Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

MAI-CƠN PHA-RA-ĐÂY ----- HẾT 🔒

14 trả lời, 3.290 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-02 07:28:47welcom1985>
Sau khi hoàn thành xong "Gió vĩnh cửu" , đi tìm mấy cuốn khác đánh máy tiếp , vào các tiệm sách cũ lượm được khoảng 7 cuốn ( =60.000đ (T.T) ) ..... thấy thích cuốn này nên đem về ngâm cứu .....
vì cuốn này ngắn nên chắc chỉ trong một tuần là xong thôi ....
nhưng vì sợ mình làm chậm nên làm các bạn mất hứng ....
mình pos t link dow nload file scan cho các bạn xem trước ....định dạng djvu nhé ( mình ghét hổng thích xài định dạng pdf ) nên các bạn muốn đọc hãy cài thêm djvu viewer là được ( chất lượng djvu và pdf là xêm xêm nhau , nhưng dùng để chia sẽ online thì djvu nhẹ hơn pdf_thiên hạ bảo thế)
link download sách đây : http://www.mediafire.com/?98zdq5dopjizfdm
LINK CHƯƠNG TRÌNH DÙNG ĐỂ ĐỌC FILE LOẠI DJVU : http://sourceforge.net/projects/windjview/

MÌNH KHÔNG BIẾT TRÊN TRANG VNTHUQUAN CÓ QUYỂN NÀY CHƯA , NẾU CÓ RỒI THÌ MỌI NGƯỜI PM CHO TUI BIẾT ĐỂ KHỎI PHẢI MẤT CÔNG MỔ CÒ NHÁ !! THANK !
CÒN BÂY GIỜ THÌ ĐỂ CHỦ NHẬT HẴNG GÕ , MỆT GÒI !!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-02 19:23:30Ct.Ly>
Chào welcom1985 nhiều nha

Tên truyện , nếu welcom xem dùm trong thư vện có chưa

vì CtLy thấy tên truyện lạ quá,

nếu có tên tác giả cũng dễ tìm hơn á

Michael Faraday (1791 - 1867)


Năm mới vui vẻ nha Welcom [sm=comp.gif]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-02 19:23:49Ct.Ly>
GIỚI THIỆU


Nhà bác học Đức Hem-hôn-xữ đã từng nói : “ Chừng nào loài người còn sử dụng điện, thì chừng đó mọi người còn ghi nhớ công lao của Mai-Cơn Pha-ra-đây “.
Chúng ta khó có thể tưởng tượng đựợc nhà bác học Anh vĩ đại đó, - Mai-Cơn Pha-ra-đây vốn chỉ là một người thợ đóng sách.
Nhưng nhờ có lòng hiếu học, một ý chí kiên cường mà dần dà từ công việc một người phụ tá ở phòng thí nghiệm, Mai-cơn Pha-ra-đây đã trở nên một nhà bác học lớn - có nhiều đóng góp vào khoa học.
Không hề chú ý đến tiền tài, danh vọng, Mai-Cơn Pha-ra-đây đã làm việc đến hơi thở cuối cùng. Cả cuộc đời nhà bác học vĩ đại là một tấm gương sáng cho chúng ta.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-02 19:26:02Ct.Ly>
PHẦN 1
THỜI NIÊN THIỀU

CHƯƠNG I
THỜI HỌC SINH NGẮN NGỦI


Trời đã tối mịt. Bà Mác-ga-rít đang lúi húi bày bàn ăn trong căn bếp chật hẹp thì Mai-ca chạy vào rối rít nói :
- Con lại được khen, mẹ ạ !
Bà mẹ quay lại nhìn con, âu yếm :
- Thế thì vui quá ! Tiếc rằng hôm nay mẹ không chuẩn bị được món gì mừng con.
Chị Bét-xi nghe thấy thế liền cười :
- Chẳng bù với năm xưa khi em còn học cô giáo Xmít. Chỉ có một chữ “R” không sao đọc uốn lưỡi lên được mà em bị đòn đến tím cả lưng ...
Mai-ca cũng cười, phô hai hàm răng đều và trắng :
- Năm ấy em mới có chín tuổi. Cô Xmít lại dữ đòn quá ! Bây giờ được thầy giáo Uyn-lơ dạy giỏi, lại chẳng hay đánh học trò. Em chỉ ước gì được học thầy giáo mãi ...
Ông Giêm-xơ vừa đi làm về, cởi chiếc áo treo vào một cái đinh ở góc nhà, thở dài nói :
- Chỉ sợ cái ăn rồi cũng không có, con ạ ! nói chi đến chuyện học hành.
Bà Mác-ga-rít mang một bát cháo kiều mạch đặt xuống bàn, trước mặt chồng và lo lắng hỏi :
- Có chuyện gì thế, hả ông ?
Ông Giêm-xơ yên lặng húp nốt bát cháo hồi lâu rồi thong thả nói :
- Nghe đâu lão Bô-na-pác đang gây sức ép với các chính phủ trên lục địa, cấm không cho buôn bán với nước ta. Chúng ta đang đứng trước nguy cơ thiếu lương thực và chất đốt.
Anh Rô-bớc cũng đặt bát xuống bàn, nói tiếp :
- Hôm nay đi làm con đã nghe có tin đồn : bánh mì sắp bán theo khẩu phần hạn chế rồi đấy !
Mai-ca ngước mắt nhìn bố và hỏi :
- Nhưng lão Bô-na-pác là ai mà cấm được người ta buôn bán hả bố?
Ông Giêm-xơ trả lời :
- Lão Bô-na-pác là hoàng đế nước Pháp, cũng giống như vua Gioóc-giơ đệ nhị của chúng ta ấy. Lão ta đánh thắng tất cả các nước trên lục địa châu Âu và đang đe dọa vượt biển sang đánh cả chúng ta đấy.
Bà Mác-ga-rít cắt một khoanh bánh mì đen đưa cho chồng và hỏi :
- Thằng Mai-ca nhà này không được đi học thì biết cho nó theo nghề gì bây giờ ?
Ông Giêm-xơ thở dài :
- Tạng người nó yếu ớt, không theo nổi nghiệp này. Nghề thợ rèn của bố con tôi vất vả lắm ! Cũng vì thế nên bấy lâu nay tuy túng thiếu nhưng tôi vẫn cố cho nó đi học, may ra kiếm được việc gì hợp với sức lực nó hơn. Nhưng rồi đây ai mà biết được thế nào ...
Mai-ca phụng phịu :
- Bây giờ con thích đi học cơ !
Anh Rô-bớc gật đầu :
- Cả nhà đều mong muốn như vậy, em ạ ! chỉ trừ trường họp bất đắc dĩ, còn thì nhất định cố lo cho em được đi học.
Thấy Mai-ca ngước cặp mắt đen láy lên nhìn mình, vẻ tươi tỉnh, anh Rô-bớc khẽ búng vào mũi chú bé một cái và cười :
- Bây giờ cu cậu thích học. Nhưng năm xưa thì anh cứ phải thường xuyên dắt một thằng bé em trốn học đến lớp cô giáo Xmít.
Chị Bét-xi vội giới thiệu :
- Mai-ca vừa được thầy giáo Uyn-lơ khen đấy !
Chú bé hớn hở :
- Bài luận của em được đem ra đọc trước lớp. Thầy giáo khen là bài làm có nhiều ý hay, giàu tưởng tượng.
Anh Rô-bớc cười, hỏi :
- Chắc em lại tưởng tượng cưỡi một tấm thảm bay đi tìm hạnh phúc ?
Mai-ca ngượng nghịu, lắc đầu :
- Không phải ! Nghe thầy giáo giảng về ông Cri-xtòp Cô-lông vượt biển đi tìm đất mới, em thích quá ! Em cũng nghĩ ra một chuyến vượt biển trên một chiếc tàu do em làm thuyền trưởng và em đã tìm ra một hòn đảo chưa ai biết ở giữa Đại Tây Dương ...
Ông Giêm-xơ bật cười :
- Con thật là ngốc, ồf Đại Tây Dương bây giờ còn hòn đảo nào chưa có vết chân người châu Âu đi tới nữa ! Con cứ viển vông những chuyện trên trời dưới biển, chẳng đâu vào đâu cả. Giá như con nghĩ được việc gì kiếm ra bánh mì để ăn cho no bụng lại hay hơn.
Mai-ca đỏ mặt lên :
- Bố không biết chứ, ông Cri-xtốp Cô-lông trong khi không có một iu dính túi mà vẫn nghĩ tới lúc có một đội tàu vượt biển về phía tây tìm đường tới Ấn Độ. Ai cũng cho là chuyện viển vông, ấy thế mà ông ấy đã tìm ra châu Mỹ đấy.
Bà Mác-ga-rít cười, hiền hậu :
- Cứ để cho con nó ao ước một chút cũng không sao, ông ạ ! Miễn là ngày nào chúng ta còn lo cho nó ăn học được thì nó phải cố học cho giỏi. Bao giờ hết cách, nó phải tự kiếm ăn thì tự nhiên nó sẽ hết viển vông. Người nghèo chúng ta ai mà chẳng thế !
Ông Giêm-xơ yên lặng, và nhún vai dường như không tin rằng ở trên đời có những câu chuyện viển vông lại trở thành sự thực. Nhưng chú bé Mai-ca thì hoàn toàn tin vào những điều mình đã học và nghĩ ra. Chú bé thả mặc cho tâm trí non nớt của mình bay bổng vào cõi tưởng tượng ngây thơ, và phút chốc đã quên cả nỗi đe dọa phải thôi học vì nghèo túng mà cha chú vừa nói tới.
Ông giáo Uyn-lơ ngạc nhiên khi thấy Mai-ca đến lớp muộn giờ. Cậu học sinh chăm chỉ và ngoan ngoãn ấy xưa nay không bao giờ đi học muộn. Ông lại càng ngạc nhiên khi thấy Mai-ca vào lớp, tay không mang cặp sách, vẻ mặt rầu rầu. Ông vội hỏi :
- Có chuyện gì vậy, Mai-ca ?
Mai-ca nghẹn ngào, nói không rõ tiếng :
-. Thưa thầy, con đến xin phép thầy thôi học ...
Ông giáo nhắc cặp kính trắng ra khỏi mắt, chăm chú nhìn cậu học trò mà ông rất thương yêu :
- Thế nào ? Cha mẹ con không thể nuôi cho con ăn học được nữa ư?
Mai-ca cúi đầu, đứng yên không nói. Bỗng chú bé òa lên khóc nức nở, như không thể nào giữ được nỗi đau khổ mà bấy lâu chú cố nén chặt trong lòng. Ông giáo Uyn-lơ xúc động rời bục giảng, bước lại gần cậu học trò nghèo đã năm lần bảy lượt bỏ học, và bây giờ thì chắc sẽ phải thôi học hẳn. Ông đặt tay lên đôi vai gầy gò của Mai-ca, và nói :
- Hãy dũng cảm lên, Mai-ca ! cần phải giữ vững lòng tin vào cuộc sống. Con hãy nói cho thầy rõ đầu đuôi câu chuyện đi nào.
Dường như những đòng nước mắt trào tuôn đã làm vợi bớt nỗi xúc động ngập tràn, Mai-ca dần dần lấy lại được bình tĩnh. Chú lấy khăn tay lau nước mắt và buồn rầu nói :
- Bố con dạo này không có việc làm đều đặn. Con phải nghĩ học để trông đứa em nhỏ cho mẹ con đi giặt thuê, kiếm thêm tiền nuôi sống gia đình. Bố con bảo, lần này thì con thôi học hẳn, sang năm lớn thêm chút nữa sẽ đi học nghề đóng sách.
Ông giáo Uyn-lơ mỉm cười, khẽ vuốt mớ tóc lòa xòa trên trán Mai-ca :
- Đi học nghề thì có gì mà phải khóc ? Ở đời này thiếu gì những người thợ làm nên sự nghiệp phi thường. Con đã quên câu chuyện anh thợ rèn Niu-cô-men cũng thông minh chẳng kém gi ngài tiến sĩ Húc-cơ rồi ư ? Và còn người thợ nổi danh Giêm-xơ Oát đã trở thành bất tử nhờ chiếc máy hơi nước vạn năng của ông thì sao ?
Ông giáo ra hiệu cho Mai-ca về chỗ, và từ từ bước lên bục, nghiêm trang nhìn cả lớp. Đám học trò đang ồn ào bàn tán về câu chuyện thôi học bất ngờ của Mai-ca liền im bặt. Ông giáo cất tiếng nói thong thả :
- Các con thân yêu ! Lớp ta sắp phải chia tay với một người bạn tốt, một học trò chăm chỉ và có năng lực. Bạn Mai-ca của các con bây giờ phải nghĩ học hẳn để chuẩn bị đi làm. Các con cũng như thầy đều thương Mai-ca nhưng tiếc rằng chúng ta đều nghèo chẳng giúp được gì cho Mai-ca học tiếp. Tiếc cho Mai-ca bao nhiêu, thầy lại buồn bấy nhiêu vì ở lớp ta còn có những người ham chơi hơn ham học, bỏ phí mất tuổi xanh trong lúc còn có điều kiện học hành.
Ông ngừng lại, đưa mắt nhìn mấy cái đầu cúi xuống vì ngượng ngùng, rồi nói tiếp :
- Mai-ca ! Thầy muốn nói riêng với con vài lời.
Ông Uyn-lơ nhìn thẳng vào cậu học trò và cất cao giọng nói :
Phải bỏ học nửa chừng như con là một điều đáng tiếc. Giá như con được học thêm vài năm nữa cho xong bậc tiểu học thì có thể con sẽ thu được một vốn học thức có ích hơn. Nhưng thầy muốn khuyên con luôn ghi nhớ những tấm gương hiếu học của người xưa. Con sẽ học hỏi những người bạn cùng làm, học hỏi trong sách vở, học hỏi trong cuộc sống. Cứ cố công bù đắp sự thiệt thòi thiếu học thuở thơ ấu vì cái nghèo bó buộc, thầy tin là con sẽ đạt được phần nào những điều con từng mơ ước. Cái khó là mài giũa ý chí cho bền, đó là điều cuối cùng thầy muốn dặn con ghi nhớ.
0
CHƯƠNG II
ANH THỢ NGHÈO HAM HỌC


1

Mai-ca cắp con dao xén bọc kỹ trong tờ giấy báo, lẽo đẽo đi bộ theo cha vào thành phố Luân Đôn. Tuy lần đầu tiên từ ngoại ô vào thủ đô, cái gì đối với chú bé cũng lạ mắt, nhưng Mai-ca chẳng thiết xem phong cảnh. Chú bé chỉ mong chóng tới xưởng đóng sách của ông Ri-bô, nơi sẽ quyết định cuộc đời sau này của chú.
Hai cha con đã dừng bước trước một cửa hiệu khá bề thế treo một tấm biển lớn để hàng chữ viết rất đẹp “ hiệu bán sách và đóng sách Ri-bô ”.
Trước khi bước vào cửa hiệu, ông Giêm-xơ còn cẩn thận dặn con một lần nữa :
- Nhớ chào hỏi lễ phép, con ạ ! Ông Ri-bô là một người Pháp lịch thiệp đấy. .
Mai-ca khẽ vâng, hồi hộp theo cha vào trong hiệu. Một người đàn ông đứng tuổi đang ngồi gảy bàn tính đằng sau quầy hàng vội vàng đứng dậy niềm nở chào hỏi :
- Chào ông Giêm-xơ ! Ông đã đưa cậu con trai đến cho tôi đấy à ?
Ông Giêm-xơ lễ phép cúi đầu chào và nói :
- Thưa vâng ! Trăm sự nhờ ngài dạy bảo cho cháu nên người.
Mai-ca cũng vội vàng cúi đầu chào ông chù hiệu. Ông Ri-bô vui vẻ cầm lấy tay chú bé dắt lại gần quầy hàng và nói :
- Chú bé này trông cũng nhanh nhẹn đấy. Chỉ phải cái hơi nhỏ người một chút thôi.
Ông Giêm-xơ vội đỡ lời :
- Thưa ngài Ri-bô, cháu Mai-ca đây mười bốn tuổi rồi đấy ạ. Tuy hơi nhỏ người thật, nhưng cháu nó cũng khỏe.
Ông Ri-bô cười :
- Không sao ! Công việc ở xưởng đóng sách này cũng chẳng có gì nặng nhọc lắm. Thoạt tiên phải học xe chỉ, quấy hồ, rồi sau học đóng sách, xén sách, dán bìa. Ngoài ra thỉnh thoảng phải đi giao hàng cho các khách quen và nhận hàng, thuê xe ngựa chở về.
Thưa ngài Ri-bô, chúng tôi định thưa chuyện với ngài xin cho cháu Mai-ca ở lại xưởng của ngài cả tuần lễ ngày chủ nhật mới xin cho cháu về nhà nghỉ.
thế à ! - Ông Ri-bô hơi nhíu đôi lông mày lại một chút để suy nghĩ, rồi vui vẻ trả lời : - Được thôi ! Nhưng như vậy là cháu sẽ phải ăn cả hai bữa cơm ở đây. Vả lại phải thu xếp chỗ ngủ cho cháu nữa. Nếu ông bằng lòng thì cho cháu giúp thêm tôi một số việc vặt trong nhà. Không hiểu ông và cháu nghĩ sao ?
Ông Giêm-xơ đưa mắt nhìn con, có ý dò hỏi. Mai-ca ngập ngừng nói :
- Thưa ngài Ri-bô, làm việc gì tôi cũng không ngại. Tôi chỉ mong ngài vui lòng cho một điều ... là ... Buổi tối được phép ... đọc sách một chút ...
Ông Ri-bô cười ha hả, vẻ thích thú :
- Tưởng điều gì chứ đọc sách thì cậu cứ tha hồ ! Phải học cho mở mang đầu óc ra chứ !
Ông Giêm-xơ cũng vui vẻ, đỡ lời :
- Thưa ngài, cháu ham học và cũng sáng dạ. Chỉ phải tội nhà nghèo không thể cho cháu học đến nơi đến chốn được đấy thôi.
Ông Ri-bá xoa đầu chú bé và nói :
- Không sao ! Tôi cũng chẳng được học nhiều, ấy thế mà làm cái nghề bán sách này rồi cũng có dịp đọc được khối điều hay trong sách đấy.
Ông Giêm-xơ cầm con dao xén đặt lên quầy hàng rồi xoa tay nói một cách trịnh trọng :
- Nhân dịp đem cháu Mai-ca gửi ngài, chúng tôi gọi là có chút lòng thành, mong ngài vui lòng nhận cho.
Ông Ri-bô tươi cười trả lời :
- Tôi vốn là khách hàng quen của ông, đáng lẽ ông không nên bày vẽ ra như thế này. Nhưng ông đã đem cho, tôi xin cảm ơn. Cậu Mai-ca ở đây với tôi không phải trả thêm tiền nong gì cả. Khi nào cậu ấy học thành nghề, chúng ta lại bàn đến vấn đề công xá sau. Nếu ông bằng lòng thì tôi sẽ cho gọi thư ký ra viết bản giao kèo và cậu Mai-ca sẽ bắt đầu học việc ở đây ngay hôm nay.
Thế là từ ngày mồng bảy tháng mười năm một ngàn tám trăm linh năm, chú bé Mai-ca chính thức được nhận vào học việc trong xưởng đóng sách của ông Ri-bô.

2


Mai-ca đã quét dọn xong cả xưởng thợ và cửa hiệu, hai gian nhà khá rộng thông với nhau bằng một chiếc cửa lớn. Đó là công việc cuối cùng trong ngày của chú thợ học việc kiêm người giúp việc vặt trong nhà ông Ri-bô.
Mai-ca tắm rửa vội vàng rồi đánh diêm châm vào ngọn nên mỡ bò gắn ở góc một tấm ván nhỏ mà cậu đã kê cao lên dùng làm bàn viết. Một mình trong cái góc kín đáo của xưởng thợ dành làm nơi ở, Maí-ca bắt đầu công việc đọc sách thích thú hằng ngày của mình.
Trái với lệ thường, hôm nay Mai-ca không đọc tiếp quyển truyện Ả-rập nổi tiếng “Một nghìn một đêm lử”, mặc dầu cậu chưa xem hết. Ngay từ khi còn ở nhà, Mai-ca đã thích xem những truyện thần thoại và cậu hằng ao ước được gặp những vị thần tiên tốt bụng đem lại điều lành cho mình. Nhưng càng lớn lên, Mai-ca càng hiểu rằng những câu chuyện thần tiên đó chỉ là những điều mong ước không thể thực hiện được.
Vì thế, hôm nay Mai-ca quyết định tìm một loại sách khác để đọc mà cậu hy vọng có thể rút ra được những điều ích lợi thiết thực với cuộc sống hơn. Theo lời khuyên của ông Ri-bồ, Mai-ca thử đọc cuốn “ Những mẩu chuyện về hóa học ” của bà Mác-xê.
Vừa đọc được mấy trang đầu, Mai-ca đã ngạc nhiên. ôi quyển sách nói về những vấn đề thật là gần gũi. Thì ra không khí mà mọi người đang thở hít hàng giờ hàng phút đây lại là một hỗn hợp gồm nhiều thứ khí khác nhau !
Mai-ca nhổm dậy, cầm cây nến đi soi tìm một cái chậu đựng nước và một cái cốc. Cậu bé thấy nghi hoặc những điều tác giả cuốn sách đã nói. Vì vậy cậu quyết định tự tay làm lại một thí nghiệm đơn giản hướng dẫn trong sách. Mai-ca gắn một mẩu nến lên cái nút bấc thả nổi trên mặt chậu nước. Cậu đánh diêm đốt nến cháy rồi úp cái cốc đậy kín cả bấc lẫn nến. Sau khi cẩn thận đánh dấu mực nước ở cốc, Mai-ca chăm chú theo dõi ngọn nến cháy.
- Ồ ! Đúng là ngọn lửa nến lụi dần rồi tắt ngắm ! Lạ thật nhỉ ! Nến chỉ cháy bằng ô-xy, khi nó tiêu thụ hết Ô-xy của không khí bên trong cái cốc thì nến tắt !
Mai-ca vừa lẩm bẩm nhắc lại điều nói trong sách, vừa loay hoay đo mực nước trong cái cốc úp sau khi nến tắt. Cậu reo lên khe khẽ :
- Đúng rồi ! Nước đã dâng thêm trong cốc để lấp vào chỗ trống do ô-xy bị cháy đi trong không khí. Phần còn lại trong không khí là ni-tơ, chiếm bốn phần năm thể tích !
Cậu vươn vai hít mạnh mấy cái liền, khoan khoái nghĩ thầm :
- Thế ra từ trước đến giờ mình chỉ thở bằng chất khí ồ-xy thôi đấy ! Ô-xy duy trì sự sống và sự cháy mà. Còn ni-tơ là chất khí không duy trì sự sống. Chà ! Cái anh ni-tơ vô tích sự ấy vào trong phổi để làm gì nhi ? thể còn khí ô-xy sau khi cháy thì đi đâu ? Không hiểu trong sách có nói không ?
Thế là Mai-ca lại mở quyển sách ra chăm chú đọc tiếp những trang hấp dẫn. Dưới ánh nến đỏ quạch tỏa khói khét lẹt và đôi lúc bị tạt gió, cậu bé say mê đi tìm những lời giải đáp cho những thắc mắc của mình. Thỉnh thoảng Mai-ca ngừng đọc, nhíu đôi lông mày suy nghĩ về ý nghĩa của những đoạn văn súc tích. Có khi cậu lại mỉm cười vì những câu khôi hài ý nhị hoặc những sự so sánh ngộ nghĩnh mà tác giả cuốn sách đã nêu ra. Gặp những thí nghiệm đơn giản giới thiệu trong sách, Mai-ca lập tức tự tay làm lại, và mỗi khi thu được kết quả đúng cậu lại càng ham đọc. Giá như không có ông Ri-bô thức giấc lúc nửa đêm đến giục Mai-ca đi ngủ thì có lẽ cậu bé đã thức suốt sáng để đọc cho xong quyển sách.
Mai-ca tắt nến đi ngủ, trong lòng vẫn còn náo nức lạ thường :
- Kỳ này phải cố để dành tiền mua ống thí nghiệm và ít a-xít. Những thí nghiệm đơn giản, nhưng nhất thiết phải xem có thật đúng như vậy hay không ...

3

- Anh Mai-ca !
Cô bé Méc-ghi vừa reo vừa chạy vội ra ôm chầm lấy anh. Mai-ca sung sướng bế bổng em lên và đi vào trong nhà. Méc-ghi hỏi anh rối rít :
- Anh Mai-ca, tuần này anh có quà gì cho chúng em không ? Có chuyện cổ tích không ? Tụi bạn em và em đều mong anh về !
Mai-ca cười, hôn vào má em và nói :
- Cứ yên trí ! Các em thích chuyện cổ tích cũng có mà thích trò chơi cũng có.
Méc-ghi tròn xoe đôi mắt nhìn anh :
- Có cả trò chơi à ? Em bảo chúng nó đến ngay nhà ta nhé ?
- Em hay nóng ruột quá !
Mai-ca vừa gật đầu cười, vừa đặt em xuống đất.
Méc-ghi chưa nghe hết câu nói của anh đã chạy ù ra cửa. Và chỉ độ mười phút sau, cô bé đã trở về, kéo theo năm sáu cô bạn gái trạc tuổi mình.
Bà Mác-ga-rít thấy vậy liền lắc đầu bảo Méc-ghi :
- Con bé này buồn cười thật ! Anh mày vất vả cả tuần lễ, chiều thứ bảy về nhà nghỉ ngơi mà lần nào mày cũng quấy rầy như vậy à ?
Méc-ghi ôm choàng lấy cổ mẹ, thỏ thẻ :
- Tại vì có trò chơi, mẹ ạ ! Chúng con mong anh Mai-ca suốt cả tuần đấy.
Mai-ca cười, nói với mẹ :
- Mẹ cứ để mặc chúng con. Con thích như thế. Cũng chẳng có gì mệt đâu mà mẹ lo.
Nói xong, Mai-ca kéo cả bọn trẻ con ngồi quây quần quanh chiếc bàn nhỏ. Cậu lấy giấy cắt một số hình người ngộ nghĩnh đặt vào trong một cái hộp to, nắp đậy là một tấm thủy tinh trong suốt. Xong đâu đấy, Mai-ca bảo bọn trẻ :
- Anh đố các em dựng những người bằng giấy này đứng lên nhảy múa đấy.
Cả bọn trẻ con đều ồ lên kinh ngạc. Một cô bé nói :
- Có là phù thủy mới dựng được người giấy đứng dậy chứ !
Méc-ghi hăm hở cấm lầy cái hộp thứ lắc mấy cái. Nhưng những hình người bằng giấy chỉ dồn vào một góc hộp và nằm bẹp gí tại đó. Cô bé lắc đầu đặt cái hộp xuống :
Chúng em chịu đấy ! Anh thử làm xem nào.
Mai-ca cười :
Anh không cần phải là phù thủy, cũng chẳng cần dốc cái hộp lên mà vẫn dựng được người dậy cơ.
Nói xong, Mai-ca lấy một miếng da, xát mạnh vào tấm thủy tinh nắp hộp mấy cái. Những hình người bằng giấy lập tức đứng phắt dậy, đầu dính chặt vào tấm thủy tinh, dường như có một sức mạnh thần bí nào giữ lấy chúng không cho rơi xuống. Trước những cặp mắt đầy ngạc nhiên của bọn trẻ, Mai-ca lại dùng tay sờ vào tấm thủy tinh, những hình người liền rơi xuống đáy hộp.
Một cô bé ghé vào tai Méc-ghi thì thào :
- Anh cậu là phù thủy à ?
Mai-ca phì cười vì thoáng nghe thấy câu hỏi đó :
- Anh đã nói là không cần đến phù thủy mà. Điện đấy thôi ! Nhưng để yên anh cho người giấy nhảy múa đã nhé !
Mai-ca vừa nói vừa lầy miếng da xát vào một cái đũa thủy tinh nhiều lần. Khi cậu ta đưa đi đưa lại chiếc đũa gần bề mặt tấm thuỷ tinh thì những hình người giấy đều đứng lên và lắc lư y như đang nhảy múa thực sự vậy.
Bọn trẻ vỗ tay reo hò thích thú. Bà Mác-ga-rit, chị Ê-U-da-bét và anh Rô-bớc thấy vậy cũng chạy vào xem trò chơi của Mai-ca. Thấy những hình người giấy lắc lư nhảy múa, bà Mác-ga-rít sợ hãi hỏi con :
Ma quỉ hay sao thế, Mai-ca ?
Mai-ca phá lên cười, trả lời :
- Không phải ma quỉ đâu. Điện đấy mẹ ạ ! Các nhà khoa học đã tìm ra : khi cọ xát da vào thủy tinh hoặc nhựa, thì sinh ra điện. Điện hút được các vật nhẹ, cho nên chiếc đũa được cọ xát này đã có điện làm cho các hình người bằng giấy lắc lư !
Mai-ca lại xát mảnh da vào chiếc đũa thuỷ tinh rồi đưa đũa lại gần đầu một cô bé. Mọi người đều trông thấy một tia lửa xanh lè nhỏ bé tóe ra từ đầu đũa kèm theo một tiếng nổ lách tách.
Anh Rô-bớc vội hỏi :
- Lại cái gì nữa thế, Mai-ca ?
- Cũng vẫn là điện, nhưng bây giờ đã phóng ra thành tia lửa. Anh xem có giống như ánh chớp và tiếng sét không ?
Chị Ê-li-da-bét bật cười :
- Bé xíu như thế mà em lại so với chớp và sét được 1
Mai-ca cũng cười :
- Hiện tượng tuy lớn nhỏ khác nhau một trời một vực, nhưng bản chất thì lại giống hệt nhau. Chính nhờ những thí nghiệm như thế này mà nhà bác học Phơ-ran-clin ở châu Mỹ đã kết luận được rằng chớp chẳng qua cũng là một tia lửa điện khổng lồ ! Nhờ vậy, ông ta đã sáng chế ra chiếc cột thu sét, tránh được tai nạn sét đánh xuống các tòa nhà cao.
Bé Méc-ghi túm chặt lấy tay anh, hỏi :
Trò chơi điện, anh tìm ở đâu ra thế ?
Mai-ca mỉm cười xoa đầu em gái :
- Anh đọc ở trong sách “Đại bách khoa toàn thư Anh” đấy. Em học nhanh, biết chữ rồi tha hồ mà đọc.
Thành phố Luân Đôn về mùa thu hầu như suốt ngày đêm chìm đắm trong sương mù. Buổi trưa hôm nay trời vừa hửng nắng, thế mà đèn chiếu những tia nắng nhợt nhạt đã bị màn sương che kín. Những cây đèn dầu đặt ở đầu phố được đốt cháy từ sớm, những ánh lửa đỏ quạch của chúng chỉ vừa đủ để báo hiệu cho các bác đánh xe ngựa khỏi chờ xe chạy đâm sầm vào nhau ở các ngã ba, ngã tư đường. Trong nhà Pha-ra-đây, mọi người đang ngồi quanh chiếc bàn nhỏ ở bếp, sắp sửa ăn bữa tối.
Bỗng Mai-ca chạy ùa từ ngoài vào như một cơn gió lốc. Cậu không kịp chào hỏi ai, đã vội đến bên anh trai thì thầm cái gì không rõ. Anh Rô-bớc gật đầu, rồi đi ra nhà ngoài.
Bà Mác-ga-rít hỏi con :
- Có chuyện gi mà về muộn thế ? Đã ăn cơm chưa, không thì ngồi đây mà ăn một thể con ạ ! Hôm nay có nhiều bánh mì đấy.
Mai-ca bước đến bên mẹ :
- Mẹ ơi ! Con phải vội đi cho kịp giờ học. Con đã xin ghi tên dự những buổi diễn giảng của ông Ta-tum về khoa học tự nhiên, mẹ ạ !
Bà mẹ chép miệng :
- Lúc nào cũng chỉ nghĩ học thêm ! Con chẳng chịu chuyên tâm học nghề cho chóng giỏi, năm, sáu năm rồi vẫn chưa được trả cả tiền công. Bố con vừa mất đi, gánh nặng gia đình dồn cả vào tay anh con cáng đáng. Bây giờ lại xin tiền anh đi học nữa à ?
Mai-ca nắm lấy cánh tay mẹ, thiết tha :
- Ông Ri-bô đã hứa đến cuối nám nay hoặc đầu sang năm sẽ công nhận con là thợ chính. Ai cũng phải học nghề sáu, bảy năm như thế cả, mẹ ạ ! Còn việc học thì con không thể nào bỏ được. Con phải theo lớp học thêm cho có hệ thống. Mỗi tuần có một buổi tối thôi mà !
Anh Rô-bớc từ trong nhà đi ra, đưa cho em một đồng sin-linh rồi cười và nói :
- Đây, còn đồng cuối cùng cho chú. Anh chỉ sợ mất tiền toi, đến nghe một lão bịp bợm nói vớ vẩn mất cả thi giờ ! Ở Luân Đôn bây giờ thiếu gì những buổi diễn thuyết vô tích sự như thế !
Mai-ca mừng rỡ cầm lấy tiền :
- Anh thật tốt ! Em tin ông Ta-tum là một nhà sư phạm đứng đắn. Ông ấy toàn dán quảng cáo ở các hiệu sách cơ mà.
Bà Mác-ga-rỉt như sực nhớ ra, vội hỏi :
- Thế con đã xin phép ông Ri-bô chưa ?
- Mẹ cứ yên tâm ! Buổi học bắt đầu từ bảy giờ tối. Con đã thưa chuyện với ông chủ xin nghĩ sớm một giờ. Ông chủ cũng đồng ý. Ông thường khuyến khích con học đấy, mẹ ạ !
Anh Rô-bớc gật đầu :
- Ừ ! Ông Ri-bô vốn là người theo phải cộng hòa, phải trốn khỏi nước pháp để tránh sự truy nã của hoàng đế Na-pô-lê-ông, nên ông ta cũng tiến bộ. Chú cứ chịu khó học đi, may ra trở thành một nhà thông thái thì mẹ và anh cũng được thơm lây !
Mai-ca ngượng nghịu nói :
- Em chỉ muốn bù đắp lại những ngày không được đi học thuở nhỏ mà thôi. Còn trở thành nhà thông thái thì khó lắm.
Nói xong, cậu quay về phía mẹ
- Con đi, mẹ nhé !
Bà mẹ thở dài :
- Ừ ! Cầm lầy miếng bánh này đi mà ăn cho khỏi đói.
Mai-ca đỡ lấy miếng bánh, vùng chạy ra cửa. Trên hè phố, cậu vừa đi vừa gặm miếng bánh mì đen khô cứng, trong lòng thầm cám ơn mẹ và anh đã thương yêu và hy sinh hết mực vì mình. Tiếng chuông nhà thờ ở gần đó đã giống giả đổ hồi. Mai-ca bước nhanh, quên cả cái lạnh đêm thu ở miền này.
0
CHƯƠNG III
CON ĐƯỜNG ĐẾN PHÒNG THÍ NGHIỆM


1

Như đã hẹn trước, hôm nay Mai-ca tim đến nhà người bạn mới, anh Ben-gia-men Áp-bốt, một thư ký hiệu buôn.
Áp-bốt vui vẻ dẫn Mai-ca vào trong phòng, vừa đi vừa nói :
- Tôi chờ cậu mãi ! Hôm nay tôi muốn giới thiệu cậu với mấy người bạn thân.
Anh đưa Mai-ca tới trước hai chàng thanh niên đang ngồi uống trà quanh một chiếc bàn nhỏ và nói :
- Xin giới thiệu với các bạn, đây là cậu Mai-ca mà tôi đã có dịp nói chuyện với các bạn. Còn đây là anh Ghếc-xtê-bcm, sinh viên y khoa, và đây là Ma-gơ-ra, sinh viên triết học.
Anh thanh niên có tên là Ghèc-xtê-bơn vừa bắt tay Mai-ca vừa nói :
- Tôi biết anh từ lâu rồi đầy, Mai-ca ạ !
Thấy Mai-ca có vẻ ngạc nhiên, Ghèc-xtê-bcm mỉm cười giải thích :
- Ngày nào tôi chẳng gặp anh trên đường phố Phơ- lít. Anh thường vừa đi vừa cắm cúi xem sách như thế này và đã có lần đâm sầm cả vào cột đèn mà không biết !
Ghèc-xtê-bơn vừa nói vừa bắt chước điệu bộ của Mai-ca làm cho tất cả ba người đều cười ồ
Ma-gcr-ra nắm chặt lấy tay Mai-ca và nói :
- Được Áp-bốt cho biết anh rất ham đọc sách, tôi muốn làm quen với anh từ lâu. Mong rằng sau này anh sẽ đến nhà tôi chơi.
Mai-ca chưa kịp trả lời thì Áp-bốt đã nói :
- Xin giới thiệu với cậu Mai-ca, anh Ma-gơ-ra cũng là một “con mọt sách” như cậu. Cậu có thể tìm được đủ loại sách cần cho việc học của mình ở tủ sách của Ma-gơ-ra !
Ghếc-xtê-bơn lại pha trò :
- Hai con mọt cùng đục thì còn gì là sách !
Mọi người cùng cười vui vẻ. Mai-ca hỏi hai chàng sinh viên :
- Các anh có dự buổi diễn giảng nào của ông Ta-tum không nhỉ ?
Ma-gơ-ra gật đầu :
- Chúng tôi dự khá đều đặn. Nói chung, các bài diễn giảng đó đều rất dễ hiểu và súc tích. Tôi thích nhất là ông Ta-tum thường hay nhấn mạnh tới những vấn đề thời sự khoa học.
Ghèc-xtê-bcm cũng tán thành ý kiến đó :
- Đúng thế ! Như cuộc tranh luận về điện giữa hai nhà bác học Ý Gan-va-ni và Vôn-ta chẳng hạn. Theo tôi, đó là một vấn đề lý thú.
Áp-bốt cười, hỏi :
- Thế nhà y học Ghèc-xtê-bơn tán thành quan điểm của ai ?
- Lý thuyết điện sinh vật của Gan-va-ni rất có cơ sở. Lẽ nào chúng ta có thể bác bỏ được sự thực hiển nhiên về những con cá có điện, những thứ cây có điện ?
Ma-gơ-ra liền hỏi lại :
- Đã đành rằng thế, nhưng anh nói sao về chiếc pin Vôn-ta mà hoàng đế Pháp Na-pố-lê-ống đã phải gọi là một kỳ quan của thế kỷ XIX.
Ghềc-xtê-bơn thùng thằng trả lời :
- Cả anh và tôi đều chưa được nhìn thấy tận mắt cái kỳ quan đó của Bô-na-pác !
Áp-bốt sợ hai người tranh luận hăng quá có thể đi đến chỗ bất hòa, nên quay sang phía Mai-ca và hỏi :
- Ý kiến của cậu về vấn đề này ra sao ?
Mai-ca rụt rè đáp :
- Tôi hiểu còn ít, khó lòng có thể tham gia vào cuộc tranh luận lớn này. Nhưng sau khi nghe ông Ta-tum trình bày, tôi có về nhà chế tạo thử một ... Chiếc pin Vồn-ta.
Cả ba người bạn cùng thốt lên hỏi :
- Thật vậy chứ ?
- Đúng như vậy ! Tôi cũng tự tay làm lại một số thí nghiệm về điện với chiếc pin đó, và đã nghiệm lại hầu hết những kết luận mà những nhà khoa học đã phát hiện ra. Đối với tôi, như thế có lẽ bổ ích hơn là chỉ tham gia tranh luận mà không làm thực nghiệm.
Ma-gơ-ra gật gù, tỏ ý tán thành ý kiến đó. Anh lại hỏi :
- Anh dùng nguyên vật liệu nào để chế ra chiếc pin Vôn-ta đó ?
- Cũng chẳng có gì khó khăn lắm - Mai-ca cười, trả lời - Vành đống, tôi góp dần số xu để dành lại. Chị Bét-xi cho tôi những mảnh kẽm lá nhỏ. Còn a-xít thì mua. Cái pin của tôi thô sơ lắm. Nhưng chẳng hề gì, vì nó vẫn giúp tôi học tập được.
Áp-bốt vỗ vào vai người bạn trẻ và nói :
- Phương pháp học tập của cậu thật đáng noi theo. Từ nay chúng ta nên tập hợp lại thành một nhóm để có thể thỉnh thoảng trao đổi với nhau về các vấn đề khoa học và giúp đỡ nhau.
Mai-ca vui mừng, ủng hộ ý kiến đó. Anh thoáng nhớ lại những câu chuyện về tình bạn giữa những con người cùng chí hướng thuở xưa và bỗng thấy tin cậy những người bạn tuy mới quen mà dường như thân thiết từ lâu.

2


Mai-ca đã làm xong phần việc chủ giao cho anh hôm nay. Anh chùi tay vào chiếc tạp-dề xanh, mở bọc giấy báo đem quyển vi/ đã đóng đi xén để vào bìa.
Anh chàng Gim tính hay trêu chọc người khác, vừa thấy anh vào đã nói bô bô :
- Cả nhà lại mà xem này ! Nhà học giả Mai-ca của chúng ta lại vuốt ve quyển vở ghi các bài diễn giảng của ngài Ta-tum đây này !
Mai-ca chỉ cười không đáp lại. Anh đến bàn xén cầm lấy con dao liếc thử. Giắc thấy vậy liền trách Gim :
- Chú này lúc nào cũng thích châm chọc người khác ! Người ta cũng bằng tuổi chú, làm việc bận hơn chú, thế mà vẫn cố gắng học hành thêm được. Còn chú thì mấy năm rồi chưa đọc thạo tờ báo, sao không biết thẹn ?
Gim lè lưỡi lắc đầu :
- Ai theo được anh ấy hả bác ? Trưa nào, tối nào cũng đọc đọc, ghi ghi, chẳng nghỉ lấy một giờ trọn vẹn.
Bác Tôm vừa ở ngoài vào cũng lên tiếng :
- Tôi cũng chẳng hiểu chú ấy học để làm gì ! Rốt cuộc cũng vẫn chỉ là anh thợ đóng sách quèn. Học thế chứ học nữa chủ cũng chẳng tăng lương !
Mai-ca đã xén xong quyển vờ, vừa quệt hồ dán bìa vừa nói :
- Cháu có học để mong được tăng lương đâu hả bác !
Gim lại châm chọc :
- Thế thì anh định trở thành ông Ta-tum chăng ?
Mai-ca chỉ cười, lắc đầu không đáp. Anh chẳng muốn tranh cãi với mọi người mà chỉ cắm cúi đóng cho xong quyển vở ghi chép của mình. Anh đang có một nỗi băn khoăn to tát, những bài diễn giảng của ông Ta-tum đã hết, bây giờ phải làm gì để tiếp tục học tập cho nhanh chóng hơn ?
Mai-ca còn đang miên man suy nghĩ, thì có tiếng ông Ri-bô gọi ở ngoài cửa hàng. Anh vội vã đi ra, tay vẫn cầm cả quyển vở. Ông Ri-bô liền trở vào anh, nói với một vị khách ăn mặc sang trọng đang ngồi trò chuyện với mình : Thưa ngài Đan-xơ, đây chính là anh thợ Mai-ca mà tôi đã thưa chuyện với ngài.
Ri-bô quay về phía Mai-ca nói :
- Đây là ngài Đan-xơ, hội viên Hội hoàng gia Luân Đôn. Ngài Đan-xơ có thể giúp anh được !
Mai-ca lễ phép cúi đầu chào. Ông Đan-xơ vui vẻ bắt tay anh và hỏi :
- Anh có quyển sách gì đẹp thế ?
Ông vừa nói vừa giơ tay đỡ lấy quyển vở mà Mai-ca ngượng ngùng đưa cho mình. Ông Đan-xơ nhẹ nhàng mở tờ bìa ra và chăm chú nhìn một dòng chữ kẻ ngay ngắn trên trang đầu :.
“ Tuyển tập bài ghi về triết học”.
Đan-xơ ngước mắt nhìn chàng thanh niên đang đứng trước mặt mình, rồi lại mở nhanh các trang giấy ghi có hình vẽ cẩn thận. Ông mỉm cười đưa trả quyển vở cho Mai-ca và nói :
- Anh thật là người có chí ! Tôi nghe ông Ri-bô đây nói là anh vừa dự xong lớp của ông Ta-tum, và hiện nay anh muốn được tiếp tục học thêm ?
Mai-ca lễ phép trả lời :
- Thưa ngài, đúng như vậy.
- Hiện nay giáo sư Hâm-phơ-ri Đê-vi, hội viên Hội hoàng gia Luân Đôn, đang đọc các bài diễn giảng về hóa học tại Học viện hoàng gia. Anh có ưng tới nghe hay không?
Mai-ca mừng rỡ vội nói :
- Nếu như vậy thì hân hạnh cho tôi quá, thưa ngài ! Chỉ sợ rằng, một người thợ nghèo như tôi ...
- Không sao ! - Ông Đan-xơ cười ngắt lời. -Anh có thể đùng thẻ vào cửa của tôi. Giáo sư Hâm-phơ-ri Đê-vi là một nhà hóa học nổi tiếng, vừa được Anh hoàng Gioóc-giơ đệ tam phong tặng nam tước. Anh nghe những bài diễn giảng của giáo sư chắc là sẽ thu được nhiều điều bổ ích.
Ông Đan-xơ đứng dậy đưa cho Mai-ca một cái thẻ vào cửa màu xanh và nói tiếp :
- Anh cứ yên chí đi nghe giảng. Sau này còn cần điều gì, mong anh cứ đến gặp tôi.
Mai-ca theo ông Ri-bô tiễn chân ông Đan-xơ ra đến cửa. Anh nhìn theo chiếc xe ba ngựa kéo đưa ông khách tốt bụng đi xa, trong lòng rộn lên một niềm vui khó tả.

3


Hơn một tuần lễ nay, Mai-ca sống trong cảnh thấp thỏm chờ đợi. Ngày nào cũng vậy, cứ đến giờ người đưa thư tới là Mai-ca bỏ mặc tất cả công việc, chạy ra, hồi hộp chờ nghe ông Ri-bô gọi tới nhận thư. Có việc phải đi đâu vắng, bao giờ câu đầu tiên của anh khi trở về cửa hàng cũng là : “ Tôi có thư không ?”,
Mấy bác thợ già lấy làm lạ về thái độ của Mai-ca. Bác Tôm thì nói :
- Hay là thằng bé mong thư của cô gái nào ?
Bác Giắc lại cho rằng :
- Cu cậu hỏi vay tiền ai đấy chứ gì ?
Nhưng anh chàng Gim sau khi hỏi dò được tin thì cả quyết với mọi người :
- Mai-ca sắp thôi việc đấy ! Nó đợi thư trả lời chuyện xin việc làm khác.
Các bác thợ già không ai tin như thế cả :
- Lẽ nào vừa được công nhận làm thợ chính xong lại bỏ nghề đi tìm việc khác ?
ấy thế mà chính Mai-ca đã quyết định hành động như vậy ! Sau bốn bài diễn giảng của giáo sư Đê-vi, anh thợ Mai-ca cảm thấy không thể nào tiếp tục làm cái nghề đóng sách buồn tẻ được nữa. Chân trời rộng lớn mà nhà bác học trẻ tuổi kia phác họa ra qua các bài diễn giảng đã cuốn hút tất cả tâm trí ảnh. Anh cảm thấy mình giống như một người đang lạc đường trên sa mạc, và những điều học được bấy lâu nay khác nào như những giọt nước mưa hiếm hoi đổ ào xuống biển cát nóng bỏng, chẳng thấm thía vào đâu. Và cũng như người lạc đường kia mong muốn đi đến được vùng ốc đảo tràn đầy hồ nước, Mai-ca đã quyết định bước thẳng vào con đường khoa học để được thoả thuê đắm mình trong biển kiến thức của “ốc đảo khoa học” diệu kỳ.
Mai-ca đã theo lời khuyên của Áp-bốt, viết thư cầu xin ngài Giô-xép Ben-xơ, chủ tịch Hội hoàng gia Luân Đôn giúp đỡ. Và suốt một tuần lễ nay, sau khi gửi bức thư đó đi rồi, Mai-ca hồi hộp chờ đợi tin tức trả lời.
Lại một tuần lễ nữa vô tình trôi qua. Mai-ca đã hoàn toàn thất vọng. Giữa lúc đó ông Ri-bô lại báo cho anh biết một tin buồn. Công việc làm ăn của ông mấy năm nay không tiến triển tốt đẹp, cho nên ông buộc phải chuyển Mai-ca sang cửa hàng của ông Đơ La-rô-sơ, một người đồng hương của mình.
Sang làm việc với ông chủ mới được vài ngày, Mai-ca lại càng thêm buồn chán. Đơ La-rô-sơ quá tham công tiếc việc đã ra lệnh nghiêm cấm, không cho thợ đọc sách báo trong giờ nghỉ. Ông ta không ưa anh thợ trẻ Mai-ca, không biết tu chí rèn luyện tay nghề, chỉ viển vông những chuyện trên trời dưới biển ! Ông ta cố ý giao thật nhiều việc cho Mai-ca, để cho “ anh ta bắt buộc phải chuyên tâm vào nghề đóng sách ! ”.
mặc dầu ban ngày làm việc mệt nhoài, không đêm nào Mai-ca ngủ được ngon giấc. Anh luôn luôn trằn trọc vì một nỗi dằn vặt ghê gớm : làm thế nào thoát khỏi được cảnh sống mòn của cái nghề thủ công không có chút gì hấp dẫn này ? Có lúc ánh đã toan liều bỏ việc, nhưng thực tế cuộc sống đã cột chặt lấy chân anh : mười hai giờ làm việc cật lực mới vừa đủ tiền nuôi miệng và giúp đỡ mẹ già chút ít !
Mai-ca đã tưởng chừng không sao tìm được ra lối thoát ...
4
Mai-ca đi qua cửa lớn Tem-pơn vào khu Xi-ti nằm ở trung tâm thành phố Luân Đôn lòng vui như mở hội. Chốc chốc anh lại thò tay vào túi áo rút hai phong thư ra ngắm nghía : Những dòng chữ vàng trên phong bì :
“ Học viện hoàng gia Đại Anh quốc” như nhảy nhót trước mắt anh.
Mai ca nhớ như in nội dung của mỗi bức thư và những chuyện đi liền với chúng.
... Vào một ngày cuối năm 1812, Mai-ca xin phép nghĩ một buổi làm, đến thăm ông Ri-bô với một tâm trạng buồn chán u uất. May mắn thay, anh lại gặp ông Đan-xơ tại cửa hàng Ri-bô. Sau khi được nghe Mai-ca bộc lộ nỗi niềm tâm sự, ông Đan-xơ đã khuyên anh viết thẳng thư cho giáo sư Đê-vi :
Viết thư cầu xin sự giúp đỡ của ngài Đê-vi thi có nhiều hy vọng hơn. Bởi vì chính bản thân Đê-vi thuở nhỏ cũng nhờ tự học mà thành tài.
Ngay hôm sau, ngày 20 tháng 12, Mai-ca đã gửi tới nhà bác học một bức thư, kèm theo cả quyển vở mà anh đã ghi bốn bài diễn giảng của nhà hóa học.
Chỉ hai ngày sau, Mai-ca đã nhận được thư trả lời ...
Mai-ca rút một tờ giấy đã hơi nhàu nát vì mở đọc nhiều lần, vừa đi vừa xem lại.
“ Thưa ông ! Tôi vô cùng cảm động về lòng tin cậy của ông đã dành cho tôi. Các bài ghi chép của ông chứng tỏ ông vốn cẩn thận, rất ham mê học tập và có trí nhớ phi thường. Hiện nay tôi đang đi nghĩ đông và phải đến cuối tháng giêng mới trở về. Lúc đó tôi sẽ sẵn sàng tiếp ông. Tôi sẽ rất vui sướng nếu giúp ích được ông và tôi sẽ đem hết khả năng để làm việc đó.
Lúc nào tôi cũng sẵn sàng giúp đở ông.
H. Đê-vi”.
Mai-ca gấp bức thư bỏ vào phong bì và lại miên man nghĩ tới buổi gặp gỡ đầu tiên với ông Đê-vi.
... Anh thợ trẻ hồi hộp gõ cánh cửa gian phòng làm việc của ông giám đốc Học viện hoàng gia, và bước vào phòng với tâm trạng lo âu nhiều hơn hy vọng. Ông Hâm-phơ-ri niềm nở tiếp anh, hỏi han cặn kẽ gia cảnh và kết quả tự học của anh. Giáo sư khen ngợi anh có một vốn học vấn khá chắc chắn. Nhưng khi được biết anh quyết chí bỏ nghề đóng sách để theo đuổi việc nghiên cứu khoa học rõ ràng vượt quá xa trình độ của anh thì ông Đê-vi đã lắc đầu vẻ không tin :
- Giúp anh có công ăn việc làm gần gũi với khoa học thì tôi làm được, còn giúp anh trở thành nhà khoa học, tôi sợ không đủ năng lực. Anh cứ tạm thời làm nghề đóng sách đi đã, chờ khi nào có dịp tốt, tôi sẽ báo tin sau.
Ông Đê-vi không quên anh thợ trẻ và đây là bức thư thứ hai ông gửi tới Mai-ca, mời anh đến ngay Học viện ...
Mai-ca cứ vừa đi vừa suy nghĩ miên man như thế, và đến Học viện hoàng gia lúc nào không biết. Vừa bước vào phòng giám đốc, anh đã giật mình vì thấy nhà bác học đang nằm dài trên một chiếc đi-văng vừa kê thêm ở bên cạnh bàn làm việc, đầu và mặt quấn đầy băng trắng !
Biết Mai-ca đã đến, giáo sư Hâm-phơ-ri mỉm cười gọi anh lại gần và bảo :
- Anh đã thấy khoa học dành cho những người muốn khai thác nó cái gì chưa ? Tôi vừa gặp tai nạn trong lúc làm thí nghiệm với một hỗn hợp nổ !
Mai-ca lo lắng hỏi :
- Thưa giáo sư, các vết thương có nguy hiểm lắm không ạ ?
- Cảm ơn anh, phút nguy hiểm đã qua rồi. Nhưng bây giờ tôi tạm thời phải nghĩ viết và đọc sách. Tôi muốn nhờ anh ...
Giáo sư ngừng lại có ý dò hỏi.
Mai-ca vội nói :
- Thưa giáo sư, xin ngài cứ nói. Tôi sẽ cố gắng hết sức hoàn thành mọi việc mà ngài tin cậy.
- Tôi muốn nhờ anh làm thư ký cho tôi. Hằng ngày anh sẽ tới đây ghi chép lại những điều tôi đọc cho anh về các suy nghĩ của tôi nhân những thí nghiệm vừa nghiên cứu trước đây.
- Thưa giáo sư, tôi rất sung sướng được phục vụ ngài. - Mai-ca trả lời - Tôi sẽ tạm nghỉ việc để hoàn thành công việc mà ngài đã tin cậy giao cho.
Anh thợ trẻ hăng hái nhận nhiệm vụ người ghi chép giúp cho nhà bác học. Và chính cái công việc tưởng là tầm thường này lại khiến cho nhà bác học hiểu rõ hơn năng lực của anh thợ đó. Mai-ca không những ghi chép rất chính xác các tư tưởng khoa học của Đê-vi, mà anh còn luôn luôn tham gia ý kiến vào việc phân tích số liệu thực nghiệm, nhận xét các kết luận khái quát của nhà bác học.
Đê-vi càng ngày càng mến và tin Mai-ca. Ông hết sức vận động cho Mai-ca được nhận vào làm việc ở Học viện hoàng gia. Cuối cùng, ngày 1 tháng 3 năm 1813, Mai-ca chính thức được nhận làm phụ tá ở phòng thí nghiệm của giáo sư Đê-vi, với số lương hai mươi nhăm sin-linh một tuần và hai căn phòng nhỏ ở dưới gầm cầu thang của Học viện hoàng gia.
Cuộc đời của anh thợ đóng sách đã bước hẳn sang một trang mới.
0
[
size=5]PHẦN THỨ HAI
NHỮNG CHUYỂN ĐI[/size]

CHƯƠNG I
PA RI

1

Cổ xe sang trọng bốn ngựa bắt đầu chuyển bánh rồi lăn nhanh trên con đường Luân Đôn - Pli-mút. Mai-Cơn ngoái đầu lại, cố nhìn qua đám bụi cuộn tung phía sau xe, dõi theo bóng những người thân thuộc ngóng theo xe giơ bàn tay vẫy vẫy. Nỗi xúc động mạnh mẽ mà anh cố nén từ nãy đến giờ bỗng trào lên, làm nghẹn cả lồng ngực. Thế là anh, một người chưa từng bao giờ đi quá Luân Đôn hai mươi dặm, giờ đây đang bắt đầu một cuộc hành trình dài dằng dặc, tạm biệt những người thân thuộc có thể tới vài năm để đến những nơi xa lạ, gặp gở những con người có thể là hoàn toàn cách biệt với mình !
Mai-Cơn nhớ lại buổi nói chuyện với giáo sư Đê-ví cách đây hai tuần lễ.
... Sau giờ làm việc ở phòng thí nghiệm, Mai-Cơn tới gặp giáo sư Đê-vi theo lời dặn của ông. Ổng vừa ân cần mời anh ngồi vừa nhẹ tay khuấy chiếc thìa con cho tan thuốc bột trong một cái cốc, vừa hỏi han tình hình công việc của người phụ tá của mình.
Mai-cơn lễ phép nói :
- Thưa giáo sư, công việc của tôi rất lý thú. Nhờ các giáo sư của Học viện hoàng gia giúp đỡ tận tình, cho nên tôi học hỏi được rất nhiều điều bổ ích trong quá trình chuẩn bị thí nghiệm cho những giờ diễn giảng của các vị đó.
Giáo sư Đê-vi ngồi yên lặng một lúc như đắn đo suy nghĩ. Chợt ông đứng dậy, lại gần Mai-ccra và hỏi :
- Mai-ca thân mến ! Anh có muốn đi cùng với tôi ra nước ngoài một thời gian không ?
Thấy người phụ tá đưa mắt nhìn, bỡ ngỡ, ông vỗ vai anh, giải thích :
- Viện Hàn lâm khoa học Pháp gửi thư cho Hội hoàng gia Luân Đôn mời tôi sang thăm châu Âu. Tôi có ý định gặp gỡ các nhà bác học Pháp ở Pa-ri, và sau đó đi thăm giới khoa học Ý và Thụy Sĩ. Tôi cần mang theo một phòng thí nghiệm. Anh sẽ đi theo vừa làm thư ký vừa làm phụ tá cho tôi. Mọi khoản chi phí dọc đường tôi sẽ đảm bảo hết. Tiền lương do Học viện hoàng gia trả, anh vẫn lĩnh riêng. Anh thấy như thế có được không ?
Mai-cơn hơi bất ngờ trước lời đề nghị đó. Anh yên lặng suy nghĩ. Chuyến đi thật là một dịp tốt hiếm có. Anh sẽ được mở rộng tầm hiểu biết, sẽ được thấy tận mắt các nhà bác học lớn của thế giới nghiên cứu những vấn đề gì và suy nghĩ như thế nào để giải quyết các vấn đề đó ...
Nghĩ tới đây, Mai-cơn thấy náo nức lạ thường. Anh mạnh dạn nhận lời đi cùng với giáo sư Đê-vi.
Thế là giờ đây, Mai-con Pha-ra-đây, người thư ký và phụ tá kiêm quản lý của ông bà Đê-vi đang cùng với vợ chồng nhà bác học đi trên cổ xe sang trọng này đến cảng Pli-mút để đáp tàu vượt biển sang lục địa châu Âu ...

2


Cứ nghe tiếng nhạc ngựa quen thuộc là Mai-Cơn biết ngay có khách đến thăm. Ba nhà bác học thường xuyên tới gặp giáo sư Hẫm-phơ-ri Đê-vi tại khách sạn sang bậc nhất Pa-ri này là viện sĩ Ang-đrê Ma-ri Am-pe, giáo sư hóa học ơê-man và bố vợ của ông : Sác-lơ Đơ-loóc-mơ.
Những lúc được giáo sư Đê-vi cho phép ngồi trong phòng khách, Mai-con lại chăm chú quan sát những con người nổi tiếng đỏ. Khi còn ở Luân Đốn, anh đã nghe danh nhà bác học lớn Am-pe, một người hoàn toàn không qua một trường học nào mà vẫn trở thành một nhà khoa học thông thạo nhiều lĩnh vực : toán học, vật lý, hóa học, sinh vật học v. V ... Anh đã từng khâm phục nghị lực phi thường của con người vĩ đại đó, và cũng đã từng mỉm cười một mình khi đọc những mẩu giai thoại vui vui về tính đảng trí của Am-pe. Mai-Cơn không thể ngờ được là một anh phụ tá thí nghiệm bình thường như mình lại sớm được gặp con ngươi vĩ đại đó.
Nhà bác học Am-pe giơ tay vuốt mớ tóc quăn và dày, đưa cặp mắt cận thị hiền hậu theo dõi Đê-vi nói chuyện với hai nhà hóa học Clê-man và Đơ-loóc-mơ. Thỉnh thoảng ông lại quay sang phía Mai-Cơn gật đầu, mỉm cười có ý hỏi anh có thích thú với câu chuyện đó không. Mai-Cơn cũng lễ phép, gật đầu đáp lại, tuy rằng anh không hiểu hết được nội dung câu chuyện. Sống gần một tháng ở Pa-ri, Mai-cơn đã cố hết sức học tiếng Pháp, nhưng anh chỉ mới thu được một số vốn ngoại ngữ ít ỏi, vừa đủ để ... Hỏi thăm đường và nói những câu xã giao, mua bán thông thường.
hôm nay cố gắng theo dõi câu chuyện, Mai-cơn chỉ hiểu lõm bõm rằng các nhà bác học đang nói tới một chất gì đó mới lạ mà nhà hóa học Pháp Cuốc-toa vừa phát hiện ra. Qua câu chuyện, giáo sư Đê-vi tỏ vẻ rất chú ý tới chất mới đó, và khi Clê-man đưa tặng ông một ít chất này thì Mai-cơn thấy vị thầy học của mình mừng lộ ra mặt.
Khách vừa về, Đê-vi đã yêu cầu Mai-Cơn chuẩn bị ngay dụng cụ thí nghiệm để ông nghiên cứu chất mới đó. Nhà hóa học ngồi lì trong phòng riêng mấy ngày liền, không ra ngoài tiếp khách.
Sau vài ngày, Đê-vi gọi Mai-Cơn vào phòng và xoa tay thích thú :
- Mai-cơn ạ ! Tôi bắt đầu nghĩ rằng chất mới này là một nguyên tố hóa học, giống như nguyên tố clo mà trước đây người ta cứ tưởng là một hợp chất. Nếu tôi chứng minh được điều này thì có lẽ tôi sẽ đặt tên cho nó là “i-ô-đin” ! Anh có biết không, tiếng Hi Lạp “i-ô-đét” có nghĩa là màu tím, mà chất này khi đốt nóng thì bốc hơi màu tím.
giáo sư vừa nói vừa đưa cho Mai-Cơn một ống nghiệm đựng chất mới, có hạt nhỏ ánh tím, màu đen giống như than chì, và ở phía trên thì có hơi màu tím. Ông trỏ tay vào những đồ thí nghiệm để trên bàn và nói :
- Bây giờ tôi phải đi dạo chơi một chút để nghỉ ngơi. Nếu như anh thích, anh có thể nghiên cứu lại những thí nghiệm tôi vừa mới làm. Tôi đã ghi sơ lược ở quyển sổ kia. Xong đâu đấy, anh thu xếp gọn gàng các dụng cụ thí nghiệm lại cho tôi nhé.
Mai-cơn vui mừng, cảm ơn giáo sư Đê-vi và bắt tay ngay vào việc thí nghiệm. Anh chăm chú đọc lại bản ghi chép của giáo sư và cặm cụi làm lại tất cả những thí nghiệm đã nhắc đến. Khi anh làm xong thí nghiệm cuối cùng và ngẩng đầu nhìn lên thì những tia sáng cuối cùng của một ngày cũng đã tắt. Anh đã trải qua trọn một ngày làm việc, quên cả ăn uống. Nhưng anh không thấy mệt, mà trái lại cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

3


Giáo sư Đê-vi sung sướng nói với người phụ tá của mình :
- Anh có biết không, giáo sư Gay Luýt-xắc cũng đã phải bác bỏ thuyết của nhà bác học La-voa-di-ê cho rằng mọi a-xit đều bắt buộc phải có ô-xy ! Gay Luýt-xắc cũng đi đến kết luận như tôi rằng clo và i-ốt đều là nguyên tố và đều kết hợp được với hy-đrô để tạo thành a-xit không cần sự tham gia của ô-xy.
Pha-ra-đây cũng vui mừng, nói :
- Như vậy chắc hẳn giới khoa học Pháp phải công nhận rằng ngài là người đầu tiên chứng minh i-ốt là một nguyên tố chứ ạ ?
Đê-vi mỉm cười, lắc đầu :
- Vấn đề không đơn giản như thế, anh bạn trẻ ạ. Người Pháp đang ra sức tranh cãi cho quyền ưu tiên của người đồng hương họ là Gay Luýt-xắc,
Mai-Cơn Pha-ra-đây ngạc nhiên vì chuyện đó. Anh còn nhớ rõ ngày 8 tháng 12 vừa qua, anh đi theo Đê-vi đến trường Đại học bách khoa Pa-ri đi nghe nhà bác học Gay Luýt-xắc báo cáo về một định luật vật lý do ông vừa khám phá ra. Chính sau buổi báo cáo, Gay Luýt-xắc đã mời Đê-vi vào thăm phòng thí nghiệm vật lý tại đây, và Mai-Cơn chỉ nghe thấy nhà bác học Pháp giới thiệu về phòng thí nghiệm đó, coi là một niềm tự hào của trường Đại học bách khoa Pa-ri.
Mai-cơn vội hỏi Đê-vi :
- Thưa giáo sư, đến mới hôm đó ngài Gay Luýt-xắc còn chưa chú ý gì tới cái chất mới i-ô-đin cả cơ mà ?
- Đúng thế ! Nhưng sau khi nghe tôi nói về những tính chất kỳ lạ của chất i-ô-đin thì Gay Luýt-xắc vội vã nghiên cứu ngay chất đó. Anh nên biết, giáo sư Gay Luýt-xác có một phòng thí nghiệm riêng tại nhà rất hoàn hảo và ông ta có kỷ thuật thực nghiệm rất điêu luyện. Vì vậy mà tôi đã phải ngừng tất cả mọi việc khác đi tập trung vào chất i-ô-đin.
Mai-cơn vội nói :
- Đúng thế ! Ngay hôm sau chính tôi đã theo lệnh ngài tới phòng thí nghiệm của Vườn bách thảo Pa-ri mượn ngài Sơ-vrô-lê bộ pin Vôn-ta để ngài làm thí nghiệm điện phân i-ô-đin.
Đê-vi gật đầu :
- Và ngày 13 tháng 12, tôi đã hoàn thành một bản báo cáo ngắn về kết luận i-ô-đin là nguyên tố hóa học gởi tới Viện hàn lâm khoa học Pháp. Nhưng Gay Luýt-xắc cũng đạt được những kết quả giống như tôi. Vì thế mới có chuyện tranh cãi về quyền ưu tiên.
Mai-cơn hơi lạ, bèn hỏi :
- Thưa giáo sư, tại sao người ta không nói rằng cả ngài và ngài Gay Luýt-xắc đều tìm ra điều đó có hơn không ?
Đê-vi cười :
- Anh còn ngây thơ lắm, Mai-Cơn ạ ! Được công nhận quyền ưu tiên phát minh ra một điều gì đó có nghĩa là được toàn quyền sử dụng phát minh đó. Có người chỉ nhờ một phát minh mà đã trở thành người giàu có, sang trọng, sung sướng suốt đời.
Mai-con thốt kêu lên :
- Lẽ nào mục đích của những con người vĩ đại chinh phục thiên nhiên hùng vĩ lại có thể như thế ? Mục đích của khoa học vĩ đại đến nổi khi làm việc để đạt tới nó thỉ những người yếu đuối nhất cũng trở thành khỏe khoắn. Cho nên, xin ngài tha lỗi, thật là sỉ nhục khi một nhà khoa học vì danh vọng, địa vị, tiền tài mà bán rẻ mục đích vĩ đại đó !
Đê-vi thấy người học trò của mình quá xúc động. Ông bước ra cửa rồi quay trở lại vỗ vào vai Mai-Cơn và nói :
- Ý kiến của anh rất độc đáo ! Dù sao thì giới khoa học Pháp cũng đã quyết định mở tiệc chào mừng thành công mới của tôi rồi !
0
CHƯƠNG II
Ở NƯỚC Ý


1


Cổ xe bốn ngựa dừng bánh trước cổng chính Viện hàn lâm thí nghiệm Phơ-lô-ren-xơ, trước kia là một tòa lâu đài lớn của công tước Tô-xcan. Mai-Cơn nhanh nhẹn nhảy xuống mở cửa xe cho nhà bác học Đê-vi.
Ông giám đốc Viện hàn lâm ra tận xe đón nhà bác học nổi tiếng người Anh và trịnh trọng mời vị khách quí vào thăm Viện. Mai-Cơn theo sau, thong thả bước trên con đường đồ đầy đá sỏi nằm lọt vào giữa một rừng cây cao vút. Con đường dẫn tới một vườn hoa lớn, nằm ngay trước cửa lâu đài.
Ông giám đốc trỏ tay vào một bức tượng thần Vệ nữ xây trên cái bệ cao ở giữa một bồn hoa lớn, giới thiệu :
- Thưa các ngài, đây chính là nơi xưa kia công tước Tô-xcan tổ chức đêm vũ hội nổi tiếng có suối nước phun, bơm từ một chiếc giếng sâu lên. Các ngài còn nhớ, đêm đó nước không hút lên được vì giếng sâu gần mười lăm mét. Nhà bác học vĩ đại Ga-li-lê đêm đó cũng có mặt, nhưng chưa hiểu được nguyên nhân của hiện tượng này. Gần hai chục năm sau, người học trò nổi tiếng của ông là Tô-ri-xen-li mới phát hiện ra rằng, nguyên nhân đó là do áp suất của khí quyển.
Chủ và khách đã bước vào trong lâu đài. Ông giám đốc mở các phòng thí nghiệm. Mai-Cơn Pha-ra-đây suýt nữa thì thốt kêu lên vì kinh ngạc, phòng thí nghiệm thật là giàu có. Những chiếc tủ lớn kê sát tường chạy quanh gian phòng khá rộng đều đầy ắp những dụng cụ thí nghiệm. Trên những chiếc bàn lớn bày ở giữa phòng cùng có vô số những máy móc, dụng cụ.
Mai-cơn bước lại gần một chiếc kỉnh thiên văn ngoài bọc vỏ đồng đã ngả màu xám. Ông giám đốc vội vàng giới thiệu :
- Đây chính là chiếc kính thiên văn của Ga-li-lê vĩ đại !
Mai-cơn sờ tay vào vỏ ngoài của ổng kính, trong lòng rộn lên một niềm xúc động lạ thường. Phải chăng chỉ nhờ chiếc kính thiên văn thô sơ này mà nhà bác học Ý đã viết nên tác phẩm bất hủ “ Sứ giả của các vì sao” đánh một đòn trí mạng vào giáo lý của nhà thờ thiên chúa giáo ? Phải chăng chính chiếc kính thiên văn này đã giúp ông khám phá ra những bí mật của bầu trời và đã bắt đầu nhen lên ở ông, ngọn lửa đấu tranh dũng cảm vì chân lý khoa học, bất chấp những thế lực phản động của thế kỷ xưa ?
Mai-cơn rời khỏi chiếc kính thiên văn, theo Đê-vi bước sang khu vực bày các máy điện. Ông giám đốc hãnh diện trỏ tay vào những chiếc máy đó và nói :
- Thưa các ngài, những chiếc máy này không có gì lạ đối với các ngài. Nhưng đối với chúng tôi thì đây là những niềm tự hào bởi vì chúng đều là những di tích lịch sử. Đây là một trong những chiếc bình lấy-đen đầu tiên đo nhà vật lý Hà Lan Mu-sen-brốc sáng chế ra trong những năm bốn mươi của thế kỷ trước. Còn đây chính là chiếc pin Vôn-ta mà nhà bác học Ý đem trình điện trước hoàng đế Pháp Na-pô-lê-ông và được hoàng đế tặng cho cái tên “ kỳ quan của thế kỷ XIX”.
Giáo sư Đê-vi ngắm nghía các hiện vật và nói với viên giám đốc :
- Thưa ngài, phòng thí nghiệm của ngài thực là một viện bảo tàng lịch sử vô giá, chứng minh rằng Viện hàn lâm Phơ-lô-ren-xơ xưa kia đã có một quá khứ vô cùng vẻ vang.
Viên giám đốc nhã nhặn cảm ơn nhà hóa học và trịnh trọng mời ông về phòng họp. Đê-vi bước ra khỏi phòng thí nghiệm, khẽ ghé vào tai người phụ tá của mình và nói nhỏ bằng tiếng Anh :
- Thật đáng tiếc rằng phòng thí nghiệm giàu cỏ này lại chỉ là một viện bảo tàng. Tất cả các dụng cụ thí nghiệm đều đầy bụi bám, chứng tỏ đã lâu không có ai sử dụng chúng vì mục đích khoa học !
Mai-Cơn Pha-ra-đây rút một chiếc bút lông ngỗng trên ống bút, thong thả chấm vào lọ mực và nắn nót viết lên quyển vở khổ lớn đs mổ' rộng một hàng tiều đề bằng chữ in. Hôm nay anh phải mô tả lại đầy đủ quá trình thí nghiệm đốt cháy kim cương mà nhà bác học đã trình bày trước một số nhà khoa học Ý tại Viện hàn lâm Phơ-lô-ren-xơ.
Mai-cơn bắt đầu viết :
“ Cách đây 120 năm, các viện sĩ Phar-ỉô-ren-xo đã trình bày trước sự có mặt của công tước Lê-ô-pôn, một thí nghiệm độc đáo về dàng thấu kính hội tụ tập trung ánh sáng mặt trời đốt cháy một hạt kim cương ... Ngày 21 tháng 3 năm 1814 giáo sư Hâm-phtr-ri Đê-vi, chủ tịch Hội hoàng gia Luân Đôn, giám đốc Học viện hoàng gia Đại Anh quốc đã quyết định sử dụng chiếc thấu kính lịch sử, lớn có một không hai của Viện hàn lâm thí nghiệm Phtr-lồ-ren-xv để tiến hành lại một lần nữa cái thí nghiệm độc đáo kia, nhưng với một phương pháp khoa học hơn”.
Ngòi bút của Mai-cơn lướt nhanh trên các trang giấy như làm sống lại quang cảnh cuộc thí nghiệm đó.
Giữa trưa ngày 24 tháng 3. Căn phòng thí nghiệm của Viện hàn lâm Phơ-lô-ren-xơ như bừng tỉnh giấc sau mấy chục năm ngủ dài. Ông giám đốc, nét mặt tươi tỉnh và dường như có mặt ở khắp nơi trong phòng, khi thì đón chào một nhà khoa học Ý vừa tới, khi thì trao đổi một vài câu xã giao với các vị khách thượng lưu của thành phố Phơ-lồ-ren-xơ.
Khi Mai-cơn đi theo Hâin-phơ-ri Đê-vi bước vào phòng thì mọi tiếng ồn ào đều im bặt. Ai nấy đều hân hoan đón chào nhà hóa học tri tuÀi và náo nức chờ đợi cuộc tiến hành thí nghiệm lịch sử.
Trong khi viên giám đốc Viện giới thiệu Đê-vi với mọi người, thì Mai-cơn Pha-ra-đây nhanh nhẹn gắn một miếng kim cương vào đầu một thanh bạch kim rồi đưa vào bên trong một bình cầu thuỷ tinh và đậy nút bình lại. Giáo sư Đê-vi đã mặc xong chiếc áo khoác trắng và đưa mắt ra hiệu cho Mai-cơn. Anh trao bình thủy tinh cho nhà bác học rồi đưa chiếc giá có cặp chặt chiếc thấu kính lớn ra phía cửa sổ đón lấy những tia nắng mặt trời nóng bỏng. Luồng ánh sáng mặt trời tụ lại thành một vệt sáng chói lọi trên mặt bàn. Hâm-phơ-ri Đê-vi thận trọng đưa bình thuỷ tinh đón đúng lấy vệt sáng đó.
Trong phút chốc, chiếc bình thuỷ tinh đã nóng rực lên, miếng kim cương treo ở trong bình bắt đầu mờ đi rõ rệt. Mai-cơn hồi hộp theo dõi cuộc thí nghiệm. Anh khẽ nhắc :
- Thưa giáo sư, có lẽ ta nên chuyển binh thuỷ tinh ra xa một chút để tránh nóng chảy.
Giáo-sư Đê-vi mỉm cười gật đầu. Ông làm theo ý kiến người phụ tá, và sau đó lại tiếp tục đưa bình thuỷ tinh vào giữa vệt sáng chói tập trung ánh sáng ở trên bàn.
Bỗng có tiếng kêu lên :
- Cháy rồi !
Tất cả những người có mặt trong phòng đều đổ xô lại chung quanh chiếc bàn thí nghiệm quan sát mẫu kim cương đang bốc cháy, tỏa ánh sáng màu hồng ...
Mai-cơn vẫn tiếp tục viết, anh mô tả gọn và đầy đủ một loạt thí nghiệm tiếp theo mà giáo sư Đê-vi đã tiến hành nhằm chứng minh rằng : kim cương chẳng qua cũng là một dạng của các-bon. Khi đốt cháy nó trong một bình hàn kín đựng toàn khí ô-xy thì chỉ thấy có khí các-bò-níc tạo thành. Nó cũng hòa hợp với các nguyên tố khác và tạo ra các hợp chất như chất các-bon thông thường.
Mai-Cơn đọc lại lần cuối cùng bản báo cáo đã viết xong. Anh thong thả gấp quyển vở lại và mỉm cười nghĩ tới lúc giáo sư Đê-vi xem lại bản báo cáo đó. Thói quen ghi chép khi tự học theo sách báo đã giúp anh rèn luyện được năng lực viết báo cáo khoa học cô đọng, súc tích, chặt chẽ, khiến cho một nhà bác học lớn như Đê-vi cũng phải hài lòng.
0
[size=5]
CHƯƠNG III
GIƠ-NE-Vơ[/size]


1

giáo sư Đơ-la-ri-vơ và phu nhân từ trên thềm nhà bước tới đón các vị khách quí. Sau khi chào hỏi hai vợ chồng giáo sư Hâm-phcr-ri Đê-vi, nam tước, chủ tịch Hội hoàng gia Luân Đôn, Đơ-la-ri-vơ dẫn Mai-Cơn tới giới thiệu với bà vợ mình :
- Đấy là ông Mai-Cơn Pha-ra-đây, thư ký của ngài Hâm-phơ-ri Đê-vi. Ông Mai-cơn cũng là một người rất yêu thích khoa học.
Mai-cơn hơi lúng túng. Anh lễ phép cúi đầu chào bà Đơ-la-ri-vơ. Bà chủ nhà lịch thiệp mời các vị khách vào căn phòng lớn của tòa biệt thự. Trong lúc lùi lại phía sau để nhường bước cho hai vợ chồng giáo sư Đê-vi, Mai-Cơn thoáng nhận thấy bà Ê-pơ-rít Đê-vi hơi cau mặt tỏ vẻ không bằng lòng sự quan tâm đặc biệt mà ông Đơ-la-ri-vơ vừa dành cho anh. Một nỗi lo âu mơ hồ nào đó bỗng thoáng hiện ra trong óc khiến cho anh lơ đãng theo dõi câu chuyện giữa hai nhà bác học. Đcr-la-ri-vcr tỏ vẻ hơi ngạc nhiên trước sự ngập ngừng của chàng thanh niên.
Đã tới giờ ăn tiệc. Bà Đơ-la-ri-vơ trịnh trọng mời các vị khách sang phòng ăn. Bà vui vẻ cầm tay nam tước phụ nhân, mời tới chỗ ngồi danh dự trên bàn tiệc. Nhưng bà Ê-pơ-rít Đê-vi bỗng hơi cau mặt, rồi nhẹ nhàng xin lỗi bà chủ nhà và tiến lại bên cạnh chống nói khẽ một câu gì, Mai-cơn thoáng thấy giáo sư Đê-vi tỏ vẻ lúng túng. Anh bỗng hiểu ý định của bà ĐẻTVÌ và tái mặt đi vì xấu hổ.
Giáo sư Đơ-la-ri-vơ hơi ngạc nhiên vì thấy các vị khách đều tỏ vẻ thiếu tự nhiên. Ông liền lên tiếng :
- Xin mời các vị vào bàn !
Sau đó ông bước tới bên cạnh Đê-vi và khẽ hỏi :
- Có điều gì vậy, thưa ngài ?
Hâm-phơ-ri Đê-vi khẽ trả lời :
- Thưa ngài, không có gì cả đâu. Chỉ xin ngài cho phép nói riêng một chút.
Hai người bước ra ngoài hành lang. Đê-vi hơi ngượng nghịu nói bằng tiếng Pháp :
- Xin lỗi ngài ... Nam tước phụ nhân và tôi chưa quen ngồi dự tiệc cùng bàn với người thư ký của chúng tôi !
Đơ-la-ri-vơ đỏ mặt lên. Ông ngạc nhiên trước thái độ của nhà bác học Anh. Nhưng ông vội vàng xin lỗi Đê-vi và gọi người phục vụ bày riêng cho Mai-Cơn Pha-ra-đây một bàn ăn ở ngay bên cạnh chỗ ngồi của ông.
Chủ và khách đã ngồi vào dự tiệc. Người ta tiếp tục trao đổi những câu chuyện xã giao. Nhưng trong câu chuyện rõ ràng có một cái gì gượng gạo. Chỉ có bà Ê-pơ-rít Đê-vi là tỏ vẻ hài lòng. Còn giáo sư Hầm-phơ-ri thì có phần nào hơi hối hận vì cử chỉ của mình, Giáo sư Đơ-la-ri-vơ cứ suy nghĩ mãi về những thói quen kiểu cách của dân tộc Anh. Trong bữa ăn, ông luôn luôn cố ý nói to như để ám chỉ là ông hỏi chuyện cả chàng thanh niên Mai-Cơn lúc đó đang cảm thấy nghẹn ngào vì tủi nhục.
tới cuối bữa tiệc, Đơ-la-ri-vơ quay lại hỏi chuyện Mai-cơn. Trong lòng ông bỗng tràn ngập một niềm thương chàng thanh niên mà ông đem lòng mến phục kia ngồi im như bức tượng, bộ mặt nhợt nhạt và đôi mắt sâu thẳm vì buồn rầu.
Đơ-la-ri-vơ bèn đứng dậy rót đầy rượu vang vào cốc của tất cả mọi người ngồi trong bàn tiệc. Ông cầm lấy cốc rượu của mình và nói to :
- Xin đề nghị các vị nâng cốc chúc mừng khoa học của tất cả chúng ta.
Ông lại bước tới trước mặt Mai-Cơn và nói :
- Xin mời ông Mai-Cơn Pha-ra-đây cạn chén chúc mừng khoa học, cạn chén chúc mừng tất cả những ai thực lòng muốn phục vụ khoa học.
Trong lúc tất cả mọi người cùng cất tiếng mời : “ Cạn chén ! ” thì Đơ-la-ri-vơ khẽ nói riêng với Mai-Cơn rằng :
- Đừng buồn, anh bạn trẻ của tôi ạ ! Bạn hãy tin rằng người nào muốn coi thường người khác thì rốt cuộc chỉ làm cho mình bị coi thường mà thôi !
Mai-cơn đứng dậy, tay run run nâng cốc rượu vang uống cạn một hơi và đưa đôi mắt đầy lòng biết ơn nhìn thẳng vào mắt ông Đơ-la-ri-vơ. Sự thông cảm sâu sắc của nhà khoa học chân chính đó như một tia chóp lóe lên trong đêm tối giúp cho người đang lạc trên sa mạc thêm vững lòng tin. Không phải mọi người đều xấu cả ! Anh tự nhủ, cần phải kiên trì, chịu đựng mọi sự thử thách cửa cuộc đời.
Đêm đã khuya nhưng Mai-Cơn vẫn còn ngồi bên bàn viết. Giờ đây Gia-ne-va cũng không còn làm cho lòng anh xao xuyến nữa. Đảo Rút-xô với bức tượng của nhà tư tưởng lớn người Pháp Giăng Giắc Rút-xô, dòng sông Ác-vơ xám đục chảy về cuồn cuộn từ vùng núi cao băng giá, những trái núi lớn của dãy An-pa hùng vĩ ... Tất, tất cả đều như bị mờ đi trước nỗi tủi nhục chán ngán của anh.
Trong những ngày trên đất Pháp, đất Ý và Thụy Sĩ, tầm mắt của anh quả thật có được mở rộng ra nhiều. Sự tiếp xúc với những nhà khoa học lớn có nâng bổng được tâm hồn anh lên, có kích thích thêm tình yêu khoa học của anh. Song đồng thời, anh cũng được thấy rõ thêm mặt trái của cuộc sống ở ngay những con người khoa học đó.
Mai-cơn cúi xuống bức thư anh đang viết dở dang cho người bạn thân Ben-gia-men Áp-bốt.
“ Đã có lúc tôi muốn vứt bỏ tất cả để trở về với cái nghề đóng sách bình dị thuở xưa !. Bạn thân mến, bạn muốn biết tại sao tôi thấy bất hạnh tr ĩ. Tôi có thể kể cho bạn nghe hàng ngàn lời than thở ...
Trước kia để cho giáo sư Đê-vi khỏi lúng túng, tôi đã nhận lời đi theo để giúp đỡ giáo sư trong cuộc hành trình.
Nhưng tại Pa-ri, giáo sư chẳng tìm được người hầu hạ nào vừa ý : giáo sư muốn tìm một người giúp việc vừa biết Tiếng Anh, vừa biết Tiếng Pháp, lại có thể biết một chút Tiếng Đức nữa. ở Pa-ri không đào đâu ra được một người giáp việc như thế, và dĩ nhiên đến Li-ông, đến Nì-xcr, đến Phữ-lô-ren-xữ, đến La Mã và cả đến Thụy Sĩ cũng chẳng tìm đâu ra được một người như thế. Tôi đã phải đóng vai quản gia suốt từ lúc ra đi iền già và. Chắc chằn sẽ phải đóng vai đó cho tái khi về nước ... “.
Mai-Cơn đẩy ghế đứng dậy, bước ra ngoài sân. Anh buồn rầu, nhớ lại sự đối xử bất công của bà Ê-pơrrít Đê-vi trong suốt cuộc hành trình. Anh đã chịu đựng và sẽ sẵn sàng chịu đựng cho đến khi về, nếu như giáo sư Đê-vi thông cảm với nỗi khổ tâm đó của anh. Nhưng sự đời sao mà éo le ! Mai-Cơn lắc đầu cố xua đuổi những hình ảnh trong bữa tiệc tại biệt thự của giáo sư Đơ-la-ri-vơ.
Ôi ! Con đường đi đến khoa học đối với anh sao mà nhiều chông gai, nhiều chua chát như thế ? Anh có nên làm như vừa viết trong bức thư gửi về Luân Đôn cho bạn không nhỉ ? Rời bỏ khoa học để trở về với nghề đóng sách. Bình dị, với bác Giắc, bác Tôm, với ông Ri-bô, ông Đơ La-rô-sơ ? Ôi ! Cái ông Đơ La-rô-sơ tham công tiếc việc ! Mai-cơn bỗng thốt lên khe khẽ :
- Không thể nào như thế được ?
Sương đêm mát lạnh thấm vào da thịt anh và dường như phần nào đã làm dịu bớt được nỗi u uất : Mai-Cơn đã trở lại bình tĩnh hơn. Trong óc anh lần lượt hiện ra hình ảnh nhà vật lý người Đức Gioóc-giơ Xi-môn Ôm xuất thân từ một gia đình thợ làm vườn đã cần cù nhẫn nại giành lấy từng vị trí trong pháo đài khoa học : từ một giáo viên tiểu học, ông đã tiến lên thành một nhà vật lý học bất tử với những định luật về dòng điện mang tên ông. Rồi nhà bác học nổi tiếng Am-pe đã phải đấu tranh khốc liệt với nỗi đau đớn về cái chết oan ức của người cha, với nỗi thiếu thốn vật chất của gia đình để tiếp tục duy trì sự nghiệp khoa học.
Câu chúc mừng của giáo sư Đơ-la-ri-vơ lại văng vẳng bên tai Mai-Cơn :
- Cạn chén chúc mừng tất cả những ai thực lòng muốn phục vụ khoa học !
Chỉ những ai thực lòng muốn phục vụ khoa học, bất chấp mọi chông gai mới xứng đáng được nhận lời chúc mừng chân tình đó ! Bất giác Mai-Cơn nắm chặt hai bàn tay lại, ngẩng mặt nhìn lên bầu trời đầy sao. Vũ trụ bao la và cao cả. Đứng trước cái hùng vĩ vô cùng đó, mọi nổi đau to lớn nhất của con người cũng đều trở thành nhỏ mọn. Anh tự nhủ thầm :
- Hãy dẹp đi mọi nỗi ưu tư riêng biệt và hướng tất cả tâm trí vào việc khám phá ra những bí mật trong vũ trụ bao la !

*
* *


May mắn thay cho Mai-cơn Pha-ra-đây và cho cả khoa học, giáo sư Hâm-phơ-ri Đê-vi đột nhiên thay đổi kế hoạch đi thăm châu Ãu. Ngay hôm sau ông đã quyết định kết thúc cuộc hành trình và trở về Luân Đôn. Người quản gia nhịn nhục Mai-Cơn Pha-ra-đây cũng được chấm dứt những ngày chịu đựng những nỗi đối xử bất công của bà Ê-pơ-rít Đê-vi, và bước vào một thời kỳ giành lấy những vinh quang bất diệt trong khoa học.
0
PHẦN THỨ BA
NHÀ BÁC HỌC

CHƯƠNG I
NHỮNG BƯỚC Đi ĐẦU TIÊN

1


Mai-cơn hối hả đóng cửa phòng thí nghiệm để về nhà. Anh muốn chia sẽ nỗi vui mừng với mẹ và anh trước khi đến lớp. Anh vui là phải. Cách đây đăm năm anh còn náo nức, ước ao đi dự những lớp học buổi tối. Thế mà hốm nay chính anh lại sắp sửa giảng bài đầu tiên cho những thanh niên nghèo ham học. Một người thợ chưa học hết lớp hai tiểu học như anh, bây giờ sắp sửa bước lên diễn đàn đóng vai người thầy giáo !
Mai-cơn đã nhìn thấy mẹ và anh ra cửa đón mình. Anh vội vã rảo bước đi nhanh. Anh ôm choàng lấy mẹ, trong mắt ánh lên một niềm hân hoan cao độ :
- Mẹ ! Chân mẹ có đỡ tê không ? Hôm qua anh Ghèc-xtê-bcm có đến khám bệnh cho mẹ không ?
Bà Mác-ga-rít hiền từ nhìn con :
- Anh bạn bác sĩ của con có đến thăm bệnh và cho thuốc. Anh ấy bắt mẹ nằm nghỉ, nhưng nằm mãi cũng chán nên mẹ ra kéo bễ đỡ anh con một tay cho vui.
Mai-cơn quay lại phía anh trai và nói :
- Anh cố thu xếp nghỉ buổi tối có được không ? Em muốn mời mẹ và anh đến nghe bài giảng đầu tiên của em ở lớp học buổi tối do Hội triết học chúng em tổ chức. '
Anh Rô-bớc cười ha hi :
- Chà ! Khá nhi ! thế là em đã thành ông giáo rồi đấy hả ?
Mai-cơn sung sướng, đỏ mặt lên đáp :
- Ông Ta-tum trước đây vẫn phụ trách lớp học này. Nhưng bây giờ ông già yếu rồi nên không nhận giảng nữa. Anh Ma-gơ-ra giữ chức thư ký của Hội yêu cầu em thay ông Ta-tum, anh ạ ! Em phải chuẩn bị bài giảng này suốt một tháng trời cơ đấy.
Anh vừa nói vừa thò tay vào túi áo lấy ra một tập giấy dày đưa cho Rô-bớc. Người anh đỡ lấy tập giấy mở ra xem. ở giữa trang đầu tiên là một hàng tiêu đề lớn : “ Mô tả những tính chất của vật chất, các dạng vật chất và những chất đơn giản “. Mở tiếp sang trang sau, anh lầm nhẫm đọc những dòng đầu tiên :
“ Hóa học là khoa học về các lực và các tính chất của các chất và về các tác dụng do những lực đã gây ra. Như vậy là tôi sẽ nói về các chất và về những tính chất của chúng ... “.
Rô-bớc đưa trả tập giấy cho em và nói :
- Những vấn đề này anh nghe có hiểu được không ?
Mai-cơn cười :
- Em cố bắt chước bà Mác-xê và giáo sư Đê-vi trình bày vấn đề khoa học chính xác thế nào cho những người mới học cũng có thể hiểu được. Ngày xưa em cũng chỉ như anh, thế mà cứ cố gắng vừa làm vừa học rồi cũng vỡ vạc dần ra đấy.
Bà mẹ nghe con nhắc đến ngày xưa liền thoáng nghĩ đến hỉnh ảnh đứa con gầy yếu cặm cụi học hành. Bà nói, giọng cảm động :
- Ai cũng bì được với con ư ? Hổi ấy mẹ cứ cho rằng con chỉ ao ước viển vông. Mẹ chẳng bao giờ tin là con có thể làm nên, nhưng vì thương con nên không dám ngăn trừ con học hành. Thế mà bây giờ ...
Mai-cơn nắm chặt lấy tay mẹ :
- Không phải thế đâu mẹ ạ ! Những người nghèo khổ như chúng ta thật khó có điều kiện học bành. Nếu không nhờ sự giúp đỡ của mẹ và anh Rô-bớc thì chắc chắn con không thể có ngày nay được. Nhưng ai cũng là người có bộ óc, có bàn tay. Việc học chẳng phải là độc quyền của ai cả.
Anh căm tức, nhấn mạnh :
- Bọn người giàu có chỉ muốn cho chúng ta suốt đời dốt nát, để cho họ có thể làm bất cứ điều gì cũng được. Chúng ta phải học, phải hiểu biết !
Anh quay sang nói tiếp với Rô-bớc :
- Chính vì thế mà chúng em tổ chức ra Hội triết học, tập hợp những thanh niên nghèo nhưng ham bọc, để giúp họ hiểu biết khoa học. Anh cũng phải học thêm nhiều nữa mới được.
Rô-bớc cười :
- Ừ ! Anh sẽ học. Thế mà điều em ước ao thuở nhỏ “cà nhà đi học” nay đã thành sự thực rối đấy.
Mai-cơn sung sướng nói :
- Ước mơ nhất định có thể trở thành sự thực, miễn là mình quyết tâm thực hiện ước mơ. Anh có biết không, em còn mơ ước nhiều hơn nữa, muốn học nhiều hơn nữa, truyền đạt lại cho người khác nhiều hơn nữa. Và cm còn mong muốn tìm ra được những điều mới mẻ, có ích cho nhân loại nữa cơ !

2


Mấy người bạn quây quần quanh chiếc bàn nhỏ trong căn phòng của Áp-bốt. Họ họp nhau rút kinh nghiệm về bài diễn giảng của Mai-Cơn Pha-ra-đây.
Ma-gơ-ra nhân danh thư ký của Hội triết học lên tiếng trước :
- Thú thật với các anh, khi đề nghị Mai-cơn phụ trách các bài diễn giảng thay ông Ta-tum, tôi rất lo ngại. Nhưng sau buổi hôm nay. Thì tôi hoàn toàn yên tâm rồi !
Áp-bốt gật đầu, tán thành :
- Nhiều vấn đề Mai-cơn trình bày mọi người đều đã biết, và nhiều vấn đề khác mới mẻ thì không phải dễ tiếp thu. Tuy nhiên tôi thấy người nghe ai cũng chăm chú và ghi chép. Bài nói của diễn giả hoàn toàn hấp dẫn.
Ghếc-xtê-bơn cũng nói :
- Tôi nhận thấy Mai-Cơn có hai điểm thành công xuất sắc. Một là cách đặt vấn đề thật rõ ràng và cách giải quyết thật chặt chẽ. Hai là anh đã khéo dựa vào những điều mọi người thường gặp trong cuộc sống hàng ngày để khêu gợi mọi người suy nghĩ. Tôi rất thích đoạn anh khêu gợi óc tò mò khoa học của con người. Ghèc-xtê-bơn đứng dậy, sửa sang lại điệu bộ rồi thong thả nhắc lại đoạn văn đó của Mai-Cơn :
“Vị trí của chúng ta trong thế giới này thật đáng ngạc nhiên xiết bao ! Chúng ta sinh ra được giáo dục, được nuôi nấng trong thế giới đó, và chúng ta quen coi những điều đó như những sự tất yếu. Thật đáng lạ lùng biết mấy nếu không bao giờ chúng ta kinh ngạc trước những sự bất ngờ của thế giới. Mỗi người trẻ tuổi thường ngạc nhiên trước hình dạng của một thác nước hay một ngọn núi cao nhiều hơn là ngạc nhiên về vằn để lý do tồn tại của nó, về vấn đề tại sao nó xuất hiện trên quả đất này, nó sống cuộc đời ra sao, và vì sao nó di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác. Chính vì vậy mà tuy chúng ta đang sống trong thế giải này nhưng vẫn không chịu mất công suy nghĩ xem mọi việc đang diễn ra như thế nào. Và nếu như không có những người đi sâu tìm hiểu những câu hỏi đó, khám phá ra những định luật quan trọng, điều khiển sự tồn tại của chúng ta trên trái đất thì có lẽ sẽ chẳng có cái gì đáng làm cho chúng ta ngạc nhiên nữa cả ! ”.
Mấy người bạn đều gật gù lắng nghe đoạn văn đó. Mai-cơn cảm động nói :
- Những lời khen rộng lượng của các anh khuyến khích tôi nhiều lắm. Tôi chỉ trình bày những điều mà do kinh nghiệm bản thân khi tự mình mò mẫm học tập, tôi đã thấy là cần chú ý tới. Như đoạn văn này chẳng hạn, đó chính là những ý nghĩ chân thực của tôi khi ở Giơ-ne-vơ, trong lúc đi thăm thác nước Đi-ô-dơ và ngắm cảnh hoàng hôn buông dần trên những ngọn núi lô nhô và trên đỉnh ngọn Bạch sơn cao vút.
Ma-gơ-ra chuyển sang vấn đề khác :
- Nhận xét về sự thành công như thế cũng đủ rồi đấy ! Nhưng theo tôi, ta cũng nên để cập tới những nhược điểm, hạn chế của bài diễn giảng.
Gioóc-giơ Bác-ằng, một hội viên tích cực, liền nói :
- Anh Mai-cơn rất cố gắng trình bày nhiều thí nghiệm để làm sáng tỏ các vấn đề. Nhưng vừa nói lại vừa phải chuẩn bị và biểu diễn thí nghiệm nên vất vả quá.
Áp-bốt gật đầu :
- Có lẽ Hội ta nên tìm cho Mai-cơn một người giúp việc !
Mai-cơn giãy nãy lên, từ chối :
- Làm như thế sao được ? Ai lại tìm người giúp việc cho một anh phụ tá !
Ghếc-xtê-bơn cười, ngắt lời bạn :
- Nhưng là anh phụ tá cánh tay phải của giáo sư Đê-vi. Nếu anh chưa đồng ý thì vấn đề này ta sẽ bàn sau. Còn một điều rõ hơn là : nếu Mai-Cơn cứ tiếp tục diễn giảng như buổi vừa rồi thì tôi e rằng chỉ sau một tháng là ... Anh sẽ vào bệnh viện mất !
Mai-cơn ngượng nghịu nói :
- Tôi chưa nắm được thuật nói chuyện. Hôm đó quả thật tôi rất mệt.
Ma-gơ-ra suy nghĩ một chút rồi nói :
- Có lẽ Mai-cơn nên đi học thêm về thuật hùng biện. Nếu anh đồng ý, tôi sẽ giới thiệu anh với luật sư Xmác-tơ. Ông ta có thể hướng dẫn cho anh.
Mai-cơn vui mừng nhận lời đi học thêm mặc dầu anh rất bận. Hình như đối với anh, điều gì cũng đáng khật khao hiểu biết. Một ngày làm việc mười hai đến mười bốn tiếng đồng hồ, lại còn công việc của Hội triết học. Nhưng hễ nói đến học là không bao giờ Mai-cơn ngần ngại. Bởi vì anh đang chạy đua với thời gian, gấp rút học tập để mở cho mình con đường riêng đi vào khoa học.

3


Giáo sư Đê-vi gọi. Người phụ tá của mình lại gần. Và bảo :
- Những thí nghiệm mà chúng ta cùng tiến hành hơn nửa tháng nay đã đủ cho phép tôi quyết định về nguyên tắc cấu tạo của chiếc đèn mỏ an toàn rồi đấy.
Mai-cơn rất vui mừng. Anh hiểu rằng hàng vạn người phụ mỏ và những người trong gia đình họ cần đến những cây đèn an toàn biết mấy ! Những chất khí nổ sinh ra ở trong các đường hầm lò than cứ luôn luôn gây ra những vụ nổ làm sập hầm, đem đau thương tang tóc đến cho bao gia đình nghèo khổ. Nhưng những người phụ mỏ vẫn cứ phải chui xuống hầm lò, bởi vì họ không còn có cách nào khác nuôi sống được bản thân và vợ con họ.
Mai-cơn thông cảm sâu sắc nỗi mong chờ của những người phụ mỏ. Cho nên khi nhà bác học Đê-vi nhận đơn đặt hàng của Liên hiệp công ty than Đại Anh quốc nghiên cứu về chiếc đèn mỏ an toàn thì Mai-Cơn hết sức sốt sắng tạo mọi điều kiện thuận lợi để giáo sư Đê-vi nghiên cứu nhanh chóng nhất. Có khi nửa đêm anh cũng vui vẻ vùng dậy khi Đê-vi gọi anh đi chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm nhằm kiểm tra một ý nghĩ nào đó mới nảy ra trong đầu óc ông. Và kết quả của những ngày đêm làm việc căng thẳng là bây giờ nhà bác học đã rút ra được kết luận về nguyên tắc cấu tạo của chiếc đèn mỏ an toàn !
Đê-vi nói với người phụ tá :
- Các khí nổ chỉ nổ khi gặp nhiệt độ cao thích hợp. Muốn khống chế các vụ nổ trong hầm lò thì các cây đèn an toàn phải không tạo ra nhiệt độ cao nguy hiểm đó. Bản thân ngọn lửa đèn vốn có nhiệt độ cao hàng ngàn độ. Tôi nghĩ rằng phải làm cách nào “giam kín” được nhiệt độ cao đó lại. Những thí nghiệm của chúng ta với các mạng lưới kim loại cho phép ta làm được việc đó. Tôi quyết định đùng mạng lưới kim loại bọc kín lấy ngọn lửa đèn. Ánh sáng vẫn lọt được ra ngoài qua các mắt lưới. Còn nhiệt độ thì truyền cho lưới kim loại và nhanh chóng tản mát vào không gian nên không kịp tập trung đến độ cao nguy hiểm. Cây đèn mỏ an toàn của tôi chỉ đơn giản như vậy thôi !
Mai-cơn mỉm cười khi nghe câu nói đó. Cái gì cũng vậy, sau khi đã khám phá ra rồi thì đều đơn giản ! Nhưng anh hiểu rõ hơn ai hết cái đơn giản của cây đèn an toàn đáng giá bao nhiêu ngày đêm lao động căng thẳng của thầy trò anh.
Giáo sư Đê-vi đã ngắt ngang dòng suy nghĩ của anh :
- Tất nhiên tôi còn phải tiếp tục thí nghiệm nghiên cứu mọi mặt của vấn đề. Tôi không muốn giải quyết việc gì khác trước khi hoàn thành cây đèn mỏ an toàn này. Nhưng tôi lại vừa nhận được một yêu cầu không thể chối từ ...
Ông đưa cho Mai-Cơn xem một bức thư và một hộp nhỏ rồi nói tiếp :
- Công tước Mông-tơ-rôi-xơ từ nước Ý đề nghị tôi phân tích giúp những mẫu đá vôi này để có thể gấp rút quyết định công việc xây dựng những xí nghiệp hóa học mới. Tôi dự định giao việc đó cho anh. Anh hoàn toàn có năng lực đảm nhiệm công việc này.
Mai-cơn đọc nhanh bức thư và ngắm nghía những mẫu đá trong hộp. Anh ngần ngại trả lời nhà bác học :
- Thưa giáo sư, tôi chỉ sợ công việc vượt quá khả năng ...
Đê-vi mỉm cười vỗ vai người phụ tá :
- Không cần phải quá khiêm tốn ! Anh đã có đủ điều kiện làm việc độc lập rồi. Anh hãy bắt tay nghiên cứu ngay đi rồi viết cho tôi một bản báo cáo ngắn. Tôi sẽ giúp đỡ ý kiến khi cần thiết, và có thể sẽ gửi bài của anh cho đăng trên tờ “ Tạp chí khoa học” của Học viện !
Mai-cơn cảm động cảm ơn vị thầy học của mình. Anh mang hộp mẫu đá trở về phòng thí nghiệm, trong lòng rộn lên niềm vui xen lẫn hồi hộp khác thường. Anh tự hứa sẽ hoàn thành xuất sắc công việc nghiên cứu độc lập đầu tiên này để không phụ lòng tin cẩn của giáo sư Đê-vi, và cũng là để mở đầu thắng lợi cuộc tiến công của mình vào khoa học. Nghĩ đến hai chữ “tiến công”, Mai-Cơn bỗng cảm thấy phấn chấn hẳn lên. Các bình cổ cong, các ống nghiệm, các thuốc thử bây giờ đối với anh không chỉ là những công cụ thí nghiệm bình thường. Đó còn là những vũ khí thực thụ của người chiến sĩ chiến đấu với thiên nhiên để khám phá ra những điều bí mật mà thiên nhiên cố tình che giấu.
0
CHƯƠNG II
SỰ NGHIỆP VĨ ĐẠI


1


Cuộc sống gia đình riêng chẳng hề làm xáo trộn nền nếp học tập và làm việc của Mai-Cơn Pha-ra-đây. Sau khi kết hôn với Xa-ra Bác-ằng, người phụ tá thí nghiệm cần cù của giáo sự Đê-vi lại ngày hai buổi tới chuẩn bị bài giảng cho các giáo sư của Học viện hoàng gia. Rồi lại những buổi trưa và buổi tối, Mai-Cơn cặm cụi ở lại phòng thí nghiệm để đọc nốt một chương sách hoặc làm cho xong một thí nghiệm dở dang. Chỉ có một chút nào khác trước là việc anh thanh niên ham hiểu biết khi trở về căn buồng ở gầm cầu thang của học viện không còn phải một mình gặm miếng bánh mì khô cứng và húp một chén trà đường cho qua bữa.
Với tiền lương bốn mươi sin-linh một tuần, Xa-ra đã khéo thu xếp việc nhà và luôn luôn chăm sóc người chống bằng cách nghĩ ra những món ăn rẻ tiền nhưng ngon miệng. Cũng vẫn như xưa, khi hai người còn là bạn, Xa-ra lắng nghe Mai-cơn kể về những điều anh suy nghĩ và mơ ước, đôi mắt cô vẫn mở to đầy vẻ ngạc nhiên và thông cảm. Xa-ra không đòi hỏi điều gì ở người chồng mà cô rất thương yêu, và cũng như chồng, cô chỉ nghĩ đến sự nghiệp khoa học mà chồng cô đang quyết tâm xây dựng. Cũng vì thế Xa-ra không hề thấy phiền lòng khi đợi chồng về muộn và cũng đã nhiều lần mang thức ăn tới phòng thí nghiệm để chồng khỏi phải bỏ dở công việc.
Tài năng của Pha-ra-đây vẫn tiếp tục phát triển. Bây giờ anh đang đảm nhiệm viết một bài giới thiệu lịch sử nghiên cứu điện từ cho một tờ tạp chí khoa học do nhà vật lý Phi-líp làm tổng biên tập. Anh lao vào đọc sách báo, làm lại tất cả những thí nghiệm đã mô tả một cách say mê đến quên ăn quên ngủ. Những vấn đề về điện vốn đã lôi cuốn anh từ thời niên thiếu, khi còn là một chú thợ học nghề đóng sách ngồi cặm cụi đọc từng bài trong bộ Đại bách khoa toàn thư Anh và biểu diễn trò chơi cho cô em gái Méc-ghi. Nhưng viết một bài nghiên cứu khoa học không giống như kể lại cách tiến hành các “ thuật phù thùy” về điện cho em gái nghe. Những người sẽ đọc bài báo đó là giới khoa học đương thời đòi hỏi tác giả không những tóm tắt được những giai đoạn phát triển lịch sử đã qua của môn điện từ học mà còn phải nêu lên được những vấn đề thời sự mà môn khoa học mới mẻ đó đang phải giải quyết.
Dạo này Xa-ra thường xuyên mang cơm chiều tới phòng thí nghiệm cho chồng. Mai-Cơn miệt mài làm việc mỗi ngày tới mười tám tiếng đồng hồ, và cũng nhiều khi thức trắng đêm không ngủ.
Hôm nay Xa-ra cũng mang cơm tới phòng thí nghiệm và ba, bốn lần giục chồng ăn cho khỏi đói, nhưng lần nào Mai-cơn cũng chỉ cười và trả lời :
- Đợi anh làm nốt cái này đã. Sắp xong rồi đây !
Khi hàn xong mối hàn cuối cùng, Mai-Cơn quay ra vẫn thấy vợ ngồi yên lặng bên cạnh chờ đợi. Anh vội vã đứng lên và nói như để xin lỗi vợ :
- Chà ! Để em đợi lâu qua !
Xa-ra tươi cười bảo chồng :
- Ăn xong rồi hãy thử thí nghiệm anh ạ ! Anh phải giải thích cho em hiểu chứ.
Mai-cơn đã rửa tay xong. Anh vui vẻ đỡ lấy đĩa thức ăn từ trong tay vợ và khen :
- Thơm ngon tuyệt ! Thật là đói ngấu.
Xa-ra sung sướng nhìn chồng ăn uống ngon lành :
- Anh cứ ăn đi. Món ăn này em làm nhiều đấy,
Mai-cơn bẻ một miếng bánh mì và nói :
- Anh còn nhớ thời kỳ theo giáo sư Đê-vi tới Pa-ri. Nhà bác học Am-pe có nói rằng người Pháp phải nhanh chóng từ bỏ những quan điểm sai của La-voa-di-ê vĩ đại, cũng như người Anh phải từ bỏ những quan điểm không đúng của Niu-tơn thiên tài. Càng ngày anh càng thấy câu nói đó là chí lý.
Xa-rạ chưa hiểu chồng định nói gì. Chị vừa toan hỏi thì Mai-cơn đã gật gù nói tiếp
- Chắc em còn nhớ, một tháng sau khi chúng ta làm lễ cưới thì anh nhận được tin tức về thí nghiệm của nhà bác học Đạn Mạch Ởt-xtéc. Khi cho dòng điện qua một dây dẫn đặt song song với một kim nam châm thì kim nam châm lập tức bị quay lệch đi.
Thực ra thí nghiệm đó nhà vật lý Ý Rô-ma-nhô-di năm 1802 đã quan sát thấy, nhưng ông không để ý tới bởi vì trong một thời gian dài người ta cho là giữa từ và điện không có một quan hệ gì cả.
Công lao to lổn của Ớt-xtéc chính là đã mạnh dạn từ bỏ quan điểm lỗi thời đó và nhấn mạnh rằng thí nghiệm đơn giản kia nói lên một mối quan hệ sâu xa giữa từ và điện.
Ngay lập tức các nhà bác học tiên thế giới bắt tay vào nghiên cứu lĩnh vực điện từ học mới mẻ. Nhà vật lý Pháp A-ra-gô đã sáng chế ra được một nam châm khẳng định thêm một bước quan điểm của Ớt-xtéa. Đặc biệt nhà bác học Am-pe đã làm được một loạt thí nghiệm độc đáo về tác dụng từ của dòng điện và xây dựng nên qui tắc “người Am-pe” nổi tiếng để xác định chiều của từ lực ...
Xa-ra mỉm cười, ngắt lời chồng :
- Những điều đó em biết cả rồi. Anh nói ngay xem quan điểm nào của Niu-tơn là không đúng cần phải từ bỏ ?
Mai-cơn gật đầu :
- Theo quan điểm của Niu-tơn thì mọi lực tác dụng giữa hai vật thể đều là những lực trung tâm có phương nằm trên đường nối hai vật thể đó. Nhưng khi nghiên cứu từ lực của dòng điện, Am-pe đã khẳng định rằng đây không phải là lực trung tâm. Nhiều nhà vật lý đã nghĩ rằng từ lực của dòng điện là một lực hướng vuông góc với mặt phẳng chửa dòng điện và cam châm, vấn đề là phải chứng minh rằng ý nghĩ đó đúng.
Xa-ra tiếp thêm thức ăn vào đĩa của chồng và hỏi :
- ít lâu nay anh cũng ra công suy nghĩ để chứng minh cho ý nghĩ đó ?
Mai-cơn gật đầu :
- Cách đây ít lâu, tình cờ anh có nghe tiến sĩ Vôn-la-xtcm thư ký Hội khoa học hoàng gia Luân Đôn, nói với giáo sư Đê-vi rằng thí nghiệm của ông cho một dây dẫn điện quay quanh một nam châm vẫn bị thất bại. Sau khi nghiên cứu anh thấy rằng nếu thực hiện được một thí nghiệm như thế thì sẽ chứng minh hoàn toàn được điều nói trên. Nhưng hơn một tháng naỵ anh chưa thể nào nghĩ ra được cách bố trí thí nghiệm.
Xa-ra ngây thơ hỏi chồng :
- Tại sao anh không tới gặp tiến sĩ Vôn-la-xtcm xem cách bố trí thí nghiệm của ông để rút kinh nghiệm ?
Mai-cơn cười to :
- Em không hiểu cá tính của tiến sĩ Vôn-la-xtơn rồi ! Ông là một người rất tốt nhưng thích làm giàu. Ông tuyệt đối giữ bí mật các công trình nghiên cứu khoa học để còn bán bản quyền phát minh cho các công ty kinh doanh. Ngay đối với giáo sư Đê-vi là bạn thân của mình mà tiến sĩ Vôn-la-xtơn cũng không bao giờ nói rộ, tiền trình thí nghiệm cả cơ mà !
Xa-ra thốt kêu lên :
- Thật đáng tiếc ! Người khác sẽ mất bao nhiều công phụ tìm kiếm lại chỉ vì chuyện giữ bí mật như thế.
- Một tháng nay anh cũng loay hoay mãi. Nhưng bây giờ anh tin chắc đã lần ra được đầu mối của một cuộn chì rối rồi.
Mai-cơn vừa nói vừa đứng dậy bê đồ lề thí nghiệm lại. Anh trỏ tay vào hai cái cốc đựng thủy ngân có hai thanh nam châm chạy suốt từ giữa đáy cốc lên và bảo vợ :
- Em xem đây ! Mỗi cốc có một sợi dây đồng đứng thẳng từ trên thả xuống chạm tới mặt thủy ngân. Ở phía cốc có thanh nam châm gắn chặt thì sợi dây đồng có thể di động, còn ở phía cốc có thanh nam châm di động được thì sợi dây lại được gắn chặt. Bây giờ anh cho dòng điện đi qua các sợi dây đồng nhé !
Mai-cơn nối nhanh dòng điện từ một bộ pin Vôn-ta qua dụng cụ thí nghiệm. Ở một cốc, thanh nam châm từ từ quay tròn xung quanh sợi dây đồng dẫn điện, và ở cốc kia sợi dây đồng lại quay xung quanh thanh nam châm cố định. Xa-ra vui vẻ reo lên :
- Hiện tượng quay điện từ !
Mai-cơn Pha-ra-đây xúc động quan sát thanh nam châm và sợi dây đồng quay đều đều. Anh bất giác nghĩ đến một chặng đường dài mới mẻ mà thí nghiệm này sẽ mở ra trước mắt anh.
Gian phòng họp lớn của Hội khoa học hoàng gia Luân Đôn hôm nay thật là sôi nổi. đề nghị của tiền sĩ Vôn-la-xtơn đã làm cho mọi người bàn tán xôn xao. Đó là đề nghị bỏ phiếu công nhận người phụ tá phòng thí nghiệm của Học viện hoàng gia, Mai-Cơn Pha-ra-đây, thành hội viên chính thức của Hội khoa học hoàng gia !
Người ta bàn tán xôn xao là phải. Hội khoa bọc hoàng gia Luân Đôn là một tổ chức khoa học thuộc vào loại lớn nhất thế giới, được thành lập năm 1660. Những hội viên đầu tiên của Hội này là những nhà bác học tên tuổi như I-xắc Niu-tơn, Rô-bớc Húc-cơ, Hâm-phơ-ri Đê-vi v. V ... Số lượng hội viên được bầu hằng năm vào Hội rất ít, chưa bao giờ vượt qua con số hai nhăm. Phải là những nhà toán học, nhà vật lý học, nhà sinh vật học, nhà kỷ thuật xuất sắc mới có hy vọng được cái vinh dự đứng trong hàng ngũ các hội viên của Hội.
Một vị bá tước - ông ta tuy không lấy gì làm thông thái cho lắm nhưng thường được mời đến dự thính những buổi báo cáo khoa học chỉ vì thỉnh thoảng ông ta vẫn giúp cho Hội hoàng gia những món tiền lớn - cứ lắc đầu quầy quậy :
- Thế thì quá lắm ! Không hiểu sao ngài Vôn-la-xtcm lại đề nghị bầu một người xuất thân là thợ khổ, và mấy ngày trước đây còn mới chỉ là người giúp việc cho ngài nam tước Đê-vi.
Một nhà khoa học đã có tuổi, nhã nhặn trả lời :
- Thưa bá tước, đứng trước giới tự nhiên vô tư và nghiêm khắc, không ai có thể chỉ dùng chức tước và quyền lực cá nhân mà chinh phục được nó. Ông Mai-Cơn Pha-ra-đây đúng là một người đã từng rửa chai lọ, lắp dụng cụ thí nghiệm, gọt nút chai, sửa soạn hoá chất cho ngài Đê-vi và các giáo sư của Học viện hoàng gia. Từ chỗ đó mà ông ta đã vươn tới chỗ có những công trình nghiên cứu quan trọng, Pha-ra-đây thật đáng để cho chúng ta khâm phục.
Một người còn có vẻ nghi ngờ bèn hỏi :
- Thưa ngài, sao tôi nghe nói bài báo “về những chuyển động điện từ mới” của ông Mai-Cơn đăng trên tờ tạp chí của nhà vật lý Phi-líp chỉ giới thiệu những thí nghiệm mà ông ta nghe lỏm được của tiến sĩ Vôn-la-xtơn ?
Nhà khoa học lắc đầu :
- Việc này chính ngài Vôn-la-xton đã đăng báo cái chính. Trong một buổi gặp riêng, tiến sĩ Vôn-la-xtơn đã nói với ông Mai-cơn Pha-ra-đây rằng : ông Mai-Cơn có quyền không nhắc tới tên người khác vì đã thực hiện một thí nghiệm về sự quay điện từ không hoàn toàn giống như thí nghiệm mà tiến sĩ đã suy nghĩ. Trong bài báo thanh minh giúp Mai-cơn, ngài Vôn-la-xtơn đã hết lời ca ngợi tài năng của người phụ tá hiếm có. Chính tài năng đó là cơ sở để ngài thư ký của Hội hoàng gia đề nghị bầu Mai-cơn lần này.
Một nhà hóa bọc gật đầu tán thưởng :
- Đúng ! Kể về tài năng thì Pha-ra-đây rất đáng được chú ý. Không những về lĩnh vực điện từ, mà về hóa học ông ta cũng rất xứng đáng với danh hiệu bác học.
Nhiều người đứng xung quanh liền yêu cầu nhà hóa học kể cho họ nghe về những công trình hóa học của Mai-Cơn Pha-ra-đây.
Nhà hóa học vui vẻ nói :
- Thưa các ngài, đặc sắc nhất là những công trình về hóa lỏng các chất khí như clo, ô-xít các-bon v.v... Trước đây chưa ai có thể nghĩ là có sự thống nhất giữa hai trạng thái vật chất : lỏng và khí. Chất lỏng thì có thể đựng trong chai, lọ, chậu, cốc, có thể múc được và giữ nguyên thể tích. Còn chất khí thì lại có thể lan tràn ra khắp mọi khoảng không gian, nó không có thể tích nhất định, có thể nén lại được ... Chúng ta cũng còn biết rằng vật chất ở trạng thái lồng còn có thể biến thành trạng thái rắn, như nước ở sông, ngòi, hồ, ao có thể biến thành nước đá. Thành ra công trình của Pha-ra-đây về biến các chất khi thành chất lỏng đã chứng minh rằng vật chất có một sự thống nhất : rắn, lỏng, Và khi chỉ là ba trạng thái của cùng một vật chất mà thôi !
Một nhà khoa học khác lên tiếng :
- Tầm quan trọng của những thí nghiệm và những lập luận của Pha-ra-đây về sự hóa lỏng chất khí thì khỏi phải nói ta cũng đều thấy rõ. Nhưng tôi còn một thắc mắc nhỏ là tại sao ở những bài báo của Pha-ra-đây viết về vấn đề đó lại có chú thích rằng : ông ta tiến hành thí nghiệm theo những ý kiến chỉ đạo của Đê-vi ? Phải chăng, công lao chính về phát kiến này là của Đê-vi, còn Pha-ra-đây chỉ là một người thừa hành ?
Một người bạn của Đê-vi vội trả lời !
- Không đúng ! Đê-vi chỉ khuyên Pha-ra-đây tiến hành thí nghiệm với khí Clo hòa tan trong nước để chứng minh rằng : hi-đrát clo là một họp chất của Clo với nước. Nhưng Pha-ra-đây đã đi xa hơn lời khuyên đó rất nhiều. Ông cho hi-đrát clo vào một ống thủy tinh dày hàn kín rồi đem đốt nóng. Sau khi làm lạnh cẩn thận ống đó thì trong ống còn lại hai chất lỏng : bên dưới là một chất trong suốt y như nước, còn bên trên là một chất màu vàng trống nhòm như dầu. Hôm được xem thí nghiệm đầu tiên đó của Pha-ra-đây tôi còn cho là ông ta không rửa sạch ống
nên để sót lại một chất lạ nào đó. Nhưng buổi tối hôm đỏ Mai-cơn vừa cưa ống thủy tinh ra để quan sát thì một tiếng nổ lớn vang lên : chất lỏng màu vàng nhờn biến hết ! Thì ra đó chính là Clo đã hóa lỏng ! Ngay hôm sau ông ta đã viết thư báo tin cho tôi về phát kiến mới của mình.
Nói đúng ra thì chính Pha-ra-đây về sau là người giúp đỡ ý kiến cho ngài Đê-vi thực hiện những thí nghiệm khác về hóa lỏng các chất khí.
Ông dừng lại một chút rồi hạ thấp giọng, ngậm ngùi :
- Thế mà đáng tiếc thay, hơn một năm nay chính ngài Đê-vi lại là người kiên quyết nhất chống lại việc công nhận Pha-ra-đây vào Hội hoàng gia ! Hôm qua ngài Đê-vi còn dọa sẽ dùng quyền lực của vị chủ tịch Hội mà phủ quyết việc bầu cử hôm nay.
Một người thở dài :
- Lòng đố kỵ của con người thật là đáng sợ ! Hâm-phơ-ri Đê-vi thực ra đã tới đỉnh cao của khoa học và danh vọng rồi còn gì nữa. Thế mà ông ta lại không muốn công nhận người học trò tin cẩn mà ông đã giúp đỡ, gây dựng lúc hàn vi !
Một nhà khoa học khác gật gù tỏ ý khâm phục :
- Pha-ra-đây thật là một người độ lượng. Ông ta vẫn coi Đê-vi là một con người vĩ đại, vẫn luôn luôn tỏ lòng biết ơn. Sự giúp đỡ của ngài Đê-vi. Hôm qua nghe tin ngài Đê-vi nói như vậy, Mai-Cơn chỉ tái mặt đi và nói với tôi rằng : ngài Đê-vi chỉ làm những điều có lợi cho Hội hoàng gia !
Một nhà bác học vừa đi ngang qua liền đứng lại mỉm cười nói với mọi người :
- Thưa các ngài, chân lý bao giờ cũng là chân lý. Ngài Đê-vi chắc đã có đủ thì giờ nhận thức được giá trị lớn lao của người học trò của mình. Lúc nãy, ông có nói đùa với tôi rằng : việc phát hiện ra Mai-cơn Pha-ra-đây là phát hiện vĩ đại nhất của ông !
... Không hiểu Hâm-phơ-ri Đê-vi đã kịp nhận thức ra chân lý đó hay chưa, nhưng toàn thể hội viên Hội hoàng gia Luân Đôn thì đều nhất trí công nhận. Mai-Cơn Pha-ra-đây làm hội viên chính thức của Hội. Khi đoàn chủ tịch buổi họp công bố kết quả cuộc bỏ phiếu kín thì gian phòng vang rộn tiếng vỗ tay. Mọi người đều hân hoan đón chào một người có tài năng lỗi lạc vào trong hàng ngũ của họ.
Thế là năm 1824, người thợ nghèo ba mươi ba tuổi Mai-cơn Pha-ra-đây được chính thức công nhận là một nhà bác học có đầy đủ khả năng độc lập nghiên cứu. Nghe kết quả bầu cử và tiếng vỗ tay vang dội, Mai-Cơn vô cùng cảm động. Đưa mắt liếc nhanh về phía những người thân thiết ngồi trong hàng ghế dự thính, Mai-Cơn bất giác hồi tưởng lại cả quãng đời lao tâm khổ tứ học hành, rèn luyện vất vả, và thầm cám ơn bạn bè, mẹ già, anh ruột và người vợ thân yêu đã hy sinh, giúp đỡ mình đi tới kết quả vinh quang.

3


Xa-ra tuy đã quen với tính nết của chồng, nhưng dạo này cũng phải ngạc nhiên về thái độ của nhà bác học. Mai-cơn Pha-ra-đây rất lơ đãng trong khi nói chuyện với vợ và cứ chốc chốc lại móc trong túi áo ra một ống đây đồng cuộn xoắn ngắm nghía, quên cả trả lời những câu hỏi của vợ.
Một hôm, Xa-ra không thể nhịn được bèn bảo chồng :
- Tính nết anh dạo này kỳ quặc thế nào ấy ! Có những việc quan trọng em muốn bàn với anh, thế mà anh cũng chỉ ừ à cho qua chuyện.
Nhà bác học cười xòa :
- Em nhận xét y hệt như các bạn bè của anh ở Học viện hoàng gia. Anh đang mải suy nghĩ một vấn đề đã ám ảnh anh trong suốt mười năm nay thôi, chứ có gì là kỳ quặc.
Phút chốc, Xa-ra thấy tiêu tan hết nỗi bực dọc. Bà vội hỏi :
- Vấn đề gì đã ám ảnh anh tới mười năm trời ròng rã ?
Nhà bác học đặt tay lện vai vợ, âu yếm :
- Chuyện đó anh sẽ nói sau. Bây giờ em sẽ nói việc quan trọng mà em muốn bàn với anh đi đã.
Xia-ra lắc đầu :
- Em nói thế thôi, chứ có gì quan trọng lắm đâu ! Em chỉ muốn bàn với anh đón cháu gái về nuôi cho vui nhà vui cửa. Không biết anh nghĩ thế nào ?
Nghe vợ nói, Mai-Cơn thấy ân hận vì ít lâu nay ông không quan tâm lắm tới tình cảm của người vợ thương yêu. Lấy nhau đi được gần mười năm nhưng vợ chồng ông vẫn chưa có con. Bác sĩ Ghêc-xtê-bơn, bạn của ông, đã nói riêng cho ông biết rằng vợ chồng ông không thể có con được. Đối với ông điều đó cũng không có gì buồn lắm bởi vì ông còn có tình yêu của khoa học. Nhưng còn vợ ông ? Người đàn bà dịu hiền ấy cứ thui thủi một minh ở nhà, có khi gần như suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ ! Ông ngồi xuống bên cạnh Xa-ra, đưa tay vuốt mấy sợi tóc lòa xòa xuống trán vợ :
- Anh thật thiếu chu đáo đối với em. Ngày mai anh sẽ đi đón cháu Mê-ri về. Mẹ nó chắc cũng bằng lòng cho chúng ta nuôi nó làm con !
Xa-ra cảm động nắm chặt lấy bàn tay chồng. Bà vội nói :
- Anh chẳng cần phải mất thì giờ như thế. Nếu anh đồng ý thì mai em sẽ đi đón Mê-ri. Anh cứ tập trung vào việc giải quyết vấn đề đã làm cho anh trở thành con người “kỳ quặc” kia đi !
Nghe vợ nói đùa, nhà bác học bật cười :
- Vấn đề nhức óc thật ! Chắc em còn nhớ năm 1821 khi anh thực hiện được thí nghiệm về sự quay điện từ thì anh đã nói rằng lĩnh vực này còn chứa đựng vô vàn điều bí mật bất ngờ.
Xa-ra gật đầu :
- Và lúc bấy giờ anh đã tự đặt cho mình nhiệm vụ “ biến từ thành điện ! ”
- Đúng như thế ! bởi vì anh đã suy nghĩ, nếu như dòng điện có thể sinh ra từ lực như một nam châm thì lẽ nào lại không thể dùng nam châm để tạo ra dòng điện ?
Một năm sau, anh đặc biệt chú ý đến thí nghiệm của nhà bác học Pháp A-ra-gô. Nhà vật lý này đã nhận xét rất sắc sảo rằng : một kim nam châm đặt trên một cái đế bằng gỗ lắc lư tới vài trăm lần rồi mới dừng lại ở vị trí Nam Bắc. Nhưng nếu đặt nó trên một cái đế bằng đồng thì kim nam châm chỉ lắc lư vài ba cái là dừng ngay lại. Dù cho đã chọn thứ đồng thật nguyên chất để làm đế cũng vẫn thấy hiện tương đó. Thế mà đồng thì không chịu tác dụng của nam châm. Vậy thì bí mật của hiện tượng là ở đâu ?
Xa-ra gật đầu :
- Hiện tượng ấy đúng là bí mật. Nhưng nó có liên quan gi tới cái ống dây đồng mà cứ chốc chốc anh lại lấy ra xem ?
Nhà bác học cười :
- Ống dây này là một mô hình nam châm điện. Khi cho dòng điện của pin Vôn-ta chạy qua dây thì ống dây cũng tác dụng như một nam châm. Sở dĩ anh cứ quan sát ống dây là vì nhà bác học Am-pe đã cho rằng trong thí nghiệm của A-ra-gô có hiện tượng cảm ứng giống như hiện tượng cảm ứng điện ở các đám mây dông. Anh đang suy nghĩ xem có cách nào bố trí mội thí nghiệm chứng thực dự đoán của Am-pe hay không ?
Xa-ra tò mò hỏi :
- Hiện tượng cảm ứng điện ở các đám mây dông như thế nào nhi ?
- Các đám mây dông mang điện âm. Khi bay ngang qua các vật ở trên mặt đất như cây cối, mái nhà v. V ... Thì xảy ra hiện tượng cảm ứng điện : các vật ở mặt đất liền tích điện dương. Khi điện đã tích lại khá nhiều sẽ có sự phóng điện từ đám mây dông xuống đất, gây ra sét.
Xa-ra ngẫm nghĩ một chút rồi hỏi :
- Nếu cũng có hiện tượng cảm ứng giống như ở các đám mây dông, thì cứ đặt một nam châm bên cạnh một cuộn dây đồng là dây đồng cũng biến thành nam châm hay sao. ?
Nhà bác học Pha-ra-đây cười, lắc đầu :
- Đâu có đơn giản như thế ! Dù có đặt một thanh nam châm vĩnh cửu hằng ngày hay hằng tháng bên cạnh một cuộn dây đồng thì cũng chẳng bao giờ biến được cuộn dây thành nam châm, bởi vì không tạo ra được dòng điện trong cuộn dây. Do nam châm vĩnh cửu không chứng thực được điều dự đoán của Am-pe mà anh cho là có cơ sở cho nên anh mới suy nghĩ đến việc dùng nam châm điện.
Xa-ra cũng cười :
- Thế thì cứ việc đặt ống dây đống có dòng điện bên cạnh một ống dây thứ hai để biến ống này thành một nam châm !
- Anh cũng đã thử làm như thế. Nhưng vẫn không tạo được ra dòng điện ở ống dây thứ hai. Hôm qua trao đổi với ngài Vôn-la-xtơn, anh đã nói rằng có lẽ nam châm điện của anh còn yếu quá. Thế mà cho đến nay người ta vẫn chưa biết cách nào làm cho nam châm điện mạnh lên !
Nhà bác học Pha-ra-đây vừa nói vừa đi đi lại lại trong phòng. Phút chốc ông lại đắm mình vào dòng suy nghĩ và dường như quên bẵng sự có mặt của người vợ. Xa-ra hiểu rằng đã đến lúc cẩn để cho chồng yên tĩnh. Bà nhẹ nhàng đứng lên xuống bếp chuẩn bị một món ăn nhẹ cho chồng.
Nhưng khi bà mang đĩa thức ăn lên thì trong nhà đã vắng ngắt. Nhà bác học đã trở lại phòng thí nghiệm từ lúc nào không rõ.

4


Khi anh phụ tá En-đéc-xơn đẩy cửa bước vào phòng thí nghiệm thì anh đã thấy Pha-ra-đây đang lúi húi bên các dụng cụ thí nghiệm ở trên chiếc bàn đá từ lúc nào rồi.
En-đéc-xơn lắc đầu tiên lại gần và hỏi, giọng có vẻ trách móc :
- Kính chào giáo sư ! Chắc ngài lại thức suốt đêm qua ?
Mai-cơn ngẩng đầu lên, nhìn anh phụ tá và mỉm cười :
- Biết làm thế nào khác được, En-đéc-xơn ! Tôi chưa giải xong bài toán “Biến từ thành điện” thì tôi chưa thể nào làm việc điều độ như anh mong muốn được. .
En-đéc-xơn vừa chuẩn bị bếp đèn đun nước sôi pha cà phê cho giáo sư Mai-Cơn vừa nói :
- Bài toán đó ngài đã giải trong suốt mười năm chưa xong. Không biết đến khi nào thì ngài mới trở thành người điều độ được ?
Giáo sư Pha-ra-đấy ngả người vào chiếc ghế dựa, nheo cặp mắt nhìn những giọt cà phê đặc sánh chậm chạp rỏ qua cái phin xuống chiếc cốc thủy tinh :.
- Thất bại là mẹ thành công, En-đéc-xơn ạ ! Tôi không hề tiếc công sức của mười năm thất bại đã qua, bởi vì tôi vẫn linh cảm thấy rằng minh đang đi đúng hướng.
- Nhưng, thưa giáo sư tôi vẫn chưa hiểu tại sao ngài cứ nhất định theo đuổi cái bài toán hóc búa đó ?
- Có hai lý do, anh bạn thân mến ạ ! Trước hết đó là do bản chất của con người. Khi người ta đã đọc thấy một câu hỏi của thiên nhiên thì không ai có thể làm ngơ không tìm cách trả lời. Sau nữa, đây cũng là một yêu cầu của thực tế. Từ khi chiếc pin Vôn-ta ra đời cung cấp được một dòng điện ổn định thì càng ngày người ta càng thấy rõ vai trò quan trọng của điện trong đời sống con người. Đúc điện, mạ điện, điện báo, đèn điện ... Và người ta đòi hỏi phải có những nguồn điện mạnh hơn.
En-đéc-xơn liền hỏi :
- Xin lỗi giáo sư, chẳng lẽ dòng điện của pin Vôn-ta không đủ đáp ứng những nhu cầu đó hay sao ?
- Hoàn toàn không đủ đáp ứng ! Pin Vôn-ta tuy cho một dòng điện ổn định, nhưng có công suất quá nhỏ, dòng điện lại nhanh chóng giảm xuống. Vả chăng ngày nay kỷ thuật còn mơ ước những động cơ chạy được bằng dòng điện. Sự phát triển nhanh chóng của môn điện từ học cho phép người ta hy vọng giải quyết được những vấn đề đó. Chẳng riêng tôi mà rất nhiều nhà bác học trên thế giới đều tập trung sức lực nghiên cứu bài toán hóc búa đó.
Giáo sư Pha-ra-đây đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng, vẻ suy nghĩ. En-đéc-xơn liếc mắt ngắm những đồ lề bày trên chiếc bàn đá. Anh để ý đến một cái vành tròn dài chừng hai cen-ti-mét và có đường kính ngoài chừng mười lăm cen-ti-mét, xung quanh có quấn dở dang nhiều vòng dây điện bọc giấy cách điện. En-đéc-xơn cầm thử lên xem thì thấy nặng nặng.
Giáo sư Pha-ra-đây trông thấy thế bèn dừng bước trước chiếc bàn đá và trỏ tay vào chiếc vòng đó mà nói :
- Một cái vành bằng sắt non đấy, En-đéc-xcm ạ ! Trong khi suy nghĩ tìm cách làm cho nam châm điện mạnh lên, tôi đã đi đến quyết định dùng sắt non làm lõi của ống đây điện. Tôi dự định quấn một số vòng dây đồng vào một nửa vành sắt non này thành một ống dây thứ nhất. Trên nửa kia của vành sắt non sẽ quấn một số vòng dây đồng khác làm thành ống dây thứ hai. ống dây thứ nhất sẽ nối với một bộ pin Vôn-ta, còn ống dây thứ hai thì nối với một điện kế. Tôi muốn thử xem khi nam châm điện đã mạnh lên rồi thì ống dây thứ hai có trở thành một nam châm được hay không ?
En-đéc-xơn ngắm nghía vành sắt có các vòng dây rồi hỏi :
- Tôi có thể giúp giáo sư quấn tiếp các vòng dây này hay không ? Giáo sư nên nghĩ ngơi một chút thì hơn.
Pha-ra-đây gật đầu :
- Ống dây thứ nhất, tôi dự định dài chừng bảy trăm rưởi cen-ti-mét nữa là vừa. Còn ống dây thứ hai, anh quấn độ ngót hai mét. Anh làm giúp tôi xong xin cứ để lại trên bàn đá này. Tôi uống cốc cà phê và về nhà nghỉ cho đỡ mệt một lát rồi sẽ sang ngay.
Khi nhà bác học quay trở lại phòng thí nghiệm thì các ống dây đã quấn xong xuôi. En-đéo-xơn đã cẩn thận viết lại mấy chữ báo tin anh phải theo phục vụ một giáo sư lên lớp trên phòng diễn giảng của Học viện hoàng gia.
Pha-ra-đây hài lòng nhìn những vòng dây quấn rất cẩn thận của người phụ tá. Ông ngồi vào bàn, nối các mạch điện theo như dự định.
Vừa đóng mạch điện ở ống dây thứ nhất, tim Mai-Cơn đã nhẩy thót lên vì sung sướng. Chiếc kim điện kế nối vớí ống dây thứ hai đột ngột chao đi rồi lại trở về vị trí ban đầu ! Đợi một chút không thấy gì khác lạ, nhà bác học liền ngắt mạch điện ở ống đây thứ nhất. Lạ lùng sao ! Chiếc kim điện kế ở ống dây thứ hai lại chao đi rất nhanh !
Pha-ra-đây vô cùng hồi hộp. Ông làm lại thí nghiệm vài lần. Lần nào đóng mạch hay ngắt mạch điện cũng đều thấy có dòng điện xuất hiện trong ống đây thứ hai ! Như thế là ông đã bắt đầu tìm ra hiện tượng cảm ứng điện từ ! Hôm đó là ngày 29 tháng 8 năm 1831.
Pha-ra-đây rất xúc động. Ông không thể tiếp tục ngồi lại ở phòng thí nghiệm để làm thêm. Ông quyết định đi dạo chơi trên bờ sông Têra-đơ cho đầu óc thanh thản và trở lại bình tĩnh hơn. Nhưng kết quả thí nghiệm luôn luôn ám ảnh. Trong óc ông lúc nào cũng hiện lên những câu hỏi xung quanh thí nghiệm đầu tiên đó.
- Phải chăng có một mối liên quan nào đó giữa những dòng điện này với những lực tác dụng trong thí nghiệm của A-ra-gô khiến cho kim nam châm không lắc lư lâu được ? Nhưng tại sao dòng điện cảm úng chỉ xuất hiện trong ông đây thứ hai khi đóng hoặc ngắt mạch điện ở ống dây thứ nhất ?
Những ngày sau đó, nhà bác học sống trong tình trạng rất căng thẳng về trí óc. Ông không nói chuyện với ai, kể cả vợ ông, về kết quả thí nghiệm đầu tiên. ông cũng không tiếp tục tiến hành thí nghiệm. Ông tập trung suy nghĩ để phân tích thí nghiệm và vạch ra hướng đi mới, bởi vì ông biết rõ rằng một kết luận hấp tấp trong lúc này có thể làm cho mình lạc hướng.
Vấn đề dần dần sáng tỏ. Pha-ra-đây hiểu rằng, ống dây thứ nhất thực chất là một nam châm điện. Khi có dòng điện qua thì lõi sắt non của nó nhiễm từ. Và chính từ lực cửa lõi sắt đã kích thích dòng điện cảm ứng ở trong ống dây thứ hai.
Một câu hỏi khác liền được đặt ra :
- Nếu thay nam châm điện bằng một nam châm vĩnh cửu thì tình hình sẽ ra sao ? Khi nào nam châm vĩnh cửu cũng có thể kích thích được dòng điện cảm ứng ?
Gần một tháng sau, ngày 24 tháng 9, nhà bác học mới lại bắt tay vào tiếp tục làm thí nghiệm với một nam châm vĩnh cửu. Chiều hôm đó ông báo tin cho vợ biết về những thí nghiệm của mình :
- Xa-ra thân yêu ! Có lẽ anh sắp giải quyết được vấn đề đặt ra từ năm 1831. Hai mươi hôm trước anh đã tạo ra được dòng điện cảm ứng nhờ một nam châm điện, và hông nay anh lại tạo ra được dòng điện cảm ứng nhờ một nam châm vĩnh cửu !
Bà vợ của ông cũng là người đầu tiên được xem nhưng thí nghiệm phát hiện ra hiện tượng cảm ứng điện từ. Với một nam châm vĩnh cửu thì dòng điện cảm ứng chỉ xuất hiện trong ống dây khi nam châm chuyển động cắt mặt phẳng của các vòng dây.
Lại những ngày đêm suy nghĩ. Sau hai lần thí nghiệm nửa vào ngày 1 tháng 10 và ngày 17 tháng 10, Mai-Cơn Pha-ra-đây mới khẳng định rằng ông đã khám phá ra hiện tượng cảm ứng điện từ mà Am-pe nổi tiếng đã dự đoán.
Pha-ra-đây vẫn chưa chịu công bố những kết quả nghiên cứu xuất sắc của ông. Ông còn muốn giải quyết vấn đề một cách triệt để hơn : làm cách nào tạo được dòng điện cảm ứng lâu dài một cách tiện lợi, chứ không phải chỉ thu dòng điện theo kiểu ấn thanh nam châm vào trong lòng ống dây rồi lại kéo nó ra khỏi ống dây ?
Pha-ra-đây nhớ đến cái đĩa bằng đồng của A-ra-gô : khi quay đĩa thì một kim nam châm đặt nằm song song với mặt dưới của đĩa cũng quay theo. Ông hiểu rằng khi đĩa đồng quay gần một nam châm thì trong đĩa đã xuất hiện dòng điện cảm ứng. Đĩa đã trở thành một nam châm và hút kim nam châm kia phải quay theo nó. Vậy bây giờ muốn thu được dòng điện lâu dài thì chỉ việc cho đĩa đồng quay ngang qua một nam châm đủ mạnh !
Và ngày 28 tháng 10, Mai-cơn Pha-ra-đây đã đi tới thí nghiệm xuất sắc nhất về tạo ra dòng điện cảm ứng điện từ. Khi cho một đĩa đồng quay ngang qua một nam châm vĩnh cửu hình móng ngựa thì ông thu được một dòng điện ổn định lâu dài hơn hẳn dòng điện cho của pin Vôn-ta.
Bây giờ nhà bác học mới quyết định công bố phát hiện của mình. Bản báo cáo của Mai-Cơn Pha-ra-đây đọc trước Hội hoàng gia Luân Đôn ngày 24 tháng 11 năm 1831 và loạt thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ của ông đã làm chấn động dư luận giới khoa học ở tất cả các nước.
Mọi người đều nhất trí đánh giá rằng phát kiến vĩ đại của Pha-ra-đây đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử điện từ học và cả trong lịch sử kỷ thuật nữa.
Chiếc đĩa đồng của Pha-ra-đây thực sự là một máy phát điện đầu tiên dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ. Nhưng chiếc máy đó còn qua yếu : dòng điện do nó phát ra còn chưa tạo nên nổi tia lửa điện và thậm chí không làm cho chiếc đùi ếch co giật lại. Chỉ những điện kế đủ nhạy mới phát hiện được nổi dòng điện cảm ứng khi đĩa quay. Chính vì thế mà một hôm viên bộ trưởng của chính phủ Anh hoàng : Men-buốc, tới thăm phòng thí nghiệm của Học viện hoàng gia đã hỏi đùa nhà bác học :
- Liệu bao giờ thì ngài có thể cho tôi đánh thuế chiếc máy điện của ngài ?
Pha-ra-đây cũng như nhiều người khác đều hiểu rằng, muốn cho chiếc máy phát điện cảm ứng điện từ được áp đụng vào thực tiễn, thì phải cải tiến cái đĩa đồng thô sơ kia để thu được dòng điện đủ mạnh.
Ngày 26 tháng 7 năm 1832, giáo sư Pha-ra-đây trở về nhà hơi muộn. Bà Xa-ra và cô con gái nuôi Mê-ri vẫn còn ngồi đợi bên bàn ăn. Thầy chồng về, bà Xa-ra vui vẻ đứng dậy đỡ lấy chiếc áo khoác ngoài trên tay chồng và treo lên mắc áo :
- Anh nghỉ ngơi một chút, đợi em hâm nóng lại vài món ăn đã nhé !
Bước ra đến cửa rồi, bà Xa-ra còn quay lại bảo Mê-ri !
- Mê-ri, con lấy bức thư ở ngăn kéo bên phải tủ đưa cho bố xem nhé !
Bà Xa-ra từ dưới bếp mang thức ăn lên đã thấy chổng đang mặc chiếc áo khoác ngoài để chuẩn bị ra đi. Bà lấy làm lạ, hỏi :
- Có chuyện gì mà anh vội đến không kịp ăn cơm như thế ?
Giáo sư Pha-rấ-đây giơ chiếc phong bì lên :
- Vấn đề ở bức thư bí mật nhưng rất lý thú này ! Em và con cứ ăn cơm trước, đừng đợi anh. Anh phải làm ngay cái mẫu máy điện mà tác giả bức thư này vừa giới thiệu.
Bà Xa-ra lắc đầu nhìn theo chồng hối hả đi về phía phòng thí nghiệm. Bà biết đêm nay nhà bác học lại thức suốt sáng như biết bao đêm trước, khi gặp một vấn đề mới mẻ. Bà bèn vội vã cho con gái ăn xong bữa và thu dọn cho nó đi ngủ, rồi chuẩn bị thức ăn mang tới phòng thí nghiệm cho chồng.
Còn nhà bác học Pha-ra-đây thì lúc đó đang hăm hở lắp lại mẫu chiếc máy điện theo sơ đồ của tác giả bức thư. Ông vừa làm vừa khâm phục sự thông minh của người không quen biết đó.
- Một điều thật đơn giản mà chưa ai nghĩ tới ! Đáng lẽ cho nam châm đứng yên thì bây giờ lắp nam châm lên một cái đĩa quay. Đáng lẽ dùng một nam châm thì thay bằng nhiều nam châm cho mạnh hơn. Thế là các đầu nam châm, lần lượt hết đầu Nam lại đầu Bắc, gắn lên mép đĩa sẽ chuyển động quay ngang qua những ống đây đặt đứng yên theo chu vi đĩa. Các dòng điện cảm ứng xuất hiện trên các ống dây sẽ được gộp lại với nhau và tăng hẳn lên so với khi chỉ có một nam châm và một sợi dây.
Dòng điện khá mạnh thu được từ chiếc máy phát điện mới khiến cho Pha-ra-đây rất sung sướng. Ông muốn tìm địa chỉ tác giả thông minh của chiếc máy đó để viết một bức thư chúc mừng thành công của ông ta, nhưng cả ở trên phong bì cũng như ở cuối bức thư, ông chỉ thấy vẻn vẹn hai chữ viết tắt : R. M.
Pha-ra-đây suy nghĩ miên man và bỗng thốt lên một mình :,
- Thưa ngài bộ trường Men-buốc ! Ngài sắp sửa được đánh thuế chiếc máy điện của nhà bác học vô danh R.M rồi đấy !
Chẳng bao lâu, những chiếc máy phát điện theo kiểu máy của con người bí mật R.M dựa trên nguyên tắc cảm ứng điện từ đo Mai-Cơn Pha-ra-đây phát hiện đã xuất hiện trên nhiều nước. Rồi nhà bác học Nga Ê-mi-li Len-xơ cũng như nhà bác học Đức Bô-rít Gia-cô-bi phát hiện ra rằng hiện tượng cảm ứng điện từ cũng là cơ sở của các động cơ điện, tức là khi cho dòng điện vào chiếc máy của Pha-ra-đây thì ta có thể tạo ra chuyển động quay. Những động cơ điện hoạt động theo nguyên tắc cảm ứng điện từ cũng nhanh chóng tràn lan ra khắp thế giới.
một kỷ nguyên mới về điện bắt đầu. Tên tuổi nhà bác học vĩ đại Mai-cơn Pha-ra-đây đã được vĩnh viễn ghi vào lịch sử loài người.
0
[
size=7]CHƯƠNG III
CON NGƯỜI BÌNH DỊ[/size]


1


Trường đại học ồc-xpho tặng Mai-cơn Pha-ra-đây học vị tiến sĩ danh dự. Các viện Hàn lâm khoa học Pháp, Đức Nga ... Tặng Mai-cơn Pha-ra-đây đanh hiệu viện sĩ. Giới khoa học coi Mai-Cơn Pha-ra-đây là một nhà bác học thuộc vào số những người giỏi nhất của thế kỷ XIX ...
Nhưng con người vĩ đại ấy vẫn sống cuộc đời bình dị như khi ông còn là một phụ tá. Hai vợ chồng nhà bác học và cô con gái nuôi vẫn sống bằng số lương 160 sin-linh một tháng trong hai gian phừng ở gầm cầu thang cửa Học viện hoàng gia ! Mặc đầu bây giờ Mai-Cơn Pha-ra-đây đã trở thành giáo sư giám đốc Học viện hoàng gia, thay chân thầy học Hâm-phơ-ri Đê-vi, và đã có một người phụ tá là En-đéc-xơn nhưng cuộc sống của ông vẫn không có gì khác trước lắm. Ông vẫn tự tay chuẩn bị thí nghiệm cho các bài giảng ở cả Học viện hoàng gia và ở Hội triết học cũng như trong khi nghiên cứu. Bà Xa-ra vẫn phải tiếp tục suy nghĩ về những món ăn ngon miệng nhưng rẻ tiền.
Năm 1831, một số hãng kinh doanh ở Luân Đôn mời Pha-ra-đây cộng tác, tham gia vào việc kiểm nghiệm phẩm chất hàng hóa. Cuối năm đó số thu nhập “phụ” của gia đình nhà bác học tăng thêm bằng mười lần số lương chính của ông. Nhưng Pha-ra-đây đã quyết định thôi không tham gia công tác kiểm nghiệm đó nữa. Ông nói với vợ :
- Anh không đủ thì giờ nghiên cứu. Chúng ta chỉ có một đứa con nuôi, cũng chẳng cần phải lo kiếm nhiều tiền lắm !
Bà Xa-rạ vui lòng trở lại nếp sống thiếu thốn của một gia đình người phụ tá thí nghiệm. Nhưng bạn bè của nhà bác học thì bất bình về sự đối xử bất công đó. Họ ra sức vận động chính phủ Anh hoàng trợ cấp cho nhà bác học.
Nể lời khuyên của bạn, Mai-Cơn Pha-ra-đây tới gặp viên bí thư của bộ trưởng Men-buốc. Nhưng khi trở về nhà ông không hề nói lại với vợ con một câu nào về cuộc gặp gỡ và kết quả trợ cấp.
Vài ngày sau, một người bạn là bà Mê-ri Phồc-xơ cùng với cô con gái Ca-rô-li-na là một hội viên tích cực của Hội triết học tới thăm Pha-ra-đây. Vừa bước vào cửa, bà Phồc-xơ đã vội hỏi :
- Ông bạn thân mến, ông làm thế nào mà viên bí thư của ngài bộ trưởng Men-buốc có vẻ bực mình như thế ?
Nhà bác học mỉm cười :
- Thưa bà, người nên bực mình đáng lẽ phải là tôi.
Bà Phồc-xơ ngồi xuống ghế :
- Ông có thể làm hỏng hết mọi việc đấy, ông bạn ạ ! Chúng tôi phải vận động mãi mới xong, thế mà bây giờ một viên bí thư ...
Pha-ra-đây nhún vai :
- Tôi không thể hành động khác được ! Ông ta hết lục vấn tôi về dòng dõi gia đình, về nhân khẩu trong nhà và hoàn cảnh khó khăn lại đến đòi tôi viết đơn thỉnh cầu lên nữ hoàng Vich-to-ri-a. Thế mà tồi có nói gì đâu. Tôi chỉ trả lời ông ta rằng : các cụ thân sinh ra tôi đều đã mất và những người đã qua đời thì không cần gì đến tiền trợ cấp. Còn tình hình sinh hoạt trong gia đình tôi thì có lẽ bà Xa-ra Pha-ra-đây nắm vững hơn tôi, thế nhưng bà Xa-ra lại không được đề nghị vả cũng không yêu cầu trợ cấp !
Mọi người đều bật cười. Bà Phốc-xơ lắc đầu :
- Ông thật là quá khí khái ! có thể là viên bí thư của ngài Men-buốc ăn nói thiếu lễ độ. Nhưng đó là những vấn đề thủ tục.
Pha-ra-đây gật đầu :
- Có thể là bà nhận xét đúng. Nhưng ngay lúc bỏ nghề đóng sách để dấn thân vào con đường khoa học tôi đã tự hẹn với mình là sẽ hi sinh tất cả cho sự nghiệp mà tôi hằng mơ ước. Tôi từ bé đã quen sống thiếu thốn, được bữa nay lo bữa mai. Từ khi có gia đình riêng vợ chồng tôi cũng không hề thấy khổ sở vì số lương ít ỏi của tôi. Chúng tôi vẫn rất hạnh phúc vì luôn luôn thông cảm với nỗi lo âu cũng như phút sảng khoái của cuộc sống những người đi tìm chân lý. Lẽ nào bây giờ tôi lại cần phải bán rẻ nguồn hạnh phủc đó để ngửa tay cầu xin một món tiền trợ cấp.
Bà Phốc-xơ cảm động ngồi yên lặng nghe người bạn có tâm hồn cao thượng. Phút chốc trước mắt bà, con người hơi gầy gò mặc bộ quần áo đã bạc màu kia đã vượt lên trên hẳn vô số những người mà bà quen biết.
Một lát sau bà mới khẽ nói :
- Bạn thân mến ! Bạn hoàn toàn có lý. Nhưng nước Anh phải có trách nhiệm đối với người con ưu tú của mình, đối với nền khoa học của toàn thể loài người ! Ngày mai tôi sẽ đích thân tới gặp ngài bộ trưởng.
Bộ trưởng Men-buốc tự tay viết thư xin lỗi Mai-Cơn Pha-ra-đây. Nhà bác học đồng ý nhận một khoản tiền trợ cấp hàng năm 300 phun-tơ xtéc-linh, bằng ba lần số lương mà ông đang được hưởng. Mặc dầu món tiền đó cũng chẳng phải là quá lớn, nhưng từ nay nhà khoa học Pha-ra-đây đã có thể hoàn toàn không phải lo lắng đến cuộc sống vật chất của gia đình và chuyên tâm vào công việc nghiên cứu.

2


cô bé Mê-ri thấy bố mang một cái xoong con đựng hồ dán từ dưới bếp lên thì sán lại gần và hỏi :
- Bố quấy hồ làm gì thế ?
Pha-ra-đây cười, trả lời :
- Bố quấy hồ để vào bìa mấy quyển vở ghi chép của bố.
Cô bé mở to Đôi mắt đen láy ngạc nhiên :
- Bố cũng biết đóng sách à ?
Bà Xa-ra từ ngoài bước vào phòng thấy thế liền nói :
- Nghề cũ của bồ mà lị ! Nhưng tại sao anh không đưa ra ngoài hiệu người ta đóng cho có phải đỡ mất thì giờ hay không ?
Nhà bác học vừa quết hồ vào bìa vừa trả lời :
- Nhân tiện hồi nãy bác sĩ khuyên anh nên xen kẽ công việc chân tay với công việc trí óc để tránh tình trạng làm việc căng thẳng. -Vả chăng anh cũng thích, thỉnh thoảng quay trở lại cái nghề cũ của mình.
Bà Xa-ra nói đùa :
- Nghề cũ đã phụ bạc rồi, lại còn nói là thích quay trở lại !
Pha-ra-đây mỉm cười, dừng tay và nói :
- Đâu có phải là phụ bạc. Nghề chân tay hay nghề trí óc cũng đều cao quí. Vấn đề không phải ở cái nghề mà là ở con người. Không thiếu gì những người thợ có tâm hồn đẹp đẽ. Anh Rô-bớc và chị Bét-xi chẳng đã hi sinh cho anh đấy ư ! Và cũng chẳng thiếu gì những người gọi là trí thức mà cuộc sống thật là đê tiện !
Bà Xa-ra gật đầu đồng ý và nhân tiện hỏi chồng :
- À, thế anh đã trả lời ngài Vôn la-xtơn về việc đề nghị anh nhận chức chủ tịch Hội hoàng gia Luân Đôn hay chưa ?
- Anh đã kiên quyết chối từ cái vinh dự quá lớn đó. Hôm qua Giôn Tin-đan, một học trò của anh, tỏ vẻ lấy làm lạ về việc đó. Anh có nói đùa với anh ấy rằng, anh không muốn nhận làm chủ tịch Hội hoàng gia bởi vì anh còn nhớ tới bức thư của chú thợ đóng sách Mai-ca gửi tới ngài chủ tịch Hội là Giô-dép Ban-xơ năm 1812 !
Hai vợ chồng nhà bác học cùng nhìn nhau, cười thích thú. Bỗng bà Xa-ra hỏi :
- Thế còn ngài chủ tịch Hội Đê-vi thì anh nhận xét ra sao ?
Pha-ra-đây yên lặng một chút rồi trang nghiêm nói :
- Đó là một người vĩ đại và một ân nhân suốt đời của anh. Không có ngài thì chưa hiểu cuộc đời anh ngày nay sẽ ra sao ? Anh không thể nào quên được những buổi đầu tiên nói chuyện với ngài rồi được nhận vào làm phụ tá.
Nhà bác học ngậm ngùi hạ thấp giọng :
- Con người vĩ đại ấy cũng không có hạnh phúc, tuy lấy được một người vợ giàu có và được phong nam tước. Ngài chết một mình ở nước Ý, không người thân thích.
Bà Xa-ra biết chồng đang, xúc động.
Nhà bác học đi đi lại lại trong phòng, vẻ suy nghĩ. Một lúc lâu, ông dừng lại bên cạnh bà vợ và nói :
- Em có biết không, vì muốn làm một người hạnh phúc cho nên hôm qua anh đã chối từ chức chủ tịch Hội hoàng gia. Hôm nay các bạn anh lại khuyên anh đệ đơn lên nữ hoàng xin phong danh hiệu quí tộc, nhưng anh cũng sẽ không làm như vậy.
Bà Xa-ra mỉm cười hòi :
- Em không muốn làm bà quí tộc. Nhưng còn anh, tại sao anh không thích xin phong chức tước ?
Pha-ra-đây chậm rãi nói :
- Nước Anh chỉ có hai ba chục nhà bác học lớn, nhưng có tới hàng ngàn nhà quí tộc. Lẽ nào mỗi nhà bác học lại cần phải đứng ngang hàng với những người đông gấp trăm lần kia mới có thể bày tỏ được sự vinh dự của mình ? Đối với anh, không có gì cao quí hơn những kết quả nghiên cứu khoa học !
Cô bé Mê-ri tò mò mở một quyển vở dày vừa đóng xong. Cô trỏ tay vào những tấm bằng mà các viện khoa học tặng cho cha cô và hỏi.
- Thế còn những cái này thì sao, hả bố ?
Nhà bác học bế cô con gái nuôi lên tay và trả lời :
- Những tờ giấy này chính là những tờ giấy chứng nhận rằng bố đã chăm chỉ học tập và học tập tốt. Chúng cũng chứng nhận rằng bố đã làm được một vài điều có ích cho mọi người. Đối với bố, như thế đã là đủ lắm rồi !

3


Tất cả mọi người ngồi trong phòng đều yên lặng, hối hộp chờ đợi. Họ lắng nghe tiếng kẹt cửa ở phòng bên, nơi đó bác sĩ La-tam đang thăm bệnh cho nhà bác học Mai-cơn Pha-ra-đây vừa ốm nặng. Thời gian dường như trôi đi quá chậm. Nhưng rồi cuối cùng tiếng động chờ đợi cũng vang lên. Bà Xa-ra đứng vội dậy, mở cửa ra đón bác sĩ.
Bác sĩ nhanh nhẹn bước vào phòng, cởi chiếc áo choàng màu trắng ra rồi ngồi xuống chiếc ghế. Ông đón lấy cốc nước cam từ tay bà Xa-ra uống một hơi dài rồi đặt cốc xuống bàn và thong thả nói :
- Bệnh tình tuy nặng nhưng không đáng lo ngại. Suy nhược nghiêm trọng, nhất là hệ thần kinh. Lại có dấu hiệu của trạng thái nhiễm độc vì thủy ngân. Cần phải nghĩ làm việc hoàn toàn một thời gian dài mới hy vọng bình phục được.
Bà Xa-ra lo lắng, thở dài :
- Làm sao có thể bất ông ấy nghỉ hoàn toàn được ! Sau thời gian căng thẳng với hiện tượng cảm ứng điện từ lại tiếp đến thời kỳ miệt mài với các định luật điện phân. Rồi lại còn công việc ở Học viện hoàng gia ...
Bác sĩ lấy giấy bút viết đơn thuốc trao cho bà Xa-ra và an ủi :
- Bà đừng quá lo lắng ! Bây giờ thì ông nhà có muốn làm việc cũng không được đâu. Tôi cũng đã khuyên ông ấy rồi. Bà chỉ cần khéo tìm cách, thí dụ rủ ông nhà đi thăm bà con hoặc đi du lịch chẳng hạn, là có thể tạo điều kiện cho ông ấy nghĩ ngơi.
Tiễn chân bác sĩ ra về xong, bà Xa-ra vội vã bước vào phòng người bệnh. Nhà bác học nằm trên giường, nét mặt xanh xao mệt mỏi, nhưng đôi mắt vẫn ánh lên những tia sáng lạc quan, phấn khích ... Thầy bà vợ lại gần, ông mỉm cười khẽ nói :
- Anh muốn nghe một đoạn của sèch-xpia.
Bà Xa-ra lắc đầu :
- Bác sĩ La-tam khuyên anh nên nghỉ ngơi hoàn toàn.
Pha-ra-đây nắm lấy bàn tay vợ, khẩn khoản :
- không sao đâu, em ạ ! Nghe đọc văn sếch-xpia không những không mệt óc mà còn thêm yêu đời. Anh còn nhớ, ngài Đê-vi đã có lần nói với anh rằng : thi ca vừa là bước đầu lại vừa là nơi kết thúc của mọi kiến thức và nó cũng bất tử như trái tim con người. Em cứ đọc đi. Anh muốn nghe một đoạn của sèch-xpia vĩ đại.
Bà Xa-ra đành chiều ý chồng, rút ở trên giá sách xuống một tập hài kịch của sếch-xpia. Pha-ra-đây nằm yên lắng nghe. Chẳng bao lâu nhà bác học đã bị lôi cuốn vào câu chuyện, chẳng khác gì cách đấy mấy chục năm, chú bé Mai-ca say mê nghe đọc những câu chuyện trong “Một nghìn một đêm lẻ”.

Bà Xa-ra đã đọc xong một vở hải kịch. Nhà bác học thốt lên, khoan khoái :
- Chà ! Đúng là sèch-xpia đã vẽ ra trước mắt chúng ta một nước Anh vui vẻ với những đồng cỏ, những cánh rừng, với những con người bình thường nhưng thông minh và thật sự yêu đời ! Trên một đất nước tươi đẹp như thế và với những con người thông minh như thế, chúng ta có thể làm nên bao sự việc phi thường. Chỉ cần chúng ta thiết tha yêu mến đất nước đó và những con người đó !
Ngoảnh ra, nhà bác học nói với Giôn Tin-đan lúc ấy đã vào ngồi ở trong phòng từ lúc nào :
- Anh bạn trẻ thân mến ! cần phải đọc sềch-xpia, hành động như con người của sếch-xpia hành động và lúc cần có thể chết như con người của Sếch-xpia đã chết. Tôi yêu Sếch-xpia vì nhà văn vĩ đại ấy đã nói lên được nguyện vọng khao khát hạnh phúc của nhân dân Anh, muốn trở thành những con người thực sự tự đọ trong xã hội ...
Bà Xa-ra sợ chồng quá xúc động liền khẽ nhắc :
- Kìa, anh ! Anh nên tĩnh dưỡng thì hơn.
nhưng nhà bác học đường như không nghe thấy câu nói đó. Ông như nói với chính mình :
- Còn chúng ta, chúng ta đã làm gì cho những con người khát khao hạnh phúc đó ?
Sau một hồi suy nghĩ, ông lại quay sang nói với Tin-đan :
- Học viện hoàng gia của chúng ta còn làm được ít qua, anh bạn trẻ ạ ! vẫn chỉ là những buổi diễn giảng cho các tầng lớp thanh niên như thời Rum-pho sáng lập ra Học viện. Tôi nghĩ cần phải tổ chức những loại bài diễn giảng khai tâm cho trẻ thiếu niên nữa mới được. Mà là thiếu niên thuộc đủ mọi lứa tuổi ! Chúng ta có thể tổ chức ngay buổi giảng đầu tiên vào ngày lễ Thiên chúa giáng sinh năm nay.
Tin-đan lễ phép trả lời :
- Chúng tôi sẽ bàn ngay để thực hiện ý kiến của giáo sư. Lễ giáng sinh năm nay sẽ có buổi diễn giảng đầu tiên cho thiếu niên.
Nhà bác học gật đầu :
- Trẻ con ít khi không hào hứng. Cứ xem chúng nó chơi đùa thì biết : có thể chơi suốt ngày không chán ! Phải làm sao cho chúng cũng bào hứng trong việc nhận thức bí mật của giới tự nhiên như thế !
Ngừng một lát, ông lại nói với Tinrđan :
- Anh hãy ghi vào chương trình hoạt động : tôi sẽ đóng góp một bài diễn giảng xung quanh cây nến nhé.
Dường như khi nói câu đó, nhà bác học vĩ đại đã bắt đầu hình dung rõ rệt nội dung và cả hình thức trình bày những đề tài khoa học cho những công dân tương lai của đất nước. Ông yên tâm với những dự định của mình và ngủ đi lúc nào không biết.

4

Sức khỏe của Mai-Cơn Pha-ra-đây dần dần bình phục. Mùa xuân năm 1841, ông đã gần như đi lại được bình thường. Sáng sớm và chiều tối ông dẫn cô con gái nuôi Mẽ-ri ra vườn bách thú chơi. Ở nhà, bà vợ của ông cố ý nhờ chồng làm hết việc này việc nọ để ngăn cản không cho ông làm việc trí óc.
Nhưng mệt hôm, nhà bác học nhất định ngồi vào bàn viết, dự định bắt đầu viết lại một số suy nghĩ xung quanh vấn đề bản chất của các hiện tượng điện từ. Song ngồi mãi mà ông vẫn không sao sắp xếp lại ý nghĩ thành hệ thống được. Cứ nghĩ được ý nọ ông lại quên mất ý kia. Cuối cùng nhà bác học đành phải gác bút thất vọng.
Khi bà Xa-ra từ dưới bếp lên thì thấy nhà bác học Pha-ra-đây đang ôm đầu ngồi ủ rũ bên bàn viết. Bà sợ hãi chạy lại đặt tay lên trán chồng, vẻ dò hỏi. Ông chỉ xua tay và đau đớn thốt lên :
- Hình như tôi bắt đầu mất trí nhớ rồi ! Chẳng lẽ mới năm mươi tuổi mà tôi đã phải vĩnh viễn ngừng nghiên cứu khoa học hay sao ?
Bà Xa-ra ái ngại nhìn chồng. Suy nghĩ một lát rồi bà nhẹ nhàng bảo chồng :
- Hay chúng ta đi du lịch châu Âu một chuyến. Em cũng muốn tận mắt thăm cảnh hồ Giơ-ne-vơ thơ mộng mà có lần anh đã tả cho em nghe.
Thực ra bà Xa-ra chỉ hi vọng chuyến đi du lịch sẽ tạo điều kiện hồi phục sức khỏe và năng lực làm việc của người chồng thiết tha với khoa học. Và thế là cả gia đình nhà bác học đã lên đường sang châu Âu.
Lại con đường xe ngựa Luân Đôn - Pli-mút cát bụi mù mịt. Cũng những cuộc tiễn đưa, nhưng mẹ già năm nay không còn nữa, chỉ có anh Rô-bớc và chị Ê-li-da-bét thân yếu. Vẫn bến cảng Pli-mút năm xưa với những con tàu buồm vượt biển đồ sộ và những thuỷ thủ vạm vỡ dạn dày sóng gió.
Nhà bác học Mai-Cơn Pha-ra-đây bất giác nhớ lại cái cảnh người phụ tá kiêm quản gia của ngài Đê-vi năm nào cũng ở bến cảng này giữa đống đồ đạc ngổn ngang. Và trong óc ông lại thoáng hiện ra hình ảnh kiêu kỳ của bà Ê-pơ-rít Đê-vi với con chó Tổp-xi mà bà ta từng sai anh quản lý Mai-ca đi tắm cho nó.
Ông đứng tựa vào lan can boong tàu đón làn gió ấm từ biển thổi lên và mỉm cười. Của cải, tước hiệu, và cả bản thân con người cũng đều bị thời gian phũ phàng xỏa hết. Chỉ có những phát hiện của trí tuệ là không cái gì tiêu diệt được và tồn tại mãi với thời gian. Pha-ra-đây ngậm ngùi nhớ đến người thầy học và ân nhân của mình ...
Ba tháng sống với thiên nhiên cùng lòng quyết tâm trở lại hoạt động khoa học đã giúp nhà bác học vượt qua được bệnh tật. Năm 1842, trở về Luân Đôn, Mai-Cơn Pha-ra-đây lại lao vào việc nghiên cứu và những bài diễn giảng. Cuối năm đó ông đã đặt xong nền móng cho một lý thuyết xuất sắc về điện từ mà sau này Giêm-xơ giéc Mắc-xoen đã phát triển lên thành lý thuyết về trường điện từ, một cơ sở không thể thiếu được của vật lý học hiện đại.
Pha-ra-đậy không chỉ quan tâm đến các vấn đề khoa học thuần túy. Mặc dầu tuổi đã cao, ông vẫn nhận làm cố vấn cho “Công ty điều khiển đèn biển” trong suốt mười ba năm. Mỗi tháng vài lần, ông lại đi xa ra bờ biển, chờ xuồng đón ra những hòn đảo nằm trơ ngoài khơi để quan sát những cây đèn biển hoạt động. Ông già ngoài năm mươi tuổi ấy vẫn nhanh nhẹn leo lên đỉnh cây đèn biển, thức suốt đêm nói chuyện với những người gác đèn và lắng nghe hơi thở của biển cả khi ngọt ngào, khi hung dữ. Kết quả những chuyến đi đó và những ngày đêm suy nghĩ tiếp theo đã làm Pha-ra-đây sáng chế ra một hệ thống thông khói cho các cây đèn biển thắp dầu hỏa thời đó, nhờ vậy đã tăng được độ sáng và tầm hoạt động của chúng.
0
NHỮNG NĂM CUỐI CÙNG

Năm 1858, nhờ sự vận động của bạn bè, nhà bác học được nữ hoàng Vích-to-ri-a tặng một tòa biệt thự nhỏ tại Khem-tơn Coóc-tơ. Trước đây con người nổi danh toàn thế giới đó vẫn sống ở hai căn phòng dưới gầm cầu thang của Học viện hoàng gia.
Hôm dọn sang nhà mới, nhà bác học Pha-ra-đây nói với cô con gái lúc đó đang vui mừng chạy đi xem tất cả các phòng :
- Con có nhiều lý do để vui mừng hơn bố. Chủ yếu là vì con mà bố nhận tòa biệt thự này đấy ! còn đối với bố thì nó chẳng có gì hơn hai căn phòng ở gầm cầu thang của Học viện hoàng gia, và thậm chí cũng chẳng hơn gì góc xưởng thợ của ông Ri-bô ngày trước !
Nhà bác học vĩ đại cũng không sống nhiều năm ở tòa biệt thự ấy. Sức khoẻ của ông đã ngày một kém sút rõ rệt. Ông làm việc ngày một khó khăn, mặc dầu đã hết sức gắng gượng. Ngày 12 tháng 3 năm 1862 đánh dấu ngày làm việc nghiên cứu cuối cùng của Pha-ra-đây. Trong cuốn vở ghi của ông, người ta đọc được con số thí nghiệm cuối cùng mà ông đã tiến hành : thí nghiệm số 10041.
Ngày 20 tháng 6 năm 1862 Pha-ra-đây bỏ dở bài giảng cuối cùng tại Học viện hoàng gia. Các học trò của ông lo lắng nhìn ông già bảy mươi tuổi đó nghẹn ngào xin lỗi và từ biệt các thính giả của mình rồi chậm rãi rời chiếc bục giảng. Về sau người ta được đọc những dòng chữ ghi trong nhật ký của nhà bác học, giải thích vì sao ông phải xin thôi lên lớp.
đây tôi đã trải qua những năm sống hạnh phúc, nhưng đã đến lúc tôi phải xa rời nó vì bị mất trí nhớ và rất mệt óc.
1 - Nguyên nhân là các chứng minh lúng túng và thiếu rõ ràng.
2 - không thể nào nhớ lại được những kho kiến thức đã tích luỹ được từ trước.
3 - Không tự chủ để giữ được những quan niệm trước đây về uy tín, phẩm chất và lòng tự tin của mình nữa.
4 - Không thể đối xử đúng mức với ngươi khác được nữa. Tôi phải xa lìa.
Ba năm sau, Pha-ra-đây lại xin từ chức nốt chức vụ giám đốc phòng thí nghiệm Học viện hoàng gia mà trong thực tế ông đã thôi không đảm nhiệm từ lâu và đã giao cho người học trò tin cẩn là Giôn Tin-đan.
Cuối cùng, ngày 25 tháng 8 năm 1867, nhà bác học vĩ đại vĩnh viễn từ giã cõi đời. Cô Mê-ri đã nói về cái chết của con người vĩ đại đó trong một bức thư viết cho một người bạn thân một ngày sau đó :
Những sự chăm nom săn sóc của chúng tôi đối với Người đã trở thành vô ích, người thân yêu nhất của chúng tôi đã vĩnh viễn đi xa. Quá trưa ngày hôm qua Người đã lặng lẽ từ giã cõi đời. Gần giống như cách đây hai tuần khi bạn đến thăm, Người đột nhiên yếu hẳn đi và từ đó rất ít nói, mà cũng chẳng để ý tới cái gì nữa. Nhưng chúng tôi vẫn không ngã rằng chỉ hai, ba giờ sau đó là Người đã đi rồi. Người mất trên chiếc ghế bành đặt trong phòng làm việc ....
Nhà bác học vĩ đại Mai-Cơn Pha-ra-đây chết đi nhưng đã để lại cho nhân loại những phát minh bất tử.
Đúng như lời nhà bác bọc Đức Hem-hôn-xơ đã nói : “ Chừng nào loài người còn sử dụng điện, thì chừng đó mọi người còn ghi nhớ công lao của Mai-Cơn Pha-ra-đây”.
Chúng ta có thể nói thêm rằng “và chừng đó mọi người còn chăm chú rút tỉa lấy những bài học quí báu từ cuộc đời của người thợ vĩ đại đó để kế tục sự nghiệp chinh phục thiên nhiên ”.
0
mai-cơn pha-ra-đây tới đây là xong ....
link (word 2007) http://www.mediafire.com/?154ve7hbli47m45
0


Đã mang vào thư viện

cảm ơn welcom đã góp sức cho thư viện



📎 Thankyou4
0