hơn so với đặt dưới sự trông nom của một người đàn ông lớn hơn nó mười tuổi. Thằng bé được nuôi dạy bởi những người cha mẹ thật thà. Simon Slade chưa bao giờ để ai bị thiệt mất một đồng farthing (1/1000 USD) nào".
"Ỗ" tôi vội nói "ông đã hoàn toàn hiểu sai ý tôi rồi. Tôi không nói tới két tiền, mà nói đến chai rượu kia".
Cặp lông mày của người chủ quán lập tức giãn hẳn ra, và một nụ cười hiện rõ trên khuôn mặt hài hước của ông.
"Thế à? Không có gì đáng lo, tôi có thể đảm bảo với ngài như thế. Frank không thích rượu, và có thể rót rượu cho nhiều người mà không hề nhấp môi giọt nào. Không có gì phải lo ngại điều đó, thưa ngài, không có gì".
Tôi hiểu rằng tiếp tục nói về mối lo ngại cũng sẽ vô ích nên im lặng, một người khách vừa tới đã gọi chủ quán đi ra, và tôi được ở lại một mình để quan sát và suy nghĩ. Phòng bar nằm liền ngay cạnh phòng khách, và tôi có thể nhìn thấy qua cửa phòng đang mở vị khách mà cậu bé đang phục vụ. Đó là một người đàn ông trẻ, lịch sự - hay cũng có thể coi là một cậu bé, vì cậu ta trông chưa quá tuổi mười chín – với khuôn mặt sáng sủa, thông minh, nhưng đã bị lu mờ một phần bởi sự hưởng lạc. Cậu ta đưa ly lên môi bằng một động tác nhanh, hấp tấp, và nốc một hơi cạn ly rượu.
"Được lắm" anh chàng nói, ném một đồng sáu penny cho người phục vụ quầy bar nhỏ tuổi.
"Cậu là người pha chế rượu brandy-toddy giỏi nhất. Tôi chưa từng uống loại rượu nào ngon hơn thế trong đời mình".
Khuôn mặt rạng rỡ của cậu bé cho thấy cậu đang hài lòng với sự khen ngợi. Đối với tôi, cảnh tượng thật đau lòng, vì tôi thấy cậu bé sành rượu này đang ở bên bờ vực của sự nguy hiểm.
"Người đàn ông trẻ trong quán bar đó là ai vậy?" tôi hỏi vài phút sau, khi người chủ quán quay lại.
Simon Slade bước tới cửa và nhìn vào phòng bar trong giây lát.
Lúc đó, có hai hoặc ba người đàn ông ở đó, nhưng ông ta vẫn nhận ra người mà tôi muốn hỏi, và trả lời:
"Ồ, đó là con trai của ngài thẩm phán Hammond, người sống ở ngôi nhà lớn, xây bằng gạch, chỗ mà ngài rẽ vào làng ấy. Willy Hammond, như mọi người vẫn thân mật gọi cậu ta, là người thanh niên tốt nhất trong vùng chúng tôi. Cậu ấy không kênh kiệu hay lên mặt – không hề - mặc dù cha anh ta là một thẩm phán, và hơn nữa, giàu có. Mọi người, từ sang trọng đến giản dị, đều quý mến Willy Hammond. Cậu ấy là người bạn tốt của mọi người. Luôn vui vẻ, và luôn có những lời nói làm vui lòng người khác. Hơn nữa, cậu ấy cao thượng và coi trọng danh dự. Willy Hammond thà chặt đi bàn tay phải của mình còn hơn là phải làm một việc xấu xa".
"Ông chủ quán!" một tiếng gọi lớn từ ngoài đường vọng vào, và Simon Slade lại rời tôi để phục vụ yêu cầu của người khách mới đến. Tôi đi vào phòng bar để quan sát cho gần hơn Willy Hammond, người đã gợi lên trong tâm trí tôi sự thích thú xen lẫn băn khoăn. Tôi thấy cậu ta đang chuyện trò vui vẻ với một người nông dân chất phác. Chàng trai có lối nói chuyện giản dị, súc tích, sự thân ái của cậu ta được thể hiện rõ trong ngôn ngữ và trí tưởng tượng sinh động. Người nông dân với vẻ cẩn thận, thủ cựu, còn anh chàng Hammond trẻ tuổi là người biết lắng nghe nồng nhiệt những ý kiến được đưa ra và nhanh chóng hưởng ứng, bổ sung khi cần thiết. Tôi mau chóng nhận ra rằng ý thức của chàng trai đã khôn lớn vượt quá độ tuổi, và những phẩm chất riêng của anh ta quả là đáng quý. Sau khi làm người lặng lẽ lắng nghe và quan sát trong mười phút, tôi đã hiểu được rõ hơn vì sao người chủ qúan đã nói về anh chàng một cách ấm áp như vậy.
"Làm một chầu brandy-toddy chứ, ngài H?" Hammond nói vui vẻ sau khi cuộc trao đổi kết thúc. "Frank, người phục vụ quầy bar trẻ của chúng ta đây, hơn đứt hẳn bố cậu ta về khoản đó".
"Nếu là tôi, tôi sẽ không để ý" người nông dân đáp, và cả hai đi tới quầy bar.
"Nào, Frank, cậu bé của tôi, đừng phụ lời ca ngợi của tôi nhé" người đàn ông trẻ nói "hãy thể hiện tài năng đi".
"Hai suất brandy-toddy, ý ngài nói vậy đúng không?" Frank hỏi với một tác phong rất lành nghề.
"Đó chính là những gì tôi muốn nói, và hãy pha chế để chúng sánh được với rượu của thần Jove nhé".
Phấn khởi trước sự thân mật, cậu bé nhanh nhẹn đi làm công việc pha chế hỗn hợp có sức hấp dẫn của mình, trong khi Hammond quan sát với một nụ cười khích lệ.
"Nào" Hammond nói khi Frank đưa những ly rượu qua mặt quầy "nếu ngài không gọi đó là loại rượu hạng nhất, ngài sẽ không phải là người hiểu biết". Và anh ta trao một ly rượu cho người nông dân, ông này nếm một ngụm vẻ hài lòng và khen ngon. Trước đó, tôi nhận thấy Hammond đã uống một cách hăm hở như một kẻ đang khát, nôc liền một hơi cạn ly rượu.
Ngay sau đó, phòng bar trở nên vắng tanh, và tôi cùng với người chủ quán dạo quanh cơ ngơi của ông và nghe ông ta khoe về đủ mọi thứ, những dự định và mục tiêu của ông trong tương lai. Ngôi nhà, sân, vườn và những công trình chung quanh rất gọn gàng, ngăn nắp, đúng là một quán trọ nổi bật của cả làng.
"Cho dù tôi làm việc gì, thưa ngài" người chủ quán Simon Slade nói "tôi đều muốn làm cho thật tốt. Tôi đã không chỉ quản lý quán trọ, ngài nên biết, mà tôi là người có thể làm hầu như mọi việc".
"Công việc trước của ông là gì?" tôi hỏi.
"Tôi làm nghê thợ xay, thưa ngài" ông ta trả lời "và tôi cho rằng không thể tìm được ở vùng Bolton này một người thợ xay nào giỏi hơn. Tôi đã làm nghê thợ xay trong hai mươi năm và kiếm được một số tiền. Nhưng tôi cảm thấy mệt mỏi vì công việc vất vả, và quyết định tìm kiếm một cuộc sống dễ chịu hơn. Vậy là tôi đã bán xưởng xay đi và xây lên ngôi nhà này bằng số tiền đó. Tôi đã luôn nghĩ rằng mình nên làm nghề chủ quán trọ. Cuộc sống dễ chịu hơn, và, nếu tôi nghĩ đúng, là nghề đảm bảo kiếm ra tiền".
"Ông vẫn kiếm được khá với nghề thợ xay chứ?"
"Ồ vâng, cho dù tôi làm việc gì, tôi đều làm tốt cả. Năm ngoái, tôi để dành ra được một nghìn dollar sau khi đã trang trải mọi khoản chi tiêu, cũng không đến nỗi tồi, tôi có thể bảo đảm với ngài, chỉ với một cối xay bột. Thậm chí nếu người chủ hiện nay làm việc tốt, ông ta cũng sẽ kiếm được".
"Vấn đề như thế nào?"
"Ồ, ông ta đâu phải là thợ xay. Có đưa cho ông ta loại lúa mì được trồng tốt nhất thì ông ấy cũng sẽ làm hỏng nó trong khi xay mà thôi. Ông ta lấy đi cuộc sống của từng hạt lúa. Tôi không tin là ông ấy sẽ giữ được một nửa số khách hàng mà tôi đã chuyển giao cùng với xưởng xay".
"Một nghìn dollar, khoản lợi quá rõ, với một công việc rất hữu ích, chắc đã khiến ông hài lòng" tôi nói.
"Tôi và ngài có suy nghĩ khác nhau", người chủ quán trả lời. Mọi người đều mong muốn làm ra càng nhiều tiền càng tốt, và với ít công sức nhất. Tôi hy vọng sẽ làm được hai hay ba nghìn dollar một năm, sau khi đã trang trải mọi khoản chi tiêu, với công việc quản lý nhà trọ. Chỉ riêng quầy bar cũng phải mang lại cho tôi số tiền ấy rồi. Một người đàn ông cùng với vợ và những đứa con, rất đương nhiên, sẽ cố sức đạt được điều đó một cách thật tốt theo khả năng có thể."
"Rất đúng, nhưng" tôi đánh bạo gợi ý "quán trọ này liệu sẽ làm được tốt bằng xưởng xay nếu như ông vẫn giữ không?"
"Hai hoặc ba nghìn dollar khác với một nghìn chứ! Ông không để ý đến những con số sao?"
"Có thể còn phải tính đến cả những điều ngoài chuyện tiền nong nữa chứ?" tôi nói.
"Cái gì vậy?" Slade hỏi với một chút ngơ ngác.
"Hãy cân nhắc những ảnh hưởng khác nhau của hai nghề nghiệp, là thợ xay và chủ quán trọ, đối với cuộc sống".
"Được, xin ngài cứ nói tiếp?"
"Liệu những đứa con của ông có được an toàn, trước sự cám dỗ ở đây, giống như khi ở trong ngôi nhà trước đây của chúng không?"
"An toàn chứ" câu trả lời được đưa không chút lưỡng lự. "Sao lại không?"
Tôi đã định nói ra sức lôi cuốn của ly rượu trong trường hợp với Frank, nhưng lại nhớ ra rằng mình đã thể hiện sự lo ngại theo hướng đó rồi, cảm thấy rằng lập lại cũng sẽ vô ích, nên đành im lặng.
"Một người chủ quán trọ" Slade nói "cũng đáng trân trọng như là một người thợ xay thôi. Trên thực tế, những người trước đây vẫn thường gọi tôi là Simon, hoặc Người láng giềng áo đầy bụi, giờ lại gọi tôi là Ông chủ quán, hoặc ông Slade, và cư xử với tôi như một người ngang hàng hơn bao giờ hết".
"Sự thay đổi đó" tôi nói, "có thể là do ông đã thể hiện được trên thực tế à mình sở hữu một số tài sản. Người ta hay có xu hướng nể trọng những ai có của cải. Ngôi nhà làm quán trọ này, không nghi ngờ gì nữa, đã góp phần vào sự đánh giá mới về những gì mà ông đang có".
"Đó không phải là tất cả" người chủ quán trả lời. "Đó là vì tôi đang quản lý tốt quán trọ, và điều quan trọng là bởi vì tôi làm tăng sự hấp dẫn cho Cedarville, nên một số trong số những người đáng kính đã nhìn tôi với con mắt khác".
"Làm tăng sự hấp dẫn cho Cedarville! Theo cách nào vậy?" tôi hỏi, không hiểu được ý của ông.
"Một quán trọ tốt sẽ luôn là tụ điểm thu hút được nhiều người, trong khi một nơi kinh doanh tồi tàn, được quản lý kém, giống như chúng tôi đã có trong nhiều năm trước, chắc chắn sẽ khiến họ lìa xa. Nói chung, ngài có thể rút ra được một điều gì đó về tình trạng của một thành phố bằng cách nhìn vào các nhà trọ ở đó. Nếu chúng được quản lý, và kinh doanh tốt, ngài sẽ khó có thể sai khi kết luận rằng nơi đó đang thịnh vượng. Vì sao ư? Thì đây: kể từ khi tôi xây và mở quán "Lưỡi liềm và bó lúa" đến nay, bất động sản dọc theo cả con phố này đã tăng giá lên hơn 20%, và đã có không ít hơn năm ngôi nhà mới đã được khởi công xây dựng".
"Những nguyên nhân khác, bên cạnh việc đơn thuần khai trương một quán trọ mới, có lẽ cũng đã góp phần vào kết quả này" tôi nói.
"Tôi không nhận thấy nguyên nhân nào như vậy cả. Tôi đã nói chuyện với ngài thẩm phán Hammond mới chỉ hôm qua, ông ấy có một khu đất rộng trên phố, và ông ta đã không ngần ngại nói rằng việc xây dựng và khai trương một qúan trọ tốt ở đây đã làm tăng giá trị bất động sản của ông lên ít nhất năm nghìn dollar. Hơn nữa, ông thẩm phán nghĩ rằng, nếu mọi người ở Cedarville tặng cho tôi một chiếc bình rượu làm bằng bạc, và rằng ông ấy sẽ đóng góp mười dollar để thực hiện điều đó".
Tiếng chuông báo bữa ăn đêm vang lên đã cắt ngang câu chuyện, và với cảm giác đói ngấu, tôi tìm đến căn phòng, nơi một bữa ăn đầy ắp đã được bày ra. Lúc đi vào, tôi gặp vợ của Simon Slade đang đi ra sau khi đã sắp xếp cho bữa ăn được hoàn tất. Tôi chưa hề trông thấy bà trước đó, và không thể không có nhận xét rằng bà có một vẻ mặt hồng hào, đầy tâm trạng, dường như với ở gần lửa nóng và đang lo âu, mệt mỏi. Và hơn nữa, miệng bà có những nét biểu hiện khác lạ mà tôi chưa bao giờ thấy ở những người có đầu óc dễ dãi – nét biểu hiện mà khi đã nhìn một lần, ta sẽ không thể quên được. Khuôn mặt đã lập tức để lại dấu ấn trong tâm trí tôi, và thậm chí đến giờ tôi có thể kể lại được với hầu như tất cả những đặc điểm như ban đầu. Khuôn mặt mới tương phản làm sao với nét mặt luôn mỉm cười tự hài lòng của chồng bà, người ngồi ngay ở đầu bàn ăn của ông với một vẻ quan trọng được ý thức rõ. Tôi rất đói nên không nói gì nhiều và thấy tận hưởng những món ăn thú vị hơn là những cuộc đối thoại. Người chủ quán đã có thêm một vị khách ưa chuyện phiêm ngồi cạnh, và tôi cứ để cho họ chuyện trò với nhau trong lúc tôi thoải mái thưởng thức các món ăn tuyệt vời được tiếp một cách hào phóng.
sau bữa ăn đêm, tôi đi vào phòng khách, và ở đó cho tới khi những ngọn đèn được thắp lên. Tôi đọc một tờ báo trong khoảng nửa giờ đồng hồ, thì những tiếng nói ồn ào tăng dần vang lên từ phòng bar bên cạnh vọng sang đã thu hút sự chú ý của tôi, và tôi đi sang bên đó để xem chuyện gì đang xảy ra. Người đầu tiên mà tôi thấy là anh chàng Hammond, người đang ngồi nói chuyện với một người đàn ông lớn hơn anh ta khá nhiều tuổi. Mới chỉ liếc qua, tôi đã thấy ngay rằng người đàn ông này chỉ có thể giao du viết Willy Hammond như một kẻ chuốc rượu mà thôi. Sự ích kỷ đến bệ rạc đã hằn in lên khắp vẻ mặt mang điềm gở của gã, và tôi thấy thắc mắc rằng không hiểu sao nó không gây kinh tởm cho mọi người như đối với tôi. Không thể có điểm chung nào – tôi cảm thấy tin chắc – cho một sự kết giao giữa hai con người như vậy, ngoài điểm dừng của một quán bar làng. Về sau, trong buổi tối đó, tôi được biết rằng tên của người đàn ông này là Harvey Green, và rằng ông ta là một người thường ghé qua Cedarville, mỗi lần lưu lại vài ngày hoặc vài tuần, có vẻ như theo sở thích của ông ta, chứ không thấy có công việc gì hoặc quen biết với người nào trong làng.
"Có một điều về ông ta" Simon Slade nhận xét khi trả lời những câu hỏi mà tôi đưa ra về người đàn ông này "mà tôi không phản đối, ông ta có nhiều tiền, và không hề hà tiện khi chi tiêu nó. Ông ta vẫn thường đến đây dạo trước – ông ta đã kể với tôi như vậy – khoảng năm hay sáu tháng một lần, nhưng ở lại trong cái quán trọ phục vụ tồi tàn, quán duy nhất khi ấy ở Cedarville, rất bất tiện, mà ông ấy hầu như muốn không bao giờ thăm lại nữa. Tuy nhiên, giờ thì ông ấy đã đăng ký một trong những căn phòng tốt nhất của tôi, căn phòng mà ông đã trả tiền cả năm, và tôi sẽ tính thêm cả tiền phục vụ ăn ở theo thời gian ông ấy lưu tại đó. Ông ấy nói rằng Cedarville có một cái gì đó luôn lôi cuốn ông ấy, và rằng khi ở đây sức khoẻ ông ấy tốt hơn ở bất cứ nơi đâu, ngoại trừ khi ở Miền nam vào mùa đông. Ông ấy sẽ không bao giờ bỏ ra dưới hai hay ba trăm dollar mỗi năm ở làng chúng tôi, vì vậy, quả là một lợi thế đối với một nơi khi có được một quán trọ tốt".
"Công việc của ông ta là gì?" tôi hỏi. "Ông ta có tham gia vào hoạt động kinh doanh nào không?"
Người chủ quán nhún vai, và trông có vẻ bí hiểm khi ông ta trả lời "Tôi không bao giờ hỏi về việc làm ăn của khách. Bổn phận của tôi là làm hài lòng những người lạ. Nếu họ hài lòng với ngôi nhà của tôi, và thanh tóan những hoá đơn của tôi đưa ra, tôi không có quyên tìm hiểu xa hơn. Khi làm nghề thợ xay, tôi chưa bao giờ hỏi một khách hàng xem lúa mì là do ông ta trồng, mua hay ăn trộm được. Công việc của tôi là xay nó, và tôi lo liệu sao để làm việc đó cho tốt, ngoài điều đó ra, tất cả là chuyện của ông ta. Và bổn phận trong công việc mới của tôi cũng sẽ như vậy. Tôi sẽ chú ý đến công việc của chính mình và giữ đúng vị trí của mình".
Ngoài anh chàng Hammond và Harvey Green, lúc tôi đi vào, có bốn người khác cùng người chủ quán. Trong số họ, có thẩm phán Lyman – như ông ta được gọi như vậy – một người đàn ông trạc tuổi giữa bốn mươi và năm mươi, người vài tuần trước đó đã nhận được sự đề cử của đảng Dân chủ để trở thành thành viên của quốc hội. Ông ta nói năng rất hoạt bát, nhã nhặn, và mau chóng trở thành trung tâm thu hút sự chú ý của những người có mặt trong phòng bar. Trong số những chủ đề được nói đến có quán trọ mới, được nêu ra bởi ông chủ quán, người mà trong tâm trí, một cách rất đương nhiên, đó là suy nghĩ được đặt ở vị trí quan trọng nhất.
"Điều thắc mắc duy nhất đối với tôi là" thẩm phán Lyman nói "đã không một ai có đủ thông minh để thấy được lợi ích của một quán trọ tốt ở Cedarville từ mười năm về trước, hoặc có đủ sự táo bạo để bắt tay vào việc đó. Tôi cho rằng ông bạn Slade của chúng ta quả xứng đáng là một người đàn ông sắc sảo, nhìn xa trông rộng, và hãy ghi nhớ lời tôi nói, trong vòng mười năm nữa kể từ hôm nay, ông ấy sẽ là người giàu nhất ở quốc gia này".
"Sai rồi! Ha! Ha!" Simon Slade cười lớn. "Người giàu nhất? ngài quên mất thẩm phán Hammond rồi sao?"
"Không, ngay cả thẩm phán Hammond cũng không, với tất cả sự kính trọng dành cho anh bạn Willy thông minh của chúng ta" và thẩm phán Lyman mỉm cười một cách hài lòng với chàng trai.
"Nếu ông ta giàu lên, một người nào đó sẽ nghèo đi!" một người trước đó chưa lên tiếng vừa nói vừa cười khúc khích, và tôi quay sang nhìn ông ta gần hơn. Chỉ liếc qua, tôi đã thấy ông ta là một trong số những loại người vẫn thường được thấy ở các quán bar: một kẻ nghiện rượu nghèo, tiều tuỵ, không còn sức phản kháng từ bên trong, biết rõ rằng mình không được ai nể trọng, và cũng chẳng cần nể trọng ai. Có một nét tinh quái ánh lên trong mắt người đàn ông này khi ông ta nhìn Slade, làm tăng thêm vẻ kỳ dị cho câu nói ngắn ngủi nhưng gây ấn tượng đã được ông ta thốt ra. Tôi nhận thấy một thoáng nếp nhăn xuất hiện trên vầng trán rộng của người chủ quán, biểu hiện đầu tiên mà tôi đã thấy trong nhiều cảm giác hỗn độn. Nhận xét, được đưa ra không đúng lúc (hoặc đúng lúc, theo ai đó), cùng với dự đoán có thể coi là thiếu thiện ý, đã làm cho cuộc trò chuyện bị tạm gián đoạn. Không ai đáp lời hoặc hỏi lại người vừa lên tiếng, người mà tôi cảm thấy đang tận hưởng sự tác động từ những lời nói của mình. Nhưng ngay sau đó, câu chuyện bị dừng lại được tiếp tục.
"Nếu ông bạn giỏi giang của chúng ta, ngài Slade", Harvey Green nói "không là người giàu nhất ở Cedarville trong mười năm nữa, ít nhất ông ấy cũng sẽ cảm thấy hài lòng vì đã làm cho thị trấn của mình giàu lên".
"Một lời nói chân thật" thẩm phán Lyman trả lời, "một lời nói chân thật đã được nói ra. Nơi đây đã trong tình trạng sống vật vờ cho đến cách nay vài tháng. Sự phát triển nhảy vọt đã qua, và trên thực tế chúng ta đang chuẩn bị gieo trồng".
"Và đến nghĩa địa nữa chứ" kẻ trước đó đã gây xáo trộn bầu không khí vui vẻ, hoà hợp của mọi người lại lẩm bẩm nhận xét về câu nói sau cùng của Harvey Green. "Lại đây, ông chủ quán", ông ta vừa nói thêm vừa bước ngang qua quán bar, giọng nói chuỷên sang vẻ bất cần, "cho tôi một suất whisky-punch nóng loại ngon, và làm ngay đi. Còn đây là thêm sáu penny nữa dành cho tài sản mà ông đang gây dựng. Đó là đồng tiền cuối cùng còn sót lại – trong túi tôi không còn dính một đồng xu nào nữa", và ông ta lộn ngược các túi quần áo từ trong ra ngoài với vẻ nửa đùa nửa thật. "Tôi gửi nó đến ngăn kéo đựng tiền của ông làm bạn cùng với bốn đồng tiền khác đã tìm đường chui vào nơi ấm cúng đó từ sáng nay, chúng sẽ thấy cô đơn nếu thiếu mất người bạn bé nhỏ của mình".
Tôi quay sang nhìn Simon Slade, cặp mắt ông nhìn vào mắt tôi trong chốc lát, rồi hạ thấp xuống dưới cái nhìn nghiêm nghị của tôi. Tôi thấy mặt ông ta bừng đỏ, và những cử chỉ của ông ta thoáng chút bối rối. Những gì vừa diễn ra thật đơn giản, đã không gây được sự chú ý. Có lúc tôi đã nhìn thấy bàn tay ông ta đưa về phía đồng sáu penny đang nằm trên mặt quầy, nhưng tôi không rõ là để đẩy nó trở lại hay kéo nó về phía ngăn kéo đựng tiền. Rượu whisky-punch đã xong phải được đem ra đúng lúc, và cùng với nó, người đàn ông nọ đã lui về bên chiếc bàn đặt ngang giữa phòng và ngồi xuống để thưởng thức thứ đồ uống có sức cuốn hút nọ. Trong lúc ông ta làm việc đó, người chủ quán lặng lẽ vơ đồng sáu penny cuối cùng của người đàn ông nghèo khốn khổ đút vào ngăn kéo đựng tiền của ông. Tác dụng của loại rượu mạnh đã làm cho người đàn ông nói năng ba hoa nhiều hơn. Ông ta lắng nghe những cuộc chuyện trò xung quanh, luôn chêm vào những câu nói khích bác có tính chất gây sốc trực tiếp cho người đối thoại. Cuối cùng, Slade không còn kiên trì được nữa với ông ta, và nói với một chút bực bội:
"Hãy nhìn đây, Joe Morgan, nếu ông thấy khó chịu, xin hãy đi nơi khác và đừng cắt ngang không khí vui vẻ của các quý ông đây".
"Nhận sáu penny cuối cùng của tôi" Joe trả miếng, lộn ngược các túi quần áo của ông ta từ trong ra ngoài lần nữa. "Tôi không còn có ích gì ở đây tối nay nữa. Đời là thế đấy! Ông bạn tốt của chúng ta mới có học thức làm sao, trong trường học mới này! Phải! Ông ta đã là một người thợ xay tốt, chưa ai từng nghi ngờ về điều đó, và thật rõ ràng khi thấy rằng ông ta sẽ trở thành một người chủ quán tốt. Tôi cho rằng trái tim của ông ấy đã quá mềm yếu, nhưng quá trình chai cứng đã bắt đầu, và trong vòng chưa đầy mười năm nữa, nếu nó không cứng như một trong những chiếc cối xay trước đây của ông ta, Joe Morgan này không phải là nhà tiên tri. Ồ, ông không cần phải chau mày lại như vậy, ông bạn Simon, chúng ta là những người bạn cũ, và bạn bè vẫn được nói thẳng".
"Tôi mong ông về nhà đi. Ông không phải là chính mình tối nay" người chủ quán nói với vẻ dỗ dành, vì ông ta thấy rằng có cãi nhau với Morgan cũng chẳng ích lợi gì. "Có thể trái tim tôi đang trở nên cứng rắn hơn", ông nói thêm với vẻ khôi hài gượng gạo, "thì có lẽ cũng đã đến lúc rồi. Một trong những điểm yếu của tôi, như tôi đã nghe ông nói, là có trái tim giống với phụ nữ mà".
"Điều đó giờ vô hại" Joe Morgan đáp lại. "Tôi đã được biết nhiều người chủ quán tốt trong đời, nhưng không thấy ai gặp rắc rối với căn bệnh đã từng làm ông âu lo đâu".
Đúng vào lúc đó, cửa ngoài từ từ được đẩy mở ra một cách ngập ngừng, rồi một khuôn mặt bé nhỏ, trắng trẻo ngó vào, và một cặp mắt xanh dịu dàng nhìn quanh tìm kiếm khắp căn phòng. Những cuộc trò chuyện lập tức ngừng lại, và mọi khuôn mặt, với đầy vẻ thích thú, đều hướng về phía đứa trẻ, người giờ đây đã bước qua khung cửa. Cô bé chưa quá mười tuổi nhưng ai cũng phải xúc động tận đáy lòng khi nhìn thấy những nét buồn rầu trên khuôn mặt non nớt của em, và sự bạo dạn buộc phải có trước bối cảnh đang diễn ra, điều khiến em đã vượt qua được sự nhút nhát của bản thân, mới thấy cảm động làm sao!
"Cha!" tôi chưa từng nghe từ này được nói ra với một giọng truyền cảm làm rung động đến từng dây thần kinh như vậy. Nó chứa chan một tình yêu đau khổ - chứa chan một sự quan tâm dịu dàng vốn thường quá với chiều sâu của trái tim một đứa trẻ. Vừa nói, cô bé vừa nhảy băng ngang qua phòng, và đặt bàn tay lên cánh tay của Joe Morgan, ngước cặp mắt – mà trên đó nước mắt đang chực trào ra – nhìn vào khuôn mặt ông.
"Về đi cha! Cha không về nhà sao?" thậm chí đến giờ tôi vẫn còn như nghe thấy giọng nói nhỏ đó đang cầu xin, và tim tôi bỗng đập nhanh hơn. Đứa trẻ thật đáng thương! Một viễn cảnh u ám đang hiện ra trước cuộc đời của cô bé.
Morgan sực tỉnh, và để đứa trẻ dẫn ra khỏi căn phòng. Ông ta dường như thụ động trong bàn tay của cô bé. Tôi nhận thấy rằng ông ta đã thọc những ngón tay vào túi áo vẻ lo lắng, và một nét bối rối hiện ra trên khuôn mặt ông ta khi chúng được rút ra. Sáu penny cuối cùng của ông ta đã ở trong ngăn kéo đựng tiền của Simon Slade!
Chỉ chưa đầy một phút sau khi người bố và đứa con của ông ta đã khuất sau khung cửa, người đầu tiên lên tiếng là Harvey Green:
"Nếu tôi là ngài, thưa ông chủ quán" – giọng ông ta lạnh lùng và vô cảm – "Tôi sẽ đuổi gã đó ra khỏi phòng bar nếu lần sau gã còn bước qua ngưỡng cửa này. Hắn ta không có việc gì ở đây cả, đó là điều thứ nhất, và điều thứ hai, bản thân hắn không biết cư xử. Đó là chưa nói đến một kẻ vô công rồi nghề như hắn xúc phạm đến một ngôi nhà đứng đắn như thế nào".
"Tôi cầu mong ông ta sẽ không đến nữa" Simon nói với một vẻ lúng túng.
"Tôi sẽ làm cho hắn không đến nữa" Green đáp.
"Điều đó có lẽ nói dễ hơn làm" thẩm phán Lyman nhận xét "Ông bạn của chúng ta quản lý một quán rượu, và không thể nói rằng ai được hoặc ai không thể được vào đó".
"Nhưng một kẻ như vậy không có việc gì ở đây. Hắn là một kẻ nát rượu vô tích sự. Nếu tôi là người quản lý một nhà trọ, tôi sẽ từ chối bán rượu cho hắn".
"Ngài có thể làm được điều đó" thẩm phán Lyman nói, "và tôi cho rằng điều mà ngài muốn nói cũng sẽ được ông bạn Slade của chúng ta để tâm đến".
"Ông ta sẽ có rượu. Chừng nào còn có thể kiếm được một xu để mua nó" một trong những người có mặt nhận xét "và tôi không thấy có lý do gì khiến ông chủ quán của chúng ta đây, người đã bỏ ra rất nhiều chi phí để xây dựng lên quán trọ, lại không nên bán nó cho bất cứ người nào. Joe có lúc nói năng bừa bãi đôi chút, nhưng không ai có thể nói rằng ông ta là người gây gổ. Cần đối xử với ông ta đúng với bản chất của ông ấy, thế thôi".
"Tôi là người" Harvey Green phản đối với vẻ hơi bực bội "không bao giờ cư xử như vậy khi người khác chọn một thái độ bất nhã. Nếu tôi là ngài Slade, như tôi đã nói từ đầu, tôi sẽ đủôi gã đó ra đường nếu lần sau hắn còn bước chân qua ngưỡng cửa nhà tôi".
"Tôi thì sẽ không, nếu tôi ở vào trường hợp đó", người đôi thoại nhận xét, vẻ lãnh đạm.
Green đứng dậy trong giây lát, và tôi nhận thấy, qua ánh mắt của gã, rằng gã là kẻ có những cơn thịnh nộ của quỷ. Tiến một hai bước về phía người đối thoại, gã nói gay gắt.
"Gì thế, thưa ngài?"
Người phản đối, mà cơn giận bất ngờ nổi lên của gã rõ ràng đang nhằm vào, có dáng vẻ là một người lao động. Ông ta to khoẻ và vạm vỡ.
"Tôi cho rằng ngài đã nghe rõ những lời tôi nói. Chúng được nói ra một cách rõ ràng" ông trả lời, vẫn không ra khỏi chỗ ngồi, có vẻ như không hề bị bối rối chút nào. Nhưng có một vẻ thách thức lạnh lùng trong âm sắc của giọng nói và trong cái nhìn điềm tĩnh của đôi mắt ông.
"Ngài là một kẻ xấc xược và tôi rất muốn được trừng phạt ngài".
Green vừa mới dứt câu nói, gã đã phải nằm sóng xoài trên nền nhà. Người đàn ông kia đã bật dậy lao tới gã như một con hổ, và với một cú đấm từ bàn tay mạnh mẽ của ông, gã gục xuống chẳng khác gì một đứa trẻ. Green choáng váng và hoang mang nằm đó trong một vài giây, rồi bắt đầu với một tiếng hét man rợ nghe giống tiếng thú hơn là tiếng người, gã rút ra một lưỡi dao dài trong một vỏ bao được giấu kín, và xông tới đâm người đã tấn công gã, nhưng ý định giết người của đã đã không thực hiện được vì người đàn ông kia, với sức lực và sự bình tĩnh hơn hẳn, đã thấy trước ý đồ đó, và với một cú đánh chính xác gần như làm gãy cánh tay của Green, đã làm bật tung lưỡi dao ra khỏi bàn tay gã và văng xa sang phía bên kia phòng.
"Tôi rất thèm được vặn đứt cổ ngài" người đàn ông, có tên là Lyon, giờ tỏ ra rất bị kích động và đang túm lấy cổ Green, kêu lên, ông ta siết cổ gã cho đến khi mặt gã xám đen lại. "Rút dao đâm tôi, ha! Ông là kẻ côn đồ giết người!" và ông ta túm lấy gã chặt hơn.
Thẩm phán Lyman và người chủ quán giờ đã phải can thiệp và cứu Green ra khỏi bàn tay đối thủ trong cơn giận dữ của gã. Họ đứng gầm gừ nhìn nhau trong chốc lát, như hai con chó bị tách ra đang vùng vằng tìm cách thoát khỏi sự ngăn cản để lại xông vào nhau, nhưng sau đó nguôi dần. Chẳng bao lâu, thẩm phán Lyman đã kéo được Green ra, và hai người lần lượt rời khỏi phòng bar. Lúc họ ra đến cửa, kẻ gây sự khẽ gật đầu với Willy Hammond, người sau đó đi theo họ sang phòng khách, để từ đó, theo tôi biết, lên tầng trên để tới một căn phòng ở trên đó.
"Chẳng có gì hay ho cả" tôi nghe thấy tiếng Lyon tự lẩm bẩm. "Nếu thẩm phán Hammond không theo sát cậu con trai đó của ông ta một chút, ông ta sẽ phải hối tiếc về điều đó".
"Gã Green này là ai thế?" tôi hỏi Lyon khi nhận thấy chỉ còn lại mình tôi với ông ta trong phòng bar sau đó.
"Một kẻ cờ bạc bịp, tôi cho là như vậy" đó là câu trả lời không chút lưỡng lự của ông.
"Thẩm phán Lyman không đặt câu hỏi về bản chất của hắn sao?"
"Tôi không biết gì về điều đó, nhưng tôi sẽ không ngần ngại đánh cuộc mười dollar rằng nếu ngài có thể nhìn thấy họ lúc này, ngài sẽ thấy những lá bài trong tay họ".
"Những tấm gương mới đẹp đẽ làm sao dành cho chàng thanh niên vừa đi theo họ!" tôi không khỏi nhận xét.
"Willy Hammond phải không?"
"Đúng vậy".
"Ngài có thể đã nói đúng. Không biết bố anh ta có thể nghĩ gì về việc để anh ta tiếp xúc với những ảnh hưởng như vậy!"
"Ông ấy là một trong số ít người đang say sưa về quán trọ này, bởi vì việc nó mọc lên đã làm tăng thêm một chút giá trị bất động sản ở gần đây của ông ta, nhưng nếu như ông ta không mất đi một nửa những gì có được, trong vòng mười năm tới, tôi sẽ là người mắc sai lầm lớn".
"Như thế nào vậy?"
"Tôi sẽ nói rõ, tôi e rằng, việc thả lỏng như vậy sẽ làm hư hỏng con trai ông ấy".
"Điều đó quả là tồi tệ" tôi nói.
"Tồi tệ! Thật kinh khủng khi nghĩ đến điều đó. Không có một chàng trai nào thanh lịch hơn, cũng không chàng trai nào có trái tim và ý thức nhân hậu hơn Willy Hammond ở vùng này. Sự hư hỏng của anh ta sẽ đáng buồn hơn nhiều. À, thưa ngài! Sự tồn tại của quán trọ này là một tai ương đối với bất cứ nơi đâu".
"Nhưng tôi nghĩ, mới đây ngài đã phát biểu khuyến khích việc để cho tiền của cả những con nghiện nghèo chui vào ngăn đựng tiền của ông chủ quán để tán dương sự táo bạo kinh doanh trong việc mở ra một quán trọ tốt".
"Chúng tôi đôi lúc đều nói với sự châm biếm ẩn ý", người đàn ông trả lời "như tôi nói khi đó. Joe Morgan đáng thương! Ông ấy là một người bạn cũ và từ hồi còn nhỏ của Simon Slade. Họ là những cậu bé đã chơi với nhau, và cùng làm việc như những thợ xay cùng dưới một mái nhà trong suốt nhiều năm. Trên thực tế, cha của Joe sở hữu cối xay, và hai người đã học nghề cùng với ông. Khi ông già Morgan qua đời, cối xay đã được giao lại vào tay Joe. Nó đã ở trong tình trạng bị hao mòn, và Joe đã phải vay nợ để đại tu và mua thêm máy móc. Ngay sau đó, Simon Slade, người đã được Joe trả công để vận hành cối xay, đã được nhận vài nghìn dollar thừa kế sau cái chết của một bà cô. Khoản tiền này khiến ông ta mua được một phần của cối xay, mà Morgan rất vui vẻ bán lại để trả nợ. Thời gian trôi đi, và Joe bỏ lại hầu như hoàn toàn sự quan tâm đến việc làm ăn của cối xay cho sự trông nom của Slade, người, phải nói là rất yêu thích nó, đã không sao nhãng công việc kinh doanh. Nhưng sự việc xảy ra theo một cách nào đó – tôi sẽ không nói là không công bằng – sau gần mười năm, Joe Morgan không còn sở hữu một phần nào của cối xay nữa. Toàn bộ tài sản đó đã nằm trong tay Slade. Mọi người không thắc mắc nhiều về điều đó, bởi vì trong lúc Slade luôn có mặt tại cối xay một cách chăm chỉ, năng động và chu đáo với khách hàng, thì Morgan hiếm khi được thấy ở cơ sơ kinh doanh. Người ta thường thấy ông ta trong rừng, với một khẩu súng trên vai, ngồi câu cá hồi bên suối hoặc tha thẩn tại quán rượu. Mọi người quý Joe vì ông ta dễ kết thân, nhanh trí và tốt bụng. Ông ấy đôi khi cũng nói những điều ngang ngạnh khi người khác tỏ ra bần tiện, nhưng có rất nhiều nét dễ thương trong những lời châm biếm của ông ta, vốn hiếm khi mang nhiều sự gay gắt.
Một hay hai năm gì đó trước khi không còn quyền sở hữu cối xay, Morgan đã lấy một trong những cô gái dễ thương nhất trong thị trấn chúng tôi – Fanny Ellis, đó là tên cô ấy, người có thể lựa chọn bất cứ người đàn ông trẻ nào. Mọi người đều tỏ ra ngạc nhiên về sự lựa chọn của cô ấy, và rồi cũng không ai thực sự thấy lạ nữa, vì Joe vốn là người đàn ông trẻ rất hấp dẫn, được nhiều người yêu mến, và xứng đáng giành được trái tim của một cô gái như Fanny. Những gì đôi khi được thấy ở ông ấy có một phần là lỗi tại rượu! Ông ấy mới coi ham chơi hơn công việc làm sao! Fanny đã không do dự hay lo ngại gì về tương lai. Cô ấy tin rằng tình yêu của mình sẽ đủ sức mạnh để kéo ông ấy ra khỏi những cám dỗ ma quỷ và, như vẫn thường thấy, những cô gái trẻ ít khi bận tâm về điều đó.
Như vậy, những ngày u ám cũng đến với cô ấy, thật đáng thương! Và rồi, trong bóng tối của số phận ở trần gian, cô ấy đã hoàn toàn trở thành một người vợ yêu thương, nhẫn nại, quên mình vì Morgan. Còn ông ta – vẫn tiếp tục bê tha và bất lực trong bàn tay của con quái vật rượu chè – cũng chưa bao giờ làm cô ấy tổn thương, tôi đảm bảo như thế, vì một lời nói cay nghiệt. Ông ấy mà như vậy nữa thì chắc hẳn trái tim cô ấy tan vỡ từ lâu rồi. Joe Morgan đáng thương! Fanny đáng thương! Ôi, thứ đồ uống này mới đáng nguyền rủa làm sao!"
Người đàn ông, phấn chấn với câu chuyện của mình, đã nói với một vẻ hùng biện mà tôi khó hình dung là được phát ra từ miệng ông ta. Một phần bị chế ngự bởi những cảm xúc của mình, ông ta ngừng giây lát, rồi nói thêm:
"Thật không may cho Joe, ít nhất là việc Slade đã bán cối xay của ông ấy đi, và trở thành chủ quán trọ, vì Joe ít ra vẫn có một chiếc giường ổn định và những khoản lương được trả đều đặn. Ông ấy không thường xuyên gắn bó với công việc, đôi lúc lại đi tiêu xài xả láng, còn Slade thì đã chán ngán với tất cả điều đó, và càng làm việc cật lực hơn để đạt được những mục tiêu của mình. Và cho dù kho đựng thức ăn nhỏ ở nhà có thể thiếu hụt, Fanny Morgan vẫn không bao giờ thấy mâm cơm của mình thiếu thốn vì biết rằng nó đã được bổ sung ở một nơi khác.
"Thế nhưng sau khi Slade bán cối xay đi, một thay đổi đáng buồn đã xảy ra. Người chủ mới không muốn trả lương cho một người không dành cho ông ta toàn bộ thời gian trong giờ làm việc, và chỉ cuối cùng đầy hai tuần sau ngày ông ta làm chủ cối xay, Morgan đã bị sa thải. Kể từ đó, ông ấy làm những công việc lặt vặt, thu nhập chỉ còn đủ mua rượu để đáp ứng những cơn khát quá mức chi phối ông ta. Tôi không có ý đổ lỗi cho Simon Slade về những lỗi lầm của Morgan, nhưng thực tế giản dị ở trong trường hợp này cho thấy là nếu ông ta tiếp tục duy trì phát triển sự có ích của người thợ xay, ông ấy sẽ giúp được cho gia đình của người đàn ông này bớt đi cảnh túng thiếu, khổ cực và giảm đi được sự bất hạnh so với tình trạng sa sút mà họ đang gặp phải. Tôi chỉ kể lại câu chuyện, và ngài có thể đưa ra kết luận của chính mình. Đó là một trong nhiều thực tế, về những câu hỏi xung quanh mặt trái của quán trọ này, mà sẽ chẳng hại gì khi nêu ra. Tôi đã nhận thấy nhiều thực tế nữa, mà một trong số chúng là trước khi Slade mở quán "Lưỡi liềm và Bó lúa", ông ấy dành mọi ảnh hưởng để ngăn người bạn thời trẻ của ông ấy tránh khỏi nạn rượu chè bê tha, thì giờ đây ông ta đã trở thành người lôi cuốn ông ấy. Trước đây, ông ta giúp cho gia đình của ông ấy có nguồn sinh kế để sống một cách dễ thở trong chừng mực nào đó, nay ông ta lấy đi những đồng tiền làm thuê rẻ mạt mà người đàn ông khốn khổ này làm ra, và ném vào két tiền của ông ta, quên mất rằng người vợ và đứa con nhỏ ở nhà đang bị đói vì không có bánh mì mà lẽ ra số tiền này phải được dành để mua.
Joe Morgan, dù sa ngã như đã thấy, thưa ngài, nhưng đâu phải gã ngốc. Đầu óc ông ấy vẫn linh hoạt, và ông ta hiếm khi nói ra những lời bộc bạch thiếu ý nghĩa. Khi ông ấy nói trong vòng mười năm trái tim của Slade sẽ trở nên rắn như một trong những viên đá cối xay cũ của ông ấy , Morgan đã không buông lời một cách tuỳ tiện, cũng không đơn thuần là nói cho thoả nỗi bức xúc trong lòng, có một chút quan ngại về việc điều này sắp xảy ra hay không. Quá trình chai cứng đó đã bắt đầu, ông ấy, chao ôi! Đã nhận thức ra một điều rất buồn".
Người chủ quán đã vắng mặt trong phòng được một lúc. Ông ta rời phòng ngay sau khi thẩm phán Lyman, Harvey Green và Willy Hammond rút lui, và tôi đã không gặp lại ông ta trong buổi tối đó. Con trai của ông ta, Frank, đã ở lại để trông coi quán bar, công việc cũng không có gì là vất vả, chỉ khoảng năm, sáu suất uống gì đó được gọi kể từ khi Morgan ra về cho đến khi quán bar đóng cửa.
Trong lúc ông Lyon đang kể vắn tắt với tôi về lai lịch của quán trọ và những người liên quan, tôi nhận thấy một diễn biến nhỏ, đã gây ra một cảm giác khó chịu tràn ngập tâm trí tôi. Sau khi một người đàn ông – người mà con trai ông chủ quán đã phục vụ một suất rượu ngon – uống gần cạn ly rượu, ông ta để ly xuống mặt quầy rồi bỏ đi. Trong ly vẫn còn lại một vài thìa rượu, và tôi nhận thấy Frank, sau khi ngửi ly rượu thừa đó vài ba lần, đã đưa ly lên môi và nhấp vào thứ rượu ngọt ngào đó. Hương vị rượu có vẻ làm cậu thích thú, vì sau khi nếm thử chỗ rượu, cậu ta lại đưa ly lên môi và uống cạn đến từng giọt.
"Frank!" tôi nghe thấy một giọng nói nhỏ nhẹ, vẻ nhắc nhở, gọi tên cậu ta, và tôi liếc nhìn về một cánh cửa phía trong quán bar hé mở dẫn ra cái sân, tôi nhìn thấy khuôn mặt của bà Slade. Khuôn mặt của bà vẫn mang vẻ băn khoăn giống như tôi đã nhận thấy trước đó, nhưng giờ dzcòn xen lẫn sự âu lo.
Cậu bé đi ra ngoài theo tiếng gọi của mẹ cậu, và khi một vị khách mới ghé vào, tôi nhận thấy rằng Flora, cô con gái, đi vào để phục vụ cho ông ta. Tôi thấy, cũng như vậy, khi cô gái rót rượu ra, sắc mặt cô bỗng bừng lên, khiến tôi thấy như cô gái có thoáng chút e thẹn. Rõ ràng là cô gái không dửng dưng với người mà mình đang phục vụ, và có cả một chút tình cảm ân cần trong thái độ phục vụ của cô.
Mười giờ, tôi nhận thấy mình còn lại một mình và trầm ngâm suy nghĩ trong phòng bar cho tới sáng. Trong tất cả những gì vừa diễn ra, sxxh của đứa con của Joe Morgan đã để lại dấu ấn đậm nét trong tâm trí tôi. Hình ảnh khuôn mặt nhỏ bé, buồn rầu đó luôn hiện ra trước mắt tôi, và dường như tôi vẫn cảm nhận được tất cả như khi nghe từ "Cha" được thốt ra đầy cảm động, và cùng với biết bao sự âu yếm trẻ thơ. Và người đàn ông, người đã phản đối lại một cách đầy bướng bỉnh đối với người bạn nối khố của ông ta, bị họ tìm cách đuổi ra khỏi phòng, đã được dẫn đi ra một cách thụ động, hầu như là ngoan ngoãn bởi đứa trẻ bé nhỏ đó – tôi đã không thể dứt được dòng suy nghĩ về hình ảnh đó một lúc. Và sau đó, suy nghĩ đưa tôi đến ngôi nhà tồi tàn, nơi mà đứa trẻ dịu dàng, đáng yêu đã dẫn cha của em trở về, và trái tim tôi lặng đi khi hình dung ra cảnh tượng khốn khổ ở đó.
Và Wily Hammond. Chàng trai nhỏ mà tôi đã nghe nói về và nhìn thấy cùng với mối quan tâm sâu sắc trong lòng về sở thích của cậu ta. Chao ôi! Cậu ta đang bước đi trên một mặt đất nguy hiểm làm sao! Biết bao cạm bẫy đang chờ đợi những bước chân của cậu ta, bờ vực của sự nguy hiểm còn baoxa, sự huỷ hoại nào sẽ dành cho người bị ngã xuống đó. Cuộc đời cậu ta đã mang những hứa hẹn đẹp đẽ làm sao! Ngày chào đời của cậu ta thật là tươi sáng! Chao ôi! Mây đen đang kéo đến, và tiếng sầm ì ầm từ xa đã báo trước một cơn dông tố đáng sợ đang tới. Không có ai cảnh báo cho cậu ta biết về nguy cơ đó sao? Ôi! Mọi thứ giờ đây có thể đã quá muộn, vì quá ít người đi vào con đường mà những bước chân cậu ta đang đi trên đó muốn lắng nghe những lời khuyên bảo chân thành, hoặc để tâm đến những lời cảnh báo nghiêm khắc. Cậu ta giờ đang ở đâu? Câu hỏi này cứ lặp đi lặp lại trong tôi. Cậu ta đã rời phòng bar cùng với thẩm phán Lyman và Green vào sáng sớm, và từ đó không thấy xuất hiện. Green là ai và làm việc gì? còn thẩm phán Lyman, ông ta có phải là một con người mẫu mực không? Liệu có tin được rằng một thanh niên như Willy Hammond giao du với họ sẽ được an toàn hay không?
Trong lúc tôi đang suy tư như vậy, cửa phòng bar mở ra, và một người đàn ông đã luống tuổi, với một khuôn mặt hồng hào, mái tóc hầu như bạc trắng để mọc tự nhiên được chải ngược về phía sau và trùm xuống cổ áo khoác của ông ta, bước vào với bước đi hấp tấp. Ông ta có vẻ ngoài rất đáng kính, nhưng trong cặp mắt đen còn nhanh nhẹn vẫn sáng lên những ngọn lửa nồng nhiệt, thứ ánh sáng được phát ra từ trên bàn thờ của những đam mê và lòng vị kỷ. Đó là những gì mà tôi thấy được chỉ với một cái nhìn thoáng qua. Khuôn mặt của ông ta trông có vẻ băn khoăn khi ông ta đưa mắt nhìn quanh phòng bar, và có vẻ thất vọng, theo tôi nghĩ, vì thấy phòng vắng người.
"Simon Slade không có ở đây à?"
Khi tôi trả lời là không có, thì bà Slade đã đi vào qua chiếc cửa mở ra sân, và đứng phía sau quầy.
"A, bà Slade đây rồi! Chúc bà một buổi sáng tốt lành!" ông ta nói.
"Chúc ngài một buổi sáng tốt lành, thẩm phán Hammond".
"Ông nhà có ở nhà không ạ?"
"Tôi tin là ông ấy đang ở nhà" bà Slade trả lời. "Tôi nghĩ ông ấy đang ở một nơi nào đó trong ngôi nhà".
"Bà mời ông ấy ra đây được không?"
Bà Slade đi ra. Gần năm phút trôi qua, trong thời gian đó thẩm phán Hammond đi lại trên sàn phòng bar vẻ bồn chồn. Sau đó, người chủ quán xuất hiện. Vẻ thoải mái, cởi mở, mạnh mẽ và tự mãn trên nét mặt ông ta, mà tôi nhận thấy đã bừng lên từ chiều hôm trước, đã biến mất. Tôi nhận ra sự thay đổi đó ngay lập tức vì nó đập ngay vào mắt. Ông ta không nhìn lâu vào mặt của Thẩm phán Hammond, người đang hỏi nhỏ ông xem con trai ông ta có ở đó trong buổi tối trước không.
"Cậu ấy đã ở đây" Slade nói.
"Lúc nào?"
"Cậu ấy đến sau khi trời tối, và ở lại khoảng một giờ".
"Và đã không có mặt ở đây kể từ đó chứ?"
"Cậu ấy đã rời phòng bar cách đây gần hai giờ".
Thẩm phán Hammond có vẻ bối rối. Ông ta không thể không nhận thấy vẻ lảng tránh trong thái độ của Slade. Đối với tôi, điều đó hoàn toàn rõ ràng. Vì sự ngờ vực mà tôi cảm thấy đó có được nhờ một sự quan sát sắc sảo.
Thẩm phán Hammond chắp tay sau lưng, và bước đi ba bốn bước quanh nền nhà.
"Thẩm phán Lyman có ở đây đêm qua không?" sau đó ông ta hỏi.
"Vâng, ông ấy có ở đây". Slade trả lời.
"Ông ta với Willy có cùng nhau đi khỏi đây không?"
Câu hỏi dường như khá bất ngờ đối với người chủ quán. Slade tỏ ra lúng túng đôi chút, và không trả lời được ngay.
"Tôi..tôi nghĩ rằng họ đã đi cùng nhau" ông ta nói sau một thóang lưỡng lự.
"À được! Có lẽ nó đang ở nhà thẩm phán Lyman. Tôi sẽ đến đó".
Và thẩm phán Hammond rời phòng bar.
"Ngài có muốn đi nghỉ không?" người chủ quán, giờ quay sang phía tôi với một nụ cười miễn cưỡng – tôi thấy là miễn cưỡng.
"Nếu ông vui lòng" – tôi đáp.
Ông ta thắp lên một ngọn nến và dẫn tôi đến phòng của tôi, nơi mà, cùng với sự mệt mỏi của một ngày gắng sức, tôi đã nhanh chóng lăn ra ngủ và không hề tỉnh giấc cho đến khi mặt trời chiếu sáng rực rỡ vào cửa sổ phòng tôi.
Tôi còn ở lại làng một khoảng thời gian nữa trong ngày hôm đó, nhưng không gặp lại những người liên quan đến các diễn biến đã làm tôi trở nên chú ý tối hôm trước. Vào lúc bốn giờ, tôi rời làng trong một chuyến xe trạm, và không thăm lại Cedarville trong một năm.

0
Đêm thứ hai – Những biến đổi sau một năm
Một cái bắt tay thân mật và mấy lời chào mừng nồng nhiệt đón tôi tại quán "Lưỡi liềm và bó lúa" khi tôi bước xuống từ chiếc xe trạm trong lần thứ hai tôi đến Cedarville. Thoáng nhìn qua, tôi không thấy có sự thay đổi nào trong vẻ mặt, thái độ hay tác phong nói chung của Simon Slade, người chủ quán trọ. Dường như, đối với ông ta, một năm vừa rồi đã trôi qua giống như một ngày hè vui vẻ vậy. Khuôn mặt ông tròn, đầy đặn, hồng hào và cặp mắt ông vẫn ánh lên cái vẻ khôi hài được bắt nguồn từ sự tự mãn tràn đầy. Mọi thứ xung quanh ông ta dường như đang nói lên rằng "Tôi và thế giới đều tốt đẹp cả".
Tôi khá ngỡ ngàng trước điều này. Từ những gì tôi đã được chứng kiến trong lần lưu lại quán "Lưỡi liềm và bó lúa" ngắn ngủi trước, suy ra một cách đương nhiên, các yếu tố đó đã báo trước những điều sẽ diễn ra, mà chắc hẳn đã gây ra những sự thay đổi khác với trạng thái tâm lý vui vẻ hầu như thường trực làm rạng rỡ trên khắp cả gương mặt của người chủ quán. Đã hàng trăm lần tôi nghĩ đến Tom Morgan và Willy Hammond, đến Frank, và những cám dỗ mà quán bar bày ra trước cậu bé. Trái tim của Slade chắc hẳn đã qủa thực rắn như một trong những hòn đá cối xay cũ của ông ta, nếu ông ta vẫn có thể tiếp tục là người chứng kiến một cách thản nhiên sự sa ngã và thoái hoá của những con người này.
"Những lo ngại của mình đã đi quá xa so với thực tế" tôi tự nhủ với một cảm giác nhẹ nhõm khi một mình trầm tư trong căn phòng khách, vẫn được thu xếp gọn gàng, sau khi ông chủ quán đã ngồi chuyện trò trong ít phút rồi để tôi lại đó. "Có một sự thiện tâm – tôi sẵn sàng tin vậy – trong tính cách người đàn ông này, đã dẫn ông ta đến việc loại bỏ đi, càng xa càng tốt, những tai ương hiển hiện đã từng bám lấy một ngôi nhà làm nơi giải trí cho mọi người. Nhưng ông ta bắt đầu công việc từ năm ngoái. Có nhiều điều cần được học hỏi, suy xét và sửa đổi. Những điều được rút ra, tôi e rằng không phải, đã dẫn đến nhiều thay đổi quan trọng trong cách quản lý cơ sở này, và đặc biệt là đối với những gì liên quan đến quán bar".
Trong lúc suy tư như vậy, mắt tôi liếc qua cánh cửa hé mở, và nhìn thấy khuôn mặt của Simon Slade. Ông ta đang đứng sau quầy bar của mình – rõ ràng là không còn người nào khác trong phòng – đầu cúi xuống với dáng vẻ suy tư. Ban đầu, tôi thoáng chút nghi ngờ việc đã nhận ra những thay đổi khác thường trên vẻ mặt ông. Hai nếp nhăn hằn sâu vuông góc với nhau xuất hiện trên trán ông ta – đường cong của cặp lông mày ông ta biến mất, và từ mỗi khoé môi đang mím chặt thấy xuất hiện những nếp nhăn chạy xuống cằm. Xen lẫn với sự băn khoăn là vẻ ti tiện thấy rõ, thể hiện những ấp ủ nhằm đạt được một mục đích nào đó. Trong chốc lát, tôi ngồi nhìn khuôn mặt ông ta với một chút hoài nghi rằng liệu đó có phải thật sự là Simon Slade hay không. Bỗng nhiên một ánh sáng bừng lên trên khuôn mặt, và một lời nói được thốt a, cùng với một bàn tay đang nắm chặt được thả ra và vỗ mạnh vào lòng bàn tay kia. Người chủ quán đã suy nghĩ xong một điều gì đó, và quyết định chuỷên thành hành động. Không có những tia ấm áp trong thứ ánh sáng đã toả ra trên vẻ mặt ông ta – ít ra là đối với trái tim tôi, nơi dang cảm thấy từ chúng toát ra sự lạnh lùng gần như băng giá.
"Quả đúng là người mà tôi đang nghĩ đến" tôi nghe thấy người chủ quán nói vào lúc một người nào đó đi vào trong phòng bar, khiến cho thái độ của ông ta lập tức thay đổi.
"Người xưa nói không hề sai" một người trả lời, giọng nói tôi nghe có vẻ quen quen.
"Ông nghĩ đến ông già Harry phải không?" Slade hỏi.
"Đúng vậy!"
"Quả thực, trong trường hợp này" tôi nghe thấy người chủ quán nhận xét, dù giọng đã được hạ thấp xuống nhiều "nếu không làm ma quỷ, ta sẽ không thể tiến xa hơn được".
Một tiếng cười nhỏ, khùng khục đáp lại câu nói hóm hỉnh trên. Trong đó, có một vẻ gì đó rất khác với một tiếng cười của con người, khiến mạch máu tôi gần như ngưng lại lạnh buốt trong giây lát.
Tôi không còn nghe thấy gì nữa, ngoài những tiếng nói rì rầm trong phòng bar, vì một bàn tay đã đóng cánh cửa hé mở dẫn sang phòng khách.
Giọng nói đó là của ai vậy? tôi nhớ lại những âm sắc và cố gắng lục tìm trong trí nhớ xem nó thuộc về người nào, nhưng vẫn không thể nhớ ra. Tôi đã không phải thắc mắc quá lâu, vì những bước chân đang đi ra ngoài hiên ở phía trước quán trọ và khuôn mặt không thể quên của Harvey Green đã hiện ra. Gã đứng ở cửa phòng bar và đang nói chuyện một cách nghiêm túc với Slade, người đang quay lưng lại phía tôi. Tôi thấy rằng gã đã nhận ra tôi, mặc dù tôi đã không nói với gã một lời nào trong dịp ghé thăm lần trước, và vẻ mặt gã chợt tươi lên như sắp nói điều gì, nhưng tôi đã nhìn lảng đi nơi khác để tránh những lời chào đón không mấy dễ chịu. Khi nhìn lại vào mặt gã, tôi thấy rằng đã đang liếc nhìn tôi một cách nham hiểm rồi tránh mắt vội đi chỗ khác. Từ "kẻ cám dỗ" được hiện ra rõ ràng trên khuôn mặt gã bằng những con chữ thô tục, đen ngòm! Làm sao mà ai đó có thể nhìn vào mà không đọc được lời cảnh báo ở trên đó.
Ngay sau đó, gã đi vào phòng bar, còn người chủ quán đi đến và ngồi xuống gần chỗ tôi ngoài hiên nhà.
"Quán Lưỡi liềm và bó lúa giờ ra sao?" tôi hỏi.
"Tốt lắm!" đó là câu trả lời "Tốt lắm".
"Tốt như ông mong đợi chứ?"
"Tốt hơn".
"Ông hài lòng với cuộc thử nghiệm của mình chứ?"
"Một cách hoàn hảo. Tôi không thể trở lại với chiếc cối xay ầm ĩ được nữa, nếu ngài có đem lại cho tôi điều đó".
"Còn cối xay thì sao?" tôi hỏi. "Người chủ mới làm ăn như thế nào?"
"Cũng giống như tôi đã từng nghĩ".
"Không được tốt lắm à?"
"Làm sao có thể mong đợi điều đó khi mà ông ta đã không hiểu biết đầy đủ về việc quản lý cối xay để xay được một giạ lúa cho đúng cách. Ông ấy đã mất đi một nửa số khách hàng mà tôi chuyển giao cho trong vòng chưa đầy ba tháng. Sau đó, ông ta phá bỏ ống thông hơi chính, rồi mất hơn ba tuần lễ để dựng lên một cái mới. Một nửa khách hàng còn lại khi đó phát hiện ra rằng họ có thể có được những bữa ăn ngon hơn nhiều từ ngũ cốc của mình tại cối xay của Harwood, ở gần Lynwood, và không còn phiền đến ông ta nữa. Kết cục của toàn bộ câu chuyện là ông ta phá bỏ cả ống thông hơi mới, và phải bán cối xay đi với một khoản thua lỗ lớn".
"Ai đang sở hữu nó hiện nay?"
"Thẩm phán Hammond là người mua lại".
"Ông ấy sẽ cho thuê nó, tôi cho là như vậy?"
"Không, tôi tin là ông ấy dự tính sẽ chuỷên nó thành một nhà máy, và tôi nghĩ mình sẽ được kết giao với một xưởng chưng cất rượu. Đây là một đất nước trồng ra nhiều lương thực tốt, như ông biết đấy. Nếu ông ta dựng lên một xưởng chưng cất rượu, ông ấy sẽ làm ra từ đó một thứ thật quý. Lương thực còn rất ít được sử dụng vào việc này trong một số năm, mọi người nông dân đều nhận thấy điều này, và họ rất vui mừng về ý định đó. Nó sẽ giúp họ được rất nhiều. Tôi đã nghĩ rằng cối xay của tôi là một thứ rất quan trọng đối với người nông dân, nhưng những gì tôi đã làm cho họ chỉ là một thứ tầm thường so với những lợi thế của mgt xưởng chưng cất rượu lớn".
"Thẩm phán Hammond là một trong những người đàn ông giàu nhất ở đây à?"
"Vâng, giàu nhất vùng, và hơn nữa, ông ấy là người đàn ông sắc sảo nhìn xa trông rộng, và biết cần làm gì để nhân lên sự giàu có của mình".
"Willy, con trai ông ta ra sao rồi?"
"Ồ! Tốt lắm!"
Cặp mắt người chủ quán hạ thấp xuống dưới cái nhìn dò hỏi mà tôi hướng vào ông ta.
"Cậu ta bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?"
"Mới hai mươi".
"Một độ tuổi có tính then chốt" tôi nhận xét.
"Mọi người hay nói vậy, nhưng tôi không thấy thế" Slade trả lời, có chút dè dặt.
"Ham mê bên trong và những cám dỗ bên ngoài đó là thước đo những mối nguy của tuổi này. Ở tuổi cậu ấy, ông đã – không nghi ngờ gì nữa – hàng ngày phải làm việc vất vả rồi".
"Tôi đã như vậy, và không có gì sai lầm".
"Hàng nghìn và hàng trăm nghìn người gắn mình với những công việc hữu ích trong nhiều giờ mỗi ngày, và rời chúng cùng với sự mệt nhọc vào buổi tối để đi qua bình an tuổi thanh niên nông nổi để trở nên vững vàng, có nhân cách biết đề kháng. Có thể ông sẽ không phải như bây giờ nếu như ông được nhàn rỗi và tự do muốn đi đâu thì đi khi ông ở tuổi mười chín".
"Tôi không thể nói như vậy" người chủ quán nói và nhún vai. "Nhưng tôi không nhận thấy rằng Willy Hammond đang gặp phải mối nguy hiểm đặc biệt nào. Cậu ta là một thanh niên với nhiều phẩm chất đáng ngưỡng mộ, đó là sự chan hoà, thoải mái, hào phóng gần như quá mức, nhưng lại có ý thức vì mọi người, và đủ thông minh – tôi cho là như vậy – để tránh được những sai lầm".
Vào lúc đó, một người đàn ông ghé vào, tạo ra cơ hội để Simon Slade chấm dứt cuộc trò chuyện – mà tôi có thể thấy – không có được sự nhất trí chung. Khi ông ta đã đi, tôi đứng dậy và đi vào phòng bar. Frank, con trai người chủ quán, đang ở sau quầy bar. Cậu ta đã lớn lên trông thấy sau một năm, từ một cậu bé trông mảnh khảnh, ngây thơ, trở thành một chàng trai to khoẻ, bạo dạn. Gương mặt cậu ta trở nên đầy đặn hơn và đã mang một vẻ thô thiển đầy ham mê được thể hiện rõ nhất chung quanh miệng. Green đang đứng cạnh quầy bar nói chuyện với cậu ta, và tôi nhận thấy rằng Frank cười ngặt nghẽo vì một câu nhận xét, được nói nhỏ, có phần thô tục mà gã đưa ra. ở giữa họ, Flora, chị gái của Frank, một cô gái thực sự xinh đẹp, đi vào phòng bar để lấy một thứ gì đó. Green nói với cô vẻ suồng sã, và Flora trả lời gã với một sắc mặt ửng lên có thể thấy rõ.
Tôi liếc nhìn về phía Frank với một chút trông đợi sẽ thấy mặt cậu ta đỏ lên vì phẫn nộ. Nhưng không, cậu ta đứng nhìn với một nụ cười! "À" tôi tự nhủ "những cảm xúc trong sáng của cậu bé đã bị mất đi sớm như sao trong cái không khí tai hại này? Cậu ta có thể chịu đứng nhìn cặp mắt xấu xa đó – cậu ta biết là chúng xấu xa – nhìn chằm chặp vào mặt chị gái mình hay sao? Hoặc nghe từ cặp môi đó – mà chỉ trước đó giây lát đã phát ra những lời đê tiện – tán tỉnh cô với vẻ suồng sã của một người bạn?"
"Một cô gái đẹp, chị cậu đó, Frank! Quả là một cô gái đẹp!" Green nói, sau khi Flora đã đi ra – những câu nói về cô gái được thể hiện qua giọng gã nghe như gã đang khen một con chó hay trong một cuộc đua chó vậy.
Cậu bé mỉm cười vẻ hài lòng.
"Tôi phải cố gắng tìm cho cô ấy một người chồng tốt, Frank. Tôi băn khoăn rằng liệu cô ấy có lấy tôi không?"
"Tốt hơn là ngài hãy hỏi chị ấy" cậu ta nói, và cười to.
"Tôi sẽ làm như thế nếu thấy có bất cứ cơ hội nào dành cho tôi".
"Không gì bằng hãy thử xem. Một trái tim yếu đuối không bao giờ chinh phục được người đẹp" Frank trả lời, với thái độ của một người đàn ông hơn là một cậu bé. Cậu ta mới già dặn đi nhanh làm sao!
"Một câu pha trò rất hay!" Green kêu lên, vỗ tay vào nhau. "Cậu là một chàng trai tuyệt vời, Frank ạ! Một chàng trai tuyệt vời! Tôi sẽ phải kể với cha cậu về cậu mới được. Hãy tiến lên nhanh nào! Cậu phải đem áp dụng bài học của mình đi, hê!"
Và Green nháy mắt với cậu bé, rồi chọc ngón tay vào cậu. Frank cười to một cách vui vẻ, vừa trả lời: "Tôi cho rằng tôi sẽ làm thế".
"Tôi nghĩ cậu sẽ như vậy" Green nói và hài lòng với cuộc trò chuyện, gã quay đi và ra khỏi phòng bar.
"Uống gì không, thưa ngài?" Frank hỏi tôi một cách tự nhiên, bạo dạn.
Tôi lắc đầu.
"Có một tờ báo đây này" cậu ta nói thêm.
Tôi cầm tờ báo và ngồi xuống – không phải để đọc mà để quan sát. Hai hoặc ba người đàn ông vừa đến, và chuyện trò vẻ rất quen thuộc với Frank, người lúc này đang bận rộn mang rượu được yêu cầu ra cho họ. Cuộc đối thoại của họ - được xen vào bằng nhiều từ thô tục và khiếm nhã – là chủ đề về những con ngựa, đua ngựa, đi săn, và người phục vụ quầy bar trẻ tuổi vừa lắng nghe vừa thỉnh thoảng chêm vào một câu, cho thấy một sự am hiểu về những vấn đề đó vượt khá xa so với tuổi cậu ta. Giữa lúc đó, Slade xuất hiện. Sự hiện diện của ông ta đã gây ra một sự thay đổi rõ rệt ở Frank, cậu đã rời những người đàn ông – chỉ cách quầy bar một hoặc hai bước chân – để trở về chỗ, và không tham gia vào câu chuyện trong khi cha cậu ta ở đó. Rõ ràng là ông Slade đã không biết được về những khôn ngoan trước tuổi đáng lo ngại của Frank, nhưng đã nhận ra và khiển trách cậu ta về sự quá tự do.
Đến lúc đó, tất cả những gì tôi nhìn và nghe thấy đã gây cho tôi những ấn tượng chẳng dễ chịu gì, mặc dù Simon Slade đã tuyên bố rằng mọi việc ở quán "Lưỡi liềm và bó lúa" đều đang diễn ra "tốt lắm", và rằng ông ta đã "hài lòng mỹ mãn" với cuộc thử nghiệm của mình. Vì sao, ngay cả khi cho dù người đàn ông này có kiếm được năm mươi nghìn dollar một năm từ việc làm chủ quán trọ, ông ta đã mất đi một thứ quý gía hơn cả, là sự trong sáng của người con trai ông. "Hài lòng mỹ mãn ư? Không thể! Ông ta không hài lòng mỹ mãn. Làm sao ông ta có thể hài lòng được? cái nhìn của ông ta hướng về Frank lúc đi vào phòng bar, và thấy cậu vui vẻ, sốt sắng khi gặp những tửu khách thô bỉ, vô công rồi nghề, đã phủ nhận lời khẳng định đó.
Sau bữa đêm, tôi vào ngồi trong phòng bar để tìm hiểu xem cuộc sống đã biến đổi ra sao ở nơi tụ tập của những cư dân tiêu biểu ở Cedarville này. Sự quan tâm đối với những nhân vật mà tôi đã gặp gỡ một năm trước vẫn còn đủ lớn để tôi lựa chọn dành thời gian để làm việc này, thay vì đến thăm nhà của một người đàn ông lịch thiệp đã có nhã ý mời tôi đến chơi buổi tối với gia đình ông ta.
Số lượng khách hàng của phòng bar – tôi nhận ra ngay – đã tăng lên nhiều sau một năm. Phòng bar giờ đã đòi hỏi, vào những lúc đông khách, sự phục vụ của cả người chủ quán và con trai ông ta để đáp ứng kịp những suất rượu mà khách yêu cầu. Điều khiến tôi bận tâm nhất là đã thấy nhiều thanh niên và những người đàn o otrẻ đến uống tại quán, và hiếm thấy ai trong số họ trên khuôn mặt không thể hiện những dấu hiệu ham mê hưởng lạc, hoặc lời nói không bị pha tạp bởi những câu tục tĩu, thô bỉ, hoặc tiếng lóng khiếm nhã. Những đề tài được nói đến bao gồm đủ thứ, mặc dù chính trị là sôi nổi nhất. Về chính trị, tôi không nghe thấy điều gì có tính chất cung cấp thông tin, mà chỉ toàn những lời lăng mạ cá nhân và sự võ đoán truyền miệng. Họ tất thảy đều đưa ra những lời quả quyết một cách quá tuỳ hứng, nhưng tôi nghe mà không hề thấy có sự giải thích, hay thậm chí cả những sự kiện nào có luận cứ. Còn ông ta với tác phong trịnh trọg và rất mực chăm chỉ, thực hiện những công việc hàng ngày trong những cuộc tranh luận tầm thường đó.
Tôi nhận thấy, vào đầu buổi tối, và vào lúc mọi người trong phòng đang ở trong trạng thái vui vẻ nhất, có một ông già đi vào, người mà tôi nhận ra ngay trên khuôn mặt mang một tâm trạng ưu tư. Đó là một người đàn ông trong số những người thuộc loại hoà nhã, khuôn mặt gây ấn tượng nổi bật, khiến ta phải chú ý ngay từ cái nhìn ban đầu. Vầng trán rộng, cặp mắt to và có chiều sâu, cặp môi dày nhưng vững chắc. Ta thấy được những biểu hiện của một cá tính mạnh mẽ nhưng điềm tĩnh. Khi ông ta bước vào, tôi nhận thấy mọi người đưa mắt nhìn nhau như dò hỏi, và sau đó hai hoặc ba cặp mắt quay sang nhìn vào một người đàn ông trẻ, người ngồi cách tôi không xa, anh ta quay lưng về phía cửa ra vào và đang chơi bài domino. Anh chàng có một ly rượu để bên cạnh. Ông già đưa mắt nhìn quanh phòng trong chốc lát, rồi cái nhìn của ông dừng lại nơi người đàn ông trẻ mà tôi vừa nói tới. Cặp mắt tôi giờ đây đã nhìn thấy được toàn bộ khuôn mặt của ông già, mà trước đó chưa thấy được hết, vì ông đang tiến về phía anh chàng nọ. Trên khuôn mặt đó không có một dấu hiệu nào của một cơn giận, mà chỉ thể hiện một nỗi buồn đến nao lòng.
"Edward!" ông nói khi nhẹ nhàng đặt tay lên vai người đàn ông trẻ. Anh ta giật mình khi nghe thấy giọng nói và đỏ bừng mặt lên. Anh chàng ngồi bối rối mất một lúc.
"Edward, con!" phải là một trái tim lạnh lùng, cứng rắn lắm mới không mềm đi dưới sự âu yếm mềm mại của những lời nói đó. Tiếng gọi không thể cưỡng lại được và cần phải nghe theo. Sức mạnh của thói xấu đã không đủ nắm được trái tim của anh chàng để giữ anh ta lại nữa. Đứng dậy với vẻ miễn cưỡng đôi chút và với sự xấu hổ không thể giấu được, anh chàng rút lui một cách lặng lẽ. Chỉ có vài người có mặt trong phòng bar để ý thấy được diễn biến đó.
"Tôi có thể nói với ngài rằng" tôi nghe thấy người vừa chơi cờ domino với người đàn ông trẻ - chưa đầy hai mươi tuổi – nhận xét "nếu ông già tôi mà làm tôi bẽ mặt như thế này – lén lút theo dõi tôi ở phòng bar – ông ta sẽ chỉ gặp rắc rối vì điều đó. Như vậy thật là hay, tôi cho là thế. Tôi sẽ không đi theo ông ta giống như một con cừu ngoan ngoãn! Hô! Hô!"
"Quý ông vừa đi vào đó là ai vậy?" tôi hỏi người đã bình phẩm về diễn biến mới xảy ra.
"Hargrove là tên ông ấy".
"Và đó là con trai ông ấy phải không?"
"Đúng, và tôi chỉ tiếc là anh ta hơi thiếu bản lĩnh".
"Anh ta bao nhiêu tuổi?"
"Chừng hai mươi".
"Chưa đủ tuổi, theo luật pháp, đúng không nào?"
"Anh ta đủ già dặn để biết phải làm gì".
"Luật pháp thì lại nói khác" tôi nói.
Để trả lời, gã đàn ông trẻ nguyền rủa pháp luật, bật ngón tay vào một khuôn mặt tưởng tượng ra, như anh ta đang làm như vậy.
"Ít nhất cậu phải thừa nhận rằng" tôi nói "Edward Hargrove đang được sử dụng quyền tự do đi lại và làm những việc theo ý mình, nhưng quyền đó vẫn hạn chế".
"Tôi không thừa nhận như vậy. Điều gì có hại, tôi muốn biết, trong một trò chơi nhỏ như chúng tôi vừa mới chơi? Không phải là trò cá cược – chúng tôi đâu có đánh bạc".
Tôi chỉ vào ly rượu còn một nửa mà anh chàng Hargrove để lại.
"Ô! Hô!" một tiếng cười nửa giễu cợt của một người đàn ông tuổi chừng gấp đôi người nói chuyện với tôi, ông ta ngồi ngay gần và đang nghe cuộc đối thoại của chúng tôi. Tôi nhìn ông ta một lát, rồi nói:
"Mối nguy lớn nằm ở đó, không nghi ngờ gì nữa. Đó đâu chỉ là một ly rượu và một ván cờ domino, mà sẽ không dừng lại ở đó, và cha của người thanh niên biết rõ như vậy".
"Chắc ông ta biết rõ" người đàn ông trả lời. "Tôi nhớ những ngày ông ấy còn trẻ, và là một anh chàng đẹp trai. Ông ấy đã không dừng lại ở một ly rượu và một ván domino, ông ta không như vậy! Tôi đã chứng kiến ông ta say bí tỉ nhiều lần, và nhiều lần tham gia cá cược đua ngựa hoặc chọi gà với những kẻ táo tợn nhất. Khi ấy, tôi chỉ là một cậu bé, dù sao cũng là một cậu bé khá lớn, nên tôi có thể nói với ngài rằng Hargrove không phải là một vị thánh".
"Tôi nghĩ rằng ông ấy không phải là đã quá lo âu cho con trai mình" tôi nhận xét. "Ông ấy biết rõ những mối nguy rình rập trên con đường mà cậu đang có xu hướng bước vào".
"Tôi không thấy rằng chúng gây hại nhiều cho ông ta. Ông ấy cũng chấm dứt cái tuổi thơ chơi bời, rồi cưới vợ và ổn định lại cuộc sống, trở thành một công dân tốt, tích cực. Có một chút gì dó quá ngoan đạo và đạo đức giả, tôi thường nghĩ, nhưng những cư xử của ông ta luôn ngay thẳng. Ông ấy đã tận hưởng thú vui khi còn trẻ, những điều thường phù hợp với tuổi thanh xuân – vậy tại sao không để cho con trai ông ta nếm thử cũng chính những sự thoải mái ấy? ông ta đã sai rồi, thưa ngài – sai rồi! Và tôi đã nói với Ned nhiều lần. Tôi chỉ mong cậu bé ấy đã thể hiện sự phản kháng và buổi tối nay, và nói với ông già đó hãy về nhà với công việc của ông ta".
"Tôi cũng vậy" anh chàng môn đồ trẻ của cái trường học tồi tệ này phụ hoạ theo. "Đó là những gì tôi sẽ nói với ông già tôi, nhanh gấp đôi, nếu ông ấy đi tìm tôi".
"Ông ấy đã hiểu biết hơn khi làm điều đó" người kia nói, với thái độ khiến tôi càng bị yếu thế trước tính cách của người thanh niên.
"Thực ra thì ông ấy đã như vậy. Ông ta đã thử ra tay với tôi một hoặc hai lần vào năm ngoái, nhưng nhận thấy điều đó không có tác dụng gì, Tom Peters đã bỏ cái ô che của ông ấy đi rồi".
"Và có thể uống ly rượu của cậu ấy với bất cứ ai, và không có một chút tổn hại nào vì điều đó".
"Chính xác, ông bạn già!" Peters nói, vỗ tay vào đầu gối người dẫn dắt anh ta. "Chính xác! Tôi đâu phải một trong những người bạn nhụt chí của ông. Ồ không!"
"Hãy nhìn đây, Joe Morgan!" – giọng nói vẻ tức giận của Simon Slade giờ vang lên khắp phòng bar "Hãy đi về nhà đi!"
Tôi đã không nhìn thấy con người này đi vào phòng. Ông ta đang đứng ở quầy bar với một ly rượu đã uống cạn trong tay. Thời gian một năm qua đã không cải thiện được diện mạo bên ngoài của ông ta. Ngược lại, trang phục của ông ta cũ kỹ và tả tơi hơn, vẻ mặt ông ta thảm hại hơn. Ông này đã nói điều gì khiến người chủ quán tức giận tôi không biết, nhưng khuôn mặt Slade đang hiện rõ cơn giận dữ, và cặp mắt ông ta trừng trừng nhìn con người tội nghiệp đó vẻ hăm doạ, Joe Morgan không tỏ vẻ gì cho thấy là sẽ nghe lời.
"Ông biến đi, tôi yêu cầu! Và đừng bao giờ vác mặt đến đây lần nữa. Tôi sẽ không để những kẻ lang thang như ông đến nhà tôi. Nếu ông ở gthể giữ được sự tử tế, đừng xâm phạm nơi đây nữa".
"Một người bán rượu nói về sự tử tế!" Morgan vặn lai. "Hừ! Ông đã từng là một người tử tế, và một người thợ xay tốt. Nhưng thời gian đó đã thành quá khứ rồi .sự tử tế đã chết khi ông đánh đổi cái cuốc chim và cái búa sang chiếc ly và sự lộn xộn. Sự tử tế! Hừ! Ông đã nói hay làm sao! Cứ như là bán rượu thì tử tế hơn là uống nó vậy!"
Có quá nhiều sự khinh miệt cay đắng trong giọng nói cũng như lời lẽ của người đàn ông đang gần say này, mà Slade, người cũng đã uống khá nhiều, so với bình thường, đã nổi cơn khùng không còn kiềm chế được. Vớ một chiếc ly không có rượu từ trên quầy bar, ông ta ném mạnh nó với toàn bộ sức lực vào đầu của Joe Morgan. Vật bị ném trượt qua thái dương của ông ta và lao đi đầy nguy hiểm. Lập tức, tiếng khóc xé lòng cô một đứa trẻ vang lên khiến mọi người giật mình, sau đó là những tiếng la hét kêu cứu và sợ hãi của nhiều giọng nói vang lên.
"Đó là đứa con của Joe Morgan!" "Ông ta đã giết chết cô bé!" "Lạy Chúa!" những tiếng nói ồn ào lan đi khắp phòng. Tôi là người đầu tiên đến được nơi có một cô bé vừa mới bước qua ngưỡng cửa đã bị chiếc ly lao vào trán, gây ra một vết thương sâu và làm cô bé bị bất tỉnh. Máu trào ra từ vết thương và lan khắp mặt em, một cảnh tượng thật gây sốc. Khi tôi nâng cô bé khỏi sàn nhà nơi em ngã xuống, Morgan, người đã nghe thấy tiếng khóc xé lòng của con gái ông ta cũng đến nơi, đứng cạnh tôi và vòng cánh tay quanh cơ thể bất tỉnh của cô bé, bật ra những tiếng khóc và lời than vãn xúc động đến tận đáy lòng.
"Chuyện gì vậy? Ôi, chuyện gì vậy?" có tiếng một người phụ nữ, nói với vẻ sợ hãi.
"Chẳng có chuyện gì cả! Tránh ra, Ann!" tôi nghe tiếng người chủ quán nói.
Nhưng vợ ông ta, - vì đó là bà Slade, đã nghe được tiếng thét đau đớn và sợ hãi của đứa con Morgan, đã chạy vào phòng bar – không để ý đến lời Slade, đã rẽ đám đông đến cùng những người đứng xung quanh cô bé đang chảy máu.
"Chạy đi tìm bác sĩ, Green, Frank!" bà gào lên, giọng khẩn thiết khi tận mắt nhìn thấy khuôn mặt bé nhỏ đầy máu.
Frank từ sau quầy bar đi ra để làm theo lời mẹ, nhưng bố cậu ta đã đưa ra một mệnh lệnh ngược lại, và anh chàng vẫn đứng nguyên tại chỗ. Nhận thấy điều đó, mẹ cậu nhắc lại yêu cầu, với sự nhấn mạnh hơn.
"Tại sao cậu không lao đi, hả chú nhóc?" Harvey Green kêu lên. "Đứa bé có thể bị chết trước khi bác sĩ đến đây".
Frank không còn lưỡng lự nữa, lập tức chạy biến khi qua khung cửa.
"Tội nghiệp! Tội nghiệp đứa trẻ!" bà Slade thổn thức khi đỡ thân thể bất động của cô bé từ tay tôi. "Chuyện xảy ra thế nào? ai đã làm đau cô bé?"
"Ai ư? Nguyền rủa hắn! Còn ai ngoài Simon Slade?" Joe Morgan trả lời qua hàm răng nghiến chặt.
Cái nhìn đau đớn xen lẫn với sự lên án cay đắng từ người vợ - mà ai đã chứng kiến vào tối đó khó có thể quên được – lập tức được hướng vào người chủ quán.
"Ôi Simon! Simon! Và điều đó đã xảy ra như vậy sao?" biết bao đau xót trong ký ức và dự cảm về những điềm xấu sẽ đến đã được thể hiện trong câu nói ngắn ngủi đó. "Đã xảy ra như vậy đấy!" và thái độ của bà trở nên lắng xuống với những bước chân gấp gáp cùng những công việc khẩn trương.
"Mang cho tôi một chậu nước và một chiếc khăn, nhanh lên!" lúc này bà quát lên.
Nước đã được mang đến, và trong chốc lát khuôn mặt nhỏ nhắn của đứa trẻ đã trở lại tinh khiết và trắng trẻo như tuyết dựa vào ngực bà, vết thương mà từ đó máu đã tuôn ra được lộ rõ, nằm ở phía trên vầng trán, chếch về một bên và kéo dài chừng một gang tay lên phía trên đỉnh đầu.
Ngay khi những vết máu được lau sạch, và máu chảy đã được cầm lại một phần, bà Slade đưa cô bé vẫn còn bất tỉnh sang phòng bên, nơi mà người cha đau đớn, và giờ đã hoàn toàn tỉnh táo, sẽ ở bên cô bé. Tôi đi theo họ, còn Slade vẫn ở lại phía sau.
Bác sĩ đã đến nơi. Liêu sau đó, sự sống đã trở lại với cơ thể bất động của cô bé. Ông ta tình cờ có mặt ở nhà và lập tức đến ngay. Lúc ông bác sĩ vừa xong mũi khâu cuối cùng ở vết thương và đang dán những miếng băng dính lên trên, thì sự xuất hiện vội vã của một người nào đó khiến tôi phải ngước lên nhìn. Đập vào mặt tôi là một người phụ nữ đứng ở cửa với khuôn mặt lo lắng xen lẫn sợ hãi của người mẹ. Vẻ mặt bà tái xám như tro, cặp mắt bà căng thẳng hoang dại, cặp môi đang hé mở trong khi những lời nói hổn hển được thều thào phát ra từ đó.
"Joe! Joe! Cái gì thế này? Mary đâu rồi? nó bị chết rồi sao?" Bà hỏi dồn dập.
"Không, Fanny" Joe Morgan trả lời, giật mình đứng dậy từ chỗ ông ta đang quỳ bên cạnh cô bé vừa hồi tỉnh và nhanh chóng đi tới chỗ vợ. "Con giờ đã đỡ rồi. Đó là một vết thương nặng, nhưng bác sĩ nói không có gì nguy hiểm. Ôi, tội nghiệp con tôi!"
Khuôn mặt nhợt nhạt của người mẹ càng trở nên tái nhợt hơn, bà thở hổn hển hai, ba hơi, một cơn rùng mình nhẹ lan khắp cơ thể bà và sau đó bà ngã vào cánh tay chồng, trắng bệch và không còn sinh khí. Khi bác sĩ tiến hành hồi sức cho bà, tôi có dịp để nhìn rõ hơn diện mạo của bà Morgan. Người bà rất nhỏ nhắn, và khuôn mặt bà thật mong manh, tựa như một cái bóng vậy. Mái tóc bà – có màu nâu như hạt dẻ, với chút màu vàng ánh lên lộng lẫy – xõa tung và đang nằm đẹp rực rỡ phủ kín cổ và ngực người phụ nữ. Tóc nơi thái dương bà đã được bàn tay Morgan vuốt gọn ra phía sau. Những động tác vuốt ve âu yếm quanh lông mày và thái dương bà mà tôi vô tình nhìn thấy cho biết những cảm xúc yêu thương – khác hẳn với sự bệ rạc của ông ta mà Morgan dành cho người vợ trẻ, và cũng là người đang phải chịu đựng những tháng ngày khôn khổ vì ông ta. Chiếc váy của bà Morgan tuy giản dị và cũ, nhưng sạch sẽ và vừa vặn. Toàn bộ con người bà toát lên vẻ gọn gàng và tinh tế. Người phụ nữ này giờ đây không thể nói là xinh đẹp bởi hoàn cảnh và những đau khổ, bất hạnh mà bà phải chịu đựng, nhưng nhiều nét đẹp vẫn còn nguyên, và có nhiều dấu hiệu cho thấy rằng trái tim đang đập trong ngực của người phụ nữ trong sáng và trung hậu này. Sự sống đã dần trở lại với trái tim ngừng đập, và phải mất thêm gần nửa giờ trước khi các mạch máu trở lại hoạt động bình thường.
Sau đó, hai vợ chồng Morgan, cùng đứa trẻ được ôm trong cánh tay người bố, buồn bã đi về nhà, để lại hơn một trái tim trĩu nặng về cuộc viếng thăm của họ.
Nhân cơ hội này, tôi đã được quan sát vợ người chủ quán nhiều hơn trước. Cách cư xử sốt sắng và đầy tình người của bà đã gây cho tôi những ấn tượng tốt đẹp. Điều đó thật rõ ràng trong việc bà kêu lên sửng sốt khi biết rằng chính bàn tay chồng bà đã gây ra cú đòn suýt nữa đã làm chết đứa bé, bà chưa bao giờ thực sự tin tưởng rằng việc duy trì một qúan trọ sẽ mang đến những điều tốt đẹp. Tôi đã suy ra được nhiều điều. Khuôn mặt của bà, như tôi đã nhìn thấy qua vài lần, mang một nỗi âu lo, và tôi không thể quên được vẻ mặt cũng như giọng nói lo lắng, nhắc nhở khi bà nhìn thấy Frank đang nhấp chỗ rượu còn sót lại trong ly ở phòng bar.
Hiếm khi, tôi tin vậy, những người vợ chấp thuận một cách thoải mái với việc mở quán trọ của chồng mình, và quyết định của người chồng thường gây ra những mối xung khắc mà sau đó không bao giờ xoa dịu được hoàn toàn. Những người đàn ông thường nhìn vào lợi nhuận trước mắt, còn phụ nữ thì nhìn thấy những hệ quả về đạo đức. Tôi cho rằng, trong mười người bán rượu, không có đến một người có được sự thống nhất với vợ ông ta để nói rằng điều đó là không ảnh hưởng gì. Và, trong những trường hợp ngoại lệ, bà vợ cũng là người hám lợi hoặc không quan tâm đến lợi ích của cộng đồng giống như chồng bà ta. Tôi biết một số phụ nữ đã lập ra những quán rượu, nhưng họ là những người phụ nữ có tư cách kém và không có tấm lòng. Tôi biết trường hợp một người phụ nữ, có chồng là người không uống rượu và đi lễ nhà thờ, đã mở một quán rượu. Người chồng đã phản đối, can ngăn, van nài, đến doạ dẫm, nhưng tất cả đều không hiệu quả gì. Người vợ, với công việc làm cho cửa hàng quần áo, đã kiếm được và để dành ra khoảng ba trăm dollar. Ham muốn kiếm tiền, trong quá trình tích luỹ chậm chạp đó, đã thức dậy, và, trong khi phục vụ cho nhu cầu của những người đàn ông nghiện rượu và bỏ bê gia đình, bà ta đã tìm ra được một cách làm giàu nhanh hơn như đã mong muốn. Và quán rượu đã được khai trương. Còn kết quả như thế nào? người chồng đã bỏ đi lễ nhà thờ. Ông ta không còn để tâm vào việc đó, thậm chí cả vào ngày lễ Sabbath, sự quan tâm đối với gia đình mai một đi. Sau đó ông ta bắt đầu uống rượu. Chẳng bao lâu, lạy Chúa! Thứ đồ uống tai hại đó đã dần chế ngự cơ thể ông ta và gây ra những cơn nghiện, và sau đó ông này nhanh chóng suy sụp. Trong vòng chưa đầy ba năm, tôi nhớ vậy, từ khi quán rượu được vợ ông mở ra, ông ta đã phải xuống mồ. Một hay hai năm sau, cùng với huyệt chôn của một số người khác được mở ra với sự góp tay của người vợ, chính bà ta cũng bị xuống đó. Sau một thời gian hít thở quen bầu không khí bị đầu độc đầy hơi rượu hấp dẫn, sự ham muốn nếm thử nó cũng dần dần xuất hiện, và đến lượt bà ta cũng trở thành nô lệ của con quỷ Rượu. Cuối cùng, bà ta trở thành người ăn xin và bị chết giữa phố trong sự nghèo túng. Chao ôi! Cái nghề bán rượu này quả là một con đường dẫn đến sự huỷ hoại và những người mở ra cánh cổng, cũng như những người đi vào con đường đó, đều có thể bị huỷ diệt. Nhưng tôi lại lan man rồi.
Sau khi Joe Morgan và vợ ông ta rời quán "Lưỡi liềm và bó lúa" cùng với đứa trẻ dễ thương đó – người mà, sau này tôi mới biết , trong suốt khoảng hơn một năm qua đã không chịu để cho cái đầu nhỏ bé của mình được ngủ cho đến khi bố em về đến nhà, và là người, nếu ông ta đi vắng quá một giờ, thường đi tìm và dẫn ông ta trở về, quả là thiên thần của tình yêu và lòng kiên nhẫn – tôi quay lại phòng bar để xem tình hình ở đó ra sao. Không có ai trong số những người còn lại trong phòng còn ở đó. Sự việc xảy ra thật thương tâm, khiến cho sự vui vẻ không còn được tiếp tục tại đó trong buổi tối, và thế là từng người một đã rút lui. Trong cái vương quốc của mình, người chủ quán đang ngồi lẻ loi, đầu ông ta tì vào bàn tay và khuôn mặt ông ta nằm trong bóng tối. Mọi điều cho thấy rằng người đàn ông này đang tự cảm thấy nhục nhã. Thấy tôi đi vào, ông ta ngẩng đầu lên và quay mặt về phía tôi. Khuôn mặt thể hiện sự đau xót.
"Thật là không may" ông nói "tôi giận chính mình và có lỗi với đứa trẻ đáng thương. Nhưng cô bé đâu có phận sự gì ở đây. Còn Joe Morgan, chỉ có thánh mới chịu được cái lưỡi của ông ta khi đã mang hơi rượu. Tôi cầu mong ông ta sẽ tránh xa ngôi nhà này. Không ai muốn đánh bạn với ông ta. Ôi, trời ơi!"
Những lời thốt lên, hay đúng hơn, rên lên, kết thúc câu nói cho thấy Slade còn chưa hài lòng với bản thân, mặc dù đã nỗ lực bào chữa cho chính mình.
"Cơn thèm rượu đã cuốn ông ta tới đây" tôi nhận xét. "Sự hấp dẫn từ quán bar của ông đối với cơn nghiện của ông ấy giống như sức hút của một thanh nam châm đối với một cây kim vậy. Ông ấy không thể tránh xa được".
"Ông ấy phải tránh xa!" người chủ quán kêu lên với giọng nhấn mạnh, đấm nắm tay xuống chiếc bàn nơi ông ta đang ngồi. "Ông ta phải tránh xa! Hiếm có buổi tối nào mà ông ta không làm tôi nổi cáu, và gây ảnh hưởng đến không khí vui vẻ chung ở đây. Chỉ cần nhìn những gì ông ta đã khiêu khích tôi tối nay cũng thấy. Tôi đã suýt nữa giết đứa bé. Nghĩ đến điều đó mà tôi thấy lạnh cả người! Vâng, thưa ngài, ông ta phải tránh xa. Nếu không còn cách nào khác, tôi sẽ thuê người gác cửa và không cho ông ta vào nữa".
"Ông ấy đã chưa bao giờ gây phiền toái cho ông ở cối xay" tôi nói. "Ông cũng đã không cần phải thuê nó ngác cửa cối xay, đúng không?"
"Không!" và người chủ quán buông ra một lời rủa với vẻ thô bạo làm cho tôi sửng sốt. Trước đây, tôi chưa bao giờ nghe ông ta chửi thề bao giờ. "Không, sự phiền toái lớn nhất là nhận ông ta vào và giữ ông ta ở đó, một kẻ vô công rồi nghề!"
"Tôi e rằng," tôi đánh bạo nhận xét "mọi việc ở đây không diễn ra trôi chảy như ở cối xay. Những khách hàng thuộc một tầng lớp khác".
"Tôi không nhận thấy điều đó, vì sao?" ông ta có vẻ không hài lòng với nhận xét của tôi.
"Giữa những người nông dân lặng lẽ, cần kiệm, chất phác với những tửu khách lười nhác của phòng bar là cả một sự khác biệt lớn".
"Xin lỗi ngài!" Simon Slade đứng phắt dậy. "Những người đến với phòng bar của tôi, nhìn chung, đều đứng đắn, có đạo đức và chất phác không kém gì những khách hàng đã đến cối xay, và tôi tin là còn hơn thế. Những người phải nhắc đến đầu tiên, thưa ngai, là những người đã được thấy ở đây. Thẩm phán Lyman và thẩm phán Hammond, luật sư Wilks và bác sĩ Maynard, ông Grand, bà Lee và hàng tá người khác – đó là những người phải nói đến đầu tiên. Không, thưa ngài, ngài không thể phán xét tất cả đều là những kẻ cầu bơ cầu bất giống như Joe Morgan".
Có một vẻ bực bội được thấy rõ ở ông ta mà tôi không muốn kích thích thêm. Có lẽ tôi đã gặp phải sự ngoan cố của ông ta với những điều có thực và những điều được suy diễn có thể làm bất cứ ai thách thức vị trí của ông ta phải giật mình, một con nó ncó một thái độ lạnh lùng, đầy lý lẽ, nhưng thà rằng im lặng còn hơn là tranh cãi với ông ta khi đó, và bởi vậy tôi để mặc cho ông ta có cơ hội tiếp tục nói thoả thích, còn tôi ngừng lời để lấy lại sức lực.

0
Đêm thứ ba – Đứa con của Joe Morgan
"Tôi không thấy bóng dáng nào của Joe Morgan, người bạn đặc biệt của ông trong tối nay cả", Harvey Green nói khi tựa người vào quầy bar để trò chuyện với Slade. Đó là buổi tối tiếp theo sau cái tối đã xảy ra sự việc đau lòng và gây xôn xao với đứa trẻ kể trên.
"Không" câu trả lời được kèm theo một câu chửi thề thô tục. "Không, và nếu ông ta tránh xa nơi đây, ông ấy sẽ được toại nguyện. Ông ta đã thử thách lòng kiên trì của tôi quá sức chịu đựng, và tôi đã quyết định rằng ông ta sẽ không được mua rượu tại quán bar này nữa. Tôi đã phải chịu đựng miệng lưỡi xấu xa của ông ta và thấy những khách hàng của tôi bị ông ta quây rầy như vậy là quá đủ. Buổi tối hôm qua đã dẫn tôi đến quyết định như vậy. Thử nghĩ xem sự việc sẽ ra sao nếu tôi đã làm chết đứa trẻ?"
"Ông đã bị gây rối lúc đó, và đâu có lỗi".
"Vậy ư? Trời đánh thánh vật đứa bé! Việc gì đến nó mà tối nào cũng mò đến đây chứ?"
"Cô bé ấy có một người mẹ quả là đẹp!" Green nhận xét với một nụ cười nhếch mép, lạnh lùng, vẻ châm chọc.
"Tôi không biết hiện giờ bà ấy ra sao" Slade nói với một chút xúc động thể hiện trong giọng nói của ông ta "Thật đau lòng. Tôi đã không thể nhìn vào bà ấy tối hôm qua, sự việc đã khiến tôi mệt mỏi. Đã từng một thời Fanny Morgan là người phụ nữ đáng yêu và xinh đẹp nhất ở Cedarville. Tôi sẽ nói cho bà ấy biết. Hỡi ôi! Bất hạnh thay cuộc đời mà người chồng khốn khổ đã gây ra cho bà ấy!"
"Tốt hơn cả là ông ta hãy chết đi và không còn ảnh hưởng đến những người khác".
"Ông ta đáng vậy hàng nghìn lần" Slade đáp. "Nếu một đêm nào đó ông ta bị ngã gục và chết đi thì đó sẽ là một điều phúc đức cho gia đình ông ấy".
"Và nhất là cho ông nữa" Green cười.
"Ông có thể tin rằng sức việc đó sẽ không làm tôi phải mất nhiều tiền để phúng viếng" một câu trả lời thật nhẫn tâm.
Chúng ta hãy rời phòng bar của quán "Lưỡi liềm và bó lúa" với những con người lạnh lùng đó, để đến với gia đình của Joe Morgan và xem điều gì đang diễn ra trong ngôi nhà của người nghiện rượu khốn khổ này.
"Joe!" bàn tay trắng mỏng mảnh của bà Morgan giữ chặt lấy cánh tay của chồng bà, người vừa đứng bật dậy và đang đứng cạnh cánh cửa hé mở. "Đừng đi ra ngoài tối nay, Joe. Xin anh đừng đi".
"Cha!" một tiếng gọi yếu ớt vang lên từ góc của một chiếc ghế tràng kỷ cũ, nơi cô bé Mary đang nằm với cái đầu quấn băng.
"Được, cha sẽ không đi nữa!" câu trả lời không có vẻ bực bội, cáu kỉnh, mà được nói với vẻ ân cần.
"Đến đây và ngồi gần con đi cha", giọng nói nhỏ nhẹ, dịu dàng, đầy sự lo âu mới dễ thương làm sao. "Đến đây đi cha?"
"Ừ, con yêu".
"Nắm tay con đi cha".
Joe nắm lấy tay của cô con gái bé nhỏ Mary, cũng đang nắm chặt tay ông ta.
"Cha sẽ không đi và bỏ lại con một mình tối nay, phải không cha? Hãy nói là không đi cha?"
"Tay con mới nóng làm sao, con yêu. Đầu con có đau không?"
"Đau một chút, nhưng sẽ khỏi mau thôi".
Ngước đôi mắt to màu xanh tha thiết lên, cô bé nhìn khuôn mặt bị sưng và biến dạng của người cha sa ngã. Cô bé không nhìn thấy những nét tiều tuỵ, mà chỉ thấy vẻ mặt thân yêu của cha em.
"Cha ơi?"
"Gì thế con?"
"Con muốn cha hứa với con một điều".
"Điều gì, con yêu?"
"Cha sẽ hứa chứ?"
"Cha không thể hứa khi chưa nghe thấy yêu cầu của con. Nếu cha có thể, cha sẽ hứa".
"Ồ, cha có thể mà, thưa cha!"
Cặp mắt xanh mở to của cô bé chớp chớp mới rạng rỡ làm sao!
"Điều gì vậy, con gái yêu?"
"Đó là cha sẽ không bao giờ đến quán bar của Simon Slade nữa".
Cô bé tự mình ngồi dậy, rõ ràng là gắng gượng chịu đau, và nghiêng người gần hơn về phía cha của em.
Joe lắc đầu, và cô bé Mary tội nghiệp buông mình nằm trở lại chiếc gối của em với một tiếng thở dài. Mi mắt cô bé sụp xuống và những chiếc lông mi dài nằm yên trên cặp má trắng bệch của em.
"Tối nay cha sẽ không đến đó, con ạ. Bởi vậy, con hãy cứ yên tâm nghỉ ngơi".
Cặp mi của Mary mở ra, và hai giọt nước mắt rơi ra, từ từ chảy dài trên khuôn mặt của cô bé.
"Cảm ơn cha. Chắc hẳn mẹ sẽ vui lắm".
Cặp mắt cô bé lại nhắm lại, và người cha xúc động một cách khó khăn. Trái tim ông ta xúc động. Nhưng trong ông ta đang diễn ra một cuộc đấu tranh. Miệng ông ta rất muốn nói rằng ông sẽ không bao giờ uống rượu ở quán "Lưỡi liềm và bó lúa" nữa, nhưng lại không đủ sức để bật ra thành lời.
"Cha ơi?"
"Gì vậy con?"
"Không có gì đâu, con chỉ nghĩ sẽ có đủ sức khoẻ để đi ra ngoài trong vòng hai hoặc ba ngày nữa. Cha biết đấy, bác sĩ nói rằng co nsẽ phải nghỉ ngơi vì đã bị sốt cao".
"Đúng vậy, tội nghiệp con".
"Giờ cha hãy hứa với con một điều này thôi".
"Điều gì vậy, con yêu?"
"Cha sẽ không đi ra ngoài vào buổi tối cho đến khi con khoẻ".
Joe Morgan lưỡng lự.
"Hãy hứa với con điều đó đi cha. Sẽ không lâu đâu, con sẽ hồi phục nhanh thôi mà".
Người cha hiểu rất rõ những điều đang ở trong lòng đứa con của ông ta. Cô bé đang lo lắng cho ông ta. Ai sẽ là người đi theo người cha tội nghiệp của em và dẫn ông về nhà khi mà bóng đêm của cơn say đã bao trùm tâm hồn, và nhận thức của ông ta không còn đủ tỉnh táo để tránh những rủi ro trên đường đi?
"Hãy hứa với con điều đó đi, cha yêu".
Joe Morgan không thể cưỡng lại được giọng nói và cái nhìn cầu xin đó. "Cha hứa điều đó, Mary, giờ hãy nhắm mắt lại và ngủ đi con. Cha lo rằng cơn sốt sẽ tăng lên".
"Ôi! Con vui quá!"
Mary không nắm chặt bàn tay, cũng không biểu lộ cái nhìn vui sướng, nhưng những lời thì thầm được thốt ra từ đáy lòng cô bé đã thể hiện một niềm hân hoan tràn đầy sự trong sáng, quên mình.
Bà Morgan đã chăm chú chứng kiến tất cả những gì vừa diễn ra, nhưng biết rõ được sức ảnh hưởng của đứa con đối với người cha, bà đã không tham gia một lời nào. Bà tin rằng nếu mình im lặng thì hiệu quả đạt được sẽ cao hơn, và bởi thế bà đã lặng im. Giờ đây bà đến gần hai bố con, vừa đặt bàn tay lên vai chồng vừa nói:
"Anh đã cảm thấy nhẹ nhõm hơn với lời hứa đó, em biết vậy mà".
Joe Morgan nhìn vợ và mỉm cười yếu ớt. Ông ta đã cảm thấy nhẹ nhõm hơn, nhưng thấy khó khăn khi thừa nhận điều đó.
Một lát sau Mary đã ngủ. Một điều không nằm ngoài sự quan sát của bà Morgan là chồng bà bỗng trở nên bồn chồn, có những lúc ông ta đột nhiên đứng dậy và đi lại quanh phòng một cách vội vã như đang tìm kiếm cái gì đó. Rồi ông ta ngồi xuống, vẻ bơ phờ, thở dài và nằm dài thượt ra, miệng kêu lên "Trời ơi!"
Bà cần làm gì để giúp chồng? Làm thế nào để giải toả được sự kích động do một buổi tối thiếu rượu gây ra? Bà suy nghĩ và tự hỏi mình, rồi âm thầm đau khổ. Joe Morgan thật đáng thương! Vợ ông ta hiểu được tình cảnh của chồng và trong lòng rất thương Joe Morgan. Nhưng bà có thể làm được gì? đi mua rượu về cho ông ta uống ư? "Ôi không! Không bao giờ!" bà trả lời gần như bật ra thành tiếng trong lúc trăn trở suy nghĩ. Một giờ đã trôi qua. Sự bất an của Joe càng lúc càng tăng thêm chứ không hê` giảm xuống. Cần phải làm gì đây? Lúc này bà Morgan đã ra khỏi phòng. Bà đã quyết định làm một việc gì đó. Sau năm phút, bà quay lại, mang theo trong tay một ly cà phê đặc.
"Em quả tốt bụng và chu đáo, Fanny ạ" Morgan nói cùng với một cái nhìn biết ơn khi cầm lấy chén cà phê. Nhưng bàn tay ông ta run rẩy và làm đổ một ít cà phê ra ngoài trong khi đưa chén lên môi. Thần kinh của ông ta đã bị huỷ hoại như vậy đó! Việc uống rượu trong một thời gian dài thực sự đã làm ông ta mất đi tất cả sức sống. Và giờ đây bàn tay của vợ, người đang nâng chén lên miệng Joe Morgan, và ông ta liền uống một cách háo hức.
"Thật đáng sợ! Đâu là sự kết thúc? Cần phải làm gì đây?"
Fanny nén một tiếng nức nở khi bà muốn xua đi cảm giác âu lo. Đã hai lần cơn nghiện dâng lên khiến chồng bà bị rơi vào tình trạng cuồng loạn, và trong cơn suy nhược bởi sự thiếu vắng dù chỉ một thời gian ngắn thứ đồ uống kích thích mạnh quen thuộc của ông ta, bà đã thấy được điềm báo trước của một đợt tấn công tiếp theo của tệ nạn kinh khủng và nguy hiểm này. Với hy vọng mang đến một sự tác động cần thiết nào đó, bà đã cho Joe Morgan uống loại cà phê đặc, và chất này đã tỏ ra có hiệu quả tốt. Sự bồn chồn đã dịu xuống và tình trạng thể chất và tinh thần của Morgan được ổn định hơn. Đó là điều cần thiết để Morgan có thể được nghỉ ngơi qua đêm. Sau ít phút nằm vào giường, giấc ngủ đã đến với ông ta, và tiếng thở nặng nhọc cho biết ông ta đang chìm vào giấc mơ.
Và lúc đó bỗng có tiếng gõ cửa nhè nhẹ.
"Mời vào" câu trả lời vang lên.
Then cửa được nhấc lên, cánh cửa mở ra, và một người phụ nữ xuất hiện.
"Bà Slade!" tên người mới đến được thốt ra đầy vẻ bất ngờ.
"Fanny, tối nay bà có khoẻ không?" những lời nói thật nhân hậu và đượm buồn.
"Cũng ổn rồi, cảm ơn bà".
Hai người phụ nữ siết chặt tay nhau, và họ nhìn vào mắt nhau trong giây lát. Trong ánh mắt bà Slade thể hiện đầy ắp một sự thương xót dịu dàng.
"Tối nay bé Mary có khoẻ không, thưa bà?"
"Tôi e rằng không được khoẻ lắm. Nó đã bị sốt cao".
"Vậy ư? Ôi, tôi rất lấy làm tiếc! Cô bé thật đáng thương! Sự việc mới kinh khủng làm sao! Ôi, Fanny! Bà không biết tôi đã phiền lòng đến thế nào. Cả ngày hôm nay tôi đã định đến thăm xem sức khoẻ cháu ra sao, nhưng đến giờ mới đi được".
"Con bé đã suýt chết" bà Morgan nói.
"Nhờ ơn Chúa mà cô bé đã thoát chết. Cứ nghĩ đến điều đó, máu trong người tôi như bị đông lại. Đứa trẻ thật đáng thương! Cô bé đang nằm trên ghế tràng kỷ đó phải không?"
"Vâng".
Bà Slade ngồi xuống một cái ghế bên cạnh cô bé đang nằm ngủ, nhìn hồi lâu vào khuôn mặt xanh xao của em. Lúc này cặp môi của Mary mấp máy và phát ra những lời thì thầm. Cô bé nói gì?
"Không, không mẹ, con chưa thể đi ngủ được. Cha vẫn chưa về nhà, mà trời thì tối đen. Mẹ đừng khóc nữa, con không sợ đâu! Sẽ không có gì nguy hiểm cho con cả".
Vẻ xúc động bỗng hiện ra trên khuôn mặt cô bé. Em bật ra tiếng rên và cánh tay quờ quạng một cách khó khăn. Chắc hẳn, trong giấc mơ, em lại đang đi tìm cha.
"Tôi cầu mong ông Slade sẽ không bực bội với tôi. Ông ấy đã không bao giờ như vậy khi tôi đến cối xay trước đây .giờ thì ông ấy không còn để tôi ngồi trên đầu gối và vuốt mái tóc tôi như trước. Trời ơi! Tôi ước sao cha tôi không đi đến đó nữa. Đừng! Đừng, ông Slade! Ôi!" Những lời nói thốt ra được kéo dài thành một tiếng khóc hoảng hốt. "Ôi! Cái đầu tôi! Đầu tôi!"
Rồi giọng nói trở nên thổn thức, nghẹn ngào, theo sau là những tiếng nức nở. Lúc đó, hơi thở của cô bé đã trở nên nhẹ nhàng trở lại, nhưng má vẫn còn đỏ bừng, và khi những giọt nước mắt rơi từ mắt bà Slade theo nhau lăn xuống khuôn mặt cô bé, chạm nhẹ tay vào đó, bà Slade nhận thấy mặt cô bé đang nóng bừng vì sốt.
"Hôm nay bác sĩ đã khám bệnh cho cô bé chưa, Fanny?"
"Chưa, thưa bà".
"Cần nhờ ông ấy đến khám cho cô bé ngay. Tôi sẽ đi gọi ông ấy" và bà Slade liền đứng dậy vội vã ra đi. Chỉ một lát sau, bà quay lại cùng với bác sĩ Green. Ông ngồi xuống và nhìn cô bé với một vẻ mặt nghiêm nghị, đăm chiêu .rồi ông ta đặt ngón tay lên mạch máu cô bé và nhìn vào đồng hồ để bắt mạch, sau đó, ông lắc đầu và trông có vẻ còn nghiêm trang hơn.
"Cô bé bị sốt lâu chưa?" ông hỏi.
"Sốt suốt cả ngày".
"Lẽ ra bà nên báo cho tôi biết sớm hơn".
"Ô, bác sĩ! Con bé không bị nguy hiểm chứ ? tôi hy vọng như vậy" bà Morgan nhìn có vẻ lo sợ.
"Cô bé đang bị ốm, thưa bà".
"Cha hãy hứa đi cha!" cô bé đang mơ ngủ lại kêu lên "con vẫn chưa đủ khoẻ. Ô, đừng đi cha ơi, đừng! Kìa! Cha đi rồi! Được, con sẽ cố gắng đi tới đó, con sẽ ngồi xuống và nghỉ ở dọc đường. Trời ơi! Sao con mệt thế này! Cha ơi! Cha ơi!"/
Cô bé chợt nhỏm dậy và ngơ ngác nhìn xung quanh.
"Ôi, mẹ đó à?" và cô bé lại thả người xuống gối, nhìn những khuôn mặt chung quanh với vẻ dò hỏi.
"Cha ơi, cha đâu rồi?" cô bé hỏi.
"Cha đang ngủ con ạ".
"Ôi vậy ư? Con vui quá!"
Cặp mắt cô bé nhắm lại vẻ kiệt sức.
"Cháu có cảm thấy đau không, Mary?" ông bác sĩ hỏi.
"Có, cháu bị đau đầu, thưa bác sĩ. Bị đau và có tiếng mạch đập".
Morgan, đang ngủ ở phòng bên cạnh, đã nghe thấy tiếng gọi "Cha ơi" và thức giấc. Ông ta nghe thấy giọng nói quen thuộc của ông bác sĩ. Vì sao ông ấy có mặt ở đây vào giờ muốn này? "Con bị đau sao, Mary?" Câu hỏi bỗng trở nên rõ ràng trong đầu ông ta, và cũng được bật ra thành tiếng yếu ớt. Ông ta đủ tỉnh táo để lập tức nhận thức được mối lo âu. Không có thứ gì trên thế gian được ông yêu quý bằng đứa con đó. Và bởi vậy, Morgan đứng dậy và vội vã mặc quần áo, sự lo âu khiến cho những sợi dây thần kinh vừa được nghỉ ngơi của ông ta lại trở nên căng thẳng.
"Ôi cha!" Mary là người đầu tiên đã nhanh chóng nhận ra tiếng chân của cha mình bước vào, và em nở một nụ cười mãn nguyện chào đón ông.
"Con tôi có ốm nặng lắm không, thưa bác sĩ?"
"Cô bé bị ốm, thưa ông, lẽ ra ông nên báo cho tôi biết sớm hơn".
Ông bác sĩ nói một cách nghiêm trang và có ý khiển trách.
Câu trả lời làm Morgan thêm lo lắng, và dường như ông ta co rúm người lại sợ hãi trước những lời nói đó, như đó là những cú đánh vậy. Mary đã nắm lấy bàn tay của cha em và giữ nó thật chặt.
Sau khi khám kỹ thêm chút nữa, ông bác sĩ kê cho cô bé một số thuốc và hứa sẽ trở lại vào sáng sớm hôm sau, rồi ra về. Bà Slade cũng về ngay sau đó, nhưng khi chia tay với bà Morgan, đã giúi lại một thứ gì đó vào tay bà, mà, trước sự ngạc nhiên của bà Morgan, hoá ra là một tờ bạc mười dollar. Những giọt nước mắt chợt trào ra từ mắt của bà Morgan, và bà giấu đồng tiền vào ngực, vừa thì thầm "Chúa phù hộ cho bà!"
Việc làm bù đắp giản dị như là một bổn phận của bà Slade, được thúc đẩy bởi tình người cũng như ý thức về sự công bằng. Một mặt, chồng bà lấy đi những đồng tiền dùng để nuôi gia đình của người bạn cũ của ông ta, mặt khác, bà đã hoàn lại nó.
Lúc này, chỉ còn lại Morgan và vợ của ông cùng đứa con bị ốm. Cơn sốt lên cao và tình trạng gần như mê sảng đã kích thích đầu óc cô bé. Em nói liên hồi trong một lúc. Mọi điều quan tâm của cô bé đều là về người cha của em, và em thường xuyên nhắc lại là lời hứa của ông ta rằng sẽ không đi chơi vào buổi tối cho đến khi em khoẻ lên .những lời khẩn khoản của cô bé đối với người cha nghe thật âu yếm và cảm động. Em ngước mắt lên để nhìn rõ hơn vào khuôn mặt ông ta, và gọi cha một cách lo âu nếu ông ta rời em để đi ra chỗ khác.
"Cha sẽ không quên lời hứa, phải không cha?" cô bé hỏi, giọng điềm tĩnh khiến ông ta thấy rằng em đang nói nghiêm túc.
"Không con yêu, cha sẽ không quên" Morgan trả lời, bàn tay nhẹ nhàng vuốt mái tóc cô bé.
"Cha sẽ không đi chơi buổi tối cho đến khi con khoẻ chứ?"
"Không con ạ".
"Cha ơi?"
"Gì thế con yêu?"
"Cha cúi xuống gần hơn nữa đi, con không muốn mẹ nghe thấy, điều đó sẽ làm cho mẹ buồn".
Người cha cúi xuống, ghé tai vào gần môi của Mary. Và ông ta bỗng chợt rùng mình. Cô bé đã nói gì vậy? Đó chỉ là những lời ngắn gọn sau:
"Con sẽ không khoẻ đâu cha ạ, con sắp chết".
Những tiếng rên rỉ không thể kìm nén được đã bật ra khỏi cặp môi của Joe Morgan, khiến cho vợ ông ta giật mình, và bà vội đến gần bên chiếc giường chỗ hai cha con.
"Có chuyện gì vậy? có chuyện gì vậy hả Joe?" bà hỏi, cùng với một cái nhìn lo âu.
"Suỵt cha! Đừng kể lại với mẹ .con chỉ nói với cha thôi". Và Mary đặt một ngón tay lên môi em, vẻ bí ẩn. Mẹ ra chỗ khác đi, dù sao mẹ lo nghĩ đã quá đủ rồi. Đừng nói cho mẹ biết cha nhé".
Nhưng những lời nói như những điềm báo đã khiến cho trái tim của Joe Morgan đau nhói vì lo sợ và thương xót, nên ông ta đã không thể giấu được sự đau khổ. Morgan nhìn vợ trong chốc lát, rồi gập người về phía trước, đột nhiên ông ta úp mặt vào tấm khăn trải giường và khóc một cách cay đắng.
Một thoáng cảm nhận chợt loé lên trong đầu bà Morgan, làm cho từng dây thần kinh của bà run lên đau khổ. Trước khi bà có đủ thời gian để trấn tĩnh lại, thì giường nói nhỏ nhẹ dễ thương của Mary đã cất lên phá vỡ không khí im lặng trong căn phòng, cô bé hát
"Chúa Jesus thu xếp một chiếc giường hấp hối
Với những chiếc gối mềm mượt lông tơ,
Nơi tôi ngả đầu vào ngực Người.
Và nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng ở đó".
"Jesus can make a bed
Feel soft as downy pillows are,
While on His breast I lean my head,
And breathe my life out, sweetly, there".
Bà Morgan không còn kìm nén được cảm xúc của mình nữa .khi những hơi thở căng thẳng không còn nín được, bà oà bật khóc, và có lúc khóc một cách dữ dội.
"Ôi" cô bé nói "con không muốn nói cho mẹ biết. Con chỉ nói với cha, bởi vì…, bởi vì cha đã hứa không đến quán rượu nữa cho đến khi con khoẻ, và con sẽ không khoẻ lên. Vì thế, mẹ hiểu không, cha sẽ không bao giờ đến quán đó nữa, không bao giờ. Ôi, sao đầu con đau thế! Ông Slade ném mạnh quá. Nhưng cha đã không bị sao, và thế là con vui rồi. Nhưng cha sẽ không bao giờ đến đó nữa, điều đó thật là tốt, phải không mẹ?"
Khuôn mặt cô bé rạng rỡ hẳn lên, nhưng nhận thấy mẹ mình vẫn còn khóc, cô bé nói:
"Mẹ đừng khóc nữa, có lẽ con sẽ khoẻ lên thôi".
Và sau đó, cặp mắt của cô bé nặng nề khép lại, rồi em lại thiếp đi.
"Joe" bà Morgan nói rành rọt, sau khi đã trấn tĩnh lại "anh đã nghe thấy con gái nói gì chứ?"
Morgan chỉ trả lời bằng một tiếng lầm bầm.
"Đầu óc con đang lẩn thẩn, và con bé có lẽ đã nói thật".
Ông ta lại rên lên.
"Nếu con bé mà bị chết, Joe…"
"Đừng, ôi, xin đừng nói vậy, Fanny, con sẽ không chết. Đó chỉ là bởi vì con nó bị mê sảng mà thôi".
'Vì sao bị mê sảng hả Joe?"
"Đó là tại cơn sốt, chỉ tại cơn sốt thôi, Fanny".
"Đó là vì cú ném và vết thương ở đầu của con bé đã gây ra cơn sốt. Làm sao chúng ta biết được mức độ lớn của vết thương ở trong đầu con bé? Bác sĩ Green nhìn có vẻ rất nghiêm trọng. Em lo rằng, anh ạ, điều tồi tệ nhất đang chờ đợi chúng ta. Em đã chịu đựng rất nhiều – chỉ có Chúa mới biết nhiều như thế nào, em cầu mong sao mình có đủ sức mạnh để chịu đựng được thử thách này. Em thương con chúng ta quá! Con bé đáng được ở trên thiên đường hơn là ở mặt đất, và có lẽ vì vậy mà Chúa sắp mang nó đến bên Người. Con mình là niềm hạnh phúc thật lớn lao đối với em, và đối với anh, Joe ạ! Giống như một thiên thần hộ mệnhy hơn là một đứa trẻ".
Bà Morgan đã cố gắng nói một cách rất rành rọt nhưng khi những câu nói được nối tiếp nhau, giọng bà trở nên đuối dần. Khi những lời nói cuối cùng được thốt ra, mọi sự tự chủ cũng biến mất, và bà bật khóc cay đắng. Morgan cũng khóc theo vợ.
"Joe" bà Morgan bỗng như bừng tỉnh, vì bà chợt nhớ ra một điều cần nói, nhưng do lo sợ nên đã không dám nói ra "Nếu Mary không qua khỏi, anh không được quên nguyên nhân đã gây ra cái chết của con mình".
"Ôi Fanny! Fanny!"
"Cũng không quên kẻ đã gây ra cú ném tàn nhẫn đó".
"Quên ư? Không bao giờ! Và nếu tôi tha thứ cho Simon Slade…"
"Cũng không được quên nơi đã gây ra chuyện đó" bà Morgan ngắt lời ông ta.
"Tội nghiệp con tôi!" người đàn ông đang bị sự ân hận cắn rứt kêu than.
"Cũng không được quên lời hứa của anh, Joe, không được quên lời anh hứa với đứa con của chúng ta".
"Cha ơi! Cha ơi! Cha yêu của con!" cặp mắt của Mary bỗng nhiên mở ra, em lại hối hả gọi cha.
"Cha đây, con yêu. Có chuyện gì vậy?" và Joe Morgan đến bên chiếc giường của Mary.
"Ô, cha đây rồi! Con mơ thấy cha đã đi ra ngoài, nhưng …cha sẽ không đi, phải không cha?"
"Không, con yêu ạ".
"Không bao giờ đi nữa, cho đến khi con khoẻ chứ?"
"Cha cũng phải đi làm, con biết vậy mà, Mary".
"Vào buổi tối, thưa cha, ý con muốn nói vậy. Cha sẽ đừng đi nhé?"
"Cha sẽ không đi, con yêu ạ".
Một nụ cười dịu dàng làm khuôn mặt cô bé run rẩy, mi mắt em trĩu xuống vì mệt, và cô bé lại chìm vào giấc ngủ. Em dường như không còn vẻ bất an như trước – không rên, cũng không vật vã trong giấc ngủ.
"Con đã đỡ hơn rồi, anh nghĩ vậy" Morgan nói trong khi cúi xuống nhìn cô bé và lắng nghe hơi thở đã dịu nhẹ hơn của em.
"Có vẻ như vậy" vợ ông ta trả lời. "Và giờ thì Joe, anh phải đi ngủ lại đi. Em sẽ nằm xuống đây với Mary để tiện giúp con khi nó cần điều gì đó".
"Anh không thấy buồn ngủ. Anh thấy mình không thể nhắm mắt lại được nữa. Hãy để anh ngồi đây cùng với Mary. Em đã mệt và kiệt sức rồi".
Bà Morgan nghiêm nghị nhìn khuôn mặt chồng. Cặp mắt ông ta sáng hơn thường lệ, và bà nhận thấy một thoáng băn khoăn, bồn chồn quanh môi ông. Bà đặt một bàn tay lên bàn tay của ông ta, và cảm nhận được một cái rùng mình nhẹ.
"Anh phải đi ngủ đi" bà nói rành mạch. "Em sẽ không để anh ngồi thức với Mary. Nào, đi đi!" Và bà kéo chồng đi, gần như cưỡng ép, sang phòng bên.
"Vô ích thôi, Fanny, anh không thấy buồn ngủ chút nào. Dù sao anh cũng chỉ nằm thức thôi. Vì thế, em hãy ngủ một chút đi". Dù vậy, trong khi nói, cánh tay và vai ông ta vẫn co giật một cách bồn chồn và khi được vợ đẩy vào căn phòng, ông ta bỗng đứng lại và hỏi:
"Cái gì kia?"
"Ở đâu?" bà Morgan hỏi lại.
"Ồ, không phải, anh thấy rồi. Đó chỉ là cái ủng cũ, vậy mà anh tưởng đó là một con mèo đen to".
Chao ôi! Một cái rùng mình tuyệt vọng xâm chiếm lấy trái tim người vợ khốn khổ. Bà biết rõ những dấu hiệu đáng sợ của hai lần cuồng loạn mà chồng bà bị trước đó. Bà có thể sẽ phải chứng kiến cái chết của chồng… "Không! Ôi, cầu xin cha ở trên thiên đường phù hộ" bà thì thầm với trái tim đau đớn.
"Hãy nằm vào giường, Joe, nhanh lên!"
Morgan giờ đây đã trở nên thụ động trong bàn tay của vợ ông ta, và ngoan ngoãn nghe lời giống như một đứa trẻ. Morgan lật chăn ra và chuẩn bị nằm xuống, thì lúc đó ông ta bật dậy ngay với một cái nhìn ghê tởm.
"Có gì ở chỗ đó đâu, Joe. Anh bị làm sao thế?"
"Anh không biết Fanny" và răng ông ta va cầm cập vào nhau trong khi nói. "Anh thấy như có một con cóc đang nằm dưới tấm chăn".
"Anh mới ngốc nghếch làm sao!" cặp mắt của Fanny nhoà lệ trong khi nói. "Đó chỉ là do anh tưởng tượng ra thôi. Hãy nằm xuống và nhắm mắt lại. Em sẽ pha cho anh một ly cà phê đặc nữa. Có lẽ điều đó sẽ tốt cho anh. Anh chỉ lo lắng quá một chút thôi mà. Mary ốm đã khiến anh phải ưu phiền".
Joe vẫn vừa nhấc tấm chăn cao hơn vừa quan sát kỹ phía dưới.
"Anh biết là không có vật gì ở giường của mình mà, thấy chưa!"
Và bà Morgan giật lấy tấm chăn và ném xuống nền nhà.
"Đấy, anh nhìn đi xem nào! Giờ thì nhắm mắt lại đi" bà nói tiếp trong khi mở rộng tấm chăn, rồi đắp chăn cho chồng sau khi đầu của ông ta đã được đặt xuống gối. "Nhắm mắt chặy lại và giữ nguyên như thế trong lúc em nấu nước và pha cà phê. Anh, cũng như em, đều biết rằng đó chỉ là điều tưởng tượng thôi mà".
Morgan nhắm chặt mắt và kéo chăn trùm kín đầu.
"Vài phút nữa em sẽ quay lại ngay" vợ ông ta nói và vội vã đi ra cửa. Tuy vậy, trước khi ra khỏi phòng, bà ngoảnh mặt nhìn lại và thấy chồng bà đã ngồi dậy và mắt đang nhìn trừng trừng đầy vẻ sợ hãi.
"Fanny, Đừng! Đừng đi!" ông ta gào lên với giọng ghê sợ.
"Joe! Sao mà anh ngốc thế? đó chỉ là do anh tưởng tượng ra thôi. Hãy nằm xuống và nhắm mắt lại. Giữ nguyên như vậy. Thế".
Rồi bà đặt một tay lên mắt ông ta và giữ cho chúng khép lại.
"Giá mà bác sĩ Green đang ở đây" người đàn ông khốn khổ nói. "Ông ấy sẽ làm được một điều gì đó".
"Em sẽ đi mời ông ấy nhé?"
"Đi đi Fanny! Chạy nhanh đi".
"Nhưng em lo anh sẽ không chịu nằm lại giường".
"Anh sẽ nằm trên giường mà. Em đi đi" và ông ta kéo chăn lên trùm kín mặt. "Anh sẽ nằm như thế này cho tới khi em quay trở về. Nào, chạy đi Fanny, và đừng ở lại đó phút nào nhé".
Dĩ nhiên là bà Morgan đã vội vã ra khỏi phòng, vớ một chiếc khăn cũ trùm lên đầu và nhanh chân lao đến nhà của bác sĩ Green nằm ở cách đó không xa. Ông bác sĩ tốt bụng đã hiểu được tình trạng của chồng bà qua lời kể, và hứa sẽ đến ngay. Quay trở về, bà lao đi cuống cuồng còn nhanh hơn, tim bà đập gấp gáp với một dự cảm mơ hồ nào đó. Ôi, có một tiếng khóc đầy sợ hãi vang đến tai khi bà chỉ còn vài bước chân nữa là đến nhà. Bà nhận ra giọng người khóc, mặc dù đã bị nỗi sợ hãi làm cho khác đi, và một cái rùng mình làm cho trái tim bà như bị tê liệt. Nhảy vội một bước, bà đã vào trong nhà, và chỉ giây lát sau đã có mặt trong căn phòng mà bà đã để người chồng ở lại. Nhưng ông ta đâu còn ở đó nữa! Với cảm giác nghẹt thở và bước chân loạng choạng, bà đi sang phòng mà bé Mary nằm. Cũng không thấy đâu!
"Joe, Anh ơi!" bà gọi bằng giọng nói đã lả đi.
"Bố ở đây, mẹ ơi!" và giờ thì bà đã thấy Joe đã bò vào giường, phía sau đứa con bị ốm, và cánh tay cô bé đang ôm chặt lấy cổ ông ta.
"Con sẽ không để cho chúng làm cha bị đau, phải không con yêu?" người đàn ông đang sợ hãi trong cơn cuồng loạn nói.
"Không điều gì có thể làm cha đau được đâu, thưa cha" Mary trả lời giọng tỉnh táo, cho thấy em biết rõ tình trạng của cha mình.
Cô bé đã nhận thấy từ trước những gì sẽ xảy đến với ông ta. Một đứa trẻ thật là khôn ngoan!
"Con quả là một thiên thần – thiên thần yêu quý của cha, Mary" ông ta thì thầm, giọng vẫn chưa hết run sợ "Hãy cầu nguyện cho cha đi con. Hãy cầu Chúa ở trên thiên đường cứu cha thoát khỏi những con vật khủng khiếp này! Chúng ở kia kìa!" ông ta gào lên, đứng bật dậy và nhìn ra phía cửa. "Tránh ra! Cút đi! Mày không được vào đây. Đây là phòng của Mary, và cô bé là một thiên thần. Ha! Ha! Tao biết mày sẽ không dám vào mà…
Chỉ cần một thiên thần cũng đuổi được
Mười nghìn kẻ hung dữ trong đêm".
Morgan hát tiếp trong cơn nửa mê sảng với giọng đã vững tin, rồi ông ta đặt mình trở lại xuống gối và kéo quần áo lên trùm kín đầu mình.
"Tội nghiệp cha!" cô bé thở dài và choàng hai cánh tay quanh cổ ông ta. "Con sẽ là thiên thần yêu quý của cha. Không điều gì có thể làm cha bị tổn thương ở đây đâu".
"Cha biết rằng mình sẽ được an toàn bên con mà" ông ta thì thầm "cha biết điều đó, và vì thế, đã đến đây. Hãy hôn cha đi con".
Nụ hôn được cô bé ngay lập tức đặt lên môi ông ta mới trong trắng và tha thiết làm sao! Có một sức mạnh trong đó đã chế ngự được những tác động ma quỷ đang vây quanh và dồn ép ông ta giống như một cơn lũ cuốn. Mọi thứ giờ đã tĩnh lặng trở lại, và bà Morgan đã không đưa ra lời nói hoặc cử chỉ nào để khỏi ảnh hưởng đến bầu không khí yên tĩnh trang nghiêm đang ngự trị trong ngôi nhà. Vài phút sau, hơi thở sâu của chồngbà là một dấu hiệu tốt lành cho thấy ông ta đã chìm vào giấc ngủ! Ôi giấc ngủ! Giấc ngủ! Mừng đến chảy nước mắt, vì bà đã cầu nguyện biết bao lần cho chồng bà có thể ngủ được, nhưng những giấc ngủ thực sự lâu nay vẫn không đến – mặc dù nhiều thuốc ngủ mạnh đã được sử dụng – cho đến khi ông bị kiệt sức rồi ngủ trong sự vật vã đấu tranh với cái chết. Giờ đây, sự tác động của đứa con yêu quý và thơ ngây của ông ta dường như đã giúp khắc phục được điều đó, điều ra là vào lúc này. Đúng vậy, ông ta đang ngủ! Ôi, một câu nói “Ơn Chúa!” đầy thiết tha bỗng bật ra từ trái tim của người vợ đau khổ.
Liền sau đó, tai bà Morgan đã nhận ra tiếng những bước chân đang đến gần của ông bác sĩ, và bà đón ông ở cửa với một ngón tay đặt trên môi mình để ra hiệu cho ông giữ im lặng. Bà nói một hai câu thì thầm để giải thích rằng sức việc đã khá lên, và ông bác sĩ nói, vẻ động viên:
“Thật là tốt, nếu ông ấy sẽ tiếp tục ngủ như vậy”.
“Ông có nghĩ rằng ông ấy sẽ ngủ tiếp như vậy không, thưa bác sĩ?” bà lo lắng hỏi.
“Có thể. Nhưng chúng ta không nên hy vọng quá nhiều. Đó sẽ là một điều rất khác thường”.
Cả hai người lặng lẽ đi vào phòng. Morgan vẫn đang ngủ, và tiếng thở sâu cho thấy rõ là ông ta ngủ rất ngon. Mary cũng đang ngủ, khuôn mặt em lúc này đang áp vào mặt của người cha, và cánh tay em vẫn ôm lấy cổ ông. Cảnh tượng đó khiến trái tim ông bác sĩ cũng phải xúc động, và ứa nước mắt. Ông bác sĩ đứng nhìn như vậy trong gần nửa giờ, sau đó, trong khi Morgan vẫn tiếp tục ngủ, ông kê ngay một liều thuốc, rồi trở về nhà sau khi hẹn sẽ quay lại vào sáng hôm sau.
Lúc này, đã là quá nửa đêm, và chúng ta hãy tạm rời vai trò của một người quans át buồn bã và đơn độc đối với những con người ốm yếu này ở đây.
Tôi vẫn đang ngồi cùng với một tờ báo trong tay – nhưng không đọc, mà trầm ngâm suy nghĩ – trong đêm khuya tại quán “Lưỡi liềm và bó lúa” giữa lúc những sự việc kể trên diễn ra.
“Mẹ mày đâu rồi?” tôi nghe thấy tiếng Simon Slade hỏi. Ông ta vừa đi vào căn phòng bên cạnh.
“Mẹ đi vắng rồi”, tiếng Flora, cô con gái của ông ta trả lời.
“Đi đâu vậy?”
“Con không biết”.
“Thế bà ấy đi được bao lâu rồi?”
“Đã hơn một giờ rồi”.
“Và mày không biết bà ấy đi đâu à?”
“Không, thưa cha”.
Không ai nói gì thêm, nhưng tôi nghe thấy tiếng những bước chân nặng nề của người chủ quán đi lại quanh căn phòng trong vài phút.
“Sao vậy Ann? Em đã đi đâu thế?” có tiếng cánh cửa phòng bên mở ra, rồi khép lại.
“Đến nơi mà em ước sao anh đi cùng với em”, câu trả lời được nói với giọng đầy rắn rỏi.
“Đến đâu?”
“Đến nhà Joe Morgan”.
“Hừm!” tai tôi chỉ nghe thấy lời thốt ra đó, nhưng không nghe được câu nói được hạ thấp giọng của ông ta, mà bà Slade trả lời với giọng nói đã đôi chút dịu xuống:
“Sẽ là may mắn, nếu anh không thấy máu của đứa con ông ấy dính trên quần áo mình suốt đời”.
“Ý em nói gì vậy?” ông ta hỏi ngay.
“Điều đó có nghĩa là bé Mary đang trong tình trạng rất xấu!”.
“Vậy ư? Sao nữa?”
“Bác sĩ cho biết cô bé đang trong tình trạng rất nguy hiểm. Vết thương ở đầu đã khiến cô bé bị sốt cao và mê sảng. Ôi Simon! Giá mà anh nghe thấy những gì mà em đã được nghe trong đêm nay”.
“Cái gì vậy?” Câu hỏi được nói với giọng gầm gừ.
“Cô bé mất tỉnh táo, như em đã kể, và nói rất nhiều. Cô bé nói đến anh”.
“Nói đến anh! Vậy đứa bé đã nói gì?”
“Cô bé nói : thật đáng tiếc, cháu cầu mong ông Slade sẽ không nhìn cháu giận dữ như thế. Ông ấy không bao giờ làm như vậy khi cháu đến chơi ở cối xay. Giờ đây ông ấy không còn đặt cháu ngồi trên đầu gối và vuốt tóc cháu nữa. Ôi, đứa trẻ tội nghiệp! Cô bé lúc nào cũng dễ thương”.
“Cô bé nói thế à?” Slade có vẻ xúc động.
“Vâng, và còn nói nhiều nữa. Có lúc cô bé còn thét lên “Ôi, đừng! Đừng, ông Slade! Đầu của cháu! Đầu của cháu!” Nghe vậy mà em thấy tim mình nhói đau. Em sẽ không bao giờ quên được khuôn mặt xanh xao, hoảng hốt, và tiếng kêu sợ hãi của cô bé. Simon, cô bé có thể chết mất!”
Sau đó là một sự im lặng kéo dài.
“Giá như chúng ta trở lại với công việc ở cối xay…” giọng bà Slade.
“Đấy, lại thế rồi! Anh không muốn nghe chuyện đó nữa” người chủ quán vặc lại “anh tự làm đầy tớ như thế là đủ rồi”.
“Ít ra thì lương tâm anh cũng được thảnh thơi” người vợ ông ta trả lời.
“Có im đi không nào!” Slade giờ đã nổi giận. “Nghe cô nói, người ta có thể nghĩ rằng tôi đã vi phạm những lời răn của Chúa vậy”.
“Anh sẽ làm nhiều trái tim tan nát, cũng như vi pham. Những lời răn của Chúa nếu cứ tiếp tục như vậy, và còn làm hư hại nhiều tâm hồn và tài sản nữa”.
Bà Slade nói một cách bình tĩnh, nhưng quyết liệt. Người chồng đáp lại bằng một câu chửi thề, rồi rời căn phòng, và đóng sầm cánh cửa lại sau lưng ông ta. Trong sự yên tĩnh trở lại sau đó, tôi trở về phòng mình và nằm trầm ngâm suy tư trong nửa giờ về tất cả những gì vừa nghe được. Cuộc cãi vã ngắn ngủi giữa ông chủ quán và người vợ đang trong lúc hưng phấn của ông ta mới cho thấy nhiều điều làm sao!

0
Đêm thứ tư – Cái chết của bé Mary Morgan
“Em định đi đâu vậy Ann?” tiếng nói của người chủ quán vang lên. Lúc đó trời vừa tối.
“Em đến thăm bà Morgan” vợ ông ta trả lời.
“Để làm gì?”
“Em muốn đến đó” bà đáp.
“Được, anh không muốn em đi” Slade nói, vẻ cương quyết.
“Em không thể, Simon. Mary, như em đã nói, đang trong tình trạng nguy kịch, và Joe cũng bị nguy hiểm. Em cần đến đó, và anh cũng vậy. Để xem tình hình ra sao. Trước kia, anh vẫn thường quan tâm khi Morgan hoặc gia đình ông ấy gặp khó khăn…”
“Im đi không nào!” người chủ quán quát lên giận dữ. “Tôi sẽ không thể để cô lên lớp theo kiểu đó nữa đâu”.
“Được thôi, vậy cũng đừng can thiệp vào những công việc của tôi, Simon, đó là tất cả những gì mà tôi cần phải nói. Tôi cần phải đến đó, như tôi đã nói, và tôi sẽ đi”.
Đã có sự chống đối mạnh mẽ đối với ông ta và Slade, nhận thấy rõ điều đó, liền quay đi chỗ khác, miệng bật ra câu gì đó mà vợ ông ta không nghe thấy, và bà tiếp tục ra đi. Những bước chân hối hả đã đưa bà đến căn nhà tồi tàn của người đàn ông nghiện rượu khốn khổ, vợ ông ta đón bà ngay ở cửa.
“Sức khoẻ Mary ra sao?” bà hỏi, giọng lo lắng.
Bà Morgan gắng gượng trả lời câu hỏi, mặc dù cặp môi của bà mấp máy, nhưng không âm thanh nào từ đó được phát ra cả.
Bà Slade nắm chặt bàn tay bà Morgan trong hai bàn tay mình, rồi hai người cùngđi vào phòng, nơi cô bé nằm. Thái độ người mẹ của cô bé cũng đã đủ để bà Slade hiểu được rằng Thần Chết đã đặt những ngón tay lạnh lẽo của hắn lên vầng trán của em.
“Cháu thấy trong người thế nào, cháu yêu?” bà hỏi trong khi cúi xuống hôn cô bé.
“Đã khá hơn rồi ạ, cảm ơn bà”, Mary trả lời, giọng thều thào.
Rồi cô bé ngước mắt lên nhìn vào khuôn mặt người mẹ, vẻ dò hỏi.
“Gì vậy con?”
“Cha đã thức dậy chưa ạ?”
“Chưa con ạ”.
“Cha sẽ không thức dậy ngay chứ?”
“Cha ngủ rất ngon. Mẹ không muốn khuấy động cha”.
“Ồ không. Đừng khuấy động cha. Con cứ ngỡ rằng cha đã dậy rồi”.
Và mi mắt của cô bé uể oải khép lại, những sợi lông mi dài nằm áp vào gò má em.
Sự im lặng kéo dài một lát rồi bà Morgan thì thầm nói chuyện với bà Slade.
“Ôi, chúng tôi đã trải qua những lúc hoảng sợ với Joe tội nghiệp. Ông ấy lại lên cơn rất đáng sợ vào đêm qua. Tôi đã phải đi gọi bác sĩ Green và để ông ấy lại một mình. Khi tôi trở về, ông ấy đã sang giường của Mary, và cô bé, thật đáng thương, đang ôm lấy cổ ông ấy và ra sức dỗ dành cha, rồi bà có tin không, ông ấy lăn ra ngủ, và cứ ngủ như vậy rất lâu. Bác sĩ đến và khi thấy vậy, đã để lại một ít thuốc cho ông ấy, rồi ra về. Tôi đã hy vọng rằng ông ấy sẽ luôn ngủ như thế. Nhưng khoảng 12 giờ, ông ấy giật mình hét lên ghê sợ và nhảy khỏi giường. Tội nghiệp Mary, cô bé cũng đang ngủ. Tiếng hét đã làm Mary giật mình hoảng hốt và tỉnh dậy. Kể từ đó, tình trạng của nó trở nên mỗi lúc mỗi xấu đi, thưa bà Slade.
Lúc ông ấy vừa lao ra khỏi phòng, tôi nắm được cánh tay, và phải gắng toàn bộ sức lực mới giữ lại được.
Ngay khi tỉnh giấc đủ để hiểu được chuyện gì đang xảy ra, Mary đã gọi theo “Cha ơi! Cha! Đừng đi, không có gì ở đây đâu”.
Ông ấy ngoái nhìn lại chiếc giường vẻ sợ hãi.
“Thấy chưa, cha!” và con bé đáng thương bỏ chăn và ga trải giường ra để cho cha nó thấy rằng không có cái gì ở trong giường cả. “Con đang ở đây” cô bé nói thêm. “Con không sợ gì cả. Lại đây cha. Nếu không có gì ở đây làm hại con, thì cũng chẳng có gì làm hại được cha đâu”.
Có một vẻ gì đó thuyết phục trong câu nói, khiến cho Joe tiến vài bước về phía chiếc giường, nhìn xăm soi vào như đã làm trước đó. Mắt ông ấy lần từ chiếc giường lên trần nhà, và một vẻ sợ hãi lại xuất hiện lên trên khuôn mặt.
“Đấy, chính nó! Hãy nhảy ra khỏi giường ngay! Nhảy ra, Mary!” ông ấy gào lên. “Nhìn kìa, nó ở ngay trên đầu con!”
Mary không tỏ ra sợ hãi một chút nào, ngước mắt nhìn lên trần nhà, và điềm tĩnh nhìn theo hướng cha đã chỉ trong giây lát.
“Không có cái gì ở đấy đâu cha”, cô bé nói với giọng quả quyết.
“Nó đã đi rồi” Joe nói, giọng dịu xuống. “Cặp mắt thiên thần của con đã xua nó đi rồi. Ôi! Giờ nó lại ra chỗ kia, đang bò trên nền nhà!” ông ấy đột nhiên hét lên sợ hãi, tránh xa chỗ mình đang đứng.
“Lại đây, lại đây cha!” Mary gọi, và ông ấy lại nhảy vào giường, trong khi con bé choàng tay ôm chặt lấy cha, và nói với giọng vỗ về, thủ thỉ “Không điều gì có thể làm hại cha ở đây, cha ạ”.
Không để chậm trễ giây phút nào, tôi cho ông ấy dùng morphine mà bác sĩ Green đã để lại. Ông ấy uống háo hức, rồi co ro nằm vào giường trong lúc Mary tiếp tục vỗ về trấn an cha nó. Khi ông ấy còn tỉnh táo nhận ra được mình đang ở đâu, thì ông ấy vẫn giữ được bình tĩnh. Nhưng ngay khi giấc ngủ thiu thiu vừa đến, ông ấy lại hét lên và hoảng sợ nhảy ra khỏi giường, và khi ấy chúng tôi lại phải mất nhiều phút để trấn an ông ấy. Trong đêm qua đã xảy ra sáu lần như vậy, và Mary, như thường lệ, đã dỗ dành cha trở lại. Tôi tiếp tục cho dùng thuốc morphine như bác sĩ đã chỉ dẫn. Cho đến sáng, thuốc có tác dụng, và ông ấy đã ngủ ngon. Khi bác sĩ đến, chúng tôi chuyển Joe về giường ông ấy. Ông ấy vẫn ngủ, và tôi bắt đầu cảm thấy bất an, hãy để cho ông ấy không bao giờ tỉnh dậy nữa. Tôi đã nghe điều này đã xảy ra ở đâu đó”.
“Hãy xem cha đã tỉnh dậy chưa” Mary nói, và nhỏm đầu khỏi gối. Cô bé không nghe được những lời trao đổi giữa mẹ em và bà Slade, vì cuộc trò chuyện đã đến nói rất khẽ.
Bà Morgan bước đến cánh cửa, và nhìn vào căn phòng nơi chồng bà đang nằm.
“Cha vẫn đang ngủ, con ạ” bà nói và quay laị giường.
“Ôi, con ước sao cha thức dậy. Con rất muốn gặp cha. Mẹ hãy gọi cha dậy đi”.
“Mẹ đã gọi mấy lần rồi. Nhưng con biết đấy, bác sĩ đã cho cha uống thuốc ngủ. Cha chưa thể tỉnh được”.
“Cha đã ngủ rất lâu. Mẹ không nghĩ như vậy sao?”
“Ừ, con yêu. Có lẽ thời gian đã rất dài. Nhưng điều đó là tốt nhất cho cha con. Ông ấy sẽ đỡ hơn khi tỉnh dậy”.
Mary nhắm mắt lại, vẻ mệt mỏi. Khuôn mặt em trắng nhợt trông thật yểu mệnh, đôi mắt em trũng sâu xuống , nét mặt trông teo tóp hẳn lại.
“Tôi thấy tuyệt vọng về con bé, bà Slade ạ” bà Morgan nói, giọng thì thào tắc nghẹn, xích gần hơn về phía người bạn của mình “Tôi đã cảm thấy tuyệt vọng! Điều tồi tệ nhất rồi sẽ qua, nhưng trời ơi! Tim tôi như sắp vỡ ra vì sự giằng xé. Đứa trẻ tội nghiệp! Trong bóng đêm của đời mình, con bé đã giúp đỡ và động viên tôi. Không có nó , mọi thứ sẽ chỉ còn toàn màn đêm đen tối”.
“Cha ơi cha!” tiếng Mary chợt vang lên với một vẻ hối hả khác thường.
Bà Morgan quay về phía chiếc giường, đặt bàn tay lên cánh tay Mary nói:
“Cha vẫn ngủ, con ạ”.
“Không, cha không ngủ đâu, mẹ ạ. Con nghe thấy tiếng cha cử động. Mẹ hãy đến đó xem có phải cha đã thức rồi không?”
Để chiều lòng con bé, mẹ của em rời phòng, và khi bước vào phòng của Morgan, bà ngạc nhiên khi bắt gặp cặp mắt của ông ta. Morgan nhìn vợ thản nhiên.
“Mary muốn gặp anh có việc gì vậy?” ông hỏi.
“Con muốn gặp anh. Nó đã gọi anh rất nhiều lần. Em sẽ bế con đến đây nhé?”
“Không, anh sẽ tự dậy và mặc quần áo”.
“Em không thể để anh làm vậy. Anh đang ốm”.
“Cha ơi cha!” tiếng gọi khẩn thiết của Mary được nghe thấy rõ.
“Cha đang đến đây, con yêu” Morgan trả lời.
“Nhanh lên cha!”
“Ừ, con yêu” và Morgan đứng dậy mặc quần áo, nhưng bàn tay ông ta run rẩy, cùng với những dấu hiệu thần kinh mất tự chủ. Một lúc sau, với sự trợ giúp của vợ, ông ta đã sẵn sàng và được bà dìu đi ngật ngưỡng vào phòng của Mary.
“Ôi cha!” một vẻ rạng rỡ sáng bừng lên trên vẻ mặt cô bé. “Con đợi cha đã lâu. Con cứ ngỡ cha sẽ không bao giờ tỉnh giấc. Hãy hôn con đi, cha”.
“Cha có thể làm gì cho con không, Mary?” Morgan âu yếm hỏi trong lúc đặt khuôn mặt xuống chiếc gối đặt cạnh cô bé.
“Không cần đâu, cha. Con không mong muốn điều gì khác. Con chỉ muốn gặp cha thôi”.
“Cha đây, con yêu”.
“Thưa cha,” cô bé nói vẻ nghiêm trang và âu yếm, trong lúc đặt bàn tay bé nhỏ của em lên khuôn mặt người cha. “Cha lúc nào cũng tốt đối với con, thưa cha”.
“Ồ không. Cha chưa bao giờ tốt với ai cả”, người đàn ông ốm yếu và tinhthần đã suy nhược, nhấc đầu khỏi chiếc gối.
Ngồi lặng yên chứng kiến cảnh tượng đang diễn ra, bà Slade rất xúc động.
“Cha chưa tốt với chính bản thân mình, cha ạ. Nhưng cha đã luôn tốt đối với mẹ và con”.
“Đừng Mary! Đừng nói như vậy” Morgan ngắt lời. “Hãy nói rằng cha đã rất tồi tệ, rất xấu xa. Ôi, Mary con yêu! Cha chỉ ước sao mình tốt được như con, cha muốn mình chết đi, khi đó, cha sẽ ra khỏi được cái thế giới ma quỷ này. Cha ước sao đã không có rượu, không có những quán trọ, không có những phòng bar. Ôi trời ơi! Cha ước sao mình chết đi được!”
Và người đàn ông gần như đã bị liệt giường lại run rẩy đặt đầu xuống chiếc gối bên cạnh đứa con, và khóc nức nở.
Rồi sự im lặng nặng nề lại bao trùm căn phòng.
“Cha ơi” Mary lên tiếng phá vỡ sự im lặng. Giọng nói của cô bé rõ ràng và bình tĩnh “Cha ơi, con muốn nói với cha một điều”
“Gì vậy Mary?”
“Sẽ không có ai đi theo cha nữa”. Cặp môi em mấp máy và mắt em ngấn nước.
“Đừng nói vậy, Mary. Cha sẽ không đi đâu vào buổi tối cho đến khi nào con khoẻ. Con không nhớ cha đã hứa như thế sao?”
“Nhưng cha ơi” cô bé ngần ngừ.
“Gì vậy, con?”
“Con sắp đi xa cha và mẹ”.
“Ôi đừng, đừng, Mary! Đừng nói vậy” giọng người cha khốn khổ oà vỡ ra. “Đừng nói như vậy! Cha mẹ không thể để con đi, con yêu”.
“Chúa đã gọi con”, giọng cô bé trang nghiêm, và cặp mắt em ngước lên vẻ sùng kính.
“Cha mong sao người sẽ gọi cha! Ôi, cha mong sao Người sẽ gọi cha!” Morgan rên rỉ, úp mặt vào hai bàn tay. “Cha sống làm sao được khi con bỏ cha mà đi? Ôi trời ơi!”
“Cha ơi!” Mary lại nói, giọng bình tĩnh “Cha vẫn chưa sẵn sàng cho điều đó. Chúa sẽ để cha sống ở thế gian này lâu hơn, đến khi cha sẵn sàng”.
“Làm thế nào cha sống tiếp được khi không có con giúp cha, Mary? Thiên thần của cha!”
“Con đã cố gắng giúp cha bao nhiêu lần rồi, phải không cha?” Mary nói.
“Ừ, đúng vậy, con đã luôn gắng giúp cha”.
“Nhưng điều đó đã không có tác dụng. Cha vẫn đi đến quán trọ. Dường như cha không thể dừng lại”.
Morgan rên rỉ đau đớn.
“Có lẽ con có thể giúp cha được nhiều hơn sau khi con chết, thưa cha. Con rất yêu cha, và tin rằng Chúa sẽ cho con được đến và luôn ở bên cha, và làm thiên thần của cha. Mẹ có nghĩ Người sẽ cho phép con không?”
Nhưng trái tim bà Morgan tràn ngập sự đau khổ. Bà không trả lời, mà chỉ ngồi đó, nước mắt tràn mi và nhìn vào khuôn mặt của cô bé.
“Cha ơi, hôm nay con đã mơ một điều về cha khi đang ngủ” Mary lại quay sang phía cha em.
“Gì vậy, con yêu?”
“Con nghĩ đó là vào ban đêm, và con vẫn đang ốm. Cha đã hứa sẽ không đi ra ngoài cho đến khi con khoẻ. Nhưng cha vẫn đi, và con nghĩ rằng cha đến quán của ông Slade. Lúc biết điều đó, con cảm thấy mình khoẻ như khi chưa bị sao vậy, và con đứng dậy, mặc quần áo rồi bắt đầu đi theo cha. Nhưng con đã không đi xa được, vì gặp phải Nero, con chó bull to nhà ông Slade, và nó giận dữ gầm gừ với con, làm con sợ hãi chạy về nhà. Rồi con lại đi lần nữa, và đến chỗ nhà ông Mason. Nhưng lại gặp phải Nero trên đường, và lần này nó cắn được vào váy của con và xé rách mất một miếng to. Con lại chạy về, và nó đuổi con đến tận nhà. Khi vừa đến cửa, con nhìn quanh và bỗng thấy ông Slade đang giục Nero xông vào con. Ngay khi nhìn thấy ông Slade, mặc dù ông ấy nhìn con một cách độc ác, con không còn thấy sợ nữa, và con quay lại, đi qua Nero đang nhe răng và gầm gừ với con mà không cắn được con. Khi đó ông Slade muốn ngăn con lại, nhưng con không thèm để ý đến ông ấy và cứ đi tiếp đến quán trọ, và thấy cha đang đứng ở cửa quán đó. Cha ăn mặc thật là đẹp. Cha có một cái mũ mới, một áo khoác mới, và đôi ủng mới của cha trông bóng loáng giống như ủng của thẩm phán Hammond ấy. Con hỏi “Ôi, có phải cha đó không?” và khi ấy cha bế con lên tay, hôn con và nói “Đúng, Mary, ta đúng là cha con đây. Nhưng không phải là ông lão Joe Morgan, mà giờ là ngài Morgan”. Mọi thứ đều có vẻ mới lạ, nên con nhìn vào trong phòng bar để xem những ai đang ở đó. Nhưng đó không còn là phòng bar nữa, mà thay vào đó là một cửa hàng bách hoá đầy ắp hàng hoá. Tấm biển “Lưỡi liềm và bó lúa” đã được bỏ xuống, và phía trên cánh cửa giờ đây con đọc thấy tên cha. Chao ôi! Lúc ấy con vui quá! Và tỉnh dậy, rồi con bật khóc, vì đó chỉ là một giấc mơ”.
Những lời cuối cùng được Mary nói ra một cách buồn bã, mi mắt khép lại cho đến khi những sợi lông mi đẫm nước mắt của em nằm ắp vào má. Tiếp theo đó là một khoảng im lặng nặng nề nữa, vì những người chứng kiến không dám thốt ra những gì trong lòng họ. Những cảm xúc do câu chuyện gây ra quá mạnh. Gần năm phút trôi qua, và Mary bỗng thì thầm tên của cha em, nhưng vẫn không mở mắt ra.
Morgan trả lời, và ghé tai lắng nghe.
“Cha sẽ chỉ còn để lại mẹ ở nhà” cô bé nói “Chỉ còn mẹ. Và mẹ sẽ khóc rất nhiều khi cha đi vắng”.
“Cha sẽ không rời xa mẹ, Mary, ngoài lúc cha đi làm” Morgan thì thầm trả lời cô bé “Và cha sẽ không bao giờ đi đâu vào buổi tối nữa”.
“Vâng, cha hãy hứa với con điều đó đi”.
“Và cha còn hứa hơn thế”.
“Hứa gì nữa, hả cha?”
“Cha không bao giờ đến quán trọ nữa”.
“Không bao giờ?”
“Không, không bao giờ. Và cha hứa hơn thế nữa”.
“Nói đi cha?”
“Sẽ không bao giờ uống một giọt rượu nào nữa chừng nào cha còn sống ở trên đời”.
“Ôi cha, cha yêu của con!” và cùng với một tiếng kêu vui sướng, Mary nhổm dậy và áp người vào ngực người cha. Morgan choàng tay ôm lấy cô bé, và ngồi như vậy hồi lâu với môi áp vào má em, trong lúc cô bé nằm áp vào ngực ông ta bất động như đã chết. Chết? đúng vậy, vì khi người cha buông cánh tay của ông ta ra, thì linh hồn cô bé đã ở trên thiên đường cùng với những thiên thần!
Đó là buổi tối thứ tư của tôi trong phòng bar của quán “Lưỡi liềm và bó lúa”. Khách khứa và không khí hội hè không có gì mấy, vì mọi người đã được nghe về tình trạng của cô bé Mary, ngay sau khi bị tai bay vạ gió vì chiếc ly ném, mà mọi người kể cho nhau nghe. Sự có mặt thường xuyên, vẻ dễ thương và những sức ảnh hưởng mạnh mẽ của cô bé đối với cha em là những điều mà hầu hết các khách thường xuyên đến quán đều cảm thấy hơn cả một sự quan tâm chung, nên sự cư xử nhẫn tâm mà cô bé gặp phải, cùng những hậu quả của nó luôn được mọi người nói đến.
“Không thấy Joe Morgan xuất hiện tối nay” một người nhận xét.
“Và sẽ không thể đến trong một thời gian” có tiếng trả lời.
“Vì sao vậy?” người thứ nhất hỏi.
“Họ nói rằng thần chết đang theo đuổi ông ta”.
“Ôi thật đáng sợ! Đây là lần theo đuổi thứ hai hay thứ ba rồi, đúng không?”
“Đúng vậy”.
“Lần này hắn có thể bắt được ông ta”.
“Kẻ ăn hại khốn khổ! Không thể tồi tệ hơn được nữa. Không có Morgan, gia đình ông ta sẽ bớt được một gánh nặng lớn”.
“Họ sẽ có phúc nếu ông ta chết đi”.
“Một con nghiện tàn tạ khốn khổ!” Harvy Green, người đã có mặt nói “Ông ta chỉ ngáng đường người khác. Ông ta biến đi càng sớm càng tốt”.
Người chủ quán lặng im. Ông ta đứng dựa người vào quầy bar, trông có vẻ tỉnh táo hơn thường lệ.
“Quả là điều không may cho ông, Simmon. Người ta nói rằng đứa trẻ sắp bị chết”.
“Ai nói vậy?” Slade giật mình, cau mày và ném một cái nhìn về phía người vừa nói.
“Bác sĩ Green”.
“Nói bậy! Bác sĩ Green chưa bao giờ nói thế”.
“Đúng vậy, nhưng ông ấy đã nói”.
“Ai nghe thấy ông ấy nói thế?”
“Tôi”.
“Ông đã nghe như vậy à?”
“Đúng thế!”
“Ông ấy không nói nghiêm túc chứ?” người chủ quán thoáng tái mặt.
“Ông ấy rất nghiêm túc. Đêm qua họ đã trải qua những giờ phút kinh khủng”.
“Ở đâu?”
“Ở nhà Morgan. Joe lên cơn cuồng loạn, và bà Morgan đã phải một mình lo liệu cho ông ta và cô bé bị đau”.
“Ông ta xứng đáng với điều đó, đó là những gì tôi muốn nói.” Slade gượng gạo với một sự thờ ơ đến thô bỉ.
“Đó quả là điều khó nói”, một người nói.
“Tôi không quan tâm đến điều đó. Đấy là sự thật. Ông ta có thể trông đợi được điều gì nữa?”
“Một người đàn ông như Joe thật đáng thương”, người đó nhận xét.
“Tôi chỉ thương cho gia đình ông ta” Slade nói.
“Nhất là cô bé Mary” những lời nói đó được nói ra với vẻ mỉa mai, và nhận được những lời tán đồng rì rầm của những người có mặt.
Slade bước lùi lại từ chỗ ông ta đang đứng, với vẻ khó chịu, và nói một câu gì đó tôi không nghe rõ.
“Nhìn này Simon, tôi đã nghe được từ văn phòng của luật sư Phillips hôm nay”.
Slade quay sang nhìn người vừa nói.
“Rằng nếu đứa bé chết, ông có thể sẽ phải ra toà vì tội làm chết người”.
“Không, làm chết cô gái chứ” Harvey Green nói, với một tiếng cười lạnh lùng, bất nhân.
“Tôi nói thật đấy!” người kia nói “Ngài Phillips nói rằng sự việc như vậy có thể dẫn đến một phiên toà”.
“Đó chẳng qua là một vụ tai nạn, và tất cả các luật sư theo đạo Cơ Đốc không thể làm gì được hơn” Harvey Green nói, hắn ta bênh vực người chủ quán và nói với vẻ nghiêm túc hơn.
“Khó có thể được coi là một tai nạn” người đối thoại trả lời.
“Ông ấy đâu có định ném vào cô bé!”
“Dù vậy, ông ấy đã ném chiếc ly nặng vào đầu người cha cô bé. Mục đích là nhằm để gây thương tích, và luật pháp không phân biệt ai là người phải chịu thương vong. Hơn nữa, ai có thể khẳng định được rằng ông ấy không nhằm vào cô bé?”
“Bất kỳ người nào nghĩ như vậy cũng đều là kẻ lừa dối!” người chủ quán kêu lên, gần như nổi khùng vì những lời nói đó.
“Tôi đâu có ném ly vào đầu ông” người có cách nói bộc trực đã làm Simmon Slade nổi cáu lạnh lùng nhận xét “tôi không bao giờ cho rằng ném ly là cách tranh luận hay ho gì, mặc dù với một số người, khi bị dồn vào đường cùng, đó là cách giải quyết vấn đề được họ ưa thích. Giờ đây, đối với ông bạn chủ quán của chúng ta, tôi rất tiếc phải nói rằng công việc kinh doanh mới của ông ấy đã không cải thiện được gì nhiều cách cư xử, hay thói giận dữ, của ông ấy. Khi còn là chủ cối xay, ông ấy là một trong những người đàn ông tốt tính nhất thế giới, và không làm đau dù chỉ là một con mèo con. Nhưng giờ thì ông ấy biết chửi thề, quát tháo, và ném ly vào đầu người khác, cùng nhiều thứ ầm ĩ, mất trật tự khác. Tôi e rằng ông ấy đang tiếp thu những bài học từ một môi trường tồi tệ”.
“Tôi không cho rằng ông có quyền làm nhục một người ở ngay trong ngôi nhà của người đó” Slade trả lời, giọng thấp hẳn xuống.
“Tôi không hề có ý làm nhục ông” người kia nói. “Tôi chỉ nói theo giả thiết, và theo cái nhìn từ vị trí của ông trong phiên toà về tội làm chết người khi tôi cho rằng không có thể chứng minh, hay nói rằng ông đã không cố ý tấn công cô bé Mary vào lúc ném chiếc ly”.
“Được, tôi đã không cố ý tấn công cô bé, và tôi không tin rằng có người nào ở trong phòng bar này nghĩ rằng tôi đã cố ý, không có bất kỳ ai”.
“Chắc chắn là tôi cũng không nghĩ như vậy” người đối thọai với ông ta nói.
“Tôi cũng không …” những giọng nói khác trong phòng bar vang lên.
“Nhưng như tôi đã nói, “người đó tiếp tục “toà án không đơn giản như vậy, khi mười hai người, mà với mỗi người ông có thể là kẻ xa lạ, đến ngồi lại cùng nhau để phán quyết theo pháp luật. Một sự bóp méo chứng cớ nhỏ nhất, thiên kiến của một nhân chứng, hay sự non kém của tòa án cũng có thể gây ra bất lợi cho ông, và cho ông rất ít cơ hội. Theo tôi, nếu đứa trẻ bị chết, tôi nghĩ ông có nguy cơ bị tám đến mười năm tù, và tôi cho là điều đó dễ xảy ra”.
Tôi chăm chú nhìn người đàn ông vừa nói, nhưng không thể nhận ra được ông ta đang nói hoàn toàn nghiêm túc, hay chỉ muốn gây lo âu cho Slade. Nếu muốn gây lo âu cho Slade thì rõ ràng ông ta đã thành công vì vẻ mặt người chủ quán đã trở nên thất sắc và u ám bởi sự lo lắng. Một số người tỏ ra vui mừng một cách độc ác, những người khác nhìn vẻ lo âu của Slade và lo cho ông ta, nhắc lại những gì mà người chủ quán đã gây ra, còn người chủ quán thì đã trở nên lo sợ như một tên tội phạm với mới bị bắt.
“Một điều tệ hại, và không phải do sơ suất” một người nói .
“Đúng thế, tệ đủ đường. Tôi sẽ không làm giàu bằng mọi giá như ông ấy” một người nhận xét.
“Tôi cũng thế, dù là giàu đến đâu đi nữa” người khác tiếp lời.
“Một vụ án gây chết người đã rõ, và không phải do sơ suất. Mức hình phạt sẽ ra sao?”
“Từ hai đến mười năm tù” lập tức có câu trả lời.
“Họ sẽ kết án ông ấy năm năm, tôi nghĩ vậy”.
“Không, sẽ không quá hai năm, vì khó có thể chứng minh được ý định phạm tội”.
“Tôi không rõ chuyện đó. Tôi đã nghe ông ấy nguyền rủa và đe doạ cô bé nhiều lần. Có phải không nào?”
“Đúng!”, “Đúng vậy!”, “Tôi vẫn thường nghe thế” những câu nói lao xao quanh phòng bar.
“Thà rằng mọi người đem treo cổ tôi ngay đi còn hơn” Slade nói, bị tác động bởi những câu nói.
Vào lúc đó cánh cửa phía sau lưng Slade bật mở, và tôi nhìn thấy khuôn mặt đau buồn của vợ ông ta ghé vào trong chốc lát. Bà nói câu gì đó với chồng, người thốt ra một câu nhỏ vẻ ngạc nhiên và lập tức đi ra ngoài.
“Có chuyện gì thế?” một người hỏi.
“Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu bé Mary chết”, có người nói.
“Tôi nghe bà ấy nói đến từ “chết””, một người đứng gần quầy bar nói.
“Có chuyện gì vậy, Frank?” nhiều người cùng hỏi khi thấy con trai ông chủ quán đi vào qua chỗ cửa mà bố cậu đã đi qua.
“Mary Morgan chết rồi” cậu ta trả lời.
“Ôi, đứa trẻ thật tội nghiệp!” một người thở dài, thương xót trước thông tin được đưa ra. “Nỗi đau của cô bé đã kết thúc”.
Và không người nào đang có mặt, trừ Harvey Green, lại không thốt lên những lời nói tiếc thương, thông cảm. Harvey Green nhún vai, trông vẻ khinh rẻ và lãnh đạm, nhưng ông ta thận trọng khi thể hiện điều đó.
“Mọi người nghe đây!” một trong những người có mặt lên tiếng “chúng ta có thể làm một điều gì đó cho bà Morgan đáng thương không? Hay là chúng ta quyên góp tiền bạc cho bà ấy?”
“Phải đấy!” sự hưởng ứng thật nhanh chóng. “Tôi xin góp ba dollar đây” người vừa nói rút tiền ra và đặt lên mặt quầy.
“Và đây là năm dollar nữa góp vào đó” tôi nói, nhanh chóng bước tới và đặt tờ năm dollar vào bên cạnh số tiền quyên góp đầu tiên.
“Giao tiền cho ai giữ bây giờ?” câu hỏi tiếp theo.
“Tôi gợi ý hãy giao cho bà Slade” tôi nói. “Theo tôi được biết, bà ấy đã đến gặp bà Morgan tối nay. Tôi biết bà ấy rất quan tâm đến bà Slade”.
“Đó chính là người chúng ta cần đến” có người trả lời. “Frank, hãy nói với mẹ cậu rằng chúng tôi muốn gặp bà ấy. Mời bà ấy sang phòng khách nhé”.
Một lát sau, cậu bé quay lại và cho biết rất mẹ cậu ta muốn gặp chúng tôi ở phòng bên, tất cả chúng tôi liền đi sang đó. Bà Slade đứng cạnh chiếc bàn, trên đó có một cây đèn đang cháy. Tôi nhận thấy rằng cặp mắt bà đỏ hoe, và vẻ mặt bà thể hiện tràn ngập một sự đau đớn.
“Chúng tôi vừa được tin” một người trong nhóm lên tiếng “rằng bé Mary đã qua đời”.
“Đúng vậy” bà Slade buồn bã trả lời. “Tôi vừa ở đó về. Cô bé đáng thương đã từ bỏ một thế giới đầy sự xấu xa”.
“Quả thực, sự xấu xa đã bám theo cô bé” có người nhận xét.
“Ông nói đúng. Và, phải sống giữa những sự xấu xa , cô bé đã là một thiên thần cứu rỗi. Nhưng trước khi qua đời suy nghĩ cuối cùng của cô bé đều là về người cha khốn khổ của mình. Vì ông ấy, cô bé luôn sẵn lòng đánh đổi cả cuộc sống của em”.
“Người mẹ của cô bé chắc phải rất đau khổ. Mary là đứa con cuối cùng của bà ấy”.
“Nhưng cái chết của con có thể mang đến điều tốt lành cho bà ấy”.
“Theo cách nào vậy?”
“Người cha đã hứa với Mary, ở những giây phút cuối – hứa rất trang nghiêm với cô bé – rằng , từ nay trở đi, ông ta sẽ không bao giờ uống rượu nữa. Đấy chính là tất cả mối bận tâm của cô bé trước lúc qua đời. Nhưng ông ấy đã nói với sự can đảm, và cô bé lịm đi, nằm tựa vào ngực người cha. Ôi, thưa mọi người! Đó là cảnh tượng xúc động nhất mà tôi đã từng được chứng kiến”.
Tất cả mọi người có mặt đều tỏ ra xúc động mạnh.
“Họ đều rất nghèo và ốm yếu” một người nói.
“Quá nghèo và khốn khổ” bà Slade trả lời.
“Chúng tôi vừa quyên góp được một khoản tiền để tặng bà Morgan. Số tiền ấy đây, thưa bà Slade – ba mươi dollar - chúng tôi giao nó vào tay bà để nhờ bà giúp bà ấy. Hãy dùng nó vào những việc mà bà thấy là có ích nhất cho bà ấy!”
“Ôi, thưa các quý ông!” khuôn mặt bà Slade chợt rạng rỡ lên. “Từ đáy lòng, tôi xin thay mặt người bất hạnh cảm ơn mọi người về việc làm nhân đức này. Mỗi người chỉ góp một chút, nhưng đối với bà ấy lợi ích thật là lớn. Một cuộc sống mới sẽ mở ra, mà tôi tin sẽ được bắt đầu từ người chồng bà ấy, và sự giúp đỡ kịp thời này sẽ hỗ trợ thiết thực cho đến khi ông ấy có thể tìm được một công việc tốt hơn so với hiện tại. Thưa các quý ông! Hãy cho tôi có ý kiến với mọi người thế này để cùng giúp Morgan. Giờ ông ấy đang thực hiện một mục tiêu tốt đẹp, ông ấy muốn giữ lời hứa với đứa con đã mất, muốn làm lại cuộc đời. Để quyết tâm đó trở thành hiện thực, mọi người hãy để ý và nhắc nhở ông ấy nếu thấy ông ấy sắp bị lầm đường lạc lối, thì hãy ân cần đưa ông ấy trở lại con đường đúng đắn. Đừng bao giờ khuyến khích ông ấy uống rượu, mà hãy giành lấy chiếc ly từ tay ông ấy nếu những cơn nghiện lại dẫn dắt ông ấy, và hãy dùng mọi ảnh hưởng mà chúng ta có để thuyết phục ông ấy ra khỏi những nơi cám dỗ. Xin bỏ quá cho việc tôi đã mạo muội nói hơi nhiều” bà Slade chợt bừng tỉnh và đỏ mặt như thường lệ “Cảm xúc đã khiến tôi như vậy”.
Và bà nhận lấy số tiền để trên bàn, rồi đi về phía cửa.
“Bà đã nói rất hay” một người nói. “Và chúng tôi cảm ơn bà đã nhắc nhở về trách nhiệm của mình”.
“Cho tôi nói thêm điều này, và hãy lượng thứ cho trái tim đã chất chứa nó” bà Slade nói, giọng run run, “nhưng tôi không thể không nói được, thưa các ông! Hãy nghĩ xem, cho dù một số trong các ông không đi vào con đường mà Joe Morgan đã sa vào bấy lâu, cầu Chúa phù hộ cho ông ấy, nhưng hãy thấy rằng không ai là không bị ảnh hưởng bởi tệ nạn này cả!”
Khi vừa nói xong, cũng là lúc bà đi qua cửa, và cánh cửa khép lại sau lưng bà.
“Tôi không biết chồng bà ấy sẽ nói gì về điều đó” một người nhận xét sau giây lát im lặng vì ngỡ ngàng.
“Tôi không cần quan tâm xem ông ta sẽ nói cái gì, mà chỉ muốn cho các ngài biết rằng tôi sẽ nói điều gì” một người đàn ông nghiện rượu mà tôi thường gặp bỗng lên tiếng. “Qúy bà vừa rồi đã cho chúng ta những lời khuyên rất ý nghĩa, và tôi sẽ làm như vậy. Tôi sẽ cố gắng giúp Joe Morgan, và cả tôi nữa. Tôi đã đi vào con đường mà bà ấy nói, nhưng tôi sẽ thoát ra. Thôi ,chúc mọi người ngủ ngon, và nếu Simmon Slade không nhận được những tờ bạc sáu penny của tôi nữa, thì ông ấy nên cảm ơn vợ mình về điều đó. Cầu Chúa phù hộ cho bà ấy!”
Và người đàn ông đó sửa lại chiếc mũ cho cao hơn khỏi trán và lập tức rời khỏi quán.
Đó dường như là một tín hiệu giải tán, và mọi người cùng ra về - không đi qua lối phòng bar, mà đi vào hành lang, qua cửa dẫn đến hiên ở phía trước nhà. Ngay sua đó, quan bar đóng cửa và một sự im lặng đến ghê người ngự trị khắp cả ngôi nhà. Tôi không gặp lại Slade trong đêm đó nữa. Ságn sớm hôm sau, tôi rời Cedarville, người chủ quán trông rất tỉnh táo khi ông ta nói với tôi lời tạm biệt, và chúc tôi có một chuyến đi vui vẻ, qua ô cửa.
0
Đêm thứ năm – Vài hệ quả của nghề chủ quán trọ

Gần năm năm trôi qua trước khi công việc lại khiến tôi có dịp đến Cedarville. Tôi biết được rất ít thông tin về những gì đã diễn ra ở đó giữa hai lần đến thăm, trừ một điều là Simon Slade đã bị buộc tội làm chết người trong vụ gây ra cái chết của đứa con Morgan. Tuy nhiên, ông ta đã không phải ra toà. Thẩm phán Lyman đã sử dụng thành công ảnh hưởng của ông ta để bác bỏ lời buộc tội đó. Quan toà, theo một số người cho biết, đã bỏ qua những tình tiết trong một số trường hợp để tránh cho Slade phải chịu trách nhiệm về những gì ông ta gây ra. Những ấn tượng mà thẩm phán Lyman để lại trong tôi quả không có gì thú vị. Ông ta có vẻ là một người đàn ông lạnh lùng, ích kỷ và đầy sự tính toán. Những gì ông ta đã thể hiện với những người trong phòng bar mà tôi quan sát được chỉ trong một buổi tối đã cho thấy ông ta là một chính khách vô liêm sỉ.
Khi chiếc xe trạm lăn bánh vào làng cùng với tiếng còi vui vẻ, hào hứng của người tài xế vang lên, tôi đã nhận ra được những cảnh vật quen thuộc và cả dấu hiệu của những thay đổi. Chúng tôi đi ngang qua dinh cơ sang trọng của thẩm phán Hammond, nơi đẹp đẽ và được chăm sóc kỹ càng nhất ở Cedar ville. Ít ra thì đó là đánh giá từ chuyến ghé thăm lần trước của tôi. Nhưng khi mắt tôi nhìn thấy toà nhà cùng quang cảnh ở chung quanh, tôi nhận thấy đã có những nét thay đổi về diện mạo bên ngoài. Phải chăng đó chỉ là kết quả của bàn tay thời gian? Hay do tác động của con người, đã khiến cho mắt tôi nhận ra sự tương phản? hoặc người chăm sóc ngôi nhà đã bỏ bê công việc và để mặccho mọi thứ thay đổi?
Những câu hỏi trên hiện ra trong đầu khi tôi nhìn thấy một người đàn ông đứng ở chiếc cổng lớn của ngôi nhà, với những chiếc cột lớn được xây theo kiểu Corinthian, khiến cho khu nhà mang dáng dấp của một ngôi đền Hy lạp. Ông ta đứng tựa người vào một chiếc cột, không đội mũ, mái tóc dài màu xám hất về phía sau, phủ lên cổ và vai của ông ta. Đầu người đàn ông cúi xuống và có vẻ như ông ta đang suy tư điều gì. Khi chiếc xe vừa đi qua, ông ta nhìn lên, và tuy rằng khuôn mặt đã có nhiều thay đổi nhưng tôi vẫn nhận ra đó là thẩm phán Hammond. Nước da ông ta vẫn hồng hào, nhưng khuôn mặt ông ta đã gầy đi, và cặp mắt thì trũng xuống. Những âu lo đã đọng lại trong từng nếp nhăn trên khuôn mặt. Âu lo? từ đó vẫn chưa đủ để diễn tả hết những gì tôi muốn nói! Chỉ mới nhìn lướt qua, tôi đã thấy được những nỗi đau khổ chất chứa trong lòng ông ta. Những bước chân của thời gian dường như đã không hề nhẹ nhàng khi đi qua đây, mà đã dẫm đạp lên các bông hoa thơm ngát bằng những chiếc giày gót sắt. Đó là những gì tôi thấy thoáng qua, và chỉ hình ảnh của người đàn ông là còn đọng lại trong tâm trí tôi, vì chiếc xe trạm vẫn lăn bánh nhanh về phía trước, đưa tôi đi qua ngôi nhà đã có những đổi thay của người đàn ông giàu có nhất ở Cedarville. Chỉ vài phút sau, người tài xế đã dừng xe lại trước quán trọ “Lưỡi liềm và búa”, và ngay khi tôi vừa bước xuống đất, tmt người đàn ông to béo, thô lỗ, mặt đỏ gay, người mà tôi đã không nhận ra ngay là Simon Slade cho đến khi ông ta lên tiếng, nắm lấy tay và gọi tên tôi. Tôi không khỏi thầm so sánh dáng vẻ hiện tại của ông ta với những gì ở ông ta mà tôi đã được thấy lần đầu sáu năm về trước, và tự nhủ thầm “Việc làm chủ quán trọ đã gây ra nhiều thay đổi làm sao!”
Những dấu hiệu của sự thay đổi được thấy rõ mọi nơi, ở trong và xung quanh quán trọ “Lưỡi liềm và bó lúa”. Quán đã được mở rộng với những chái nhà và phòng mới được xây thêm, nhưng càng được mở rộng trông nó càng có vẻ thô lỗ hơn. Khi xây dựng, tất cả các cánh cửa ra vào đã được sơn màu trắng và cửa chớp được sơn màu xanh lá cây, tạo cho ngôi nhà một vẻ gọn gàng, thậm chí trang nhã. Nhưng màu trắng và màu xanh lá cây đã bị hoen ố bởi màu nâu sậm, trông rất xấu xí. Phòng bar đã được mở rộng thêm và quầy bar giờ đã được trang trí thêm bởi những thanh nẹp bằng đồng, những giá để đồ phía sau quầy bar được trang trí thêm nhiều thứ hoặc như những chiếc gương, đồ được mạ vàng, vân vân. Nhiều bức tranh – hay, nói đúng hơn, là những tờ giấy đầy màu sắc loè loẹt với các hình ảnh nếu không dung tục thì cũng thô bỉ - cũng đã được treo lên những bức tường. Trong phòng khách, ngay gần phòng bar, tôi nhận thấy cảnh vật ít thay đổi, nhưng về diện mạo thì đã khác trước nhiều. Tấm thảm trải sàn nhà, những bộ bàn ghế vẫn y nguyên như trước, nhưng vẻ ngoài lại không được như vậy. Căn phòng bốc lên một không khí ngột ngạt, nhớp nhúa, và trông có vẻ như đã không được quét dọn và để mặc cho bụi bám hàng tuần nay rồi.
Một người đàn ông Ireland trẻ và lịch thiệp đang đứng trong quầy bar, và đưa cho tôi cuốn sổ để đăng ký tên khách trọ. Sau khi tôi đã ghi lại tên mình vào đó, ông ta chỉ dẫn cho người khuân hành lý của tôi lên căn phòng được dành cho tôi. Tôi đi theo người khuân vác tới căn phòng mà tôi đã ở trong những lần đến trước. Nơi đây cũng đã có những sự đổi thay, nhưng không phải theo hướng tốt lên. Trước đây, căn phòng luôn hấp dẫn và sạch sẽ, gối và khăn trải giường trắng tinh như tuyết, còn đồ đạc trong phòng lúc nào cũng sáng bóng. Giờ đây, mọi thứ đều phủ đầy bụi bặm và cáu bẩn, không khí hôi hám, khăn trải giường và vỏ gối đã ngả màu. Cửa sổ không có rèm che để làm dịu bớt ánh sáng bên ngoài chiếu vào, cửa chớp cũng không ngăn được hết ánh nắng, vì nhiều thanh chớp đã hỏng. Tôi bỗng thấy một cảm giác kinh tởm dâng lên trước mùi hôi hám, ngột ngạt và quang cảnh bừa bãi, bởi vậy sau khi đã rửa tay, rửa mặt và phủi bụi trên quần áo, tôi đi xuống dưới nhà. Phòng khách vẫn là nơi dễ chịu hơn so với căn phòng của tôi, vì vậy tôi đi ra hiên nhà và ngồi xuống một chiếc ghế. Có một số người khác cũng đang ở đó, họ trông sung sức, khỏe mạnh, nhưng lười nhác, thích chơi bời hơn là làm việc. Một người trong số đó để sát lưng chiếc ghế của ông ta vào tường và đang nhún nhảy đôi chân hát bài “Những ông lão ở nhà”. Một người khác ngồi dang chân trên một chiếc ghế, với khuôn mặt quay về một phía. Ông ta đang thư giãn, và có lẽ trong đầu đang theo đuổi một ý nghĩ hoặc nhẩm theo một điệu nhạc nào đó. Một người thứ ba thì đang ngồi ngả hẳn người về phía sau, còn hai chân ông t thì đang giơ cao quá đầu và đặt lên một trong những chiếc cột chống ở hiên nhà. Còn một người thứ tư thì nằm dang rộng chân tay trên một chiếc ghế dài, ông ta đang ngủ, chiếc mũ được úp lên mặt để ngăn không cho lũ ruồi đang bay ầu ầu xung quanh bâu vào.
Dù vậy, người đàn ông đang ngủ vẫn nhìn tôi một cách tò mò khi tôi ngồi xuống gần đó, nhưng vẫn không thay đổi tư thế. Tròng mắt của người đàn ông chuyển động nhưng chỉ dãn ra đôi chút, và qua đó cho thấy là đang quan sát tôi .
“Xem kìa, ai đấy?” một trong những người đang có mặt bỗng kêu lên khi có một người đàn ông đi nhanh đến trong ánh chiều chạng vạng, và ông ta đứng bật dậy chăm chú nhìn về phía đường, cố gắng nhìn qua đám bụi gây ra bởi những chiếc bánh xe và móng ngựa.
“Tôi không nhìn thấy gì”. Người đàn ông ngủ đã nhỏm dậy, giụi mắt và cũng nhìn ra đường.
“Ai đấy, Matthew?” một người hỏi người đàn ông Ireland phục vụ quầy bar giờ đang đứng ở cửa.
“Willy Hammond” Matthew trả lời.
“Vậy à! Có phải đó là con ngựa trị giá ba trăm dollar của ông ấy không?”
“Đúng vậy”.
“Ôi chao! Nó phi nhanh như một con én vậy!”
“Ừ! Cũng như người chủ của nó vậy”.
“Tôi nghĩ khó ai có thể sánh được với Hammond. Cậu ấy điều khiển nó thật nhanh nhẹn, duyên dáng”, một người đàn ông nói.
“Đúng vậy! Có lẽ ông đã nói ra điều mà mình hài lòng về cậu ấy. Cậu ấy là một người tốt bụng mà tôi từng được thấy, và rất hào phóng”.
“Ông bố già của cậu ấy sẽ hài lòng về nhận xét cuối cùng của ông đấy” Matthew nói.
“Không có gì nghi ngờ về điều đó, vì cậu ấy luôn mở rộng hầu bao”, một người trả lời.
“Đúng, dù sao đi nữa, tôi nghĩ Willy vẫn có những vị thế của cậu ấy”.
“Vị thế như thế nào?”
“Đó là cái tên Hammond và Con trai đối với cối xay và xưởng chưng cất rượu “.
“Tôi biết, nhưng theo cách nào?”
“Willy đã được trở thành một thương gia, về mặt tư cách, để, theo ý bố cậu ta, thấy mình có những bổn phận đối với vị trí mới đó, và bởi thế sẽ trở nên chín chắn hơn”.
“Chín chắn hơn! Ôi, trời! Sẽ phải cần đến những thứ khác ngoài công việc kinh doanh để làm được điều đó. Sự kiềm chế cũng được áp dụng quá muộn”.
“Cũng như ông già cậu ta đã khám phá ra, tôi đang nghĩ đến chuyện buồn của cậu ấy”.
“Ông ấy không bao giờ đến đây nữa, phải không Matthew?”
“Ai vậy?”
“Thẩm phán Hammond”.
“Ồ không. Ông ta và Slade đã cãi nhau thậm tệ cách đây khoảng một năm, và ông ấy không bao giờ bén mảng đến chỗ chúng tôi kể từ đó”.
“Nguyên nhân là vì Willy và…” Người vừa nói không nhắc đến tên ai, nhưng ông ta nháy mắt đầy ý nghĩa và hất đầu về phía cửa ngôi nhà, ám chỉ người nào đó trong gia đình Slade.
“Tôi cũng tin như vậy”.
“Ông có cho rằng Willy thực sự thích cô ấy?”
Matthew nhún vai, nhưng không trả lời.
“Cô ấy là một cô gái xinh đẹp”, lời nhận xét trầm xuống “và rất xứng đôi với con trai của Hammond, nếu cô ấy là con gái tôi, tôi thà thấy cô ấy ở Jericho còn hơn là lấy cậu ta”.
“Cậu ấy có rất nhiều tiền cho cô ấy. Cô ấy có thể sống như một nữ hoàng vậy”.
“Nhưng được trong bao lâu?”
“Im nào!” Matthew thì thào. “Cô ấy đấy!”
Tôi ngước nhìn theo, và thấy ở ngay phía trước ngôi nhà, một cô gái trẻ đang đi vào. Cô gái có khuôn mặt trông thật thuỳ mị, duyên dáng, mà tôi nhận ngay ra là Flora Slade. Năm năm trôi qua đã làm cho cô gái trở thành một phụ nữ xinh đẹp. Mặc dù sống bên cạnh Simon Slade, nhưng nhìn cô không hề có những thay đổi như ở người cha. Cặp mắt cô vẫn dịu dàng và trong sáng giống như hồi tôi mới gặp lần đầu khi cô mười sáu tuổi và người cha của cô đã nói câu “con gái tôi” với vẻ tự hào xen lẫn âu yếm trong giọng nói. Cô gái đi qua gần chỗ tôi đang ngồi, và đi vào trong ngôi nhà. Khi cô đến gần hơn, tôi nhận thấy một số nét ưu tư, từng trải trên khuôn mặt, nhưng chúng chỉ khiến cho khuôn mặt cô trông càng hấp dẫn hơn. Tôi không thể không nhận ra sự ngưỡng mộ của mọi người khi cô gái quay lại mỉm cười và gật nhẹ đầu chào những người có mặt.
“Một cô gái thật đáng yêu, và không một chút tội lỗi – một bông hoa giữa bầy thú”, lời nhận xét được đưa ra khi cô gái đã đi vào nhà.
“Tôi thấy cô ấy quá đáng yêu đối với Willy Hammond” Matthew nói “Một người thông minh và hào hiệp, như mọi người thường gọi cậu ấy”.
“Theo tôi nghĩ” một người nói “cô ấy trong sáng và đáng yêu như một thiên thần vậy, còn cậu ấy – tôi có thể nói với ông – cậu ấy cũng chẳng phải người thanh khiết gì. Cậu ấy biết hơi quá nhiều thứ - ý tôi muốn nói là những thứ không hay ho gì”.
Cuộc đối thoại ngừng lại khi có sự xuất hiện của Slade. Sự quan sát lần thứ hai dáng vẻ và khuôn mặt ông ta vẫn không làm thay đổi những ấn tượng không mấy dễ chịu của lần gặp đầu . Khuôn mặt ông ta thể hiện một vẻ cứng rắn xen lẫn hưởng lạc, cùng với nét phì nộn. Mùi hơi thở toả ra khi ông ta ngồi xuống một chiếc ghế gần nơi tôi đang ngồi cho thấy ông ta là người đã quen uống rượu một cách vô độ và cặp mắt đỏ ngầu của ông ta là bằng chứng rõ ràng cho thấy Simon Slade đang trở thành một kẻ nghiện rượu nặng. Giọng nói lè nhè của ông ta càng củng cố thêm những dấu hiệu về sự biến đổi theo hướng sa sút trong nhân cách ông ta.
“Ông có gặp Frank buổi chiều nay không?” ông ta hỏi Matthew, sau khi đã trao đổi vài câu với chúng tôi.
“Không”, người phục vụ quán bar trả lời.
“Lúc đến đây, tôi thấy cậu ấy đi cùng với Tom Wilkins” một trong những người đàn ông đang ngồi trong hành lang lên tiếng.
“Nó đi cùng với Tom Wilkins làm gì vậy?” Slade hỏi, giọng bực bội “Có lẽ nó đã tuỳ tiện trong việc lựa chọn bạn bè”.
“Họ đã đi săn”.
“Đi săn?”
“Đúng thế! Cả hai người đều mang theo súng bắn chim. Tôi không đứng gần nên không hỏi được là họ đi đâu”.
Thông tin này khiến cho Slade trở nên lo nghĩ. Sau một hồi càu nhàu, ông ta đứng dậy và đi vào trong nhà.
“Và tôi có thể đã kể cho ông ta nhiều hơn nữa, tôi đang định như vậy” người đàn ông đã cho biết Frank đi cùng với Tom Wilkins nói.
“Còn gì nữa?” Matthew hỏi.
“Có một chiếc xe ngựa, và một cái giỏ đựng champagne. Những gì đựng trong giỏ, chắc ông đã đoán ra”.
“Chiếc xe ngựa là của ai?”
“Tôi không biết gì về chiếc xe ngựa, nhưng nếu con Lightfoot không mất giá đi hàng trăm dollar trước khi trời tối, thì hãy gọi tôi là nhà tiên tri lừa dối”.
“Ồ không” Matthew nói, vẻ ngờ vực. “Frank thường không làm những việc tàn ác như vậy. Con Lightfoot không đủ sức khoẻ để kéo xe trong vòng một tháng nữa”.
“Tôi không quan tâm đến điều đó. Hiện giờ nó đang phải làm việc, và cách nó bi .đối xử khi tôi nhìn thấy đã cho thấy một chiều hướng xấu”.
“Cậu ấy đã lấy nó ở đâu?” một người hỏi.
“Nó được thả ở cánh đồng cỏ sáu mẫu, gần cầu Mason tuần trước” Matthew trả lời. “Tất cả những gì mà tôi cần phải nói” ông ta nói thêm “là Frank cần được đưa vào kỷ cương và rèn giũa cho ra trò. Tôi chưa bao giờ thấy một kẻ bất trị trẻ tuổi nào như cậu ta. Cậu ấy không quan tâm gì đến lẽ phải, và không ngại làm những việc xấu. Cậu ta là một cậu bé tồi tệ nhất mà tôi đã từng thấy”.
“Trông mặt cậu ta, thật khó có thể gọi là một cậu bé”, một người đàn ông bật cười.
“Dù sao đi nữa, tôi cũng không có gì nhiều để nói với cậu ấy” Matthew trả lời “vì tôi biết rất rõ rằng nếu chúng tôi cứ tranh cãi với nhau một cách thường xuyên, sẽ rất khó khăn. Sau đó, chúng tôi sẽ khó có thể ở cùng trong một nhà. Bởi vậy, tôi không muốn để ý đến kẻ bất lương trẻ tuổi ấy”.
“Tôi tự hỏi vì sao bố của Frank không giao công việc cho cậu ấy” một người nhận xét. “Sự vô công rồi nghề sẽ làm cho cậu ấy hư hỏng”.
“Cậu ta đã phục vụ quầy bar trong vòng một hai năm gì đó”.
“Đúng vậy, và pha rượu rất lành nghề, nhưng….”
“Rồi cậu ta đã trở thành một khách hàng quan trọng của chính mình?”
“Chính xác! Cậu ta trở thành một con ma men từ khi chưa đến tuổi mười lăm!”
“Chao ôi!” Tôi bất giác kêu lên.
“Thực vậy, thưa ngài” người vừa nói quay sang phía tôi “tôi chưa bao giờ thấy trường hợp nào như thế. Và những câu chuyện trong phòng bar, chắc ngài cũng biết, không mấy khi được tao nhã, lịch sự gì. Tôi không muốn con trai mình nghe được những lời lẽ đó. Còn Frank đã luôn lắng nghe một cách háo hức những gì được nói ra trong phòng bar, và chỉ một thời gian ngắn sau đã trở thành một kẻ ăn nói thô bỉ, phàm tục. Tôi cũng chẳng phải người thánh thiện gì, nhưng vẫn thấy ghê người khi nghe cậu ta chửi thề”.
“Tôi thấy thương cho người mẹ của cậu ta” tôi nói và chợt nghĩ đến bà Slade.
“Ngài nói đúng” người đối thoại với tôi trả lời. “Tôi nghĩ bà ấy còn buồn hơn. Ngày u ám đối với bà ấy, để tôi kể cho ngài biết, là khi Simon Slade bán cối xay của ông ta đi và xây lên quán trọ này. Bà ấy đã phản đối ngay từ đầu”.
“Tôi đã đoán như vậy”.
“Tôi biết mà” người đàn ông nói. “Vợ tôi đã chơi thân với bà ấy từ nhiều năm. Thực ra thì họ đã thân nhau như chị em gái vậy. Tôi nhớ rất rõ lần bà ấy đến nhà chúng tôi, khi cối xay đã bị bán đi, và khóc vì điều đó như trái tim bị tan vỡ vậy. Bà ấy không nhìn thấy gì ở phía trước ngoài những âu lo và thất vọng. Bà ấy luôn coi việc mở quán trọ là một nghề mạt hạng, và việc đổi từ nghề chủ cối xay đáng trân trọng sang làm chủ quán nhàn họa, như bà Slade đã cho biết, được bà ấy coi như một điều đáng hổ thẹn. Tôi nhớ rõ rằng mình đã cố gắng thuyết phục bà ấy – rằng làm chủ quán trọ cũng đáng trân trọng như bất cứ nghề nào khác, nhưng vô ích. Trước đây, bà ấy luôn là người phụ nữ vui vẻ, tuổi cười, đầy hy vọng, nhưng kể từ đó đến nay tôi không còn được nhìn thấy một nụ cười thực sự nào trên khuôn mặt của bà ấy”.
“Đó quả là sự mất mát lớn đối với một người đàn ông” tôi nói.
“Sự mất mát nào?” ông ta hỏi, chưa hiểu ý tôi.
“Khuôn mặt vui tươi của vợ ông ấy”.
“Và cả trái tim, được thể hiện qua khuôn mặt ấy nữa”, người đàn ông nói.
“Quá nhiều sự xấu đi”.
“Thật là quá đủ! Đúng vậy, một sự mất mát lớn”.
“Đánh đổi lại, ông ta được điều gì?”
Người đàn ông nhún vai.
“Ông ta được điều gì?” tôi hỏi lại. “Ông có thể nêu ra được không?”
“Ông tra trở nên giàu có hơn”.
“Ông ta có hạnh phúc hơn không?”
Người đàn ông nhún vai lần nữa. “Tôi không có ý định nói thế”.
“Ông ta giàu hơn bao nhiêu?”
“Ồ, giàu lên rất nhiều. Vừa mới hôm qua, có người cho biết rằng ông ta có không dưới ba mươi nghìn dollar”.
“Thật ư? Nhiều quá!”
“Đúng vậy”.
“Làm thế nào mà ông ta tích luỹ được nhanh như vậy?”
“Quán bar của ông ấy có rất nhiều khách. Và, ngài biết đấy, tiền vào cô ũng vô kể.”
“Ông ta chắc hẳn đã bán ra một khối lượng rượu rất lớn trong sáu năm qua”.
“Hẳn vậy. Tôi nghĩ rằng mình không sai khi nói rằng trong vòng sáu năm kể từ khi quán “Lưỡi liềm và bó lúa” được mở ra, lượng rượu được tiêu thụ đã nhiều hơn trong hai mươi năm trước đó”.
“Phải đến bốn mươi năm ấy chứ” một người đàn ông đang theo dõi cuộc trao đổi của chúng tôi lên tiếng nhận xét.
“Phải đến bốn mươi năm” một người khác tỏ ra đồng tình.
“Căn cứ vào đâu?” tôi hỏi. “Đã có một quán trọ ở đây từ trước khi quán “Lưỡi liềm và bó lúa” được mở rồi mà”.
“Tôi biết, và một số nơi có bán rượu khác nữa. Nhưng mọi người gần xa đều biết và quý mến người chủ cối xay Simon Slade. Ông ta là người chủ cối xay tốt và là một người đàn ông vui vẻ, dễ gần, hay chuyện trò và làm vui lòng những người chung quanh. Bởi vậy, mọi người đều bàn tán khi Slade xây lên ngôi nhà này, nơi được ông ta trang bị sang trọng hơn bất cứ quán nào khác ở đây. Thẩm phán Hammond, thẩm phán Lyman, luật sư Wilson, và tất cả những ai có máu mặt ở đây đã lập tức trở thành khách quen của quán trọ mới, và những người khác cũng làm như vậy. Bởi thế, chắc ngài đã hình dung được vì sao Simon đã đạt được kết quả đó”.
“Ban đầu,” tôi nói “quán trọ mới đã được cho là sẽ làm nên những điều kỳ diệu cho Cedarville”.
“Đúng” người đàn ông cười, trả lời “và nó đã làm được như vậy”.
“Theo khía cạnh nào?”
“Ồ nhiều chứ. Nó đã làm cho một số người giàu hơn, và một số nghèo đi”.
“Ai là người bị nghèo đi?”
“Hàng tá người. Người ta thường đổ cho số phận khi thấy một người chủ quán trọ thu hút được đông đảo tửu khách, và giàu nên, trong khi có nhiều người khác bị nghèo đi”.
“Điều đó xảy ra như thế nào?” tôi muốn được nghe người đàn ông vốn là một khách hàng của quán bar này giải thích thêm.
“Người chủ quán trọ không làm tăng thêm sự giàu có chung. Ông ta không làm ra cái gì. Ông ta nhận lấy tiền của khách hàng, nhưng không trao cho họ thứ gì có giá trị để đổi lại. Ông ta cứ giàu lên, còn họ thì cứ nghèo đi vì sự trao đổi đó. Không phải như vậy sao?”
Tôi sẵn lòng đồng ý với quan điểm đó, và hỏi
“Ai là người bị nghèo đi một cách đáng chú ý?”
“Thẩm phán Hammond, chẳng hạn”.
“Ra thế! Tôi ngỡ sự tăng giá bất động sản của ông ta, do ảnh hưởng từ việc xây lên quán trọ này, là rất lớn, khiến ông ấy thu về được nhiều tiền rồi”.
“Đã có sự tăng giá nhẹ của những bất động sản nằm dọc theo phố này sau khi quán “Lưỡi liềm và bó lúa” được khai trương, và thẩm phán Hammond đã kiếm được lợi từ điều đó. Những bữa tiệc ăn mừng ồn ào cũng được tổ chức, nhưng tôi tin rằng số lợi nhuận không nhiều”.
“Vậy điều gì đã khiến cho ông thẩm phán nghèo đi?”
“Việc mở ra quán trọ này, như tôi đã nói”.
“Nó ảnh hưởng đến ông ta như thế nào?”
“Ông ta nằm trong số những người ủng hộ nhiệt liệt nhất của Slade, ngay khi ông ta thấy có sự tăng giá đất xây nhà, đã gọi ông ấy là một trong những người đàn ông dám nghĩ dám làm nhất ở Cedarville, một người đỡ đầu của khu vực, và nhiều điều tương tựnhư thế. Để khuyến khích thêm khách hàng ,ông ta đến quán uống rượu đều đặn hàng ngày, và hô hào mọi người làm theo. Trong số những người làm theo có Willy, con trai ông ta. Tôi phải nói rằng, trong phạm vi hai chục dặm quanh đây, không có một thanh niên nào tốt hơn Willy, cũng không ai có được tương lai nhiều triển vọng như cậu ấy, lúc “cái bẫy người” này được mở ra” – ông ta hạ thấp giọng xuống và nhìn xung quanh khi ám chỉ quán trọ của Slade – “và đến nay không ai sa ngã một cách bất cẩn hơn cậu ấy, khi đã quá muộn, cha cậu ấy mới nhận ra rằng con mình đã bị hư hỏng, và giao du với nhiều kẻ xấu. Đó là những lý do đã khiến ông ta mua lại cối xay trước đây của Slade, và biến nó thành một nhà máy và một xưởng chưng cất rượu. Dĩ nhiên, ông ta đã phải bỏ ra rất nhiều chi phí để xây thêm nhà xưởng, máy móc và hệ thống chưng cất. Ông ta hy vọng sẽ kiếm được nhiều tiền, nhất là qua xưởng chưng cất rượu, và sẽ giành lại được Willy bằng cách đưa cậu ấy tham gia và quan tâm đến công việc này. Để Willy thực sự gắn bó với công việc, ông ta đã giao cho cậu con trai hai mươi nghìn dollar tiền vốn của mình và cùng với cậu ấy kinh doanh theo nguyên tắc cổ phần, nhằm khiến cho cậu ấy phải luôn bận bịu với công việc”.
“Những điều đó, thưa ngài” người đàn ông nhấn mạnh thêm “đã thất bại. Hôm qua tôi nghe tin rằng cả cối xay và xưởng chưng rượu đã ngưng hoạt động và được rao bán”.
“Họ đã không kiếm được nhiều tiền như dự kiến à?”
“Không, không thể làm được điều đó với sự quản lý của Willy Hammond. Cậu ta có quan hệ với quá nhiều kẻ xấu – những người bám theo Willy vì cậu ấy có nhiều tiền, và tiêu xài như nước. Đến một nữa thời gian cậu ấy vắng mặt ở cối xay, và khi có mặt ở đó thì cũng chỉ làm việc một cách hờ hững. Tôi đã nghe nói – và cũng không mấy nghi ngờ - rằng cậu ta đã lãng phí hết hai mươi nghìn dollar, và còn nhiều hơn thế”.
“Làm thế nào có thể như vậy?”
“Đúng, mọi người nói như thế, và không phải là không có căn cứ. Có một người đàn ông, tên là Green, đã ở đây hầu như hết cả thời gian trong bốn hoặc năm năm qua. Ông ta không làm gì cả, và có vẻ như không có bạn bè nào ở quanh đây. Không ai biết được ông ta từ đâu đến và ông ta cũng không nói về điều đó. Người đàn ông này làm quen với Willy Hammond sau khi cậu ta đến đây và bám ngay lấy cậu ấy. Họ, như được thấy, đã nhanh chóng kết thân kể từ đó, và cùng nhau đi cưỡi ngựa, đi săn hay đi câu cá hầu như hàng ngày, và cứ đến tối lại rủ nhau ra một chỗ riêng. Một số người rỉ tai nhau rằng Green, người đàn ông đó, thưa ngài, là một tay cờ bạc, và tôi cũng tin là như vậy. Bởi thế, không có gì khó hiểu về việc Willy đã làm gì với số tiền của cậu ta, và của cha cậu ta”.
Tôi đồng ý với ý kiến đó.
“Và nếu Green là một tay cờ bạc” tôi nói “ông ta hẳn đã giàu lên theo hệ quả từ việc mở ra một quán trọ mới và hấp dẫn hơn ở Cedarville”.
“Đúng vậy, và Cedarville đã nghèo đi để ông ta giàu lên. Tôi chưa bao giờ nghe thấy nói ông ta mua dù chỉ một tấc đất, hay làm việc gì đóng góp cho lĩnh vực sản xuất gì cả. Ông ta chỉ là một kẻ hút máu”.
“Còn tồi tệ hơn cả việc bòn rút tiền” tôi nhận xét, “ông ta làm tha hóa những nạn nhân trong khi lấy đi tiền của họ”.
“Quả thế!”
“Willy Hammond có lẽ không phải nạn nhân duy nhất của ông ta” tôi nói.
“Tôi cũng cho là vậy. Tôi đã thường đến quán bar này hàng đêm trong mấy năm – một sự thừa nhận đáng tiếc đối với một người đàn ông” ông ta nói thêm với một chút ngượng ngùng, “và tôi đã thấy nhiều điều tương tự diễn ra quanh mình. Trong số những người khách thường xuyên, có ít nhất nửa tá là những thanh niên đến từ các gia đình rất nề nếp, họ đã được nuôi dạy và học hành tử tế. Thế nhưng việc họ đến đây không được những bạn bè, hoặc ít nhất là một số bạn bè, biết đến, tôi biết chắc vậy. Họ không uống nhiều, mà thường chỉ một hai ly. Đến khoảng gần chín giờ, thường là trước đó một giờ, ta sẽ thấy từng người một lặng lẽ rời phòng bar, đi qua phòng khách, có cả Green và Slade đi theo. Vào bất cứ lúc nào trong đêm, cho đến một hai giờ sáng, và đôi lúc đến ba giờ, người ta cũng có thể thấy ánh sáng chiếu qua kẽ hở của một tấm rèm che một chiếc cửa sổ nhất định, mà tôi được biết là thuộc về căn phòng của Harvey Green. Qua những hiện tượng như vậy, ngài có thể đưa ra kết luận của chính mình. Tôi cho rằng đây là một vấn đề rất nghiêm trọng”.
“Vì sao Slade đi cùng những thanh niên đó?” tôi hỏi. “Ông có nghĩ ông ta cũng đánh bac không?”
“Tôi sẽ sai lầm nếu ông ta không phải là kẻ cò mồi cho Harvey Green”.
“Thật tồi tệ. Ông ta không thể trở thành đốn mạt như vậy được!”
“Nghề chủ quán trọ là một môi trường xấu xa, thưa ngài”.
“Tôi công nhận ông nói đúng”.
“Và đã gần bảy năm kể từ khi ông ta bắt đầu tiếp thu được những điều từ môi trường đó. Rất nhiều điều cả tốt và xấu có thể đã được rút ra sau bảy năm, nhất là với những người muốn quan tâm học hỏi”.
“Đúng vậy!”
“Và cũng đúng trong trường hợp này. Simon Slade giờ không còn là người đàn ông của bảy năm trước. Bất cứ ai cũng có thể thấy điều đó chỉ với nửa cái nhìn. Ông ta đã trở nên ích kỷ, tham lam, cẩu thả và cáu bẳn. Khó có thể có một sự khác biệt giữa những người đàn ông lớn hơn như giữa người chủ quán trọ Simon Slade, và người thợ xay Simon Slade”.
“Và thói rượu chè nữa chứ?” tôi nói.
“Ông ta bắt đầu uống hơi quá nhiều” người đàn ông trả lời. “Trong trường hợp đó, năm năm nữa ông ta khó có thể còn phong lưu được như hiện nay”.
“Ông ta đã lên tới đỉnh điểm rồi, một số người trong chúng tôi nghĩ vậy”.
“Điều gì đã dẫn đến ý kiến đó?”
“Ông ta đã bắt đầu sao nhãng ngôi nhà của mình, đó là một”.
“Một dấu hiệu xấu”.
“Và còn một dấu hiệu nữa. Trước đây, ông ta thường bỏ ngay tiền ra mua với giá hời khi gặp được những bất động sản phải bán đổ bán tháo. Trong ba hoặc bốn tháng qua, đã có một số cơ hội quan trọng như vậy đã đến, nhưng Simon Slade đã không hề có ý định mua. Ngược lại, tuần trước ông ta đã bán đi một ngôi nhà và mảnh đất ở thị trấn để lấy năm trăm dollar, rẻ hơn giá mà ông ta đã mua một năm trước, và thấp hơn so với giá trị thực tế của nó”.
“Vì sao thế?” tôi hỏi.
“À! Đó vẫn còn là câu hỏi. Ông ta cần tiền, mặc dù ông ta không cho ai biết là tiền đó để làm gì, tôi chỉ biết thế”.
“Ông nghĩ gì về điều đó?”
“Chắn hắn, ông ta và Green đã cùng nhau hợp tác để kiếm chác, nhưng bản chất của tay cờ bạc lọc lõi đó đã không chừa ra ngay cả người bạn của mình. Họ đã bắt đầu trở nên mâu thuẫn với nhau”.
“Ông nghĩ vậy à?”
“Tôi tin vậy, và nếu tôi dự đoán đúng, Simon Slade sẽ bị nghèo đi so với hiện nay trong vòng một năm nữa”.
Đến đây thì cuộc trò chuyện của chúng tôi bị gián đoạn. Có người mời ông bạn hay chuyện của tôi một chầu rượu, và ông ta để lại tôi ngồi lại không một chút miễn cưỡng, và cũng không chào hỏi câu nào.
Tối hôm đó, tôi ăn một bữa được phục vụ khác hẳn với bữa ăn trong lần đầu tôi đến quán “Lưỡi liềm và bó lúa” . Tấm khăn trải bàn không chỉ vấy bẩn, mà bẩn gớm ghiếc, những chiếc đĩa, chén cáu bẩn và nhớp nhúa, dao và nĩa ăn xỉn màu, còn đồ ăn thì được chế biến thành những miếng to tướng. Hai cô gái người Ireland trông béo nhẫy phục vụ bàn ăn, nhưng bữa ăn thiếu sự hiện diện của hai vợ chồng người chủ qúan. Tôi đã rất đói lúc chuông báo bữa ăn vang lên, nhưng cái cảm giác thèm ăn của dạ dày cũng mau chóng bị biến mất trong bầu không khí của phòng ăn, và tôi là người đầu tiên rời bàn ăn.
Ngay sau đó, đèn được thắp lên, nhiều người bắt đầu kéo đến phòng bar rộng rãi, nơi có những chỗ ngồi thoải mái, cùng với những chiếc bàn, những tờ báo, bàn chơi cờ thỏ và cáo, quân cờ domino…
Việc đầu tiên của hầu hết mọi người khi bước vào là gọi một ly rượu, và đôi khi có người uống đến hai, ba ly liền trong vòng nửa giờ theo sự mời mọc của những tửu khách đến sau.
Hầu hết những khách vừa đến đều là những người mà tôi chưa quen. Tôi nhìn từng khuôn mặt để tìm xem có ai là người đã biết từ trước hay không, và thấy một khuôn mặt quen quen. Khi tôi đang lục tìm trí nhớ để cố nhận ra người đó, thì lúc ấy bỗng có người gọi ông ta là “Thẩm phán”.
Khuôn mặt quả có nhiều thay đổi, nhưng giờ tôi đã nhận ra thẩm phán Lyman. Năm năm đã huỷ hoại khuôn mặt đó một cách ghê gớm. Dường như kích thước của nó đã tăng lên gấp đôi, và mọi nét tinh tế đều đã biến đâu mất. Cặp mi mắt dày và lồi lên chỉ hé mở trên đôi mắt sệ xuống, cặp môi và hai gò má to mập tạo cho khuôn mặt ông ta đầy vẻ hưởng lạc. Những gì đẹp đẽ của một đấng nam nhi đã phải nhường chỗ cho bản năng thấp hèn. Ông ta nói năng lớn giọng, vẻ huyênh hoang, giáo điều – chủ yếu về những đề tài chính trị - nhưng chỉ dựa theo trí nhớ, mà ai cũng thấy là những điều ông ta nói có rất ít cơ sở thực tế. Và ông ta, như thường lệ, nói bên ly rượu, rằng mình đã được chọn làm một đại biểu tại Quốc hội trong cuộc bầu cử lần trước, nhờ vào phiếu bầu của những người chống lại việc hạn chế rượu.
Thẩm phán Lyman, cùng với một nhóm người quanh ông ta, đã gặp phải chỉ trích mạnh mẽ của những người thuộc một đảng có quan điểm phản đối tệ nghiện rượu và đã phản đối sự bầu chọn của ông ta trong suốt hai năm, và trong cuộc vận động bầu cử sau đó, họ đã xuất bản và cho phổ biến một tài liệu nói về sinh hoạt cá nhân, tư cách và đạo đức của ông ta, và dĩ nhiên, điều đó đã không nâng cao thanh danh cho ông ta đối với những người có tư cách.
Và không có gì ngạc nhiên khi ông ta cho rằng hạn chế rượu là quan điểm sai lầm, và khi những người có quan điểm như vậy tìm cách tác động vào cuộc bầu cử, thì quyền tự do của mọi người đang bị đe doạ, và ông ta gọi những nguời có quan điểm hạn chế rượu là những kẻ ích kỷ và đạo đức giả.
“Điều tiếp theo” ông ta nói to, giọng cảnh báo, khiến cho mọi người trong phòng đều chú ý “sẽ là những bộ luật cho phép phạt tiền bất cứ ai nhai hoặc hút thuốc lá (trước đây, người ta còn nhai, chứ không chỉ hút thuốc lá như ngày nay). Xâm phạm đến những sự tự do nhỏ nhất của con người, và quyên đó không còn được bảo đảm nữa. Những luật như vậy, đi ngược lại cuộc đấu tranh của những thế hệ đáng kính trước đây, là sự chống lại những quyền đó, và được những người còn tệ hại hơn cả cuồng tín nghĩ ra”.
“Ngài đã nói đúng, thưa thẩm phán, đúng một lần trong đời, nếu (một tiếng cười hic) trước đây ngày chưa bao giờ đúng!” một người trông dáng vẻ bệ rạc, đang đứng gần thẩm phán Lyman, vỗ vai ông ta vẻ thân mật và nói. “Không biết rồi họ sẽ còn làm những gì nữa. Đó là về ông chú Josh Wilson của tôi, người đã trông coi quản lý nhà tế bần được mười năm. Họ sẽ cho ông ấy thôi việc khi có được địa vị cao hơn ở địa hạt Bolton”.
“Vậy ư? Điều đó quả là quan trọng, Harry!” Lyman nói. “Chúng ta không nên để họ leo lên được địa vị cao hiểu. Mọi người đều có một bổn phận phải thực hiện đối với địa hạt của mình trong vấn đề này, và mỗi người đều phải thực hiện bổn phận đó. Nhưng họ đã làm điều gì chống lại ông chú của ông? Ông ấy đã làm gì để bảo vệ chính mình?”
“Họ không làm gì chống lại ông ấy cả, tôi tin vậy. Họ chỉ cho biết rằng sẽ không cần đến một nhà tế bần trong địa hạt nữa”.
“Gì thế? Họ sẽ để mặc cho những người nghèo khốn khổ chết đói à?” một người hỏi.
“Ồ không! (hic)” ông tan he răng cười tinh quái, bí hiểm và trả lời “không phải vậy. Mà vì không cần đến những nhà tế bần nữa, ít ra là họ đã nói như thế, và tôi ngờ rằng có lẽ còn điều gì đó phía sau, vì tôi chưa bao giờ thấy người nào khi đến nhà tế bần mà không nói rằng cái nghèo của ông ta là do rượu gây ra. Nhưng ông biết đấy, tôi ủng hộ việc giữ lại nhà tế bần. Dù sao, ngài cũng sẽ thêm được một lá phiếu trong kỳ bầu cử tới!”. Và bàn tay to lớn của người đàn ông lại vỗ vào vai Lyman. “Hoan hô rượu! Đó cũng là phiếu bầu! Harry Grimes không bao giờ bỏ rơi bạn bè”.
“Ông là một người bạn trung thãnh!” Lyman trả lời. “Ông đừng lo gì về nhà tế bần và ông chú Josh. Họ sẽ vẫn ổn thổi”.
“Nhưng hãy nhìn đây, thẩm phán Lyman” người đàn ông nói. “Không chỉ là nhà tế bần, mà còn nhà tù` ở phía trước”.
“Như thế nào?”
“Nhiều người nói vậy, và tôi cho rằng cũng không xa thực tế là mấy. Nguyên nhân gì đã khiến cho nhiêu người đàn ông phải vào tù? Ngài có thể kể cho chúng tôi đôi điều vê chuyện đó, thưa ngài thẩm phán, vì ngài chắc hẳn đã nhiều lần tham gia xét xử các vụ án. Chẳng phải đã có những người phải ra tòa vì rượu sao?”
Nhưng thẩm phán Lyman không trả lời.
“Im lặng là đồng ý (hic)”, Grimes nói tiếp. “Và người ta còn nói, họ đang có lợi thế, và tự tin sẽ đánh bại được chúng ta – tòa án cũng sẽ được viện đến. Bởi vậy, ngài thấy đó, thưa thẩm phán, quan điểm tự do của ngài đang bị đe dọa. Phải nỗ lực lên đi, ông bạn, nếu không, ông sẽ thua cuộc đấy!”
Không rõ thẩm phán Lyman nghĩ gi khi nghe cách nói chuyện đó, ông ta vốn là chính khách và người vận động tranh cử có kinh nghiệm, nên rất biết kiềm chế cảm xúc khi cần thiết. Harry Grimes cũng là một cử tri, và một lá phiếu cũng có thể quyết định sự thắng hay bại trong một cuộc bầu cử.
“Một trong những thủ đọan của họ” ông ta mỉm cười và nói. “Nhưng tôi có đủ kinh nghiệm để thấy được điểm yếu của lý lẽ đó. Nghèo khổ và tội ác bắt nguồn từ những trái tim lầm lạc, và chúng đã được hình thành từ lâu trước khi người ta sa vào nghiện ngập. Thật dễ dàng để đưa ra kết quả, chỉ cần nhìn vào những nguyên nhân, và lần theo những ảnh hưởng của chúng”.
“Rượu và sa ngã (hic). Chúng không phải là nguyên nhân và hậu quả sao?” Grimes hỏi.
“Đôi lúc chúng là như vậy” câu trả lời miễn cưỡng.
“Ồ, Green đấy à?” ông thẩm phán kêu lên khi thấy Harvey Green đi vào, với những bước đi lặng lẽ giống như của loài mèo. Ông ta, rõ ràng vui mừng vì đã có cơ hội thóat ra khỏi cuộc nói chuyện với người bạn quen thuộc và cũng là cử tri của ông ta.
Tôi quay sang nhìn người đàn ông, và để ý kỹ khuôn mặt của ông ta. Khuôn mặt đó vẫn không thay đổi. Vẫn cái nhìn lạnh lùng, nham hiểm, vẫn cái miệng lừa lọc, giờ càng trở nên cứng rắn và nhiều đường uốn éo, vẫn nụ cười nhe răng, vẫn những nếp nhăn thể hiện tâm địa đen tối và ích kỷ của hắn. Nếu hắn đã sa đà trong rượu chè năm năm qua, thì điều đó cũng không làm máu trong người hắn có thể đồi bại hơn, hay ấm thêm được một độ nào.
“Ông có thấy Hammond buổi tối nay không?” Thẩm phán Lyman hỏi.
“Tôi nhìn thấy cậu ấy cách đây một vài giờ” Green trả lời.
“Cậu ấy có thích con ngựa mới không?”
“Cậu ấy rất thích nó”.
“Giá của nó là bao nhiêu?”
“Ba trăm dollar”.
“Thế à!”
Thẩm phán Lyman đứng lên và cùng với Green đi sát bên nhau ngang qua phòng.
“Tôi có chuyện muốn nói với ông”, tôi nghe thấy Lyman nói.
Và sau đó hai người cùng đi ra ngòai. Tôi không nhìn thấy lại họ trong tối hôm đó.
Không lâu sau, Willy Hammond đến. Trông sự thay đổi của cậu ta mới đáng buồn làm sao! Willy đi tới quầy bar và tôi nghe thấy cậu ta hỏi Matthew về thẩm phán Lyman. Câu trả lời của ông ta rất nhỏ nên tôi không nghe thấy.
Với một động tác hấp tập, vội vã, Willy với tay lên phía những bình rượu cổ ton để trên giá phía sau Matthew, người phục vụ quầy bar lập tức lấy xuống một bình rượu brandy. Cậu ta rót từ đó ra một chiếc ly to, đến nửa ly, rồi uống cạn một hơi, mà không pha thêm nước.
Sau đó, cậu ta hỏi thêm mấy câu nữa, mà tôi không nghe rõ, nhưng những biểu hiện cho thấy tâm lý cậu ta đang bị kích động mạnh mẽ. Để trả lời Willy, Matthew hướng mắt lên phía trên đầu, có lẽ ra hiệu về một căn phòng nào đó ở trong ngôi nhà. Rồi chàng trai đi theo hướng đó, qua phòng khách.
“Có chuyện gì với Willy Hammond tối nay thế?” một người hỏi người phục vụ quầy bar. “Cậu ấy đang vội vàng đi tìm ai thế?”
“Cậu ấy tìm gặp thẩm phán Lyman” Matthew trả lời.
“Ồ!”
“Tôi đóan họ đang có chuyện bất hòa” người đó nhận xét.
“Rất tiếc là tôi không rõ”.
Lúc đó có hai người thanh niên, ăn mặc lịch sự, mặt mũi trông sáng sủa, bước vào, đứng uống rượu ở quầy bar và chuyện trò thân mật một lát với người phục vụ quây, rồi lặng lẽ biến mất qua lối cửa dẫn sang phòng khách. Tôi bắt gặp lại ánh mắt của người đàn ông đã nói chuyện với tôi hồi chiều, và cái nháy mắt đầy ý nghĩa của ông ta nhắc tôi nhớ lại những ám chỉ về một trong những căn phòng trên gác là nơi tụ tập đánh bạc đêm đêm, và một số thanh niên đầy triển vọng của thị trấn đã bị lôi cuốn, qua quầy bar, vào sự sa ngã. Một cảm giác rùng mình lan khắp những dây thần kinh trên người tôi.
Những cuộc trò chuyện được tiếp tục, với những lời lẽ thô bỉ, tục tĩu, khiến tôi cảm thấy ghê tởm và bỏ đi ra ngòai. Trời đêm quang đãng, không khí dịu nhẹ, và ánh trăng đang trải khắp nơi. Tôi bước đi ngoài hiên nhà, trầm ngâm suy nghĩ về những gì vừa được nghe và được thấy, trong khi những khách hàng vẫn tiếp tục kéo đến quầy bar. Chỉ có một vài người ở lại. Phần lớn những người khác chỉ ghé vào, uống một ly rượu, rồi đ ira, như để tránh phải tiếp xúc lâu với không khí trong phòng.
Chẳng bao lâu sau khi đi ra ngòai hiên, tôi nhận ra một người phụ nữ đứng tuổi đang chầm chậm đi tới, khi đi qua quán trọ, bà ta dừng lại và nhìn qua cửa vào trong phòng bar. Tuy nhiên, thời gian dừng lại chỉ một thóang. Chưa đầy mười phút sau, bà ta trở lại, và lần này đứng nhìn lâu hơn, rồi chầm chậm vừa đi tiếp vừa ngoái lại nhìn vào trong phòng cho đến lúc không còn nhìn thấy nữa mới thôi. Tôi đang ngẫm nghĩ về người phụ nữ này, thì bất chợt ngước mắt nhìn lên và nhận ra bà ta đang đi cách đó chỉ vài bước. Tôi súyt giật mình khi nhận thấy, không còn nghi ngờ gì nữa, đó là một người phụ nữ có trái tim đau khổ đang đi tìm đứa con của mình bị sa vào con đường lầm lạc. Khi nhìn thấy tôi, bà ta đi tiếp, nhưng có vẻ miễn cưỡng. Đi được một đọan ngắn, bà ta quay lại lần nữa, và lần này, người phụ nữ đó tiến đến gần ngôi nhà hơn để quan sát được rõ hơn mọi thứ trong phòng bar. Điều đó khiến bà ta có vẻ thỏa mãn. Rồi bà ta trỏ lui với những bước đi nhanh hơn, và không còn thấy xuất hiện trở lại tối hôm đó.
Ôi! Đó chính là một lời tố cáo đầy sức thuyết phục đối với sự cám dỗ của một quán trọ! Tim tôi chợt nhói lên khi nghĩ vê những bà mẹ còn chưa được biết tới đã và đang phải mang cùng nỗi đau như vậy. Vào đêm hôm đó, tôi không thể xua đi được hình ảnh về người phụ nữ buồn rầu trên lúc đã nằm xuống gối, thậm chí hình dáng của bà ta ám ảnh tôi ngay cả trong giấc mơ.
0
Đêm thứ sáu – Thêm những hệ quả khác
Đến tận gần mười giờ sáng hôm sau người chủ quán mới lại thấy xuất hiện, và khi ấy trông ông ta giống như một người đàn ông vừa qua một cơn trụy lạc. Hơn mười một giờ mới thấy Harvey Green đi xuống. Ở hắn không có một dấu hiệu nào thể hiện, dù là nhỏ nhất, sự khác thường trong sinh họag. Râu mới được cạo nhẵn nhụi, và khuôn mặt hắn – mà mọi đường nét đều đã trơn tru, điềm tĩnh – trông như vừa trải qua một giấc ngủ ngon với một lương tâm trong sạch, và giờ đây hắn đang đón chào một ngày mới với một tâm hồn thanh thản.
Việc làm đầu tiên của Slade là đi đến sau quầy bar và uống một ly brandy loại nặng độ pha với nước, còn việc đầu tiên của Green là gọi một suất xúc xích và cà phê cho bữa sáng của ông ta. Tôi để ý đến cuộc gặp mặt giữa hai người đàn ông khi Green xuất hiện. Có một chút dè dặt bên phía Green, và sự lúng túng khó chịu về phía Slade. Không hề có lấy một bóng dáng nào của nụ cười trên cả hai khuôn mặt. Họ nói vài lời với nhau, và rồi tách ra mỗi người một nơi như có một lực đẩy từ cả hai phía. Trong suốt ngày hôm đó, tôi không còn thấy họ nói chuyện với nhau.
“Đang có chuyện trục trặc ở cối xay” một người đàn ông lịch thiệp mà tôi có việc cần giao dịch vào buổi chiều hôm đó nhận xét. Ông ta đang nói chuyện với một người đàn ông khác đang cùng ở trong văn phòng.
“Thế à? Có chuyện gì vậy?” người đàn ông kia hỏi.
“Mọi người đều đã bị nghỉ việc trưa nay, và cối xay đã đóng cửa”.
“Vì sao vậy?”
“Họ đã bị thua lỗ ngay từ đầu”.
“Họ bỏ bê việc làm ăn, có thể nói như vậy”.
“Có cả nguyên nhân do bỏ bê công việc, không còn nghi ngờ gì nữa”.
“Về phía Willy à?”
“Đúng. Người ta nói rằng cậu ấy đã hoang phí tiền bạc được giao vào tay, sau khi đã chơi bời mà không biết hổ thẹn”.
“Sự thiệt hại có lớn không?”
“Mọi người cho là lớn”.
“Bao nhiêu?”
“Đến ba mươi hoặc bốn mươi nghìn dollar. Nhưng đó là tin đồn, và dĩ nhiên, có sự phóng đại”.
“Tất nhiên. Chắc là không thiệt hại nhiều đến thế. Nhưng số tiền đó đã bị tiêu vào việc gì? Cậu ấy đã rất chơi bời, mua những con ngựa tốt, rượu chè sa đà, và những việc tương tự, nhưng những việc đó không thể tốn đến ba mươi hoặc bốn mươi nghìn dollar được”.
Vào lúc đó một con ngựa nhanh nhẹn phi nước kiệu kéo theo một cỗ xe trang nhã, trên xe có một người đàn ông, đi qua.
“Đó là một con ngựa có giá ba trăm dollar của cậu Hammond” ông ta nói.
“Hôm qua nó là của Willy Hammond. Nhưng nay thì đã có sự thay đổi quyền sở hừu, tôi đã tình cờ biết điều đó”.
“Thật vậy à?”
“Đúng thế! Người đàn ông tên là Green, người đã lai vãng ở Cedarville trong vài năm qua – sau những chuyện chẳng hay ho gì, tôi tin chắc vậy – hôm nay đã được sở hừu nó”.
“Chà! Ý thích của Willy thật là hay thay đổi. Vừa mới có được thứ mà cậu ta muốn, lại đã chán ngay sao?”
“Có vấn đề gì đó chưa được biết về vụ chuỷên nhượng này. Tôi đã nhìn thấy ông Hammond trước buổi trưa nay và ông ta trông rất thiểu não”.
“Tình trạng đáng lo ngại của cối xay hẳn đã góp phần vào đó”.
“Đúng vậy, nhưng tôi cho rằng còn có những lý do khác ngòai các lo ngại đó”.
“Đó là thói ăn chơi phóng túng, hoang phí của con trai ông ấy” ông ta nhận xét. “Điều đó cũng đủ làm cho người cha phải lo nghĩ”.
“Nói thẳng ra”, người còn lại nói “tôi e rằng anh chàng này đã có thêm một sự sa ngã nữa, cùng với thói rượu chè, và sự lười nhác”.
“Điều gì vậy?”
“Đánh bạc”.
“Không thể như vậy được!”
“Tôi không mấy nghi ngờ về điều đó. Và hơn nữa, theo tôi, con ngựa đẹp đó, mà cậu ta đã bỏ ra ba trăm dollar để mua chỉ cách đây mấy ngày, đã bị chuỷên sang tay gã Green trong xới bạc để trả nợ”.
“Nghe ông nói mà tôi cảm thấy sốc, thật không thể tin được!”
“Tiếc rằng tôi có những bằng chứng đáng tin cậy về những gì vừa nói. Gã Green đó là một kẻ cờ bạc chuyên nghiệp, người đã đến đây vì sự hấp dẫn của những khách hàng béo bở tụ tập tại quán “Lưỡi liềm và bó lúa” ngay từ khi người chủ cối xay lười biếng đó mới bắt đầu công việc gây thêm nghèo túng của ông ta, tôi không hề nghi ngờ điều đó. Điều này, cùng với việc cậu Hammond vẫn thường xuyên giao du với gã, ta cũng có đủ lý do để suy ra những ảnh hưởng rất tai hại”.
“Nếu như vậy” người đàn ông đang lắng nghe với khuôn mặt lo âu nói “thì Willy Hammond chắc hẳn không phải là nạn nhân duy nhất của gã”.
“Không, ông có thể tin như vậy. Nếu những tin đồn là chính xác, thì có bốn thanh niên nữa cũng đang sắp bị cuốn vào vòng xoáy sa ngã đó”.
Để xác nhận điều đó, tôi kể lại cuộc nói chuyện của mình với một trong những người khách thường xuyên đến phòng bar của Slade về đề tài này, và cả những gì mà tôi đã tận mắt chứng kiến trong tối qua.
Người đàn ông, mà đến lúc đó vẫn ngồi yên trong chiếc ghế, bỗng giật mình kêu lên, cứ như chính ông ta đang được nhìn thấy điều đó.
“Lạy Chúa nhân từ! Tôi chưa bao giờ hình dung ra như vậy! Còn con cái nhà nào được an tòan nữa?”
“Nó không chừa ai cả” người đàn ông lịch thiệp, và là chủ nhân văn phòng nơi chúng tôi đang ngồi, trả lời . “Nó không chừa ai cả, khi những cánh cửa dẫn đến sự sa ngã, giống như ta thấy ở quán trọ “Lưỡi liềm và bó lúa” , còn được mở ra. Không phải ông đã bỏ phiếu cho quan điểm chống lại việc hạn chế rượu trong cuộc bầu cử trước sao?”
“Tôi đã làm điều đó” ông ta trả lời “và theo nguyên tắc”.
“Những nguyên tắc của ông dựa vào đâu?” người kia hỏi.
“Dựa trên nền tảng chung của quyền tự do công dân”.
“Quyền tự do làm mọi việc, dù tốt hay xấu, chỉ theo lựa chọn của mỗi người”.
“Tôi không có ý nói vậy. Không có thể chế dân sự nào ở đất nước này có quyền nói rằng một công dân được ăn hay uống những gì”.
“Nhưng không phải mọi người, trong bất kỳ cộng đồng nào, cũng nhất trí với những luật lệ, được thông qua bởi các đại diện lập pháp của họ, nhằm hạn chế những người có y đồ xấu định xâm phạm những lợi ích chung cơ mà?”
“Ồ, đúng vậy”.
“Và ông có định cho rằng một qúan bán rượu – nơi mà nhiều thanh niên đang bị sa ngã, bị hủy hoại cả về thể chất và tinh thần – là nơi không làm điều gì ảnh hưởng đến những lợi ích chung không?”
“Nhưng phải có những nơi vui chơi giải trí cho mọi người chứ?”
“Không ai phủ nhận điều đó. Nhưng liệu những người theo đạo Thiên Chúa có thể đưa ra những điều mất phẩm cách về đạo đức để phục vụ nhu cầu giải trí không? Có cần thiết phải cung cấp chỗ ăn nghỉ và sự giải trí cho những khách qua đường, cùng với việc đưa họ vào con đường bị cám dỗ không?”
“Đúng, nhưng …sẽ là đi quá xa để đưa vào luật về những gì mà chúng ta ăn uống. Điều đó sẽ mở rộng lối cho những sự hạn chế có tinh chất cực đoan. Chúng ta cần phải nhớ hạn chế rượu là một nguyên tắc thuộc về phạm trù đạo đức. Chúng ta cần dạy dỗ con em chúng ta rằng rượu chè là thói xấu, và cho chúng tiếp xúc với cuộc sống, như những người thầy thực tế về những lề lối, phẩm cách, và biết xa lánh rượu. Nếu chúng ta làm như vậy, sự thay đổi sẽ diễn ra nhanh chóng, và trong vài năm sẽ không còn những phòng bar, vì không còn người nào thèm muốn thứ đồ uống độc hại ấy nữa!”
“Phương châm của ông, thưa ông bạn, sẽ không có mấy giá trị trong quá nhiều trường hợp, nếu sự cám dỗ luôn mời mọc con em chúng ta hầu như trong mỗi bước đi của cuộc đời. Hàng nghìn người đã sa chân, và hàng nghìn người giờ đây đang sắp sa vào đó. Con ông và con tôi đều không được bảo đảm an tòan. Chúng ta không thể biết được ngày nào hoặc giờ nào chúng có thể nhượng bộ và đầu hàng trước sự lôi kéo, và bước chân vào con đường sa ngã rộng mở. Và liệu chúng ta có đủ khôn ngoan khi ủy thác cho một số người làm cái công việc xấu xa là khuyến khích người ta kiếm lợi từ việc làm sa ngã và hủy hoại con em chúng ta hay không? Sự lưỡng lự trước một số ý kiến mơ hô về quyên tự do trong lúc mối nguy đang lơ lửng trên đầu chúng ta đang giết chết những người thân yêu và đẹp đẽ nhất của chúng ta, thưa ông! Trong lúc ta trì hõan công việc ngăn lại cơn lũ đang tàn phá những gia đình đẹp đẽ nhất của chúng ta, thì làn nước đen đang đến gân chính cổng nhà ta”.
Có một vẻ nhấn mạnh đáng chú ý được thốt ra trong câu nói cuối cùng của người đàn ông, và tôi không ngạc nhiên trước vẻ mặt lo âu, kích động của ông ta.’
“Ngài muốn nói điều gì vậy?” người đàn ông kia hỏi.
“Đơn giản là con của ông cũng đang bị nguy hiểm như con của người khác”.
“Và chỉ vậy thôi sao?”
“Người ta đã thấy chúng, tầm về khuya, trong quán “Lưỡi liềm và bó lúa”.”
“Ai nói vậy?”
“Tôi đã thấy chúng đến đó hai lần trong tuần qua”, người đàn ông đáp.
“Lạy Chúa, không!”
“Đó là sự thật, ông bạn ạ! Còn ai được an tòan nữa? nếu chúng ta che giấu nó đi, hậu quả sẽ đến đâu nếu con của chính chúng ta sẽ sa ngã vào đó?”
“Con tôi đến quán trọ ư?” người đàn ông thốt lên, vẻ bực dọc “Làm sao tôi có thể tin được? ngài có nhầm không?”
“Không. Những gì tôi kể với ông là xác thực. Và nếu chúng đi đến đó thì…”
Người đàn ông dừng lại không nói hết câu, nhưng sau đó ông ta bỗng trở nên sổi nổi.
“Chúng ta đang bắt đầu gặt hái những gì mà mình đã gieo trồng” ông ta nói và quay sang phía tôi trong khi người bạn của ông ta đã bối rối rời văn phòng. “Như tôi đã cảnh báo với họ từ ban đầu, điều đó đang xảy ra. Việc thiếu một quán trọ tốt đã được nhắc đi nhắc lại như một trong những lý do chính của sự đơn điệu ở Cedarville, và khi Slade mở quán “Lưỡi liềm và bó lúa”, ông ta đã nhận được những lời tán dương. Người đàn ông vừa mới ra khỏi đây cũng từng không tiếc lời ca ngợi người chủ quán là dám nghĩ dám lạm nhất là khi việc xây lên quán trọ mới đó đã làm cho giá đất quanh khu phố tăng lên, và tài sản của ông ta đã tăng lên vài trăm dollar. Quả thật, có lúc một số người đã nghĩ rằng Simon Slade sẽ mang lại sự thịnh vượng cho mọi người ở Cedarville. Nhưng mọi lợi lộc chỉ là sự tăng giá bất động sản chút ít, một hạt cát đối với cả quả núi, nếu so sánh với những băng hoại về đạo đức sau đó”.
Tôi đồng ý với quan điểm đó, vì chính tôi cũng đã được chứng kiến quá đủ để có cùng một kết luận.
Tối hôm ấy khi đang ngồi trong phòng bar của quán, ngay khi đèn vừa được thắp lên, tôi nhận ra người đàn ông có con được cho là đã đến quán bar này, người đã tham gia cuộc đối thọai trê, lặng lẽ bước vào và lo lắng nhìn quanh phòng. Ông ta không nói gì với ai, và sau khi yên tâm rằng người mà ông ta tìm không có ở đây, ông ta đi ra.
“Điều gì khiến ông ta đến đây, lạ nhỉ?” Slade lẩm bẩm, nửa nói với mình, nửa nói với Matthew, người phục vụ quầy bar.
“Tôi cho rằng ông ta tìm mấy cậu con trai” người phục vụ quầy bar trả lời.
“Tôi nghĩ, mấy cậu đó đã đủ lớn để biết tự bảo vệ bản thân”.
“Hẳn vậy” Matthew trả lời.
“Tối nay họ đã đến đây chưa?”
“Chưa”.
Trong lúc họ nói chuyện với nhau, hai thanh niên mà tôi đã thấy đêm hôm trước và đã được đón tiếp với những dấu hiệu và sự coi trọng đặc biệt hơn những người khách khác, bước vào.
“John” tôi nghe thấy Slade nói nhỏ với một trong hai người. “Ông già cậu va ở đây ra”.
“Không!” cậu thanh niên nhìn có vẻ giật mình, lúng túng.
“Đó là sự thật. Bởi vậy, cậu nên tránh đi”.
“Ông ấy muốn gì?”
“Tôi không biết”.
“Ông ấy đã nói gì?”
“Không nói gì cả. Ông ấy chỉ bước vào, nhìn quanh rồi đi ra”.
“Mặt ông ấy tối sầm, như đám mây trong cơn dông vậy” Matthew nhận xét.
“Phòng số bốn có còn trống không?”
“Còn”.
“Đem lên cho chúng tôi một chai rượu và mấy điếu cigar. Khi Bill Harding và Harry Lee đến, hãy bảo họ tìm chúng tôi ở đấy”.
“Được rồi” Matthew nói. “Và giờ hãy làm theo lời khuyên và tránh đi”.
Hai thanh niên vội vã rời phòng. Họ vừa đi khỏi, tôi thấy người đàn ông lúc nãy lại bước vào với bộ mặt lo lắng, khiến mọi người trong phòng đều chú ý. Ông ta đang đi tìm con. Một lần nữa, ông ta lại lo âu nhìn khắp phòng, và tỏ ra thất vọng. Lúc ông ta bước vào, Slade đã đi ra.
“Tối nay John và Wilson có đến đây không?” ông ta đi tới quầy bar và hỏi Matthew.
“Họ không có ở đây” Matthew trả lời lảnh tránh.
“Nhưng chúng đã có ghé đây không?”
“Họ có thể đã đến đây, tôi mới chỉ có mặt sau bữa ăn tối cách đây một lát”.
“Tôi cho rằng mình đã nhìn thấy chúng vào đây chỉ một vài giây trước”.
“Họ không có ở đây, thưa ngài.” Matthew lắc đầu và nói vẻ kiên quyết.
“Ông Slade đâu?”
“Ở đâu đó trong nhà”.
“Tôi muốn mời ông ấy đến đây”.
Matthew đi ra, nhưng sau đó quay lại ngay và thông báo rằng không tìm được người chủ quán ở đâu.
“Ông đảm bảo mấy đứa thanh niên đó không ở đây chứ?”
“Ông cũng thấy đó, thưa ông Harrison!”
“Hay là chúng đang ở trong phòng khách?”
“Sang đó thử xem, thưa ngài”. Matthew lạnh lùng đáp.
Người đàn ông đi qua cửa dẫn sang phòng khách, nhưng liền quay lại ngay.
“Không có ở đấy à?” Matthew hỏi. Người đàn ông lắc đầu. “Tôi không nghĩ rằng ông sẽ tim được họ ở đây” người phục vụ quầy bar nói tiếp.
Ông Harrison – như Matthew đã gọi ông ta – đứng đó suy nghĩ bối rối trong mấy phút. Ông ta không thể nhầm rằng đã thấy mấy đứa con mình đi vào quán, nhưng giờ lại không thấy chúng ở đây . Ông cảm thấy rất lúng túng. Hồi lâu sau ông ngồi xuống một chiếc ghế ở một góc xa khuất của phòng bar, rõ ràng là có ý chờ để gặp được hai đứa con mà ông ta đang tìm nếu như chúng bước vào. Ông ta ngồi đó chưa lâu, thì có thêm hai thanh niên đi vào, sự xuất hiện của họ đã lập tức thu hút được sự chú ý của ông ta. Hai thanh niên đi đến quầy bar để gọi rượu. Trong lúc Matthew đặt chiếc bình rượu cổ thon trước mặt họ, người phục vụ quầy bar cúi người qua mặt quây và nói thầm câu gì đó.
“Ở đâu?” một câu hỏi được thốt lên với vẻ ngạc nhiên, và cả hai người thanh niên liếc nhìn quanh phòng lo lắng. Hai thanh niên bắt gặp ánh mắt của ông Harrison đang chăm chú nhìn họ. Nhìn cung cách uống rượu của hai thanh niên, tôi thấy họ có vẻ không được thoải mái.
“Con người nhiễu sự ấy làm gì ở đây thế?” tôi nghe một trong hai người thì thào.
“Ông ta đi theo mấy cậu con trai, dĩ nhiên rồi”.
“Họ đã đến chưa?”
“Đều an tòan cả.” Matthew nháy mắt trả lời.
“Trong phòng số 4 chứ?”
“Ừ, cả rượu và cigar, tất cả đang chờ các cậu”.
“Tốt”.
“Tốt hơn là các cậu không nên đi qua phòng bar. Ông già của các cậu ấy đang bực bội. Ông ấy có phần nghi ngờ rằng họ đang ở trong nhà này. Tốt hơn là hãy đi ra phố, rồi quay lại và đi vào qua lối hành lang”.
Hai thanh niên làm theo lời khuyên đó và lập tức đi ra, ánh mắt của Harrison nhìn theo họ đi ra ngoài.
Trong gần nửa giờ, ông Harrison ngồi yên ở vị trí đó để quan sát được gần gì diễn ra xung quanh. Tôi sẽ rất sai lầm nếu không nhận thấy rằng, trước lúc rời cái vũng lầy của sự sa ngã này, ông ta đã hoàn toàn không thỏa mãn với những gì mà luật pháp đã làm đối với vấn đề hạn chế rượu. Thậm chí, tôi cho rằng, nếu ông ta có quyền trong tay trong vòng một giờ trên khắp cả tiểu bang sẽ không còn một cửa hàng nào được phép tiếp tục bán rượu nữa. Cú “gậy ông đập lưng ông” vừa diễn ra đã khiến ông ta được mở mắt trước thực chất của vấn đề .trong lúc ông ta còn đang có mặt ở phòng bar thì anh chàng Hammond xuất hiện. Ánh mắt của cậu ta có vẻ giận dữ và kích động. Đầu tiên, cậu ta gọi rượu brandy, và uống ừng ực như một người đã bị khát trong một thời gian dài.
“Green ở đâu?” tôi nghe cậu ta hỏi trong lúc để ly lên mặt quầy.
“Không thấy ông ấy xuất hiện từ sau bữa tối” Matthew trả lời.
“Ông ấy ở trong phòngriêng à?”
“Có thể lắm”.
“Thẩm phán Lyman đã đến đây tối nay chưa?”
“Rồi. Ông ấy phát biểu ở đây trong nửa giờ phản đối đảng có quan niệm hạn chế rượu, như thường lệ, và sau đó” Matthew hất đầu về phía cửa dẫn sang phòng khách.
Hammond đi về phía cửa đó, lúc đó, nhìn quanh phòng, cậu ta bắt gặp cái nhìn chăm chú của ông Harrison – cái nhìn lập tức khiến cho cậu ta phải dừng bước. Quay lại quầy bar, và cúi đầu qua mặt quầy, cậu ta hỏi Matthew:
“Vì sao ông ta đến đây?”
Matthew nháy mắt đầy ý nghĩa.
“Để tim mấy đứa con trai à?”
“Đúng vậy”.
“Họ đang ở đâu?”
“Trên gác”.
“Ông ta có nghi ngờ điều đó không?”
“Tôi không thể biết được. Nếu không nghĩ rằng họ giờ đang ở đây, thì ông ta đang chờ họ đến”.
“Họ có biết rằng ông ta đang tìm họ không?”
“Ồ có chứ”.
“Tất cả đều an tòan chứ?”
“Như ở trong két sắt vậy. Nếu cậu muốn gặp họ, hãy gõ cửa phòng số 4”.
Hammond đứng yên dựa người vào quầy trong vài phút rồi, không nhìn lại về phía ông Harrison đang ngồi, cậu ta đi qua cửa dẫn ra phố. Liền sau đó, ông Harrison ra về.
Cũng như đêm hôm trước, cảm thấy ghê tởm với những lời lẽ rẻ tiền, ô uế và tục tĩu không ngừng được tuôn ra, tôi rời chỗ đang ngồi trong phòng bar để ra ngòai trời cho thoáng. Bầu trời không có một gợn mây và vầng trăng gần như đã tròn đầy chiếu sáng khắp nơi bằng thứ ánh sáng rực rỡ hơn ngày thường. Tôi ngồi chưa lâu ở ngoài hiên nhà, thì cũng người đàn bà ấy, người đã có những việc làm khiến tôi chú ý hôm trước, lại xuất hiện và đi chầm chậm, lần từng bước, rõ ràng là để quan sát được rõ hơn. Lúc đến đối diện với ngôi nhà, bà ta dừng lại trong chốc lá, giống như tối hôm trước, rồi vừa tiếp tục nhìn vào quán vừa đi tiếp dọc theo phố cho đến khi khuất tầm mắt.
“Một người mẹ đáng thương!” tôi lại nhủ thầm khi nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ đó một lần nữa. Bà ta chậm rãi đi tới, và giờ đã tới gần ngôi nhà. Sự tò mò kích thích mạnh tâm trí tôi, khiến tôi không thể kìm nổi ý muốn được nói chuyện với bà, và thế là tôi từ trong mái hiên bước ra. Người đàn bà có vẻ giật mình và lùi lại mấy bước.
“Bà đang tìm ai?” tôi hỏi một cách lịch sự.
Người đàn bà đang đứng trong tư thế được ánh trăng chiếu sáng cả khuôn mặt, cho thấy rõ mọi nét mặt. Bà ta đã qua cái thời xuân sắc từ lâu, và trên khuôn mặt của bà có những đường nét từng trải và đau khổ. Tôi thấy cặp môi bà mấp máy, nhưng phải một lát sau tôi mới nghe được lời nói.
“Ông có nhìn thấy con trai tôi tối nay không? Người ta bảo rằng nó đến đây”.
Tâm trạng của bà ta, được thể hiện trong giọng nói, đã khiến tôi thấy ớn lạnh khắp người. Tôi hiểu rằng đầu óc của người phụ nữ này đã trở nên lẩn thẩn. Tôi trả lời.
“Không, thưa bà. Tôi không thấy cậu ta”.
Giọng tôi có vẻ đáng tin cậy đối với bà ta vì bà ta tiến đến gần, và cúi nghiêng mặt về phía tôi.
“Một nơi thật đáng sợ!” bà ta thì thào, giọng khàn khàn. “và người ta bảo rằng nó đến đây. Thằng bé tội nghiệp! Nó thật là khác trước”.
“Đúng là một nơi tồi tệ” tôi nói. “Hãy đi đi” – và tôi bước về phía bà ta – “đi đi, tốt hơn là bà hãy tránh xa nó càng nhanh càng tốt”.
“Thế nhưng nếu nó có ở đây” bà ta trả lời, không nhúc nhích “tôi có thể cứu được nó, ông biết mà”.
“Tôi tin chắc bà sẽ không tìm được cậu ấy đâu, thưa bà” tôi thúc giục. “Có lẽ cậu ấy đang ở nhà rồi”.
“Ồ không, không!” và bà ta buồn bã lắc đầu. “Nó không bao giờ về nhà sau quá nửa đêm. Tôi ước gì có thể nhìn thấy được bên trong phòng bar. Tôi tin rằng nó đang ở đó”.
“Nếu bà cho tôi biết tên, tôi sẽ đi vào và tìm cậu ấy”.
Sau giây lát lưỡng lự, bà ta trả lời:
“Tên nó là Willy Hammond”.
Cái tên được thốt ra từ môi của người mẹ, với giọng buồn bã và âu yếm đến cảm động, đã khiến tôi giật thót người, gần như run lên.
“Nếu cậu ấy có mặt ở trong nhà, thưa bà” tôi nói một cách chắc chắn “tôi sẽ gặp cậu ấy giúp bà”. Rồi tôi rời người phụ nữ và đi vào phòng bar.
“Ông cho biết tôi có thể tìm gặp được cậu Hammond ở phòng nào?” Tôi hỏi người phục vụ quầy bar. Ông ta nhìn tôi tò mò, nhưng không trả lời. Câu hỏi được đưa ra khá bất ngờ cho ông ta.
“Trong phòng của Harvey Green à?” tôi hỏi tiếp.
“Tôi không rõ. Theo tôi biết, cậu ấy không ở trong nhà. Tôi thấy cậu ấy đi ra ngòai cách đây khoảng nửa giờ”.
“Phòng của Green số mấy?”
“Số 11” ông ta trả lời.
“Ở mặt trước ngôi nhà phải không?”
“Đúng thế!”
Tôi không hỏi thêm, mà đi đến phòng số 11, và gõ cửa. Nhưng không thấy ai trả lời. Tôi lắng nghe, nhưng không thể nhận thấy có tiếng động nào, dù là nhỏ nhất, ở bên trong. Tôi lại gõ cửa to hơn. Nếu tai tôi không nhầm, thì đã có tiếng tiền kim lọai rơi loảng xoảng. Vẫn không thấy có tiếng nói hay hành động nào đáp lại.
Tôi thất vọng. Căn phòng có người đang ở bên trong, tôi tin vậy. Chợt nhớ đến lời kể về những tia sáng được nhìn thấy qua rèm cửa của phòng này, tôi xuống dưới nhà và đi ra ngoài phố. Ngay phía trước nhà, tôi nhìn thấy cái bóng vật vờ của người đàn bà. Bà ta vẫn quanh quẩn trước nhà, và lại vừa mới đi qua lần nữa. Ngước nhìn lên ô cửa phòng, mà giờ tôi biết là của Green, thì thấy rõ ràng có ánh sáng đang chiếu qua tấm rèm bị rách. Quay vào trong nhà, tôi đi lên phòng số 11. Lần này tôi gõ cửa rất kiên quyết và đã nghe có tiếng người nói.
“Muốn gì thế?” câu nói từ bên trong phát ra. Tôi biết đó là giọng của Harvey Green.
Tôi càng gõ cửa mạnh hơn. Nghe có những tiếng động vội vã cùng những tiếng nói rì rầm trong giây lát, rồi cửa phòng hé mở ra và được giữ chặt bởi Green, thân hình ông ta lấp kín khe cửa đang mở, khiến tôi không thể nhìn được vào trong phòng. Nhìn thấy tôi, mặt hắn cau có tối sầm lại.
“Ông muốn gì?” hắn hỏi giọng gay gắt.
“Hammond có ở đây không? Nếu có, cậu ấy có người đợi dưới nhà”.
“Không, cậu ấy không có ở đây” hắn trả lời ngay. “Vì sao ông đi tìm cậu ấy ở đây, hả?”
“Từ thực tế, tôi cho rằng sẽ tìm thấy cậu ấy trong phòng ông “ tôi cứng giọng trả lời.
Green sắp sập cửa lại trước mặt tôi, thì có một người nào đó đặt bàn tay lên vai hắn và nói với hắn điều gì đó mà tôi nghe không rõ.
“Ai muốn gặp cậu ấy?” hắn hỏi tôi.
Mừng rơn, vì chắc hẳn Hammond đang ở trong phòng, tôi nói to hơn:
“Mẹ cậu ấy”.
Những lời nói đó như một câu “Vừng ơi mở ra” cho căn phòng. Cánh cửa đột nhiên bị đẩy bật mở, và với khuôn mặt tái nhợt, người thanh niên đã đối diện với tôi.
“Ai nói rằng mẹ tôi đang ở dưới nhà?” cậu ta hỏi.
“Tôi từ chỗ bà ấy đến đây để tìm cậu” tôi nói. “Cậu sẽ thấy bà ấy ở ngoài đường, đang đi lại trước quán trọ”.
Gần như bằng một cú nhảy, cậu ta lao qua tôi và băng xuống cầu thang chỉ với mấy sải chân. Lúc cánh cửa còn mở, tôi nhìn thấy nogài Green và Hammond, còn có người chủ quán và thẩm phán Lyman. Không cần kể đến lá bài còn lộn xộn trên mặt bàn ngay cạnh, cảnh tụ tập của những con người này cũng đã cho tôi biết họ đang làm gì trong căn phòng đó.
Để nhanh chóng thoát khỏi tình huống khó xử, tôi đi theo Hammond. Tôi gặp Hammond ở ngoài hiên, kh cậu ta từ ngoài đường vào nhà.
“Ngài đã lừa tôi” cậu ta nói một cách lạnh lùng vẻ đe dọa.
“Không” tôi trả lời. “Những điều tôi đã nói với cậu là rất thực. Nhìn xem! Bà ấy kia rồi”.
Chàng thanh niên nhảy tới, và dừng trước mặt người phụ nữ, chỉ cách mấy bước.
“Mẹ! Ôi mẹ! Sao mẹ lại đến đây?” Hammond kêu lên, hạ thấp giọng, trong khi nắm lấy cánh tay bà, rồi đứng cách xa ra. Cậu ta nói – không thô bạo, cũng không tức giận – mà với vẻ kính trọng xen lẫn nửa trách móc – và với vẻ âu yếm thể hiện rõ.
“Ồ Willy! Willy!” tôi nghe người đàn bà trả lời. “Có nó nns rằng con đến đây ban đêm, và mẹ không thể yên lòng. Ôi, họ giết con mất! Mẹ biết họ sẽ làm vậy. Đừng! Ôi…”
Tôi không nghe được gì thêm, mặc dù giọng nói van nài của bà vẫn vọng đến tai tôi. Vài giây lát sau họ đã đi khuất.
Gần hai giờ sau, khi tôi đang đi lên phòng mình, thì gặp một người đàn ông đi lướt qua bên cạnh. Tôi nhìn theo anh ta, và nhận ra người đó là chàng trai Hammon. Cậu ta đang đi đến phòng của Harvey Green.

0
Đêm thứ bảy – Gieo gió
Tính chất của vấn đề ở Cedarville, rõ ràng, theo cái nhìn có phần phiến diện của tôi, là khá nghiêm trọng. Nghiêm trọng, là tôi muốn nói đến những gì đang diễn ra mà tôi quan sát được. Một cái ung nhọt tàn phá trong cộng đồng, quá trình hủy hoại của nó được thấy cho đến nay và những thiệt hại đã đầy nước mắt. Thế nhưng những tác động sâu xa về nhiều mặt còn chưa được nhìn thấy là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Những gì xuất hiện trên bề nổi vẫn chưa thể so sánh được với những điều nguy hiểm hơn còn tiềm ẩn phía sau của vấn đề.
Tôi không thể không quan tâm đến một số người có liên quan. Chàng trai Hammond là đối tượng đầu tiên đã khiến tôi thấy lo ngại, và nay lại thêm sự xuất hiện không mong đợi của người mẹ cậu ta trong điều kiện khá rắc rổi. Biết người đàn ông chủ nhân văn phòng nơi tôi đã gặp ông Harrison hôm trước – hẳn bạn đọc vẫn nhớ ông ta đã đến quán rtrọ để tìm con trai – là người thông thạo tình hình trong làng, tôi đến gặp ông ta từ sáng sớm để tìm hiểu thêm về bà Hammond. Đáp lại câu hỏi đầu tiên mà tôi đưa ra, là ông ta có biết người đàn bà đó không, ông ta trả lời:
“Ồ, có chứ. Bà ấy là một trong những người bạn từ nhỏ của tôi”.
Khi nhắc đến người phụ nữ đó, ông ta dường như không được thoải mái cho lắm. Một thoáng bóng tối mơ hồ lướt qua khuôn mặt ông ta. Và tôi nhận thấy ông ta bất giác thở dài.
“Willy có phải là đứa con duy nhất của bà ấy không?”
“Là đứa con còn sống duy nhất của bà ấy. Bà ấy có bốn đứa con, một con trai và hai người con gái nữa, nhưng chúng đều đã bị qua đời khi còn khá nhỏ, trừ Willy. Và…” ông ta dừng lại một chút, rồi nói tiếp “Sẽ là tốt hơn cho bà ấy, và cho cả Willy nữa, nếu cậu ấy đã đi cùng với chúng sang thế giới khác tốt đẹp hơn”.
“Lối sống của cậu ấy chắc hẳn đã gây nhiều đau khổ cho bà ấy” tôi nói.
“Đó là nguyên nhân đã hủy hoại tinh thần bà ấy “, ông ta trả lời. “Không có người mẹ nào lại yêu con mình bằng tình yêu quên mình hơn bà Hammond yêu thằng bé xinh xắn, thông minh, tâm hồn thanh cao và tốt bụng của bà ấy. Nói rằng bà ấy tự hào vê cậu ta vẫn là chưa đủ. Một tình yêu mãnh liệt – gần như là tôn thờ - là những tình cảm trong trái tim bà ấy dành cho cậu ta. Một tình yêu mềm yếu và cẩn trọng! Trừ lúc ở trường học, hiếm khi cậu ấy không có mẹ bên cạnh. Để giữ cậu ta luôn ở bên mình, bà ấy đã dành mọi suy nghĩ để tìm cách giữ cho cái đầu của Willy luôn bận rộn và thấy thú vị trong vòng tay mình, và bà ấy đã rất thành công. Đến tận khi đã lên mười sáu hoặc mười bảy tuổi rồi mà tôi vẫn không nghĩ rằng cậu ấy có mong muốn có thêm những mối quan hệ khác ngoài mẹ cậu. Thế nhưng điều đó, như ngài biết đấy, không thể duy trì được mãi. Những suy nghĩ của cậu bé đang trưởng thành cũng đã vượt ngoài ngôi nhà mình và các quan hệ trước đó. Cái thế giới bao la, mà cậu ta sắp bước vào, đã ở phía trước cậu, và những ô cửa sổ đã được mở ra đây đó, cậu đã biết đến những điều ở bên ngoài. Việc bước tới cái thế giới này, nơi cậu ta sẽ sớm trở thành một người tham gia bận rộn, và bước đi trên đôi chân mình, là điều sẽ đến theo tiến trình tự nhiên. Mẹ cậu ta run lên vì lo âu khi thấy đứa con đang rời xa mình. Có nhiều sự nguy hiểm sẽ chờ đón cậu ấy trên đường đi, bà biết rất rõ, và chúng càng được phóng đại lên thêm bởi những mối lo sợ của bà ấy – ít ra là tôi đã thường hay nói với bà ấy như thế. Lạy Chúa! Thực tế đáng buồn đã vượt quá cả những điều mà bà ấy lo sợ nhất.
khi Willy mười tám tuổi – khi ấy cậu ta đã đọc về luật – tôi nghĩ mình chưa bao giờ thấy chàng trai nào với những tương lai hứa hẹn hơn. Cũng như tôi thành phố thường nghe mọi người nói về Willy, ở cậu ấy không thấy được một lỗi lầm nào. Nhưng cậu ấy lại có một khuynh hướng đáng lo ngại – đó là khả năng nói chuyện hấp dẫn, kết hợp với một tác phong rất tao nhã. Những ai quen biết Willy đều bị hấp dẫn bởi lối giao tiếp của cậu ấy, và chẳng bao lâu, cậu ta đã trở thành tâm điểm của nhiều thanh niên ở xung quanh cậu, một số người trong số họ không phải là những bạn bè tốt. Tuy vậy, bản tính trong sáng và dòng dõi danh giá của Willy vẫn giữ cho cậu ấy được an toàn, và tôi vẫn không hề tuổi ncó bất cứ sự cám dỗ nào ngoài xã hội lại có thể lôi kéo được cậu ấy, nếu như cái quán trọ đáng nguyền rủa này không được Slade mở ra!”
“Đã có một quán trọ ở đây từ trước khi quán “Lưỡi liềm và bó lúa” được mở cơ mà?” tôi nói.
“Ồ, đúng vậy. Nhưng đó là một quán trọ tồi tàn, và những ai đến phòng bar ở đó chỉ là những người thuộc tầng lớp thấp kém nhất. Không có người đàn ông trẻ đáng kính nào ở Cedarville lại đến đó. Quán trọ đó không cám dỗ được những người mà Willy giao du. Thế nhưng sự khai trương quán “Lưỡi liềm và bó lúa” đã mở ra một thời kỳ mới. Thẩm phán Hammond – tiếc rằng ông ta cũng chẳng phải là người đàn ông đứng đắn nhấ6t thế giới – đã góp mặt ở đó, và gọi Simon Slade là một người đàn ông dám nghĩ dám làm và cần được khuyến khích. Thẩm phán Lyman và những người đàn ông có vai vế khác ở Cedarville cũng làm theo thẩm phán Hammond, và phòng bar của quán trọ này đã lập tức được đánh giá cao. Bất cứ thời gian nào vào ban ngày và buổi tối người ta cũng có thể thấy những thanh niên trẻ tuổi ghé vào, ngồi trước phòng bar, hoặc chuyện trò rất ăn ý với chủ quán, người – vốn từng là một thợ xay hữu ích, được coi là đáng trân trọng trong công việc đó – đã đột nhiên trở thành một nhân vật quan trọng, được người đáng kính nhất trong làng ca ngợi.
Ban đầu, Willy đi đến đó theo trào lưu chung, nhưng chỉ sau một thời gian rất ngắn, cậu ta đã trở nên ham thích rượu chè, khiến cho bạn bè cô jta thấy ngỡ ngàng và lo ngại. Với việc lui tới quán trọ của Slade, cậu ta đã đi vào con đường xuống dốc, và sa ngã rất nhanh kể từ đó. Thứ đồ uống độc hại đã đốt cháy đầu óc cậu ấy, đồng thời nó làm lu mờ những ý thức cao thượng ở cậu ta. Sau đó là thú vui hưởng lạc, và điều đó dẫn cậu ta đến những sự ham mê và cách thức tiêu khiển khác. Mọi người vốn quý cậu ta – Willy tính rất thoải mái, dễ gần và hào phóng – và nhiều người đã cổ vũ, chứ không can ngăn khuynh hướng đó của cậu ta. Thậm chí bố cậu ấy đã có thời gian coi nhẹ vấn đề, giống như chỉ là một sự bốc đồng thoáng qua của tuổi trẻ. “Tôi cũng đã bắt đầu chơi bời khi còn trẻ”, tôi từng nghe ông nói vậy. “Nó rồi sẽ chán, và mọi việc lại tốt đẹp thôi. Không có gì phải lo”. Nhưng mẹ cậu ta thì ngay từ đầu đã đau khổ vì lo âu. Bản năng đích thực cùng với tình yêu thương của người mẹ đã khiến bà ấy cảm nhận được một cách chính xác những nguy hiểm đang đến gần Willy, và bằng mọi khả năng có thể, người phụ nữ ấy đã tìm mọi cách để lôi kéo cậu ta ra khỏi con đường sa ngã mà cậu ta đang nhanh chóng di vào. Willy đã luôn rất gắn bó với mẹ mình, và bà có ảnh hưởng to lớn đối với cậu ta, nhưng trong trường hợp này, cậu ta coi nỗi lo sợ của người mẹ chỉ là sự tưởng tượng mà thôi. Theo Willy, con đường mà cậu ta đang đi rất thoải mái, và những bạn bè của cậu trên con đường ấy đều rất thú vị, nên cu ta không thể tin vào những điều xấu xa đã được cảnh báo, và trong khi mẹ cậu nói với cậu ta bằng một giọng nhắc nhở cùng vẻ mặt buồn bã, thì cậu ta đã cười vào những sự âu lo đó và tìm cách xoa dịu những nỗi lo âu của bà ấy.
Và cứ thế, tháng năm trôi qua, cho đến khi cả thị trấn đều biết về sự sa ngã đáng buồn của chàng trai này. Nhằm chuyển những suy nghĩ của Willy sang một hướng mới – để khơi dậy, nếu có thể, mối quan tâm mới và tốt đẹp hơn trong cuộc đời – bố cậu ta đã đánh liều thử thời vận trong công việc đầy may rủi mà chúng tôi nói đến hôm qua, giao vốn vào tay của cậu ta và đưa Willy trở thành một đối tác ngang hàng với ông ta trong việc kinh doanh chưng cất rượu và xe sợi. Kết quả tai hại - tôi có thể nói là nhục nhã – thì ngài đã được biết. Người thanh niên này đã phung phí tiền bạc và khiến cho bố cậu ta phải mang nợ.
Tác động của toàn bộ sự việc này đối với bà Hammond là cực kỳ đau đớn. Chúng tôi chỉ có thể hình dung được lờ mờ những đau khổ kinh khủng mà bà ấy đã trải qua. Sự loạn trí hiện nay của bà ấy đã lần đầu được thấy rõ sau một thời kỳ bị mất ngủ kéo dài, thường là do căng thẳng thần kinh. Trong suốt hai tuần liền, tôi nghe kể vậy, bà ấy đã không hề chợp mắt hầu như suốt thời gian đó chỉ đi lại trong phòng mình và khóc lóc. Bà ấy đã phải thường xuyên dùng thuốc an thần mạnh để trấn an. Nhưng, khi bà Hammond tỉnh dậy sau một thời gian dài vô ý thức, sự nhanh nhẹn trong nhận thức của bà ấy đã biến mất. Kể từ đó, bà Hammond không còn nhận thức được rõ về những gì đang diễn ra xung quanh mình nữa, và điều đó tốt hơn cho bà ấy, đôi khi tôi đã nghĩ thế, vì thậm chí sự u tối trong khả năng nhận thức cũng là điều may mắn trong trường hợp của bà Hammond. Chà! Tôi luôn cảm thấy tim mình bị đau khi nghĩ đến bà ấy”.
“Sự việc thậm chí không làm cho người thanh niên này phải giật mình khỏi cơn mê muội gây tai hoạ đó ư, nếu tôi có thể gọi sự cuồng dại của cậu ta như thế?” tôi hỏi.
“Không. Cậu ta yêu mẹ mình, và rất đau khổ vì chuyện đó, nhưng dường như cậu ta không thể dừng lai được nữa. Có những sự ràng buộc ghê gớm thúc đẩy cậu ta phải tiếp tục. Nếu cậu ta có tìm ra được những giải pháp tốt nào đó – và tôi không hề nghi ngờ rằng cậu đã như vậy – thì chúng cũng đã bị cuốn bay đi giống như những sợi tơ nhện vào lúc cậu ta ở trong tầm ảnh hưởng của các mối quan hệ cũ. Đường cậu ta đi đến cối xay liền kề ngay qúan trọ, và thật không dễ dàng gì đối với Willy khi đi qua đó mà không bị lôi kéo vào quán, hoặc là bởi cơn nghiện rượu của chính cậu ta, hoặc do sự rủ rê từ những bạn bè tụ tập trước quán”.
“Có thể còn có một điều gì đó có áp lực mạnh mẽ hơn cả cơn nghiện rượu” tôi nói.
“Điều gì vậy?”
Tôi kể lại vắn tắt sự việc đã diễn ra vào đêm hôm trước.
“Tôi e – không, tôi tin vậy – rằng cậu ta đã sa vào bẫy của người đàn ông này rồi! Nhưng sự xác nhận của ngài về thực tế vẫn khiến tôi phải giật mình và ngỡ ngàng”, ông ta vừa nói vừa đi quanh phòng trong tâm trạng bối rối . “Nếu như tôi đã từng đặt câu hỏi và hô nghi vì sự tôn trọng đối với cậu Hammond, thì nay câu hỏi và sự hồ nghi ấy không còn nữa. Từ “bí ẩn” giờ không còn được thấy ở nơi cửa nhà cậu ta. Kẻ Bố Già! Và theo cách đó mà nhiều chàng trai của chúng ta đang bị lôi cuốn vào vòng cám dỗ sao? Theo cách đó mà sự sa ngã của họ đã được định ra từ trước và đảm bảo sao? Theo cách đó mà kẻ giăng bẫy đã được phép giăng lưới của hắn giữa thanh thiên bạch nhật, và kẻ huỷ hoại đã thực hiện công việc của hắn trong bóng đêm sao? Thật kinh khủng khi nghĩ về điều đó!” Người đàn ông đã bị kích động mạnh.
“Theo cách đó” ông ta tiếp tục “mà chúng tôi – những người đã chứng kiến toàn bộ quy mô, nguồn gổc và ma lực ghê gớm dẫn đến sự tàn phá sâu rộng đó – đã lên tiếng cảnh báo trước, nhưng hầu như bất lực. Những người đàn ông có người thân bị ảnh hưởng – những chàng trai sa ngã, và những người con gái trở thành vợ của các thanh niên chịu tác động của những sự cám dỗ - chỉ biết đứng ngoài nêu câu hỏi và do dự trong việc bảo vệ những đứa con vô tội khỏi mưu mô tham lam của những kẻ xấu, những kẻ, vì mục tiêu ích kỷ của chúng, sẽ huỷ hoại họ cả về thể chất và tinh thần. Chúng tôi đã bị gọi là những người cuồng tín, cực đoan, vẽ chuyện, và những điều tương tự, vì chúng tôi đã kêu gọi các nhà lập pháp ngăn chặn sự tàn phá đó lại. Ồ không! Chúng tôi không được động đến sự giao dịch mua bán đó. Mọi lợi ích thiết thân và tốt đẹp nhất của xã hội có thể bị ảnh hướng, nhưng người bán rượu phải được bảo vệ. Ông ta phải được phép kiếm lợi nhuận, ngay cả khi những nhà tù và nhà tế bần đã chật ních người, các nghĩa địa đầy ắp xác chết của những người đàn ông trẻ đã bị mất đi những năm tháng thanh xuân đẹp đẽ, và những người vợ, người mẹ của họ đã qua đời vì đau khổ. Sự thay đổi, người ta nói với chúng tôi thế, phải được bắt đầu từ trong gia đình. Chúng tôi phải dạy dỗ cho những đứa trẻ lối sống điều độ, và sau đó chúng tôi sẽ có những người đàn ông biết tự kiềm chế. Rằng khi không còn ai ham mê rượu chè, việc bán rượu ở quán cũng sẽ chấm dứt. Và trong khi nhiều người làm như vậy, thì những ai dễ sa ngã, mất cảnh giác, và những người có lỗi lâm vân là những miếng mồi ngon cho nạn rượu chè, chưa kể thời gian để hoàn tất công việc đó phải mất hàng trăm năm. Thưa ngài! Mỗi linh hồn bị huỷ hoại thông qua cánh cửa địa ngục của người bán rượu là một vật tế thần vô giá. Không gì trên thế gian này có thể so sánh được với sự mất mát đó. Hàng nghìn linh hồn đã bị huỷ hoại mỗi năm, và chúng sẽ tắng lên hàng chục nghìn trước khi xã hội bừng tỉnh nhận ra được sự vô tâm tai hại của mình, và sử dụng bàn tay quyền lực đối với những kẻ tha hoá, những người đang gieo rắc bệnh tật, sự huỷ hoại và cái chết ở khắp nơi!”
“Tôi thường rất quan tâm đến vấn đề này” ông ta nói thêm, trấn tĩnh lại. “Và những người được chứng kiến và phản ánh có thể giúp làm tăng thêm sự quan tâm đến vấn đề chứ? cái xấu đang đe doạ, và sự thờ ơ của cộng đồng là một trong những điều kỳ lạ nhất”.
Trong lúc ông ta còn đang nói, thì ông Hammond đi đến. Trông ông ta thật thảm hại. Cặp mắt ướt và đỏ ngầu cho thấy ông ta đã bị thiếu ngủ, và nét mặt ông ta phờ phạc vì mệt mỏi và đau khổ. Ông ta kéo người đàn ông đang nói chuyện với tôi ra một chỗ, và trao đổi chuyện gì đó có vẻ quan trọng với ông ta trong nhiều phút – thường hay vung mạnh tay. Tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt ông ta, mặc dù không nghe được ông ta nói gì. Nét mặt ông ta trông thật đau khổ, mỗi hoạt động của cơ mặt đều thể hiện một vẻ đau khổ về tinh thần.
“Hãy cố gắng gặp được nó, ông nhé?” ông ta nói lúc trở lại và chuẩn bị rời văn phòng.
“Tôi sẽ đến đó ngay” người đàn ông trả lời.
“Hãy đưa nó về nhà, nếu có thể”.
“Tôi sẽ cố gắng hết sức”.
Thẩm phán Hammond cúi chào và vội vã ra về.
“Ngài có biết số phòng của Green ở không?”
Người đàn ông hỏi sau khi vị khách của ông ta ra về.
“Có, đó là số phòng 11”.
“Willy đã không trở về nhà tối hôm qua. Bố cậu ta nghi ngờ rằng Green là một kẻ cờ bạc. Thực tế đó mới chỉ được hé lộ ra với ông ta vào hôm qua, và điều này, cùng với những vấn đề khác của người đàn ông này, khiến cho ông ta, như ông ấy nói, đang điên tiết. Với tư cách một người bạn, ông ta muốn tôi đến quán “Lưỡi liềm và bó lúa” để tìm Willy. Ông có thấy cậu ta sáng nay không?”
Tôi trả lời là không thấy.
“Cũng không thấy Green sao?”
“Không”.
“Thế Slade có ở đó lúc ông rời quán trọ không?”
“Tôi đã không gặp ông ta”.
“Những gì mà thẩm phán Hammond lo sợ có thể đã là sự thực, đó là – trong tình trạng của những vấn đề mà Willy mắc phải hiện nay, vốn đã đạt tới mức tai hoạ - kẻ lôi kéo cậu ta đang định giành lấy càng nhiều càng tốt những tài sản trong tay cậu bằng cách cầm cố hay chuyển nhượng, để vắt kiệt những giọt máu cuối cùng còn lại từ nạn nhân của hắn, và rồi vứt bỏ cậu ta một cách không thương xót khỏi bàn tay hắn”.
“Người thanh niên này đã trong trạng thái tâm lý tuyệt vọng, được ăn cả ngã về không, vào đêm qua. Ông có nói cho bố cậu ta biết điều đó không?”
“Không. Điều đó sẽ làm cho ông ta lo lắng hơn, mà không có ích gì. Ông ta đã đau khổ quá đủ rồi. Nhưng thời gian sẽ trôi qua, và mọi điều sẽ sáng tỏ. Ngài đi cùng với tôi chứ?”
Tôi đi đến quán trọ cùng với ông ta, và chúng tôi cùng đi vào phòng bar. Có vài ba người đàn ông đang uống rượu ở quầy.
“Ông Green có ở đây sáng nay không?” người đàn ông đang tim cậu Hammond hỏi Matthew.
“Không thấy bóng dáng của ông ấy ở đâu cả”.
“Ông ta có ở trong phòng mình không?”
“Tôi không biết”.
“Ông có thể kiểm tra giúp tôi được không?”
“Nhất định rồi. Frank!” và ông ta gọi con trai người chủ quán đang ngồi ườn ra trên một chiếc ghế tràng kỷ, “tôi muốn cậu xem giúp ông Green có đang ở trong phòng ông ấy không?”
“Hãy tự đi mà xem lấy. Tôi không phải là người hầu của ông” Frank càu nhàu, giọng khó chịu.
“Đợi một chút, tôi sẽ kiểm tra cho ngài” Matthew nói vẻ nhã nhặn.
Sau khi phục vụ vài người khách mới đến, Matthew đi lên gác để tìm hiểu. Lúc ông ta vừa ra khỏi phòng bar, Frank đứng dậy, đi đến sau quầy và tự pha cho mình một ly rượu, rồi uống cạn với vẻ rất thoả mãn.
“Một công việc thật nguy hiểm đối với một người còn rất trẻ như cậu” người đàn ông đi cùng với tôi nhận xét lúc Frank bước ra khỏi quầy và đi qua gần nơi chúng tôi đang đứng. Frank đáp lại bằng một cái cau mày khó chịu và những gì thể hiện trên nét mặt như muốn nói “Đấy không phải việc của ông!”
“Không có ông ta ở đó” Matthew quay lại nói.
“Ông chắc như thế chứ?”
“Vâng, thưa ngài”.
Nhưng trong thái độ của người phục vụ quầy bar có một vẻ lưỡng lự nào đó khiến cho người nghe phải nghi ngờ rằng câu trả lời của ông ta là không đúng sự thật. Chúng tôi đi ra ngoài hội ý, và cùng có kết luận rằng lời ông ta là không đáng tin.
“Phải làm gì bây giờ?” ông ta hỏi tôi.
“Đến phòng của Green” tôi trả lời “và gõ cửa. Nếu hắn ở đó, có thể hắn sẽ trả lời. Vì không biết được mục đích của ngài”.
“Hãy dẫn tôi đến phòng đó”.
Tôi đi cùng người đàn ông lên gác, và chỉ cho ông ta phòng số 11. Ông nhẹ nhàng gõ cửa, nhưng không thấy có tiếng động nào bên trong. Ông lại gõ , tất cả vẫn im lặng. Người đàn ông tiếp tục gõ, nhưng đáp lại ông ta vẫn chỉ là những tiếng vọng trống rỗng.
“Không có ai trong đó cả” người đàn ông nói, quay lại chỗ tôi đứng và chúng tôi cùng đi xuống. Tại nơi đầu cầu thang bên dưới, chúng tôi gặp bà Slade. Trước đó, trong chuyến đến Cedarville này, tôi chưa lần nào đứng giáp mặt với bà. Chao ôi! Bà Slade trông mới thật thảm hại, với khuôn mặt tái nhợt, teo tóp, đôi mắt trống rỗng, và thân hình gầy yếu bị còng xuống. Tôi đã chút nữa thì giật mình khi nhìn thấy bà. Chắc hẳn bà chính là một bóng ma nghiêm nghị, trách móc, vẫn ngày ngày ám ảnh trước mắt của người chồng bà.
“Bà có thấy ông Green ở đâu sáng nay không?” tôi hỏi.
“Ông ta đã ra khỏi phòng đâu?” bà ta trả lời.
“Bà có chắc như vậy không?” người bạn đi cùng tôi hỏi. “Tôi vừa gõ cửa nhiều lần, nhưng không thấy ai trả lời”.
“Các ông muốn điều gì ở ông ta?” bà Slade hỏi, và chăm chú nhìn chúng tôi.
“Chúng tôi đang đi tìm Willy Hammond, và người ta nói rằng cậu ta ở chỗ Green”.
“Hãy gõ cửa hai tiếng nhẹ rồi ba tiếng mạnh hơn” bà Slade nói rồi lướt qua chỗ chúng tôi không một tiếng động.
“Chúng ta cùng đi lên nhé?”
Tôi đã không phản đối, vì mặc dù không có phận sự gì, tôi cảm thấy rất phấn khích trước tình huống này, nên đã đi theo mà không suy nghĩ xem làm như vậy có chính đáng không.
Và ám hiệu gõ cửa đã lập tức được đáp lại. Cánh cửa phòng được nhẹ nhàng mở ra, và khuôn mặt đầy râu ria của Simon Slade đã hiện ra.
“Ngài Jacobs!” ông ta nói, giọng ngạc nhiên. “Ngài muốn gặp tôi à?”
“Không, thưa ngài, tôi muốn gặp ông Green” và bằng một động tác nhanh, mạnh, ông ta đẩy cánh cửa mở rộng ra. Ở đó, cũng vẫn là nhóm người mà tôi đã nhìn thấy vào đêm hôm trước: Green, cậu Hammond, thẩm phán Lyman và Slade. Ở trên bàn, nơi ba người đầu tiên đang ngồi, là những lá bài, mấy tờ báo, một lọ mực và bút, một đống giấy bạc. Trên một chiếc bàn bên cạnh, hay đúng hơn là một khay đồ uống, là những chiếc chai, bình rượu cổ thon và những chiếc ly.
“Thẩm phán Lyman! Có thể nào như vậy?” ông Jacobs, tên người bạn của tôi, kêu lên. “Tôi không ngờ lại thấy ngài ở đây”.
Green lập tức lấy tay vơ quanh bàn để thu tiền về phía mình, nhưng trước khi hắn thực hiện xong việc đó, Hammond đã chộp được mấy tờ giấy bạc, rồi vội vã xé nát thành từng mảnh.
“Mày là đồ lừa đảo vô lại!” Green gào lên dữ dội, hắn thọc tay vào ngực áo như định rút từ đó một vũ khí nào đó, nhưng hắn vừa dứt lời thì Hammond đã nhảy chồm lên người hắn với sự dữ tợn của một con hổ, đè hắn xuống sàn nhà. Hai bàn tay Hammond xiết chặt lấy cổ của Green trước khi những người chứng kiến đang bối rối có thể can thiệp và gỡ được cậu ta ra. Green mặt tái mét, gần như đã nghẹt thở.
“Còn dám gọi tôi là đồ lừa đảo vô lại!” Hammond nói, miệng sủi đầy bọt trong khi nói. “Tôi, người mà ông đã theo đuổi như một con chó săn khát máu. Tôi! Người mà ông đã tước đoạt, lừa đảo và bòn rút ngay từ đầu! Ôi, hãy cho tôi một khẩu súng để loại bỏ kẻ bất lương này khỏi mặt đất. Các ngài hãy để hắn cho tôi! Tôi không còn gì để mất nữa, tôi không còn sợ gì cả. Hãy để tôi làm một việc có ích cho xã hội trước khi chết!”
Và bằng một nỗ lực mạnh mẽ, Hammond gạt phắt những bàn tay đang giữ cậu ta và lại nhảy bổ về phía Green với sức mạnh của một con thú hung dữ. Lần này Green đã rút sẵn được con dao ra, và lúc Hammond lao vào hắn trong cơn thịnh nộ mù quáng, hắn thọc dao vào sườn cậu ta. Nhanh như cắt, lưỡi dao được rút ra, và hắn đâm thêm hai nhát nữa trước khi chúng tôi có thể giành được lưỡi dao của kẻ giết người. Kh ictg đã lấy được dao của Green, Willy Hammond ngã vật ra cùng với một tiếng rên đau đớn, và máu từ bên sườn cậu tuôn ra.
Trong sự hoảng sợ và kích động sau đó, Green đã bỏ trốn khỏi phòng. Ông bác sĩ, người đã được lập tức mời đến, sau khi đã khám kỹ vết thương và tình trạng của người thanh niên bất hạnh, cho biết cậu ta sắp chết vì vết thương quá nặng.
Chao ôi! Làm sao nói hết được nỗi đau khổ của người cha, đã nhanh chóng được nghe tin về biến cố hệ trọng này, khi thông báo được đưa ra. Tôi chưa bao giờ được thấy nỗi đau đớn nào như vậy trên khuôn mặt người nào. Người bình thản nhất trong chúng tôi chính lại là Willy. Cặp mắt của Willy chăm chú nhìn vào mặt bố cậu như bị thôi miên.
“Con có bị đau lắm không, cậu bé của cha?” người đàn ông nức nở, cúi xuống mặt cậu cho đến lúc mái tóc dài và trắng của ông ta quyện lẫn với mớ tóc ướt của Willy.
“Không đau lắm, cha ạ” cậu ta thều thào trả lời. “Đừng kể chuyện nay cho mẹ biết vội. Con sợ mẹ sẽ chết mất”.
Người cha không biết nói gì, chỉ im lặng.
“Mẹ đã biết chuyện chưa?” một thoág băn khoăn lướt qua mặt cậu.
Ông Hammond lắc đầu.
Ngay lúc đó có một tiếng khóc man dại, đau khổ vang đến. Một người nào đó thiếu thận trọng đã mang đến tai người mẹ tin dữ về con trai của bà, và bà Hammond đã điên dại lao đến quán trọ.
“Đó là người mẹ tội nghiệp của tôi” Willy Hammond nói, một thoáng ửng đỏ hiện trên khuôn mặt đang tái đi của cậu. “Ai đã nói cho mẹ tôi biết tin?”
Ông Hammond đi ra cửa, nhưng trước khi ông ta ra tới đó, người mẹ quẫn trí đã bước vào.
“Ôi Willy! Con trai tôi! Con trai tôi!” bà gào lên, giọng đau khổ, khiến cho người nghe phải rùng mình. Và khi đã đến chỗ giường, nơi Willy đang nằm, người đàn bà ngồi xệp xuống sàn nhà và áp cặp môi của bà – trông yêu thương và trìu mến làm sao! – lên môi cậu.
“Ôi mẹ! Mẹ yêu! Người mẹ tốt nhất trên đời của con!” cậu ta gắng gượng mỉm cười và ngước nhìn vào khuôn mặt của người mẹ giờ đang cúi xuống nhìn cậu với cái nhìn trìu mến khó tả.
“Willy! Willy! Con trai tôi! Con trai tôi!” và bà lại hôn vào môi của cậu.
Ông Hammond giờ đã can thiệp, và cố gắng tách người vợ ra, vì lo ngại sẽ ảnh hưởng đến con trai.
“Đừng cha,” Willy nói “hãy để mẹ ở lại. Con không bị xúc động, cũng không bị quây rầy đâu. Con rất vui vì có mẹ đang ở đây. Điều đó tốt cho cả hai mẹ con”.
“Em đừng làm con bị xúc động” ông Hammond nói “nó rất yếu”.
“Em sẽ không làm con xúc động đâu” người mẹ trả lời. “Em sẽ không nói câu nào nữa. Nằm yên, con yêu” và bà dịu dàng đặt ngón tay lên môi người con trai “đừng nói lời nào nữa”.
Nhưng bà Hammond chỉ ngồi yên giống như một người hộ lý bên bệnh nhân của mình được trong chốc lát. Sau đó bà bắt đầu khóc lóc, than ãn, và vặn hai bàn tay vào nhau.
“Mẹ!” giọng nói yếu ớt của Willy lắng xuống, rồi lập tức trở nên cuống quýt. “Mẹ, mẹ hãy hôn con đi!”
Người đàn bà cúi xuống và hôn cậu.
“Mẹ đó ư?” cặp mắt của Willy đảo quanh , trông biến dạng.
“Ừ, con yêu, mẹ đây”.
“Con không thấy mẹ đâu cả, mọi thứ tối sầm lại. Ôi, mẹ!” cậu ta bỗng kêu lên, chồm dậy và ngả người vào ngực bà – “Cứu con với! Cứu con với!”
Người mẹ liền choàng hai cánh tay ôm lấy Willy, vòng tay bà ôm ghì cậu vào ngực thật thiết tha! Ông bác sĩ, lo ngại về khả năng xâu nhất, giờ đã tiến đến và cố gắng gỡ tay của bà Hammond ra, nhưng bà đã ra sức chống lại tất cả mọi sự can thiệp đó.
“Mẹ sẽ cứu con, con trai của mẹ” bà thì thầm vào tai người thanh niên. “Mẹ sẽ bảo vệ con. Ôi, nếu con không rời xa mẹ thì không gì trên thế gian có thể làm hại được con”.
“Cậu ấy đã mất!” tôi nghe ông bác sĩ thì thầm, và một cơn rùng mình sợ hãi lan khắp người tôi. Ông Hammond cũng nghe được những lời nói của ông bác sĩ, kêu lên một tiếng đau đớn cực độ.
“Ai bảo là nó đã chết?” người mẹ gay gắt kêu lên, và bà đặt thân thể của đứa con mình nằm lại giường, nơi cậu đã từ đó lao vào trong vòng tay bà, rồi cuống cuồng nhìn vào mặt cậu. Một tiếng thét kinh hoàng kéo dài cho biết bà đã nhận thức ra được sự thật, rồi người đàn bà ngã ra bất tỉnh, bên cạnh thi thể của người con trai.
Mọi người trong phòng đều tin rằng bà Hammond chỉ bị ngất xỉu thôi. Nhưng vẻ mặt ông bác sĩ trông rất lo ngại và bối rối . Ông yêu cầu đưa bà sang một căn phòng khác, và khuôn mặt tái nhợt của bà khi được đưa ra ánh sáng đã cho thấy những lo âu của ông bác sĩ là không sai. Thậm chí ngay cả khi khả năng nhận thức đã bị lu mờ, ý nghĩ rằng đứa con trai mình bị chết đã đến với người đàn bà này như một cú sốc quá khủng khiếp và cướp đi mất sự sống của bà.
Giống như lửa bén rơm khô, tin tức về sự việc khủng khiếp này đã lan ra khắp Cedarville cả thị trấn trở nên xôn xao bàn tán. Mọi người kể với nhau về việc Willy Hammond đã bị Green giết chết, kẻ mà nhiều người đã biết về công việc thực sự của hắn và nay thì điều đó đã được công bố với tất cả mọi người, nhưng có cả hàng trăm câu chuyện khác nhau và được phóng đại, cũng với nguyên nhân vụ việc và những chi tiết liên quan, đã được truyền miệng. Vào lúc việc chuẩn bị đưa thi thể của người mẹ và cậu con trai từ quán “Lưỡi liềm và bó lúa” về bên nhà Hammond đã hoàn tất, hàng trăm người, cả đàn ông, phụ nữ và trẻ con đã tụ tập lại quanh quán trọ, và nhiều người đã lên tiếng nguyền rủa Green, trong khi một số người khác nhắc đến thẩm phán Lyman, người mà, trong tâm trí họ, đã có tên liên quan trong vụ giết người này. Hình ảnh hai thi thể được mang đi trên những chiếc ghế dài mềm đã không hề làm giảm bớt sự căm phẫn giữa đám đông đang trong cơn kích động. Tôi đã nghe thấy hơn một người thét lên “Hãy hành quyết tên côn đồ!”
Một phần đám đông đi theo đám rước buồn bã đó trong khi những người khác vẫn ở lại quán trọ. Mọi người, bất kể là tụ tập lại vì mục đích gì, đều mau chóng có được những người khởi xướng, những người mà sự thôi thúc của cảm xúc đã lên đến đỉnh điểm, lên tiếng hô hào mọi người khác. Trong trường hợp này cũng vậy. Sự căm phẫn mãnh liệt đối với Green đang trào dâng trong lồng ngực mọi người, và khi một người đàn ông tiến lên mấy bước trước đám đông đang trong cơn kích động và thét lên:
“Không để cho kẻ giết người được tẩu thoát!”
Một tiếng thét giận dữ hưởng ứng vang lên mạnh mẽ, kích động bầu không khí.
“Hãy chọn ra mười người để lùng sục ngôi nhà này và khu vực xung quanh” người đã đứng ra khởi xướng lên tiếng.
“Đúng đấy! Hãy chọn người đi! Gọi tên đi!” lập tức có tiếng hưởng ứng.
Mười người đàn ông đã được gọi ra, và lập tức bước lên đứng trước đám đông.
“Hãy tìm khắp mọi nơi, từ gác xép cho đến hầm rượu, từ vựa cỏ khô đến cũi chó. Mọi nơi! Mọi chỗ!” người đàn ông gào lên.
Và ngay lập tức, mười người đàn ông đi vào trong nhà. Đám đông chờ đợi mỗi lúc càng sốt ruột trong gần mười lăm phút. Cuối cùng, nhóm lùng sục cũng xuất hiện và thông báo rằng Green không còn ở trong khu vực ngôi nhà. Thông tin này được đón nhận với những tiếng kêu thất vọng.
“Không người đàn ông nào ở Cedarville được nghỉ ngơi khi tên giết người còn chưa được tìm ra” người đàn ông đã đứng ra khởi xướng hét lên.
“Phải đấy! Hãy hoãn lại mọi công việc ở Cedarville cho đến khi tìm được hắn!” một tiếng hét vang lên giận dữ.
“Tất cả những ai có ngựa hãy thắng yên cương càng nhanh càng tốt, và đến tập trung tại Toà án”.
Khoảng năm mươi người đàn ông hối hả rời đám đông.
“Mọi người hãy tản ra đường, đứng trước mặt tôi”.
Lời nói đã được làm theo.
“Hãy chia ra đứng thành hàng ở giữa đường”.
Đám đông giờ đã chia thành bốn nhóm người đứng ở trước quán trọ.
“Giờ thì hãy lùng sục tên giết người ở mọi ngóc ngách trong phạm vi ba dặm kể từ đây, mỗi nhóm chịu trách nhiệm một khu vực, theo ranh giới phân chia là con đường này và đường được vạch ra đi qua giữa quán trọ. Những người cưỡi ngựa sẽ lùng tìm tên khốn kiếp đó trong phạm vi xa hơn”.
Hơn một trăm nó nhét vang hưởng ứng, còn người đàn ông vừa nói đã nhảy xuống từ nơi ông ta đang đứng và hoà vào đám đông đang lập tức bắt đầu triển khai nhiệm vụ đã được giao.
Nhiều giờ đã trôi qua, từng nhóm lùng sục lần lượt quay về thị trấn, mệt rã rời sau những nỗ lực tìm kiếm, hoặc tin rằng kẻ giết người đã cao chạy xa bay. Những người cưỡi ngựa cũng bắt đầu trở về vào buổi chiều, và khi mặt trời xuống thì người cưỡi ngựa cuối cùng đã quay về, mệt mỏi và thất vọng.
Sau những giờ phút náo động vào buổi sáng, đã có vài người khách đến quán “Lưỡi liềm và bó lúa”. Slade, người đã không xuất hiện trong đám đông, đã đi xuống dưới nhà sau khi đám đông giải tán. Ông ta đã cạo râu và mặc vào một bộ đồ bằng vải lanh sạch sẽ, nhưng vẫn có những dấu hiệu cho thấy đêm qua ông ta đã không ngủ. Mắt Slade đỏ ngầu, trĩu xuống và mi mắt mọng lên, trong khi nước da nhợt nhạt và chùng xuống. Lúc ông ta đi xuống cầu thang, tôi đang đi ở hành lang. Slade nhìn tôi, chỉ gật đầu vẻ ngượng ngùng. Vẻ tội lỗi được hiện rõ trên khuôn mặt ông ta, xen lẫn với vẻ lo âu, sợ sệt. Với việc có thể bị coi là có liên quan đến vụ án, ông ta có lý do để lo ngại, vì đã là một trong những người đã tham gia đánh bạc trong phòng Green, như cả ông Jacobs và tôi đã chứng kiến.
“Một sự việc thật khủng khiếp” Slade nói khi giáp mặt với tôi nửa giờ sau đó. Ông ta không dám nhìn thẳng vào tôi.
“Thật kinh khủng!” tôi đáp. “Làm sa ngã và hư hỏng một người thanh niên, rồi giết chết cậu ấy! ít có hành vi phạm tội nào đáng kinh tởm hơn hành vi này!”
“Điều đó xảy ra trong lúc mất bình tĩnh”, người chủ quán nói với vẻ hối tiếc. “Green không bao giờ chủ ý giết cậu ấy”.
“Nếu chỉ quan hệ một cách ôn hoà, vì sao hắn ta lại đem theo một hung khí có thể gây chết người như vậy? tâm địa giết người đã có trong hắn, thưa ông”.
“Như vậy là nói quá”.
“Không quá so với thực tế đã chưng minh”, tôi trả lời. “Rằng Green là kẻ có tâm địa giết người, không cần phải có sự việc cao trào khủng khiếp này mới thấy .với một mục đích lạnh lùng, có tính toán, ngay từ đầu hắn đã tìm và huỷ hoại cậu Hammond”.
“Thật không công bằng” Slade nói “trong làn sóng kích động chống lại Green hiện ny, để đưa ra một nhận định đáng ngờ như vậy. Điều đó có thể dẫn đến những hành động rất sai lầm đối với ông ta”.
“Thế Willy Hammond đã chỉ nói những lời vô căn cứ khi tố cáo Green đã bám theo cậu ấy như con chó săn khát mau sao? Đã tước đoạt, lừa đảo và bòn rút cậu ấy ngay từ đầu?”
“Cậu ta đang rất kích động vào lúc đó”.
“Đúng vậy” tôi nói “không người nào nghe được những lời của cậu ấy lại có thể mảy may nghi ngờ rằng chúng đã được thốt ra một cách chân thực từ một trái tim đang trong cơn điên cuồng”.
Thái độ nghiêm túc, rõ ràng của tôi đã tác động đến Slade. Ông ta biết rằng, với những gì tôi đã khẳng định, toàn bộ quá trình quan hệ của Green với cậu Hammond đã được chứng minh, và hơn nữa, ông ta ý thức được vai trò của mình đối với sự sa ngã của người thanh niên này. Cặp mắt Slade cụp xuống dưới cái nhìn nghiêm nghị mà tôi đang hướng vào ông ta. Tôi nghĩ về ông ta như một người có liên quan đến vụ giết người, và những suy nghĩ đó chắc hẳn đã được thấy hiện rõ trên mặt tôi.
“Một kẻ giết người sẽ không biện hộ được cho kẻ giết người khác” ông ta nói.
“Không có bất cứ lời nào biện hộ được cho kẻ giết người” tôi đáp.
“Và nếu những người đàn ông đang trong cơn giận dữ mà tìm thấy Green, họ sẽ giết ông ta mất”.
“Tôi hy vọng sẽ không xảy ra điều đó. Sự phẫn nộ đối với tội ác khủng khiếp này đã kích động mọi người thật đáng sợ. Nhưng tôi nghĩ rằng ý thức về công lý của họ sẽ đủ mạnh để ngăn được những hậu quả như ông lo ngại”.
“Tôi không muốn bị rơi vào trường hợp của Green” người chủ quán nói, cùng với một động tác tỏ ra lo lắng.
Tôi nhìn sát vào mặt Slade. Sự trừng phạt mà kẻ phạm tội có thể sẽ phải gánh chịu có vẻ như đang làm cho sự sợ hãi hiện lên trong ánh mắt ông ta, chứ không phải chính tội ác. Lạy Chúa! Công việc kinh doanh sự sa ngã đã khiến cho con người ông ta biến đổi biết bao!
Những lời nói của tôi chẳng mấy thú vị đối với Slade và ông ta tìm lý do để rời tôi và đi ra chỗ khác. Tôi ít gặp lại ông ta trong suốt ngày hôm đó.
Khi buổi tối bắt đầu, những người truy lùng không thành công hung thủ giết người lần lượt đến tụ tập tại quán trọ, và lúc màn đêm buông, phòng bar đã tập trung đông đảo những người đàn ông nóng nảy và giận dữ, họ bực bội về sự thất vọng và qua và lớn tiếng thề sẽ báo thù. Mọi người giờ đây đều biết rằng Green đã trốn thoát, và sự giận dữ của nhiều người bắt đầu chuyển sang một chiều hướng mới. Mọi người đều đã biết rằng ngoài Green và cậu Hammond , thẩm phán Lyman và Slade cũng có mặt trong phòng Green và tham gia đánh bạc. Đương nhiên, ý kiến cho rằng hai người đàn o onày đã đồng loã với Green trong việc lôi kéo làm sa ngã Hammond, và dẫn đến cơn giận dữ của cậu, đã kích thích sự phẫn nộ đối với họ lên cao, và giờ đây đám đông đã chuỷên hướng sự căm phẫn đối với Green sang những đối tượng mới.
“Slade đâu rồi?” một người ở giữa đám đông đang tụ tập trong phòng bar hỏi lớn. “Tại sao ông ta lại tránh mặt?”
“Đúng rồi! Chủ quán đâu?” có đến nửa tá người hưởng ứng.
“Ông ta có tham gia truy lùng kẻ giết người không?” một người hỏi.
“Không! Không!” Nhiều người trong khắp phòng bar kêu lên. “Ông ta không tham gia”.
“Và vụ giết người đã xảy ra trong nhà ông ta, ở ngay trước mắt ông ta!”
“Đúng, ngay trước mắt ông ta!” một số người tức giận nhắc lại.
“Slade đâu? Chủ quán đâu? Có ai nhìn thấy ông ta tối nay không? Matthew, Simon Slade đâu?”
Câu hỏi được truyền từ miệng người này sang miệng người khác, trong lúc đám đông trở nên giận dữ và xáo động.
“Tôi không nghĩ là ông ấy đang có mặt tại nhà”, người phục vụ quầy bar trả lời , với vẻ lưỡng lự và lo âu lộ rõ.
“Ông ta vắng mặt được bao lâu rồi?”
“Tôi không nhìn thấy ông ấy cách đây cả hai giờ”.
“Nói dối!” có người giận dữ nói.
“Ai nói đó là lời nói dối?” Matthew giả bộ phẫn nộ.
“Tôi nói đấy!” và một người đàn ông trông có vẻ dữ tợn đến đứng đối mặt với ông ta.
“Bằng cớ nào đã khiến cho ông nói như thế?” Matthew hỏi, đã xuống giọng đáng kể.
“Vì ông đã nói dối!” người đàn ông tức giận nói. “Ông đã gặp ông ta cách đây chưa đến nửa giờ, và ông biết rõ điều đó. Bây giờ, nếu ông muốn tránh bị liên quan đến chuyện này, thì hãy nói thật. Chúng tôi không hơi đâu dây dưa với những kẻ nói dối hoặc nước đôi. Simon Slade ở đâu?”
“Tôi không biết” Matthew kiên quyết trả lời.
“Ông ta có trong nhà không?”
“Có thể có, hoặc có thể không. Tôi, cũng như ngài, không biết chính xác ông ấy đang ở đâu cả”.
“Ông sẽ đi tìm ông ta chứ?”
Matthew bước tới mở cánh cửa phía sau quầy bar và gọi Frank.
“Ông muốn gì?” gã trai càu nhàu.
“Bố cậu có ở nhà không?”
“Tôi không biết cũng không quan tâm” cậu trả lời với vẻ khiếm nhã như vậy.
“Ai đó hãy dẫn cậu ta vào phòng bar, và chúng ta sẽ xem có thể làm cho cậu ta quan tâm đôi chút hay không”.
Lời yêu cầu đã mau chóng được thực hiện, hai người đàn ông đi vào phía sau quầy bar và tiến đến căn phòng có tiếng nói của Frank đã phát ra. Lát sau, họ xuất hiện trở lại, mỗi người giữ một cánh tay Frank và lôi cậu ta đi như một đứa trẻ yếu đuối giữa hai người. Cậu ta trông có vẻ sợ hãi trước sự việc bị cưỡng bức bất ngờ này.
“Hãy nhìn đây, chàng trai!” một trong những người cầm đầu đám đông nói với cậu ta khi Frank vừa được đưa đến trước mặt quầy. “Nếu cậu muốn tránh rắc rối, hãy trả lời chúng tôi ngay lập tức, và chỉ ra. Chúng tôi không thích đùa. Bố cậu đang ở đâu?”
“Ở một nơi nào đó trong nhà, tôi tin như vậy”. Frank khúm núm trả lời. Cậu ta tỏ ra rất sợ sệt với những lời cảnh cáo đã được đưa ra.
“Cậu thấy ông ta cách đây bao lâu?”
“Không lâu lắm”.
“Mười phút?”
“Không, khoảng nửa giờ rồi”.
“Khi ấy ông ta ở chỗ nào?”
“Ông ấy dang đi lên gác”.
“Tốt lắm. Chúng tôi muốn gặp ông ta. Hãy gặp và nói với ông ta như thế”.
Frank đi vào trong nhà nhưng năm phút sau đã trở lại và cho biết rằng cậu không thể tìm ra được cha cậu ở đâu cả.
“Vậy thì ông ta ở chỗ nào?”
“Thật sự, thưa các ông , tôi không biết”. Cái nhìn lo lắng và sợ hãi của Frank cho thấy cậu ta đã nói thật.
“Chuyện này có một điều gì đó không ổn ti nào” một người nào đó nói. “Tại sao ông ta lại vắng mặt vào lúc này? Tại sao ông ta đã không bắt giữ kẻ đã phạm tội giết người trong nhà ông ta, ở ngay trước mắt ông ta?”
“Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu ông ta đã giúp hắn trốn thoát” một người khác nói, đưa ra lời buộc tội với vẻ bồn chồn, bằng chứng cho thấy sự hấp tấp và thiếu khách quan đang chi phối đám đông.
“Không còn nghi ngờ gì nữa!” mọi người nhanh chóng hưởng ứng. Và lập tức lời buộc tội vội vàng này đã tác động đến tất cả đám đông. Không có một bằng chứng cụ thể nào được đưa ra. Chỉ đơn giản là một lời không võ đoán, nhưng không người nào còn nghi ngờ rằng Slade đã giúp cho Green trốn thoát.
“Ông ta ở đâu? Ông ta đâu rồi? chúng ta hãy đi tìm. Ông ta biết Green ở đâu và sẽ phải cho biết điều đó”.
Thật quá đủ! Sự căm phẫn của đám đông lại đã nóng lên. Mấy người đàn ông đã lại được chọn ra để tìm kiếm trong ngôi nhà và khu vực chung quanh, trong khi một số người khác được cử đi tìm trong phạm vi xa hơn. Một trong những người đã tình nguyện đi kiểm tra kỹ ngôi nhà là ông Lyon, người mà tôi đã quen biết và nhiều lần chuyện trò về những vấn đề ở Cedarville. Ông ta vẫn là một khách hàng hay lui tới phòng bar. Tôi rời phòng cùng với ông ta, và trở về phòng mình. Chúng tôi đi bên nhau, rồi chia tay nơi cửa phòng tôi, tôi vào phòng, còn ông ta tiếp tục đi thực hiện công việc tìm kiếm của mình. Tôi cảm thấy lo ngại và bị kích thích mạnh về những hệ quả của các sự kiện trong ngày, cũng như chiều hướng của những gì đang diễn ra. Đầu tôi đau nhức dữ dội, và tôi nằm xuống để thư giãn. Tôi đã thắp lên một ngọn nến và khoá cửa phòng lại để khỏi bị quấy rầy. Chỉ mới nằm được một lát, tôi nghe có tiếng người ậm ừ lẫn trong những tiếng ri rầm giận dữ từ phía dưới vọng lên, tiếng những bước chân dọc theo hành lang, tiếng những cánh cửa liên tục đóng mở, khi đó, có tiếng động giống như một hơi thở bị nén lại vọng đến tai tôi, tôi liền nhỏm dậy lắng tai nghe, nhưng tiếng nhịp tim đập dồn dập vì hồi hộp của chính mình mà giờ tôi nghe rõ đã làm lu mờ những âm thanh khác từ bên ngoài.
“Đó chỉ là sự tưởng tượng mà thôi”, tôi tự nhủ với chính mình. Tôi vẫn ngồi nghe ngóng, nhưng không thấy có tiếng động nào.
Cuối cùng yên tâm rằng đó chỉ là tưởng tượng, tôi lại nằm xuống gối và cố gắng xua đi cái ý nghĩ rằng có ai đó đang ở trong phòng. Khi tôi với mới làm được điều đó, và nhịp tim mới lắng xuống, thì một âm thanh giống như cử động của ai đó lại vọng đến tai tôi.
“Chỉ là sự tưởng tượng thôi!” tôi tự nhủ, cùng lúc đó có tiếng bước chân ai đó đi ngang qua cửa. “Đầu óc mình đã bị kích thích quá mức”.
Tôi chống tay vào cằm để giữ cao đầu và chú ý lắng nghe trong phòng, và loại bỏ những âm thanh từ bên ngoài. Vào lúc tôi sắp đặt dầu xuống gối lại, thì nghe thấy một tiếng ho nhẹ, rõ ràng và không thể nhầm lẫn được. Tôi nhảy xuống sàn nhà và nhìn vào gầm giường. Điều bí ẩn đã được làm rõ: ở đó có một cặp mắt đang sáng lên trong ánh nến. Kẻ chạy trốn, Green, đang ẩn nấp ngay dưới gầm giường tôi. Trong giây lát tôi kinh ngạc đứng nhìn hắn mà không thốt lên được lời nào, cũng không biết phải làm gì, trong khi hắn ta trừng mắt nhìn tôi vẻ thách thức. Tôi nhận thấy hắn đang cầm một khẩu súng lục.
“Hãy biết rằng…” hắn thì thào, giọng rít lên “tôi sẽ không để bị bắt sống”.
Tôi buông tấm chăn trước đó đã che giấu hắn xuống trở lại và ngâm nghĩ.
“Ông không thể trốn thoát được” tôi nói và lại kéo tấm chăn che giấu nơi hắn đang ẩn nấp ra. “Cả thị trấn đang được vũ trang để truy tìm ông, và ông có thể bị rơi vào tay đám đông, trong tình trạng kích động hiện nay, mạng sống của ông sẽ không được an toàn chỉ trong chốc lát. Hãy ở nguyên tại chỗ và im lặng cho đến khi tôi có thể gặp được ông cảnh sát trưởng, người mà tốt hơn ông nên lựa chọn để đầu thú, vì đó là cơ hội còn lại để ông được ông ấy bảo vệ”.
Sau một hồi trao đổi ngắn gọn, hắn đồng ý rằng nên hành động theo hướng đó, tôi đi ra ngoài, khoá cửa phòng lại sau lưng, và chạy đi tìm viên cảnh sát trưởng. Sau khi nghe tôi thông báo, ông cảnh sát trưởng đã khẩn trương hành động. Cùng với năm sĩ quan cảnh sát trang bị đầy đủ để tự vệ trong trường hợp nỗ lực đến nơi để bắt giữ Green bị gây khó khăn, ông cảnh sát trưởng lập tức đi đến quán “Lưỡi liềm và bó lúa”. Tôi đã giao lại chìa khoá phòng cho ông ta.
Sự xuất hiện của cảnh sát trưởng cùng với những sĩ quan được vũ tranh của ông ta đã đủ để nhiều người suy ra rằng Green đang ẩn nấp ở một nơi nào đó trong ngôi nhà, và chỉ cần có vậy để sự kiện đó được kết luận và tuyên bố một cách không ngần ngại. Tin tức đó được truyền đi trong đám đông đng tụ tập trở lại giống như một luồng điện, và trước khi ông cảnh sát trưởng khoá tay và dẫn được kẻ bị bắt ra, cầu thang dẫn xuống dưới nhà – nơi mà ông ta sẽ phải đi qua – đã chật ních người cùng với những tiếng chửi bới và nguyền rủa.
“Xin mọi người hãy tránh ra!” ông cảnh sát trưởng kêu lên lúc ông ta xuất hiện cù1ng với kẻ thủ phạm mặt trắng nhợt và đang run sợ ở đầu cầu thang. “Kẻ giết người giờ đây đang ở trong tay pháp luật, và chắc chắn sẽ phải chịu hậu quả về hành động phạm tội của hắn”.
Một tiếng hô vang lên, nhưng không người nào nhúc nhích.
“Tránh ra! Xin hãy tránh ra!” Và ông cảnh sát trưởng tiến lên mấy bước, nhưng kẻ bị bắt lùi lại phía sau.
“Ôi, tên côn đồ giết người! Kẻ cờ bạc bịp đáng nguyền rủa! Willy Hammond đâu rồi?” tiếng ai đó nổi bật trong nhiều giọng nói khác.
“Thưa các ngài! Luật pháp đang được thi hành, và không một công dân tốt nào lại chống lại pháp luật. Nó được sinh ra để bảo vệ các ngài, bảo vệ tôi và bảo vệ kẻ bị bắt giữ đó”.
“Luật Lynch (Lynch là cách hành quyết người da đen của những người phân biệt chủng tộc Mỹ trước kia) rất xứng đáng với hắn!” một giọng nói hung dữ hét lên. “Giao hắn lại cho chúng tôi, ngài cảnh sát trưởng, chúng tôi sẽ giúp ngài khỏi mất công treo cổ hắn, và quốc gia khỏi mất chi phí để mua giá treo cổ. Chúng tôi sẽ làm việc đó một cách hoàn hảo”.
Năm người đàn ông, mỗi người cầm một khẩu súng lục, giờ đang đứng xung quanh để bảo vệ ông cảnh sát trưởng, và ông ta nói kiên quyết:
“Nhiệm vụ của tôi là đưa người đàn ông này an toàn đến nhà giam, và tôi đang thi hành nhiệm vụ của mình. Nếu có thêm đổ máu ở đây thì trách nhiệm sẽ thuộc về các ngài!” và nhóm cảnh sát rẽ đám đông tiến về phía trước, đám đông từ từ rút dần trước họ.
Green tràn ngập trong sự sợ hãi và lùi lại. Tôi đang đứng ở vị trí có thể nhìn rõ mặt hắn ta. Khuôn mặt đó trông khiếp đảm vì sợ chết. Ông cảnh sát trưởng phải cầm lấy cánh tay Green và đẩy hắn đi. Sau gần mười phút vất vả trước đám đông, nhóm sĩ quan cảnh sát đã đến được hành lang dưới nhà, nhưng ở đó lại có đông người hơn, và họ chắn lấy cửa kiên quyết không chịu lùi bước.
Ông cảnh sát trưởng đã phải nhắc đi nhắc lại lời kêu gọi mọi người có ý thức đúng đắn và công bằng” .
“Kẻ bị bắt sẽ phải chịu sự xét xử của toà án, và luật pháp chắc chắn sẽ thực hiện công việc báo thù”.
“Không, điều đó sẽ không xảy ra!” một người giận dữ đáp.
“Ai sẽ là thẩm phán trong phiên toà đó?” một người hỏi.
“Còn ai, nếu không là thẩm phán Lyman!” một người đáp, vẻ khinh bỉ.
“Chính ông ta cũng là một kẻ bạc bịp!” mấy người cùng hét lên.
“Một thẩm phán cờ bạc gian lận, và một luật sư cờ bạc gian lận! Ô vâng! Luật pháp chắc chắn sẽ báo thù! Ai đã cùng ở trong phòng đánh bạc với Green và Hammond?”
“Thẩm phán Lyman! Thẩm phán Lyman!” những câu nói đáp lại.
“Điều đó sẽ không xảy ra, thưa ông cảnh sát trưởng! Không có luật pháp nào của đất nước xử được vụ này, ngoài luật Lynch mà tên vô lại này phải chịu. Hãy giao hắn cho chúng tôi!”
“Không bao giờ! Nào các anh! Cùng với phạm nhân!” ông cảnh sát trưởng kiên quyết ra lệnh, và cả nhóm lao ra phía cửa, bỏ lại đám đông phản đối và đang phẫn nộ. Những tiếng la ó, gào thét, nguyền rủa và chửi bới hoà thành một âm thanh điên cuồng chói tai, trong đó tôi bỗng cảm thấy máu mình ớn lạnh khi nghe thấy một tiếng súng lục nổ. Rồi những tiếng súng tiếp theo, và sau đó, khi có một tiếng kêu đau đớn khiến cho mọi người cảm thấy rùng mình, làn sóng phẫn nộ bỗnh nhanh chóng im bặt.
“Ai đã bị bắn vậy? Ông ta có chết không?”
Một không khí nín lặng háo hức chờ đợi câu trả lời.
“Đó là kẻ cờ bạc!” Có tiếng trả lời. “Một người nào đó đã bắn Green”.
Những lời rì râm nguyền rủa đối với nạn nhân được nghe thấy quanh đây đó, nhưng thông báo trên đã không được đón nhận với một tiếng kêu hả hê, mặc dù ít có cảm thấy trong lòng vui sướng trước cái chết của Harvey Green.
Đúng như lời thông báo, phát súng đã được nhằm vào tim kẻ cờ bạc bởi một người giấu mặt không bao giờ được biết đến, nhà câm quyền địa phương sau đó cũng không tiến hành một cuộc điều tra kỹ lưỡng để có thể đưa ra được một dù chỉ một đối tượng bị nghi ngờ trực tiếp là nguyên nhân đã gây ra cái chết của hắn.
Khi cuộc điều tra về cái chết đang được thực hiện bên thi thể của Harvey Green, thì Simon Slade xuất hiện. Không ai biết Slade đã ẩn nấp ở đâu trong thời gian đám đông dang tìm ông ta. Vẻ mặt ông ta trông hốc hác, và cặp mắt lo âu ,bồn chồn. Hai vụ giết người xảy ra trong nhà ông ta chỉ trong một ngày đã quá đủ để Slade mất cả hồn vía, hơn thế nữa, sự liên quan của Slade đối với cả hai nạn nhân cũng chính là một lời tự lên án đối với ông ta.
Còn đối với đám đông, cái chết của Green cũng đã thoả mãn cơn khát báo thù của mọi người. Không còn ai nhắc đến Slade như một người đã góp phần dẫn đến sự sa ngã và cái chết của cậu Hammond. Mọi người có cảm nghĩ chung là thương hại nhiêu hơn là tức giận đối với người chủ quán, vì đã thấy được sự lo âu khốn khổ của ông ta.
Có một điều mà tôi nhận thấy là những người uống rượu tại phòng bar đã không dừng lại một lúc nào. Một phần lớn khách uống là những người trong đám đông giận dữ đã tham gia truy lùng Green. Những người này đã bị kích động bởi rượu cùng với sự căm giận, và tôi tin rằng nếu không có những tác động của rượu thì phát súng giết chết Green đã không được bắn ra. Sau sự việc bi thảm đó, và sau khi những cái đầu đã tỉnh táo trở lại – hoặc cố gắng tỉnh táo trở lại – đám đông trở lại phòng bar để tiếp tục uống. Những lời gọi rượu dồn dập khiến cả Matthew và Frank, con trai người chủ qúan, bận luôn tay để pha chế rượu để đáp ứng được các yêu cầu của khách.
Những dòng người theo nhau đổ về quán “Lưỡi liềm và bó lúa” sau khi tin tức về việc tìm ra Green và cái chết của hắn được loan ra, dường như mọi người đàn ông và thanh niên trong phạm vi vài ba dặm xung quanh đều đã được biết tin. Rất ít người đến quán trọ mà không đi thẳng vào phòng bar, và gần như tất cả những người vào phòng bar đều gọi rượu. Một giờ sau cái chết của Green, thi thể của hắn đã được đặt vào trong căn phòng ở liền kề đó, như một sự khẳng định trực quan nhất đối với mọi người trong phòng về những điều họ đã được biết .những tiếng gọi rượu liên tục được đưa ra, và cùng với sự kích thích do rượu cũng tăng theo, những tiếng nói trở nên lớn hơn, và những lời nguyền rủa nhiều hơn, trong khi những tiếng cười dần biến mất.
“Họ đang đánh thức ông ta dậy theo kiểu Ireland đấy” tôi nghe ai đó nhận xét cùng với một tiếng cười man rợ.
Tôi quay sang phía người vừa nói, và vô cùng ngạc nhiên vì thấy đó là thẩm phán Lyman, người đang bị ảnh hưởng bởi rượu nhiều hơn những lần mà tôi nhìn thấy trước đó. Ông ta là người cuối cùng mà tôi muốn nhìn thấy ở đây. Nếu ông ta biết được sự giận dữ mà một số người trong cơn ngất ngây do rượu gây ra đã dành cho mình chỉ trước đó ít lâu thì những lo sợ đó cũng đã bị tiêu tan đi bởi rượu.
“Đúng, đáng đời hắn!” một người nói. “Nếu người ta có một nơi nào đó dễ kiếm chác dưới địa ngục, tôi hy vọng rằng hắn đã làm quen được với nơi đó từ trước”.
“Rất có thể hắn đã ngưỉ thấy được mùi lưu huỳnh dưới đó” thẩm phán Lyman khùng khục cười.
“Đã ngửi! Nếu như quỷ sứ đã không bắt hắn phải tắm trong lưu huỳnh trước đây từ lâu, thì nó đã không thực hiện đúng bổn phận của mình. Nếu tôi biết được trước như vậy thì tôi đã lập tức gửi đến nó lời phản đối rồi”.
“Ha! Ha!” thẩm phán Lyman cười. “Ông đã làm cho câu chuyện trở nên thật là hay”.
“Tôi ư? Một kẻ cờ bạc bịp vô lại! Địa ngục vẫn còn là nơi quá tốt dành cho hắn”.
“Im…di! Đừng để sự nổi giận của ông trở thành báng bổ” thẩm phán Lyman nói, cố lấy lại vẻ nghiêm túc, nhưng những cơ mặt không chịu tuân theo nỗ lực yếu ớt của ông ta.
“Báng bổ! Hừ! Tôi không coi điều đó là báng bổ. Tôi chỉ nêu đúng tên sự việc, như người ta nói, gọi đen là đen, trắng là trắng. Ông tin là có địa ngục đúng không, ngài thẩm phán?”
“Tôi cho là có. Mặc dù không chắc chắn lắm”.
“Ông nên tin chắc vào điều đó!” người kia nói, vẻ đầy ý nghĩa.
“Vì sao?”
“Ồ, vì nếu có địa ngục, và ông không giảm cái trò chơi bài bạc đi, thì rất có thể cuối cùng ông sẽ phải xuống đó”.
“Ý ông muốn nói gì?” thẩm phán Lyman hỏi, vẻ đấu dịu và cố gắng tỏ ra là người có t cách.
“Đúng như những gì mà tôi đã nói” câu trả lời không chút lưỡng lự.
“Ông ám chỉ điều gì thế?” thẩm phán Lyman hỏi, cặp lông mày bắt đầu cau có.
“Không ai cho rằng ông là người thánh thiện” người đàn ông thô lỗ trả lời.
“Tôi chưa bao giờ tự cho là như vậy”.
“Và người ta nói” – người đàn ông trừng mắt nhìn vào mặt thẩm phán Lyman một cách đầy xúc phạm “rằng ông sẽ tìm một nơi để kiếm chác ở dưới địa ngục , cũng như sẽ được thấy ở dưới đó khi mà ông tiếp tục con đường của ông”.
“Ông thật là láo xược!” thẩm phán Lyman kêu lên, vẻ mặt ông ta rất tức tối.
“Hãy coi chừng những gì mà ông nói!” người đàn ông nói, vẻ đe doạ.
“Tốt hơn là ông hãy coi chừng lời nói của mình”.
“Được, tôi sẽ coi chừng” người đàn ông trả lời. “Nhưng…”
“Nguyên cơ làm sao vậy?” một người thứ ba xuất hiện và ngắt lời người đang nói bằng câu hỏi của ông ta.
“Nguyên cớ là do ma quỷ” thẩm phán Lyman nói “nếu không có kẻ gây sự”.
“Ông định nói kẻ đó là tôi hả?” người đàn ông ban đầu đứng bật dậy, bắt đầu cởi áo ngoài ra, giống như một võ sĩ quyền Anh bắt đầu một trận đấu.
“Tôi nói bất cứ kẻ nào định xúc phạm tôi”.
Sự to tiếng giữa hai người đàn ông giờ đã thu hút sự chú ý của mọi người có mặt trong phòng.
“Thật quái quỷ! Đó là thẩm phán Lyman!” tôi nghe một người kêu lên, giọng ngạc nhiên.
“Có phải ông ta ở trong phòng với Green lúc Willy Hammond bị sát hại không?” một người khác hỏi.
“Đúng vậy. Và còn hơn thế, người ta nói ông ta đã đánh bạc với cậu ấy suốt đêm, ông ta và Green cùng chia nhau số tiền tước đoạt được”.
Câu nói cuối cùng vọng rõ đến tai Lyman, ông ta lập tức đứng dậy và giận dữ kêu lên:
“Người nào nói vậy là kẻ nói dối đáng nguyền rủa!”
Câu nói vừa ra khỏi miệng Lyman, một cú đấm đã làm ông ta phải lảo đảo dựa vào tường, gần chỗ ông ta đang đứng. Một cú đấm nữa giáng vào ông ta, và rồi kẻ tấn công nhảy lên thân hình đã bị ngã sóng soài của Lyman, đá vào người, đạp lên mặt, và lên ngực của ông ta một cách vô cùng dã man.
“Giết chết hắn đi! Hắn ta còn tồi tệ hơn cả tên Green kia nữa!”
Một người gào lên, giọng đầy vẻ nhẫn tâm và sát khí khiến máu trong người tôi như đông cứng lại. “Hãy nhớ đến Wily Hammond!”
Cảnh tượng sau đó thật khủng khiếp, với sự hỗn độn của tiếng những cú đấm, tiếng la hét, gào thét và những lời chửi rủa kéo dài trong nhiều phút và chỉ được dừng lại khi có tiếng người kêu lên “Đừng! Đừng đánh hắn nữa! Hắn ta chết rồi!” được lặp đi lặp lại mấy lần. Sau đó cuộc ẩu đả lắng xuống. Lúc đám người giãn ra xung quanh thân hình của thẩm phán Lyman, tôi liếc nhìn qua khuôn mặt của ông ta. Khuôn mặt đó dầm đìa máu, và mọi đường nét đều như đã bị giâm đạp nát nhừ thành một mặt phẳng! Cảm thấy bị sốc trước cảnh tượng đó, tôi vội vã rời căn phòng đi ra ngoài trời và hít vào mấy hơi liền mới lấy lại được nhịp thở bình thường. Khi tôi đứng trước qúan trọ, thân thể của thẩm phán Lyman được mấy người đàn ông khênh ra ngoài và đưa đi về phía nhà ông ta.
“Ông ấy chết rồi sao?” tôi hỏi những người đang khiêng ông ta.
“Không” một người trả lời. “Ông ta chưa chết, nhưng bị thương rất nặng”.
Tiếng cãi lộn đầy giận dữ của những người đàn ông lại một lần nữa nổi lên trong phòng bar. Tôi đã không quay lại nơi đó để tìm hiểu nguyên nhân, hoặc chứng kiến cách hành xử giữa những người đàn ông này, tất cả mọi cơn bốc đồng tồi tệ nhất của họ đều có thể được rượu kích động trở thành những hành động điên cuồng nhất. Lúc tôi đi về phòng mình, một ý nghĩ bỗng chợt nảy ra trong đầu, vì Green đã được tìm ra ở đó, đám người say rượu có thể cho rằng tôi đã giúp đỡ hắn lẩn trốn và hướng sự tức giận sang phía tôi.
“Sẽ không an toàn nếu cứ ở đây”, tôi tự nhủ với chính mình, và thấy nhận định đó là hoàn toàn có lý.
Tuy trong đầu vẫn còn một vài lý lẽ yếu ớt cưỡng lại, nhưng càng ngẫm nghĩ về điều đó, tôi càng thấy rằng nếu cứ ở qua đêm trong căn phòng này thì sẽ là không thận trọng chút nào.
Thế là tôi đi tìm bà Slade để yêu cầu bà đổi cho tôi sang một phòng khác. Nhưng bà Slade không có mặt ở nhà, tôi tìm hiểu và được biết, từ sau vụ sát hại cậu Hammond, bà ấy đã bị mắc chứng cuồng loạn và nhiều lần bị ngất xỉu, hiện nay bà Slade đang ở cùng với cô con gái tại nhà của một người họ hàng, nơi mà bà đã được đưa tới từ buổi chiều.
Tôi đã định yêu cầu chị hầu phòng hco tôi một căn phòng khác, nhưng liền nhận thấy như vậy là không khôn ngoan, vì nếu như sự giận dữ của đám đông bỗng nhiên hướng sang tôi, chị hầu phòng sẽ là người đầu tiên bị hỏi khi họ muốn biết nơi tôi mới đến.
“Sẽ là không an toàn nếu ở lại trong ngôi nhà này”, tôi tự nói với chính mình. “Hai, có lẽ là ba, vụ án mạng đã xảy ra. Cơn khát máu của con cọp đã được kích thích, và ai mà biết được khi nào nó sẽ nhảy chồm lên lần nữa, và theo hướng nào?”
Ngay trong khi tôi đang nói điều này, những tiếng la hét lớn và dữ tợn từ phòng bar bỗng vọng đến. Sau đó là những âm thanh hỗn độn của một cuộc đánh lộn, những tiếng gào thét và chửi rủa. Một cái rùng mình sợ hãi bao trùm lấy tôi, và tôi vội vã chạy xuống dưới nhà để ra ngoài đường. Lúcxgdn hành lang, tôi nhìn vào phòng khách nơi để thi thể của Green. Vừa lúc đó, cửa phòng bar bị đẩy bật mở toang bởi một nhóm người đang hăng máu vì đã bị tống ra ngoài. Tôi chỉ dừng lại một vài giây, và ngay trong thời gian ngắn đó cũng đã thấy được cuộc đánh lộn diễn ra quanh thi thể của kẻ cờ bạc.
“Đây không phải là nơi dành cho mình!” tôi gần như nói to lên, và vội vã rời khỏi ngôi nhà để tìm đến nơi ở của người đàn ông lịch thiệp, người đã cư xử rất tốt với tôi trong những lần tôi đến Cedarville. Ở đó, chỉ cần qua một lời trình bày, tôi đã có được một chiếc giường ấm cúng.
Quả là một sự thay đổi lớn! Tôi cảm thấy như mình vừa thoát khỏi địa ngục để đến một xứ sở thanh bình khi ngồi một mình trong căn phòng yên tĩnh đã được người chủ nhà vui vẻ, mến khách dành cho tôi, và ngẫm nghĩ về những sự việc náo động và khủng khiếp xảy ra trong ngày. Những người gieo gió ắt sẽ phải gặt bão. Nhận thức có tính chất tiên tri này rất rõ ràng, được diễn tả bằng những hình tượng mạnh nhưng còn đẹp quá so với thực tế!
Vào ngày hôm sau tôi phải rời Cedarville. Sáng sớm, tôi ghé qua quán “Lưỡi liềm và bó lúa”. Bão táp đã qua, và mọi thứ đã yên tĩnh trở lại trong cảnh tan hoang. Sự hỗn loạn đã lắng xuống từ nhiều giờ trước, nhưng những vết tích của cơn tàn phá thịnh nộ còn để lại trong thật đáng sợ. Những cửa ra vào, bàn ghế, và cửa sổ đã bị đập vỡ tan nát, thậm chí cả những thanh nẹp bằng đồng vững chắc trang trí quầy bar cũng đã bị những bàn tay rất khoẻ bẻ tung trong cơn bốc đồng bởi vụ án mạng chỉ vì thiếu hung khí để thực hiện những hành động dã man. Những vết máu – kết thành giọt, thành mảng, và thậm chí thành những vũng đã khô – được thấy ở khắp nơi trên sàn phòng, hành lang và nhiều nơi ở ngoài hiên.
Thi thể của Green vẫn được để trong phòng khách. Ở đây cũng có nhiều dấu vết của một trận ẩu đả dữ dội. Tấm gương trong phòng đã bị đập vỡ thành hàng trăm mảnh, và những mảnh vụn vẫn nằm vương vãi khắp trên sàn nhà. Một chiếc ghế, đã được dùng làm hung khí, bị gẫy mất hai chân, nằm chỏng chơ ở góc phòng. Và ngay cả thi thể của người dàn ông cũng đã bị xô đẩy khỏi vị trí ban đứa , cho thấy rằng, ngay cả trong giấc ngủ vĩnh hằng, thi thể của Green dường như cũng cảm thấy được các vụ xung đột do những nguyên nhân mà chính hắn đã góp phần khơi ra. Tấm vải che phủ khuôn mặt Green đã bị kéo lệch về một bên, nhưng không một bàn tay nào dám sửa lại, và cái màu tái nhợt ghê sợ của khuôn mặt được phơi ra ánh sáng, và bị bâu kín bởi lũ ruồi lăng xăng, chúng kéo đến theo cái mùi thối rữa kinh tởm bắt đầu bốc lên. Ngoảnh mặt nhìn đi hướng khác, tôi tiến đến gần xác chết và kéo tấm vải che khuôn mặt đó lại cho ngay ngắn.
Không có người nào trong phòng bar. Tôi đi ra chuồng ngựa, nơi tôi gặp người coi chuồng với cái đầu bị băng bó. Ở quanh một trong hai mắt của anh ta có một vết quầng thâm tím và một vế sẹo màu đỏ trông rất xâu xí.
“Ông Slade đang ở đâu?” tôi hỏi.
“Đang ở trong giường, và có thể nằm đó cả tuần”, ông ta trả lời.
“Vì sao thế?”
“Ngài nhìn cũng đủ biết. Đêm qua đã có ẩu đả quanh đây và ông ấy đã phải lãnh đủ. Thật ngu xuẩn! Nếu như biết giữ mồm giữ miệng thì da thịt ông ấy đã không bị đụng đến. Thế nhưng, khi rượu vào, sự khôn ngoan của ông ấy biến đâu mất. Điều đó đã khiến tôi phải trả giá bằng một bên mắt bị nện thâm tím và một vết thương ở trán, vì làm sao tôi có thể đứng nhìn ông ấy bị giết ngay trước mắt mình!”
“Ông ấy bị thương có nặng không?”
“Tôi nghĩ là nặng. Một mắt đã đi tong”.
“Ô, ghê sợ quá!
“Quả là ghê sợ, và không thể nhầm được”.
“Mất một mắt à?”
“Đúng vậy, thưa ngài. Sáng nay ông bác sĩ đã đến khám cho ông ấy, và cho biết một mắt của ông ấy đã bị lòi ra và bị vỡ. Thực ra, lúc chúng tôi khênh Slade lên gác, vì ngỡ rằng ông ấy sắp chết, thì một mắt của ông ấy đã bị lòi ra khỏi tròng mắt rồi. Chính tay tôi nhét nó trở lại chỗ cũ”.
“Ôi, khủng khiếp quá!” chi tiết liên quan đó khiến tôi thấy phát buồn nôn. “Ông ấy có bị thương ở chỗ nào khác không?”
“Ông bác sĩ cho rằng có một số vết thương trong nội tạng. Lý do là bởi vì ông ấy đã bị họ đá và dẫm đạp lên người, cứ như ông ấy là một kẻ thù hung dữ vậy . Tôi chưa bao giờ chứng kiến những con quỷ khát máu như thế trong đời mình!”
“Tất cả đều do rượu” tôi nói.
“Đúng vậy, thưa ngài, tất cả đều do rượu” ông ta trả lời. “Rượu, chứ không phải là cái gì khác. Đó là nguyên nhân làm cho một số người đàn ông, vốn hiền lành khi tỉnh táo như ngài thấy ở Cedarville, đã hành động giống như những con thú hung dữ. Đúng, thưa ngài, tất cả đều do rượu, chứ không phải cái gì khác. Rượu đã làm tôi bị vỡ đầu và thâm tím cả mắt!”
“Nhưng ông cũng uống rượu chứ?”
“Ồ, đúng. Phủ nhận điều đó cũng vô ích”.
“Rượu đã làm hại ông”.
“Không ai biết rõ điều đó hơn tôi”.
“Vậy vi sao ông lại uống rượu?”
“Ồ, chỉ vi1 điều đó đến rất tự nhiên. Rượu xuất hiện trước mặt tôi ở mọi lúc, mọi nơi, và tự nhiên giống như hít thở không khí vậy, tôi đã thỉnh thoảng uống đôi chút. Khi mà tôi không nhớ đến nó, thì nó nhắc tôi “Sam, chúng ta hãy làm một ly đi!”. Bởi thế, ngài thấy đó, một người như tôi khó mà cưỡng lại được”.
“Nhưng ông không thấy lo ngại khi vẫn tiếp tục như vậy sao? Ông không biết rằng rốt cuộc rồi điều đó sẽ đi tới đâu à?”
“Thì cũng giống như mọi người. Nó sẽ huỷ hoại tôi, hoặc những gì tốt đẹp trong tôi. Rượu và sa ngã, ngài đã biết, chúng đi cùng nhau giống như anh em sinh đôi vậy”.
“Vì sao ông không tìm cách thoát ra khỏi con đường cám dỗ ấy?” tôi hỏi.
“Thật là dễ khi đặt ra câu hỏi ấy, thưa ngài, thế nhưng tôi sẽ phải thoát ra như thế nào đây? Tôi sẽ đi đâu để không còn gặp một quán bar và một người nào đó mời mọc rằng “Lại đây Sam, chúng ta hãy làm một ly nhé?” không thể có cách nào, thưa ngài. Tôi là người trông coi chuồng ngựa cho quán trọ, và tôi không biết nghề gì khác”.
“Ông không thể làm việc ở trang trại sao?”
“Vâng, tôi có thể làm một việc nào đó tương tự. Nhưng khi vẫn còn những quán trọ và phòng bar – mà cứ mỗi dặm trên khắp vùng này lại có đến ba, bốn cái – thì làm sao mà ta có thể tránh được điều đó? Ngài hãy hình dung mà xem!”
“Tôi nghĩ, ông nên bỏ phiếu bầu cho những người có quan điểm ủng hộ Đạo luật Maine (đạo luật được thông qua ở tiểu bang Maine, năm 1851, khởi đầu cho phong trào hạn chế rượu và đồ uống có cồn ở Mỹ) trong kỳ bầu cử sắp tới” tôi nói.
“Nhất định rồi! Tôi đã làm thế trong kỳ bầu cử trước” người đàn ông trả lời, mặt tươi hơn, “và tôi cũng sẽ bỏ phiếu bầu như vậy vào năm tới”.
“Ông nghĩ gì về đạo luật đó?” tôi hỏi.
“Nghĩ về nó! Cầu phúc cho ngài! Tôi là người sùng đạo – tiếc là không phải vậy, dù mẹ tôi rất ngoan đạo, thưa ngài” giọng ông ta trầm xuống và hơi run rẩy “nếu tôi là người sùng đạo, thì tôi sẽ cầu nguyện mỗi đêm và mỗi buổi sáng, ngày hai mươi lần trong suốt cuộc đời, để Chúa đưa đạo luật ấy đến với trái tim của mọi người và chúng ta được áp dụng luật đó. Khi ấy, tôi sẽ có được niềm hy vọng. Thế nhưng tôi đã không được như vậy. Cố gắng tránh xa rượu cũng chẳng được”.
“Có nhiều người uống rượu giống như ông không?”
“Tôi có thể đếm được một, hai tá. Không phải là những người uống rượu phản đối đạo luật Maine mạnh mẽ như một số chính khách. Họ đã loè mọi người về vấn đề này, và đã thành công. Chính họ đâu có biết về những điều xấu xa do rượu gây ra, nhưng lại tin vào câu chuyện phóng đại về sự chà đạp lên quyền công dân của ai đó mà tôi không biết. Còn đối với những người bán rượu, tôi không bao giờ thấy họ có quyền làm giàu bằng cách làm sa ngã những người đáng thương như tôi. Dù vậy, tôi nghĩ rằng chúng ta có quyền được bảo vệ trước những con người đó”.
Một tiếng chuông reo vang báo hiệu c’ một vị khách vừa đến, và người coi chuồng ngựa rời tôi để đi làm công việc của mình.
Cũng trong buổi sáng đó tôi được biết rằng Matthew, người phục vụ quầy bar, và con trai của Slade cũng bị thương khá nặng trong những cuộc ẩu đả tại phòng bar, và phải tạm thời nằm trong giường một thời gian. Bà Slade vẫn tiếp tục ở trong tình trạng đau buồn và nguy kịch. Thẩm phán Lyman ,dù đã bị thương nặng, nhưng được biết là đã qua cơn nguy hiểm.
Ông cảnh sát tới đã có một ngày làm việc bận rộn, và đã bắt giữ nhiều đối tượng có liên quan đến vụ việc xảy ra đêm trước. Ngay cả Slade, người đã không thể còn nhấc được đầu lên khỏi gối, cũng đã phải nộp một khoản tiền bảo lãnh lớn cho sự vắng mặt của ông ta tại toà án. Thật may mắn tôi đã không bị giữ lại để làm cái công việc phiền toái là đứng ra làm nhân chứng, và quá trưa hôm ấy tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy mình đang nhanh chóng rời khỏi nơi đó trên chiếc xe trạm. Đó là hai năm trước khi tôi trở lại làng Cedarville thân thuộc một lần nữa.
0
Đêm thứ tám – Gặt bão
Tôi ở thành phố Washington trong tháng kế tiếp sau đó. Đây là thời gian đang diễn ra phiên họp kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội. Sự liên quan của thẩm phán Lyman trong vụ án mạng của Green và cậu Hammond đã làm cho ông ta bị mang tai tiếng ở Cedarville và trong khắp cả địa hạt mà ông ta đã được bầu ra, khiến đảng của ông ta cũng nhận thấy rằng cần phải khôn ngoan loại Lyman ra, và thay vào đó bằng một ứng cử viên ít có nguy cơ vấp phải làn sóng mạnh mẽ và rất có thể thành công của những người phản đối hơn. Bằng việc làm đó, thêm một lần nữa, họ hy vọng có thể giữ được an toàn trong cuộc bầu cử trước đảng có quan điểm hạn chế rượu, tuy nhiên, đảng này đã thành công trong việc đưa được một người có quan điểm ủng hộ Đạo luật Maine vào cơ quan lập pháp bang. Bởi thế, đây là mùa đông cuối cùng của thẩm phán Lyman ở thủ đô liên bang.
Khi đang ngồi trong phòng đọc của khách sạn Fuller vào khoảng buổi trưa một ngày sau khi đến Washington, tôi nhận thấy một người có khuôn mặt trông quen quen đi vào và nhìn quanh như đang tìm kiếm một ai đó. Trong khi còn đang thắc mắc chưa nhớ ra được ông ta là ai, thì tôi nghe có một người đàn ông lên tiếng nhận xét với người khác đang chuyện trò với ông ta:
“Lại một gã lang thang nữa bị loại khỏi ghế của ông ta trong Quốc hội”.
“Ai thế?” người kia hỏi.
“Còn ai nữa. Đó là thẩm phán Lyman” ông ta trả lời.
“Ô” người kia nói, vẻ lãnh đạm. “Điều đó chưa phải là hậu quả gì lớn. Người đàn ông khôn ngoan đó đã có thêm được bài học quý giá”.
“Ít ra thì ông ta đã giành được khá nhiều phiêu bầu khi à những vấn đề quan trọng còn chưa ngã ngũ”.
“Ông ta đã gặp phải chuyện gì thế?” câu hỏi được đưa ra lạnh lùng.
Người đối diện nhún vai, cặp lông mày nhướn lên, nhưng không đưa ra câu trả lời.
“Tôi rất muốn được biết điều đó” người vừa đưa ra câu hỏi nói tiếp.
“Ngài không nghe nói rằng Lyman sẽ chuỷên giao vị trí của ông ta trong cuộc bầu cử cho những ứng cử viên khác sao?”
“Điều đó có lẽ sẽ tuỳ thuộc vào việc ai là ứng cử viên. Họ chắc phải là những người có những mối liên hệ được và mất đối với vấn đề, không phải chỉ đứng nghe dư luận, và phục vụ lợi ích của mọi người dân, chứ không phải là lợi ích của đảng phái. Thẩm phán Lyman là người hay có quan hệ với những người vận động hành lang, và người ta thường thấy ông ta ngày ngày đi lại với một số người đó. Không còn nghi ngờ gì nữa. Sự vắng mặt của ông ta tại Quốc hội giờ này là nhằm mục đích gặp gỡ với những người đã trả tiền để có được những lá phiếu thông qua dự luật cho phép được sử dụng tiền công quỹ nhằm phục vụ lợi ích của tư nhân hoặc một nhóm người nào đó”.
“Chắc ngài không định nói rằng tất cả những điều vừa nhắc đến đều xác thực chứ?”
“Đúng, rất xác thực! Sự thoái hoá cả về đạo đức và chính trị của người đàn ông này thật là lớn, làm mất mặt cử tri, và làm ô danh cho khu vực của ông ta”.
“Sự có mặt của ông ta tại Washington cũng không được sự hoan nghênh rộng rãi của cộng đồng dân cư mà ông ta đại diện”.
“Không, dù vậy, chúng ta vẫn không thể nhận định về những giá trị đạo đức của một cộng đồng thông qua một người mà họ cử ra làm đại diện trong Quốc hộ. Những đại diện như vậy chỉ cho thấy sức mạnh của các đảng phái mà thôi. ứng cử viên được lựa chọn trong những cuộc họp nội bộ của một đảng không phải bởi vì ông ta là người tốt nhất mà họ có, và cũng không phải vì đó là người thích hợp nhất đối với cơ quan lập pháp trong những vấn đề của quốc gia, mà vì ông ta là người có được nhiều ban bè có thế lực trong số những lãnh dảo đảng, hoặc là người có khả năng giành được số phiếu cao nhất. Đó là lý do vì sao chúng ta thấy ở trong Quốc hội có nhiều người thuộc loại công dân hạng hai như vậy”.
“Một người đàn ông như thẩm phán Lyman có thể bán cả đất nước của ông ta đi, giống như Arnold vậy” (Arnold là vị tướng phản bội trong cuộc Cách mạng Mỹ. Năm 1780 Arnold âm mưu dâng nộp West Point cho quân Anh nhưng thất bại).
“Đúng thế, nếu ông ta có được cơ hội”.
“Ông ta có đánh bạc không?”
“Đánh bạc! Tôi có thể nói là một trong những nghề nghiệp của ông ta. Rất ít đêm tôi nghe kể vậy, mà không thấy ông ta xuất hiện bên bàn đánh bạc”.
Tôi không nghe thêm nữa. Tất cả những chuyện đó đã không hề làm cho tôi ngạc nhiên vì những điều đã biết được về người đàn ông nay khiến cho tôi đã hình dung ra được những điều tồi tệ như vậy.
Trong tuần đó, tôi đã đến Federal Capital, và có nhiều dịp thấy thẩm phán Lyman cả ở bên trong và bên ngoài nhà quốc hội. Trong nhà Quốc hội chỉ là những ý kiến đồng ý và phản đối, kêu gọi về việc đưa ra một chính sách quan trọng, hay một cuộc bỏ phiếu về một dự luật đưa ra những trợ cấp ưu đãi đặc biệt. Trong cuộc bỏ phiếu về dự luật đó, lá phiếu của ông ta, như tôi nhận thấy, luôn nghiêng về phía những người ủng hộ thông qua. Nhiều khi tôi gặp ông ta đang ngất ngưởng đi trên đường, và một lần được dìu đi vào trong toà nhà quốc hội để bỏ phiếu, trong trạng thái say xỉn, khiến cho ông ta phải được hỗ trợ khi đến ghế ngồi. Và thậm chí còn tồi tệ hơn thế, lúc người ta gọi tên thì Lyman đang ngủ và ông ta đã bị lắc người đánh thức nhiều lần mới đủ tỉnh táo để mà bỏ phiếu.
Thật đáng mừng cho khu vực bầu cử của Lyman, vì đó là mùa đông cuối cùng của ông ta ở Washington.trong kỳ bầu cử sau đó, một nhân vật có tư cách xứng đáng hơn đã được thay thế vào vị trí của ông ta .
Hai năm kể từ sau chuyến đến thăm Cedarville, tôi lại đang trên đường đến với cái thị trấn yên tĩnh đó. Khi nhìn thấy chiếc tháp chuông của nhà thờ, và những ngôi nhà lần lượt hiện ra ở chỗ này chỗ nọ, nổi bật hài hoà trên nền màu xanh bát ngát của rừng cây và những cánh đồng cỏ, tất cả những sự kiện náo động đáng nhớ xảy ra trong chuyến đến thăm lần trước lại hiện ra thật rõ ràng trong đầu tôi. Tôi nghĩ về cái chết khủng khiếp của Willy Hammond, và người mẹ đau khổ của cậu, người mà cuộc sống cũng đã ra đi cùng với cuộc sống của Willy, khi chiếc xe trạm lăn bánh qua khu nhà của họ. Ôi, nơi đó đã có thật nhiều thay đổi! Nhìn vào đâu cũng thấy được những dấu hiệu của sự hoang phế, mục ruỗng và đổ nát. Những bờ rào bị đổ sập ở nhiều nơi, những bờ dậu, trước đây đã từng rất xanh tốt và được xén tỉa đẹp đẽ, giờ đây mọc hoang um tùm ở một vài chỗ, nhưng ở những chỗ khác thì còi cọc và xác xơ, tất cả những lối đi đẹp đẽ đầy cỏ dại, và những cây hoàng dương trồng ven lối đi đã bị chết. Khu vườn sặc sỡ, sinh động v vful những bông hoa đẹp ,như tôi đã nhìn thấy lần đầu tiên, bây giờ đang ở trong tình trạng hoang tàn, một nơi kiêm ăn của những con lợn. Chỉ liếc nhìn qua ngôi nhà cũng đã thấy một chiếc ống khói bị vỡ, những viên gạch còn nằm nguyên tại nơi chúng bị rơi xuống đát. Mái nhà phủ đầy rêu với một cành cây to bị sét đánh đổ nằm ngang trên mái hiên nhà, và chỉ còn đợi có một trận gió lớn thổi qua để rơi xuống đất. Một nửa số cây nho leo lên mái cổng đã bị chết, và những cây còn lại không được chăm sóc nên nằm quấn lại với nhau một cách lộn xộn hoặc bị rơi xuống mặt đất. Một cây cột chống cổng đã bị vỡ, và hai trong số những bậcthềm cũng vậy. Những cửa sổ của ngôi nhà đều đóng kín, nhưng cửa ra vào thì vẫn mở, và khi chiếc xe trạm đi qua đó, mắt tôi đã nhìn thấy trong giấy lát một ông già đang ngồi trong căn phòng lớn của ngôi nhà. Ông ta không ngồi gần cửa để tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt, nhưng mái tóc bạc chảy dài đã khiến tôi nhận ra được ông ta không một chút nghi ngờ, đó chính là thẩm phán Hammond.
Quán trọ “Lưỡi liềm và bó lúa” vẫn là điểm dừng của xe trạm ở Cedarville, và chỉ vài phút sau tôi đã nhìn thấy nó. Những sự thay đổi cũng đã được thấy ở đây. Vật đầu tiên thu hút sự chú ý của tôi là cột biển hiệu của qúan, mà trong lần đến đây ban đầu, tám hoặc chín năm về trước, còn đứng đó thẳng như một dây dọi với nước sơn mới, hãnh diện phô ra trên đỉnh cao của nó hình bó lúa vàng và chiếc lưỡi liềm lấp lánh. Giờ đây, chiếc cột biển hiệu của quán đã trở nên dơ dáy, vỡ nát và mòn đi vì bị va quệt thường xuyên với bánh xe và những con ngựa, và bị xiêu vẹo hẳn khỏi vị trí thẳng đứng của nó, dường như là đang hổ thẹn vì sự tàn tạ, dãi dầu mưa nắng, hiện thân cho những gì nó đã trải qua trong ánh nắng mặt trời. Xung quanh chiếc cột là một vũng bùn bẩn thỉu, nơi mà một con lợn đang dầm minh và dũi bùn để tìm kiếm thức ăn. Vài chiếc thùng đựng rượu whisky cũ đã hết rượu nằm ngổn ngang trong mái hiên nhà bẩn thỉu, nơi một người đàn ông trông to lớn, béo húp và thô lỗ đang ngồi tựa vào tường – chiếc ghế của ông ta thì đang nằm lộn ngược – hé một mắt ra để nhìn tôi lúc tôi ra khỏi chiếc xe tram và đi về phía ngôi nhà.
“À, ngài đó phải không?” ông ta hỏi, với giọng nặng nề, khi thấy tôi đến gần, và đứng dậy với vẻ khó nhọc. Giờ tôi đã nhận ra con người đã thay đổi của Simon Slade. Khi nhin ông ta gân hơn, tôi thấy rằng bên mắt mà tôi ngỡ như chỉ đang nhắm lại, đã bị hỏng hoàn toàn. Những cảnh sat mà tôi đã được chứng kiến trong cái đêm gần đây nhất ở trong phòng bar của ông ta giờ đây trỗi dậy sống động trong tâm trí tôi, cái đêm mà một đám đông hung dữ trong hơi men do ông ta cung cấp đã suýt nữa thì giết chết ông ta.
“Rất vui được gặp lại ngài lần nữa, người bạn tri kỷ của tôi. Rất vui được gặp ngài! Tôi… tôi không…như ngài thấy đấy. Ngài có khoẻ không? Ngài khoẻ không?” và ông ta bắt tay tôi với sự thân mật có xen lẫn hơi rượu.
Tôi cảm thấy bị sốc và bực mình. Một con người đáng thương! Ông ta đang sa xuống miệng của chính cái hố đen tối mà ông ta đã đào cho những người khác, chính ông ta đang sa xuống đó, trong khi thậm chí không còn đủ sức mạnh để đấu tranh với số phận nữa.
Tôi gắng gượng nói chuyện với Slade trong vài phút, nhưng đầu óc ông ta đã như bị những đám mây u ám che phủ, những câu hỏi và trả lời của oota chẳng ăn nhập gì với nhau, nên tôi để lại ông ta và đi vào phòng bar.
“Tôi có thể đặt một chỗ ăn nghỉ ở đây trong vài ngày được không?” tôi hỏi một người đàn ông trông có vẻ đần độn và ngái ngủ, đang ngồi trong một chiếc ghế phía sau quầy.
“Tôi nghĩ là được” ông ta trả lời, nhưng không đứng dậy.
Tôi quay người, và đi vài bước về phía cửa, rồi quay trở lại.
“Tôi cần đặt một phòng” tôi nói.
Người đàn ông từ từ đứng lên và đi tới một chiếc bàn ,lần mò một lúc. Cuối cùng ông ta lôi ra một cuốn sổ cũ kỹ, nhàu nát, và ném nó mở ra trên mặt quầy, với một thái độ lạnh nhạt, yêu cầu tôi ghi tên vào đó.
“Tôi cần một chiếc bút, xin ông cho mượn”.
“Ồ được!” và ông ta lại lục lọi trong ngăn bàn, sau một lát, ông ta lôi ra một mẩu bút lông ngỗng và đẩy nó qua mặt quầy về phía tôi.
“Mực đâu?” tôi nói và chăm chú nhìn ông ta vẻ khó chịu.
“Tôi không tin là còn một chút nào” ông ta càu nhàu. “Frank!” ông ta đi tới cửa sau quầy bar để gọi con trai người chủ qúan.
“Ông muốn gì?” một giọng nói thô lỗ, cáu bẳn, trả lời.
“Mực ở đâu?”
“Tôi không biết gì về cái đó”.
“Cậu là người cuối cùng đã dùng nó. Cậu đã viết gì vậy?”
“Chẳng viết gì cả!” tiếng càu nhàu vặc lại.
“Tôi muốn cậu tìm ra nó”.
“Ông hãy tự đi mà tim lấy, và …” tôi không thể nhắc lại câu chửi thề của cậu ta.
“Không sao” tôi nói. “Tôi dùng bút chì cũng được”. Và tôi rút từ trong túi ra một chiếc bút chì. Những chữ được tôi viết ra trong cuốn sổ lem luốc và dính mỡ đó đã không được rõ ràng cho lắm. Chắc hẳn người ta sẽ lúng túng khi muốn đọc được tên tôi. Theo ngày mà những tên khách hàng được ghi trong sổ, tôi nhận thấy rằng mình là người khách đặt phòng đầu tiên trong vòng hơn một tuần qua.
Khi tôi đã ghi xong tên thì Frank khệnh khạng đi vào cùng với một điếu cigar trên miệng và đám khói thuốc quanh đầu cậu ta. Frank đã trở thành một người đàn ông to lớn – mặc dù khuôn mặt cậu ta không thể hiện nhiều nét đàn ông như theo đúng nghĩa của từ đó. Cậu ta có những nét hưởng lạc ghê tởm. Khi nhìn thấy tôi, gò má cậu ta thoáng ửng lên.
“Ngài có khoẻ không?” cậu ta hỏi thăm và đưa tay cho tôi bắt. “Peter” cậu ta quay sang phía người phục vụ quầy bar lười nhác “bảo Jane sắp xếp ngay phòng số 11 cho quý ông đây ngay, và nhắc cô ấy thay vải trải giường nhé”.
“Mọi thứ ở đây có vẻ u ám” tôi nhận xét, khi người phục vụ quầy bar đi ra để thực hiện những công việc đã được giao.
“Quả vậy, một nơi u ám, dù sao đi nữa”.
“Mẹ của cậu có khoẻ không?” tôi hỏi thăm.
Một vẻ lo lắng thoáng hiện ra trên khuôn mặt khi cậu ta trả lời.
“Không có gì khá hơn”.
“Bà ấy vẫn bị ốm sao?”
“Vâng, bà ấy bị ốm khá lâu rồi, và tôi rất tiếc là sẽ không bao giờ khá lên hơn được”. Thái độ của Frank không hoàn toàn là lạnh lùng và lãnh đạm, nhưng trong giọng nói không có mấy cảm xúc.
“Bà ấy đang ở nhà à?”
“Không, thưa ngài”.
Vì cậu ta có vẻ không muốn nói thêm về đề tài đó, tôi đã không hỏi thêm gì nữa. Và Frank cũng mau chóng tìm được lý do để rời tôi và đi ra chỗ khác.
Mọi thứ trong phòng bar không có gì thay đổi, đồ đạc và cách bày biện vẫn như cũ, nhưng tình trạng của chúng thì rõ ràng là đã có những biến đổi lớn. Thanh đồng viền quanh quầy bar, mà trong lần tôi đến đây lần trước còn được đánh sáng bóng, giờ đây đã chuyển thành màu đen ngả xanh lục, và từ đó toả ra mùi gỉ đồng rất khó chịu. Những bức tường bám đầy bụi, khói và những vết ố bẩn, còn những cửa sổ thì để cho ánh sáng chiếu qua một cách yếu ớt, vì kính cửa đã bị phủ một lớp bẩn. Nền nhà dơ dáy. Phía sau quầy bar, trên những chiếc giá vốn được thiết kế để bày rượu, là một đám lộn xộn những chiếc bình cổ thon đựng rượu đã hết hoặc còn một nửa, những hộp cigar, quả chanh và vỏ chanh, những tờ báo cũ, những chiếc ly, một vò rượu bị vỡ, một cái mũ, một chiếc áo gilê bẩn, hai chiếc bàn chải, và những thứ linh tinh không thích hợp khác mà giơ đây tôi không còn nhớ nữa. Không khí của căn phòng xộc lên mùi ẩm thấp.
Ghê người trước những gì thấy ở trong phòng, tôi đi sang phòng khách. Ở đó, những đồ đạc cáu bẩn được sắp xếp có phần gọn gàng hơn, nhưng ta có thể viết được tên mình lên tấm guơng và mặt chiếc bàn phủ đầy bụi. Không khí ở đó thậm chí còn tù đọng hơn cả ở trong phòng bar. Bởi thế, tôi đã không nán lại nơi đây lâu, mà đi sang phòng lớn, và đi ra ngoài hiên nhà để hít thở không khí trong lành.
Slade vẫn dang ngồi dựa vào tường.
“Thời tiết hôm nay thật đẹp” ông ta nói, giọng lẩm bẩm.
“Rất đẹp” tôi trả lời.
“Vâng, rất đẹp”.
“Việc làm ăn có vẻ không thuận lợi đối với ông như vài năm trước” tôi nói.
“Không, ngài thấy đấy…đó là do những người hạn chế rượu đang làm hỏng tất cả”.
“À! Ra vậy sao?”
“Đúng. Cedarville không còn giống như lần đầu ngài đến quán “Lưỡi liềm và bó lúa”. Tôi.. Tg… ngài thấy đấy. Nguyền rủa cái bọn hạn chế rượu! Chúng đã làm hỏng mọi thứ, ngài thấy đấy! Tất cả mọi thứ! Hỏng cả…”
Và Slade cằn nhằn, rồi nói to lên vẫn theo kiểu đó, mà tôi chỉ có thể hiểu được chút ít những gì ông ta nói ra, và trong những điều hiểu được ấy cũng hiếm những câu được mạch lạc. Bởi vậy, tôi để ông ta ngồi lại đó, trong lòng cảm thấy đáng thương cho sự suy sụp của ông ta, rồi đi vào thị trấn để gặp một vài người mà tôi có công việc với họ.
Đến buổi trưa hôm đó, tôi biết được rằng bà Slade đang ở trong một trại tâm thần, nằm cách Cedarville chừng năm dặm. Những sự kiện kinh hoàng xảy ra vào ngày cậu Hammond bị sát hại đã hoàn tất cái việc huỷ hoại tinh thần của bà, vốn đã được bắt đầu từ khi người chồng của bà từ bỏ công việc giản dị, nhưng đáng trân trọng của một người thợ xay để chuyển sang làm chủ quán trọ. Tinh thần bà đã bi .hoàn toàn sụp đổ. Khi biết tin rằng cả Willy và mẹ cậu ta đều đã bị chết, bà Slade đã thét lên một tiếng điên dại, ngã ra và ngất đi. Kể từ đó, sự thăng bằng về tâm thần của bà Slade đã bị huỷ hoại. Trước đó từ lâu, những người quen bà Slade đã nhận thấy rằng tâm thần của bà có sự bất ổn. Frank đã từng được bà yêu quý và coi như là một thiên thần. Cậu ta vốn là một đứa trẻ trong sáng, thông minh, đầy tình cảm, khi cùng với bà chuyển từ ngôi nhà nông thôn đầm ấm của họ, nơi mà mọi ảnh hưởng từ xung quanh đều tốt lành, để đến một quán trọ, nơi ngay cả một thiên thần cũng khó có thể tránh khỏi sự sa ngã. Kể từ sự thay đổi được quyết định bởi người chồng bà kể trên, lòng bà lúc nào cũng u ám. Bà đã nhìn thấy được, ở phía trước chồng bà, đứa con của bà, và chính bà, một cái miệng hố đang mở ra, và linh cảm rằng, chỉ trong ít năm nữa, tất cả trong số họ sẽ bị lao xuống cái hố đen ngòm đáng sợ đó.
Than ôi! Những nỗi lo sợ nhất về sự sa ngã của đứa trai mà bà yêu quý cũng đã xảy đến thật nhanh! Và bà thấy mình bất lực trong mọi cố gắng nhằm cưỡng lại và tìm kiếm cách bảo vệ đứa con cũng như người cha của cậu. Từ ngày quán trọ được mở ra, Frank phải hấp thụ một bâu không khí đã hoàn toàn thay đổi quanh cậu ta, và quá trình suy thoái về nhân cách của cậu cũng bắt đầu. Mùi rượu đã khiến cho Frank cảm thấy phấn chấn một cách khác thường, cùng những đề tài trong các cuộc trò chuyện tại phòng bar có nhiều điều thật mới lạ và mau chóng chi phối những suy nghĩ của cậu, loại trừ dần những suy nghĩ và ấn tượng trẻ thơ, nhân ái, dịu dàng và thánh thiện, đã được người mẹ ra sức truyền thụ và khơi dậy lên trong tâm hồn cậu. Ôi! Sức cám dỗ ma quái của rượu mới ghê gớm làm sao! Và cũng tuyệt vọng làm sao khi một cậu bé như Frank phải sống giữa những cảnh tượng đồi bại, tha hoá trong một phòng bar! Người cha của Frank cũng đã phải suy nghĩ về sự sa ngã của cậu, nhưng ông ta đã không thể làm được gì hơn trước một hậu quả tất yếu đã rõ, và ông ta đã gặt hái được những gì mà mình đã gieo. Với một sự ham muốn làm giàu một cách ích kỷ, ông ta đã lao vào cái công việc kinh doanh sự sa ngã, đồi bại và cái chết, mặc dù không mấy tin rằng ông ta và người thân có thể vượt qua được lò lửa đó một cách bình yên. Những hậu quả từ sai lầm của ông ta tồi tệ đến mức nào trong vài năm qua thi chúng ta đã được chứng kiến.
Flora, tôi được biết, đang ở cùng mẹ cô, và dành cả cuộc đời cho bà. Cái chết của Willy Hammond, người mà cô đã có mối quan hệ tình cảm thắm thiết, cũng đã gần làm cô hoá dại. Kể từ ngày xảy ra thảm kịch kinh hoàng đó, Flora thậm chí chưa bao giờ nhìn lại ngôi nhà cũ của mình. Cô đi cùng với người mẹ bất tỉnh của mình, và từ đó vẫn ở bên cạnh bà, dành cả cuộc đời để chăm sóc bà. Từ trước đó khá lâu, mọi ảnh hưởng của cả Flora và mẹ co đối với người em trai cô đã không còn tác dụng gì. Mặc dù Flora đã tìm mọi cách để níu chân cậu ta, vốn đang trượt nhanh trên con đường sa ngã, nhưng những lời cầu xin nhẹ nhàng, sự trách móc tha thiết, hoặc những giọt nước mắt, đã đều chỉ làm cho cô thêm đau lòng vì thấy rằng không gì giữ được bước chân cậu ta dù chỉ trong giây lát. Dường như định mệnh đã hối hả lôi cuốn cậu vào sự sa ngã. Những thay đổi của người cha cô – vốn đã từng rất âu yếm, hay đùa vui, yêu quý và tự hào về cô con gái của ông ta – là một nỗi đau khổ lớn nữa trong tâm hồn trong sáng của cô gái trẻ. Những ảnh hưởng của cô đối với ông ta, cũng như đối với người em trai, chẳng còn ý nghĩa gì nữa, và ông ta thậm chí còn lảnh tránh cô, cứ như sự có mặt của cô là một sự xúc phạm ông ta vậy. Và, bởi thế, khi Flora rời ngôi nhà không lấy gì làm vui vẻ đó, cô không còn muốn quay trở lại nữa. Thậm chí, khi trí tưởng tượng đưa cô trở về quán “Lưỡi liềm và bó lúa”, cô cảm thấy kinh tởm đối với cái nơi mà cô đã lân đầu cảm nhận được những mũi tên tẩm thuốc độc trong đời, và ở tận đáy sâu trong tâm hồn, Flora đã cầu mong rằng mắt cô không bao giờ còn phải nhìn thấy nó nữa. Ở nơi mà có cuộc sống biệt lập gần như trong tu viện hiện nay của mình, cô muốn tìm kiếm được một sự quên lãng ở trong lòng mình.
Tình trạng bệnh tật của mẹ cô đã làm cho nhiệm vụ của Flora không chỉ mang tính bổn phận đơn thuần, nếu không, bản chất tốt đẹp, không ngĩh đến bản thân trong cô hẳn đã khiến Flora trở lại với ngôi nhà ô uế mà từ đó cô đã ra đi, ở đó, cô sẽ lại sống trong tình trạng khắc khoải để ra sức chăm sóc cho người cha và người em trai cô. Thế nhưng cô vẫn còn chưa phải làm điều đó – một sự hy sinh vô ích.
Buổi tối, tôi lại có mặt trong phòng bar của quán “Lưỡi liềm và bó lúa”. Người phục vụ quầy bar ngái ngủ và thờ ơ giờ đây trông hoạt bát và nhanh nhẹn hơn. Slade, người giờ đây đã phần ra khỏi cơn u mê bởi ảnh hưởng của những ngụm rượu lớn mà ông ta đã uống trong bữa chiều, cũng tỉnh táo hơn, dù tỏ ra không mấy hào hứng chuyện trò. Ông ta đang ngồi một mình bên một chiếc bàn, mắt lơ đãng nhìn quanh phòng. Slade cảm thấy thoải mái hay khó chịu, thì khó ai có thể xác định được. Frank đang là trung tâm của một nhóm đàn ông thô lỗ, những nó nmà trong các câu chuyện khắp quanh phòng đều có thể nghe thấy được họ luôn đầy những lời lẽ thôi bỉ, tục tĩu. Người gây ồn ào nhất, thôi bỉ và tụctĩu nhất trong số đó là Frank Slade. Những lời nói dung tục không ngừng được tuôn ra từ miệng của cậu ta đã không một chút mảy may tác động đến người cha của cậu.
Cuối cùng, cảm thấy bị xúc phạm trước không khí ghê tởm – mà thậm chí không có một nguyên nhân gây kích động nào – đó, tôi đang chuẩn bị rời phòng bar, thì nghe thấy ai đó nói với một người đàn ông trẻ vừa đi vào phòng.
“Gì thế này! Lại cậu đấy à, Nerd? Cậu không sợ ông già cậu sẽ theo dõi như thường lệ sao?”
“Không” người đàn ông đó trả lời, lặng lẽ mỉm cười “ông ấy đã đi dự lễ cầu nguyện rồi”.
“Ít ra thì những lời cầu nguyện của ông ấy sẽ có ích cho cậu” một câu nhận xét nhẹ nhàng.
Tôi quay sang nhìn gần hơn người đàn ông trẻ. Tôi vẫn nhớ được mặt anh ta ,dù ban đầu đã không thể nhận ra. Ngay sau khi tôi nghe có người gọi tên anh là Ned Hargrove, ký ức sống động về một biến cố nhỏ đã xảy ra vài năm trước, và đã gây cho tôi ấn tượng mạnh khi đó, lại trở lại trong tôi. Bạn đọc hẳn chưa quên cuộc thăm viếng của ông già Hargrove đến phòng bar của quán “Lưỡi liềm và bó lúa”, và câu chuyện giữa vài người gân gũi với người con trai của ông khi đó do sự rút lui của cậu ta tạo ra. Sự canh chừng của nó ncha đối với cậu con trai ông ta và những nỗ lực ccoo nhằm cậu ta ra khỏi sức lôi cuốn và cám dỗ của một phòng bar được thấy là đã trở thành vô ích. Người con trai đã nhiều tuổi hơn, nhưng một điều đáng buồn rõ ràng, như trên nét mắt Ned đã thể hiện, sự sa ngã của cậu ta còn nhanh hơn cả tuổi tác.
Những lời trao đổi giữa người đàn ông trẻ này và một người bạn trong phòng mà tôi vừa nói đến đã khiến tôi từ cửa quay trở lại phòng và ngồi xuống một chiếc ghế gần nơi Hargrove đang ngồi. Trong lúc tôi làm việc đó, mắt của Simon Slade chăm chú nhìn Hargrove.
“Ned Hargrove!” ông ta nói ,vẻ cộc cằn “nếu cậu muốn uống, thì hãy tự nhiên, và hãy biến đi nhé!”
“Không phải việc của ông!” người đàn ông trẻ vặc lại ‘ông sẽ được trả tiền rượu một cách tươm tất”.
Phản ứng trên làm cho người chủ quán tức giận, ông ta chửi rủa Hargrove thậm tệ, và nói một câu gì đó , rằng ông ta không muốn nhìn thấy những thằng con trái cứ động ra khỏi nhà là lại phải có “ông bô, bà bô đi theo”.
“Đừng lo!” người đã gọi tên Hargroce đầu tiên kêu lên “ông già cậu ấy đã đi dự lễ cầu nguyện rồi. Tối nay chúng ta sẽ không phải nhìn thấy bộ mặt cao đạo của ông ta ở đây đâu”.
Tôi chăm chú nhìn người đàn ông trẻ để xem những lời nói thô lỗ và bất nhã đối với người cha tác động đến anh ta như thế nào. Một thoáng hổ thẹn xuất hiện trên nét mặt anhta, nhưng tôi nhận thấy sự xúc phạm đối với người cha đã không đủ khơi dậy trong anh ta sự bất bình có thể dẫn đến một phản ứng nào đó. Có thể thế nào khác được, khi anh ta chính là người đầu tiên đã không tôn trọng cha mình?
“Nếu như ông ta có ở dưới địa ngục sâu đến bốn mươi sải,” Slade trả lời “thì ông ta cũng sẽ biết được rằng Nerd đang ở đây, và vắng mặt nửa giờ để đi theo cậu ta. Thực ra, tôi đã mệt mỏi vì đêm nào cùng phải thấy bộ mặt nghiêm nghị, mộ đạo của ông ta lắm rồi. Nếu anh chàng này không có đủ dũng khí để nói với ông ta rằng hãy để tâm vào chính công việc của mình đi, giống như tôi đã làm tới hơn năm chục lần rồi, thì hãy để chính cậu ta tránhxa nơi đây”.
“Vì sao ông không dùng những lời thậm tệ để tống khứ ông ấy đi, Nerd?” một người đàn ông trẻ trong đám họ, trạc tuổi Nerd, nói. “Ông già tôi cũng đã thử làm cái trò đó đối với tôi, nhưng ông ta đã phải nhận thấy ngay rằng tôi mới là người nắm chủ bài trong tay”.
“Đó chính là điều mà tôi sẽ làm ngay trong lần sau, khi ông ấy đi theo tôi”.
“Ồ đúng! Vậy là cậu đã nói điều đó tới hai mươi lần rồi” Frank Slade nhận xét với vẻ chế nhạo, xấc xược.
Edward Hargrove không dám phản ứng lại, mà chỉ trả lời “Chỉ cần ông ấy xuất hiện ở đây tối nay, mọi người sẽ thấy”.
“Không, chúng tôi sẽ lại chẳng thấy gì cho mà xem”, Frank giễu cợt.
“Chẳng phải là trò đùa!” một người kêu lên. “Tôi hy vọng điều đó sẽ được thực hiện, nên giải quyết cho dứt khoát đi”.
“Cậu ấy sợ chết khiếp lão già ấy rồi” một người đàn ông trông có vẻ đang say bí tỉ cười to, ông ta trạc tuổi đáng để Hargrove dành cho một sự tôn trọng như một người cha chú bề trên, và không nghi ngờ gi, mới uống rượu và tham gia vào câu chuyện của nhóm đàn ông thô lỗ, khiến cho ông ta đánh mất đi tư cách của mình, chưa lâu.
“Nào, giờ hãy thể hiện đi!” tôi nghe thấy một giọng nói phấn khích, khẩn trương kêu lên. “Giờ là lúc vui vẻ đây! Giương vây lên với ông ta đi chứ, Ned! Đừng mất tinh thần!”
Tôi quay về phía cửa, và thấy người cha của Edward Hargrove đang đứng đó. Tôi vẫn nhớ rõ vầng trán rộng, sáng sủa, đôi mắt điềm tĩnh , dịu dàng, cặp môi rắn rỏi, tác phong toát lên vẻ cao thượng của ông mà tôi đã một lần được nhìn thấy trước đây, cũng ở chỗ đó, và mục đích chuyến viếng thăm cũng giống như hôm nay. Thân hình ông giờ đã còng xuống thêm một chút, tóc của ông đã bạc thêm, cặp mắt sâu hơn, khuôn mặt ông gầy hơn và những nếp nhăn đã sâu thêm, toàn bộ vẻ mặt ông toát lên một nỗi buồn đến cảm động. Mặc dù dấu ấn khá đậm nét của thời gian và sự chịu đựng, một vẻ kiên định, không nao núng vẫn được thấy rõ trên nét mặt của ông, tao cho khuôn mặt sự trang nghiêm và giành được sự kính trọng một cách mặc nhiên của mọi người. Ông dừng lại, sau khi đã đi vào mấy bước, và cặp mắt kiếm tìm của ông đã nhận ra con trai mình, ông lên tiếng, giọng nhẹ nhàng, nhưng vẫn kiên quyết và đầy sức mạnh tình yêu của một người cha, nghe khó có thể cưỡng lại được.
“Edward! Edward! Lại đây con!”
“Đừng đi” một câu nói hạ giọng được phát ra, và người nói đã quay mặt đi để ông Hargrove không nhìn thấy được môi mình đang nói. Mới chỉ một lát trước, người đàn ông đó đã hùng hồn chỉ trích người cha của Edward, còn lúc này, ông ta còn không đứng lên được trước sự xuất hiện của ông Hargrove.
Tôi nhìn Edward. Anh ta đã ngồi yên không hề nhúc nhích, và tôi biết rằng để có thể phản đối người cha, anh ta sẽ phải trải qua một cuộc đấu tranh không nhỏ với bản thân.
“Edward” không một chút cưỡng ép, không cứng rắn, cũng không hề có một chút ra lệnh nào trong giọng nói của người cha, nhưng sức mạnh to lớn của câu nói ,được thể hiện trong niềm tin của người cha rằng con ông sẽ lập tức rời nơi đó là hầu như không thể cưỡng lại được. Và sức mạnh này đã chế ngự được sự phản kháng. Edward đã đứng dậy, và với cặp mắt nhìn xuống nền nhà, anh ta đang rời đám bạn để di ra thì Frank Slade kêu lên:
“Thằng hèn ngu xuẩn!”
Một luồng sáng giận dữ, hơn là một cái nhìn do mắt người phát ra, được ông Hargrove lập tức hướng về phía Frank khi cái thân hình to lớn của cậu ta đứng bật dậy. Ông không nói một lời, nhưng chỉ cái nhìn của ông cũng đủ làm cho cậu ta sững lại. Frank im bặt, không dám đáp lại cái nhìn khinh bỉ của ông già.
“Giờ hãy nhìn đây!” Simon Slade nói, vẻ tức giận, “như vậy là quá đủ. Tôi đã mệt mỏi vì chuyện này lắm rồi. Tại sao ông không giữ Ned ở nhà? Không ai muốn thấy cậu ta ở đây cả”.
“Ông hãy từ chối bán rượu cho nó” ông Hargrove trả lời.
“Bán rượu là nghề của tôi” Simon đáp một cách trơ trẽn.
“Mong sao ông ăn nói có tư cách hơn” ông Hargrove nói, vẻ buồn rầu.
“Nếu như ông sỉ nhục bố tôi, tôi sẽ cho ông biết tay!” Frank Slade kêu lên và đứng dậy vẻ đe doạ.
“Tôi tôn trọng sự phản ứng theo bổn phận làm con, nhưng hãy hiểu ý tôi “ ông Hargrove bình tĩnh trả lời, “tôi chỉ mong muốn có một nền tảng ý thức tốt hơn trong chuyện này. Tôi chỉ mong sao người làm cha hãy hành xử cho xứng đáng”.
Tôi sẽ không thuật lại lời chửi rủa ghê gớm của Frank Slade để khỏi làm vấy bẩn trang giấy này, cùng với câu chửi được hét lên hơn là bật ra đó, cậu ta lao vào ông Hargrove cùng với nắm đấm. Nhưng trước lúc Frank chạm đến được ông già không nao núng đó, người đứng nhìn cậu ta giống như một người đang nhìn vào mắt của một con thú hung dữ và tự tin rằng con vật không thể chịu đựng được cái nhìn đó – một bàn tay rắn chắc đã chộp lấy cánh tay cậu ta, và một giọng nói dữ dằn vang lên:
“Dừng lại, anh bạn! Nếu động đến sợi tóc nào trên mái đầu bạc đó, thì ta sẽ vặn gãy cổ cậu!”
“Lyon!” cùng lúc Frank kêu tên người đàn ông, cậu ta giơ nắm đấm lên định đánh ông ta. Nắm đấm được giơ lên dừng trong không khí giây lát, rồi lại từ từ hạ xuống bên sườn Frank, và cậu ta đành tự thoả mãn bằng một lời chửi thề và một câu nguyền rủa người đàn ông đó.
“Cậu có thể chửi rủa những gì ở trong tim cậu. Điều đó sẽ không làm tổn thương ai cả, ngoài chính cậu” ông Lyon – người mà giờ đây tôi đã nhận ra là mình đã mấy lần cùng trò chuyện với ông ta trong những lần đến quán trọ trước đây – lạnh lùng trả lời.
“Cám ơn ngài Lyon” ông Hargrove nói “ về sự can thiệp can đảm này. Tôi không dám mong đợi điều gì hơn thế nữa từ phía ngài”.
“Tôi không biết chịu được cảnh một người đàn ông trẻ đánh một người già” Lyon nói, vẻ cương quyết. “Ngoài ra, thưa ngài Hargrove, còn những lý do khác, vì con người ngài là thứ mà vũ lực không được phép động đến ở nơi mà tôi có mặt”.
“Đây là một nơi tồi tệ đối với ngài, Lyon” ông Hargrove nói “ và tôi đã nói như vậy với ngài khá nhiều lần rồi”. Ông nói, vẻ trách móc, giọng thấp xuống. “Vì sao ngài vẫn đến đây?”
“Một nơi tồi tệ, tôi biết chứ” Lyon trả lời, giọng miễn cưỡng, “và tất cả chúng ta đều biết vậy. Nhưng thói quen, thưa ngài Hargrove – còn thói quen. Điều đó thật đáng nguyền rủa! Nếu như những phòng bar đều bị đóng cửa thì mọi chuyện lại khác. Hãy để cho chúng ta được áp dụng đạo luật Maine, và chúng ta sẽ có những cơ hội thay dổi”.
“Vì sao ngài không bỏ phiếu cho những người có quan điểm hạn chế rượu?” ông Hargrove hỏi.
“Tốt hơn là ngài nên hỏi vì sao tôi đã bỏ phiếu cho những người hạn chế rượu “ Lyon nói.
“Tôi ngỡ là ngài đã bỏ phiếu chống lại chúng tôi”.
“Tôi không làm thế. Tôi đâu có mù loà trước lợi ích của chính mình như vậy. Và, nếu như sự thật được biết tới, tôi sẽ không hê ngạc nhiên chút nào nếu mọi người ở trong phòng bar này, trừ Slade và con trai ông ta, đều bỏ phiếu ủng hộ phe của ngài trong quốc hội”.
“Đáng ngạc nhiên” ông Hargrove nói “là với sự ủng hộ của những người uống rượu, chúng tôi đã không đảm bảo được thắng lợi trong cuộc bầu cử”.
“Ngài nên trách điều đó với những người có quan điểm ôn hoà, những người không thấy được những mối nguy và ủng hộ đảng của họ một cách mù quáng” Lyon trả lời. “Chúng tôi đã thấy rõ mặt xấu, và biết được bản chất đáng sợ của nó”.
“Nào, đi! Tôi muốn nói chuyện với ngài, thưa ngài Lyon”.
Ông Hargrove, con trai ông và ông Lyon cùng nhau rời phòng bar. Khi họ đã ra về, Frank Slade lên tiếng.
“Thật là một kẻ nói dối và đạo đức giả đáng nguyền rủa!”
“Ai vậy?”
“Lyon chứ ai!” Frank trả lời, vẻ trơ tráo.
“Tốt hơn là cậu hãy nói thẳng vào mặt ông ấy”.
“Điều đó sẽ là không tốt cho cậu ta” một người trong đám đông nhận xét.
Lúc này, Frank đứng dậy, đi lại nghênh ngang quanh phòng, và lên mặt trong hơi men trông rất đáng ghét. Ngay cả người bố cũng đã nhận ra sự lố bịch của cậu ta và càu nhàu;
‘Đó, Frank, lại thế rồi. Đừng có biến mình trở thành một thằng ngốc đáng thương như vậy!”
Câu nói đó đã bị Frank vặc lại một cách xấc láo, khiến cho bố cậu ta nổi đóa, và lên tiếng đuổi cậu ra khỏi phòng.
“Bố có thể đi ra nếu bố không thích những người ở đây. Còn tôi, thì rất hài lòng” Frank trả lời.
“Ra khỏi phòng này! Mày là thằng vô lại hỗn xược!”
“Tôi không thể, thưa ông bạn tử tế” Frank nói, với một vẻ trịch thượng, lạnh lùng làm cho ông bố cậu ta điên tiết, lập tức đứng dậy, và băng qua quầy bar đến chỗ cậu ta đang đứng.
“Cút ngay! Tao đã bảo!” Slade nói một cách kiên quyết.
“Rất vui lòng được trái lệnh ông”, Frank nói, giọng châm chọc “chỉ là, xin thứ lỗi, điều đó không tiện chút nào”.
Trong hơi men và trong cơn giận dữ gần như mù quáng, Slade giơ tay lên tát vào mặt con trai. Và cái tát đó đã được thực hiện nếu không có một người giữ cánh tay lại, v vngăn ông ta khỏi một cuộc xung đột trái với luân thường đạo lý. Ngay cả những người khách đã tha hoá có mặt trong phòng kh iaa cũng không thể bàng quan đứng nhìn cảnh tượng đau lòng của một cuộc xung đột đổ máu giữa cha và con, vì từ vẻ mặt của Frank khi đó, người ta có thể lập tức đoán trước được sự phản ứng của cậu ta, rằng nếu bàn tay của người cha động vào con trai ông ta, cậu ta sẽ đánh trả.
Tôi không thể ở lại để nghe tiếp những lời xỉ vả ghê tởm mà người cha và người con trai, trong cơn thịnh nộ bất lực của họ, ra sức đổ xuống đầu nhau. Đó là cảnh tượng tha hoá bản chất con người kinh khủng nhất mà tôi từng được chứng kiến. Và bởi vậy, tôi rời phòng bar, lòng vui mừng vì đã thoát khỏi được cái bầu không khí ngột ngạt và những cảnh tượng ghê tởm đó.

0
Đêm thứ chín – Một kết cục đáng sợ
Cả Slade và con trai ông ta đều không có mặt tại bàn ăn trong bữa sáng vào ngày hôm sau. Về phần mình, tôi đã ăn không được ngon miệng cho lắm. Dù điều này là do trạng thái tâm lý của tôi, hay do tình trạng của bữa ăn được bày ra trước mặt, tôi vẫn không ngừng thắc mắc, và rời bầu không khí ngột ngạt, khó chịu của phòng ăn chỉ sau chốc lát đi vào cái nơi vẫn thường hấp dẫn đối với một người đang trong cơn đói đó.
Vài người khách uống đến sớm đã có mặt trong phòng bar – những người đàn ông với những bộ mặt phờ phạc, tái nhợt, họ không thể bắt đầu công việc trong ngày mà không có sự kích thích của rượu brandy hoặc whisky. Họ lê bước đi vào, gọi rượu bằng giọng khẽ khàng, lặng lẽ uống, rồi ra đi. Một cảnh trông thật thê lương.
Khoảng chín giờ người chủ quán xuất hiện. Ông ta cũng lê bước vào phòng bar, và việc làm đầu tiên của ông ta là vơ lấy một bình cổ thon đựng rượu brandy, rót ra gần nửa pint thứ chất lỏng cay nồng ấy và uống cạn. Bàn tay ông ta run rẩy – run mạnh đến nỗi làm đổ rượu ra ngoài cả trong khi rót rượu và lúc đưa ly lên miệng. Ông ta mới thảm hại làm sao! Giờ đây trông ông ta thật sự tệ hại hơn cả ngày hôm trước, khi rượu đã cung cấp một cách giả tạo sinh lực cho cơ thể, sức mạnh cho cơ bắp và vẻ linh hoạt trên khuôn mặt ông ta. Người thợ xay của mười năm về trước và người chủ quán của ngày hôm nay , ai mà có thể nhận ra được họ chính là một?
Lúc Slade đang ra khỏi quầy bar thì một người đàn ông đi vào. Tôi nhậnty một sự biến đổi ngay lập tức xuất hiện trong vẻ mặt của người chủ quán. Ông ta giật mình, vẻ hốt hoảng. Người đàn ông rút từ trong túi ông ta ra một cái gói nhỏ, chọn lấy từ đó một tờ giấy, và đưa cho Slade, người đã nhận nó với một vẻ lo âu, miễn cưỡng, mở ra và đưa mắt đọc lướt qua những dòng chữ ở trong đó. Lúc đó tôi đang quan sát Slade khá gần, và thấy vẻ mặt ông ta đỏ ửng lên. Một vài giây sau, nó lại trở nên tái nhợt – tái nhợt hơn cả trước đó.
“Được thôi, tôi sẽ đến dự” người chủ quán nói, gắng gượng tự trấn tĩnh trong lúc đọc ngốn ngấu những câu trong tờ giấy.
Người đàn ông đó, không phải ai khác , là một nhân viên đại diện của cảnh sát trường, đã nhìn ông ta một cách nghiêm nghị, đúng tác phong nghề nghiệp, rồi đi ra, với những bước đi mạnh mẽ, và thái độ trang nghiêm. Khi ông ta đã ra khỏi cửa ngoài, Slade cũng rời phòng bar.
“Sắp rắc rối rồi đây” người phục vụ quầy bar nhận xét, vừa nói với chính ông ta, vừa nói với những người có mặt , thái độ cởi mở đó của phục vụ quầy bar khiến cho tôi muốn đặt vài câu hỏi với ông ta. Nhưng tôi không cảm thấy điều này là đúng mực cho lắm.
“Cuốicùng thì cảnh sát trường đã sờ đến ông ấy” người phục vụ quầy bar nói thêm.
“Có chuyện gì thế Bill?” một người đàn ông hỏo. Ông ta vừa bước vào, với vẻ lăng xăng, quan trọng , và tựa người một cách thân mật vào quầy. “Jenkins đang lần theo ai thế?”
“Ông già đó” người phục vụ quầy bar trả lời, với giọng hài lòng hơn là lấy làm tiếc.
“Không!”
“Đó là thực tế” Bill, người phục vụ quầy bar còn mỉm cười.
“Về chuyện gì?” người đàn ông hỏi.
“Tôi không biết, và không quan tâm lắm”.
“Ông ấy sẽ phải chấp hành trát hầu toà hay sự thi hành án?”
“Tôi không thể biết được”.
“Thẩm phán Lyman đang kiện ông ấy”.
“Như thế sao?”
“Đúng vậy, và tôi đã nghe thẩm phán Lyman thề rằng, nếu có cơ hội, ông ta sẽ trả đũa ông ấy. Và ông ta là người đã nói là làm”.
“Tôi không bao giờ có thể hình dung được” người phục vụ quầy bar nói “làm thế nào mà ông ấy trở nên mang nợ thẩm phán Lyman nhiều như vậy. Tôi chưa bao giờ biết đến bất cứ vụ giao dịch mua bán nào giữa họ cả”.
“Chẳng qua là chó lại ăn thịt chó thôi, tôi đoán vậy” người đàn ông nói.
“Ý ông định nói gì vậy?” người phục vụ quầy bar hỏi.
“Ông đã nghe về kiểu chó săn đôi chưa?”
“Ồ, có nghe”.
“Kể từ khi Harvey Green phải trả giá, trò kinh doanh lừa lọc đối với những chàng trai khờ khạo của chúng ta , những người bỗng nhiên có nhiều tiền hơn là sự khôn ngoan và thận trọng, đã bị sa vào bàn tay của thẩm phán Lyman và Slade. Họ đã cùng nhau săn mồi, Slade làm chủ xới, trong khi thẩm phán giữ vai trò kẻ hút máu. Nhưng cái trò đó đã bị gián đoạn cách đây gần một năm, và cuộc săn đã đi đến chỗ, như tôi dự đoán, chó đã bắt đầu ăn thịt chó. Và cuộc chơi đã đến hồi kết, nếu tôi không nhầm. Nào, hãy pha cho tôi một ly rượu toddy mạnh. Tôi muốn uống thêm một ly rượu nữa tại quán “Lưỡi liềm và bó lúa” trước khi mọi thứ được hạ màn”.
Và người đàn ông mỉm cười vì câu nói hóm hỉnh của ông ta.
Trong ngày hôm đó, tôi biết được rằng sự việc trên đang ở trong tình trạng không khác mấy so với những gì mà người đàn ông này đã dự đóan. Lyman đã khởi kiện Slade với những tờ giấy ghi nợ, dù không ai được biết bất cứ vụ giao dịch mua bán tài sản nào giữa ông ta và Slade. Về phía Slade, cũng đã không đưa ra được lời biện hộ nào, và vụ kiện đã được tiếp tục theo quy định khi người bị kiện vắng mặt. Và cuộc viếng thăm của người sĩ quan cảnh sát vừa qua là nhằm mục đích thi hành án.
Trong khi đi quanh khắp Cedarville ngày hôm đó, tôi nhận thấy dường như toàn bộ diện mạo của nơi này đã biến đổi. Tôi đã nhiều lần tự hỏi mình xem liệu đó là sự thực hay chỉ là kếtquả của trí tưởng tượng. Sự biến đổi từ vẻ vui tươi, cần kiệm sang u ám và sao nhãng. Tôi thấy như có một sự tĩnh lặng trầm tư trong không khí, một khoảng lặng trong dòng chảy cuộc sống, một sự khoanh tay, hay những điều tương tự, vì trái tim đã bị thất vọng. Khu nhà của ông Harrison – người mà hai năm về trước đã bỗng nhiên bừng tỉnh trước sự xâu xa của việc bán rượu, vì phát hiện ra được chính những người con trai của ông đang gặp nguy hiểm – đã từng là một nơi đẹp đẽ nhất ở Cedarville, tôi đã thường dừng lại để ngắm khu vườn cây và những bông hoa quanh ngôi nhà, những lối đi dạo sạch sẽ với những luống cây xanh tươi và đều đặn ở hai bên, những chỗ ngồi chơi đẹp đẽ và hấp dẫn dưới lùm cây. Không có một nơi nào trong ngôi nhà được nhìn vào mà không thấy sự thể hiện của một bàn tay thẩm mỹ tinh tế. Giờ đây, khi đến đứng phía đối diện với ngôi nhà này, tôi đã không còn hồ nghi gì về một sự thay đổi trên thực tế. Không có dấu hiệu rõ ràng về sự sao nhãng, nhưng khu nhà đã thiếu đi những sự chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo. Những lối đi được quét dọn sạchsẽ, nhưng những luống cây hoàng dương không còn được xén tỉa cẩn thận. Những cây nho và đám cây trước kia vẫn được xén tỉa và buộc lại gọn gàng, thì nay trông như đã không được dao xén tỉa động đến từ nhiều tháng nay.
Lúc tôi dừng lại để nhận ra sự thay đổi, một người phụ nữ đã quá tuổi trung niên từ trong nhà đi ra. Tôi đã giật mình trước vẻ u ám nặng nề bao trùm khắp khuôn mặt bà ta. Chao ôi! Tôi tự nhủ trong lúc đi tiếp, chắc hẳn có biết bao nhiêu hy vọng, từng được ấp ủ trong trái tim người phụ nữ ấy, đã bị cuốn đi theo gió. Như tôi đoán, đó chính là bà Harrison, và , tôi vô tình được nghe sau đó vài giờ, rằng hai người con trai của bà đã bị sa vào nghiệ n rượu, và không chỉ vậy, đã bị lôi kéo vào nạn cờ bạc. Một người mẹ thật bất hạnh! Những đau khổ của cả một đời người đã được dồn nén lại nơi bà chỉ trong vài năm ngắn ngủi.
Tôi đi tiếp, gi nhận ở đây đó, những đổi thay, thậm chí còn rõ ràng hơn những gì được thấy ở khu nhà của ông Harrison. Ngôi nhà đẹp đẽ của Thẩm phán Lyman thể hiện sự sao nhãng hoàn toàn, và một vài ngôi nhà khác – đã quyến rũ tôi bởi cách bài trí, sự gọn gàng và cây cối được chăm sóc trong lần đến Cedarville đầu tiên – cũng vậy. Tại mỗi nơi, tôi tìm hiểu ,và được biết rằng chủ nhân của những ngôi nhà này, hoặc một số thành viên trong gia đình họ, là hoặc đã từng là, những khách hàng hay lui tới quán “Lưỡi liềm và bó lúa”, và cảnh suy tàn đó, dù còn đang tiếp diễn hay đã hoàn tất, đã bắt đầu từ sau khi tụ điểm lôi cuốn trong làng được thành lập.
Một sự tò mò thiếu lành mạnh, gây ra bởi những gì tôi nhìn thấy, đã khiến tôi tiến đến khu nhà của thẩm phán Hammond để quan sát được gần hơn so với hôm trước. Điều đầu tiên mà tôi nhận thấy, khi đến gần ngôi nhà cũ đang suy tàn đó, là những tờ thông báo được dán lên cổng, lên cửa trước ngôi nhà và những cửa sổ. Nhìn gần hơn nữa, tôi đọc được nội dung của những thông báo đó: ngôi nhà đã bị tịch biên, và giờ đây đang được cảnh sát trường đứng ra rao bán.
Mười năm trước, thẩm phán Hammond được coi là người giàu có nhất ở Cedarville, và giờ đây, khu dinh cơ mà ông ta đã từng rất yêu quý và ra sức tô điểm – nơi mà tất cả những người thân yêu nhất trong cuộc đời ông ta đã từng sống ở đó – đang trở nên bị hư hại, biến dạng đổ nát, và sắp bị giật ra khỏi tay ông ta. Tôi dừng lại ở cổng, cúi người nhìn vào và cảm thấy buồn rười rượi trước cảnh hoang phế thê lương ở bên trong. Không nhìn thấy dấu hiệu nào của cuộc sống. Cánh cửa ra vào đã bị đóng lại, những cửa sổ cũng khép, không một luồng khói yếu ớt nào được thấy ở phía trên ống khói màu đen. Hãy thử hình dung về sự phồn thịnh của cuộc sống, vẻ đẹp và niềm vui mới chỉ vài năm trước còn tràn ngập trong ngôi nhà đó của họ, với người mẹ, và cậu con trai đáng quý của bà, người được trông đợi với rất nhiều hy vọng, và người cha, tự hào vì gia sản của ông ta, nhưng không phải là một người bảo vệ khôn ngoan và dáng tự hào của họ.
Chao ôi! Chính bàn tay của ông ta đã tháo then cửa và mở toang nó ra để cho con sói xông vào được nơi ở của một đàn cừu quý giá! Tôi đã thấy tất cả họ đều đang có một cuộc sống đầy tươi sáng, ngay cả khi tôi nhìn thấy họ thì bầu trời đang bắt đầu chuyển sang u ám. Tôi đã nghe được những tiếng ì ầm của một cơn bão từ xa, và cơn bão có sức tàn phá ấy đã nhanh chóng ập đến , huỷ hoại họ một cách thật kinh hoàng. Tôi rùng mình khi nhìn thấy sự hoang tàn, đổ nát còn lại ở những nơi mà cơn bão đi qua. Sự biến đổi thật là lớn!
“Và bao trùm tất cả” tôi tự nhủ “là một người đàn ông, từ bỏ một công việc mang lại nhiều lợi ích và háo hức làm giàu, để kiếm được những đồng tiền đáng nguyền rủa!”
Đẩy cánh cổng mở ra, tôi tiến vào trong sân, và đi quanh ngôi nhà, tiếng những bước chân của tôi vang lên trong bầu không khí cô liêu, tĩnh mịch của một nơi hoang vắng. Hãy lắng nghe! Có tiếng người thì phải?
Tôi dừng lại dỏng tai nghe ngóng.
Âm thanh đó lại vang lên lần nữa, nghe rất rõ, tôi nhìn xung quanh, nhìn lên phía trên, và nhìn khắp nơi, nhưng không nhận ra được dấu hiệu có người ở nào. Tôi đứng yên trong gần một phút. Đúng, lại có tiếng người – một giọng nói yếu ớt, than vãn, như của một người đang trong cơn đau đớn, khổ sở. Tôi tiến đến vài bước, và giờ thì đã phát hỉện được một trong những cánh cửa chỉ đang khép hờ. Lúc tôi đẩy cánh cửa đó mở rộng ra, tiếng than vãn lại vang lên. Lần theo hướng mà tiếng kêu phát ra, tôi đi vào một trong những căn phòng khách rộng rãi. Không khí trong phòng đó ngột ngạt, và tất cả đều tối đen chẳng khác gì đang lúc nửa đêm. Dò dẫm đi tới một chiếc cửa sổ, tôi rút được chốt cửa và đẩy mở toang cánh cửa chớp ra. Ánh sáng chiếu khắp sàn căn phòng đầy bụi bặm, không được trải thảm, và chiếu vào những đồ đạc cáu bẩn trong phòng. Trong lúc đó, tiếng than vãn mà tôi đang lần theo lai vang lên to hơn trong không khí, và lúc này tôi đã nhìn thấy nằm trên một chiếc ghế sofa cũ là thân hình của một người đàn ông. Không phải nhìn đến lần thứ hai, tôi đã nhận ra đó là thẩm phán Hammond. Tôi đặt bàn tay lên người ông ta và gọi tên, nhưng không thấy ông ta trả lời. Tôi gọi lớn hơn, và lay nhẹ ông, nhưng đáp lạ ichỉ là một tiếng than vãn đáng thương.
“Thẩm phán Hammond!” giờ thì tôi gọi to, và với một chút vẻ ra lệnh.
Nhưng điều đó cũng không có tác dụng. Ông già đáng thương vẫn không thức tỉnh khỏi trạng thái ngơ ngẩn, cả tinh thần và thể xác đều đờ đẫn.
“Ông ta đang chết dần!” tôi chợt hiểu. Và lập tức rời ngôi nhà để đi tìm vài người bạn bè để đảm nhiệm việc chăm sóc ông ta trong những giờ phút cuối. Người đầu tiên được tôi thông báo sự việc đã nhún vai, và nói rằng đấy không phải là việc của mình và rằng tôi phải tìm một ai đó có trách nhiệm chăm sóc ông ta. Lời đề nghị với người tiếp theocũng gặp phải câu trả lời tương tự, và ý kiến của tôi với người thứ ba cũng chẳng thành công hơn. Không một người nào được tôi thông báo tỏ ra thông cảm với ông già đã bị suy sụp đó. Cảm thấy bị sốc trước sự vô tâm, tgdn gặp một trong những quan chức của địa hạt, người ,sau khi biết được tình trạng của thẩm phán Hammond, đã khẩn trương tiến hành đưa ông ta đến nhà tế bần ở cách đó mấy dặm.
“Nhưng sao lại đến nhà tế bần?” tôi hỏi, để tìm hiểu mục đích của ông ta. “Ông ấy vẫn còn tài sản mà?”
“Tất cả đều đã bị tịch biên để trả nợ” ông ta trả lời.
“Không còn gì sót lại sau khi những chủ nợ của ông ấy đã được hài lòng hay sao?”
“Có rất ít, nếu có, chủ nợ được hài lòng” ông ta trả lời . “Tài sản đó sẽ không đủ để trả một nửa số tiền theo phán quyết của toà án đối với ông ấy”.
“Và không có người nào đón nhận ông ấy, không có ai trong số những người đã từng vây quanh ông ấy trong những ngày thịnh vượng – dành ra được vài giờ để che chở và an ủi ông ấy trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời bất hạnh đó sao?”
“Sao ông nêu vấn đề đó ở đây?” vị quan chức của địa hạt hỏi tôi một cách ý nghĩa.
Tôi im lặng.
“Những lời thỉnh cầu thiết tha của ông về ông già đáng thương ấy đã không nhận được lời đồng cảm nào ư?”
“Không”.
“Ông ấy, quả thực, đã mất tất cả. Trong những ngày còn sung túc, ông ấy đã có nhiều người được gọi là bạn bè. Hoàn cảnh không may đã khiến tất cả họ rời bỏ ông ấy giống như những chiếc lá rụng khỏi cành cây đã hết nhựa sống vậy”.
“Nhưng vì sao vậy? điều đó quả khác thường”.
“Thẩm phán Hammond là một người ích kỷ, thực dụng. Mọi người chưa bao giờ thực sự quy mến ông ta. Những sở thích quan trọng của ông ấy, là qúan trọ của Slade và quản lý xưởng chưng cất rượu, đã khiến cho ông ấy mất đi một số những người bạn tốt nhất. Sự sa ngã và cái chết kinh khủng của con trai ông ấy – cùng căn bệnh mất trí và cái chết của người vợ - đều được mọi người coi là do lỗi của ông ta , và từ sau khi xảy ra thảm kịch kinh hoàng đó, mọi người dường như trở nên xa lánh ông ấy một cách bản năng. Hàng xóm láng giềng xa lánh ông ấy như xa lánh một kẻ tội phạm. Và đây, kết cục cuối cùng đã đến. Ông ấy sẽ được đưa đến nhà tế bần để qua đời tại đó, một người nghèo được hưởng cứu tế theo luật!”
“Và tất cả” tôi nói một phần là với chính mình “ là do một người, đã lười nhác với một nghề nghiệp lương thiện, chuyển sang nghề bán rượu vì muốn kiếm được thật nhiều tiền “.
“Đúng vậy, hoàn toàn đúng, và không còn nghi ngờ gì nữa” vị quan chức nhận xét với sự nhấn mạnh, và ông ta rời tôi để quay sang chỉ huy công việc chuỷên ông Hammond đến nhà tế bần vừa được bắt đầu.
Trong chuyến đi thơ thẩn quanh Cedarville ngày hôm đó, tôi bắt gặp một ngôi nhà tranh nhỏ, nhưng rất gọn gàng, nằm cách không xa trung tâm thị trấn. Không có thật nhiều hoa và những cây cối ở xung quanh ngôi nhà, nhưng vài cây nho, mấy bông hoa và đám cây mọcxanh tốt quanh cửa ra vào, và dọc theo những lối đi sạch sẽ, tôn thêm cái không khí đáng yêu và dễ chịu riêng của ngôi nhà.
“Ai sống trong ngôi nhà nhỏ dễ mến ấy thế?” tôi hỏi một người đàn ông, mà tôi thường gặp tại phòng bar của Slade. Ông ta tình cờ đi ngang qua ngôi nhà đúng lúc đó.
“Joe Morgan” ông ta trả lời.
“Vậy ư?” tôi hỏi, ngạc nhiên đôi chút. “Và Morgan ra sao rồi? ông ấy sống như thế nào?”
“Rất tốt”.
“Ông ấy không uống rượu nữa chứ?”
“Không. Từ sau khi đứa con gái của ông ấy bị chết, Joe Morgan không bao giờ uống một giọt rượu nào nữa. Sự việc đó làm cho ông ấy tỉnh ngộ, và ông ấy đã không còn uống rượu kể từ đó.”
“Ông ấy đang làm nghề gì?”
“Vẫn làm nghê trước đây của ông ấy”.
“Làm thợ xay?”
“Đúng. Sau khi thẩm phán Hammond bị phá sản, những thiết bị của xưởng chưng cất rượu và máy xe sợi đều đã được bán và đưa ra khỏi Cedarville. Người mua lại xưởng vốn là người có được trái tim biết kính Chúa và yêu quý con người, đã quyết tâm khôi phục lại công việc làm ăn trước đây, và chỉ sau một tiếng chiếc bánh xe cối xay đã được lắp đặt vào vị trí cũ và làm công việc xay ngô và lúa mì để làm bánh mì. Hai người đàn ông duy nhất ở Cedarville có đủ năng lực điều hành cối xay là Simon Slade và Joe Morgan. Người thứ nhất không thể được giao, và người thứ hai đã đứng ra nhận công việc đó như một lẽ đương nhiên”.
“Và ông ấy vẫn không uống rượu và vẫn làm việc chăm chỉ chứ?”
“Như bất cứ người đàn ông nào trong thị trấn này” ông ta trả lời.
Ngày hôm đó, tôi ít khi nhìn thấy Slade hoặc con trai ông ta. Nhưng cả hai người đều cómc trong phòng bar vào buổi tối, và trông cả hai đều có vẻ buồn bã. Sự cùng xuất hiện của họ trong phòng, cả hai đều đã có hơi men, dường như đã làm sống dậy cơn giận đáng buồn của buổi tối hôm trước, tươi mới tưởng chừng như một ngày vẫn chưa hề trôi qua vậy.
Trong phần đầu buổi tối đó, phòng bar có khá đông khách, với những loại người khác nhau. Một phần lớn là những người đàn ông trẻ. Hầu hết trong số họ đã được biết tin Slade đang bị cảnh sát trường sờ tới, và theo những cuộc đối thoại tình cờ mà tôi đã nghe được, thì những thói quen ăn không ngồi rồi và tiêu tiền hoang phí của Frank đã thúcđẩy thêm cuộc khủng hoảng hiện nay của cha cậu ta. Bản thân Frank cũng mang nợ thẩm phán Lyman , còn về khoản gì, thì chẳng khó khăn gì ta cũng có thể suy ra được.
Đã hơn chín giờ, và chỉ có không quá nửa tá người đang ở trong phòng bar vào lúc tôi nhận thấy Frank Slade đi vào phía sau quầy bar lần thứ ba hoặc thứ tư trong tối đó. Cậu ta đang nhấc một bình rượu brandy lên, thì người bố, đã trong trạng thái chuyếnh choáng vì rượu, xông đến và giữ bàn tay con trai ông ta lại. Lập tức, một cái nhìn dữ tợn loé lên trong ánh mắt của gã đàn ông trẻ.
“Buông tay tôi ra!” cậu ta kêu lên.
Không! Tao sẽ không buông ra. Cất ngay chai brandy đi, mày say rồi”.
“Đừng có can thiệp vào chuyện của tôi, ông già!” Frank giận dữ vặc lại. “Tôi sẽ không chịu được thêm bất cứ điều gì từ phía ông nữa đâu”.
“Maỳ đã say như một thằng hề rồi” Slade đáp, giật lấy bình rượu. “Bỏ chai này ra”.
Gã đàn ông trẻ chỉ thoáng ngập ngừng trong giây lát. Rồi đã dùng tay xô mạnh vào ngực người cha khiến ông ta bị lảo đảo mấy bước lùi ra xa khỏi mặt quầy. Trấn tĩnh trở lại, và giờ đây cơn giận dữ đã bốc lên, người chủ quán lao đến người con trai, giơ tay lên để tấn công gã.
“Tránh ra!” Frank gào lên. “Tránh ra! Nếu ông đụng đến tôi, tôi sẽ đánh gụ ông!” đồng thời gã giơ một chiếcchai đã vơi một nửa lên, vẻ đe doạ.
Nhưng người cha của gã đã quá giận dữ nên không còn lo ngại về những hậu quả có thể xảy ra, và xông về phía con trai của mình, đánh vào mặt gã.
Lập tức, gã đàn ông trẻ, điên tiết vì rượu và sự kích động, đã giáng cái chai vào trán của người cha. Vật hung khí nguy hiểm đó đậpvào thái dương của ông ta, tan vỡ thành trăm nghìn mảnh. Ông ta nặng nề đổ vật ra, cho thấy những dấu hiệu đáng sợ của cú đánh. Lúc chúng tôi xúm lại chỗ ông ta và đỡ ông dậy, thì một cái rùng mình ghê sợ lan khắp trái tim của những người có mặt. Một màu tái nhợt chết chóc đã hiện ra trên khuôn mặt mang thương tích của Slade, và từ cổ họng ông ta phát ra những tiếng ằng ặc của một người dang dãy chết! Ba phút sau cú đánh đó, linh hồn Slade đã ở trên trời cao vì vết thương trên cơ thể ông ta.
“Frank Slade! Cậu đã giết chết cha mình rồi!”
Những lời nói nghiệt ngã được thốt lên một cách lạnh lùng. Phải mất một lúc gã đàn ông mới dường như hiểu được ý nghĩa của chúng. Lúc nhận thức ra được sự thật khủng khiếp đó, gã bật ra một tiếng thét kinh hoàng. Gần như ngay lậ p tức sau đó, co ‘tiếng một phát súng lục vang lên. Nhưng ý định tự sát đó không thành. Mục tiêu đã bị làm trệch hướng, và phát đạn đã trúng vào trần nhà mà không gây được thương tích cho ai.
Nửa giờ sau đó, Frank Slade đã bị nhốt trong một nhà giam của địa phương.
Bạn đọc có cần một lời bình luận về kết cục đáng sợ này không? Chắc hẳn là không. Và chúng tôi cũng sẽ không đưa ra một lời bình luận nào như vậy.
0
Đêm thứ mười – Hồi kết của quán “Lưỡi liềm và bó lúa”
Vào ngày hôm sau cái đêm xảy ra thảm kịch kinh hoàng đó, những tờ bố cáo đã được dán khắp thị trấn để thông báo về một cuộc họp lớn của mọi người tại quán “Lưỡi liềm và bó lúa” vào tối hôm đó.
Khi trời vừa chạng vạng tối, mọi người bắt đầu kéo đến. Phòng bar, vốn đã đóng cửa trong suốt cả ngày, giờ được mở toang và thắp sáng choang. Trong căn phòng này, nơi bắt nguồn, thúc đẩy và hoàn tấtcủa bao điều xấu xa, tội lỗi, một đám đông những người đàn ông trông nghiêm trang đã tập trung từ sớm. Trong số họ, tôi thấy có hình dáng thanh nhã của ông Hargrove. Joe Morgan – hay đúng hơn – ngài Morgan – cũng là một trong những người có mặt. Tôi đã không thể nhận ra được Joe Morgan nếu như không có một người đứng gần tôi gọi tên của ông. Ông ăn mặc lịch sự, đứng nghiêm chỉnh, và mặc dù có thêm những nếp nhăn hằn sâu xuất hiện trên khuôn mặt đăm chiêu của Joe, nhưng mọi dấu vết một thời sa ngã trước đây của ông đã không còn nữa. Trong lúc tôi quan sát, Joe Morgan đã đứng dậy và nói vài lời với đám đông, đề nghị cử ông Hargrove làm người chủ trì cuộc họp. Mọi người có mặt đều đã nhất trí với ý kiến đó.
Tiếp nhận vai trò của mình, ông Hargrove đã phát biểu ngắn gọn về biến cố vừa xảy ra.
“Mười năm trước” ông nói, giọng hơi run rẩy khi mới bắt đầu, nhưng càng nói giọng ông càng trở nên rắn rỏi hơn “không có nơi nào trong hạt Bolton hạnh phúc hơn ở Cedarville. Giờ đây, những dấu vết của sự huỷ hoại đang được thấy ở mọi nơi. Mười năm trước, có một người thợ xay tốt bụng, chăm chỉ ở Cedarville được mọi người quý mến, và hiền lành như một đứa trẻ. Giờ đây thi thể to lớn và bị biến dạng của ông đang nằm trong căn phòng đó. Cái chết của ông thật nghiệt ngã, và được gây ra bởi bàn tay của chính người con trai ông!”
Những lời của ông Hargrove được nói ra chầm chậm, rõ ràng và nhấn mạnh. Không một người nào có mặt lại không cảm thấy một cái rùng mình lan khắp các dây thần kinh trong người khi những lời cuối cùng của ông được nói ra bởi một giọng thì thào khàn khàn.
“Mười năm trước” ông nói tiếp “người thợ xay đó đã có một người vợ hạnh phúc, và hai đứa con thơ ngây, trái tim đầy niềm vui. Giờ đây, người vợ của ông đã bị mất trí và đang ở trong một trại tâm thần, và con trai ông đang ở trong một xà lim dành cho những người phạm tội ác nghiêm trọng, vì đã giết cha mình!”
Ông Hargrove dừng lại một chút, trong khi những người tham dự cuộc họp chăm chú đứng nhìn ông, vẻ chờ đợi.
“Mười năm trước” ông tiếp tục “thẩm phán Hammond là người giàu nhất ở Cedarville. Ngày hôm qua, ông ấy đã được đưa đến nhà tế bần, như một người cùng khổ không có bạn bè, và hôm nay ông ấy đã được chôn cất mà không có nước mắt tiễn đưa như một người cùng khổ! Mười năm trước, vợ của ông ấy đã là một người mẹ tự hào, âu yếm, tràn đầy hy vọng của một người con trai đầy hứa hẹn. Tôi không cần phải kể Willy Hammond là người như thế nào. Tất cả mọi người ở đây đều đã biết rõ cậu ấy. Chao ôi! Điều gì đã huỷ hoại trí tuệ của người phụ nữ cao quý ấy? vì sao bà ấy phải khổ đau? Giờ đây, bà ấy đang ở đâu? Willy Hammond đang ở đâu?”
Có tiếng nức nở khe khẽ vì bị kìm nén của một người đáp lại người phát biểu.
“Mười năm trước, quý ngài đây” ông chỉ tay vào một người đàn ông có vẻ mặt u buồn, và gọi tên ông ta “có hai người con trai – những chàng trai hào hiệp, tinh thần mạnh mẽ, và đầy hứa hẹn. Giờ đây họ ra sao? Ngài không cần phải trả lời. Mọi người đều đã biết quá rõ lai lịch của họ và những đau khổ của ngài. Mười năm trước, tôi có một người con trai dễ thương, tốt bụng, đầy tình cảm, nhưng yếu đuối. Có trời chứng giám, tôi đã tìm cách che chở và bảo vệ nó như thế nào! Nhưng nó cũng đã bị sa ngã. Những mũi tên của sự huỷ hoại đã làm u ám bầu không khí cái thị trấn đã từng một thời bình yên và hạnh phúc của chúng ta. Và còn ai được an toàn? Không có ai cả, trong số những người thân của tôi, và cũng không có ai trong những người thân của các ngài!
Chúng ta có nên tiếp tục nữa không? Có nên tiếp tục lần lượt nêu ra và ôn lại trước mọi người tất cả những nạn nhân đáng thương đã bị sa ngã ở Cedarville trong mười năm qua không? Thời gian không cho phép. Phải mất nhiều giờ để liệt kê được hết! Không, tôi không muốn làm cho bức tranh của chúng ta đen tối thêm nữa. Có trời chứng giám, nó đã quá đủ đen tối rồi! Nhưng nguồn gốc sâu xa của những điều xấu xa này là gì? Điều bí mật đáng sợ ấy nằm ở đâu? Ai hiểu rõ được căn bệnh này? Bệnh dịch hạch đang lơ lửng ở xungquanh chúng ta – nó lẩn khuất trong bóng đêm, và huỷ hoại chúng ta giữa thanh thiên bạch nhật. Nó đang giết chết những đứa con lớn trong mỗi gia đình của chúng ta, và những tiếng khóc than thống khổ đang lan xa trong từng ngọn gió. Chẳng lẽ không có một phương thuốc nào sao?”
“Phải có chứ! phải có phương thuốc nào chứ!” nhiều giọng nói đáp lại hưởng ứng.
“Hãy coi đó là bổn phận của chúng ta, vậy thì hãy tìm kiếm và thực hiện điều đó ngay trong đêm nay”, vị chủ toạ trả lời và ngồi xuống.
“Và đây là phương thuốc” Morgan nói tiếp, sau khi ông Hargrove đã ngồi xuống. “Cái việc kinh doanh đáng nguyền rủa này phải được chấm dứt đối với chúng ta. Chúng ta phải cắt đứt mạch nguồn, nếu muốn ngăn chặn dòng chảy. Nếu ta muốn cứu được những con người trẻ tuổi ,những con người dễ tổn thương và những con người vô tư trong trắng – như Chúa Trời đã trao bổn phận bảo vệ họ cho chúng ta – thì chúng ta phải che chở họ thoát khỏi sự cám dỗ. Cái xấu rất mạnh, xảo trá, hung dữ và linh hoạt trong việc theo đuổi mục đích của chúng. Những người trẻ tuổi, những người dễ tổn thương, những người vô tư nhất trong trắng không thể chống lại sự tấn công của nó hơn con cừu chống lại chó sói. Họ sẽ bất lực, nếu chúng ta bỏ mặc họ dưới sức mạnh của cái xấu. Hỡi những người đàn ông và anh em đạo hữu! Với tư cách một người đã từng sa ngã, với tư cách một người đã từng ngày ngày cảm thấy và run sợ trước những mối nguy hiểm trong mỗi bước đường, tôi kêu gọi mọi người hãy kết thành một dòng suối đầy nhiệt huyết để mang những điều tốt đẹp đến với những gì đã bị huỷ hoại. Hỡi những người cha! Vì những đứa con trẻ tuổi của chúng ta, hãy đứng dậy và ra tay. Hãy nghĩ tới Willy Hammond, Frank Slade – và hàng tá những cái tên khác nữa mà tôi có thể nhắc lại – và đừng chần chừ gì nữa. Chúng ta hãy giải quyết, ngay trong đêm nay, để từ nay về sau việc kinh doanh xấu xa này sẽ được chấm dứt ở Cedarville. Chẳng lẽ không phải hầu hết mọi người chúng ta đều mong muốn một biện pháp như vậy hay sao? Và quyền hay lợi ích của những ai sẽ có thể bị ảnh hiểu gbj một sự hạn chế như vậy? tóm lại, ai là người có quyền gieo rắc những tệ nạn và cái chết trong cộng đồng chúng ta? Sự tự do làm điều đó đã gây đau khổ cho cả người gieo rắc cũng như những người trở thành nạn nhân của ông ta. Các ngài muốn có bằng chứng ư? Hãy nhìn vào Simon Slade – người thợ xay hạnh phúc, tốt bụng và Simon Slade – người chủ quán trọ. Ông ấy đã thu được những gì từ sự tự do mang đến điều tai hại cho những người xung quanh? Không! Không! Vì vậy, nhân danh Thượng Đế, hãy để cái việc kinh doanh bất lương này chấm dứt! Để thực hiện được điều đó, tôi đề nghị những biện pháp sau đây:
Những người dân Cedarville quyết định từ nay về sau, rượu sẽ không còn được bán trong phạm vi cộng đồng của chúng ta.
Quyết định thêm nữa, rằng tất cả số rượu ở trong quán “Lưỡi liềm và bó lúa” sẽ được huỷ bỏ ngay lập tức và rằng một quỹ tiền sẽ được tạo ra để thanh toán cho những người chủ nợ của Simon Slade, vì họ có quyền yêu cầu bồi thường.
Quyết định rằng, trong việc đóng cửa những nơi bán rượu khác, mọi quyền sở hữu của những người chủ tài sản sẽ phải được tôn trọng theo đúng những quy định của pháp luật.
Quyết định rằng, với sự chấp thuận của những người có thẩm quyền, tất cả rượu được bán ở Cedarville sẽ được huỷ bỏ, những người bán rượu sẽ được bồi thường bằng tiền, theo đúng giá trị của số rượu, từ một quỹ đặc biệt được tạo ra vì mục đích đó”.
Dù vẫn còn sự phản đối một cách trơ tráo của một hai người đàn ông, những biện pháp nêu trên đã được ủng hộ bởi những lời hoan hô nhiệt liệt. Một nhóm người ủng hộ hạn chế rượu, nhưng đưa ra lý lẽ yếu ớt cho rằng không có mục đích tốt đẹp nào được đảm bảo bằng những phương tiện sai trái.
Ở Cedarville đã có những người có thẩm quyền, được giao trách nhiệm đưa ra các quy định trong cộng đồng, có quyền xác dịnh cá nhân được hay không được theo đuổi những công việc kinh doanh nào. Và, thông qua những người có thẩm quyền này, họ phải hoạt động theo đúng quy định.
Vẫn còn một số ý kiến khác nhau về điểm này. Nhưng ý thức đúng đắn và lý trí đã thắng thế. Với một chút điều chỉnh, quyết định đã được thông qua, và những người có khuynh hướng cựu hữu đã đành phải bằng lòng với quyết định đã được điều chỉnh đó, để huỷ bỏ lập tức tất cả rượu được tim thấy trong quán, và điều đó đã được thi hành ngay tức khắc. Sau đó đám đông giải tán ra về, mọi người đều cảm thấy trong lòng nhẹ nhõm hơn, và mang những hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho cái thị trấn của họ.
Vào ngày hôm sau, khi bước lên xe trạm để rời khỏi Cedarville, tôi nhìn thấy một người đàn ông đang bổ một chiếc rìu sắt vào cái cột cũ mòn, đã tàn tạ và xiêu vẹo, mà trong nhiều năm qua đã mang ở trên đỉnh cao của nó tấm biển hiệu “Lưỡi liềm và bó lúa”, và đúng vào lúc người xà ích quát ra lệnh cho những con ngựa lên đường, cái biển hiệu dối lừa từng đã mời gọi biết bao con người bước vào con đường sa ngã đó cũng đổ sập xuống đất.

Hết
Dịch xong ngày 12/1/2007
(ngày 25 tháng Chạp năm Bính Tuất)
Vũ Anh Tuấn

0
Đã mang vào thư viện

Cảm ơn tumbleweed nhiều

Chúc Tumb luôn vui







📎 merci7
0