Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Viên tướng của nhà vua-Daphné du Maurier - HẾT 🔒

39 trả lời, 6.383 lượt xem — Trang 2 / 2
CHƯƠNG 30

Tôi chỉ còn mỗi việc là dặn dò các người hầu. Tôi gọi từng người một vào phòng.
- Những ngày sắp tới sẽ hết sức nguy hiểm đối với tất cả chúng ta - tôi nói- Có nhiều điều sẽ xảy ra ở đây nhưng tôi yêu cầu các người cứ làm như không thấy, không nghe và không biết gì cả. Tôi tin tưỏng các ngưòi mãi mãi trung thành với Hoàng thượng.
Tất cả gia nhân đều tuyên thệ, tay đặt trên cuốn sách kinh.
- Chỉ cần ai đó hở ra một lời, là chủ nhân của chúng ta, ngài Jonathan ở Luân đôn sẽ bị tử hình ngay. Và tính mạng của người tiết lộ cũng chưa chắc được yên với nhà cầm quyền. Tôi xin mỗi người cứ lo phụ trách công việc mình làm hàng ngày, làm sao cho giường ghế sạch sẽ, nhà bếp không thiếu thốn thực phẩm. Còn ngoài ra cứ làm như điếc, câm và mù …
Peter Courtney tới đầu tiên. Nó chẳng cần giữ bí mật gì cả. Nó nói oang oang đến cuộc hành trình từ Pháp về xứ và rất mong được gặp lại bầy nhỏ…
Peter ăn mặc thật lộng lẫy. Chiếc áo măng-tô bằng nhung của nó đáng giá một gia tài. Tội nghiệp Alice đang sống trong cảnh túng thiếu
- Lẽ ra cháu nên kín đáo báo cho vợ cháu sự trở về này – tôi nói với Peter - Dù thế nào đi nữa, Alice cũng biết giữ bí mật.
Peter nhún vai.
- Người đàn bà chỉ là một gánh nặng đối với thời buổi hiện nay. Thú thật với dì, cháu nợ nần quá nhiều nay không muốn gặp mặt vợ, vì cái nhìn oán trách của cô ta cũng đủ làm cháu muốn nổi khùng rồi.
- Dì không tin thế - tôi nói - Cháu không thấy dằn vặt lương tâm sao?
Nó nháy mắt. Nó không còn vẻ đẹp như xưa, bởi vì uống quá nhiều rượu Pháp và thiếu luyện tập thân thể.
- Cháu dự định làm gì - tôi hỏi - khi Nghị viện bị cuộc cách mạng lật đổ? Nó lại nhún vai:
- Cháu sẽ không ở Trehurfe - nó nói – Vợ cháu muốn ở lại đó thì ở. Còn cháu, chiến tranh đã dạy cháu thích nếp sống lãng du.
Vừa huýt sáo khe khẽ, Peter đến gần bên của sổ. Tôi thầm nghĩ: lại thêm một hậu quả đau buồn của chiến tranh. Tình cảm vợ chồng bị thương tổn …
Người đến tiếp theo là Bunny Grcnvile. Bunny mười bảy tuổi nhưng đã hơn người em họ Dick về chiều cao lẫn bề ngang. Bunny với đôi mắt linh hoạt, soi mói, bản đồ bờ biển kẹp dưới nách.
- Cháu muốn biết bãi biển ở hướng nào? Cháu cần biết trước nơi đổ bộ. Không, không, cháu không đói, không khát. Cháu bận lắm. Cháu phải nắm vững địa thế này.
Thế là Bunny đi ngay về hướng đồi Gribben. Lại thêm một chiến binh trẻ, như Jack, anh nó.
- Dì thấy không? - Dick nói, nhìn tôi bằng đôi mắt đen láy – Giòng họ Grenvile người nào cũng hăng máu. Có lẽ dì khinh miệt cháu không đi cùng với anh Bunny?
- Không, Dick – tôi dịu dàng trả lời nó.
- Dì khinh cháu, cháu biết mà. Anh Bunny sẽ chiếm cảm tình dì như đã chiếm cảm tình cha cháu. Bunny can đảm và cương nghị. Còn thằng Dick đáng thương này chỉ biết có hội họa như con gái…
Người khách thứ ba là ông Ambrose Manaton một tên không xa lạ gì với giòng họ Harris chúng tôi. Trong nhiều thế hệ qua, giữa hai dòng họ Harris và Manaton có sự kiện tụng nhau. Về chuyện gì, tôi cũng không biết hết chi tiết. Tôi chỉ biết rằng cha tôi không bao giờ nói chuyện với họ Manaton.
Tôi thấy tốt nhất cần phải đặt thẳng vấn đề một lần một, để tránh sự ngờ vực lẫn nhau.
- Giữa hai dòng họ chúng ta hiềm khích nhau từ nhiều thế hệ - tôi nói – và tranh giành quyền lợi đất đai. Tôi là con gái út trong giòng họ Harris và tôi bảo đảm ông được an toàn khi đến nhà tôi.
- Cô thật tử tế - Ông ta đáp.
Tôi chú ý quan sát Ambrose Manaton khi ông ta cúi xuống hôn tay tôi. Ông ta dễ mỉm cười và dễ buông lời ca tụng. Ông ta giữ vai trò gì trong vụ này? Tôi chưa hề nghe nói ông ta là lính. Hay là ông ta làm kinh tài? Richard thật chu đáo. Người ta không thể làm cách mạng mà không có ngân quỹ. Nhưng ai đã xui khiến Ambrose mạo hiểm cả cuộc sống và tài sản? Chính câu hỏi của Ambrose giải đáp thắc mắc cho tôi.
- Thưa cô, bà Gartred chưa đến đây sao?
- Chưa. Ngài quen thân với bà Gartred à?
- Vâng, chúng tôi là láng giềng với nhau ở phía bắc Cormouailes và Devon.
Giọng nói ông ta dễ dãi, nụ cười tin tưởng. Ôi! Tôi hiểu ý đồ của Richard khi lấy em gái ra làm cò mồi!
- Xin lỗi cho tôi hỏi anh tôi, thiếu tướng Robin Harris vẫn còn là quản lý của bà
Gartred chứ?
- Vâng, hầu như thế - Ambrose trả lời, mắt cúi xuống nhìn mũi giầy – Mới đây cô đã gặp anh cô chưa?
- Tôi không gặp anh ta từ hai năm nay, từ sau khi Pendennis thất thủ.
- Cô sẽ thấy anh ta thay đổi khá nhiều: mệt mỏi, tính khí nóng nảy. Có lẽ đó là hậu quả của cuộc bao vây.
Tôi biết anh Robin của tôi không bao giờ có dấu hiệu nóng nảy. Anh đi chiến đấu, tay cầm chim ưng. Nếu Robin có đổi tính , không phải do bị bao vây suốt năm tháng…
Cả hai người cùng tới trước khi trời tối. Lúc vào nhà, Gartred cởi áo choàng đưa cho
Robin cầm, như cố ý cho tôi thấy mối liên hệ giữa hai người.
Robin không khác gì Kit khi xưa. Đôi mắt anh ta như say mê, tôn thờ một nữ thần. Ambrose nói đúng. Trong ánh mắt không chỉ có tôn thờ mà còn pha lẫn lo lắng, ngờ vực. Đôi má anh ta phính hơn trước, chắc tại ăn uống quá độ. Cuộc bại trận và tình cảm với Gartred khiến anh tôi thay đổi nhiều.
- Số phận xui khiến chúng ta lại gặp nhau vào những phút gay go – tôi nói với Gartred – cô vẫn đánh bài piquet thường chứ?
Robin nhìn hai chúng tôi, vẻ ngạc nhiên. Gartred mỉm cười, tháo đôi găng tay bằng đăng-ten.
- Bài piquet đã lỗi thời rồi – cô ta đáp – bây giờ chơi đổ xí ngầu thịnh hành hơn. Nhưng phải chơi lén, cô quên rằng Nghị viện cấm vui chơi cờ bạc sao?
- Vì thế tôi sẽ không đánh bài với cô – tôi nói – cô có thể đánh với Robin hoặc Ambrose Manaton.
Gartred liếc một tia nhìn sắc như dao về phía tôi, nói:
- Nhưng lần này tôi cũng thấy an ủi phần nào khi hai chúng ta không đối đầu nhau nữa. Chúng ta cùng ở một phe.
- Thật vậy sao? – tôi nói- đã bốn năm rồi từ lúc cô đến đây để làm gián điệp cho hầu tước Robartes.
- Nếu cô nghi ngờ lòng trung tín của tôi – Gartred nói – cô cứ nói với Richard khi anh ta đến đây.
Gartred lại mỉm cười. Tôi cảm tưởng cô ta là một hiệp sỹ thời xa xưa, cúi đầu chào đối thủ trước khi rút kiếm.
- Tôi đã bố trí một phòng lớn trên đầu dành cho cô. Đó là phòng của mẹ con Alice hiện nay đã về quê.
- Cảm ơn.
- Robin ở bên trái cô, còn Ambrose Manaton ở bên phải trong một phòng nhỏ gần cầu thang. Với hai người đàn ông khỏe mạnh ở hai bên hộ vệ, tôi hi vọng cô không lo sợ gì.
Vẫn không chớp mắt, Gartred quay sang Robin , dặn dò anh ta cho mang hành lý lên phòng. Anh Robin bước ra ngay như một người hầu ngoan ngoãn.
- May mắn cho cô – tôi nói – anh em nhà tôi đều chiều chuộng phụ nữ.
- Nhưng nếu anh em nhà cô đừng có ý nghĩ độc quyền thì tốt hơn – Gartred đáp.
- Khẩu hiệu của giòng họ Harris chúng tôi là : “Hãy giữ cho bằng được điều mà mình đã có.”
Gartred nhìn tôi, vẻ nghĩ ngợi.
- Cô có quyền lực lạ thường đối với anh Richard của tôi – Gartred nói – thật lạ lùng! Anh ta như bị thôi miên và hoàn toàn tin tưởng nơi cô.
- Đừng đề cập đến vấn đề tin tưởng – Menabilly này chỉ là một địa danh trong hàng ngàn địa danh khác trên bản đồ. Một ngôi nhà hoang gần bãi biển thế thôi!
- Và nhất là có một căn phòng bí mật – cuối cùng Gartred nói.
Đến phiên tôi mỉm cười.
- Tiền bạc đã được chuyển về công khố của Hoàng thượng từ lâu – tôi nói – Những gì còn sót lại đã vào tay nghị viện. Lần này, cô đặt cuộc cho phe nào?
Gartred không trả lời, nhưng tôi thấy đôi mắt mèo của cô ta đang liếc theo bóng dáng anh Robin trong đại sảnh.
- Con gái tôi đều lớn cả và là gánh nặng gia đình- Gartred nói – có lẽ tôi phải tìm người chồng thứ ba đủ sức đảm bảo cuộc sống của tôi.
Tôi nghĩ thầm: “Anh Robin của tôi chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng một người như Ambrose trẻ hơn cô ta mười lăm tuổi, có đất đai của cải, sẵn sàng hiến dâng cả gia tài cho cô ta. Bà Kit… Bà Anthony… Sắp tới đây sẽ là bà Ambrose chăng?”
- Cô đã một lần làm hủy hoại cuộc đời của Kit, anh cả tôi. Cô đừng nên tìm cách lôi kéo ông anh thứ hai của tôi nữa.
- Cô nghĩ rằng có thể ngăn cản tôi được không?
- Tôi không ngăn cản. Cô có thể làm những gì cô thích. Nhưng tôi chỉ báo trước cho cô để đề phòng mà thôi.
- Đề phòng cái gì?
- Cô không thể vờn Robin như đã vờn Kit. Robin rất hăng máu. Gartred nhìn tôi một hồi, có vẻ không hiểu ý. Lúc ấy Robin bước vào.
Vào vữa tối, chúng tôi hợp thành một đoàn người kì lạ. Gartred với mái tóc bạch kim đeo đầy nữ trang ngồi giữa hai người đàn ông: Robin Harris mắt không rời Gartred và Ambrose Manaton lạnh lùng tự chủ, luôn quay qua nói chuyện với cô ta, phớt tỉnh làm như không có Robin ngồi đấy. Bên trái tôi là Peter Courtney thỉnh thoảng trao đổi cái nhìn với Gartred và mỉm cười vẻ hiểu ý. Nhưng với người hầu gái bưng thức ăn, Peter cũng mỉm cười, kể cả với tôi. Vì thế, tôi hiểu đó chỉ là thói quen của Peter chứ nó không có âm mưu gì với Gartred cả. Rồi đến Dick ủ rũ ngồi bên cạnh Bunny đang kể cho mọi người nghe về Jack hiện nay lúc nào cũng túc trực bên cạnh Hoàng tử De Galles như hình với bóng. Tôi nhìn họ, lần lượt từng người một, nghĩ rằng Richard không thể chọn được sáu người nào khác mà tính khí hoàn toàn trái ngược nhau, sẵn sàng gây gổ với nhau như sáu người thực khách của tôi đêm nay.
Gartred, em gái của chàng, không bao giờ tỏ ra ân cần với chàng. Robin, anh của tôi, trong quá khứ đã bất tuân lệnh chàng. Peter Courtney là loại người không dễ bị khuất phục. Dick, con trai của chàng, sợ và oán ghét chàng. Ambrose Manaton, một con người xa lạ và Bunny, cháu trai của chàng, chỉ là một cậu bé mới biết đọc bản đồ. Những người như thế mà làm lãnh tụ cách mạng sao? Nếu thế, cầu xin Thượng đế cứu giúp vùng Cornouailles đáng thương và Hoàng tử De Galles.
Mọi người chợt ngưng nói. Cánh cửa mở toang và chàng xuất hiện. Richard đứng bất động, quan sát chúng tôi, mũ trùm trên đầu, áo choàng phủ kín vai. Chàng không còn mái tóc hồng nâu mà tôi yêu biết chừng nào, chỉ có bộ tóc giả quăn, phủ xuống tận vai, làm tia nhìn thêm tăm tối. Vẫn cái nhìn quỷ quái kèm với nụ cười.
- Cảnh sát trưởng Cornouailles mà bắt được quả tang các vị đang ngồi đây thì hạnh phúc cho ngài ta biết chừng nào! Mỗi người chúng ta đây đều là phản động cả!
Mọi người chưng hửng nhìn chàng, kể cả Gartred. Dick run rẩy, cắn móng tay. Richard vất mũ và áo choàng vào tay người hầu đợi trong đại sảnh, và đến ngồi bên phải tôi.
- Em chờ anh có lâu không? – chàng hỏi.
- Hai năm ba tháng – tôi đáp. Chàng rót rượu đầy ly:
- Tháng giêng 1646 – chàng nói lớn – Tôi đã thất hứa với người phụ nữ đang tiếp đón chúng ta đây. Tôi đã để cho cô ta ở lại Werrington một buổi sáng kia, nói rằng sẽ trở về dùng bữa ăn trưa. Vô phước thay, Hoàng tử De Galles đã quyết định khác hẳn và tôi đã phải ăn trưa trong nhà tù Launceston.
Chàng nâng cao ly lên, uống cạn một hơi, nắm lấy tay tôi:
- Cảm ơn Chúa – chàng nói – cho tôi được quen biết người phụ nữ biết tha thứ cho sự thất hứa của tôi.
0
CHƯƠNG 31

Một lần nữa, cuộc sống lại diễn ra như hồi ở Werrington. Vẫn những tập quán bất di bất dịch của chàng, đột nhập bất kể giờ giấc, ngày hay đêm vào phòng tôi. Chàng sồng sộc vào phòng khi tôi đang dùng điểm tâm. Chàng đi đi lại lại, vừa lớn tiếng chửi rủa sự chậm trễ trong khâu thực hiện kế hoạch, tay chàng hết cầm bàn chải đánh răng của tôi, lại mân mê cái lược, cái vòng đeo tay để trên bàn. Chàng chê Trelawney quá thận trọng. Trevannion quá chậm. Chàng tiếc rằng không có ba đầu sáu tay, không có phép thần thông để hiện diện cùng một lúc ở mười lăm địa điểm hầu giải quyết công việc trì trệ.
Cũng như trước kia ở Werrington, chàng ngồi trước ngọn lửa, trong phòng ăn. Một xấp giấy trên bàn. Một tấm bản đồ lớn treo giữa phòng. Richard ngồi trong ghế bành, bên cạnh là Bunny, thay vì Jack. Những chữ thập đỏ đánh dấu những điểm đổ bộ trên bãi biển. Anh Robin của tôi đứng gần cửa ra vào, vị trí của đại tá Roscarrock trước đây. Peter Courtney túc trực trên lưng ngựa, nhận tin tức của Trelawney gửi về.
Các bản tin được nghiên cứu tỉ mỉ. Những nơi mà trong năm 1646 bị thất thủ đầu tiên, thì ngày nay cũng sẵn sàng nổi dậy đầu tiên. Helston, Penzance… St Yves… Mọi người đều đặt lòng tin tuyệt đối vào Richard Grenvile, tổng tư lệnh của quân kháng chiến.
Tôi ngồi trên xe lăn, gần ngọn lửa, lắng nghe tất cả những ý kiến và có cảm tưởng không ngồi trong phòng ăn của Menabilly nữa, mà ở Werrington, ở Ottery, ở Exeter… vẫn những đề tài đó, những cuộc thảo luận đó, những do dự của thuộc hạ, những quyết định nhanh chóng.
Những cuộc hội họp lớn chỉ diễn ra vào ban đêm, bởi vì lúc ấy di chuyển trên đường dễ hơn. Từ phòng tôi nghe tiếng thầm thì bàn tán và giọng nói mạch lạc của Richard lấn át mọi tiếng khác. Người Pháp có giữ lời hứa không? Richard đứng ngồi không yên.
- Quỷ bắt hết bọn Pháp đi. Tôi đếch cần chúng, nếu chúng không đến. Không có chúng, chúng ta vẫn đánh được.
- Nhưng, nếu người Pháp giữ lời hứa hậu thuẫn cho cuộc đổ bộ của Hoàng tử - Ngài Charles Trevannion nói – như thế sẽ là một đòn tâm lý đánh vào Nghị viện, có hiệu lực gấp mười sư đoàn ngoài chiến tuyến.
- Các ông chớ cả tin. Người Pháp không thích đổ máu trên một mảnh đất xa lạ. Hãy để cho họ yên. Chúng ta sẽ không cần đến họ nữa một khi đã chiếm đảo Sorlingues và các thành trì ở Cornouailles.
Hội họp triền miên. Nửa khuya, một giờ, hai giờ, ba giờ. Lúc mấy giờ buổi họp kết thúc và mọi người giải tán đi ngủ? Tôi cũng không biết, bởi vì cơn mệt đã quật ngã tôi từ lâu.
Robin, người đã chứng tỏ lòng dũng cảm tuyệt vời khi bị bao vây ở Pendennis, bây giờ mang những trọng trách nặng nề. Chuyện xích mích giữa hai người về vụ cây cầu đã được bỏ qua.
- Robin, anh nhận tin tức mới nhất từ Helston chưa?
- Thưa, tôi nhận được rồi.
- Tôi muốn rằng anh đại diện cho tôi đến Penrose nắm bắt tình hình. Hãy đi vắng đúng hai đêm thôi. Tôi cần quân số chính xác có thể huy động được giữa Helston và Penryn.
- Xin tuân lệnh.
Và tôi thấy Robin lưỡng lự một chút, mắt quay về phía cửa nơi tiếng cười của Gartred trong trẻo vọng lại…
Những ngày trôi qua, kế hoạch dần dần rõ nét. Bức điện cuối cùng của Hoàng tử Pháp đã gửi về, báo tin rằng hạm đội của Pháp được đặt dưới quyền sử dùng của Hoàng tử một đạo quân do công tước Hopton chỉ huy sẽ đổ bộ lên Cornouailles, trong khi đạo quân của Hoàng tử và Jack Grenvile tiến chiếm đảo Sorlingues. Cuộc đổ bộ phải xảy ra đồng thời với các cuộc nổi dậy trong nội địa do tướng Richard chỉ đạo, để chiếm đóng những điểm then chốt.
Ngày thứ bảy 13-5 dược chọn là ngày tổng nổi dậy. Từ ngày mồng một, trời rất oi bức. Bên dưới đồi Gribben, mặt biển bóng nhẫy như gương. Bầu trời xanh thăm thẳm, không một bóng mây.
Tôi lăn xe hóng mát trên đường đê, nhìn ngắm những con chiên đang gặp cỏ. Chỉ hơn một tuần nữa những cánh đồng hiền hòa này sẽ nến mùi chiến tranh một lần nữa. Lại có đánh nhau, chém giết, chết chóc. Gia súc chạy tản mát. Dân chúng tản cư trên đường. Tiếng súng nổ dòn dã, tiếng vó ngựa rền vang…
Công cuộc chuẩn bị đã hoàn tất và thời gian dài chờ đợi bắt đầu. Richard lúc nào cũng vui vẻ trước trận đánh. Chàng chơi ném bun với Bunny trên thảm cỏ gần ngôi nhà bỏ hoang của viên quản lý. Peter nhận thấy dạo này mình mập hơn trước nên thường xuyên phi ngựa trên bãi biển cốt làm sao cho sụt ký. Anh Robin của tôi thì lầm lì đi dạo một mình trong rừng và khi trở về anh vào thẳng phòng ăn. Đôi khi tôi thấy anh Robin ngồi hàng giờ uống rượu, vẻ lo lắng. Khi tôi hỏi, anh trả lời lấp lửng, con mắt bất động lạ thường như đang rình mò ai. Gartred bình thường rất thản nhiên, lạnh lùng khi đùa giỡn với tình yêu, nhưng lần đầu tiên tôi thấy cô ta có vẻ không được tự tin. Phải chăng vì Ambrose nhỏ hơn Gartred mười lăm tuổi hay là cô ta cho rằng nếu lấy Ambrose sẽ gặp mối đe dọa lớn? Tôi biết Gartred nợ nần tứ tung ở Orley Court. Richard đã nói cho tôi biết điều ấy. Tuổi thanh xuân của cô ta thế là hết. Và tương lai có thể sẽ đen tối nếu không có người chồng thứ ba đảm bảo cuộc sống cho cô ta khi về già, sắc đẹp không còn nữa, phải sống nhờ con cái. Gartred hết thận trọng rồi sao? Cô ta mỉm cười quá công khai với Ambrose Manaton. Ngồi vào bàn ăn, bàn tay Gartred thường đụng tay Ambrose.
- Tại sao anh lại để Gartred đến đây? – tôi nói với Richard – cô ta đã làm khá nhiều
Điều tệ hại. Cô ta giúp ích gì cho anh ở đây?
- Nếu Gartred ra đi, Ambrose sẽ đi theo – Richard đáp – Anh không thể để sổng mất tài chính viên này được.
- Vậy thì anh hãy phái Robin đi đâu đó. Anh ta không giúp ích gì được cho anh nếu cứ tiếp tục uống nhiều như thế.
- Em lầm rồi. Chỉ có rượu mới kích thích người ta được. Khi tới ngày hành động, anh sẽ phục rượu cho Robin uống và em sẽ thấy một mình anh ta chiếm lâu đài St Mawes.
- Em không vui sướng gì thấy anh của em tự hủy hoại đời mình.
- Nhưng Robin có mặt ở đây không phải để làm vui em gái mình. Anh ta ở đây để phục vụ dưới trướng của anh. Hiếm có sĩ quan nào như Robin đánh giặc rất gan lì. Anh ta càng đau khổ, càng chiến đấu hung tợn hơn.
Richard phà một hơi thuốc trong không khí nhìn tôi bằng con mắt đục ngầu.
- Lạy chúa – Tôi nói – Lòng anh không biết thương xót sao?
- Hoàn toàn không, để đạt được mục đích quân sự.
- Anh có thể ngồi yên và sung sướng ở đây, trong khi trên lầu, em gái anh dùng sắc đẹp quyến rũ Ambrose Manaton để bòn rút gia tài. Còn anh của tôi, vì yêu cô ta, mà uống rượu say mềm, trái tim tan nát.
- Dẹp trái tim của Robin qua một bên đi! Anh chỉ quan tâm đến thanh kiếm và anh ta sẽ sử dụng kiếm như thế nào trong trận chiến. Thế thôi!
Nói xong, Richard thò đầu ra khỏi cửa sổ, huýt gió gọi cháu trai Bunny và rủ nó đi chơi ném bun. Tôi nhìn cả hai vui đùa hồn nhiên như hai cậu học trò, áo choàng vứt trên cỏ. “Cầu chúa đày đọa giòng họ Grenvile!” – Trong cơn giận tôi nói khá lớn, ngỡ rằng chỉ còn lại một mình trong phòng. Một bàn tay gầy rạc đặt trên vai tôi và tôi nghe giọng Dick thì thầm:
- Cách đây mười tám năm mẹ cháu cũng nguyền rủa như thế.
Dick đứng sau lưng tôi, hai mắt đen long lanh trên khuôn mặt tái xanh nhìn cha nó đang ném bun với Bunny.
0
CHƯƠNG 32

Ngày thứ năm 15-5 hứa hẹn cũng nóng và oi ả như những ngày trước. Chỉ còn vài ngày chờ đợi là ngọn đuốc chiến tranh sẽ được thắp sáng một lần nữa ở Cornouailles. Ngay cả Richard cũng rất căng thẳng tinh thần khi người lính đưa tin cho hay rằng nhà cầm quyền địa phương vừa tổ chức một phiên họp gồm có viên tư lệnh quân sự miền tây, ngài Hardress và nhiều ủy viên cấp cao từ các thành phố trong vùng.
- Bây giờ chỉ cần một sơ hở nhỏ - Richard nói – là mọi kế hoạch của chúng ta trở nên vô ích.
Tất cả chúng tôi đang ngồi trong phòng ăn, trừ Gartred ở trong phòng riêng. Tôi còn nhớ những nét mặt lo âu đang nhìn người chỉ huy của mình. Robin âu sầu, ủ rũ. Peter đưa ngón tay nhịp trên đầu gối. Bunny chau mày còn Dick vẫn cắn móng tay.
- điều duy nhất khiến tôi lo sợ - Richard nói – người của chúng ta ở miền tây này không kín miệng. Họ như những con diều hâu mới học bắt mồi, đã nôn nóng. Tôi đã dặn dò Keigwin và Grose không được ra khỏi nhà trong tuần này, và cũng không hội họp nữa.
Chàng đứng gần cửa sổ, hai tay chắp sau lưng. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng tôi đều hơi lo sợ viển vông. Tôi thấy Ambrose Manaton không còn bình tĩnh như thường ngày nữa, và cứ vặn vẹo hai tay luôn.
- Nếu xảy ra bất trắc – Ambrose hỏi – các anh đã trù liệu biện pháp rút lui an toàn rồi chứ?
Richard ném một cái nhìn khinh bỉ về phía ông ta và trả lời cộc lốc:
- Hoàn toàn không có biện pháp nào cả. Chàng đi tới bàn, xem lại xấp tài liệu.
- Mỗi người trong các anh đều đã nhận lệnh – chàng nói – Các anh biết phải làm gì. Ngày thứ bảy tới, chúng ta phải dành lại tự do. Nếu người nào sợ, cứ nói cho tôi biết. Tôi sẽ cho thắt dây thòng lọng vào cổ vì dám phản bội Hoàng tử De Galles.
Không ai trả lời. Richard quay sang Robin.
- Tôi yêu cầu anh hãy đi Trelawney ngay để báo cho Trelawney và con trai biết rằng địa điểm hẹn đã thay đổi. Họ phải gặp Arthur Bassett và Charles Trevannion ở Caerhayes. Anh hãy nói bọn họ lên đường ngay tối nay. Tránh đừng đi đường cái và anh hãy tháp tùng họ.
- Xin tuân lệnh – Robin chậm rãi đáp vừa đứng dậy, vừa hằm hằm liếc về phía Ambrose Manaton.
Về phần tôi cảm thấy như trút được một gánh nặng khỏi lồng ngực. Robin đi rồi, tôi cảm thấy dễ thở hơn. Mặc cho Gartred và người tình mới muốn làm gì thì làm trong những giờ phút còn lại, miễn là anh Robin không có mặt ở đây để canh chừng họ.
- Bunny – Richard hỏi – Cháu đã chuẩn bị ghe thuyền chưa?
- Thưa chú, xong cả rồi – Bunny trả lời, ánh mắt hân hoan vì được giao nhiệm vụ khá quan trọng.
- Chúng ta hẹn nhau ở Caerhayes – Richard nói – vào lúc rạng đông ngày 13. Cháu có thể đi Gorran ngày mai, mang theo những huấn thị mới nhất của chú về việc đốt lửa hiệu ở Dodman.
Chàng mỉm cười với Bunny đang nhìn chàng bằng ánh mắt ngưỡng mộ. Tôi thấy Dick cúi đầu, bàn tay vẽ vẽ trên bàn những nét tưởng tượng.
- Peter – Richard gọi.
Người chồng của Alice nhổm dậy, như vừa ra khỏi giấc mơ rượu ngon và gái đẹp để
trở về với thực tế gian nan.
- Hãy đi Caerhayes và báo cho Trevannion biết rằng kế hoạch đã thay đổi. Cho ông ta hay rằng cha con Trelawney và Bassett sẽ hội ngộ với ông ta ở Caerhayes. Xong rồi, hãy về lại đây ngay trong buổi sáng. Rõ chưa? À này, ta dặn này. Trên đường đi, đừng có giở trò tán gái lăng nhăng, không phải lúc đâu nhé!
- Vâng thưa ngài – Peter đỏ mặt đáp.
Peter đi ra, theo sau là Robin, Bunny và Ambrose Manaton. Richard ngáp dài, vươn vai và tiến về gần lò sưởi, vất hết giấy tờ, tài liệu vào đống lửa để phi tang.
- Còn con sẽ làm gì? – Dick rụt rè hỏi.
- Mày hả? – Richard nói – Mấy đứa con gái của nhà Alice có thể còn để lại trong nhà vài con búp bê. Mày có nhiệm vụ đi tìm và may áo cho búp bê mặc.
Dick không trả lời. Nó bước ra mặt tái nhợt.
- Một ngày kia – tôi nói – Anh sẽ đi quá trớn.
- Đó là ý định của anh.
- Anh thích nhìn thấy con anh đau khổ à?
- Anh hi vọng thấy nó nổi dậy một ngày nào đó như một người đàn ông thay vì chấp nhận tất cả như một thằng hèn.
- Trên đời này chưa có một người cha nào đối xử với con như anh đối xử với thằng Dick.
- Anh muốn trừ khử hết dòng máu của mẹ nó chảy trong người nó.
- Nhưng vô tình anh đã khơi dậy hơn là trừ khử - tôi nói.
Chàng nhún vai và chúng tôi giữ im lặng, lắng nghe tiếng vó ngựa của Robin và Peter lên đường thi hành nhiệm vụ.
Buổi tối hôm đó, chúng tôi đi ngủ rất sớm. Richard ngủ trong phòng của anh rể tôi, Jonathan Rashleigh. Dick và Bunny ngủ trong phòng nhỏ gần đó.
Tôi nghĩ thầm: “Peter và Robin đã ra đi. Ambrose Manaton và Gartred mặc sức mà tâm tình với nhau.”
Gần đến nửa đêm, tôi chợt thức dậy. Hình như có tiếng bước chân người trong phòng ăn.
Không còn nghi ngờ gì nữa. Tiếng bước nhẹ nhàng của người nào đó đang mò mẫm trong bóng tối, đụng vào bàn, rồi đụng vào ghế. Tôi ngồi dậy và lắng tai. Mọi sự lại chìm đắm trong yên lặng. Tôi kéo xe lăn đến gần giường và leo lên ngồi. Kế đó, y như dự đoán, tiếng bước chân đi lên cầu thang. Tôi linh cảm có điều bất lành. Tôi lăn xe ra khỏi cửa phòng.
- Ai đó? – tôi hỏi rất khẽ.
Không có tiếng trả lời, nhưng tôi thấy trong cầu thang một bóng đen đứng nép sát tường. Một người đàn ông. Dưới ánh trăng, cây kiếm cầm trên tay chiếu sáng ngời. Người đàn ông đi chân đất, tay áo vén lên tận khuỷu tay, mắt lóe lên tia chớp giết người. Tôi nhận ra đó là Robin.
- Cách đây hai năm, tháng giêng 1646 – tôi dịu dàng nói – anh đã bất tuân lệnh của tướng Richard. Bây giờ tháng năm 1648, anh có ý định bất tuân một lần nữa sao?
Robin đến gần tôi, hơi thở mạnh, nồng nặc mùi rượu
- Anh không cãi lệnh ai cả. Anh đã hoàn thành nhiệm vụ và đã chia tay với cha con
Trelawey trên đồi Polmear.
- Richard đã ra lệnh cho anh tháp tùng họ mà – tôi nói.
- Trelawney đã nói là vô ích. Hai người đi dễ che mắt địch hơn ba người. Hãy để anh đi qua Honor.
- Chưa được, anh Robin hãy đưa kiếm cho em đã.
Robin không trả lời. Anh ta nhìn thẳng vào mặt tôi, tóc rối bù, hai mắt đục ngầu, trông giống Kit của chúng tôi thuở xưa.
- Richard và em đừng hòng đánh lừa anh. Công tác Richard giao cho anh chỉ là cái cớ để đẩy anh đi xa, cho hai đứa kia được ngủ chung với nhau.
- Anh hãy đi ngủ đi, Robin – tôi nói – hoặc là hãy vào phòng em. Chúng ta sẽ nói chuyện với nhau.
- Không – Robin đáp – Giờ của anh đã đến. Hai đứa kia đang ngủ chung với nhau. Nếu em cản đường anh, anh cũng sẽ giết cả em.
Anh ta đẩy tôi qua một bên và bước tới, nửa say nửa điên khùng.
- Lạy chúa – tôi nói – Anh đừng vào phòng đó. Hãy làm điều gì anh muốn ngày mai, nhưng đừng làm vào giờ này.
Robin không trả lời, đưa tay vặn nắm đấm cửa, nụ cười khủng khiếp trên môi.
Vừa nức nở, tôi vừa trở về phòng và đập mạnh vách ngăn phòng tôi với phòng nhỏ nơi Dick và Bunny ngủ.
- Hãy gọi Richard mau lên – tôi la lớn – và cả hai cháu nữa, hãy đến nhanh đừng chậm trễ.
Bunny kêu lên một tiếng ngạc nhiên và tôi nghe nó nhảy xuống giường, chạy đi ngay. Ánh trăng chiếu tỏ các cửa sổ hướng đông. Tiếng một người phụ nữ rú to trong đêm.
0
CHƯƠNG 33

Tôi vẫn kêu to “Richard…Richard...” đến lạc cả giọng, vừa lăn xe qua phòng trống của Ambrose để đến phòng Gartred.
Lạy Thượng đế! Họ đánh nhau dưới ánh trăng màu bạc lạnh lùng tràn qua cửa sổ. Gartred đứng nép mình ở đầu giường, một vết thương dài đẫm máu cắt nát mặt. Ambrose mặc chiếc áo ngủ lấm đầy máu, vừa lui lại vừa cố đưa tay không, chống đỡ những nhát kiếm của Robin, cho đến khi ông ta rút được kiếm trong đống quần áo để trên ghế. Cả hai đấu thủ dậm chân trên sàn nhà, hơi thở đứt quãng. Họ như hai con ma, khi tỏ, khi mờ, đánh nhau những đòn chí tử.
“Richard...” tôi vẫn kêu gào, bởi vì án mạng đang xảy ra trước mặt tôi. Gartred thu mình trong một góc, bàn tay ôm lấy mặt, máu tuôn qua các kẽ tay.
Cuối cùng Richard đến, không kịp mặc áo, tay cầm kiếm. Dick và Bunny chạy theo sát gót người chú, tay cầm đèn.
- Đủ rồi, lũ ngốc - Richard nạt lên một tiếng, nhảy bổ vào giữa, nắm lấy cổ tay của Robin.
Ambrose Manaton lùi lại sát tường, Bunny giữ chặt lấy ông ta.
Robin và Ambrose nhìn nhau, như hai con ác thú, ngực căng phồng, mắt đỏ ngầu và bất thình lình, khi thấy khuôn mặt đẫm máu của Gartred hiểu điều mình đã làm. Anh ta lắp bắp không nói ra lời. Anh ta run cả người. Richard đẩy Robin ngồi xuống ghế bành, đồng thời quay sang nói với tôi:
- Hãy gọi Matty mang nước và băng lên đây.
Cả nhà đều thức dậy, các người hầu sợ hãi nhốn nháo trong đại sảnh, đèn đuốc thắp sáng.
- Các người cứ đi ngủ lại - Richard nói với các người hầu - Chỉ một mình Matty đủ rồi. Không có chuyện gì trầm trọng cả, chỉ là một tai nạn thường.
Các gia nhân xì xào giải tán và trở về phòng. Matty có mặt liền sau đó. Chỉ liếc mắt một cái, cô ta hiểu ngay điều gì xảy ra. Matty đổ nước đầy chậu và xé những miếng vải mỏng để làm băng. Căn phòng bây giờ được soi sáng bởi sáu ngọn đèn. Không còn bóng ma nữa. Sự thật phủ phàng đang phơi bày trước mắt.
Ambrose phải tựa người vào vai Bunny, tay ôm chặt vết thương để cầm máu, tóc ông ta ướt đẫm mồ hôi. Robin ngồi trên ghế, gục đầu vào hai tay. Richard đứng bên cạnh, nghiêm khắc, quả quyết. Và tất cả chúng tôi đều nhìn Gartred nằm trên giường, mặt bị cắt một đường dài từ lông mày bên phải xuống tận cằm. Tôi nhận thấy Dick cũng hiện diện trong phòng.
Mặt Dick xanh như xác chết và khi máu từ vết thương của Gartred chảy ra nhuộm đỏ khăn trải giường và lấm đầy trên hai tay của Matty, Dick chợt quỵ người xuống bất tỉnh.
Richard vẫn không nhúc nhích. Chàng làm ngơ trước tấm thân bất động của con trai.
- Hãy mang thằng chó con này lên phòng nó - Richard nói với Bunny, răng chàng nghiến lại.
Bunny thi hành ngay. Một hồi sau, nó quay lại, tay cầm chai rượu brandy. Mỗi người thay phiên nhau tu một chút. Robin uống chậm rãi. Ambrose nhắp từng ngụm nhỏ, mặt lấy lại sắc hồng. Gartred rên khe khẽ, đầu tựa trên vai Matty. Mái tóc bạch kim của cô ta cũng lấm máu.
Richard thong thả nói:
- Tôi không có ý định điều tra sự việc. Dù sao chuyện đã xảy ra rồi. Chúng ta đang đứng trước những việc trọng đại khác liên quan đến vận mệnh cả một vương quốc. Bây giờ không phải lúc cấu xé lẫn nhau vì tình cảm riêng tư. Các anh đã tuyên thệ với tôi, các anh phải vâng lời tôi.
Không ai trả lời. Robin hối hận, cúi gầm mặt xuống đất.
- Bây giờ chúng ta hãy cố ngủ trong vài giờ còn lại cho đến sáng. Tôi sẽ ở lại với Ambrose trong phòng của ông ta, còn Bunny ngủ với Robin. Sáng mai, tất cả sẽ đi Caerhayes. Còn cô, Matty, xin cô vui lòng ở lại đây với bà Gartred.
- Vâng, thưa ngài cứ yên tâm.
- Mạch đập của Gartred thế nào? Cô ta có mất nhiều máu lắm không?
- Cô ta đã đỡ nhiều, thưa ngài. Giấc ngủ và nghỉ ngơi là liều thuốc tốt nhất
- Không có gì nguy hiểm đến tính mạng chứ?
- Hoàn toàn không, thưa ngài. Vết thương không sâu lắm, nhưng sắc đẹp bị tổn thương. Ambrose Manaton không nhìn về phía giường. Hình như người phụ nữ nằm đó xa lạ
Đối với anh ta. “Thế là chấm dứt tình cảm giữa hai người - tôi nghĩ - Gartred sẽ là bà Ambrose và không được hưởng gia tài giàu có của ông ta nữa”.
Tôi quay mặt đi để khỏi nhìn Gartred, mặt trắng nhợt và nằm bất động. Richard đặt tay lên thành xe lăn.
- Còn em nữa, em đã quá mệt rồi đấy - chàng nói. Chàng đưa tôi về phòng và bế tôi đặt trên giường.
- Em ngủ nhé - chàng nói.
- Em không tin rằng sẽ ngủ được.
- Em hãy nằm nghỉ đi. Chúng ta sắp lên đường rồi. Chỉ còn vài giờ nữa thôi và mọi sự đều kết thúc. Chiến tranh là một liều thuốc đa năng khiến người ta quên đi những xích mích riêng tư.
- Em tự hỏi…
Nhưng chàng đã bước ra để đến phòng của Ambrose, không phải vì lo lắng cho ông ta, nhưng tôi biết chàng đến đó chỉ để nắm chắc rằng gia tài kếch sù của ông ta không vuột khỏi tay chàng trước ngày tổng khởi nghĩa.
Những giờ trôi qua và bất giác tôi nhớ đến Dick đang ở một mình trong phòng nhỏ cạnh phòng tôi. Tôi nghĩ rằng thằng bé đang cựa mình, khó ngủ về những cảnh tượng khủng khiếp vừa rồi và biết đâu nó đang cần có tôi.
- Dick... Dick... - tôi khẽ gọi.
Tôi gọi lại một lần nữa, nhưng không có tiếng trả lời. Chắc nó ngủ say. Không yên tâm, tôi leo lên xe lăn để tới mở cánh cửa thông với phòng bên. Giường của Dick trống rỗng...
Mệt mỏi, tôi trở về giường nằm. Có lẽ nó đi gặp Bunny trong phòng Robin. Nhưng khuôn mặt xanh xao, sợ hãi của nó cứ ám ảnh tôi.
Khi tôi thức dậy thì phòng của tôi chan hòa ánh nắng. Những chuyện xảy ra hồi hôm chỉ còn là ác mộng. Tôi muốn quên hết mọi chuyện đó như người ta muốn quên đi một giấc mộng khủng khiếp. Nhưng Matty mang điểm tâm lên, lại kéo tôi về tới thực tế đáng buồn.
- Vâng, bà Gartred hơi khó ngủ - cô ta trả lời tôi. Matty ít nuôi trong lòng sự sợ hãi đối với Gartred.
- Vết thương của cô ta có thể lành lặn được không? - tôi hỏi.
- Cô ta sẽ mãi mãi mang vết sẹo này. Kể từ bây giờ, cô ta khó có thể dùng sắc đẹp để hái ra tiền nữa. Cô ta đáng bị thế!
Có thật vậy không? Phải chăng thượng đế đã muốn thế, hay là tất cả chúng tôi đều là đồ chơi của vận mệnh? Có điều tôi biết rằng tôi không còn ghét Gartred nữa từ sau khi nhìn thấy vết thương trên mặt cô ta.
- Còn các ông đang ăn điểm tâm đấy chứ? - bất chợt tôi hỏi.
- Vâng.
- Dick có cùng ăn không?
- Thưa có. Cậu ta đến trễ hơn những người khác, nhưng em thấy cậu ta trong phòng ăn. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi được tin Dick vẫn còn an toàn trong nhà.
Vì tế nhị, tôi không muốn vào phòng của Gartred. Bây giờ, sắc đẹp của cô ta đã bị hủy hoại, chúng tôi cùng một cảnh ngộ như nhau. Nếu là người đàn bà khác, họ sẽ giả vờ thương hại, nhưng trong lòng thì lại vui sướng, nhưng Honor Harris không thuộc loại người đó.
Tôi gặp anh Robin trong hành lang, đứng gần cửa sổ, vẻ buồn bực , cánh tay phải bị băng. Khi tôi đến gần, anh ta quay sang tôi, nhưng rồi lại lảng tránh cái nhìn của tôi.
- Em tưởng anh đi Caerhayes với Bunny rồi chứ? - tôi nói.
- Không, anh còn chở Peter Courtney - Robin âu sầu đáp - Sao bây giờ nó vẫn chưa về.
- Cổ tay của anh còn đau không? - tôi dịu dàng hỏi. Anh ta lắc đầu, mắt vẫn nhìn bên ngoài cửa sổ.
- Khi nào hết loạn lạc - tôi nói - hai anh em mình sẽ về ở Lanrest nhé. Robin không đáp nhưng tôi thấy mắt anh ta ươn ướt.
- Khá lâu nay hai anh em mình đều thương người thuộc dòng họ Grenvile - tôi nói - và mỗi người thương một cách. Đã đến lúc phải dạy cho họ biết chớ coi thường chúng ta.
- Từ ba mươi năm nay, họ có làm gì đâu - Robin đáp – bằng giọng mệt mỏi - Chính chúng ta lệ thuộc vào họ.
Đó là những lời cuối cùng của Robin khi chúng tôi trao đổi với nhau về đề tài này. Từ đó chúng tôi không hề nhắc đến nữa, dù rằng chúng tôi sống gần nhau từ năm năm nay.
Cửa mở và Richard bước vào, theo sau là Bunny.
- Tôi chẳng hiểu sao - chàng nói, vừa lo âu đi qua đi lại - đã gần trưa rồi mà Peter vẫn chưa về. Nếu nó rời khỏi Caerhayes từ sáng sớm, nó phải có mặt ở đây từ lâu.
- Nếu ngài cho phép - Robin từ tốn nói - tôi sẽ lên đường để kiếm Peter. Có lẽ nó đang ăn trưa trong nhà gia đình Sawle ở Penrice.
- Theo tôi thì nó đang ngồi tình tứ với một đứa con gái nào đó sau một bụi rào. Lạy Chúa! Lần sau nếu có đánh nhau, tôi chỉ tuyển những hoạn quan mà thôi. Thôi được! Anh cứ thử đi kiếm nó xem sao, nhưng phải tránh đường cái.
Chúng tôi nghe tiếng vó ngựa của Robin. Những giờ trôi qua. Mười hai giờ, rồi đến một giờ. Bữa ăn trưa gồm thịt nguội và bia. Ai cũng ăn uống uể oải. Lúc một giờ rưỡi, có tiếng bước chân trong cầu thang, tiếng bước nặng nề, chậm chạp. Tôi thấy Ambrose Manaton ngước mắt nhìn lên trần nhà và đứng lui lại gần cánh cửa sổ. Cửa sổ mở, Gartred xuất hiện, mặc đồ đi đường, một nữa mặt che khuất bằng miếng khăn voan, áo choàng khoác vai. Trông như một bóng ma.
- Tôi muốn quay về Orley Court - cô ta nói - Hãy kiếm cho tôi một cổ xe ngựa.
- Em đòi hỏi điều không thể thực hiện được - Richard nói - Trong vài giờ nữa, các đường sẽ bị cắt.
- Em chấp nhận nguy hiểm - cô ta nói - Nếu em bị rơi vào tay loạn quân thì cũng mặc kệ. Em đã làm điều anh yêu cầu. Vai trò của em đã chấm dứt.
Gartred nhìn thẳng vào mặt Richard, không hề liếc sang Manaton. Richard và Gartred, Robin và tôi... Trong hai cô em gái, người nào đáng tha thứ hơn cả và phải trả một giá quá đắt hơn cả? Không thể trả lời được câu hỏi đó.
- Anh rất tiếc - Richard nói - Anh không thể giúp ích gì được cho em. Em phải ở lại đây. Bọn anh có nhiều chuyện khác đáng lo hơn là phương tiện chuyên chở cho một bà góa bị thương.
Bunny là người đầu tiên nghe tiếng ngựa phi trong hoa viên. Nó chạy tới bên cửa sổ nhìn ra ngoài. Tiếng vó ngựa lớn dần và bất thình lình một kỵ sĩ đang phi qua cổng. Chính là Peter Courtney, đầu trần, mình lấm đầy bụi, tóc rối bù xõa trên vai. Thảy dây cương cho một người hầu, Peter chạy vội vào hành lang.
- Lạy Chúa, hãy chạy trốn mau lên! Có người làm phản. Cha con Trelawney, Charles Trevannion, Arthur Bassett và những người khác đã bị bắt. Sáng nay, cảnh sát trưởng Thomas Herle đã huy động một lực1ượng đến bao vây. Các bạn ta chống lại, nhưng họ quá đông. Tôi phải nhảy đại qua cửa sổ của tầng lầu và bị trật chân. Sau đó tôi nhảy liều lên lưng một con ngựa và chạy thoát. Chỗ nào cũng có lính. Cầu St Blazey đã bị chốt chận. Trên đỉnh đồi Polmear cũng có lính gác...
Nói đến đây, Peter đưa mắt nhìn quanh như có vẻ tìm ai.
- Robin không có đây sao?... Thôi đúng rồi, tôi gặp ông ta đang đấu kiếm với năm sáu thằng. Tôi không dám đến giúp ông ta, vì nhiệm vụ chính của tôi là phải về đây báo cho mọi người. Bây giờ chúng ta phải làm gì?
Tất cả chúng tôi đều quay nhìn người chỉ huy. Richard đứng lặng yên, lạnh lùng, không chút lộ vẻ thất vọng. Chàng quay sang Bunny:
- Cháu hãy đi ngay Pridmouth và cho thuyền ra khơi về hướng nam cho đến khi nào gặp chiến thuyền đầu tiên của hạm đội Pháp. Hãy hỏi thuyền của công tước Hopton và trao cho ngài tờ giấy này.
Richard cúi xuống viết nguệch ngoạc trên một tờ giấy.
- Ngài gọi họ đến à? - Ambrose Manaton hỏi - Ngài có tin rằng họ đến kịp không? Mặt Ambrose xanh như tàu lá, hai nắm tay xiết lại.
- Không phải thế - Richard vừa đáp vừa gấp lá thư lại - Tôi chỉ yêu cầu họ giương buồm trở về Pháp. Sẽ không có nổi dậy. Hoàng từ De Galles sẽ không đổ bộ lên Cornouailles tháng này.
Richard trao lá thư cho Bunny, và mỉm cười nói:
- Chúc cháu may mắn. Cho chú gửi lời thăm Jack.
- Còn chú - Bunny hỏi - Chú không đi với cháu sao? Mọi sự chậm trễ đều là điên rồ. Căn nhà này sẽ bị bao vây.
- Chú sẽ hội ngộ lại với các cháu khi cần thiết - Richard nói - Còn hôm nay, chú yêu cầu cháu cứ thi hành mệnh lệnh.
Bunny nhìn người chú một lúc, đoạn lui ra, đầu ngẩng cao.
- Nhưng làm sao bây giờ? - Ambrose nói - Lạy Chúa, tại sao tôi lại dính líu vào chuyện này?
Ông ta quay sang Peter đang nhún vai.
- Nhưng ai là kẻ phản bội?
- Biết làm gì - Richard nói - bởi vì sự thể đã xảy ra rồi? Này Peter, hãy nói với người hầu chuẩn bị một con ngựa cho ông Ambrose Manaton và cả anh nữa. Hãy trốn đi, nhanh lên!
- Ngài không cùng đi với chúng tôi sao?
- Không, ta ở lại.
Peter lưỡng lự, liếc nhìn tôi.
- Thưa ngài, nếu họ bắt được ngài, điều đó không tốt lành gì đâu.
- Tôi biết.
- Viên cảnh sát trưởng nghi ngờ sự hiện diện của ngài ở Cornouailles. Câu hỏi đầu tiên của ông ta với Trevannion là: “Anh có che giấu Richard Grenvile ở đây không? Hãy giao nộp hắn cho chúng tôi và anh sẽ được trả tự do tức khắc. Có một thằng nhóc báo cho lính tuần của chúng tôi biết rằng Richard và các anh sẽ có mặt ở Caerhayes trong vài giờ nữa?”.
- Thằng nhóc - Richard mỉm cười nói - Hãy quên nó đi. Ambrose Manaton tiến tới, chỉ tay về phía Richard nói lớn.
- Chính ông đấy, Richard, chính ông là kẻ phản bội. Từ đầu việc này cho đến lúc cuối, tôi đã ngờ sự thể xảy ra như vậy. Hạm đội Pháp sẽ chẳng bao giờ đến giúp ta. Sẽ không có khởi nghĩa gì cả. Chính ông muốn trả thù việc ông bị Hoàng tử ra lệnh bắt giữ ở Launceton cách đây bốn năm.
Ambrose vừa nói vừa run rẩy, còn Peter thì lùi lại một bước, vẻ chưng hửng, kế đó là sự sợ hãi lóc lên trong mắt.
Richard đứng bất động quan sát họ, kế đó chàng chỉ tay ra cửa, ngụ ý bảo họ đi đi… Tiếng ngựa phi ra cổng. Ambrose Manaton đi đầu, nón sụp tận mí mắt, áo choàng phồng lên trong gió. Peter theo sát ông ta, sau một cái liếc nhìn về phía cửa sổ của chúng tôi.
Chuông đồng hồ trên tháp điểm hai tiếng. Một con chim bồ câu trắng ngà bay là là trên sân. Richard đứng gần cửa sổ, chắp hai tay sau lưng. Gartred, nằm dài trên đi-văng, hơi mỉm cười, nụ cười tương phản với vết thương còn ửng đỏ trên má. Dick đứng chờ đợi, bất động trong một góc.
- Chỉ còn lại ba người thuộc dòng họ Grenvile có muốn họp riêng với nhau không? - tôi chậm rãi nói.
0
CHƯƠNG 34

Richard vẫn đứng bên cửa sổ sau khi tiếng vó ngựa của Peter và Ambrose càng lúc càng xa dần. Căn nhà chìm đắm trong im lặng. Đó là ngày nóng nhất mùa hè. Richard nói, không quay mặt lại, bằng giọng chậm rãi và dịu dàng.
- Ông nội của tôi cũng tên là Richard. Mấy đời dòng họ Grenvile đều phục vụ tổ quốc và Hoàng thượng... Họ Grenvile có nhiều thù và cũng nhiều bạn. Ông nội tôi đã tử trận chín năm trước khi tôi sinh ra. Nhưng tôi còn nhớ, hồi còn nhỏ, tôi thích nghe kể chuyện về ông nội và thường ngước mắt nhìn tấm chân dung của ông treo trên tường trong lâu dài Stowe. Tôi nghe nói ông rất nghiêm khắc và cứng rắn. Ông ít khi cười. Đôi mắt ông như mắt diều hâu, đôi mắt soi mói, không hề sợ hãi. Trong thời gian đó, có nhiều dòng họ nổi tiếng: họ Drake, họ Rashleigh , họ Sydney và họ Grenvile. Đồng đội đã chết cả, chỉ còn lại một mình ông nội bị bao vây bởi hạm đội Tây Ban Nha. Người ta buộc ông đầu hàng, nhưng ông vẫn tiếp tục đánh, dù cột buồm của tàu bị chặt gãy, lá buồm bị rách tơi tả, ông vẫn chiến đấu cho đến khi gục xuống boong tàu. Ông thà chết chứ không hàng giặc.
Richard ngưng nói, đưa mắt nhìn theo những con chim bồ câu đang bay, hai tay vẫn để sau lưng. Đoạn chàng nói tiếp:
- Chú của tôi tên là John, đã đi thám hiểm Ấn độ cùng với ngài Francis Drake. Chú cũng là một người can đảm. Những người chấp nhận đương đầu với bão tố ngoài khơi biển cả để đi thám hiểm những xứ xa xôi, thì không thể gọi là yếu được. Chú John chết ở Ấn độ và cha tôi rất thương chú, đã lập một nhà nguyện ở Stowe để tưởng niệm chú ấy.
Trong hành lang, không ai nhúc nhích. Gartred nằm trên đi-văng, hai tay đặt sau ót. Dick vẫn đứng im trong góc.
- Vì thế mà dòng họ chúng tôi có khẩu hiệu: “Không một người Grenvile nào bất trung với Vua”. Chính vì tinh thần khẩu hiệu đó mà chúng tôi, các anh tôi và tôi được giáo đục. Gartred cũng vậy, chắc em còn nhớ những buổi tối ở Stowe, chúng ta ngồi nghe cha đọc những đoạn trong một cuốn sách cũ nói về những trận đánh xa xưa mà tổ tiên chúng ta đã góp phần xứng đáng.
Một con chim hải âu bay lượn trong vườn, đôi cánh trắng xòe ra trên nền trời xanh.
- Ông anh Bevil của tôi - Richard tiếp tục nói - rất thương yêu gia đình và ngôi nhà của mình. Anh ta sinh ra không phải để làm lính. Vợ chồng anh ta chỉ ao ước nuôi dạy con cái sống hiền hòa với mọi người. Nhưng khi chiến tranh xảy ra, Bevil hiểu ý nghĩa của chiến tranh và anh ta không ngoảnh mặt làm ngơ. Anh ta ghét chém giết, ghét đổ máu, nhưng bởi vì mang tên dòng họ Grenvile, anh ta biết mình phải làm gì trong năm 1642. Anh Bevi1 đã chết ở chiến trường Lansdowne và Jack, con trai của anh ta, mới mười lăm tuổi, đã nhảy lên lưng ngựa của người cha và tiếp tục đương đầu với quân thù. Thằng em nó, Bunny, vừa mới chia tay với chúng ta, đã trốn nhà mùa thu vừa qua để đến đây tình nguyện theo chú nó đi đánh giặc. Tôi không nói về tôi. Tôi chỉ là một chiến binh, tội lỗi nhiều, đức tính hiếm. Nhưng tôi chỉ một lòng phục vụ tổ quốc và trung thành với Hoàng thượng. Trong lịch sử đẫm máu và lâu đời của dòng họ Grenvile, cho đến nay, chưa có người nào làm phản.
Chàng hạ thấp giọng:
- Một ngày kia, chúng ta hy vọng Hoàng thượng trở lại ngai vàng hoặc Hoàng tử De Galles sẽ lên kế vị vua cha. Lúc ấy, tên dòng họ Grenvile sẽ rực sáng không những ở Cornouailles mà trên toàn cõi nước Anh. Jack, Bunny, và tôi, những người mang tên Grenvile sẽ được ghi tên vào sử sách.
Chàng ngưng nói một chút, đoạn tiếp tục, giọng trầm hơn:
- Cho dù tên của tôi có được ghi bằng dòng chữ nhỏ nhất trong sử sách, tỷ dụ như người ta sẽ viết "Richard là một chiến binh, là tướng bảo hoàng ở miền tây". Nhưng tôi biết chắc chắn không có một Richard nào khác trong cuốn sách đó, bởi vì viên tướng bảo hoàng này không có con trai xứng đáng kế vị mình.
Tiếp theo những lời nói của chàng, bầu không khí im lặng bao trùm... Richard vẫn đứng gần cửa số. Tôi ngồi trên ghế, hai tay đặt chéo trên đùi. Tôi chờ đợi cơn bão tố nổ ra, những lời nói giận dữ, phũ phàng hay một suối nước mắt. Mười tám năm qua, cơn bão đã bị dồn nén.
Tại lỗi chúng tôi - tôi tự nhủ - không phải lỗi của Dick. Giá mà Richard biết độ lượng hơn, giá mà tôi biết xa cách hơn, giá mà Dick hiểu chúng tôi hơn... Quá trễ rồi... Hai mươi năm, quá trễ rồi...và chắc chắn đứa bé sẽ nổi dậy.
Nhưng tiếng kêu la mà tôi mong đợi, không phát ra. Kể cả nước mắt cũng không tuôn trào. Dick lặng lẽ tiến ra đứng giữa phòng. Nó không run rẩy nữa. Trông nó già hơn, khôn ngoan hơn.
Nhưng khi nó nói, vẫn giọng nói một cậu bé hồn nhiên.
- Con phải làm gì? - nó nói - Cha làm thay cho con được không? Hay là con phải tự sát?
Gartred là người hành động đầu tiên. Gartred, kẻ thù của tôi. Cô ta đứng dậy khỏi đi- văng, sửa lại khăn che mặt, đến đặt tay lên xe lăn của tôi, và không nói một lời, đẩy tôi ra ngoài phòng. Cả hai chúng tôi ra vườn, dưới ánh nắng, quay lưng lại phía ngôi nhà. Không ai nói với ai một lời, bởi vì chúng tôi chẳng có gì để nói. Cả tôi lẫn cô ta đều không biết chuyện gì xảy ra trong hành lang giữa Richard Grenvile và đứa con trai độc nhất của chàng.
Buổi chiều tối, cuộc khởi nghĩa nổ ra ở miền tây. Không ai kịp báo tin cho phe bảo hoàng ở Penzance về kế hoạch đã thay đổi, vì thế mà cuộc nổi đậy đã bị dập tan ngay tức khắc. Hạm đội Pháp dừng lại ngoài khơi đảo Sorlingues. Không có cuộc đổ bộ hai vạn người theo kế hoạch. Các người cầm đầu cuộc nổi dậy trong nội địa đều bị xiềng xích tay chân và bị giải về Plymouth. Lẽ ra ngọn đuốc khởi nghĩa phải rực sáng khắp nước Anh, nhưng rốt cuộc chỉ là một làn khói mỏng bị đập tắt ngay tại Cornouailles.
Tôi còn nhớ Richard đứng khoanh tay trong phòng ăn giữa những chiếc ghế trống, bỏ ngoài tai những lời khuyên của tôi.
- Khi chúng đến - chàng nói - chúng cứ việc bắt anh. Chính anh là kẻ đáng bị nguyền rủa. Chính vì anh mà những người khác chịu cực hình. Chúng cứ trút cơn giận lên đầu anh và hãy buông tha cho vùng Cornouailles này.
Gartred đã lấy lại bình tĩnh từ lâu, nhún vai nói:
- Muốn chơi trò “tử đạo” thì hơi trễ rồi đấy. Anh đầu hàng thì có ích lợi gì? Anh tưởng rằng bắt được một người Grenvile, chúng sẽ buông tha tất cả những người khác khỏi cái chết, khỏi ngồi tù sao? Em ghét chơi trò ảo tưởng đó. Hãy chứng tỏ anh là một người bằng cách cả hai cha con hãy trốn đi, như Bunny.
- Cha con tôi sẽ hân hạnh được lên đoạn đầu đài - Richard nói - Cổ của tôi dày hơn cổ của nó và tôi nghĩ phải chém hai nhát mới đứt.
- Người ta không để cho anh được tử đạo một cách vinh dự như thế đâu.- Gartred vừa nói vừa ngáp - Anh chỉ xứng đáng được một sợi dây thòng lọng ở trong một xà lim tối tăm nào đó. Một kết thúc khá kỳ lạ đối với một người Grenvile.
Im lặng một hồi, chợt Dick lần đầu tiên lên tiếng trong cảnh tượng khó quên này.
- Nhưng còn gia đình Rashleigh? - nó nói - Nếu kẻ thù bắt được chúng ta ở đây, gia đình Rashleigh có được yên thân không?
Tôi nắm bắt ngay cơ hội.
- Tại sao anh không nghĩ đến điều đó, Richard? Cả gia đình Rashleigh, từ lớn đến bé sẽ bị hành hình vì anh sao?
Vào lúc ấy, một người hầu chạy vào, vẻ mặt hoảng hốt.
- Thưa ngài, có người đến báo cho chúng ta hay rằng quân lính đang tiến về đây.
- Cám ơn anh - Richard nghiêng mình nói - Tôi vô cùng biết ơn lòng tốt của anh. Chàng thong thả đứng dậy và nhìn tôi.
- Nói thế có nghĩa là em lo sợ cho sự an nguy của gia đình Rashleigh? được lắm, lần này, anh đành tỏ ra biết điều. Căn phòng bí mật hiện ở đâu?
- Dick biết - tôi đáp.
Mặc dù đường hầm mốc meo và đầy dẫy những màng nhện trong suốt bốn năm qua, điều ấy không đáng ngại. Điều cần thiết là cha con Richard phải thoát thân. Và tôi không muốn ai khác, kể cả Gartred, biết được bí mật này. Tôi nói với Dick:
- Cháu còn nhớ lối vào đường hầm chứ? Dick gật đầu, mặt tái xanh.
- Đi đi - tôi nói - cháu hãy dẫn cha cháu đi ngay bây giờ cho kịp. Dick mở cửa phòng ăn quay sang cha và nói:
- Cha hãy theo con.
Richard dừng lại một chút trên ngưỡng cửa. Chàng nhìn Gartred, đoạn nhìn tôi. Chàng mỉm cười với tôi và đi theo Dick.
Gartred nhìn bóng dáng hai cha con đi xa dần, đoạn nhún vai nói.
- Tôi tin rằng đường hầm bí mật ở trong nhà này, gần phòng xưa của cô.
- Thật vậy sao? - tôi nói.
- Tôi đã mất thì giờ cách đây bốn năm, tìm kiếm đường hầm trong hành lang, trước cửa phòng cô.
Gartred tới gần cái gương treo trên tường, gần cửa sổ. Cô ta mở khăn voan ra, soi má trong gương. Một vết sẹo đỏ chạy dài từ mắt xuống tận cằm. Tôi lặng lẽ nhìn cô ta.
- Hồi xưa - Gartred nói - Tôi có thể làm cho cô không bị ngã ngựa xuống vực. Cô biết chứ?
-Vâng, tôi biết.
- Cô đã hỏi tôi đường đi và tôi không trả lời.
- Phải, cô không trả lời - tôi nói.
- Bây giờ chúng ta hết nợ nhau rồi nhé, cô bị tật nguyền, còn tôi bị nát mặt. Gartred nói xong, lấy trong túi xắc ra một bộ bài và ngồi xuống cạnh tôi.
- Chúng ta hãy đánh bài hữu nghị trong khi chờ bọn lính đến. - Gartred Grenvile nói.
0
CHƯƠNG 35

Tôi tự hỏi, nếu tìm khắp vùng Cornouailles này, đại tá Bennett có thể kiếm thấy được một cặp nào trầm tĩnh hơn hai người phụ nữ chúng tôi đang đánh bài trong phòng ăn của lâu đài Menabilly này không? Một người có vết sẹo dài trên mặt, một người thì tật nguyền. Phải, chúng tôi đã có khách, chúng tôi không giấu diếm điều ấy. Đó là Peter Courtney, con rể của ông Jonathan Rashleigh và anh ruột tôi, Robin Harris.
“Nhưng mà, chúng tôi hoàn toàn không biết gì về hoạt động của hai người đó. Họ đến và đã ra đi khi họ muốn. Còn tại sao gia đình Rashleigh lại để tôi ở lại đây một mình? Chẳng qua là vì tôi không còn nhà nào khác nữa. Chắc ngài đại tá Bennett quên rằng chính ngài, cách đây bốn năm, đã ra lệnh đốt nhà tôi ở Lanrest mà. Thật là một hành động lạ lùng của ngài đối với chúng tôi là láng giềng của ngài. Còn tại sao bà Gartred ở Orley Court, lại có mặt tại đây? Chuyện chẳng có gì lạ. Bà Gartred là chị dâu của tôi và chúng tôi đều là bạn xưa với nhau cả… Vâng, trong quá khứ, người ta hay ghép tên tôi với tên của ngài Richard Grenvile... Không, bà Gartred không hề có liên hệ mật thiết với người anh. Không, cả hai chúng tôi không biết gì về hoạt động của Richard. Chúng tôi cứ tin rằng Richard đang ở bên Ý… Vâng, vâng, xin quý ông cứ cho xét nhà. Đây, chùm chìa khóa đây. Các ông cứ tự nhiên. Chúng tôi không ngăn cản. Chúng tôi không phải chủ nhân lâu đài. Chúng tôi chỉ giữ nhà giùm ông Rashleigh vắng mặt...”
- Cô nói có vẻ thật, cô Harris - đại tá Bennett kết luận (ông ta chỉ gọi tôi là Honor khi trước đây chúng tôi là láng giềng với nhau) - nhưng sự việc anh cô và Peter Courtney có liên quan đến cuộc nổi dậy khiến ngôi nhà này trở thành khả nghi. Tôi sẽ đặt lính gác ở đây và khi ngài tư lệnh Hardress đến, ngài sẽ cho khám xét ngôi nhà này một lần nữa kỹ lưỡng hơn. Bây giờ tôi còn mỗi một việc...
Bennett chợt ngưng nói và nhìn Gartred
- Xin bà tha lỗi cho sự tò mò của tôi, thưa bà, vết thương trên mặt bà mới bị phải không?
- Một tai nạn, thế thôi - Gartred nói - Một cử chỉ vụng về và một vài cái ly bể.
- Bà muốn nói là vết thương... do sơ ý?
- Thế ông nghĩ sao?
- Tôi nghĩ có lẽ do một nhát kiếm. Xin lỗi bà nếu tôi nói thẳng. Nếu bà là đàn ông, tôi đã nói rằng bà vừa mới đấu kiếm với ai.
- Nhưng tôi không phải là đàn ông, thưa ngài đại tá Bennett. Nếu ông không tin, mời ông vào phòng ngủ của tôi, và tôi sẽ chứng minh cho ông thấy rằng tôi là đàn bà.
Đại tá Robert Bennett là một tín đồ thánh giáo. Ông ta giật mình lui lại và đỏ mặt tía tai trước những lời nói không cần che đậy của Gartred.
- Cám ơn bà - ông ta trả lời cộc lốc - Mắt tôi nhìn bên ngoài đủ rồi.
- Nếu xét đến thăng cấp mà người ta chú trọng đức tính lịch sự, thì ngài xứng đáng được liệt vào hàng đầu. Tôi không tin rằng ở Cornouailles này, ngoài ngài ra, còn có một sĩ quan nào khác từ chối lời mời lên phòng ngủ của Gartred này.
Gartred lại tiếp tục xóc bài, nhưng đại là Bennett đã đưa tay chặn lại.
- Tôi rất liếc - Ông ta nói vắn tắt - đối với tôi, bà là bà Antony Denys hay là bà Kit
Harris, điều ấy không quan trọng. Tôi chỉ biết bà thuộc họ Grenvile.
- Thì sao? - Gartred hỏi, vừa xóc bài.
- Tôi yêu cầu bà phải đi theo chúng tôi đến tận Truro. Ở đó người ta sẽ tạm giữ bà để điều tra. Và khi nào, đường xá an ninh hơn, bà sẽ được phép trở về Orley Court.
Gartred cất bộ bài trong túi xắc và chậm rãi đứng dậy.
- Tùy ngài - cô ta nhún vai nói - Chắc ngài có xe chứ? Tôi không đủ sức cầm cương ngựa đâu.
- Chúng tôi sẽ dành cho bà mọi tiện nghi, thưa bà. Viên đại tá quay sang tôi:
- Cô được phép ở lại đây cho đến khi nào tôi nhận những lệnh khác từ ngài tư lệnh Hardress. Có thể chỉ nội trong sáng mai sẽ có lệnh. Nhưng tôi thấy có bổn phận phải báo trước cho cô chuẩn bị đi khỏi nơi đây không được chậm trễ khi có lệnh. Cô hiểu chứ.
- Vâng, tôi hiểu.
- Tốt lắm. Tôi sẽ để lại lính gác trước cửa nhà với huấn thị nổ súng ngay vào bất cứ ai có hành vi khả nghi. Chào cô. Bà sẵn sàng chưa, bà Gartred?
- Vâng, tôi đã sẵn sàng.
Gartred quay sang tôi, khẽ nắm lấy vai tôi:
- Tôi rất tiếc không ở lại đây lâu. Cho tôi gửi lời thăm đến gia đình Rashleigh khi nào cô gặp họ và nhắn với anh Jonathan rằng muốn trồng cây con ngoài vườn, trước hết phải diệt hết chồn đi.
- Không dễ dàng đâu - tôi nói - Khó bắt được chồn lắm nhất là khi chúng trốn dưới hang.
- Hãy hun khói chúng - Gartred nói - đó là cách duy nhất, và hãy làm ban đêm. Vĩnh biệt, Honor.
- Vĩnh biệt, Gartred.
Cô ta bước ra và từ đó tôi không gặp lại Gartred nữa.
Tôi nghe những người lính nhảy lên lưng ngựa và đi xa dần. Chỉ còn lại lính gác ở các cửa ra vào, súng đeo vai.
Tôi giật dây chuông gọi Matty.
- Em hãy đi hỏi lính gác rằng đại tá Bennett có cho phép chúng ta ra ngoài vườn hóng mát không.
Matty trở lại ngay với câu trả lời:
- Đại tá Bennett đã ra lệnh cho các lính gác tuyệt đối không cho phép cô ra khỏi nhà.
Tôi nhìn Matty và cô ta nhìn lại tôi. Tôi hơi bối rối.
- Bây giờ là mấy giờ rồi? - tôi hỏi.
- Khoảng năm giờ.
- Trời sắp tối rồi - tôi nói.
- Phải.
Từ cửa sổ phòng ăn, tôi có thể thấy lính gác đi đi lại lại trước hàng rào vườn phía nam. Thỉnh thoảng, người lính dừng lại để nhìn xung quanh hoặc để nói chuyện với đồng nghiệp đứng gác gần đường đê. Nòng súng của họ bóng loáng dưới ánh nắng chiều tà.
- Em hãy đưa ta đi, Matty.
- Đi đâu, thưa cô? Lên phòng chứ?
- Không, Matty. Đưa ta lên căn phòng cũ, ở cánh tây.
Đã hai năm nay, tôi chưa gặp lại phòng cũ. Cánh tây của căn nhà vẫn ở trong tình trạng mà quân phiến loạn để lại hồi năm 1646. Không còn màn trướng phủ tường. Không có giường lẫn bàn trong phòng.
- Em hãy đến bên cửa đá - tôi thì thầm - thử đẩy xem sao. Matty vâng lời nhưng khối đá không hề rung chuyển.
- Không làm gì được - Matty nói - Cô quên rằng người ta chỉ mở được cửa này khi đứng trong đường hầm sao.
Không, tôi không quên. Tôi chỉ nhớ một điều, đó là lời nói của Gartred “Hãy hun khói”. Đúng, đó là cách duy nhất để gọi cha con Richard.
- Em hãy đi kiếm giấy và củi - tôi nói với Matty - và hãy chất gần cửa đá.
Khó có hy vọng khói sẽ qua được khe hở cánh cửa, lọt vào đường hầm, để làm hiệu cho Richard. Biết đâu chàng và Dick đang ở đầu đường hầm bên kia, dưới ngôi nhà nghỉ mát. .
Chẳng mấy chốc, căn phòng đầy khói làm chúng tôi cay mắt và sặc sụa, Matty chạy đến bên cửa sổ mở hé ra.
- Có bốn kỵ sĩ đang băng qua hoa viên - Matty chợt lên tiếng - Những người lính như hồi nãy.
Tô sợ hãi đến toát mồ hôi.
- A! Lạy chúa! Chúng ta phải làm sao đây?
Matty khẽ khép cửa sổ lại, đến đập tắt những ngọn lửa và chà đạp những củi khô đang cháy dở.
- Để em đưa cô về phòng - Matty nói - đừng để cho họ thấy chúng ta ở đây.
Thế là Matty đưa tôi về lại cánh đông ngôi nhà. Cô ta đặt tôi lên giường, lấy nước rửa mặt và tay cho tôi. Các kỵ sĩ đã vào sân. Chúng tôi nghe tiếng họ đi bên dưới. Chuông ngoài cửa giật sáu tiếng, rõ ràng, đều đặn. Matty chải tóc và thay áo cho tôi. Một người hầu hoảng hốt đến gõ cửa phòng và báo tin có người cần gặp tôi. Matty và người hầu lại đặt tôi vào xe và đưa tôi xuống nhà dưới. Bốn kỵ sĩ đến, đúng như lời Matty nói. Ba người đang đứng trong đại sảnh và nhìn ra vườn, qua cửa sổ. Họ tò mò nhìn tôi ngồi trên xe lăn, do Matty và người hầu đẩy vào phòng ăn. Người kỵ sĩ thứ tư đang đứng trước lò sưởi, tay chống gậy. Anh ta không phải là lính như ba người kia, mà là anh rể tôi, Jonathan Rashleigh.
Trong chốc lát, tôi sửng sốt không nói nên lời. Kế đó, tôi thở phào, cảm thấy yếu đuối. Nước mắt tôi tuôn trào. Jonathan cầm lấy tay tôi, không nói gì cả. Dần dần tôi lấy lại tự chủ và nhìn rõ anh ta hơn. Chỉ mới ngồi tù hai năm ở Luân đôn mà tôi tưởng anh ta đã bị giam hai mươi năm. Lúc vào tù anh ta năm mươi tám tuổi. Người ta đã khiến anh ta thành bảy mươi trong hai năm. Tóc bạc trắng xóa, hai vai rút lại, lưng còng, đôi mắt trũng sâu.
- Chuyện gì xảy ra thế? - tôi nói - Tại sao anh lại trở về.
- Nợ đã trả xong - Jonathan nói bằng giọng ông già, chậm chạp và mệt mỏi - Bây giờ anh được tự do trở về Cornouailles.
- Nhưng lẽ ra anh không nên về trong lúc này - tôi nói.
- Anh đã được báo trước mọi việc - Jonathan nói.
- Anh đi bằng đường bộ hả?
- Không, bằng đường biển, trên chiếc thuyền riêng của anh, chiếc Frances thường hoạt động giữa Fowey và lục địa, chắc em còn nhớ.
- Vâng.
- Chính số hàng hóa trên tàu mới đủ trả nợ cho anh. Chiếc Frances đã đến đón anh cách đây tám ngày, ở Gravesend, sau khi Nghị viện cho phép anh rời Luân Đôn trở về đây.
- Chị Mary có đi cùng với anh không?
- Không, chị ấy đã cập bến Plymouth. Người ta đồn rằng Cornouailles đang có phong trào nổi dậy nên nhà làm quyền đã huy động lực lượng đến đó để tiêu diệt. Nghe nói thế, anh phải về đây nhanh, vì lo cho sự an toàn của em.
- Vậy là anh đã biết rằng John không có ở đây? Anh biết rằng em đang ở một mình?
- Phải, anh biết rằng em đang ở… một mình. Chúng tôi im lặng, mắt liếc ra cửa.
- Robin có lẽ đã bị bắt - tôi nói - Cả Peter cũng vậy, em sợ thế.
- Đúng vậy. Anh cũng nghe lính gác nói thế.
- Anh có bị nghi ngờ gì không?
- Chưa - Jonathan đáp.
Jonathan đưa mắt nhìn qua cửa sổ, nơi đó cái lưng rộng của người lính gác che khuất tầm nhìn. Đoạn, anh ta rút trong túi ra một tờ giấy, đúng hơn là một tờ áp phích mà người ta thường dán trên tường để truy nã tội phạm. Anh ta đọc:
“Người nào cố tình chứa chấp tên tội phạm mang tên là Richard Grenvile, sẽ bị bắt về tội đại phản nghịch. Tài sản sẽ bị tịch thu vĩnh viễn, và cả gia đình người ấy cũng bị giam cầm”.
Jonathan gấp tờ giấy lại.
- Những tờ áp phích như thế này được dán trên khắp các bức tường trong thành phố Cornouailles.
- Họ đã xét nhà cách đây hai giờ - tôi nói, sau một hồi im lặng - nhưng họ không phát giác gì cả.
- Họ sẽ trở lại sáng mai - Jonathan nói. Anh ta bước đến gần lò sưởi, vẻ suy tư.
- Chiếc Frances của anh sẽ ở lại Fowey một đêm thôi. Ngày mai, nó sẽ ra khơi đi Hà Lan.
- Đi Hà Lan?
- Phải. Viên thuyền trưởng là một người nhân hậu và rất trung tín. Anh rất tin tưởng ông ta. Trên thuyền có cả con gái của Richard.
Jonathan rút trong túi một tờ giấy khác và đưa cho tôi đọc. Nét chữ trong thư còn non nớt.
“Kính thưa cha. Nếu cha cần có con để phụng dưỡng cha lúc già yếu, cha biết rằng con đang chờ cha trên thuyền Frances. Hà Lan vẫn yên ổn hơn ở Anh Quốc. Cha có muốn cùng đi du lịch với con một chuyến không?
Ký tên : Bess, con gái của cha” Tôi giữ im lặng một lúc, tay cầm lá thư. Nếu có thì giờ, hoặc nếu muốn, tôi có thể đặt ra hàng ngàn câu hỏi. Những câu hỏi của đàn bà con gái, những câu hỏi mà chỉ có chị
Mary mới trả lời được, chẳng hạn như là: Con gái của Richard có đẹp không? Dễ thương không? Mắt, mũi, miệng cô ta có giống chàng không? Tóc hồng nâu phải không? Nhưng tình thế hiện nay không cho phép và tôi cũng chẳng bao giờ được gặp con gái của Richard.
- Anh đưa cho em lá thư này với hy vọng em chuyển cho Richard phải không? - tôi hỏi Jonathan.
- Phải - anh ta đáp.
Một lần nữa, Jonathan lại liếc nhìn lưng của người lính gác ngoài cửa sổ trước khi nói tiếp:
- Anh đã nói với em rằng chiếc Frances sẽ rời Fowey sáng sớm mai. Trong lúc tranh sáng tranh tối, nó có thể đón một người khách lạ mà không bị ai phát hiện.
Nhìn nét mặt của Jonathan, tôi biết anh ta đoán rằng Richard đang ẩn núp trong đường hầm.
- Lính gác khắp mọi nơi - tôi nói.
- Phải, nhưng chỉ ở phía ngôi nhà này thôi - Jonathan nói khẽ - phía bắc thì không. Một lần nữa, anh ta lại rút tờ áp phích trong túi ra và trao cho tôi.
- Em có thể đưa cho anh ấy tờ áp phích này. Tôi cất tờ áp phích vào túi áo trong.
- Anh yêu cầu em một điều nữa.
- Điều gì?
- Phải hủy hết mọi vết tích. Những người đến ngày mai sẽ có cái mũi thính hơn những người lính ngày hôm nay, bởi vì nghề nghiệp của họ là chuyên môn đi săn lùng và họ mang theo cả chó săn nữa.
- Nhưng họ sẽ không bao giờ khám phá ra được đường hầm bên trong ngôi nhà.
- Nhưng phía bên ngôi nhà nghỉ mát không được kín đáo lắm. Anh cho phép em hủy nó đi. Anh không cần nhà nghỉ mát nữa. Củi khô sẽ cháy rất nhanh trong thời tiết oi bức này.
- Tại sao anh không ở lại - tôi thì thầm - để tự tay làm công việc đó.
Nhưng, ngay lúc ấy, cánh cửa chợt mở và người lính trưởng toán đợi trong đại sảnh bước vào.
- Xin lỗi ông - người lính nói - Cuộc nói chuyện đã kéo dài mười lăm phút trong khi ông chỉ được phép mười phút. Xin ông vui lòng nói lời tạm biệt với bà đây và theo tôi về lại Fowey.
Tôi ngạc nhiên hỏi người lính:
- Nhưng tôi tưởng đâu ông Rashleigh đã được tự do rồi mà.
- Phải, nhưng trong tình thế rối ren hiện nay, em Honor yêu dấu - Jonathan nói xen vào
- Nhà cầm quyền thấy cần phải quản chế anh. Vì thế anh phải ngủ trong ngôi nhà thành thị của anh ở Fowey. Anh rất tiếc đã không nói trước cho em biết điều này.
Anh ta quay sang người lính:
- Tôi rất đội ơn ông đã cho phép tôi hội ngộ với em vợ tôi, bởi vì cô ta tật nguyền, sức khỏe lại yếu, gia đình chúng tôi có bổn phận phải lo lắng cho cô ta.
Nói xong, Jonathan bước ra, theo sau là người lính. Chỉ còn lại một mình tôi với lá thư và tờ áp phích trong túi. Mạng sống của hai cha con Richard và của cả gia đình Rashleigh tùy thuộc vào sự khôn khéo của tôi.
Tôi đợi Matty một hồi nhưng không thấy đến. Mất kiên nhẫn, tôi giật dây chuông. Một người hầu chạy đến cho tôi hay rằng không thấy Matty đâu cả.
- Thôi, không sao cả - tôi nói vừa giả bộ mở sách ra đọc.
- Thưa cô dùng bữa nhé. Đã gần bảy giờ rồi.
- Ừ - tôi nói, trong lòng lo lắng cho Matty.
Tôi ăn uống nhưng chẳng thấy ngon lành gì. Sau đó, ngồi dưới bức chân dung của ngài John Rashleigh, phụ thân của Jonathan, tôi lặng lẽ nhìn bóng tối vây quanh và những đám mây đen chạy trên bầu trời.
Gần chín giờ tối, cánh cửa chợt hé mở. Ngồi trên xe lăn, tôi quay lại, và thấy Matty. Cô ta đưa ngón tay lên môi, lặng lẽ đi đóng các cửa sổ. Sau đó, đến bên tôi, Matty thì thầm:
- Em đã lén đột nhập vào ngôi nhà nghỉ mát. Em nhấc tấm đan lên và đặt một lá thư trên bậc thang đường. Em viết trong thư rằng nếu sợi dây mở cánh cửa đá bên khi đường hầm vẫn còn sử dụng được, thì tối nay lúc đêm, họ hãy đến gặp chúng ta trong phòng cánh tây lâu đài.
Bàn tay tôi nắm chặt bàn tay Matty như để tỏ lòng biết ơn.
- Chúng ta hãy hy vọng gặp họ đêm nay - Matty nói.
0
CHƯƠNG 36

Tôi nằm trên giường từ chín giờ rưỡi cho đến gần nửa đêm. Khi Matty đến đỡ tôi dậy, lâu đài im lặng như một nhà mồ. Các người hầu đã ngủ cả, còn lính gác vẫn ở yên vị trí xung quanh nhà.
Tiếng bước chân của một người lính gác đi qua đi lại đều đều trên sân, dưới cửa sổ phòng tôi. Vầng trăng phản phúc, kẻ tử thù của người lẩn trốn, đang lên từ từ trên các rặng cây. Chúng tôi không thắp đèn lên. Matty đứng nép gần cánh cửa và nghe ngóng. Kế đó cô ta bế xốc tôi lên, đi dọc theo hành lang đến tận căn phòng hoang phía tây lâu đài. Ở phía này, ánh sáng mặt trăng không lọt đến đây.
Căn phòng vẫn còn phảng phất mùi khói. Chúng tôi ngồi trong một góc và chờ đợi. Sự im lặng thật nặng nề. Ngồi dựa lưng vào bức tường lạnh ngắt của cột chống, tôi liên tưởng đến hình ảnh người điên, anh của Jonathan, sống hãi hùng như thế nào trong bóng tối. Có lẽ chỗ tôi đang ngồi đây là nơi anh ta đã nằm khi xưa, hai tay mò mẫm trong không gian, mắt mở to vì khủng khiếp.
Chợt Matty đụng khẽ vào vai tôi và phía sau chúng tôi, tấm đá lay động. Một luồng khí lạnh thổi vào lưng tôi. Tôi kịp thấy lỗ hang đen ngòm và bậc thang đi xuống. Matty thắp đèn lên và soi sáng đường hầm. Hai cha con Richard như từ âm phủ hiện lên.
Bây giờ, cả ba chúng tôi đang ngồi quây quần bên ngọn đèn, còn Matty đứng canh ngoài cửa.
- Jonathan Rashleigh đã được tha về - tôi nói.
Dick nhìn tôi bằng cặp mắt dò hỏi trong khi Richard vẫn im lặng.
- Jonathan đã nộp đủ tiền phạt - tôi nói tiếp - Nghị viện đã cho phép anh ta trở về nhà. Kể từ nay anh ta có thể sống như một người công dân tự do ở Cornouailles nếu không làm điều gì chống lại Nghị viện.
- Thế là quá tốt - Richard nói - Cầu mong anh ấy gặp nhiều may mắn.
- Jonathan Rashleigh là một người hiếu hòa - tôi nói - Anh ta một lòng yêu thương Hoàng thượng, nhưng gắn bó với quê hương. Anh ta đã chịu đựng nhiều cực khổ và thiệt thòi suốt hai năm tù. Bây giờ, anh ta chỉ ước mơ được sống hạnh phúc với những người thân, trong ngôi nhà xưa.
- Đó là mơ ước của tất cả đàn ông - Richard nói.
- Nhưng Jonathan sẽ không thực hiện được giấc mơ đó nếu người ta tìm được bằng chứng buộc tội anh ta có dính líu đến cuộc nổi dậy vừa qua.
Richard nhún vai, nói:
- Nhưng Nghị viện khó có đủ chứng cứ buộc tội bởi vì anh ta ở Luân Đôn từ hai năm nay mà.
Thay vì trả lời, tôi rút tờ áp phích ra khỏi túi, mở ra trải lên sàn. Tôi dõng dạc đọc cho cha con Richard:
“Người nào cố tình chứa chấp tên tội phạm mang tên Richard Grenvile, sẽ bị bắt về tội đại phản nghịch. Tài sản sẽ bị tịch thu vĩnh viễn, và cả gia đình người ấy cũng bị giam cầm”.
Tôi chờ một lát, đoạn nói tiếp:
- Sáng mai, họ sẽ đến khám xét nhà. Anh Jonathan đã báo trước cho em biết.
Richard cầm lấy tấm áp phích đưa vào ngọn lửa. Chẳng mấy chốc, tờ giấy thành nắm tro tàn.
- Mày thấy không? - Richard nói với con trai - Cuộc đời chẳng nghĩa lý gì cả. Chỉ một ngọn lửa, thế là hết.
Dick nhìn cha, đôi mắt nó như ngụ ý hỏi "con phải làm gì?" Richard thở dài nói tiếp:
- Chúng ta chỉ còn cách dâng đầu cho đao phủ chém. Một kết thúc đáng buồn. Dick, mày sẵn sàng chưa?
Chàng đứng dậy, vươn vai nói tiếp:
- Lưỡi dao của đao phủ ở Whitchall rất sắc. Tôi đã có lần thấy họ sử dụng để thi hành tử tội. Chỉ một nhát là đủ, máu phụt ra.
Tôi thấy Dick giật mình kinh hãi. Tôi quay lại, giận dữ nói với người tôi yêu.
- Anh hãy im đi! Con anh đã chịu đau khổ suốt mười tám năm rồi còn chưa đủ sao? Richard hơi nhíu mày nhìn tôi, đoạn mỉm cười hỏi:
- Sao? Em cũng chống lại anh à?
Tôi đưa cho Richard lá thư của con gái chàng:
- Anh không cần phải đưa đầu vào chỗ chết - tôi nói - Hãy đọc lá thư này và thay đổi ý định đi.
Chàng nghiêng đầu đọc dưới ánh đèn.
- Dù sao con gái tôi cũng xứng đáng với họ Grenvile - chàng lẩm bẩm.
- Chiếc tàu Frances sẽ rời khỏi Fowey lúc thủy triều lên buổi sáng sớm, để đi Hà Lan. Viên thuyền trưởng là người chàng tin cậy.
- Nhưng làm thế nào để lên tàu?
- Khi tàu rời hải cảng, sẽ có một chiếc ghe nhỏ đến đón cha con anh tại bờ biển ngay bên dưới đồi Gribben, để đưa ra tàu.
- Thật quá dễ dàng - Richard nói.
- Anh đồng ý trốn đi bằng cách này phải không? Anh quyết định thôi không đầu hàng một cách anh hùng nữa, nhé?
- Từ Hà Lan sang Pháp để gặp Hoàng tử - Chàng lẩm bẩm - Thế nào anh cũng đề ra một kế hoạch kháng chiến mới, hoàn hảo hơn chiến dịch vừa rồi. Có lẽ anh sẽ cho đổ bộ ở Ailen, rồi từ Ailen tràn xuống Ecosse.
Đoạn Richard cất lá thư vào túi, lưỡng lự quay lại nhìn đường hầm.
- Cha con anh sẽ đi bằng cách nào? Cũng bằng đường hầm này à? - Chàng hỏi.
- Phải, lính gác xung quanh nhà - Anh chỉ còn một cách duy nhất đó
- Nhưng nếu ngày mai bọn chó săn phát hiện ra đường hầm và lần theo dấu vết anh thì sao? Em làm thế nào để đánh lạc hướng chúng?
- Anh Jonathan đã gợi ý cho em đốt ngôi nhà nghỉ mát đi. Mùa hè, gỗ dễ bén lửa và cháy rất nhanh.
- Còn lối vào đường hầm chỗ này?
- Không ai có thể vào từ bên ngoài đường hầm. Cửa hầm chỉ mở được từ bên trong. Cả ba chúng tôi lặng lẽ nhìn nhau trong đêm tối.
- Chúng ta đi thôi Dick - Richard nói. Dick đưa tay cho tôi nắm.
- Cháu hãy can đảm lên - tôi nói - Cuộc hành trình không lâu. Ở Hà Lan, cháu sẽ có nhiều bạn. .
Nó nhìn tôi bằng đôi mắt to đen láy, không trả lời, và bước vào đường hầm.
Còn lại một mình tôi với Richard. Chúng tôi đã chia tay nhau nhiều lần, và lần này tôi cũng tưởng là lần cuối cùng.
- Chúng ta sẽ xa nhau bao lâu? - tôi nói.
- Hai năm. Có lẽ vĩnh viễn. Chàng ôm tôi và nói:
- Khi năm anh trở lại, chúng ta sẽ xây nhà mới ở Stowe. Em sẽ sống bên anh và thành vợ anh.
Tôi mỉm cười, lắc đầu.
Đứng trên bậc thang đường hầm, chàng quay lại:
- Còn điều này nữa - chàng nói - Một khi đã đến Hà Lan, anh sẽ viết hồi ký và nói hết sự thật về cuộc nội chiến này. Anh không từ một ai, kể cả bạn bè, kể cả các tướng lĩnh, và anh sẽ nói hết về họ, không dấu diếm. Có lẽ lúc ấy Hoàng tử De Galles sẽ hiểu anh hơn và giao cho anh làm tổng tư lệnh tối cao quân đội.
- Nhưng cũng có thể Hoàng tử sẽ lột hết lon của anh - tôi nói.
-Anh sẽ phá hủy ngôi nhà nghỉ mát giùm em - chàng nói
- Anh hãy coi chừng lính gác nhé. Họ gác bên dưới đường đê đấy.
- Em vẫn còn yêu anh chứ, Honor?
- Vâng, vì tội lỗi của em.
- Nhiều không?
- Anh thừa biết mà.
Và trong khi chàng còn đang tần ngần, bàn tay đặt trên tấm cửa đá, tôi nói:
- Anh có biết tại sao Dick phản lại anh không?
- Anh đã biết nó làm phản.
- Không phải vì nó thù ghét cha nó. Nhưng bởi vì nó nhìn thấy máu trên mặt của Gartred.
Chàng nhìn tôi, có vẻ nghĩ ngợi và tôi thì thầm:
- Hãy tha lỗi cho nó, nếu anh yêu em.
- Anh đã tha thứ cho nó rồi - chàng từ từ nói - Nhưng những người mang dòng máu Grenvile rất lạ kỳ. Rồi em thấy Dick không tự tha thứ cho mình.
Một lần chót, tôi nhìn hai cha con lom khom trong hầm hẹp. Kế đó, Richard đậy tấm đá lại, và từ đó hầm vĩnh viễn bị đóng chặt. Tôi đợi một lát, và quay lại gọi Matty.
- Thế là hết - tôi nói
Tôi đưa tay lên má. Hai má tôi đầm đìa nước mắt. Bây giờ tôi mới biết mình đã khóc.
- Hãy đưa tôi trở lại phòng - tôi nói với Matty...
Tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn ra vườn. Mặt trăng đã lên cao, không trắng ngà như tối hôm qua, nhưng được viền quanh bởi một quầng màu vàng. Từ chiều tối đến giờ, bầu trời vẫn nhiều mây. Người lính gác không đứng gần đường đê nữa, nhưng đến ngồi dựa lưng vào cánh cửa hàng rào.
Tôi chờ đợi hàng giờ. Matty ngồi bên tôi. Cuối cùng chúng tôi thấy một làn khói bốc lên xa xa phía trên khu rừng thưa. Gió tây thổi tạt khói đi, và từ chỗ ngồi hiện nay, lính gác không thể thấy được ngọn lửa. “Lửa sẽ cháy suốt đêm cho đến tận sáng mai - tôi nghĩ thầm
- Bây giờ thì hai bóng người đang lẻn ra bãi biển và núp sau ụ cát. Tôi có thể đi nằm, ngủ, và quên họ được rồi”.
Tuy tự nhủ như thế, nhưng tôi vẫn ngồi yên trên ghế, hai mắt nhìn vào khoảng không gian bất tận. Tôi không thấy mặt trăng, không thấy hàng cây, không thấy làn khói bốc lên trong không trung, nhưng chỉ thấy đôi mắt của Dick nhìn tôi lần cuối khi Richard đậy nắp đường hầm lại.
0
CHƯƠNG 37

Lúc chín giờ sáng, một đoàn kỵ sĩ phi ngựa xuyên qua hoa viên. Sĩ quan trưởng toán là một viên đại tá thuộc bộ tham mưu của ngài tư lệnh Hardress Waller ở Saltash. Đại tá yêu cầu tôi thu xếp đồ đạc và xuống sân ngay, chuẩn bị lên đường theo ông ta đi Fowey. Tôi thay đồ xong, các người hầu đưa tôi xuống nhà dưới. Tôi thấy trong hành lang, những người lính đang xua đàn chó săn lục lọi.
- Ngôi nhà này đã bị tàn phá một lần - tôi nói với sĩ quan - và anh rể tôi đã phải mất bốn năm sửa lại để ở tạm. Hôm nay, các ông định tái diễn một lần nữa sao?
Viên đại tá trả lời:
- Tôi rất tiếc nhưng đối với một người nguy hiểm như Grenvile, chúng tôi không từ bỏ bất cứ hành động nào, kể cả hủy diệt ngôi nhà này.
- Ngài có nghĩ rằng sẽ kiếm thấy ông ta ở đây không?
- Ở Cornouailles có đến hai chục ngôi nhà cho Richard lánh nạn - đại tá đáp trong đó phải kể đến Menabilly. Chúng tôi buộc lòng phải khám xét tỉ mỉ. Tôi sợ rằng, sau đó ngôi nhà này không thể ở được nữa. Vì thế tôi mới yêu cầu cô theo tôi về Fowey.
Tôi nhìn xung quanh. Tôi đã sống ở đây hai năm. Nhà này đã bị tàn phá một lần và tôi cũng không hề có ý muốn làm chứng nhân cho cuộc tàn phá lần hai.
- Tôi sẵn sàng khởi hành rồi - tôi nói với đại tá.
Người ta đặt tôi ngồi trên kiệu, với Matty đi kèm bên. Chúng tôi đi ra khỏi cổng, bên tai vang lên những âm thanh đã nghe một lần, tiếng búa rìu phá vỡ nền nhà, và chẻ tét gỗ. Một người lính leo lên tháp và giật chuông để làm trò đùa.
Tôi thầm nghĩ “Vĩnh biệt Menabilly. Tôi sẽ không bao giờ được gặp lại ngôi nhà thân thương này nữa”.
- Chúng ta sẽ đi dọc theo bờ biển - viên sĩ quan nói với tôi qua khung cửa kiệu - đường lớn bị choán bởi các đạo quân của ta đang tiến về Holston và Penzance.
- Để đối phó với một cuộc nổi dậy lẻ tẻ, các ông phải huy động lực lượng đông đến thế sao? - tôi hỏi mỉa.
- Cuộc nổi dậy sẽ bị dập tắt trong một hoặc hai ngày, nhưng quân đội sẽ đóng tại đây lâu dài. Sẽ không còn biến động ở Cornouailles, kể cả ở miền đông lẫn miền tây nữa.
Tôi nhìn về phía đường mòn bên dưới con đường đắp cao dẫn đến ngôi nhà nghỉ mát. Nơi đó chỉ còn là một đống đá đen sì và bốc khói.
- Ai đã ra lệnh đốt nhà đó? - đại tá hỏi lớn.
Tôi thấy ông ta và tùy tùng giục ngựa chạy lên con đường đắp cao để tìm hiểu tình hình. Đại tá quay trở lại hầu như ngay tức thì.
- Nhà này là nhà nào? - Ông ta hỏi - Tại sao lại bị cháy rụi thành than?
- Đó là ngôi nhà nghỉ mát - tôi đáp - Chị tôi, bà Rashleigh rất thích địa điểm này. Chị tôi sẽ đau lòng biết mấy khi được tin nhà bị đốt. Tôi nghĩ rằng có lẽ đại tá Bennett đến đây hồi hôm, đã ra lệnh phá hủy nó.
Viên sĩ quan nhíu mày:
- Đại tá Bennett chỉ có thể hành động với sự cho phép của cảnh sát trưởng Thomas Herle.
Tôi nhún vai:
- Có lẽ thế, dù sao ngài cảnh sát trưởng cũng là thành viên trong Ủy ban vùng và ngài ta tự cho phép mình có quyền làm thế.
- Ủy ban vùng không thể hành động tự ý như thế được - viên sĩ quan làu bàu - Một ngày nào đó, họ đừng hòng qua mặt quân đội chúng tôi.
Nói xong, đại tá giận dữ ra lệnh cho cả đoàn tiếp tục đi. Một kế ly gián trong nội bộ. Biết đâu ngày nào đó giữa Nghị viện và quân đội có sự bất hòa với nhau và phe bảo hoàng sẽ được hưởng lợi?
Cuối cùng chúng tôi tới ngôi nhà thành thị của anh rể tôi, trên bến cảng Fowey. Tôi tìm bóng dáng chiếc Frances trong vịnh, nhưng không có. Chỉ có những ghe đánh cá thả neo tại Polruan.
Anh rể tôi đợi tôi trong phòng khách nhỏ. Viên sĩ quan nói:
- Tôi rất tiếc phải quản chế các vị trong vài ngày cho đến khi tình hình lắng đọng. Vì thế tôi yêu cầu ông và cô đây tuyệt đối không ra khỏi nhà.
- Tôi hiểu, thưa ngài - Jonathan đáp - Tôi đã quen bị quản chế từ lâu, bây giờ có thêm vài ngày cũng chẳng sao cả.
Viên đại tá lui ra và ra lệnh cho lính gác bố trí quanh nhà.
- Anh đã có tin tức về Robin - anh rể tôi nói - Anh ta bị giữ ở Plymouth, nhưng anh nghĩ rằng tội của Robin không nặng lắm. Rồi đây anh ta sẽ được thả với điều kiện tuyên thệ tuân hành lệnh của Nghị viện, như anh đây đã bị cưỡng bức làm điều ấy.
- Rồi sao nữa? - tôi hỏi.
- Robin sẽ được tự do vui thú điền viên khi về già. Ở Tywardreath anh có một ngôi nhà rất thích hợp với em và Robin, nếu em không chê.
- Không, em không dám chê đâu.
Jonathan đứng dậy, thong thả tới bên cửa sổ, nhìn ra bến cảng. Những con chim hải âu cất tiếng kêu trên vịnh.
- Chiếc Frances đã ra khơi lúc năm giờ sáng - anh ta nói. Tôi vẫn im lặng.
- Người ngư phủ thân tín của anh đã chèo xuồng đến bãi biển Pridmouth, nơi đó một người khách đang đợi, vẻ mệt mỏi.
- Một người khách? - tôi hỏi lại.
- Phải...nhưng mà...Chuyện gì thế?
Tôi lắng nghe tiếng chim hải âu hòa lẫn với tiếng trẻ con nô đùa trên cầu thang bến cảng.
- Không, không có gì hết - tôi nói - anh còn điều gì kể cho em nghe không? Jonathan đến bên bàn, lấy trong hộc tủ ra một tờ giấy.
- Khi rời khỏi xuồng để lên tàu Frances người khách đã trao mẩu giấy này cho người ngư phủ cầm về cho anh, trong đó chỉ vỏn vẹn một hàng chữ: “Hãy nói với Honor rằng một người Grenvile đã tự chọn cho mình một lối thoát”.
Jonathan trao cho tôi tờ giấy.
- Như thế có nghĩa gì? Em hiểu không?
Tôi hồi tưởng lại những đống tro tàn bít vĩnh viễn lối vào đường hầm và xà lim tối tăm, tĩnh mịch bên trong khối tường dày.
- Vâng, em hiểu - tôi trả lời Jonathan. Anh ta hoang mang nhìn tôi.
- Cuối cùng, thế là xong. Cám ơn Chúa. Chúng ta không thể làm gì được nữa.
- Không - tôi nói - Không làm gì được nữa. Jonathan rót rượu ra đầy hai ly và dịu dàng nói:
- Hãy uống đi em. Em đã chịu quá nhiều gian nan.
Tôi uống đến giọt cuối cùng và trả ly lại cho Jonathan.
- Dòng họ Grenvile thật xứng đáng lưu danh muôn thuở - anh rể tôi nói - Trong đó phải kể đến Bevil, con người xứng đáng nhất, can đảm nhất.
- Nhưng trong họ Grenvile cũng còn một người can đảm không kém gì Bevil.
- Một thiếu niên - tôi nói - mà tên tuổi không bao giờ được ghi trong biên niên sử dòng họ Grenvile.
- Tại sao em lại khóc? - Jonathan ân cần hỏi han tôi - Thời gian qua thật là khắc nghiệt đối với em. Anh đã chuẩn bị chỗ ngủ cho em. Matty sẽ đưa em lên phòng. Nào! Hãy can đảm lên. Điều xấu nhất đã qua. Điều tốt nhất sẽ đến. Một ngày nào đó, Hoàng thượng sẽ trở về, một ngày nào đó, Richard của em sẽ trở lại.
Tôi lặng lẽ nhìn đồ biểu chiếc tàu trên thành cửa sổ và thì thầm:
- Một ngày nào đó, tuyết sẽ tan và mùa xuân sẽ đến.
0
PHẦN PHỤ LỤC
SỐ PHẬN CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN

1 - Richard Grenvile
Viên tướng bảo hoàng này không bao giờ trở về Anh Quốc nữa. Ông ta mua một ngôi nhà ở Hà Lan và sống với con gái là Elisabeth Bess. Không ai biết rõ ngày Richard chết, chỉ biết rằng ông ta chết trong cô độc và cay đắng. Trên mộ bia của người quá cố, một hàng chữ khắc ghi: “Ngài Richard Grenvile, tướng bảo hoàng ở miền tây”.
2 - Jack Grenvile và Bunny Grenvile
Hai anh em góp phần mạnh mẽ vào việc khôi phục ngai vàng cho Hoàng tử De Gallas trở thành Vua Charles II, năm 1660. Cả hai đều có vợ, sống hạnh phúc, và được Hoàng thượng sủng ái. Jack được phong làm bá tước ở Bath.
3 - Gartred Denys
Người quá phụ này không tái giá nữa, nhưng rời khỏi Orley Court để về sống với vợ chồng đứa con gái. Bà Gartred chết lúc 85 tuổi.
4 - Jonathan Rashleigh
Bị Nghị viện giam giữ một lần thứ hai để trả nợ, nhưng Jonathan hưởng thọ khá lâu để có thể chứng kiến Charles II khôi phục ngai vàng. Jonathan chết năm 1647, sau người vợ là Mary một năm.
5 - John Rashleigh
Chết năm 1651, hưởng dương mới 30 tuổi, vợ anh ta là Joan sống ở Fowey và chết năm 1668, hưởng dương 48 tuổi.
6 - Peter Courtney
Bỏ vợ, mắc nợ tứ tung, tục huyền và chết năm 1670.
7- Alice Courtney
Sống quãng đời còn lại ở Menabilly và chết năm 1659, lúc 40 tuổi.
8 - Robin và Honor Harris
Cả hai anh em ở Tywardreath, trong một ngôi nhà do Jonathan Rashleigh có lòng tốt dành cho họ. Honor, người con gái tật nguyền, chết vào ngày 17 - 11 - 1653 và Robin chết vào tháng 6 - 1655. Cả hai đều không chứng kiến được ngày "khôi phục ngai vàng".
Trong nhà thờ ở Tywardreath, một tấm bảng tưởng niệm ghi những hàng chữ sau đây: "để tưởng niệm Robin Harris, cựu thiếu tướng trong quân đội bảo hoàng ở mặt trận Plymouth, chôn ở đây ngày 20 - 6 - 1655. Và để tưởng niệm cô Honor Harris, chôn ở đây ngày 17 - 11 - 1653."

Vào năm 1824, ông William Rashleigh ở Menabilly, thuộc giáo xứ Tywardreath, vùng Cornouailles, đã cho tiến hành thay đổi một số kiến trúc của lâu đài Menabilly. Vì thấy cột chống ở góc tây bắc không giúp ích gì ngôi nhà, nên kiến trúc sư đã đề nghị cho thợ đập bể. Và người ta đã khám phá ra một cầu thang bí mật bên trong dẫn xuống một xà lim nhỏ bên dưới cột chống. Trong xà lim đó, người ta phát giác ra một hài cốt của một thiếu niên, mặc bộ đồ kỵ sĩ thời nội chiến. Được tin này, ông William Rashleigh đã cho tổ chức chôn một cách trọng thể tại nghĩa trang Tywardreath. Sau đó, ông đã cho xây bít đường hầm. Khi tham khảo lại những tài liệu, văn kiện liên quan đến gia đình, ông William Rashleigh được biết rằng cách đây gần hai thế kỷ, có vài người thuộc dòng họ Grenvile đã đến ẩn náu tại Menabilly trong cuộc khởi nghĩa 1648, từ đó ông William Rashleigh đi đến một giả thuyết rằng một người trẻ tuổi trong nhóm người Grenvile đó có thể đã bị lãng quên trong căn hầm bí mật...
Câu chuyện này vẫn còn truyền tụng cho đến ngày nay.
0
Viên tướng của nhà vua-Daphné du Maurier

Đã mang vào thư viện

Cảm ơn welcom nhiều nha

Chúc vui



📎 thankyou1
0
«« « 1 2 » »»