Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

HẬU THUỶ HỬ - HỒI 118-119-120

2 trả lời, 3.350 lượt xem — Trang 1 / 1
HỒI THỨ MỘT TRĂM MƯỜI TÁM


Lư Tuấn Nghĩa đánh lớn Dục Linh quan
Tống Công Minh mưu lấy Thanh Khê động .



Đang nói chuyện lúc ấy bọn Quan Thắng phi ngựa đem quân đánh lên đèo Ô Long thì gặp ngay quân mã của Thạch Bảo. Quan Thắng ngồi trên ngựa quát to :
- Tướng giặc kia, sao dám giết hại anh em ta !
Thạch Bảo trông thấy Quan Thắng thì mất hết nhuệ khí, vội cho quân lui lại đỉnh đèo, ra lệnh cho Bạch Khâm ra đánh Quan Thắng. Hai ngựa quần nhau, binh khí cùng vung vun vút. Quan Thắng và Bạch Khâm giao chiến chưa đầy mười hiệp thì nghe trên đèo Ô Long có tiếng chiêng thu quân. Quan Thắng thấy quân Thạch Bảo hỗn loạn trên đèo, nhưng không đuổi theo. Nguyên là Thach Bảo chỉ chú ý đánh sang phía đông, còn phía tây không đề phòng. Đồng khu mật nhân cơ hội đó đem quân đánh tới, rồi ồ ạt xông lên đỉnh đèo . Đại tướng bên quân Tống là Vương Lẫm chận đánh chỉ huy Cảnh Đức của quân Phương Lạp. Hai tướng giao chiến hơn mười hiệp, Vương Lẫm chém Cảnh Đức lăn xuống ngựa. Tiếp đó Lã Phương, Quách Thịnh dẫn quân xông lên chiếm đỉnh đèo, nhưng chưa lên tới nơi thì Qúach Thịnh bị một tảng đá rơi trúng. Quách Thịnh cả người lẫn ngựa lăn xuống chết ngay dưới chân núi.
Quan Thắng đứng ở phía đông thấy trên đèo rối loạn biết quân mình từ phía tây đang tiến lên, vội vẫy các tướng xông lên đánh . Bị quân Tống từ hai phía ép vào, quân Phương Lạp ở đỉnh đèo lại càng rối loạn . Lã Phương đón đánh Bạch Khâm, chỉ mới vài hiệp Bạch Khâm đã đưa một đường giáo hiểm, Lã Phương né mình tránh được, ngọn giáo chỉ xuyên qua nách, đánh bật chiếc xích rơi xuống đất . Hai tướng thấy khó đánh, bèn vứt binh khí ngồi trên lưng ngựa đánh bằng tay không. Nguyên ở đoạn này thế núi hiểm trở, ngựa khó đứng vững. Hai tướng đều hăng đánh, không ngờ cả người lẫn ngựa lăn xuống dốc đèo, cùng chết một chỗ. Quan Thắng và các tướng liền dẫn quân bộ ào ạt xông lên.
Quân Tống từ hai phía xông lên chiếm đỉnh đèo. Thạch Bảo thấy cả hai phía đều không có lối thoát, sợ bị bắt sống, bèn rút đoản đao đâm cổ tự sát. Thế là quân Tống chiếm được cửa ải đèo Ô Long. Quan Thắng liền sai người báo cho Tống tiên phong biết tin. Bốn viên thuỷ quân tổng quản của Phương Lạp trấn giữ thuỷ trại nghe tin đèo Ô Long thất thủ, thành Mục Châu bị vây, vội bỏ thuyền lên bờ chạy trốn. Dân chúng đón đường chận đánh, bắt sống Thành Quý và Tạ Phúc giải về Mục Châu. Bọn Địch Nguyên, Kiều Chính trốn thoát. Quân Tống kéo đại quân người ngựa về Mục Châu. Tống Giang đã nhận được tin liền ra ngoài thành tiếp đón. Đồng khu mật và Lưu đô đốc đem quân vào thành đồn trú.
Trong thành đã tạm yên, Đồng khu mật yết bảng chiêu an quân dân, khuyên ai nấy trở lại làm ăn như cũ. Quân Phương Lạp đầu hàng nhiều không kể xiết. Tống Giang sai lấy thóc gạo trong kho phân phát, cho phép dân chúng trở về quê quán làm lương dân. Mặt khác sai đem bọn thuỷ quân tổng quản Thành Quý, Tạ Phúc chém ngang lưng, moi tim làm lễ tế Nguyễn Tiểu Nhị, Mạnh Khang cùng các tướng tá chết trận ở đèo Ô Long. Linh hồn kẻ trước người sau đều được hưởng tế. Lại giao cho Lý Tuấn và các tướng đầu lĩnh thuỷ quân cai quản những thuyền bè thu được, cho chở thủ cấp của bọn nguỵ quân đến giao nộp trước cửa quân của Trương chiêu thảo. Tống Giang mất thêm hai tướng là Lã Phương, Qúach Thịnh trong lòng buồn rầu đau xót, bèn cho án binh bất động, đợi binh mã của Lư tiên phong để cùng tiến đánh động Thanh Khê .
Tạm không nói chuyện Tống Giang đóng quân ở Mục Châu. Lại nói việc phó tiên phong Lư Tuấn Nghĩa từ khi chia quân hai ngả ở Hàng Châu, dưới cờ có ba vạn người ngựa, các chánh phó tướng tất cả hai mươi tám người. Lư tiên phong dẫn quân theo đường núi, đi qua trấn Lâm An, kinh đô cũ của Tiên vương ở sát cửa ải Dục Linh tiến về phía Hàng Châu. Đồng giữ cửa ải này là viên đại tướng Bàng Vạn Xuân, hiệu Tiểu Dưỡng Do Cơ, thủ hạ của Phương Lạp, có tiếng là tay thiện xạ bậc nhất ở Giang Nam. Dưới quyền Bàng Vạn Xuân là hai viên phó tướng, Lôi Quýnh và Kế Tắc. Hai viên phó tướng ấy vừa giỏi dùng nỏ cứng nặng bẩy tám trăm cân, lại quen dùng ngọn kích móc sắt, thủ hạ có năm nghìn người ngựa. Ba viên tướng đóng giữ cửa ải Dục Linh nghe tin quân Tống do phó tiên phong Lư Tuấn Nghĩa đem quân đến đánh đều đã sẵn sàng khí giới để nghênh địch.
Lại nói quân mã của Lư tiên phong tiến gần đến cửa ải Dục Linh, Lư Tuấn Nghĩa sai sáu tướng là Sử Tiến, Thạch Tú, Trần Đạt, Dương Xuân, Lý Trung, Tiết Vĩnh đem ba nghìn quân bộ đi trước dọn đường.
Bấy giờ bọn Sử Tiến cưỡi ngựa chiến, còn lại đều là quân bộ dàn hàng tiến đến dưới cửa ải. Không thấy bóng một tên quân nào của Phương Lạp. Sử Tiến đã có ý ngờ, vội cùng các tướng bàn bạc. Mưu kế chưa định xong, quân đã đến trước cửa ải. Nhìn lên thấy trên ải dựng cây cờ trắng thêu tua màu. Đứng dưới cờ là đại tướng Tiểu Dưỡng Do Cơ Bàng Vạn Xuân. Thấy bọn Sử Tiến dẫn quân lên. Bàng Vạn Xuân cả cười mắng rằng :
- Giặc cỏ Lương Sơn Bạc mắc phải bả chiêu an của nhà Tống, còn dám làm hảo hán đến đây xâm phạm bờ cõi của bọn ta ? Ta là Tiểu Dưỡng Do Cơ, chắc bọn người đã biết ? Nghe nói trong bọn các người có kẻ tên là Tiểu Lý Quảng Hoa Vinh, hãy gọi người ấy ra đây đọ tài cung nỏ. Trước hết phải cho các người biết mũi tên thần của ta.
Bàng Vạn Xuân nói chưa dứt, bỗng một mũi tên bay vèo ra, Sử Tiến lăn xuống ngựa. Bọn Thạch Tú, Trần Đạt cùng xông lên cướp được Sử Tiến đưa lên ngựa chạy về. Lại nghe trên đỉnh núi vang lên tiếng thanh la, rồi từ hai phía rừng thông, tên bắn ra tới tấp. Bọn Thạch Tú, Trần Đạt đành bỏ Sử Tiến lại, tìm đường thoát thân. Đến đầu núi lại bị bọn Lôi Quýnh và Kế Tắc từ hai bên sườn núi bắn tên ra như mưa, dẫu là kẻ anh hùng lỗi lạc cũng không tránh nỗi. Bọn Sử Tiến, Thạch Tú sáu người bị bắn chết, thây chồng dưới cửa ải. Thương thay sáu viên tướng tài của trại Thuỷ Hử, từ nay khí thiêng đã về trời.
Ba nghìn quân bộ chỉ sống sót hơn trăm người chạy về gặp Lư tiên phong báo tin thua trận. Lư Tuấn Nghĩa nghe xong thẫn thờ kinh sợ. Thần cơ quân sư chu Vũ rơi lệ thươngkhóc, rồi cũng phải khuyên can phó tiên phong rằng :
- Xin tiên phong chớ quá phiền muộn, không lợi cho việc lớn Anh em chúng ta sẽ bàn định kế hoạch để chém tướng, cướp ải, trả mối thù này.
Lư Tuấn Nghĩa nói :
- Huynh trưởng Tống Công Minh giao cho ta biết bao nhiêu là tướng tá, chưa thắng trận nào mà đã mất sáu tướng, ba nghìn quân chỉ còn hơn một trăm ! Ta còn mặt mũi nào trở về Hấp Châu gặp lại Tống Công Minh !
Chu Vũ đáp :
- Cổ nhân có câu « Thiên thời chẳng bằng địa lợi, địa lợi chẳng bằng nhân hoà ». Bọn chúng ta là dân Trung nguyên, Sơn Đông, Hà Bắc không quen thuỷ chiến, thế là mất địa lợi. Vậy phải bắt cho được mấy người dân địa phương đi chỉ đường thì mới biết rõ những nơi đường núi hiểm trở.
Lư tiên phong nói :
- Quân sư nói rất phải, ai có thể đi trước dò đường ?
Chu Vũ đáp :
- Cứ theo ngu ý thì nên sai Thời Thiên làm việc này. Tay này vốn quen trèo tường nhảy mái, giỏi tìm đường đi trong núi. Lư Tuấn Nghĩa liền sai gọi Thời Thiên đến căn dặn. Thời Thiên vâng mệnh mang theo lương khô, giắt đoản đao rời doanh trại lên đường.
Thời Thiên cứ nhắm hướng núi sâu, vừa đi vừa tìm đường, đến chập tối mới thấy từ đằng xa có ánh đèn. Thời Thiên nghĩ bụng : « Có đèn sáng tât phải có nhà dân », rồi lần trong bóng tối đi về hướng có ánh đèn. Đến đây mới biết ánh đèn từ trong ngôi am nhỏ lọt ra. Thời Thiên nhấc cổng chui vào, thấy một hoà thượng già đang ngồi tụng kinh. Nghe tiếng gõ cửa, lão hoà thưọong sai một thầy tăng trẻ ra mở cửa. Thời Thiên bước vào vái chào. Lão hoà thượng nói :
- Xin quý khách miễn lễ. Đây là nơi muôn ngựa nghìn quân giao chiến, quý khách làm sao đến được ?
Thời Thiên đáp :
- Thật không dám nói dối sư phụ, tiểu nhân là Thời Thiên, phó tướng bộ hạ của Tống Giang ở Lương Sơn Bạc. Nay anh em tiểu nhân vâng mệnh triều đình đi dẹp giặc Phương Lạp. Không ngờ đêm qua bọn tướng giữ ải Dục Linh sai quân bắn tên như mưa, giết của chúng tôi sáu viên chánh tướng, nên không vượt ải được. Lư tiên phong sai Thời Thiên tôi đến đây tìm đường vượt ải. Vượt núi sâu bãi rộng đến đây, muôn trông sư phụ chỉ giáo cho, chủ tướng chúng tôi xin báo đáp trọng hậu.
Lão hoà thượng đáp :
- Trăm họ vùng này bị Phương Lạp tàn hại, ai ai cũng oán ghét. Bần tăng sống nhờ vào thí chủ trong vùng, nay dân các làng đều phải trốn tránh. Bần tăng không biết đi đâu, đánh liều ở lại. Nay quân thiên triều đến diệt giặc trừ hại, thật muôn dân được cậy nhờ nhiều. Bần tăng ngày thường sợ bị liên luỵ, bây giờ có các tướng quân đến đây, chẳng có điều gì phải lo sợ, giấu diếm nữa. Vùng chúng tôi đây không có đường qua cửa ải, phải tới chân đèo Tây Sơn mới có một đường nhỏ có thể đi qua. Chỉ sợ gần đây đường ấy đã bị giặc lấp mất không đi qua được.
Thời Thiên nói :
- Thưa sư phụ, chẳng hay đi theo đường đó có thể đến trại giặc được không ?
Lão hoà thượng đáp :
- Đường ấy có thể đi tắt đến phía sau doanh trại của Bàng Vạn Xuân, xuống dưới đèo sẽ gặp đường cái đi qua cửa ải, chỉ sợ quân giặc đã lăn đá lấp mất cửa núi.
Thời Thiên nói :
- Không lo, nếu có đường đi thì dẫu bị chận lấp, anh em tiểu nhân cũng sẽ có cách qua được. Tiểu nhân xin về báo tin cho chủ tướng biết, rồi xin trở lại hậu tạ sư phụ.
Lão hoà thượng nói :
- Ra ngoài có ai hỏi, xin tướng quân đừng bảo bần tăng nói.
Thời Thiên đáp :
- xin sư phụ đừng lo, tiểu nhân không bao giờ sơ xuất như vậy.
Rồi Thời Thiên cáo từ hoà thượng, đi đường tắt trở về trại báo tin với Lư tiên phong. Lư Tuấn Nghĩa nghe xong cả mừng, sai mời quân sư Chu Vũ đến để cùng bàn mưu đánh cửa ải.
Chu Vũ nói :
- Tìm được đường tắt qua núi thì chẳng lo gì không lấy được ải Dục Linh. Xin chủ tướng cho thêm một người nữa cùng đi với Thời Thiên để khởi sự ngay.
Thời Thiên hỏi :
- Quân sư định khởi sự thế nào đây ?
Chu Vũ nói :
- Việc cần thiết giao cho hiền đệ là đốt lửa và bắn pháo hiệu . Nhớ mang theo ống đạn và dao đá đánh lửa. Khi lọt vào phía sau trại giặc thì hiền đệ đốt lửa và bắn pháo hiệu, công việc của hiền đệ chỉ có thế.
Thời Thiên nói :
- Nếu chỉ việc đốt lửa và bắn pháo hiệu thì một mình tiểu đệ cũng đủ. Vả lại có ai đi nữa thì người ấy cũng không thể trèo tường nhẩy mái như tiểu đệ, chỉ thêm chậm trễ mà thôi. Nhưng đệ đi việc ấy thì ở đây các đại huynh làm sao mà vượt ải ?
Chu Vũ đáp :
- Việc đó không khó : chỗ cửa ải tất giặc cho quân mai phục. Ta chỉ cần trở tay là xong. Khi tiến quân, thấy hai bên đường chỗ nào cây cối rậm rạp ta sẽ cho châm lửa đốt, khiến cho bọn chúng không còn chỗ nào đặt quân mai phục được.
Thời Thiên nói :
- Quân sư thật là cao kiến.
Rồi đó Thời Thiên sửa soạn dao, đá và ống đựng mồi lửa, khoác tay nải lớn lên vai, đến cáo từ Lư tiên phong rồi ra đi. Lư Tuấn Nghĩa giao cho Thời Thiên đem hai mươi lạng bạc, một thưng gạo, sai một tên quân hầu gánh đi để thưởng cho lão hoà thượng ở thảo am.
Quá trưa hôm ấy, Thời Thiên cùng tên lính quảy hành lý theo đường cũ trở lại thảo am. Gặp lão hoà thượng. Thời Thiên nói :
- Chủ tướng chúng tôi xin đa tạ hoà thượng, có chút lễ mọn đem đến biếu.
Nói đoạn Thời Thiên lấy bạc và gạo đem biếu hoà thượng, rồi cho tên quân hầu trở về. Thời Thiên nói với hoà thượng :
- Xin phiền sư phụ chỉ đường cho. Sư phụ có thể giả cách làm như lão tăng đi hành cước để dẫn tiểu nhân đi.
- Xin tướng quân chờ đến đêm, đi ban ngày sợ lộ.
Nói đoạn hoà thượng đi nấu bữa tối để khoản đãi Thời Thiên.
Đêm hôm ấy hoà thượng gọi một sư bác đến giao việc chỉ đường, dặn xong việc phải về ngay, không để người ngoài biết. Nhà sư trẻ dẫn Thời Thiên ra khỏi thảo am tìm đường đi sâu vào trong núi. Hai người cứ cắm cúi xuyên đèo vượt núi, vén gai bám rễ mà đi. Dưới ánh trăng xuông hai người đi được vài dặm, thì đến một nơi đèo cao vách đá dựng đứng, từ xa thấp thoáng một lối đi nhỏ dẫn lên đèo. Lối đi qua đỉnh đã bị lấp kín bằng những tảng đá lớn chồng cao như bức tường. Nhà sư trẻ nói :
- Tướng quân hãy nhìn, bên kia bức tường đá là cửa ải. Qua được đó là đến đường lớn.
Thời Thiên nói :
- Tiểu nhân tự đi được, sư phụ trở về được rồi.
Nhà sư trẻ đi rồi. Thời Thiên bắt đầu trổ tài leo trèo, chụm tay bám bờ đá leo lên, thấy phía đông toàn rừng núi, lửa cháy rừng rực bốc cao lưng trời. Đó là lúc Lư tiên phong và quân sư Chu Vũ đã cho quân nhổ trại tiến về cửa ải. Lư tiên phong sai bốn năm trăm quân men đường núi tới chân đèo, vừa đi vừa phóng hoả mở đường. Khiến phục binh giặc mất chỗ ẩn nấp. Đứng trên cửa ải Dục Linh, Tiểu Dưõong Do Cơ Bàng Vạn Xuân biết là quân Tống Giang đốt lửa dọn đường, liền nói :
- Đây là cách điều quân vừa đi vừa đốt làm cho ta không đặt được phục binh. Ta cứ giữ cửa ải để xem bọn chúg thi thố cách gì ?
Thấy quân Tống đã đến gần, Bàng Vạn Xuân bèn cùng Lôi Quýnh, Kế Tắc đều giương cung đặt tên phục sẵn sau ải, còn bên quân nhà thì một vệt lửa sáng chạy dài theo đường tiến quân. Tiếp đó hai tướng Lâm Xung, Hồ Diên Chước dừng ngựa trước cửa ải, lớn tiếng quát rằng :
- Bọn giặc cỏ, sao dám chống cự quân triều đình ?
Bọn Bàng Vạn Xuân chưa kịp ra lệnh cho quân sĩ bắn xuống thì Thời Thiên lúc ấy đã nhẹ nhàng từ trên ngọn cây tụt xuống mặt thành. Thấy hai đống cỏ khô, Thời Thiên liền rút dao và đá đánh mồi châm lửa, đặt ống hoả pháo lên đống cỏ, trước hết đổ lưu huỳnh và diêm tiêu đốt một đống, sau đó châm lửa đốt đống thứ hai để dẫn mồi cho hoả pháo. Xong việc Thời Thiên lại mang mồi lửa kéo lên châm đốt mái lầu canh. Hai đống cỏ bắt lửa bốc cháy đùng đùng, tiếng hoả pháo nổ vang trời. Quân giữ ải hoảng hốt, tán loạn tìm đường tẩu thoát. Khi Bàng Vạn Xuân và hai tên phó tướng ra phía sau dập đám cháy thì Thời Thiên đã châm lửa đốt hoả pháo ngay trên mái lầu canh. Hoả pháo nổ rung cửa ải, quân lính của Bàng Vạn Xuân khiếp sợ, vứt cả gươm giáo cung tên mà chạy. Thời Thiên đứng lên lầu canh quát to :
- Hơn vạn quân triều đình đã vượt ải, các ngươi mau đầu hàng để giữ mạng sống !
Bàng Vạn Xuân kinh sợ ngã khuỵ, hồn vía bay tận mây xanh. Bọn Lôi Quýnh, Kế Tắc hết hồn, đứng như trời trồng. Các tướng Lâm Xung, Hồ Diên Chước xông lên chiếm cửa ải, các tướng khác xông lên đuổi quân nam ngoài ba mươi dặm. Tôn Lập bắt sống Lôi Quýnh. Nguỵ Định Quốc bắt được Kế Tắc, chỉ một mình Bàng Vạn Xuân chạy thoát. Quân của Bàng Vạn Xuân bị bắt làm tù binh đến quá nửa.
Chiếm xong cửa ải, Lư tiên phong liền chia người ngựa đi đóng giữ các nơi. Một mặt Lư tiên phong xuống lệnh trọng thưởng cho Thời Thiên, sai đem Lôi Quýnh, Kế Tắc ra trước cửa ải mổ bụng moi tim làm lễ tế các tướng Sử Tiến, Thạch Tú. Thi hài sáu tướng thì mai táng trước cửa ải, còn quân sĩ tử trận thì dồn lại để hoả táng.
Ngày hôm sau Lư Tuấn Nghĩa lại cùng các tướng khoác giáp lên ngựa, một mặt sai người đưa văn thư phi báo cho Trương chiêu thảo biết tin lấy được cửa ải Dục Linh, một mặt cho quân qua cửa ải, tiến về Hấp Châu. Đến nơi, Lư tiên phong ra lệnh cho quân sĩ đóng trại dưới chân thành.
Nguyên tướng giữ thành Hấp Châu, hoàng thúc đại vương Phương Hậu là chú ruột của Phương Hạp, và hai đại tướng khác có hàm văn chức là thượng thư Vương Dần và thị lang Cao Ngọc, cùng giữ thành. Dưới quyền hai người còn có hơn mười viên chiến tướng và hai vạn quân đóng giữ cả trong và ngoài thành Hấp Châu. Thượng Thư Vương Dần vốn làm nghề thợ đá ở miền núi bản châu, quen sử dụng giáo sắt, cưỡi tuấn mã, có biệt hiệu là “chuyển sơn phi” có thể trèo núi vượt sông như đi trên đất bằng. Thị lang Cao Ngọc cũng người Hấp Châu, vốn là con nhà dòng dõi quen dùng ngọn roi sắt. Vì cả hai người đều có học nên Phương Lạp gia phong chức văn quan, giao cho nắm giữ binh quyền. Tiểu Dưỡng Do Cơ Bàng Vạn Xuân sau khi thua trận chạy về Hấp Châu liền vào hành cung tâu với hoàng thúc Phương Hậu :
- Dân địa phương làm phản, có kẻ dẫn quân Tống vượt ải theo đường tắt, vì vậy quân ta tan rã không chống cự nỗi.
Hoàng thúc Phương Hậu nghe xong cả giận, quát mắng Bàng Vạn Xuân :
- Ải Dục Linh là bức tường chắn hiểm yếu của Hấp Châu, nay để cho quân Tống vượt ải, sớm muộn chúng sẽ kéo đến chiếm thành, chúng ta biết chống giữ thế nào ?
Vương thượng thư tâu :
- Xin chúa công bớt giận, người xưa có câu : “Thắng bại là lẽ thường của binh gia”. Nay xin điện hạ tạm tha cho để Bàng tướng quân lập công chuộc tội. Nếu thua lần nữa thì sẽ trị tội theo quân pháp.
Phương Hậu cho là phải, giao cho Bàng Vạn Xuân lĩnh năm nghìn quân ra ngoài nghênh chiến, phải giành toàn thắng mới được trở về.
Lại nói Lư Tuấn Nghĩa sau khi vượt ải Dục Linh liền dốc quân thẳng tiến đến thành Hấp Châu ngay ngày hôm ấy, cùng các tướng dẫn quân đánh thành. Cửa thành vừa mở đã thấy Bàng Vạn Xuân đem quân ra khiêu chiến. Quân hai bên dàn thành thế trận. Bàng Vạn Xuân nghênh ngang tiến ra thách thức. Bên quân Tống, Âu Bằng tay nâng giáo sắt thúc ngựa tiến ra giao chiến với Bàng Vạn Xuân. Hai tướng đánh nhau chưa đầy năm hiệp. Bàng Vạn Xuân bỏ chạy. Âu Bằng muốn lập công đầu liền phóng ngựa đuổi theo. Bàng Vạn Xuân bất ngờ quay lại thả một mũi tên Âu Bằng vốn có tài nghệ cao cường liền giơ tay bắt gọn mũi tên của Bàng Vạn Xuân. Nhưng Âu Bằng không ngờ Bàng Vạn Xuân còn quen dùng chiếc cung liên châu một lúc bắn ra nhiều mũi. Âu Bằng đã bắt được mũi tên, yên chí đuổi theo. Bỗng nghe tiếng dây cung rung “phật”, mũi tên thứ hai phóng ra trúng đích, hất Âu Bằng ngã ngựa. Bọn Vương Dần, Cao Ngọc đứng trên mặt thành thấy Âu Bằng ngã ngựa liền đốc suất quân mã trong thành xông ra giao chiến. Quân Lư Tuấn Nghĩa thua to phải lui xa ngoài ba mươi dặm mới dừng lại hạ trại. Điểm lại binh tướng mới biết trong lúc lộn xộn, quân của Phương Hậu đã giết Thái viên tử Trương Thanh. Tôn Nhị nương gào khóc thương xót rồi sai thủ hạ tìm thi hài chồng đem thiêu hoá. Tiên phong Lư Tuấn Nghĩa động lòng thương tiếc, không nghĩ ra cách gì hay bèn nói với quân sư Chu Vũ :
- Trận đánh hôm nay lại thiệt hại mất hai tướng của ta, như thế biết làm thế nào?
Chu Vũ nói :
- Thua được là lẽ thường của binh gia. Nay giặc thấy ta lui quân ắt sinh lòng kiêu ngạo. Đêm nay bọn chúng sẽ thừa thế đem quân cướp trại của ta. Xin chủ tướng cho quân mai phục bốn phía, buộc mấy con dê ở trại trung quân, rồi cứ làm như thế… như thế… Chủ tướng lại cho Hồ Diên Chước đem quân mai phục phía bên trái. Lâm Xung đem quân mai phục phía sau, các tướng khác chia nhau mai phục dọc con đường nhỏ. Ban đêm khi giặc kéo đến trung quân sẽ đốt lửa báo hiệu, quân ta từ bốn phía sẽ xông ra bắt gọn chúng.
Lư tiên phong cắt đặt người ngựa đâu đó đã xong, các tướng ai vào việc nấy.
Nói tiếp bên quân Phương Lạp, bọn Vương thượng thư, thi lang Cao Ngọc cũng đáng kể là có mưu lược, cùng bàn với Bàng Vạn Xuân rồi tâu lên hoàng thúc Phương Hậu :
- Hôm nay quân Tống thua trận phải lui xa ngoài ba mươi dặm, người ngựa mệt mỏi, canh giữ sơ sài, chi bằng quân ta thừa thắng đuổi theo cướp trại tất sẽ toàn thắng.
Phương Hậu nói :
- Các khanh cứ bàn kỹ mà làm.
Cao thị lang nói :
- Hạ quân sẽ cùng Bàng tướng quân đem quân đi cướp trại, điện hạ cùng Vương thượng thư ở lại giữ thành.
Đêm hôm ấy hai tướng khoác giáp lên ngựa dẫn quân lặng lẽ tiến đến doanh trại quân Tống. Bàng Vạn Xuân thấy cửa trại đóng kín, không dám cho quân xông vào. Lúc đầu còn nghe rõ tiếng điểm danh, sau đó tiếng trống rời rạc hỗn loạn. Thị lang Cao Ngọc ghìm ngựa nói :
- Dừng lại!
Bàng Vạn Xuân hỏi :
- Sao tướng quân không cho tiến?
Cao Ngọc đáp :
- Nghe tiếng trống hiệu lộn xộn, sợ quân Tống có mưu kế gì.
Bàng Vạn Xuân nói :
- Tướng quân nhầm rồi, hôm nay bọn chúng thua trận, quân tướng đều mệt mỏi sợ hãi, ngủ gật mà đánh trống thì hiệu lệnh không rõ ràng. Tướng quân hà tất phải nghĩ ngợi, cứ cho quân đánh vào!
Cao Ngọc đáp :
- Ngài nói cũng có lý.
Nói đoạn hai tướng xua quân múa đao, vung búa, ào vào cướp trại. Bàng Vạn Xuân và Cao Ngọc cưỡi ngựa xông thẳng vào trại trung quân, nhưng không thấy bóng dáng một tên quân Tống, nhìn quanh chỉ thấy mấy con dê bị trói treo trên cây liễu đang giẫy chân loạn xạ lên mặt trống, nghe xa tưởng như tiếng trống hiệu. Bàng Vạn Xuân và Cao Ngọc chỉ cướp được trại không, nên hết sức lo sợ, chỉ kịp kêu “Mắc mưu! Mắc mưu!”, rồi quay lưng bỏ chạy.
Bấy giờ bỗng có hiệu lửa nổi lên ở trại trung quân. Tiếp đó tiếng hoả pháo nổ vang đầu núi, lại một hiệu lửa nữa nổi lên, quân mai phục bốn phía ào ạt xông ra đánh giết. Bàng Vạn Xuân và Cao Ngọc vượt qua cửa trại bỏ chạy, gặp ngay Hồ Diên Chước từ xa xộc tới chận đường. Hồ Diên Chước quát lớn :
- Tướng giặc kia, mau xuống ngựa đầu hàng thì được tha chết !
Cao Ngọc hoảng hốt tìm đường tẩu thoát nhưng bị Hồ Diên Chước đuổi kịp. Hai chiếc roi sắt trong tay Hồ Diên Chước vụt xuống, đầu Cao Ngọc liền vỡ đôi, Bàng Vạn Xuân liều chết vượt vòng vây tìm cách thoát thân, không ngờ bị Thang Long phục sẵn bên đường, dùng câu liêm kéo lăn nhào xuống ngựa rồi xông đến bắt trói. Các tướng mai phục hai bên đường núi cùng lúc nổi dậy đuổi theo quân nam cho đến khi trời sáng mới quay về trại. Tiên phong Lư Tuấn Nghĩa vào ngồi trong trướng ở trung quân, truyền lệnh kiểm điểm các tướng hiệu, bấy giờ mới biết Đinh Đắc Tôn nấp trong bụi cỏ rậm bị rắn độc cắn chết. Lư tiên phong bèn sai mổ bụng Bàng Vạn Xuân moi lấy tim để tế bọn Âu Bằng, Sử Tiến, rồi sai chặt thủ cấp đem đến nạp trước cửa quân doanh của Trương chiêu thảo.
Ngày hôm sau Lư tiên phong cùng các tướng lại tiến quân đến dưới thành Hấp Châu. Cổng thành không đóng, không thấy cờ quạt, không một bóng người. Bọn Đan Đình Khuê, Nguỵ Định Quốc muốn lập công đầu liền dẫn quân vào thành. Lư Tuấn Nghĩa ở trung quân đến sau, chỉ kịp kêu lên một tiếng thì hai người đã vào qua cổng thành rồi.
Nguyên là Vương Dần thấy bọn Bàng Vạn Xuân thua trận, bèn giả cách bỏ thành rút chạy nhưng đã cho đào hầm sập sát sau cổng thành. Hai tướng Đan Đình Khuê và Nguỵ Định Quốc chỉ quen vũ dũng, không biết đề phòng, nên cả người lẫn ngựa lăn nhào xuống hố. Quân lính của Vương Dần mai phục sẵn hai bên cầm giáo dài và cung tên cùng nhất loạt đâm, bắn. Hai tướng chết ngay tại chỗ. Thương thay Thánh Thuỷ, Thần hoả tướng quân đến đây đành bó tay chịu chết trong hầm.
Lư tiên phong thấy mất hai tướng, tức giận sai quân đắp đập trèo lên thành. Một mặt sai quân lấp hố, mặt khác đốc quân lao vào hỗn chiến, đánh giết quân nam, xô dồn xuống hố. Tiên phong Lư Tuấn Nghĩa thúc ngựa vào thành gặp ngay hoàng thúc Phương Hậu. Hai tướng ngồi trên ngựa giao chiến. Mới hiệp đầu Lư Tuấn Nghĩa bốc lửa giận, trổ hết sức bình sinh đưa ngang mã tấu phạt một nhát, đầu Phương Hậu liền rơi xuống ngựa. Quân của Phương Hậu vội mở cổng thành phía tây xô nhau chạy trốn. Các tướng của Lư Tuấn Nghĩa ai nấy xông lên phía trước đuổi giết quân nam.
Lại nói thượng thư Vương Dần trên đường chạy trốn bị Lý Vân đón đường chận đánh. Vương Dần ngồi trên ngựa đâm thương, còn Lý Vân cứ chân đất lao đánh, liền bị ngựa của Vương Dần xéo ngã. Thạch Dũng thấy Lý Vân sắp nguy liền xông đến tiếp cứu. Vương Dần có tiếng là tay thương xuất quỷ nhập thần. Thạch Dũng làm sao chống cự nỗi. Vương Dần chỉ đánh mấy hiệp đã hất mũi thương đâm Thạch Dũng ngã gục. Bấy giờ từ trong thành bọn Tôn Lập, Hoàng Tín, Trâu Uyên, Trâu Nhuận ào đến vây đánh Vương Dần. Một mình Vương Dần tả xung hữu đột, đánh lại bốn tướng, không chút nao núng. Không ngờ lúc đó Lâm Xung vừa kịp xông đến. Vương Dần dẫu có ba đầu sáu tay cũng không địch nổi. Năm tướng hợp sức đánh xáp. Đáng đời cho Vương thượng thư, đến hôm nay mới biết là chưa thoả chí !
Bọn Lâm Xung bèn chặt đầu Vương Dần, quay ngựa trở lại nộp cho Lư tiên phong. Lư Tuấn Nghĩa vào hành cung trong thành Hấp Châu nghỉ ngơi, vỗ yên trăm họ, yết bảng chiêu an, cho quân sĩ hạ trại đóng giữ trong thành. Một mặt sai người đem thư tới Trương chiêu thảo báo tin thắng trận, lại sai người ruỗi ngựa báo cho Tống tiên phong biết để hội quân cùng tiến.
Lại nói Tống Giang và các tướng đóng quân ở Mục Châu chờ Lư Tuấn Nghĩa đến để tiến đánh hang ổ giặc. Nhận được thư của Lư Tuấn Nghĩa báo tin lấy được Hấp Châu đã đem quân vào đóng trong thành, không may mất thêm các tướng, Sử Tiến, Thạch Tú, Trần Đạt, Dương Xuân, Lý Trung, Tiết Vĩnh, Âu Bằng, Trương Thanh, Đinh Đắc Tôn, Đan Đình Khuê, Nguỵ Định Quốc, Lý Vân, Thạch Dũng, tất cả mười ba người. Tống Giang đau xót rống khóc hồi lâu. Quân sư Ngô dụng khuyên rằng :
- Sống chết đều có số, xin chủ tướng chóo quá buồn thương mà tổn hại sức khoẻ. Bây giờ xin chủ tướng hãy cho bàn tính đại sự quốc gia.
Tống Giang nói :
- Đã đành như vậy nhưng làm sao ta khỏi đau buồn thương xót. Trước đây sách trời khắc trên cột đá ghi tên một trăm linh tám người, ai ngờ đến nay ngày một rơi rụng, anh em tan tác chia lìa!
Ngô Dụng khuyên Tống Giang đừng quá phiền não, rồi viết thư gửi Lư tiên phong, hẹn ngày cất quân đánh chiếm huyện Thanh Khê.
Chưa vội nói chuyện Tống Giang gửi thư cho Lư Tuấn Nghĩa hẹn ngày tiến quân. Hãy kể chuyện Phương Lạp thiết triều ở động Bang Nguyên, huyện Thanh Khê, cùng các quan văn võ bàn cách đánh lại Tống Giang. Vừa lúc ấy nghe tin tàn quân thua trận ở Tây Châu trở về báo tin Hấp Châu đã mất, hoàng thúc Phương Hậu, thượng thư Vương Dần, thị lang Cao Ngọc đều chết trận, nay quân Tống chia hai đường tiến đánh để lấy Thanh Khê.
Phương Lạp nghe nói cả kinh, bèn gọi các quan văn võ đến bàn bạc. Phương Lạp nói :
- Bọn các ngươi đều đã được ban quan cao tước trọng, chia trị thành trì các châu quận, cùng quả nhân chung hưởng giàu sang. Quân Tống Giang tiến đến, thế lực như cuốn chiếu, các châu thành đều mất, hiện chỉ còn giữ được một động Thanh Khê này. Nay quân Tống chia đánh hai đường, chúng ta biết lấy gì chận địch ?
Tả thừa tướng Lâu Mẫn Trung bước lên quỳ tâu :
- Người ngựa của quân Tống đã tiến gần Thần Châu (ở đây chỉ nơi Phương Lạp đóng đô, động Bang Nguyên, huyện Thanh Khê Mục Châu.) Vườn tược, cung đình cũng khó giữ nổi. Bên ta tướng ít quân thưa, thần nghĩ nếu bệ hạ không ngự giá thân chinh thì sợ rằng quân tướng sẽ không tận tâm đánh giữ.
Phương Lạp nói :
- Lời khanh chí phải!
Nói đoạn Phương Lạp bèn truyền lệnh cho các quan ở ba sảnh sáu bộ, ngự sử đài, khu mật viện, đô đốc các doanh Kim Ngô, Long Hổ : “Tất cả các khanh đều phải theo ta quyết một phen sống chết”.
Lâu thừa tướng nói :
- Bệ hạ định chọn ai làm nguyên soái cầm quân đi tiên phong ?
Phương Lạp đáp :
- Ta định lấy cháu ta là Phương Kiệt, hiện giữ chức điện tiền kim ngô thượng tướng quân nội ngoại chư quân đô chiêu thảo làm chánh tiên phong, lấy Mã bộ thân quân đô thái uý phiêu kỵ thượng tướng quân Đỗ Vi làm phó tiên phong thống lĩnh hơn ba mươi chiến tướng và một vạn ba nghìn quân ngự lâm hộ giá hiện đang giữ động Bang Nguyên tiến đánh.
Hoàng điệt Phương Kiệt là cháu đích tôn của hoàng thúc Phương Hậu trấn thủ Hấp Châu. Nghe tin quân của Lư tiên phong đã giết ông nội, Phương Kiệt muốn báo thù, tự nguyện làm tướng tiên phong. Phương Kiệt quen dùng một cây phương thiên hoạ kích có sức khoẻ địch nổi muôn người. Còn Đỗ Vi nguyên là thợ rèn ở chợ Hấp châu có tiếng giỏi rèn binh khí được Phương Lạp tin cậy như kẻ tâm phúc. Đỗ Vi quen dùng cây phi đao sáu lưỡi và chuyên đánh bộ. Phương Lạp lại sai ngự lâm hộ giá đô giáo sư Hà Tùng Long đốc suất một vạn quân ngự lâm tiến đến Hấp Châu đánh quân Lư Tuấn Nghĩa. Tạm gác chuyện Phương Lạp chia binh mã hai đường chận đánh quân Tống, hãy nói chuyện Tống Giang cho đại quân người ngựa lên đường, thuỷ bộ cùng tiến. Rời thành Mục Châu, quân mã thẳng hướng tiến về huyện Thanh Khê. Bọn thuỷ quân đầu lĩnh Lý Tuấn đem chiến thuyền theo đường sông suối cùng tiến về huyện ấy.
Lại nói Ngô Dụng và Tống Giang sánh ngựa vừa đi vừa nói chuyện :
- Chuyến này bọn ta lấy động Bàng Nguyên ở Thanh Khê, chỉ lo đầu sỏ Phương Lạp trốn thoát vào rừng sâu núi hiểm. Muốn bắt sống hắn giải về kinh đô dâng thiên tử thì tất phải trong ứng ngoài hợp, nhận diện cho đúng mới bắt được. Lại phải biết hắn có thể tẩu thoát bằng những đường nào thì mới khỏi để sổng. Tống Giang nói :
- Nếu thế phải tương kế tựu kế dùng mưu trá hàng mới có thể trong hô ngoài ứng. Trước đây ta từng sai Sài Tiến và Yến Thanh đi làm nội ứng, chưa biết tin tức ra sao, nay chưa biết phải sai ai làm việc này. Ta đành phải dùng cách trá hàng .
Ngô Dụng nói :
- Cứ theo ngu ý thì tốt nhất nên sai bọn thuỷ quân đầu lĩnh Lý Tuấn đem theo cả thuyền lương đến nộp lương xin hàng thì bọn chúng mới khỏi nghi. Phương Lạp là đứa tiểu nhân quê mùa, thấy lợi nhiều thì làm gì chẳng thu dùng.
Tống Giang nói :
- Quân sư thật cao kiến !
Nói đoạn bèn sai Đái Tôn theo đường sông đi truyền lệnh cho Lý Tuấn cứ làm như thế…như thế…
Bọn Lý Tuấn vâng lĩnh mưu kế, Đái Tôn trở về hồi báo với Tống tiên phong.
Lý Tuấn liền giao cho Nguyễn Tiểu Ngũ, Nguyễn Tiểu Thất cắt cử những người làm lái thuyền, bọn Đồng Uy, Đồng Mãnh cắt cử các thuỷ thủ đem sáu mươi chiếc thuyền lương trên mũi cấm cờ hiệu để chữ “Hiến lương”, ngược suối lớn mà đi. Chưa đến huyện Thanh Khê đã thấy chiến thuyền của quân Phương Lạp từ phía đầu nguồn bơi xuống đón đánh, tên bắn tới rào rào. Lý Tuấn đứng đầu mũi thuyền nói to :
- Xin đừng bắn ! Tiểu nhân muốn được nói chuyện với quý quan. Bọn chúng tôi đến đây muốn được quy hàng, đại quốc, xin hiến tất cả lương thực trên thuyền để tiếp tế quân sĩ. Muôn trông quý quan thu nhận cho.
Tên đội trưởng thấy thuyền bọn Lý Tuấn không có vũ khí bèn ra hiệu thôi bắn, rồi cho người nhẩy sang xét hỏi cặn kẽ. Bọn thuỷ quân thấy các thuyền chở đầy lương thực bèn báo cho Lâu thừa tướng việc bọn Lý Tuấn nộp lương xin hàng. Lâu Mẫn Trung nghe xong cho gọi những người đầu hàng lên bờ. Lý Tuấn đến yết kiến Lâu thừa tướng. Chào hỏi xong Lâu Mẫn Trung hỏi :
- Ngươi là thủ hạ của Tống Giang giữ chức vụ gì ? Nay vì sao đến đây hiến lương xin hàng ?
Lý Tuấn đáp :
- Tiểu nhân họ Lý tên Tuấn, nguyên là hảo hán trên sông Tầm Dương, từng đến Giang Châu cướp pháp trường cứu Tống Giang thoát chết. Nay ông ta nhận chiếu chiêu an của triều đình, được giao chức tiên phong, quên hết ân nghĩa cũ, nhiều lần làm nhục tiểu nhân. Quân Tống Giang tuy đã chiếm được các châu quận của đại vương, nhưng anh em thủ hạ dần mòn rơi rụng. Hắn ta vẫn không tự biết thế nào là đủ, bắt ép bọn anh em thuỷ quân của tiểu nhân tiến trước mở đường. Vì không chịu nhục được nữa, anh em tiểu nhân tự đem thuyền lương đến đây xin hàng quý quốc.
Lâu thừa tướng tin Lý Tuấn nói đúng sự thực, bèn dẫn Lý Tuấn vào yết kiến Phương Lạp, kể lại đầu đuôi chuyện Lý Tuấn đem thuyền lương đến hàng.
Lại nói Tống Giang và Ngô Dụng cắt đặt binh mã đi đánh Phương Lạp : sai bốn viên chánh tướng là Quan Thắng, Hoa Vĩnh, Tần Minh, Chu Đồng dẫn quân đi trước. Các tướng đem quân đến địa giới huyện Thanh Khê thì gặp quân của Phương Kiệt. Quân hai bên dàng thành trận thế. Bên trận quân nam, Phương Kiệt nâng ngang ngọn kích thúc ngựa tiến ra. Đỗ Vi chạy bộ theo sau. Đỗ Vi mình khoác áo giáp, lưng giắt năm lưỡi phi đao, tay cầm thất tinh bảo kiếm.
Bên trận của Tống Giang, Tần Minh cưỡi ngựa vung côn lang nha ra trước trận đón đánh Phương Kiệt. Phương Kiệt còn trẻ tuổi tinh nhanh, sử dụng thành thạo cây phương thiên hoạ kích, giao chiến với Tần Minh hơn ba mươi hiệp không phân thắng bại. Phương Kiệt thấy Tần Minh võ nghệ cao cường cũng phải trổ hết võ nghệ không để phí một mũi kích. Hai tướng quần nhau sắp đến lúc ngã ngũ, Tần Minh cũng hết sức giao chiến không để cho Phương Kiệt rảnh tay. Không ngờ Đỗ Vi ở phía sau thấy Phương Kiệt không hạ nổi Tần Minh bèn thúc ngựa xông tới tung phi đao vào mặt Tần Minh. Tần Minh vội cúi mình né tránh, không may bị Phương Kiệt đưa cây phương thiên hoạ kích hất nhào xuống ngựa. Thương thay Tia chớp loé (Tích lịch hoả) im lặng vụt tắt giữa không trung! Phương Kiệt đã giết được Tần Minh nhưng không dám xua quân sang chiếm trận. Các tướng bên quân Tống dùng câu liêm kéo được thi thể Tần Minh về, mọi người nghe tin đều kinh hoàng. Tống Giang một mặt sai sửa soạn quan tài để khâm liệm, mặt khác lo điều quân ra giao chiến.
Lại nói Phương Kiệt đắc thắng tự kiêu, đứng trước trận quát lớn :
- Quân Tống còn hảo hán nào, mau ra đây đọ sức với ta ?
Tống Giang ở trung quân nghe tin báo vội ra trước trận, thấy sau lưng Phương Kiệt là Phương Lạp đang dẫn quân tiến đến. Chỉ thấy :
Quan quân san sát, giáo sắt dàn hàng. Phương thiên hoạ kích rập rờn, rồng phượng cờ thêu bẩy sắc. Cờ mao lệnh tiết, xanh bay đỏ múa đủ màu. Khải ngọc yên hoa, lớp lớp vòng xanh tầng biếc. Lọng rồng bay che rợp mây xanh mù tía, cờ phi hổ uốn lượn khói nhẹ ráng lành. Hầu bên trái là một dãy văn quan, hầu bên phải là mấy hàng võ tướng. Tuy là tiếm ngôi thiên tử, cũng dàn đủ tướng võ tướng văn.
Bên trận quân Nam, Phương Lạp ung dung ghìm cương dừng ngựa đứng dưới lọng vàng. Chỉ thấy :
Đầu chít khăn xung thiên, lụa vàng buông hai vạt; mình mặc cẩm bào nhật nguyệt vai bồng, ngực cuộn hình thêu rồng chầu chín khúc. Lưng đeo đai ngọc lung linh khảm bạc, chân đi hài mây kim tuyến ánh vàng.
Phương Lạp cưỡi ngựa trắng đứng giám chiến trước trận. Thấy Tống Giang đích thân ra trận, Phương Lạp bèn sai Phương Kiệt ra đánh quyết bắt sống bằng được Tống Giang. Các tướng bên quân Tống cũng đã sẵn sàng đón đánh để bắt sống Phương Lạp. Bên quân nam khi Phương Kiệt sắp xuất trận thì có tên thâm mã phi ngựa đến báo :
- Ngự lâm đô giáo sư Hạ Tùng Long đem quân mã đến cứu Hấp Châu đã bị Lư tiên phong bên quân Tống bắt sống, người ngựa phải chạy rạt ra sau núi.
Phương Lạp nghe nói cả sợ, vội truyền lệnh thu quân về giữ động Bang Nguyên. Phương Kiệt giao cho Đỗ Vi giữ trận để Phương Lạp đem quân ngự lâm lui về. Phương Kiệt và Đỗ Vi rút theo sau Phương Lạp vừa trở về đến địa giới huyện Thanh Khê đã nghe tiếng hò hét dội vang khắp trời. Trong động lửa cháy sáng rực, người ngựa nhốn nháo. Đó là bọn thuỷ quân đầu lĩnh Lý Tuấn, Nguyễn Tiểu Ngũ, Nguyễn Tiểu Thất, Đồng Uy, Đồng Mãnh lọt vào thành Thanh Khê đốt lửa làm nội ứng. Phương Lạp vội xua quân ngự lâm vào thành hỗn chiến. Quân Tống Giang đuổi theo quân Nam đến huyện Thanh Khê thấy lửa sáng, biết là bọn Lý Tuấn đã lọt vào trong thành. Tống Giang vội truyền lệnh cho các tướng chia quân mấy ngả đánh vào. Bấy giờ quân của Lư tiên phong đã vượt qua núi kịp đến tiếp ứng. Từ bốn phía, quân Tống đánh xáp vào sào huyệt của Phương Lạp. Tống Giang và các tướng đuổi bắt quân nam, triệt phá thành luỹ, Phương Lạp được Phương Kiệt hộ vệ chạy vào động Bang Nguyên.
Tống Giang đem đại quân người ngựa vào thành huyện Thanh Khê. Các tướng vào cung của Phương Lạp thu nhặt binh khí, vàng bạc châu báu, kiểm kê kho tàng rồi phóng hoả thiêu các cung điện trong ngoài của Phương Lạp. Tiền bạc, lương thực thảy đều thu đoạt hết. Tống Giang hội quân với Lư Tuấn Nghĩa đóng giữ huyện Thanh Khê, triệu họp các tướng xét công ban thưởng. Kiểm lại tướng hiệu của cả hai cánh quân mới biết Hiểm đạo thần Úc Bảo Tứ và nữ tướng Tôn Nhị Nương thiệt mạng bởi cây phi đạo của Đỗ Vi; Trâu Uyên, Đỗ Thiên bị loạn quân xéo chết; Lý Lập, Thang Long, Sái Phúc bị thương nặng chạy chữa không khỏi cũng đã chết. Nguyễn Tiểu Ngũ đến trá hàng ở huyện Thanh Khê bị Lâu thừa tướng và Đỗ Vi hạ thủ. Rồi đó Tống Giang cho yết bảng chiêu an vỗ về trăm họ, truyền áp giải bọn nguỵ quan bị bắt sống đến quân doanh của Trương chiêu thảo giao nộp rồi chém đầu thị chúng. Về sau nghe dân chúng nói Lâu Mẫn Trung vì việc giết Nguyễn Tiểu Ngũ, nên khi quân Tống đánh huyện Thanh Khê đã thắt cổ tự tử ở rừng thông. Đỗ Vi trốn ở nhà người kỹ nữ Vương Kiều Kiêu được hắn bao nuôi bị mụ chủ bắt nộp cho quân Tống. Tống Giang thưởng cho mụ chủ hàng rồi sai chặt thủ cấp của Lâu Mẫn Trung, lại sai Sái Khánh mổ bụng moi tim Đỗ Vi để hiến tế các tướng Tần Minh, Nguyễn Tiểu Ngũ, Úc Bảo Tứ, Tôn Nhị Nương và các quân sĩ tử trận khi đánh huyện Thanh Khê. Tống Giang tự tay đốt hương khấn cáo với vong hồn các tướng. Ngay ngày hôm sau, Tống Giang cùng hội quân với Lư Tuấn Nghĩa, thẳng tiến đến vây động Bang Nguyên.
Lại nói Phương Lạp được Phương Kiệt hộ vệ chạy vào cấm điện trong động Bang Nguyên, cho dừng quân đóng ngựa để giữ vững cửa động, không ra giao chiến. Tống Giang và Lư Tuấn Nghĩa cho người ngựa vây chặt xung quanh động nhưng chưa có cách nào lọt vào được. Phương Lạp ở trong động lo sợ như ngồi trên đống lửa. Mấy ngày sau khi quân Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa vây động, Phương Lạp đang lúc lo lắng bồn chồn, bỗng thấy một đại thần mặc áo gấm đến quỳ dưới thềm điện tâu rằng :
- Thưa bệ hạ, thần đội ơn sâu của bệ hạ chưa biết lấy gì báo đáp. Nay thần tuy bất tài nguyện đem chút kiến thức binh pháp, dốc tằi nghệ sở trường, xin bệ hạ giao cho một đội quân, thần nguyện ra sức đánh lui quân Tống, khôi phục vương triều.
Phương Lạp nghe nói cả mừng liền ban sắc chỉ giao cho viên tướng ấy chỉ huy binh mã ra ngoài động giao chiến với quân Tống Giang. Chưa hay thắng bại ra sao, chỉ biết viên tướng ấy thật oai phong, lẫm liệt; phải chăng ngẫu nhiên trong vương triều của Phương Lạp mới xuất hiện một viên tướng tài cầm quân đi chận địch ? Chỉ biết :

Sân rồng bệ ngọc đầu người rụng,
Cửa khuyết thêm vàng máu nóng tuôn.


Biết trước rằng :

Dẹp tan sào huyệt bắt Phương Lạp,
Dựng lập công huân rạng Tống Giang.


Chưa biết viên tướng đó là ai, xem hồi sau sẽ rõ.



Hết hồi 118.
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ MỘT TRĂM MƯỜI CHÍN


Lỗ Trí Thâm bên sông quy tịch,
Tống Công Minh áo gấm về làng.



Đang nói bấy giờ viên đại thần đến dưới điện của Phương Lạp xin cầm quân đi giao chiến với quân Tống không ai khác mà là chính phò mã đô uý Kha Dẫn. Phương Lạp vui mừng khôn xiết, liền chuẩn cho Kha phò mã đem quân đi chặn địch, Kha phò mã khoác giáp lên ngựa, cùng với Vân Bích phụng uý đưa quân ra đi. Phương Lạp tự tay cởi áo gấm giáp sắt , lại chọn một con ngựa nòi ban cho Kha Dẫn.
Kha phò mã cùng Phương Kiệt dẫn hai mươi viên thượng tướng, một vạn quân ngự lâm và quân bảo vệ ra ngoài động Bang Nguyên dàn thành trận thế.
Lại nói người ngựa của Tống Giang vây chặt cửa động, các lối ra vào đều có các tướng đốc suất canh giữ. Tống Giang đứng ở trung quân bồn chồn lo lắng, thấy quân mình đã áp sát cửa động, mà chưa bắt được Phương Lạp, cũng chưa thấy quân nam ra đánh. Đang lúc ấy có tên lính ở tiền quân đến báo tin quân mã trong động đang kéo ra. Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa vội lên ngựa cho quân tiến. Dàn xong trận thế thì vừa lúc phò mã Kha Dẫn đem quân đến. Bên quân Tống Giang ai là người chẳng nhận ra Sài Tiến ? Tống Giang bèn lệnh cho Hoa Vinh phi ngựa lên nghênh chiến. Hoa Vinh đượdc lệnh liền cắp thương nhẩy lên ngựa xông lên trước trận, cất giọng quát to :
- Ngươi là kẻ nào mà dám giúp sức cho giặc chống lại đại quân ta ? Phải bắt sống ngươi, băm thây làm muôn mảnh ! Hãy mau xuống ngựa đầu hàng, sẽ tha cho ngươi tội chết !
Phò mã Kha Dẫn đáp :
- Khắp đất Sơn Đông ai còn lạ gì đại danh ta là Kha Dẫn ? Các ngươi là giặc cỏ Lương Sơn Bạc không đáng để ta đếm xỉa tới ! Phải chăng ngươi cho ta không tài giỏi bằng ngươi ? Ta phải giết bọn ngươi, thu phục các thành trì đã mất !
Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa ngồi trên ngựa, nghe Sài Tiến nói thì hiểu ý Sài Tiến đã đổi họ tên là Kha Dẫn. Sài cũng tức là Kha (nghĩa là cành củi), Tiến cũng là Dẫn. Ngô Dụng nói :
- Để xem Sài Tiến đón đánh Hoa Vinh như thế nào ?
Bấy giờ Hoa Vinh cắp thương nhẩy lên ngựa xông đến đánh Kha Dẫn, hai người trổ tài giao chiến, đao kích cùng vung lên. Hai người đánh đến lúc hăng, lăn xả vào níu nhau. Sài Tiến khẻ nói : « Đại huynh hãy giả vờ thua, ngày mai đệ sẽ nói tiếp ». Hoa Vinh nghe xong đánh lướt thêm vài hiệp, rồi quay ngựa chạy. Kha Dẫn quát to :
- Tướng giặc kia ! Ta không thèm đuổi. Có tướng nào giỏi hơn cứ ra đây đọ tài với ta.
Hoa vinh phi ngựa chạy về thuật lại với Tống Giang và Lư Tuấn Nghĩa. Ngô Dụng nói :
- Cho Quan Thắng ra đánh tiếp.
Quan Thắng liền vung cây đao thanh long yển nguyệt, thúc ngựa ra trước trận, quát lớn :
- Tướng nhép Sơn Đông có dám đối địch với ta ?
Phò mã Kha Dẫn nâng thương xông ngựa đón đánh. Hai tướng đua tài không chút khiếp sợ. Đánh chưa đầy năm hiệp, Quan Thắng vờ thua quay về trận nhà. Kha Dẫn không đuổi, chỉ dừng trước trận quát lớn :
- Các ngươi còn tướng nào dám đọ sức với ta ?
Tống Giang lại sai Chu Đồng ra trận. Hai người lao vào đánh, chỉ cốt để che mắt mọi người, được dăm sáu hiệp, Chu Đồng đã vờ thua bỏ chạy. Sài Tiến đuổi theo, giơ thương đâm hờ một mũi, Chu Đồng vội nhảy xuống, bỏ ngựa chạy về phía quân mình. Quân nam ùa tới cướp ngựa. Phò mã Kha Dẫn quân ào lên đuổi đánh. Tống Giang vội truyền lệnh cho các tướng đem quân lui xa hơn mười dặm đóng trại nghỉ ngơi. Kha Dẫn cho đuổi theo một quãng, rồi thu quân về động. Trước đó đã có người về báo cho Phương Lạp biết : « Phò mã Kha Dẫn thật anh hùng, liên tiếp đánh thắng ba tướng, đuổi lui quân Tống. Bọn Tống Giang thua trận đã phải lui mười dặm ». Phương Lạp cả mừng, sai bày ngự yến để khoản đãi. Phương Lạp mời phò mã Kha Dẫn cởi giáp treo áo để vào hậu cung dự tiệc. Phương Lạp tự tay nâng chén vàng mời Kha Dẫn :
- Không ngờ phò mã văn võ kiêm toàn ! Quả nhân nghĩ hiền tế chỉ có tài văn chương chữ nghĩa, nếu sớm biết hiền tế hào kiệt anh hùng thì đâu đến nỗi để mất nhiều châu quận ! Mong phò mã đem tài cao giết hết tướng giặc, khôi phục cơ nghiệp, triều đình. Phò mã sẽ cùng ta chung hưởng vinh hoa phú quý.
Kha Dẫn tâu đáp :
- Xin chúa thượng yên lòng. Đạo làm tôi phải hết lòng báo đền ơn chúa, chung sức khôi phục vương gia. Ngày mai kính xin thánh thượng quá bộ lên núi xem Kha Dẫn này chém đầu Tống Giang.
Phương Lạp nghe tâu cả mừng. Yến tiệc kéo dài suốt đêm, rồi đó ai nấy về nghỉ ngơi.
Ngày hôm sau, Phương Lạp ngự triều, sai mổ bò giết ngựa nấu cơm cho quân sĩ ăn uống no say. Sau đó, các tướng quân nam mặc giáp lên ngựa, đem quân ra khỏi động, phất cờ gióng trống hò reo khiêu chiến. Phương Lạp dẫn các cận thần lên đỉnh núi trên động Bang Nguyên xem Kha phò mã đánh lui quân Tống.
Lại nói hôm ấy Tống Giang truyền lệnh cho các tướng :
- Trong trận đánh quyết liệt hôm nay, các tướng đều phải cố sức bắt sống tên đầu sỏ Phương Lạp. Hễ thấy Sài Tiến ở bên trận quân nam quay ngựa bỏ chạy thì đuổi theo vào động, bắt cho được Phương Lạp, không được để lỡ.
Ba quân tướng sĩ nghe lệnh đều xoa tay tuốt kiếm những muốn xông ngay vào động cướp vàng bạc, bắt sống Phương Lạp để lĩnh thưởng. Bấy giờ các tướng của Tống Giang đã đến trước động cho quân mã dàn thành trận thế.
Bên trận quân nam, phò mã Kha Dẫn đứng dưới cờ. Kha Dẫn sắp xuất trận thì Phương Kiệt nâng ngang ngọn kích, dừng ngựa nói :
- Xin đô uý hãy buông cương xem Phương Kiệt tôi lấy đầu một tên tướng Tống trước đã, sau đó đô uý hãy cho quân ra đối địch.
Từ xa trông thấy Yến Thanh theo sau Sài Tiến, các tướng bên quân Tống reo mừng :
- Hôm nay thế nào cũng thắng !
Nói đoạn ai nấy đều chia đi chuẩn bị trận đánh.
Nói tiếp chuyện Phương Kiệt tranh phóng ngựa ra khiêu chiến. Bên quân Tống Giang, Quan Thắng thúc ngựa múa đao thanh long tiến ra đón đầu. Hai tướng cho ngựa lao vào giao chiến, qua lại quần lộn với nhau chưa được mười hiệp thì Tống Giang sai tiếp Hoa Vinh ra trận. Phương Kiệt một mình bị hai tướng xáp đánh, nhưng không chút sợ hãi, ra sức chống đỡ cả hai. Lại đánh thêm vài hiệp nữa, tuy thắng bại chưa hẳn đã nghiêng về bên nào, nhưng xem chừng Phương Kiệt cũng chỉ đủ sức tránh đỡ. Tống Giang liền sai bọn Lý Ứng, Chu Đồng phóng ngựa đến trợ chiến. Phương Kiệt bị bốn tướng vây đánh, đành quay ngựa chạy về. Kha phò mã đang đứng dưới cờ tướng, chận Phương Kiệt lại, rồi vẫy tay ra hiệu. Bọn bốn tướng Quan Thắng, Hoa Vinh, Chu Đồng, Lý Ứng liền đuổi sát tới. Đúng lúc đó, Kha phò mã chĩa mũi giáo xông thẳng vào Phương Kiệt, Phương Kiệt thấy tình thế nguy ngập, vội xuống ngựa chạy trốn, nhưng chưa kịp trở tay đã bị Sài Tiến đâm trúng một mũi thương. Từ phía sau Văn phụng uý Yến Thanh đuổi tới xả một nhát đao kết liễu đời hắn. Quân nam thấy vậy kinh sợ, xô nhau chạy trốn. Kha phò mã nói :
- Ta chẳng phải Kha Dẫn nào hết ! Chính ta là Tiểu toàn phong Sài Tiến, thuộc hạ của Tống tiên phong. Văn phụng uý đi theo ta đây chính là lãng tử Yến Thanh. Nay chúng ta đã biết hết tình thế của giặc cả trong lẫn ngoài động, quân sĩ các ngươi ai bắt sống được Phương Lạp sẽ được thưởng chức quan cao, xe đưa ngựa đón. Các ngươi đầu hàng sẽ được tha chết. Ai chống cự xử trảm toàn gia !
Sài Tiến nói đoạn quay lại cùng bốn tướng dẫn đại quân tiến vào trong động. Phương Lạp cùng bọn cận thần đứng đầu núi trên động Bang Nguyên thấy quân Tống đã giết Phương Kiệt, ba quân rối loạn, biết tình thế nguy cấp, vội đạp đổ chiếc ghế kim giao, nhắm hướng núi sâu mà chạy.
Tống Giang chia quân người ngựa thành năm ngã tiến vào động. Quân sĩ, tranh nhau tiến trước để bắt Phương Lạp, chẳng ngờ Phương Lạp đã trốn mất, chỉ bắt được mấy tên hầu cận. Yến Thanh chen vào trong động, đem theo mấy người tâm phúc, đến chỗ kho báu thu được hai tay nải đồ vàng bạc châu báu, rồi châm lửa đốt cung cấm, vườn tược. Khi Sài Tiến đến thì Kim Chi công chúa đã thắt cổ tự tử. Sài Tiến thấy vậy liền châm lửa đốt cung, còn bọn thị nữ, người hầu thì cho tự tìm đường kiếm sống. Quân sĩ tràn vào nội cung giết hết phi tần thế nữ, hoàng thân quốc thích cùng bọn ngự lâm thị vệ, đoạt lấy vàng bạc trong cung riêng của Phương Lạp. Tống Giang tung hết quân tướng sục sạo khắp nơi tìm bắt Phương Lạp.
Lại nói Nguyễn Tiểu Thất vào thâm cung trong vườn cấm tìm thấy một chiếc rương, chính là chiếc rương của Phương Lạp đựng mũ bình thiên, áo long cổn, đai bích ngọc, ngọc bạch khuê, giày vô vưu, đều là những thứ do Phương Lạp nguỵ tạo. Nguyễn Tiểu Thất thấy mũ áo đính đầy vàng bạc châu ngọc, thêu hình rồng phượng, nghĩ bụng : « Những thứ này là áo mũ của Phương Lạp, ta cứ thử mặc, thử đội mũ cũng chẳng can gì ». Nói đoạn mặc áo long cổn, đeo đai ngọc, chân xỏ giày vô vưu, đầu đội mũ bình thiên, cài ngọc bạch khuê vào ngực áo rồi nhẩy lên ngựa, gia roi cho ngựa chạy ra đằng trước. Quân Tống Giang trông thấy đều tưởng đó là Phương Lạp, khắp nơi xôn xao náo động. Nhưng khi đám đông chen nhau đến xem mới biết đó là Nguyễn Tiểu Thất. Mọi người được một phen cười rộ. Nguyễn Tiểu Thất chỉ muốn làm trò đùa cho vui, cứ phi ngựa khắp nơi xem quân sĩ tranh cướp của cải. Đang lúc huyên náo thì hai viên đại tướng là Vương Lẫm và Triệu Đàm được Đồng khu mật phái tới trợ chiến vừa vào trong động.
Nghe ba quân đồn đại là đã bắt được Phương Lạp, Vương Lẫm và Triệu Đàm muốn nhanh chân cướp công, hoá ra lại là Nguyễn Tiểu Thất mặc áo đội mũ của Phương Lạp đang đứng cười khoái trá. Vương Lẫm, Triệu Đàm thấy vậy mắng rằng :
- Ngươi muốn bắt chước Phương Lạp làm giặc chăng ?
Nguyễn Tiểu Thất cả giận, chỉ vào Vương Lẫm và Triệu Đàm mà mắng :
- Bọn bay là thá gì ? Nếu không có huynh trưởng Tống Công Minh của chúng ta thì hai cái đầu lừa của bọn bay cũng đã bị Phương lạp cho đứt từ lâu rồi. Hôm nay anh em các tướng bọn ta lập được công lớn, bọn bay từ đâu đến đây mà dám nói láo ? Triều đình chẳng biết lại cho là nhờ có bọn bay đến giúp sức mới nên công.
Vương Lẫm, Triệu Đàm cả giận xông vào gây sự với Nguyễn Tiểu Thất. Tiểu Thất liền giằng lấy ngọn giáo trong tay một viên tiểu hiệu chạy đến đâm Vương Lẫm. Hồ Diên Chước trông thấy vội phóng ngựa đến can ngăn, rồi sai quân hầu đi báo cho Tống Giang biết. Tống Giang, Ngô Dụng phóng ngựa tới nơi thấy Nguyễn Tiểu Thất đang mặc ngự bào của Phương Lạp, hai người xuống ngựa, bắt Nguyễn Tiểu Thất cởi áo mũ, rồi chuyện trò khuyên giải với hai tướng triều đình. Vương Lẫm, Triệu Đàm tuy nghe lời Tống Giang, nhưng trong lòng vẫn căm tức.
Ngày hôm sau trong động Bang Nguyên, thây chất thành đống, máu chảy thành sông. Theo sử Cương Giám của nhà Tống thì quân Phương Lạp bị chém hơn hai vạn đầu. Bấy giờ Tống Giang hạ lệnh cho bốn phía đều nổi lửa đốt trụi lâu đài cung điện của Phương Lạp. Những lầu rồng gác phượng, cung kín vườn sâu, hiên son cửa ngọc, thảy đều thành tro bụi. Có thơ làm chứng như sau :

Hoàng óc chu hiện bán nhập vân
Đô cao bạn huyết tự hân hân
Nhược hoàn thiên ý dung xa xỉ
Quỳnh thất A Phòng khả bất phân.


Dịch :

Gác tía lầu vàng vút tận mây
Đầu rơi máu chảy vẫn vui say
Ví bằng trời đất dung xa xỉ
Cung ngọc A Phòng chẳng cháy lây


(A Phòng - tên cung điện đời Tần Thuỷ Hoàng, quy mô to lớn tráng lệ, mỗi chiều đến hơn năm mươi trượng, có thể ngồi được cả vạn người, sau bị cháy.)

Bấy giờ Tống Giang cùng các tướng chứng kiến việc thiêu huỷ cung điện, sau đó dẫn quân ra đóng trại ở chung quanh cửa động. Kiểm số giặc bị bắt, chỉ thiếu một mình đầu sỏ Phương Lạp. Tống Giang bèn truyền lệnh sai quân theo núi truy tìm. Cáo thị cho dân chúng biết ai bắt được Phương Lạp triều đình sẽ trọng thưởng, ban chức quan to, ai biết đến báo được cấp ngay tiền thưởng.
Lại nói Phương Lạp ra khỏi động Bang Nguyên nhắm phía rừng sâu, xuyên đèo vượt núi mà chạy, vứt hết hoàng bải, khăn chít kim hoa, giầy thiết triều, chỉ kịp đi giầy cỏ trốn lên núi. Suốt đêm Phương Lạp trèo qua được năm quả núi, khi đến gần thì thấy một ngôi thảo am trong hẻm núi. Phương Lạp thấy đói cồn cào, định vào am lục tìm thức ăn. Bỗng phía sau gốc thông xuất hiện một vị hoà thượng to béo. Nhanh như cắt vị hoà thượng ấy phang một gậy làm Phương Lạp ngã lăn, rồi xông đến trói gô lại. Vị hoà thượng ấy không phải ai xa lạ mà chính là hoà thượng Lỗ Trí Thâm. Lỗ Trí Thâm liền điệu Phương Lạp vào trong am, rồi lục lạo tìm cơm ăn. Một lúc sau Lỗ Trí Thâm gặp một tên quân nhà đang được lệnh đi lùng bắt Phương Lạp, hai người cùng giải Phương Lạp đến nộp cho Tống tiên phong.
Tống Giang cả mừng nói :
- Sao hiền đệ biết hắn chạy đến đó mà đón bắt ?
Lỗ Trí Thâm đáp :
- Đệ từ rừng thông ở đèo Ô Long đánh xuống, đuổi sâu vào trong núi để bắt Hạ Hầu Thành. Bọn này chống cự rất hăng, đệ đuổi sâu vào trong núi nên bị lạc. Đệ lần mò tìm đường đến núi Lâm Lang. Một thầy tăng già dẫn đệ vào trong am rồi dặn rằng : « Củi, gạo, rau, dưa đều sẵn cả, tướng quân cứ ở đây mà chờ. Hễ thấy kẻ cao lớn từ trong rừng thông tìm đến thì trói bắt ngay. » Đêm ấy thấy trên núi phía trước có ánh lửa, đệ rình đợi suốt đêm, muốn lên đó nhưng không biết đường. Sáng nay vừa văn thấy tên giặc này mò lên núi, đệ chỉ phang một gậy là bắt sống được. Thật không ngờ hắn lại chính là tên Phương Lạp !
Tống Giang lại hỏi :
- Vị sư già ấy hiện giờ ở đâu ?
Lỗ Trí Thâm đáp :
- Lão tăng dẫn đệ vào am, chỉ chỗ để gạo, củi rồi đi ngay, không biết đi đâu ?
Tống Giang nói :
- Lão tăng ấy hẳn là vị La Hán hiển linh giúp hiền đệ lập công lớn đấy ! Khi về kinh ta sẽ tâu lên triều đình xin thiên tử cho người hoàn tục làm quan để vợ con được nhờ phúc ấm, báo đáp cha mẹ, rạng rỡ tổ tiên.
Lỗ Trí Thâm đáp :
- Thưa huynh trưởng, lão gia lòng trần đã nguội, chẳng còn ham muốn làm quan, chỉ muốn tìm một nơi thanh vắng yên thân đến trọn đời.
Tống Giang nói :
- Hiền đệ không muốn hoàn tục thì cũng nên về kinh sư trụ trì ở nơi danh lam thắng cảnh, đứng đầu các sư. Như thế cũng là hiển vinh cho tông tổ, báo đáp mẹ cha.
Lỗ Trí Thâm nghe xong lắc đầu từ chối :
- Không cần, không cần, mọi thứ đều vô nghĩa. Tiểu đệ chỉ ước sao thân thể được nguyên vẹn mà quy hoá là đủ lắm rồi.
Tống Giang nghe xong buồn rầu nghĩ ngợi, cả Lý Quỳ cũng cảm thấy không vui. Tống Giang cho điểm lại quân tướng, rồi truyền lệnh đóng cũi giải Phương Lạp về kinh. Sau đó Tống Giang cùng các tướng dẫn ba quân người ngựa rời động Bang Nguyên trở về Mục Châu.
Lại nói Trương chiêu thảo đã truyền lệnh gọi Lưu đô đốc, Đồng khu mật, hai tham mưu họ Tùng, họ Cảnh đem quân mã đến hội cả ở Mục Châu. Được tin Tống Giang lập công lớn bắt được Phương Lạp áp giải về Mục Châu, các quan ai nấy đều đến chúc mừng. Tống Giang và các tướng vào chào quan giám chiến. Trương chiêu thảo nói :
- Hạ quan biết tướng quân vất vả nơi biên ải, anh em bị tổn thất nhiều. Nay cuộc chinh thảo đã toàn thắng, thật là may mắn lớn. Tống Giang lạy tạ hai lạy, nghẹn ngào rơi lệ đáp :
- Lúc đầu bọn anh em tiểu tướng có một trăm linh tám người, đánh tan giặc Liêu trở về kinh đô không tổn thất người nào. Sau đó không ngờ Công Tôn Thắng chia tay để tiếp tục đời tu hành, lại thêm mấy người được triều đình giữ lại ở kinh đô. Sau khi lấy Dương Châu, vượt sông Trường, ngờ đâu anh em các đầu lĩnh mười phần mất bẩy ! Đến nay Tống Giang tôi còn mặt mũi nào trở lại trông thấy các bậc phụ lão cùng bà con thân thích ở Sơn Đông ?
Trương chiêu thảo nói :
- Tiên phong đừng nghĩ thế. Người xưa có câu « Gìau, nghèo, sang, hèn, định từ kiếp trước ; sống lâu chết yểu, định bởi đời nay ». Người ta lại thường nói, « Kẻ có phúc đưa người bạc mệnh ». Đi đánh trận mà tổn thất tướng tá thì có gì đáng xấu hổ. Ngày nay anh em tướng quân đã công thành danh toại, triều đình biết tin tất sẽ trọng dụng phong quan ban tước, vẻ vang áo gấm về làng, ai là người không khen ngợi ? Ngoài ra những chuyện không đâu thì tướng quân chẳng đáng bận lòng. Bây giờ tướng quân chỉ nên lưu tâm chỉnh đốn quân sĩ để về kinh.
Tống Giang vái tạ Trương chiêu thảo và các quan triều đình, rồi trở về truyền lệnh cho các tướng. Trương chiêu thảo cũng đã ra lệnh dem bọn nguỵ quan và quân lính giặc - trừ Phương Lạp cho giải về kinh – còn lại thảy đều đem đến chợ Mục Châu chém đầu thị chúng. Những nơi chưa thu phục được như huyện Cù, huyện Vụ, thì bọn nguỵ quan sau khi nghe tin Phương Lạp bị bắt sống đã bỏ trốn hoặc ra đầu thú. Trương chiêu thảo đều thu nhận, cho được trở lại làm lương dân, một mặt sai yết bảng khắp nơi để vỗ về chiêu an trăm họ. Những người theo giặc nhưng chưa từng giết hại dân chúng thì chuẩn cho tự thú để làm được các châu huyện. Trương chiêu thảo sai quan quân đến giữ đất, vỗ yên dân chúng, việc không có gì phải nói.
Lại nói Trương chiêu thảo và các quan ở Mục Châu mở tiệc thái bình chúc mừng các quan tướng, khao thưởng ba quân, rồi truyền lệnh cho Tống tiên phong và các đầu lĩnh sửa soạn đưa quân về kinh. Quân lệnh truyền xuống, tướng sĩ ai nấy chuẩn bị hành trang, lục tục lên đường.
Nói tiếp Tống tiên phong bùi ngùi rơi lệ, buồn nhớ các anh em đầu lĩnh tử trận. Không ngờ bọn sáu người Trương Hoành, Mục Hoằng bị ốm nằm lại ở Hàng Châu, Chu Phú, Mục Xuân phải ở lại coi sóc, tất cả là tám người, sau vì bệnh nặng mà chết chỉ còn Dương Lâm và Mục Xuân tìm về được với đại quân.
Tống Giang nghĩ nhờ công lao vất vả của anh em các tướng mới có cảnh thái bình hôm nay, muốn lập đàn siêu độ cho các đầu lĩnh tử trận. Tống Giang bèn sai các chùa quán ở Mục Châu căng màn treo phướn, dựng đàn cửu u làm ba trăm sáu mươi tuần tế Thiên la đại thánh cầu cho anh em các chánh phó tướng chết trận được siêu linh tịnh độ. Sửa soạn đã xong, ngày hôm sau Tống tiên phong cho mổ trâu giết ngựa, đem theo rượu tế, rồi cùng quân sư Ngô Dụng và các tướng tới miếu Ô Long đốt vàng hương dâng lễ, tạ ơn thần Ô Long đại vương. Các chánh phó tướng trận vong còn nhắt được thi hài đều được làm lễ an táng chu đáo. Xong việc, Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa thu thập quân mã theo Trương chiêu thảo về Hàng Châu chờ thánh chỉ cho đem quân hồi kinh. Các tướng hiệu ai có công lao đều được kê khai vào biểu văn để dâng lên thiên tử. Rồi đó ba quân theo thứ tự lên đường về kinh.
Tống Giang điểm lại các chánh phó tướng có mặt lúc trở về chỉ còn ba mươi sáu người. Đó là : Hô bảo nghĩa Tống Giang, Ngọc kỳ lân Lư Tuấn Nghĩa, Trí đa tinh Ngô Dụng, Đại đao Quan Thắng, Báo tử đầu Lâm Xung, Song tiên Hồ Diên Chước, Tiểu lý quảng Hoa Vinh, Tiểu toàn phong Sài Tiến, Phốc thiên điêu Lý Ứng, Mỹ nhiêm công Chu Đồng, Hoa hoà thượng Lỗ Trí Thâm, Hành giả Võ Tòng, Thần hành thái bảo Đái Tôn, Hắc toàn phong Lý Quỳ, Bệnh quan sách Dương Hùng, Hỗn long giang Lý Tuấn, Hoạt diêm la Nguyễn Tiểu Thất, Lãng tử Yến Thanh, Thần cơ quân sư Chu Vũ, Trấn tam sơn Hoàng Tín, Bệnh uý Tri Tôn Lập, Hỗn thế ma vương Phàn Thuỵ, Oanh thiên lôi Lãng Chấn, Thiết diện khổng mục Bùi Tuyên, Thần toán tử Tưởng Kính, Quỷ kiếm nhi Đỗ Hưng, Thiết phiến tử Trương Thanh, Độc giác long Trâu Nhuận, Nhất chi hoa Sái Khánh, Cẩm báo tử Dương Lâm, Tiểu già lan Mục Xuân, Xuất động giao Đồng Uy, Phan giang thần Đồng Mãnh, Cổ thượng sắt Thời Thiên, Tiểu uý trì Tôn Tân, Mẫu đại trùng Cố Đại Tẩu.
Bấy giờ Tống Giang và các tướng dẫn quân mã rời Mục Châu nhằm phía Hàng Châu tiến phát.

Đúng là :

Thu quân chiêng rộn nghìn đầu núi
Thắng trận cờ tung chục dặm hồng


Chuyện trên đường đi không có gì đáng nói. Chẳng mấy chốc đại quân đã về đến Hàng Châu. Trương chiêu thảo đem quân mã vào thành. Tống tiên phong tạm đóng quân ở tháp Lục Hoà, các tướng đều vào chùa Lục Hoà nghỉ ngơi. Tiên phong sứ Tống Giang và Lư Tuấn Nghĩa hàng ngày hai buổi sáng tối đều vào thành nghe lệnh.
Lại nói Lỗ Trí Thâm và Võ Tòng cùng nghỉ ngơi một nơi trong chùa Lục Hoà. Thấy ngoài thành phong cảnh núi sông tươi đẹp. Lỗ Trí Thâm trong lòng rất vui thích. Đêm ấy trăng thanh gió mát, trời nước một màu, hai người ngủ yên trong căn phòng. Đến nửa đêm, chợt nghe trên sông tiếng sóng cuộn ầm ầm. Lỗ Trí Thâm vốn người đất Quan Tây (chỉ phía tây của Hàm Cốc) không quen tiếng sóng triền miên Triết Giang ngỡ là trống trận, giặc giã nổi lên đâu đây. Lỗ Trí Thâm bèn chồm dậy cầm cây thiền trượng quát lên một tiếng rồi chạy lao ra ngoài. Các sư sãi chùa Lục Hoà sợ hãi xúm đến hỏi :
- Sư phụ làm sao thế ? Định chạy đuổi ai ?
Lỗ Trí Thâm đáp :
- Lão gia nghe tiếng trống trận vội lao ra đánh !
Chúng tăng cười rộ lên bảo Lỗ Trí Thâm :
- Sư phụ nhầm rồi, không phải trống trận đâu ! Đó là tiếng sóng (Triều tín) trên sông Tiền Đường đấy !
Lỗ Trí Thâm nghe nói giật mình hỏi lại :
-Thưa sư phụ, « Triều tín » là cái gì ?
Các nhà sư chùa Lục Hoà đẩy cửa sổ chỉ cho Lỗ Trí Thâm sóng triều trên sông nói :
- Đây là sóng triều ngày đêm hai lần lên xuống không sai một khắc. Hôm nay là ngày rằm tháng tám, triều lên vào lúc canh ba. Vì thuỷ triều lên xuống rất đúng giờ khắc, không thất tín nên gọi là « triều tín ».
Lỗ Trí Thâm đứng nhìn hồi lâu đột nhiên tỉnh ngộ, vỗ tay cười vang :
- Ngày trước sư phụ ta là Trí Chân trưởng lão đã cho ta bốn câu kệ, « Phùng Hạ nhi cầm » (Gặp Hạ thì bắt) thì vừa rồi đuổi giặc trong rừng thông ta đã bắt được tướng giặc Hạ Hầu Thành. « Ngộ Lạp nhi chấp » (Gặp Lạp thì trói), đúng là ta đã bắt trói Phương Lạp. Hôm nay ứng vào hai câu « Thính triều nhi viên, kiến tín nhi tịch ». Nay đã nghe tiếng « triều tín » đúng là đến lúc ta « viên tịch ». Nhưng xin chư vị hoà thượng giải thích cho lão gia thế nào là « viên tịch » ?
Các sư nói :
- Hoà thượng là kẻ xuất gia, lẽ nào lại không hiểu từ nhà Phật. « Viên tịch » có nghĩa là chết đấy.
Lỗ Trí Thâm cười đáp :
- Dù « viên tịch » nghĩa là chết chăng nữa thì hôm nay lão gia cũng tất phải « viên tịch » thôi. Cảm phiền chư vị cho một thùng nước nóng để lão gia tắm rửa.
Các nhà sư tưởng Lỗ Trí Thâm nói đùa, lại thấy tính nết của hoà thượng ấy như thế, chẳng ai dám không theo, đành cho người đun nước bưng đến.
Lỗ Trí Thâm tắm gội xong, bèn khoác áo cà sa vua ban, rồi bảo viên quân hiệu tuỳ tòng :
- Ngươi hãy đi báo để huynh trưởng Tống Công Minh đến thăm lão gia.
Rồi Lỗ Trí Thâm hỏi nhà chùa cho mượn bút giấy viết một bài tụng. Viết xong, Lỗ Trí Thâm lên nhà giảng lấy ghế toạ thiền, đốt một lò hương thơm, đặt bài tụng trên giường rồi ngồi kiết già mà hoá.
Tống Công Minh được tin báo vội dẫn các đầu lĩnh đến nơi thì Lỗ Trí Thâm đã bất động trên chiếu toạ thiền. Bài tụng của Lỗ Trí Thâm để lại như sau :

Bình sinh bất tu thiện quả
Chỉ ái sát nhân phóng hoả
Hốt địa đốn khai kim thằng
Gía lý xả đoạn ngọc toả.
Di :
Tiền Đường giang thượng triều tín lai
Kim nhật phương trị ngã thị ngã.


Dịch :

Bình sinh chẳng tu thiện quả
Chỉ thích sát nhân phóng hoả
Chợt tỉnh tháo tung giày vàng
Tới đây giật phăng khoá ngọc
Ôi !
Tiền Đường nghe sóng triều vang dội
Mới tỉnh ra rằng ta là ta.


Tống Giang và Lư Tuấn Nghĩa xem xong lời kệ của Lỗ Trí Thâm, bùi ngùi than tiếc hồi lâu. Các đầu lĩnh đều đến thắp hương lạy viếng Lỗ Trí Thâm. Trương chiêu thảo, Đồng khu mật và các quan ở trong thành Hàng Châu cũng đến viếng Tống Giang, lấy vàng lụa của riêng biếu các sư chùa Lục Hoà, nhờ nhà chùa lập đàn cầu siêu ba ngày ba đêm, cho đóng quan tài hình tháp sơn đỏ, lên núi Kinh Sơn mời Đại Huệ thiền sư xuống chủ trì lễ thiêu hoá cho Lỗ Trí Thâm. Sư sãi các chùa quanh vùng biết tin cũng đều đến tụng kinh, cùng rước quan tài ra sau tháp Lục Hoà hoả thiêu. Đại Huệ thiền sư cầm bó đuốc chỉ vào quan tài Lỗ Trí Thâm nói mấy lời pháp ngữ :

Lỗ Trí Thâm ! Lỗ Trí Thâm !
Khởi thân tự lục lâm
Lưỡng chỉ phóng hoả nhãn
Nhất phiến sát nhân tâm
Hốt địa tuỳ triều quy khứ
Qủa nhiên vô xứ căn tầm
Đốt !
Giải sử mãn không phi bạch ngọc
Nâng linh đại địa tác hoàng câm


Dịch :

Này Lỗ Trí Thâm ! Trí Thâm !
Xuất thân chốn lục lâm
Hai con mắt phóng hoả
Một ác tâm sát nhân
Bỗng chốc theo sóng triều quy tịch
Quả nhiên không xứ sở truy tầm
Này !
Nếu không trên trời bay ngọc trắng
Thì đầy mặt đất rải hoàng kim !


Đại Huệ thiền sư châm lửa xong, các nhà sư tụng kinh sám hối, hoả thiêu quan tài sau tháp Lục Hoà, rồi thu nhặt xá lợi đặt thờ trong tháp. Các di vật của Lỗ Trí Thâm như áo cà sa, bát ăn cơm cùng vàng bạc được triều đình và các quan ban thưởng đều nộp vào chùa Lục Hoà để các sư sử dụng. Cả cây thiền trượng sắt và chiếc áo thụng đen không tay cũng để lại cả cho nhà chùa.
Tống Giang đến thăm Võ Tòng nay đã trở thành người tàn phế. Võ Tòng nói :
- Tiểu đệ này đã trở thành người tàn phế, không muốn về kinh triều cận nữa. Có ít vàng bạc được ban thưởng, đệ xin cũng vào chùa Lục Hoà để dùng vào Phật sự. Đệ chỉ mong được thanh thản làm một người tu hành là tốt lắm rồi. Huynh trưởng làm khai sách gửi về triều xin đừng ghi tên đệ nữa.
Tống Giang nói :
- Việc đó tuỳ hiền đệ !
Từ đó Võ Tòng ở lại tu hành tại chùa Lục Hoà, đến tám mươi tuổi không bệnh mà mất, nhưng đó còn là câu chuyện về sau.
Lại nói tiên phong Tống Giang hàng ngày đều vào trong thành chờ lệnh, đợi khi quân mã của Trương chiêu thảo lên đường thì đem quân vào đóng trong thành để thay thế. Sau chừng nửa tháng có sứ giả của triều đình mang sắc chỉ đến truyền lệnh cho Tống tiên phong đem quân về kinh. Trương chiêu thảo, Đồng khu mật, đô đốc Lưu Quang Thế, hai tham mưu họ Tùng, họ Cảnh, đại tướng Vương Lẫm, Triệu Đàm dẫn người ngựa đi tiếp sau về kinh. Đến lúc khởi hành, không ngờ Lâm Xung bị trúng gió cảm bệnh, Dương Hùng chết vì nhọt độc ở sau lưng. Thời Thiên cũng bị bệnh trĩ mà chết. Tống Giang buồn rầu thương tiếc vô hạn. Quan huyện Đan Đồ lại gửi văn thư đến báo tin Dương Chí đã chết, thi hài mai táng ở vùng núi trong huyện. Lâm Xung bị trúng gió chạy chữa mãi không khỏi, phải nghỉ lại ở chùa Lục Hoà, giao cho Võ Tòng chăm sóc, nửa năm sau thì qua đời.
Lại nói Tống Giang và các tướng rời Hàng Châu lên đường về kinh. Dọc đường, một hôm Lãng tử Yến Thanh đến gặp riêng Lư Tuấn Nghĩa, nói :
- Tiểu nhân từ nhỏ theo hầu ân chủ, được nhờ ơn đức đã nhiều, một lời không nói hết. Nay việc lớn đã xong, tiểu đệ muốn được cùng ân chủ nộp trả lại quan bằng rồi tìm nơi yên tĩnh mà sống cho đến trọn đời. Chẳng hay tôn ý ân chủ thế nào ?
Lư Tuấn Nghĩa đáp :
- Từ khi ở Lương Sơn Bạc về quy thuận triều đình, anh em ta xông pha trăm trận, vất vả ở chốn biên cương, anh em bị tổn thất nặng nề, mà một nhà ta với ngươi được sống sót, thật là may mắn lắm. Chính ta đang muốn áo gấm về làng để được phong thê ấm tử, sao hiền đệ lại muốn chuốc một kết quả như thế ?
Yến Thanh cười đáp :
- Ân chủ sai rồi ! Tiểu đệ đi chuyến này tất phải có kết quả. Chỉ lo ân chủ không được hưởng kết quả mà thôi.
Như Yến Thanh, đáng gọi là biết cơ tiến thoái mất còn vậy ! Có thơ làm chứng như sau :

Lược địa công thành chí dĩ thù
Trần từ dục bạn Xích Tùng du
Thời nhân khổ bả công danh luyến
Chỉ phạ công danh bất đáo đầu


Dịch :

Lấy đất xông thành lập chiến công
Lui thân những muốn bạn Xích Tùng
Công danh khổ sở bao người tục
Chỉ sợ công danh chẳng bén cùng.


Lư Tuấn Nghĩa nói :
- Này Yến Thanh, ta không chút dị tâm với triều đình, lẽ nào triều đình lại nỡ phụ ta ?
Yến Thanh đáp :
- Ân chủ há lại không biết công lao Hàn Tín to lớn nhường nào, rốt cuộc bị chém đầu ở cung Vị Ương ; Bành Việt bị muối xác làm mắm ; Anh Bố bỏ mạng vì tên độc đó sao ? Ân chủ nên sớm liệu, chớ để tai hoạ giáng xuống không kịp hối !
Lư Tuấn Nghĩa nói :
- Ta nghe nói Hàn Tín được phong ở Tam Tề rồi tự tiện xưng vương, xui Trần Hy làm loạn ; Bành Việt tự giữ đất Lương không về chầu Cao Tổ, nên nhà tan thân nát ; Anh Bố nhậm chức ở Cửu Giang còn mưu toan thâu tóm non sông nhà Hán, vì thế Hán Cao Tổ mới giả vờ đi chơi đầm Vân Mộng, ngầm để Lữ hậu ở nhà giết đi. Ta tuy chưa từng được ban quan to tước lớn, nhưng cũng chưa từng phạm tội lớn như thế.
Yến Thanh đáp :
- Ân chủ không nghe lời đệ, chỉ sợ về sau hối không kịp. Tiểu đệ định đến từ biệt Tống tiên phong, nhưng huynh trưởng là người trọng nghĩa, tất sẽ không cho tiểu đệ đi. Vì vậy tiểu đệ chỉ xin ân chủ cho từ biệt.
Lư Tuấn Nghĩa nói :
- Hiền đệ sẽ về đâu ?
Yến Thanh đáp :
- Cũng chỉ quanh quẩn không xa ân chủ lắm.
Lư Tuấn Nghĩa cười nói :
- Ta đành phải chìu ngươi vậy. Còn để xem hiền đệ sẽ đi đâu ?
Yến Thanh cúi đầu vái tám vái, rồi ngay đêm ấy thu xếp một ít vàng bạc châu báu, khoác tay nải ra đi, không ai hay biết. Sáng hôm sau quân sĩ nhặt được tờ giấy, đem về trình với Tống giên phong. Đó là bức thư của Yến Thanh gửi cho Tống Giang. Thư viết :
« Ngu đệ Yến Thanh trăm lạy khẩn thiết kính báo dưới cờ của chủ tướng Tống tiên phong –
Từ khi tiểu đệ được thu dùng, đội ơn dầy nghĩa nặng, cũng đã từng liều chết lập công, nhưng khó báo đền muôn mặt. Nay xét mình mệnh bạc thân hèn, không kham đặng sự trọng dụng của triều đình. Tiểu đệ xin được lui về làm kẻ dân thường, an cư nơi sơn dã. Tiểu đệ vẫn muốn đến lạy chào cáo biệt chủ tướng, nhưng nghĩ rằng chủ tướng coi trọng nghĩa khí, không để cho tiểu đệ ra đi, chỉ còn cách phải lẻn đi trong đêm vắng. Nay xin để lại bốn câu làm lời từ biệt, cúi mong chủ tướng thứ tội cho :

Nhạn tự phân phi tự khả kinh
Nạp hoàn quan cáo bất cầu vinh
Thân biên tự hữu quân vương xá
Sái thoát phong trần quá thử sinh


Dịch :

Nhạn mỏi chia bay thật lạnh mình
Quan bằng xin trả chẳng cầu vinh
Bên mình đã có thư ân xá (nhắc lại việc Yến Thanh được Tống Huy Tông tự tay viết lệnh ân xá)
Thoát khỏi phong trần hết kiếp sinh.


Tống Giang xem xong thư và bốn câu thơ từ biệt của Yến Thanh, lòng buồn rầu vô hạn. Sau đó Tống Giang cho thu lại quan bằng và thẻ bài của các tướng hiệu đã chết đem về kinh nộp trả triều đình.
Đoàn quân người ngựa của Tống Giang vòng vèo tiến đến dưới thành Tô Châu. Bấy giờ Hỗn giang long Lý Tuấn vờ bị trúng gió nằm ốm liệt giường, sai thuộc hạ đến báo với Tống tiên phong. Tống Giang liền dẫn thầy thuốc đến tận nơi chạy chữa. Lý Tuấn nói :
- Xin huynh trưởng đừng lỡ thời hạn đem quân về kinh để khỏi bị triều đình quở trách. Có lẽ quân của của Trương chiêu thảo đã về kinh lâu rồi. Huynh trưởng có lòng thương Lý Tuấn tôi, xin cho bọn Đồng Uy, Đồng Mãnh ở lại giúp thuốc men chăm sóc, khi nào khỏi bệnh sẽ theo về kinh triều cận xin huynh trưởng cứ yên lòng đem quân về kinh.
Lại nói bọn Lý Tuấn, Đồng Uy, Đồng mãnh trở lại Du Liễu trang tìm bọn bốn anh em Phí Bảo. Theo ước hẹn từ trước, bẩy người bàn bạc,rồi góp chung tài sản, đóng một chiếc thuyền rời cảng Thái Thương, vượt biển ra sinh sống ở ngoại quốc. Về sau Lý Tuấn làm bá chủ một phương hải tần, rồi trở thành quốc vương nước Xiêm La. Bọn Đồng Uy, Phí Bảo cũng được bổ làm quan, sống cuộc đời sung sướng. Đó là chuyện về sau của bọn Lý Tuấn. Có thơ rằng :

Tri kỷ quân tử sự
Minh triết mại di luân
Trọng kết nghĩa trung nghĩa
Cánh tàn thân ngoại thân
Tám Thuỷ chu vu hệ
Du Trang liễu hựu tân
Thuỷ tri thiên hải khoát
Biệt hữu nhất gia nhân


Dịch :

Quân tử tự biết mình
Sáng suốt vượt thường tình
Giữ gìn nghĩa trọng nghĩa
Vẹn toàn mình ngoài mình
Tầm Dương thuyền chẳng buộc
Du Trang liễu vừa xanh
Ai hay trời biển rộng
Riêng có một gia đình


Lại nói Tống Giang và các tướng dẫn người ngựa về kinh, chuyện trên đường đi không có gì đáng nói. Lại đi qua Thường Châu, Nhuận Châu - những nơi các đầu lĩnh đã cầm quân đánh dẹp. Tống Giang bùi ngùi khôn xiết. Chuyến này người ngựa qua sông trở về, mười phần chỉ còn được hai, ba phần. Qua Dương Châu đến Hoài An, đường về kinh sư không còn bao xa nữa. Tống Giang truyền lệnh cho các tướng sửa soạn để vào triều cận. Ngày hai mươi tháng chín, ba quân người ngựa về đến Đông Kinh. Trương chiêu thảo dẫn quân mã ở dinh trung quân vào thành trước. Người ngựa của Tống Giang dừng lại đóng trại tại trạm Trần Kiều ở ngoài thành để chờ thánh chỉ. Có viên tiểu hiệu ở lại hầu hạ Lý Tuấn, từ Tô Châu trở về báo với Tống tiên phong, biết Lý Tuấn vì không muốn về kinh làm quan, nên thác cớ đau ốm, nay đã cùng bọn Đồng Uy, Đồng Mãnh đi xa. Tống Giang lại một lần buồn rầu nhớ tiếc. Rồi đó Tống Giang sai Bùi Tuyên kê tên các đầu lĩnh chánh phó tướng hiện có mặt ở kinh đô, tất cả còn hai mươi bảy người. Lại ghi cả họ tên những người đã chết vì việc nước vào biểu tạ ơn dâng lên triều đình. Một mặt lệnh cho các chánh phó tướng sửa soạn khăn áo đợi lệnh vào chầu thiên tử. Ba ngày sau, Huy Tông hoàng đế ngự triều, các cận thần tâu xin cho bọn Tống Giang vào triều kiến.
Ngày hôm ấy, vừng đông vừa rạng, Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa và các đầu lĩnh, tất cả hai mươi bảy chánh phó tướng tiếp được thánh chỉ liền lên ngựa vào thành. Dân chúng Đông kinh đổ ra đường đứng xem, ai cũng biết đó là lần thứ ba anh em Tống Giang vào triều kiến. Nghĩ lại lần đầu tiên khi mới nhận chiêu an, anh em Tống Giang được ban áo gấm màu hồng, màu lục, đeo thẻ vàng, thẻ bạc vào thành triều kiến. Khi đánh lui quân Liêu trở về kinh, thiên tử cho phép mặc nhung y, khoác giáp trụ vào chầu. Lần này dẹp yên Phương Lạp trở về kinh sư, lệnh riêng của thiên tử chỉ cho phép Tống Giang và các đầu lĩnh mặc áo dài khăn chít vào triều cận. Dân chúng Đông Kinh thấy anh em Tống Giang chỉ còn bấy nhiêu người trở về, ai cũng mũi lòng thương xót. Đến dưới cửa Chính Dương, anh em Tống Giang đều xuống ngựa đi bộ vào Hoàng thành. Quan thị ngự sử dẫn các tướng đến trước bệ ngọc ở Đan Trì. Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa đứng trước hàng, bước lên quỳ lạy tám lạy, lùi xuống lại quỳ lạy tám lạy, rồi bước đến khoảng giữa lạy tám lạy nữa, tất cả là hai mươi tư lạy, - bụi bốc mờ sân, tiếng hô dậy đất. Nghi lễ bái yết đã xong, thấy anh em Tống Giang nay chỉ còn lại bấy nhiêu người, Huy Tống hoàng đế động lòng thương xót. Thiên tử truyền cho các tướng được lên trên điện, Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa dẫn các đầu lĩnh bước lên thềm vàng, quỳ dưới bức rèm đỏ. Thiên tử cho anh em Tống Giang đứng dậy, các quan hầu cận cũng vừa cuốn bức rèm châu. Thiên tử nói :
- Trẫm biết các khanh đi dẹp ở Giang Nam, chịu nhiều vất vả, anh em các khanh tổn thất sinh mạng đến quá nửa, trẫm rất đau lòng thương xót !
Tống Giang nước mắt ràn rụa, sụp lạy hai lạy, tâu :
- Bọn thần tài hèn sức mọn, dẫu gan óc bết đất nơi chiến địa cũng chưa đủ báo đền ơn lớn của triều đình. Nghĩ ngày trước khi mới tụ nghĩa, anh em Tống Giang thần, tất cả một trăm linh tám người, cùng lên núi Ngũ Đài thề nguyện sống chết có nhau. Ngờ đâu ngày nay mười phần đã mất đến bảy tám ! Bọn thần có tờ khai ghi rõ số người, nhưng chưa dám tự tiện dâng lên. Cúi trông bệ hạ xét tỏ.
Hoàng đế nói :
- Các tướng bộ hạ của khanh chết vì vương sự, trẫm sẽ truyền cho xây đắp phần mộ để công lao không mai một.
Tống Giang hai lạy bước lên dâng tờ biểu. Biểu văn viết :
« Thần là Tống Giang được ban chức Bình Nam đô tổng quản, chánh tiên phong sứ, kính cẩn dâng biểu :
Cúi nghĩ bọn Tống Giang thần là kẻ ngu vụng kém tài, làm chức lại nhỏ ở nơi quê mùa cô quạnh, ngày trước trót phạm tội lớn vô bờ, may được đội nhờ ơn lớn. Trời cao đất dầy, khôn báo đáp, thân nát xương tan khó báo đền. Họp sức tay chân rời bến nước, dẹp gian tà ; chung lòng huynh đệ lên Ngũ Đài thề nguyện ước. Lòng trung đại nghĩa, giữ nước yên dân. Thành U Châu hỗn chiến diệt quân Liêu, động Thanh Khê trổ tài bắt Phương Lạp. Công mọn gọi chút dâng lên, nào ngờ tướng tài rơi rụng. Thần, Tống Giang đêm ngày khắc khoải, sớm tối âu sầu. Cúi trông thánh ý rủ lòng soi xét, khiến kẻ chết được nhuần ơn trạch, mà người sống cũng dự phúc ấm dài lâu. Thần, Tống Giang xin được trở về vườn ruộng vui cảnh nông phu, ấy thực bệ hạ ban lòng nhân dưỡng dục. Bọn Tống Giang vô vàn sợ hãi, kính cẩn ghi số người còn sống và số người đã chết dâng kèm theo kiểu này.
Các viên chánh phó tướng đã chết khi đi đánh trận : 59 người.
Chánh tướng 14 người, đó là :
Tần Minh, Từ Ninh, Đổng Bình, Trương Thanh, Lưu Đường, Sử Tiến, Sách Siêu, Trương Thuận, Nguyễn Tiểu Nhị, Nguyễn Tiểu Ngũ, Lôi Hoành, Thạch Tú, Giải Trân, Giải Bảo.
Phó tướng 45 người, đó là :
Tống Vạn, Tiêu Đĩnh, Đào Tông Vượng, Hàn Thao, Bành Kỷ, Trịnh Thiên Thọ, Tào Chính, Vương Định Lục, Tuyên Tần, Khổng Lượng, Thi Ân, Hách Tư Văn, Đặng Phi, Chu Thông, Cung Vượng, Bao Húc, Đoàn Cảnh Trụ, Hầu Kiện, Mạnh Khang, Vương Anh, Hồ Tam Nương, Hạng Sung, Lý Cổn, Yến Thuận, Mã Lân, Đan Đình Khuê, Nguỵ Định Quốc, Lã Phương, Quách Thịnh, Âu Bằng, Trần Đạt, Dương Xuân, Úc Bảo Tứ, Lý Trung, Tiết Vĩnh, Lý Văn, Thạch Dũng, Đỗ Thiên, Đinh Đắc Tôn, Trâu Uyên, Lý Lập, Thang Long, Sái Phúc, Trương Thanh, Tôn Nhị Nương.
Các chánh phó tướng ốm chết dọc đường, 10 người.
Chánh tướng, 5 người :
Lâm Xung, Dương Chí, Trương Hoành, Mục Hoằng, Dương Hùng.
Phó tướng, 5 người :
Khổng Minh, Chu Quý, Chu Phú, Thời Thiên, Bạch Thắng.
Quy tịch tại chùa Lục Hoà ở Hàng Châu : 1 người.
Chánh tướng : Lỗ Trí Thâm.
Bị gãy tay không muốn ra làm quan ở lại tu hành tại chùa Lục Hoà : 1 người
Chánh tướng : Võ Tòng
Trước ở kinh, sau xin về tu hành ở Kế Châu : 1 người
Chánh tướng : Công Tôn Thắng.
Các chánh phó tướng không muốn ra làm quan đã bỏ đi trên đường về kinh, 4 người :
Chánh tướng, 2 người :
Yến Thanh, Lý Tuấn.
Phó tướng, 2 người :
Đồng Uy, Đồng Mãnh.
Các phó tướng đã ở kinh từ lần trước và các viên thầy thuốc được lệnh gọi về kinh, 5 người :
An Đạo Toàn, Hoàng Phủ Đoan, Kim Đại Kiên, Tiêu Nhượng, Nhạc Hoà.
Các chánh phó tướng hiện ở kinh đô chờ vào triều cận, 27 người.
Chánh tướng, 12 người :
Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa, Ngô Dụng, Quan Thắng, Hồ Diên Chước, Hoa Vinh, Sài Tiến, Lý Ứng, Chu Đồng, Đái Tôn, Lý Quỳ, Nguyễn Tiểu Thất.
Phó tướng, 15 người :
Chu Vũ, Hoàng Tính, Tôn Lập, Phàn Thuỵ, Lăng Chấn, Bùi Tuyên, Tưởng Kinh, Đỗ Hưng, Tống Thanh, Trâu Nhuận, Sài Khánh, Dương Lâm, Dương Xuân, Tôn Tân, Cố Đại Tẩu.
Niên hiệu Tuyên Hoà, thứ năm (1113), tháng 9 ngày…
Tiên phong sứ
Thần : Tống Giang
Phó tiên phong
Thần : Lư Tuấn Nghĩa
Kính cẩn dâng biểu. »

Hoàng đế xem xong biểu than tiếc hồi lâu rồi nói :
- Bọn các khanh một trăm linh tám người, ứng với các ngôi sao trên trời, nay chỉ còn hai mươi bảy người trở về, lại hai người bỏ đi không muốn làm quan, thật đúng là mười phần mất tám !
Sau đó thiên tử truyền thảo sắc chỉ ban tước cho các viên chánh phó tướng đã chết vì vương sự. Chánh tướng được bạn tước Trung vũ lang, phó tướng được ban tước Nghĩa tiết lang. Nếu bọn họ có con cháu thì cho phép được về kinh thừa hưởng tập ấm. Nếu không có con cháu thì cho lập miếu thờ cúng. Riêng Trương Thuận hiển linh có công, sắc phong là Kim Hoa tướng quân. Nhà sư Lỗ Trí Thâm có công bắt sống đầu sỏ giặc, viên tịch ở chùa Lục Hoà, gia tặng tước Nghĩa liệt chiếu ký thiền sư. Võ Tòng có công đánh giặc, vì bị thương tật, ở lại tu hành tại chùa Lục Hoà, gia phong Thanh Trung tổ sư, ban cho mười vạn quan tiền để sinh sống trọn đời. Hai nữ tướng tử trận : Hồ Tam Nương tặng thêm tước Hoa Dương quận phu nhân, Tôn Nhị Nương gia tước Tĩnh Đức quận quân. Các tướng về triều cận, trừ chức tiên phong có tước phong riêng, còn lại mười viên chánh tướng đều được trao chức Vũ tiết tướng quân, bổ nhậm làm thống chế ở các châu. Phó tướng mười lăm người được trao chức Vũ dịch lang, được bổ nhậm làm đô thống lĩnh, chịu quyền điều hành của các bộ chủ quản quân dân và các sảnh viện. Nữ tướng Cố Đại Tẩu được trao chức Đông Nguyên huyện quân.
Tiên phong sứ Tống Giang được thăng hàm Vũ đức đại phu, bổ chức An phủ sứ kiêm binh mã đô tổng quản Sở Châu .
Phó tiên phong Lư Tuấn Nghĩa được thăng hàm Vũ công đại phu, bổ chức An phủ sứ kiêm bình mã phó tổng quản Lư Châu.
Quân sư Ngô Dụng được trao chức Thừa tuyên sứ quận Vũ Thắng .
Quan Thắng được trao chức Chánh binh mã tổng quân phủ Đại Danh.
Hồ Diên Chước được trao chức binh mã chỉ huy sứ Ngự doanh.
Hoa Vinh được trao chức Đô thống chế phủ Thương Châu quận Hoành Hải.
Lý Ứng được trao chức Đô thống chế quận Huy Châu phủ Trung Sơn.
Chu Đồng được trao chức Đô thống chế phủ Bảo Định.
Đái Tôn được trao chức Đô thống chế phủ Duyên Châu.
Lý Quỳ được trao chức Đô thống chế quận Trấn Giang phủ Nhuận Châu.
Nguyễn Tiểu Thất được trao chức Đô thống chế quận Cái Thiên.
Các chánh phó tướng vâng sắc mệnh hoàng đế phong quan trao chức, làm lễ tạ ơn chờ mệnh lệnh, được ban thưởng ; phó tướng mười lăm người, mỗi người ba trăm lạng vàng bạc, lụa màu năm tấm ; chánh tướng mười người, mỗi người năm trăm lạng vàng bạc, lụa màu tám tấm. Tiên phong sứ Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa mỗi người đều được ban một nghìn lạng vàng bạc, gấm vóc mười tấm, áo gấm hoa một chiếc, ngựa tốt một con.
Bọn Tống Giang làm lễ tạ ơn xong, lại tâu lên thiên tử về việc thần Ô Long đại vương ở Mục Châu hai lần hiển linh giữ nước yên dân, giúp tướng sĩ giành toàn thắng. Thiên tử chuẩn tâu, gia phong là Trung tinh linh đức phổ hựu phu huệ Long Vương. Thiên tử đích thân phê đổi tên Mục Châu là Nghiêm Châu. Hấp Châu đổi là Huy Châu, vì đó là những nơi Phương Lạp làm phản cho nên chọn chữ trái nghĩa để đặt tên mới. Huyện Thanh Khê đổi là huyện Thuần An, xứ Tạc Tỉnh ở động Bang Nguyên đổi là Sơn Đảo. Thiên tử ban sắc chỉ truyền cho quan bản châu xuất tiền kho xây miếu Ô Long đại vương, tự tay ban chữ để biển hiện, đến nay di tích ấy vẫn còn. Vùng Giang Nam bị quân Phương Lạp tàn phá, dân chúng bị thiệt hại nhiều, cho miễn sai dịch ba năm.
Ngày hôm ấy anh em Tống Giang làm lễ tạ ơn xong, thiên tử truyền mở tiệc lớn chúc cuộc thái bình, mừng các bề tôi có công. Các quan văn võ tại triều đều đến dự yến đông đủ. Yến tiệc chúc mừng đã xong, các tướng lại tạ ơn lần nữa. Tống Giang tâu :
- Anh em chúng thần từ khi ở Lương Sơn Bạc nhận chiếu chiêu an trở về, đến nay quân sĩ thiệt mạng quá nửa. Nhiều người sống sót, hiện còn trong quân ngũ có nguyện vọng muốn trở về quê nhà, cúi xin bệ hạ rộng lòng thương xót.
Thiên tử chuẩn tâu, xuống sắc truyền rằng : « Các quân sĩ đi đánh về ai tự nguyện ở lại trong quân thì ban cho một trăm quan tiền, mười tấm lụa, giao về hai doanh Long Mãnh và Hổ Uy thu nhận luyện tập, hàng tháng được hưởng lương bổng, ai không muốn ở lại trong quân thì cấp hai trăm quan tiền và mười tấm lụa, cho phép về làng làm dân, chịu sai dịch ».
Tống Giang lại tâu rằng :
- Thần vốn sinh trưởng ở huyện Vận Thành, từ ngày mắc tội đến nay không dám về thăm. Nay cúi xin thánh thượng rộng ơn, cho ngày nghỉ để về làng bái yết từ đường, quét dọn phần mộ, thăm hỏi tộc thuộc thân thích, sau đó sẽ đi nhận chức tại Sở Châu. Thần chưa dám tự tiện, cúi chờ xin thánh chỉ.
Thiên tử vui vẻ chuẩn tâu, ban cho Tống Giang mười vạn quan tiền để về thăm quê quán. Tống Giang tạ ơn thiên tử rồi cáo từ lui về.
Ngày hôm sau, trung thư sảnh lại mở tiệc thái bình khoản đãi các tướng. Hôm sau nữa khu mật viện tiếp tục mở tiệc chúc mừng. Trương chiêu thảo, Lưu đô đốc, Đồng khu mật, hai tham mưu họ Tùng, họ Cảnh, hai đại tướng họ Vương, họ Triều đã được triều đình thăng chức gia tước, không nói đến ở đây nữa. Thái Ất viện làm tờ tấu xin thiên tử cho đem Phương Lạp ra giữa chợ Đông Kinh xử lăng trì (cực hình chặt chân tay, cắt thịt tội nhân cho đến chết), bêu thây ba ngày cho dân chúng biết. Có thơ làm chứng .

Tống Giang trọng thưởng thăng quan nhật
Phương Lạp đương hình thụ quả thì
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo
Chỉ tranh lại tảo dữ lại trì
.

Dịch :

Tống Giang trọng thưởng thăng quan chức
Phương Lạp lăng trì chịu cực hình
Thiện ác cuối cùng đều quả báo
Khác nhau chỉ ở chậm hay nhanh.


Lại nói Tống Giang tâu xin thánh chỉ cho phép về thăm quê nhà, còn tướng sĩ dưới quyền ai tự nguyện ở lại trong quân thì ghi tên rồi đưa đến hai doanh Long Mãnh và Hổ Uy để tập luyện, cấp cho quân mã để đóng giữ ; ai muốn làm dân thì cho tiền bạc để về quê làm dân, chịu sai dịch. Các viên phó tướng ai nấy đều nhận phẩm ban thưởng, lĩnh quan bằng để đi nhậm chức cai quản quân dân, giữ gìn cương giới.
Tống Giang cắt đặt mọi việc đã xong bèn từ biệt mọi người, rồi cùng em là Tống Thanh đem theo hai trăm quân hầu, gồng gánh báu vật, đồ thưởng, hành lý áo quân rời Đông Kinh cắt đường đi về phía Sơn Đông. Hai anh em Tống Giang, Tống Thanh ngồi trên ngựa rời kinh đô, vẻ vang áo gấm về làng, chuyện trên đường đi không có gì đáng nói.
Về đến Tống Gia thôn ở huyện Vận Thành tỉnh Sơn Đông, người giả cả thân thích trong làng đều ra đón tiếp. Tống Giang về đến trang trại, không ngờ Tống thái công đã mất, linh cữu hiện quàn chưa táng. Tống Giang, Tống Thanh gào khóc thảm thương, buồn rầu khôn xiết. Người nhà và các trang khách đều đến lạy chào anh em chủ nhân. Gia tư điền sản trong trang viện Tống thái công đều đã cho kẻ biên, sắp xếp mọi thứ như cũ. Tống Giang dựng đàn chay mời tăng nhân, đạo sĩ đến làm lễ cầu siêu, bố thí công đức cầu xin xá tội cho vong linh cha mẹ và những người thân đã khuất. Các quan viên chức sắc châu huyện đến viếng thăm không ngớt. Tống Giang chọn ngày lành giờ tốt làm lễ rước linh cữu Tống thái công lên an táng trên khu đồi cao. Ngày hôm ấy quan viên phụ lão thân bằng cố hữu trong bản châu đến đưa tang, công việc xong xuôi, tưởng chuyện không có gì đáng nói.
Nhớ đến nguyện vọng của Huyền Nữ chưa được báo đáp, Tống Giang bèn xuất trăm vạn quan tiền thuê thợ xây miếu Cửu Thiên Huyền Nữ. Hai bên hành lang cửa miếu có tượng Huyền Nữ và các bức tranh màu, mọi việc đều đã xong xuôi chu đáo. Thấm thoát ngày tháng ở thăm quê đã hết. Tống Giang sợ thiên tử quở trách, bèn chọn ngày lằm lễ bỏ áo tang, lại mở đạo tràng cúng lễ suốt mấy ngày. Sau cùng Tống Giang mở tiệc lớn mời các bậc phụ lão tông trưởng trong làng đến thiết đãi, từ tạ để về kinh. Ngày hôm sau bà con thân thích bày tiệc, tiễn đưa Tống Giang lên đường, việc không có gì đáng nói. Tống Giang cắt một phần đất đai của trang viện giao cho Tống Thanh, tuy có nhận quan tước, nhưng chỉ ở quê nhà làm nghề nông - để làm đất hương hoả thờ phụng tổ tiên, tiền bạc vải lụa còn lại đều chia phát hết cho dân làng.
Tống Giang ở quê mấy tháng, rồi từ biệt bà con dân làng để về kinh gặp lại các anh em đầu lĩnh. Bấy giờ có người đã đem vợ con gia quyến về kinh, cũng có người đã lên đường đi nhậm chức. Những anh em tử trận, vợ con đã được triều đình ban cấp vàng lụa và cho về quê cũ để sinh sống. Sau khi trở lại kinh đô, Tống Giang lo liệu cho họ lên đường trở về. Mọi việc thu xếp xong xuôi, Tống Giang vào triều chờ lệnh, đến từ biệt các quan ở sảnh viện, rồi thu xếp hành trang lên đường đi nhậm chức. Đúng lúc đó Thần hành thái bảo Đái Tôn đến thăm Tống Giang. Hai người cùng nhau trò chuyện, chỉ biết rằng Tống Công Minh :

Sống là anh hùng huyện Vận Thành
Chết làm thần thiêng đầm Răm Đỏ


Đúng là :

Ào ào gió buốt qua miếu vũ
Đường đường di tượng ngút hương bay


Chưa biết Đái Tôn nói với Tống Giang chuyện gì, xem hồi sau sẽ rõ.


Hết hồi 119
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ MỘT TRĂM HAI MƯƠI

Tống Công Minh hồn tụ đầm Lục Nhi
Tống Huy Tông mộng du Lương Sơn Bạc


Đang nói chuyện Tống Giang hiển đạt về thăm quê rồi trở lại Đông Kinh gặp lại các anh em đầu lĩnh, đốc thúc mọi người sửa soạn hành trang lên đường đi nhậm chức.
Thần hành thái bảo Đái Tôn đến thăm Tống Giang, hai người ngồi bàn chuyện phiếm một lúc, Đái Tôn đứng dậy nói :
- Tiểu đệ đội ơn thiên tử được bổ đi giữ chức Đô thống chế huyện Duyên Châu, nay muốn đem tấm bằng quan trả lại, trở về miếu Ngũ Nhạc ở châu Thái An chăm lo việc đèn hương thờ cúng, mong được thảnh thơi, sống đến hết đời. Được như thế thật là may mắn lắm.
Tống Giang nói :
- Sao hiền đệ lại nẩy ra ý nghĩ ấy ?
Đái Tôn đáp :
- Đệ chiêm bao thấy Thôi phủ quân cho lính đến gọi, nên mới phát nguyện dốc lòng làm việc thiện.
Tống Giang nói :
- Hiền đệ đang lúc sống đây đã có tiếng là Thần hành thái bảo, ngày sau ắt sẽ làm vị thần thiêng được thờ trong Nhạc miếu.
Sau buổi từ biệt hôm ấy, Đái Tôn trả lại quan bằng, trở về châu Thái An làm thủ từ, ở luôn trong Nhạc miếu, ngày đêm chăm chỉ việc đèn hương thờ phụng Ngọc hoàng thượng đế, tấm lòng thành kính thảnh thơi. Mấy tháng sau, một hôm đang lúc vui vẻ, không ốm đau bệnh tật, Đái Tôn mời đạo hữu đến vĩnh biệt, rồi cười vang mà mất. Sau đó Đái Tôn thường hiển linh ở Nhạc miếu. Người trong châu đến làm lễ tế rồi đắp tượng đặt thờ trong miếu. Khung sườn của pho tượng ấy chính là di thể của Đái Tôn.
Nguyễn Tiểu Thất sau khi nhậm chức quan bằng của triều đình đã đến chào từ biệt Tống Giang rồi lên đường đi nhậm chức Đô thống chế ở quận Cái Thiên. Hai tên đại tướng Vương Lẫm, Triệu Đàm chưa quên mối thù dạo trước bị Tiểu Thất mắng cho bẽ mặt ở động Bang Nguyên, trước mặt khu mật Đồng Qúan bọn chúng nhiều lần bới tội, nói Tiểu Thất dám tự tiện mặc hoàng bào, đeo đai ngọc của Phương Lạp, tuy chỉ là chuyện đùa giỡn nhất thời, nhưng cũng chứng tỏ vẫn ôm ấp ỹ nghĩ bất lương. Nay được bổ đến trấn thủ ở quận Cái Thiên là miền hẻo lánh mọi rợ, thì trước sau gì cũng làm phản. Đồng Quán trình với Sái Kinh để tâu lên thiên tử. Vì thế chỉ mấy tháng sau có lệnh của triều đình đưa xuống truy đoạt quan bằng của Nguyễn Tiểu Thất, bắt trở về làm thứ dân. Tiểu Thất lấy làm mừng, đưa mẹ già trở về thôn Thạch Kê ở Lương Sơn Bạc, lại làm nghề đánh cá để sinh sống, phụng dưỡng mẹ già, rồi qua đời, hưởng thọ sáu mươi tuổi.
Lại nói Tiểu toàn phong Sài Tiến trở lại kinh đô, thấy Đái Tôn trả lại quan bằng tìm nơi nhàn lánh, lại nghe nói Nguyễn Tiểu Thất chỉ vì chuyện lúc trước dám đội mũ triều thiên, mặc áo rồng, đeo đai ngọc của Phương Lạp nên bị triều đình truy đoạt quan tước, đuổi về làm thứ dân. Sài Tiến thầm nghĩ : “Ta cũng đã từng sắm vai phò mã của Phương Lạp, sau này bọn gian thần biết chuyện đặt điều tâu thiên tử thì ta cũng sẽ mắc tội, bị truy đoạt quan bằng, há chẳng là nhục nhã ư ? Chi bằng phải liệu trước để khỏi mang nhục vào thân”. Nghĩ vậy, Sài Tiến bèn thác cớ bị chứng phong thấp, thường bất ngờ phát cơn đau, khó đảm đương công việc, xin được nộp lại quan bằng, trở về làm nghề nông. Sau đó Sài Tiến từ biệt liêu hữu, trở về an nhàn làm kẻ dân thường ở quận Hoành Hải, phủ Thương Châu, rồi bỗng một hôm không bệnh mà mất.
Lý Ứng được bổ chức Đô thống chế ở phủ Trung Sơn đến nhậm chức được nửa năm thì nghe tin Sài Tiến cáo quan về nhà. Lý Ứng nghĩ mình cũng chung một tâm sự, bèn noi theo Sài Tiến dâng sớ lên Trung Thư Sảnh thác cớ mắc bệnh phong thấp không đủ sức làm quan, xin nộp trả quan bằng trở về ở thôn Độc Long Cương. Về sau Lý Ứng cùng với Đỗ Hưng làm ăn trở nên giàu có, cả hai đều được sống lâu.
Quan Thắng giữ chức Tổng quản binh mã ở phủ Đại Danh thành Bắc Kinh, rất được lòng quân sĩ, ai nấy đều lấy làm khâm phục. Một hôm Quan Thắng đi thao luyện quân mã trở về, nhân lúc say rượu, sẩy chân ngã ngựa, lâm bệnh rồi mất.
Hồ Diên Chước giữ chức Chỉ huy sứ ở ngự doanh, hàng ngày thao luyện võ bị, hộ giá hầu vua, sau thống lĩnh đại quân đi đánh quân Kim, đuổi đánh thái tử thứ tư con vua Ngột Truật đến tận Hoài Tây thì tử trận. Chỉ có Chu Đồng giữ chức Quản quân ở phủ Bảo Định lập được chiến công, sau theo Lưu Quang Thế cả phá quân Kim, được thăng chức Tiết độ sứ ở quận Thái Bình.
Hoa Vinh đem vợ con và em gái đến nhiệm sở ở phủ Ứng Thiên. Ngô Dụng từ trước vẫn sống độc thân, chỉ đưa theo một đứa tiểu đồng đến nhậm chức ở quận Vũ Thắng. Lý Quỳ cũng chỉ một mình đưa theo hai người hầu đi nhậm chức ở Nhuận Châu. Tại sao chỉ nói ba người kia đến nhiệm sở, còn số phận kết thúc ra sao thì không nói đến? Đó là vì bẩy viên chánh tướng nói ở đoạn trênvề sau không gặp lại nữa, nên phải kể luôn chung cục của từng người. Còn năm chánh tướng Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa, Hoa Vinh, Ngô Dụng, Lý Quỳ thì về sau còn gặp lại. Cuộc đời kết thúc ra sao, xem tiếp đoạn sau sẽ rõ.
Nói tiếp chuyện Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa ở lại kinh đô phân phát đồ thưởng của triều đình cho anh em các tướng, đốc thúc mọi người đi nhậm chức. Còn những người đã chết vì vương sự thì gia quyến theo số người nhiều ít được cấp vàng bạc vải lụa, đưa về quê nhà, cho tuỳ ý làm ăn sinh sống.
Mười lăm phó tướng còn sống trở về kinh đô, không kể Tống Thanh là em ruột Tống Giang đã về quê làm ruộng. Đỗ Hưng cùng về quê với Lý Ứng, còn nữa thì Hoàng Tín lại trở về nhậm chức ở Thanh Châu, Tôn Lập cùng với vợ chồng em là Tôn Tân, Cố Đại Tẩu đưa gia đình về phủ Đăng Châu giữ chức việc cũ. Trần Nhuận không muốn làm quan, xin trở về núi Đăng Vân làm ăn sinh sống. Sái Khánh theo Quan Thắng về Bắc Kinh làm dân thường. Bùi Tuyên và Dương Lâm, sau khi bàn bạc với nhau, cả hai đều xin trở về vùng suối An Mã giữ chức quan nhỏ. Tưởng Kính nhớ quê, xin được trở về Đàm Châu làm dân thường. Chu Vũ đến truyền thụ đạo pháp cho Phàn Thuỵ, rồi cả hai người làm đạo sĩ đi vân du giang hồ, theo Công Tôn Thắng xuất gia tu hành đến trọn đời. Mục Xuân trở về làm lương dân ở quê nhà, tại trấn Yết Dương. Pháo thủ Lăng Chấn có biệt tài, được bổ chức ở Hoả dược cục thuộc Ngự Doanh. Năm phó tướng trước đã được giữ lại làm việc ở kinh sư thì : An Đạo Toàn được bổ chức Kim tử y quan ở Thái y viện, Hoàng Phủ Đoan làm đại sứ ở Ngự mã giám như cũ, Kim Đại Kiên vẫn làm chức việc cũ ở Ngự bảo giám thuộc Nội phủ, Tiêu Nhượng được bổ chức Môn quan tiên sinh ở phủ Sái thái sư, Nhạc Hoà trông coi việc ca nhạc ở phủ phò mã Vương đô uý, trọn đời thanh nhàn, chuyện không có gì phải nói l
Lại nói Tống Giang và Lư Tuấn Nghĩa sau khi chia tay mỗi người một ngả đi nhậm chức. Lư Tuấn Nghĩa gia quyến cũng chẳng còn ai, chỉ đem theo mấy tên quân tuỳ tòng lên đường đi Lư Châu. Tống Giang vào tạ ơn từ biệt triều đình, chào các quan ở sảnh viện, đem theo gia nhân đầy tớ mấy người đi nhậm chức ở Sở Châu. Từ đó hai người xa nhau, ai theo việc nấy, cũng không nói tới nữa.
Lại nói triều nhà Tống, nguyên từ khi vua Thái Tông nối ngôi vua Thái Tổ đã bị lời nguyền độc, khiến cho triều đình rối bét, gian nịnh hoành hành. Đến nay thiên tử Tống Huy Tông là bậc chí thánh chí minh, không ngờ cũng bị kẻ sàm nịnh chuyên quyền, bọn gian thần hoành hành, bực hại bậc trung thần lương tướng, thật đáng đau lòng. Chỉ vì bốn tên tặc thần Sái Kinh, Đồng Quán, Cao Cầu, Dương Tiễn phá nước hại dân mà thiên hạ đại loạn. Bấy giờ thái uý Cao Cầu, Dương Tiễn ở phủ Điện suý thấy thiên tử ban thưởng trọng hậu cho anh em Tống Giang thì tỏ ý không bằng lòng. Chúng gặp nhau bàn cách đối phó.
Cao Cầu nói :
- Bọn Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa là kẻ thù của ta, thế mà nay ta lại phải coi chúng như bậc công thần được triều đình phong quan ban tước cho cai quản quân dân. Các quan sảnh viện bọn ta sao khỏi bị người ta chê cười ? Người xưa có câu : “Giận nhỏ không quân tử, không độc chẳng trượng phu!”.
Dương Tiễn nói :
- Hạ quan có một kế, trước hết đối phó với Lư Tuấn Nghĩa để chặt đứt một cánh tay của Tống Giang. Hắn ta là một kẻ anh hùng, nếu định hại hắn trước mà để cho hắn biết thì hỏng việc, gây ra nhiều chuyện bất lợi.
Cao Cầu nói :
- Xin túc hạ cứ cho nghe diệu kế.
Dương Tiễn nói :
- Tìm lấy vài tên quân ở Lư Châu, bảo bọn chúng đến sảnh viện tố cáo an phủ Lư Tuấn Nghĩa chiêu binh mãi mã, ngầm chứa lương thảo, có ý muốn làm phản. Sau đó đưa bọn chúng đến trình ở phủ thaí sư, nhưng không cho thái sư biết sự thật. Chờ thái sư tâu lên thiên tử xin thánh chỉ định đoạt, lúc đó sẽ sai người dụ hắn về kinh, rồi nhân khi thiên tử ban yến, ta sẽ ngầm trộn thuỷ ngân vào thức ăn khiến hắn phải truỵ thận, không làm được việc gì nữa. Thế là yên chuyện. Sau đó sai sứ giả đem ngự tửu đến ban cho Tống Giang, trong rượu bỏ thuốc độc chậm, chỉ trong vòng nửa tháng thì vô phương cứu chữa.
Cao Cầu nói :
- Thật là đại diệu kế ?
Có thơ rằng :

Tự cổ quyền gian hại thiện lương
Bất dung trung nghĩa lập gia bang
Hoàng thiên nhược khẳng minh chiêu báo
Nam tác bài ưu, nữ tác xương.


Dịch :

Giận lũ quyền gian đạo phá đạo thường
Bịt đường rấp lối hại trung lương
Trời xanh ví biết treo gương xấu
Con đĩ, thằng hề dám nhiễu nhương .



Hai tên tặc thần ấy bàn xong mưu kế liền sai kẻ tâm phúc đi tìm hai người dân quê ở Lư Châu cho ăn mặc giả làm quân sĩ, rồi viết hộ đơn, bảo bọn chúng đưa đến khu mật viện tố cáo Lư Tuấn Nghĩa hiện đang chiêu binh mãi mã, chứa lương thảo ở Lư Châu có ý muốn làm phản, lại nói Lư Tuấn Nghĩa đã sai người sang Sở Châu liên kết với an phủ sứ Tống Giang để cùng nhau dấy loạn. Quan khu mật viện Đồng Quán vốn cũng thâm thù với Tống Giang nên khi hai tên tố cáo đem đơn đến thì Đồng Qúan nhận đơn rồi trình ngay sang phủ thái sư. Sái Kinh nhận đơn rồi trình ngay sang phủ bàn định. Cao Cầu, Dương Tiễn tất nhiên cũng ở trong số đó. Thế là bốn tên gian thần cùng nhau bàn định mưu kế, rồi dẫn cả hai tên tố cáo vào nội phủ tâu lên thiên tử.
Huy Tông hoàng đế nói :
- Trẫm nghĩ bọn Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa trong tay có hơn mười vạn quân đi dẹp giặc bốn phương mà không sinh lòng phản trắc, nay đã bỏ tà theo chính, lẽ nào còn tính chuyện làm phản? Trẫm cũng chưa từng đối xử bội bạc với bọn họ, sao có chuyện họ dám phản lại triều đình? Bên trong hẳn có điều gì gian trá, chưa xét rõ thực hư, chưa thể tin ngay được.
Lúc ấy Cao Cầu, Dương Tiễn đứng bên cạnh tâu rằng :
- Đạo lý như bệ hạ phán dạy là chí phải, nhưng lòng người khó lường. Bọn thần nghĩ Lư Tuấn Nghĩa hẳn là chê quan thấp chức nhỏ cho nên lại sinh lòng phản trắc, không may bị phát giác.
Huy Tông hoàng đế nói :
- Cứ gọi kẻ tố cáo vào đây để trẫm đích thân thẩm vấn.
Sái Kinh, Đồng Quán lại tâu rằng :
- Lư Tuấn Nghĩa là con thú dữ, vẫn chưa đổi lòng. Nếu làm kinh động lọt chuyện ra ngoài thì rất bất lợi, sau khó lòng truy bắt. Chỉ có cách lừa hắn về kinh, bệ hạ sẽ lựa lời phủ dụ, ban yến và ngự tửu cho hắn để dò xét thực hư động tĩnh ra sao. Nếu quả không có chuyện gì thì không cần phải xét hỏi, mà cũng tỏ ra bệ hạ không phụ kẻ công thần.
Thiên tử chuẩn tâu, liền truyền chỉ sai sứ giả đến Lư Châu triệu Lư Tuấn Nghĩa về triều để sai phái công việc.
Sứ giả vâng lệnh đến Lư Châu, các quan văn võ lớn nhỏ ra ngoài thành nghênh đón, mời sứ giả vào phủ đường tuyên đọc chiếu thư.
Lư Tuấn Nghĩa nghe truyền thánh chỉ, vội thu xếp công việc rồi theo sứ giả rời Lư Châu về kinh. Chuyện trên đường đi không cần nói đến. Chẳng bao lâu Lư Tuấn Nghĩa về đến Đông Kinh, vào nghỉ ở ty Hoàng Thành.
Ngày hôm sau, từ sáng sớm, Lư Tuấn Nghĩa đã đến ngoài cửa Đông Hoa chờ buổi chầu sáng. Bấy giờ thái sư Sái Kinh, khu mật viện Đồng Quán, hai thái uý Cao Cầu, Dương Tiễn cùng đến dẫn Lư Tuấn Nghĩa vào điện phụ triều kiến thiên tử. Lư Tuấn Nghĩa lạy chào xong, thiên tử nói :
- Qủa nhân có việc muốn gặp khanh.
Lại hỏi :
- Đất Lư Châu của khanh có được yên ổn không ?
Lư Tuấn Nghĩa lạy hai lạy tâu rằng :
- Nhờ phúc lớn như trời biển của thánh thượng, quân dân bản châu đều được yên ổn thái bình.
Thiên tử lại hỏi tiếp, toàn những chuyện không đâu, kéo dài đến tận trưa. Quan nhà bếp bước vào tâu :
- Ngự thiên đã dọn xong, xin bệ hạ cho thánh chỉ.
Lúc ấy Cao Cầu, Dương Tiễn đã ngầm bỏ thuỷ ngân vào thức ăn, sai bưng bầy trên ngự án. Thiên tử cho phép Lư Tuấn Nghĩa dùng cơm ngự. Lư Tuấn Nghĩa vái tạ rồi kính cẩn ngồi ăn.
Thiên tử ôn tồn phủ dụ :
- Khanh đi trấn nhậm Lư Châu, cốt nhất phải tận tâm, dưỡng yên quân sĩ, chớ sinh ý nghĩ rông càn.
Lư Tuấn Nghĩa rập đầu lạy tạ, rồi ra khỏi triều trở về Lư Châu, tuyệt nhiên không biết mình đã bị bốn tên gian thần bầy cách hãm hại. Cao Cầu, Dương Tiễn hể hả bảo nhau :
- Từ nay thế là yên chuyện.
Lại nói Lư Tuấn Nghĩa đêm ấy trên đường trở về Lư Châu, cảm thấy đau thắt ngang bụng, cử động khó khăn, nên không đi ngựa được, đành xuống thuyền đi đường sông. Đến sông Hoài ở đất Tứ Châu, âu cũng là lúc số trời sắp hết, tự nhiên sẩy chuyện chẳng lành : Đêm ấy sau lúc uống rượu, Lư Tuấn Nghĩa muốn đứng đầu mũi thuyền tiêu khiển, không ngờ thuỷ ngân đã chạy vào tuỷ, vào bụng dưới, Lư Tuấn Nghĩa run chân đứng không vững, lại vì chuếnh choáng hơi men nên sẩy chân rơi xuống sông Hoài ở chỗ nước sâu mà chết đuối. Thương thay Ngọc kỳ lân ở đất Hà Bắc, rốt cuộc phải ôm hận làm quỷ oan trên sông nước. Người hầu vớt được thây, lo liệu quan quách, khâm liệm mai táng Lư Tuấn Nghĩa trên một gò cao thuộc đất Tứ Châu. Quan bản châu gửi văn thư trình lên sảnh viện, việc không có gì phải nói nữa.
Lại nói bọn gian thần Sái Kinh, Đồng Quán, Cao Cầu, Dương Tiễn thấy mưu kế đã thành, liền đem văn thư của quan Tứ Châu vào triều tâu lên thiên tử :
- Quan Tứ châu có biểu tâu việc Lư an phủ về đến Hoài Hà, vì uống rượu say ngã xuống sông chết đuối. Bọn hạ thần ở sảnh viện không dám không tâu lên. Nay Lư Tuấn Nghĩa đã chết, chỉ sợ Tống Giang có ý nghi ngờ, lại sinh chuyện khác. Xin bệ hạ soi xét, sai sứ đem ngự tửu đến Sở Châu ban cho Tống Giang để Tống Giang yên lòng.
Thiên tử im lặng hồi lâu, vì chưa biết bụng dạ bọn chúng thế nào nên chưa muốn chuẩn tâu, sợ xẩy ra chuyện xấu. Thiên tử chưa biết thế nào còn lưỡng lự thì bọn gian thần xảo trá lại lựa lời tâu gièm, làm cho thiên tử dần dần cũng phải nghe theo bọn chúng. Thiên tử bèn giáng chỉ ban hai bình ngự tửu, sai sứ đem đi Sở Châu, giao hẹn phải lên đường ngay hôm ấy. Kẻ được sai đi lại chính là thủ hạ tâm phúc của Cao Cầu, Dương Tiễn. Số phận đã định, Tống Công Minh lẽ ra được hưởng mệnh trời lâu nữa, không ngờ bị bọn gian thần bỏ thuốc độc vào ngự tửu rồi sai người mang đến Sở Châu để ban cho !
Lại nói Tống Công Minh được bổ về Sở Châu làm an phủ sứ kiêm tổng quản binh mã. Từ khi nhậm chức, Tống Giang một lòng yêu thương quân dân, được trăm họ kính trọng như cha mẹ, quân sĩ ngưỡng mộ như bậc thần minh. Án kiện xét xử nghiêm minh, các việc trong châu phủ đều đặt người trông nom đầy đủ, lòng người đều khâm phục tôn kính. Những lúc việc quân nhàn rỗi, Tống Giang thường ra ngoài vãn cảnh. Nguyên ở phía nam thành Sở Châu có một nơi gọi là đầm Lục Nhí (loài cây dại, tựa như cây rau răm mọc ở bờ nước, lá màu đỏ. Đầm này có nhiều loại răm dại nên gọi tên ấy). Nơi này bốn bề là ao đầm ngòi rạch mênh mông, ở giữa nhô lên một ngọn núi có hình thể rất đẹp, tùng bách rậm rạp xanh tươi. Tuy chỉ là một vùng đất không rộng lắm, nhưng địa thế rồng cuộn hổ ngồi, núi non nhấp nhô uốn lượn, sườn núi đá xếp như bậc thềm, thật chẳng khác gì địa thế trại Thuỷ Hử ở Lương Sơn Bạc. Tống Giang thấy vậy trong lòng rất vui, thầm nghĩ : “Nếu ta chết ở đây thì đất này đáng là nơi âm trạch. Những lúc rảnh rang ta nên đến đây dạo chơi ngắm cảnh cho đỡ buồn”.
Khỏi kể rườm rà : thấm thoát sắp được nửa năm từ khi Tống Giang về nhậm chức. Bấy giờ là thượng tuần tháng tư năm Tuyên Hoà thứ sáu (1124). Tống Giang bỗng nghe tin có sứ giả của triều đình đến ban ngự tửu bèn cùng thuộc hạ ra ngoài thành nghênh tiếp. Sứ giả vào đến phủ đường, tuyên đọc thánh chỉ. Đọc xong sứ giả bưng ngự tửu đến ban cho Tống Giang. Tống Giang uống xong, lại tự tay rót mời sứ giả, nhưng sứ giả từ chối, nói là không quen uống rượu. Lễ ban ngự tửu đã xong, sứ giả liền lên đường về kinh. Tống Giang sửa soạn lễ vật đem biếu sứ giả, nhưng sứ giả không nhận, cáo từ đi ngay.
Sau khi uống ngự tửu Tống Giang thấy đau thắt ngang bụng liền sinh nghi, đoán là rượu có pha thuốc độc. Nghĩ vậy Tống Giang vội sai người hầu đuổi theo dò xét thì thấy tên sứ giả vẫn uống rượu mỗi khi nghỉ chân ở các dịch trạm dọc đường. Biết chắc mình mắc mưu gian, uống phải thứ rượu đã bị bọn tặc thần pha thuốc độc. Tống Giang than rằng : “Ta từ nhỏ học Nho, lớn lên làm tiểu lại, không may sẩy thân mắc tội, nhưng trước sau chưa từng làm việc gì có dị tâm. Nay thiên tử khinh suất nghe lời sàm nịnh, sai đem rượu độc ban cho ta ! Nào ta có tội tình gì? Ta chết cũng đành, chỉ lo Lý Quỳ hiện làm đô thống chế ở Nhuận Châu, nếu hắn biết triều đình thi hành gian kế ấy, tất lại vào rừng tụ tập chúng bạn, làm hỏng thanh danh một đời trung nghĩa của bọn ta. Đành phải làm một cách này thì mới yên chuyện được.”
Nghĩ đoạn Tống Giang sai người đi ngay sang Nhuận Châu gọi Lý Quỳ ngày đêm đi gấp về Sở Châu để bàn công việc cần thiết.
Lại nói Lý Quỳ, từ khi về Nhuận Châu giữ chức đô thống chế chỉ thấy mệt mỏi buồn bực trong lòng, suốt ngày cùng chúng bạn uống rượu không biết chán. Thấy Tống Giang sai người đến mời, Lý Quỳ nói :
- Huynh trưởng cho người sang gọi, tất có chuyện cần đây!
Nói đoạn, bèn đem theo mấy thuộc hạ xuống thuyền sang Sở Châu, đến thẳng phủ đường tìm gặp Tống Giang, Tống Giang nói :
- Từ khi chia tay mỗi người một ngả, ta ngày đêm tưởng nhớ các anh em. Quân sư Ngô dụng ở quận Vũ Thắng thì xa, tri trại Hoa Vinh về phủ Ứng Thiên cũng không có tin tức. Chỉ có hiền đệ về quận Trấn Giang là gần hơn cả, vì thế ta cho mời hiền đệ đến để cùng bàn một việc lớn.
Lý Quỳ nói :
- Thưa huynh trưởng, việc lớn gì vậy ?
Tống Giang nói :
- Hiền đệ hãy uống chén rượu đã!
Nói đoạn Tống Giang mời Lý Quỳ vào hậu đường. Trên bàn đã bầy sẵn mâm chén, Tống Giang tự tay rót rượu khoản đãi Lý Quỳ. Hai người cùng nhau nói chuyện trò ăn uống hồi lâu. Rượu đã ngà say, Tống Giang nói :
- Hiền đệ hãy nghe ta nói việc này : Nghe tin triều đình sai người đem rượu pha thuốc độc đến ban cho ta. Nếu ta buộc phải chết thì tính thế nào ?
Lý Quỳ bèn kêu to :
- Lại làm phản thôi, thưa huynh trưởng !
Tống Giang nói :
- Này hiền đệ, bọn ta người ngựa không có, anh em còn sống thì chia lìa, mỗi người một nơi, muốn làm phản có thành sự được hay không ?
Lý Quỳ nói :
- Ở quận Trấn Giang đệ có ba nghìn quân mã, đại ca điểm lấy người ngựa và quân dân ở Sở Châu này, cùng nhau nhất tề nổi dậy, rồi chiêu binh mãi mã đánh tới! Chỉ còn cách lại lên Lương Sơn Bạc mới thật thoả chí của anh em ta ! Cần gì phải chịu luồn cúi để bị bọn gian thần làm nhục.
Tống Giang nói :
- Nguyên là trong tiệc rượu tẩy trần tối hôm ấy, Tống Giang đã rót cho Lý Quỳ uống rượu có pha thuốc độc. Sáng hôm sau, Tống sai đem thuyền đến đưa Lý Quỳ về. Lý Quỳ nói :
- Bao giờ huynh trưởng dấy nghĩa binh thì đệ sẽ đưa quân bên Trấn Giang sang tiếp ứng.
Tống Giang nói :
- Mong hiền đệ đừng trách ta. Hôm trước sứ giả của triều đình đã đem rượu pha thuốc độc đến ban cho ta uống, chết đến chỉ trong sớm chiều. Cả đời ta chỉ nêu cao hai chữ trung nghĩa, không chút lòng dối trá. Nay triều đình bắt ta phải chết vô tội, ta đành chịu cho triều đình phụ ta, còn lòng trung nghĩa của ta chẳng dám phụ triều đình. Ta sợ rằng sau khi ta chết, hiền đệ sẽ lại làm phản tổn hại thanh danh trung nghĩa thay trời hành đạo của anh em Lương Sơn Bạc chúng ta. Vì thế ta mời hiền đệ đến đây gặp ta một lần cuối. Trong bữa rượu tối hôm qua, ta đã rót rượu pha thuốc độc ngấm chậm cho hiền đệ uống rồi đó. Về đến Nhuận Châu tất hiền đệ phải từ giã cõi đời! Sau khi chết, hiền đệ hãy đến đây. Ngoài cửa nam thành Sở Châu có đầm Lục Nhí phong cảnh không khác mấy với Lương Sơn Bạc, âm hồn của ta và hiền đệ sẽ cùng nhau chung tụ. Ta đã định trước là sau khi ta chết, thi hài sẽ chôn cất ở đó.
Tống Giang nói xong nước mắt giàn giụa như mưa. Lý Quỳ cũng khóc theo mà nói :
- Thôi, Thôi ! Lý Quỳ này lúc sống hầu hạ huynh trưởng, chết rồi cũng xin làm quỷ hầu của huynh trưởng thôi !
Nói xong lại khóc nấc, toàn thân thấy nặng trĩu. Rồi đó Lý Quỳ gạt nước mắt lạy chào từ biệt Tống Giang, xuống thuyền trở về. Về đến Nhuận Châu thì quả nhiên thuốc độc đã ngấm. Lúc sắp tắt thở, Lý Quỳ căn dặn người hầu :
- Sau khi ta chết, bằng mọi cách phải chở quan tài của ta đến đầm Lục Nhí ở ngoài cửa nam thành Sở Châu chôn chung một chỗ với huynh trưởng Tống Công Minh !
Lý Quỳ dặn dò xong thì chết. Người hầu sửa soạn quan quách khâm liệm, rồi theo lời dặn chở quan tài người quá cố sang Sở Châu.
Lại nói Tống Giang, sau khi từ biệt Lý Quỳ, trong lòng buồn rầu nhớ đến Ngô Dụng, Hoa Vinh từ khi xa nhau chưa từng gặp lại. Đêm ấy thuốc ngấm nguy kịch, Tống Giang gọi những người hầu thân tín đến dặn rằng :
- Sau khi ta chết, các người hãy đem quan tài ta an táng ở chỗ khuất trên gò cao bên đầm Lục Nhí ở phía nam ngoài thành. Ta ắt sẽ đền đáp công đức của các người. Nhớ làm theo lời ta dặn!
Tống Giang nói xong thì qua đời. Người hầu của Tống Giang sửa soạn quan quách, làm lễ khâm liệm. Theo đúng di chúc của Tống an phủ, quan lại Sở Châu cùng những gia nhân theo hầu và đông đảo dân chúng bản châu đưa linh cữu Tống Giang đến mai táng ở đầm Lục Nhi. Mấy ngày sau, quan tài của Lý Quỳ từ Nhuận Châu chở đến cùng được chôn bên mộ Tống Giang, việc không có gì phải nói .
Lại nói Tống Thanh cáo ốm về chữa bệnh tại quê nhà ở huyện Vận Thành, nghe gia nhân về báo tin Tống Giang đã mất ở Sở Châu, nhưng lúc ấy Tống Thanh đang ốm không đến đưa tang được. Sau nghe nói mộ Tống Giang chôn ở đầm Lục Nhi ngoài thành Sở Châu, Tống Thanh sai người nhà đến làm lễ tế, sửa đắp phần mộ chu đáo rồi trở về báo lại, chuyện không phải nói đến.
Lại nói quân sư Ngô Dụng từ khi về nhậm chức thừa tuyên sứ ở quận Vũ Thắng trong lòng cảm thấy không vui, lúc nào cũng tưởng nhớ tình cảm thân ái của Tống Công Minh. Bỗng một hôm cảm thấy tâm tình hoảng hốt, ngồi nằm không yên. Đêm ấy Ngô Dụng chiêm bao thấy Tống Giang cùng đi với Lý Quỳ đến tìm mình, níu áo mà nói : “Quân sư Ngô Dụng ơi! Anh em ta thay trời hành đạo, lấy trung nghĩa làm đầu không hề có lòng phụ ơn thiên tử. Nhưng nay triều đình sai đem rượu pha thuốc độc đến ban cho ta uống, ta chết mà chẳng có tội gì! Sau khi ta chết, thi hài đã mai táng ở đầm Lục Nhi, ngoài cửa nam thành Sở Châu. Quân sư còn nhớ đến tình nghĩa ngày trước thì nên đến thăm mộ ta một chuyến.” Ngô Dụng muốn hỏi rõ, nhưng đột nhiên tỉnh dậy, mới hay là giấc chiêm bao. Ngô Dụng khóc nức hồi lâu, ngồi chờ trời sáng. Cả ngày hôm ấy Ngô Dụng bồn chồn vì giấc mộng, ăn ngủ không yên. Ngay hôm sau, Ngô Dụng bèn thu xếp hành lý, không đem theo người hầu, một mình lên đường đi Sở Châu. Tới nơi quả nhiên biết Tống Giang đã chết, dân bản châu ai nấy đều đau buồn thương tiếc. Ngô Dụng bèn sắm sửa lễ vật đồ tế rồi đi thẳng đến đầm Lục Nhi tìm nơi chôn mộ của Tống Công Minh và Lý Quỳ. Ngô Dụng sụp xuống trước mộ vục tay cào đất khóc to rằng :
- Linh hồn của nhân huynh thiêng liêng, xin soi thấu cho! Ngô Dụng tôi vốn chỉ là thầy đồ Nho nơi thôn dã, lúc đầu theo Tiểu Cái, về sau gặp gỡ nhân huynh, đã nhờ ơn cứu sống lại được hưởng giàu sang hơn mấy mươi năm nay đều nhờ ơn đức của nhân huynh cả. Nay nhân huynh vì việc nước nhà mà chết, hiển linh báo mộng cho biết, Ngô Dụng tôi không có gì báo đáp, xin theo giấc mộng lành về nơi chín suối cùng hội ngộ với nhân huynh!
Ngô Dụng nói xong rống khóc nức nở. Ngô Dụng sắp treo cổ tự sát thấy Hoa Vinh từ dưới thuyền chạy như bay đến trước mộ Tống Giang. Ngô Dụng và Hoa Vinh gặp nhau, ai nấy giật mình kinh ngạc. Ngô Dụng nói :
- Hiền đệ đang làm quan ở phủ Ứng Thiên, làm sao biết huynh trưởng chết ?
Hoa Vinh đáp :
- Từ khi chia tay mỗi người một ngả. Hoa Vinh tôi chảng một ngày lòng dạ được yên, lúc nào cũng canh cánh một niềm tưởng nhớ đến anh em ta. Đêm hôm trước Hoa Vinh tôi nằm chiêm bao rất lạ, thấy huynh trưởng Tống Công Minh và Lý Quỳ đến níu áo báo cho tiểu đệ biết vì triều đình ban rượu có thuốc độc bắt uống mà chết, mộ chôn trên gò cao ở đầm Lục Nhi ngoài cửa nam thành Sở Châu. Huynh trưởng nói nếu tiểu đệ còn nhớ đến tình nghĩa anh em thì tìm đến đó mà thăm mộ. Vì vậy Hoa Vinh tôi vứt bỏ việc nhà, chẳng quản đường xa ngày đêm đi gấp về đây.
Ngô Dụng nói :
- Ta cũng chiêm bao hệt như hiền đệ nên mới đi gấp đến đây. Nay lại gặp hiền đệ nữa thật là đúng lúc! Ngô Dụng này trong lòng không thôi tưởng nhớ ơn nghĩa của Tống Công Minh, tình sâu khó đền đáp, đang định treo cổ chết tại đây để hồn phách được chung tụ một chỗ với Tống nhân huynh. Lo liệu mọi việc cho ta, cậy nhờ cả ở hiền đệ.
Hoa Vinh nói :
- Quân sư đã nghĩ như thế, Hoa Vinh tôi cũng xin đi theo để được gặp Tống nhân huynh! Những người gắn bó sống chết có nhau là như thế?
Có thơ làm chứng như sau :

Hồng lục oa trung thác mộng trường
Hoa Vinh, Ngô Dụng các bi thương
Nhất xoang nghĩa huyết nguyên đồng hữu
Khởi nhẫn Điền Hoành độc tang vong


Dịch :

Răm đỏ đầy đồng mộng thân thương
Hoa Vinh, Ngô Dụng thật đau lòng
Một dòng máu nghĩa cùng sinh tử
Há một Điền Hoành(1) khá nêu gương!



---------------------------
1. Người cuối đời Tần, từng đánh lui quân Hạng Võ, xưng là Tề vương. Sau Hán Cao Tổ lên ngôi. Điền Hoành cùng thuộc hạ chạy ra hải đảo. Hán Cao Tổ nhắn ra bảo : “Nếu bọn Hoành trở về, lớn thì cho tước vương, nhỏ thì cho tước hầu, không về thì sẽ đem quân ra diệt”. Hoành nghe lời đem hai thuộc hạ cùng thần phục, đi chưa được ba mươi dặm. Hoành nói : “Ta lúc đầu cũng xưng vương như Hàn vương, nay mặt mũi nào thần phục người ấy.” Nói xong rút kiếm tự sát. Câu thơ trên ý nói Hoa Vinh, Ngô Dụng và sự nghiệp không thành cũng tự sát theo Tống Giang chứ không phải chỉ riêng mình Điền Hoành đời xưa làm như vậy.
-----------------------


Ngô Dụng nói :
- Ta chỉ mong sau khi ta chết được hiền đệ chôn cất ở đây. Còn hiền đệ thì chẳng nên theo gương ta làm gì !
Hoa Vinh nói :
- Tiểu đệ cũng ngày đêm tưởng nhớ Tống huynh trưởng, ân tình không dứt được. Anh em chúng ta từ khi lên Lương Sơn Bạc đã đắc tội to, may mà không chết. Đội ơn thiên tử xá tội chiêu an, sai đi đánh nam dẹp bắc để lập công chuộc tội. Nay anh em ta tính danh vinh hiển được thiên hạ biết đến. Thế mà triều đình đã có ý nghi ngờ, tất sẽ bới lông tìm vết mà trị tội. Nếu bọn chúng thi thố mưu gian, khép bọn ta vào tội cực hình thì khi ấy cũng không kịp. Chi bằng theo Tống huynh trưởng cùng xuống suối vàng, thân này tuy mất mà thanh danh còn lưu lại.
Ngô Dụng nói :
- Hiền đệ hãy nghe ta : ta chỉ một thân một mình không gia quyến, có chết cũng chẳng ngại gì! Hiền đệ thì còn vợ trẻ con thơ biết nương tựa vào đâu ?
Hoa Vinh đáp :
- Việc ấy chẳng ngại. Gia sản tiểu đệ cũng có ít nhiều, vợ con không đến nỗi phải đói. Phía bên ngoại cũng sẽ có người giúp lo liệu thêm cho.
Ngô Dụng và Hoa vinh khóc lớn rồi cùng treo cổ lên cây tự tử. Người hầu của Hoa vinh ở trên thuyền chờ lâu không thấy chủ quay lại, bèn vào tìm ở nơi chôn mộ Tống Giang thì thấy cả Ngô Dụng và Hoa Vinh đã thắt cổ tự tử. Bọn họ vội đi báo với quan bản châu, lo sắm quan quách khâm liệm, rồi chôn cất hai người bên mộ Tống Giang ở đầm Lục Nhi thành một khu gò mộ bốn ngôi, mỗi ngôi trông về một phương trời. Dân chúng Sở Châu cảm nhớ ơn đức của Tống Giang trung nghĩa vẹn toàn, bèn dựng đền thờ bốn mùa cúng tế, dân làng đến cầu đảo không điều gì không linh ứng.
Không nói chuyện Tống Giang nhiều lần hiển linh ở đầm Lục Nhi, người đến cúng lễ cầu gì được nấy. Lại nói Đạo quân hoàng đế ở nội cung tại Đông Kinh từ sau khi ban ngự tửu cho Tống Giang đã có ý nghi ngờ không hiểu việc Tống Giang hư thực thế nào, lại vì không biết tin tức Tống Giang ra sao nên thường vẫn băn khoăn nghĩ ngợi. Hàng ngày bọn Cao Cầu, Dương Tiễn vẫn bàn bạc xảo trá làm mê hoặc thiên tử, tìm cách rào đường rắp lối người hiền, mưu hại kẻ trung lương. Một hôm thiên tử đang dạo chơi trong nội cung, chợt nhớ đến Lý Sư Sư bèn đem theo hai chú tiểu hoàng môn đi tắt đến vườn sau nhà họ Lý, kéo dây chuông. Lý Sư Sư vội chạy ra nghênh đón, mời thiên tử vào phòng riêng. Thiên tử sai đóng hết cửa trước cửa sau. Lý Sư Sư trang điểm xong bước ra lạy chào. Thiên tử nói :
- Gần đây trẫm hơi bị mệt phải triệu thần y An Đạo Toàn vào cung điều trị, vì thế đã mấy chục ngày không đến được, trẫm rất mong nhớ. Nay lại gặp khanh, trẫm vui lòng lắm!
Lý Sư Sư tâu rằng :
- Đội ơn bệ hạ yêu mến, tiện thiếp thật hổ thẹn vô cùng. Trong phòng đã bầy xong các món ăn thịnh soạn, Lý Sư Sư mời thiên tử xơi rượu giải phiền. Rượu cạn vài tuần, thiên tử đã có vẻ mệt mỏi. Khi đèn nến vừa thắp sáng toả khắp phòng. Bỗng một cơn gió lạnh từ bên ngoài tạt vào. Đạo quân hoàng đế thấy trước mặt có một người mặc áo vàng rộng cổ.
Hoàng đế sợ hãi hỏi :
- Ngươi là ai ? Sao dám vào đây ?
Người mặc áo vàng tâu :
- Thần là Thần hành thái bảo Đái Tôn thuộc hạ của Tống Giang ở Lương Sơn Bạc.
Thiên tử nói :
- Ngươi đến có việc gì ?
Đái Tôn đáp :
- Huynh trưởng Tống Giang của thần hiện ở gần đây, xin mời bệ hạ lên xa giá cùng đi.
Hoàng đế nói :
- Chưa rõ ngươi định đưa ta đi đâu ?
Đái Tôn thưa đáp :
- Có nơi phong cảnh tươi đẹp, xin bệ hạ tới thưởng ngoạn.
Thiên tử nghe xong liền cùng Đái Tôn ra khỏi nhà Lý Sư Sư. Thấy xe ngựa đã sắp sẵn. Đái Tôn mời thiên tử lên ngựa. Chỉ thấy xung quanh mịt mù sương khói, bên tai tiếng gió thổi ù ù, chẳng mấy chốc đã tới nơi, chỉ thấy :
Mờ mờ khói nước, núi lớp mây đùn. Chẳng thấy trăng sao, nước trời một sắc. Mênh mông răm dại thẳm màu, hun hút lau xanh ngút mắt. Hồng nhạn dàn hàng, buồn thương bay qua đầu bãi cát, vịt trời đôi một, mỏi chân ngủ cạnh bờ sen. Sương nhuộm cành phong tựa chinh phu rơi lệ, gió phơ bờ liễu như oan phụ cau mày. Trăng mờ sao lạnh, đêm vắng vẻ, gió buốt sương tê cảnh thu buồn.
Bấy giờ Đạo quân hoàng đế ngồi trên ngựa nhìn không rõ, bèn hỏi Đái Tôn :
- Đây là đâu ? Đưa trẫm đến làm gì ?
Đái Tôn đưa tay chỉ con đường trên núi rồi nói :
- Xin bệ hạ cứ đi, đến nơi sẽ rõ.
Đạo quân hoàng đế thúc ngựa lên núi. Đi qua ba lớp cửa ngoài, đến trước toà cổng thứ ba thiên tử thấy đám đông chừng hơn một trăm viên võ tướng mặc chiến bào, khoác giáp sắt, đội mũ sắt, thắt đai da đen, đeo gươm giáo đang rập đầu vái lạy. Thiên tử cả sợ, hỏi :
- Bọn các khanh là ai ?
Chỉ thấy một người đứng ở hàng đầu, đội mũ sắt hình cánh phượng, mặc chiến bào gấm, ngoài khoác giáp sắt bước lên tâu rằng :
- Thần chính là Tống Giang ở Lương Sơn Bạc.
Hoàng đế nói :
- Trẫm đã sai khanh đi Sở Châu làm An phủ sứ, sao lại ở đây ?
Tống Giang nói :
- Xin mời bệ hạ đến Trung Nghĩa đường để thần được tố cáo cái chết oan khuất của thần.
Hoàng đế đi tiếp, đến trước Trung Nghĩa đường dừng ngựa lên ngồi trên chính sảnh. Nhìn xuống dưới thấy trong lớp sương núi lờ mờ có đông người đang quỳ lạy. Hoàng đế còn do dự chưa biết làm gì thì thấy Tống Giang bước lên thềm quỳ khóc mà tâu lên. Hoàng đế hỏi :
- Khanh vì sao mà khóc ?
Tống Giang tâu :
- Bọn thần tuy từng chống lại quan quân triều đình, nhưng vẫn giữ lòng trung nghĩa, không một chút dị tâm. Sau khi vâng sắc mệnh chiêu an của bệ hạ, bọn thần trước hết đánh lui quân Liêu, sau đó ba lần dẹp yên phản loạn, anh em thuộc hạ của thần thiệt mạng đến bảy tám phần. Thần đội ơn bệ hạ sai đi trấn thủ Sở Châu, từ khi nhậm chức tới nay của cải của quân dân không một chút tơ hào, trời đất đều biết. Nay bệ hạ ban rượu độc cho thần uống, thần chết đành ôm hận. Nhưng thần còn sợ Lý Quỳ oán giận, lại dấy dị tâm, vì vậy, thần đã sai người đi Nhuận Châu gọi Lý Quỳ đến đây, tự tay rót rượu độc cho hắn uống. Bọn Ngô Dụng, Hoa Vinh cũng vì trung nghĩa mà đến đây rồi cùng treo cổ tự tử bên mộ thần. Bọn thần bốn người cùng được mai táng ở đầm Lục Nhi phía nam thành Sở Châu. Dân làng thương xót dựng đền thờ trước mộ. Nay âm hồn của bọn thần về tụ hội ở đây, xin tâu lên bệ hạ nỗi oan khuất của bọn thần, trước sau không có ý làm phản. Xin bệ hạ soi xét.
Thiên tử nghe xong cả sợ nói rằng :
- Trẫm đích thân sai sứ đem ngự tửu có niêm phong giấy vàng. Chẳng biết kẻ nào đã thay rượu độc đem ban cho khanh ?
Tống Giang nói :
- Xin bệ hạ cứ xét hỏi sứ giả sẽ rõ đầu đuôi.
Thiên tử nhìn thấy doanh trại ba lớp cửa rào hùng tráng, buồn rầu hỏi :
- Đây là nơi nào mà các khanh về tụ hội ?
Tống Giang đáp :
- Đây là Lương Sơn Bạc, nơi bọn thần tụ nghĩa trước đây.
Thiên tử lại hỏi :
- Các khanh đã chết, đáng phải đầu thai, sao lại đưa nhau tụ tập ở đây ?
Tống Giang đáp :
- Ngọc hoàng thượng đế thương xót bọn thần là người trung nghĩa, đã phủ điệp sắc phong cho bọn thần giữ chức đô thổ địa cai quản vùng Lương Sơn Bạc. Các tướng tụ hội ở đây đều có oan khuất chưa được dãi bày, nên thần sai Đái Tôn mời bệ hạ quá bộ đến nơi sông nước để bọn thần bày tỏ oan khuất.
Hoàng đế nói :
- Sao các khanh không đến triều đình tâu bày rõ ràng với trẫm ?
Tống Giang đáp :
- Bọn thần là âm hồn trong cõi u minh, sao có thể đến được nơi cửa phượng lầu rồng ? Vì thế mới mạo muội mời bệ hạ rời cung cấm đến đây.
Hoàng đế nói :
- Trẫm có thể dạo xem phong cảnh được không ?
Bọn Tống Giang sụp lạy tạ ơn. Thiên tử bước xuống bậc thềm, ngoái lại nhìn tấm biển để ba chữ lớn “Trung Nghĩa Đường” treo trước chính sảnh. Hoàng đế gật đầu đi xuống chợt thấy Lý Quỳ từ phía sau Tống Giang hai tay vung hai búa chạy đến lớn tiếng quát vang :
- Tên hoàng đế kia! Sao ngươi lại nghe lời xúi bẩy của bốn tên tặc thần mà giết hại bọn ta ? Nay gặp ngươi ở đây, ta phải báo thù ngươi !
Hắc toàn phong Lý Quỳ nói xong liền vung búa xông tới đánh. Đạo quân hoàng đế cả sợ, giật mình tỉnh dậy, mới hay là giấc chiêm bao, mồ hôi vã ra ướt đầm. Hoàng đế từ từ mở mắt vẫn thấy đèn nến sáng trưng. Lý Sư sư vẫn chưa ngủ, Hoàng đế hỏi :
- Trẫm vừa từ đâu đến đây vậy?
Lý Sư Sư đáp :
- Bệ hạ chỉ vừa mới chợp mắt thôi.
Hoàng đế bèn kể lại giấc chiêm bao kỳ lạ đó cho Lý Sư Sư nghe. Lý Sư Sư nói :
- Phàm những người chính trực sau khi chết sẽ thành thần linh. Phải chăng đúng là Tống Giang đã chết, nay hiển linh báo mộng cho bệ hạ ?
Hoàng đế đáp :
- Ngày mai ngự triều trẫm sẽ hỏi rõ việc ấy. Nếu quả Tống Giang đã chết thì phải sai dựng đền thờ, phong tước hầu cho ông ta.
Lý Sư Sư nói :
- Nếu đúng là thánh thượng phong tặng cho Tống Giang thì sẽ làm sáng đức thánh thượng không phụ bậc công thần.
Suốt đêm ấy, Đạo quân hoàng đế buồn rầu than tiếc mãi không thôi.
Ngày hôm sau hoàng đế ngự triều, truyền gọi các quan đến chầu ở điện phủ, bọn Sái Kinh, Đồng Quán, Cao Cầu, Dương Tiễn sợ hoàng đế truy hỏi về việc Tống Giang nên đã kiếm cớ lánh ra ngoài. Chỉ có Túc Thái uý và mấy vị đại thần khác đứng hầu. Hoàng đế bèn hỏi Thái uý Túc Nguyên Cảnh :
- Khanh có biết tin gì về an phủ Tống Giang ở Sở Châu không ?
Túc thái uý tâu :
- Từ bấy đến nay thần không được biết tin tức gì của Tống an phủ, thế nhưng đêm qua thần mộng thấy một giấc chiêm bao rất kỳ lạ.
Hoàng đế nói :
- Khanh cứ kể cho trẫm nghe xem sao ?
Túc thái uý đáp :
- Thần chiêm bao thấy Tống Giang mặc áo chiến, thắt đai trận, đầu đội mũ trụ sáng loáng đến nhà nói với thần là bệ hạ sai ban rượu độc cho uống mà chết. Người đất Sở cảm thương bậc trung nghĩa, đã mai táng Tống Giang ở đầm Lục Nhi ngoài cửa nam thành Sở Châu, dựng đền thờ bốn mùa cúng tế.
Nghe xong hoàng đế gật đầu nói :
- Quả đúng là sự lạ, đêm qua trẫm cũng chiêm bao thấy như thế !
Rồi hoàng đế căn dặn Túc thái uý :
- Khanh hãy sai người tâm phúc đến Sở Châu dò xét việc này xem hư thực ra sao rồi tâu gấp cho trẫm biết.
Túc thái uý vâng mệnh ra khỏi cung cấm rồi về phủ sai người tâm phúc đi Sở Châu nghe ngóng tin tức Tống Giang. Chuyện không có gì phải nói .
Ngày hôm sau Đạo quân hoàng đế ngự triều ở điện Văn Đức, thấy Cao Cầu, Dương Tiễn đứng hầu, hoàng đế bèn hỏi :
- Các khanh ở sảnh viện, gần đây có biết tin tức Tống Giang ở Sở Châu không ?
Cao Cầu, Dương Tiễn cúi đầu đáp là không biết. Hoàng đế băn khoăn nghi ngại, cảm thấy mệt mỏi không vui.
Lại nói người giúp việc của Túc thái uý đi Sở Châu về, kể lại đầu đuôi việc Tống Giang uống phải ngự tửu pha thuốc độc mà chết. Sau khi mai táng, người đất Sở cảm thương lòng trung nghĩa đã mai táng Tống Giang trên gò cao ở đầm Lục Nhi ngoài thành Sở Châu. Bọn Ngô Dụng, Hoa Vinh, Lý Quỳ cũng đã chết, mộ chôn gần nhau ở đó. Trăm họ thương tiếc đã dựng đền thờ trước mộ để xuân thu hai kỳ cúng tế, thành tâm phụng thờ. Dân chúng có việc gì cầu đảo đều thấy linh nghiệm.
Túc Thái uý nghe xong vội dẫn người giúp việc vào triều tâu lên thiên tử. Thiên tử nghe nói buồn rầu thương xót khôn nguôi. Trong buổi chầu sáng hôm sau, trước mặt các quan, thiên tử cả giận quát mắng bọn Cao Cầu, Dương Tiễn :
- Các ngươi là gian thần hại nước, làm hư nát cả thiên hạ của trẫm !
Bọn Cao Cầu, Dương Tiễn sụp xuống rập đầu tạ tội. Sái Kinh, Đồng Quán bước lên tâu rằng :
- Việc sống chết đều do số mệnh. Vì các quan ở hạ sảnh viện chưa gửi văn thư trình lên nên thần không dám tâu lên bệ hạ. Đêm qua quan Sở Châu mới có tờ tâu gửi về, bọn thần cũng định sáng nay tâu lên bệ hạ.
Rốt cuộc hoàng đế bị bốn tên gian thần quanh co che giấu nên không bắt tội được chúng, chỉ quát đuổi Cao Cầu, Dương Tiễn ra ngoài, bắt chung truy tìm tên sứ gỉa trước đây đã sai mang ngự tửu. Không ngờ tên sứ giả đó sau khi rời Sở Châu trở về đã chết dọc đường.
Ngày hôm sau Túc thái uý lại vào yết kiến hoàng đế ở điện phủ, tâu việc Tống Giang trung nghĩa hiển ứng linh thiêng. Hoàng đế chuẩn tâu, phong cho em ruột Tống Giang là Tống Thanh được hưởng tập ấm nối giữ quan tước của Tống Giang. Không may Tống Thanh bị bệnh phong thấp thành tật, không ra làm quan được , nên dâng biểu từ tạ, chỉ xin được làm ruộng ở huyện Vận Thành. Hoàng đế thương xót Tống Thanh là người hiếu để, ban cho mười vạn quan tiền và ba nghìn mẫu ruộng để gia quyến được no đủ, đợi khi con trai trưởng thành sẽ được triều đình bổ dụng. Về sau Tống Thanh sinh được một trai là Tống An Bình. An Bình theo đòi khoa cử, làm quan đến chức bí thư học sĩ, nhưng đó là câu chuyện về sau.
Kể tiếp chuyện Đạo quân hoàng đế nghe lòi tâu của Túc thái uý, tự tay viết thánh chỉ sắc phong cho Tống Giang tước trung liệt nghĩa tế linh ứng hầu. Lại cấp tiền cho dựng đền thờ to lớn ở Lương Sơn Bạc, đắp tượng Tống Giang và anh em các tướng đã chết vì việc nước. Tấm biển treo trước đền thờ có ngự bút của Đạo quân hoàng đế đề bốn chữ “Tinh Trung Chi Miếu (đền thờ trung thần dẹp loạn). Quan Tế Châu vâng sắc chỉ đến Lương Sơn Bạc lập đền thờ.
Chỉ thấy :

Đinh săt gỗ đỏ, cột ngọc cửa vàng
Rường chạm keo sơn, hiên sơn ngói bạc
Lan can xanh vòng uốn cửa ngoài
Rèm thêu gấm buông che bậu kín
Năm gian điện lớn, chữ vàng biển ngạch cao treo
Hai dãy hành lang, cảnh vẽ võ quan dũng mãnh
Hoè xanh rợp bóng, lầu nội điện cao vút mây xanh
Liễu biếc che trùm, miếu Tinh Trung thẳng vươn trời thẳm
Trên điện thếp vàng, đủ bài vị Tống Công Minh và ba mươi sáu viên Thiên cang chánh tướng
Hai dãy hành lang, xếp bàn thờ từ chu Vũ cùng bẩy mươi hai vị Điạ sát tướng quân
Trước cửa quân hàu nhẩy nhót giơ nanh
Bên sân thần binh nhe răng múa vuốt
Trụ thiên đài thợ khéo điểm tô bốn mùa hương bay khói toả
Cột tre cao cờ phướn dài buông, hai xã chung lo thờ phụng
Cúng tế muôn dân khấn linh thần
Sổ bộ triều đình ghi trung liệt
Muôn năm hương hoả hưởng vô cùng
Vạn thuở công lao ghi sử sách


Lại có bài thơ tứ tuyệt :

Thiên cang tận dĩ quy thiên giới
Địa sát hoàn ưng nhập địa trung
Thiên cổ vi thần giai miêu thực
Vạn niên thanh sử bá anh hùng

Thiên cang đã khuất về thiên giới
Địa sát lại theo xuống đất cùng
Muôn thuở thần linh đều hưởng tế
Vạn năm sử sách rạng anh hùng


Về sau Tống Công Minh nhiều lần linh thiêng hiển ứng, trăm họ bốn mùa thờ cúng không dứt. Trong vùng Lương Sơn Bạc dân chúng cầu gì được nấy. Đầm Lục Nhi ở Sở Châu cũng linh thiêng ứng nghiệm. Dân sở tại sửa sang miếu điện nguy nga, sau lại dựng thêm hai dẫy hành lang, tâu xin triều đình ban biện ngạch. Lại đắp tượng ba mươi sáu viên chánh tướng, đặt thờ ở chánh điện, đắp tượng bẩy mươi hai viên phó tướng đặt thờ ở hành lang hai bên. Hàng năm đến ngày tế dân chúng gần xa đều đến dâng hương kính lễ. Người chép sử có hai bài Đường luật tỏ ý thương tiếc như sau:

Mạc bả hành tàng oán lão thiên
Hàn, Bành xích tộc di kham liên
Nhất tâm báo quốc thôi phong nhật
Bách chiến cầm Liêu phá Lạp niên
Sát diệu cang tinh kim di hỉ
Sàm thần tặc tử thượng y nhiên
Tảo tri cưu độc mai hoàng nhưỡng
Học thủ chi di Phạm Lãi thuyền


Dịch :

Chớ lấy thân danh oán trách trời
Hàn, Bành mấy họ máu đào rơi
Một lòng báo nước lừng chinh chiến
Trăm thắng Liêu lui, Lạp hết đời
Địa sát thiên cang đà hết sáng
Gian thần tặc tử chẳng im hơi
Nếu hay đầu độc vùi thân xác
Học phép rong thuyền Phạm Lãi (1) chơi


Bài thứ hai :

Sinh đang đỉnh thực tử phong hầu
Nam tử sinh bình chí dĩ thù
Thiết mã dạ tê sơn nguyệt hiểu
Huyền viên thu khiếu mộ vân trù
Bất tu xuất xứ cầu chân tích
Khước hỉ trung lương tác thoại đầu
Thiên cổ Lục oa mai ngọc địa
Lạc hoa đê điểu tổng quan sầu


Dịch :

Sinh thời đỉnh vạc (2) chết phong hầu
Hồ thỉ nam nhi nợ sạch làu
Ngựa săt hí vang trăng núi rạng
Vượn đen kêu hú bóng đêm thâu
Chẳng cần xuất xứ tìm văn bản
Chỉ khoái trung lương soạn thoại đầu
Muôn thuở Lục Nhi vùi ngọc quý
Chim kêu hoa rụng chạnh lòng sầu .



HẾT

--------------------
1. Phạm Lãi : người nước Sở thời Xuân Thu, giúp Việt Vương Câu Tiễn hơn hai mươi năm. Khi Câu Tiễn diệt được nước Ngô, phong Phạm Lãi làm thượng tướng quân. Phạm từ chối, bảo với tả hữu là Câu Tiễn “dễ chung hoạn nạn, nhưng khó cùng hưởng phú quý”, rồi lên một chiếc thuyền con chu du trong chốn Ngũ hồ.

2. Đỉnh vạc, dịch chữ “đỉnh thực” (ăn bằng vạc), chỉ quan cao lộc hậu. Theo lệ cổ, bữa ăn của vua, thiên tử được hưởng cửu đỉnh (chín vạc), vua chư hầu ngũ đỉnh (năm vạc, nấu năm món : bò , dê, lợn, cá, nai) v… v…
Đăng nhập để trả lời
0