Diễn Đàn » Thú Tiêu Khiển

GIAI ĐIỆU PHÙ TRẦM

866 trả lời, 169.367 lượt xem — Trang 26 / 29
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.11.2014 09:37:20 bởi da vàng>
 
 
 
“Trâu Điên” Và Cố Vấn Mỹ… Muộn Vẫn Phải Nói…
 

Phila Tô
 
 
(RPG.Đuôi đạn B40, kỷ vật của Gen USMC Sheehan )

Tháng 8/2012 tôi được đi du lịch 7 ngày đến miền Đông-Bắc Mỹ như Philadelphia, NewYork, Washington D.C và Canada, tôi thấy vui khi được chạm tay vào quả chuông Độc Lập, thăm tượng Nữ Thần Tự Do, thác Niagara, Ground Zero, đài tưởng niệm các Tổng Thống Hoa Kỳ v.v…nhưng khi đứng trước bức tường đá đen, nhìn thấy hình mình in trên đó, “nằm” chung với tên của 58,772 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh và mất tích (MIA) trên chiến trường Việt Nam, lòng tôi bâng khuâng và tự hỏi tại sao mình còn sống và đứng đây, nhận Hoa Kỳ là quê hương thứ hai trong khi 1,200 MIA còn ở lại VN, thân xác họ bị chôn vùi ở những nơi xưa kia là chiến trường khốc liệt như Cồn Tiên, Ia Drang, Cầu Khởi, Bời Lời hay trong ngục tù CS. 
 
Nhìn lên bức tường đá đen, bất ngờ tôi thấy tên White, tôi tự hỏi đây có phải là cố vấn (CV) White đi với tôi trong trận Bời Lời (Tây Ninh) ngày 16/9/1968 hay không? Trận đó tôi chỉ biết là khi vừa đụng địch, White ngã xuống, bất tỉnh và được trực thăng tản thương ngay.
 
Tôi thấy tên Joe, có phải đây là CV Joe bị thả lầm vào tuyến VC, bị bắn vào nách xuyên qua vai trong trận Bời Lời 16/9 mà đã được đại đội tôi cứu về và tải thương hay không?
 
Tôi đọc được tên Jack, có thể là CV mà Trâu Điên Trưởng Nguyễn Xuân Phúc cho đi với tôi trong trận kinh Cán Gáo tỉnh Chương Thiện ngày 19/6/69, ngày đó, Jack và tôi cùng bị thương nặng, tôi gẫy chân tay “trào máu họng”, còn Jack bị bay mất một cánh tay.
 
Những cố vấn đi với tôi chỉ trong một thời gian rất ngắn, có khi vài giờ rồi bị thương, được tải thương nên tôi không nhớ chính xác tên và cũng không rõ tình trạng của họ sau đó. Dù Mr White, Mr Joe, Mr Jack có là cố vấn hay không thì những tên ấy trên bức tường đá đen này vẫn là những người bạn đồng minh anh hùng đã chiến đấu để bảo vệ VN Tự Do, họ đã “nằm” xuống, còn tôi, người Việt Nam tỵ nạn thì lại được đứng đây, ngay Thủ Đô Hoa Kỳ. Nghĩ đến White, đến Joe, Jack, tôi đưa tay quẹt ngang mắt, đứng nghiêm đưa tay chào các ông và các anh hùng trên bức tường đá đen.
 
Hướng dẫn viên du lịch đưa chúng tôi đến đây để thăm một di tích lịch sử Hoa Kỳ gắn liền với chiến tranh VN, với người Mỹ gốc Việt Nam, không phải viếng một nghĩa trang nên tôi không có nhang để thắp, không có bông để tặng các ông.
 
Trong các buổi lễ quan trọng của cộng đồng người Việt tại hải ngoại, sau nghi thức chào Quốc Kỳ VN và Hoa Kỳ là “Một Phút Mặc Niệm” để tưởng nhớ đến quân dân cán chính VNCH đã hy sinh… để tưởng nhớ đến hơn 58 ngàn quân nhân Hoa Kỳ đã chiến đấu và hy sinh để bảo vệ miền Nam VN Tự Do v.v…, đó là một phút để tưởng nhớ và vinh danh chung, nhưng sau khi viếng bức tường đá đen, chào từ giã White, Joe, Jack, tôi nghĩ mình sẽ phải viết về những vị cố vấn đã đi hành quân với “Trâu Điên”, nhất là những CV đã đi với ĐĐ1/TĐ2, họ đã bị thương, đã hy sinh cách nay đã mấy chục năm, phải viết như nói lời cám ơn, dù muộn vẫn phải nói.
 
Sau khi thăm bức tường đá đen, vì trình độ computer và tiếng Mỹ của tôi ở dạng ABC nên tôi đã nhờ Quốc Việt, chuyên viên điện toán, vào các Web của USMC, Web đài tưởng niệm ở Washington DC, Web nghĩa trang Arlington và Web của các cựu QN/TQLC Mỹ đã tham chiến tại VN để tìm tên các CV cũ, và tình trạng “sức khỏe” của họ, nhưng chỉ tìm được tên 5 cố vấn Mỹ bị tử thương khi đi hành quân với TQLC/VN, không thấy tên các cố vấn mà tôi muốn biết, như vậy có lẽ họ đều bình an nên tôi ngưng tìm.
 
Năm 2014, Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam (TQLC/VN) thực hiện cuốn Quân Sử (QS), cần tài liệu chính xác cho các bài viết nên tôi đã liên lạc được với cấp chỉ huy cũ của tôi là Trâu Điên Trưởng Trung Tá Ngô Văn Định (Đồ Sơn), và Cố Vấn, Đại Úy John Sheehan, là hai người biết rõ những gì đã xảy ra với đại đội của tôi trong các cuộc hành quân.
 
Trước khi nói về những việc mà Đồ Sơn và John Sheehan giúp tôi tìm được tin tức các cựu CV đã cùng tôi chiến đấu bên nhau, tôi xin nói qua về nhiệm vụ của CV và mối thân tình của các CV với Trâu Điên nói chung, của Sheehan với Đồ Sơn nói riêng.
Tôi không rõ hệ thống cố vấn (CV) và nhiệm vụ của họ ở các đơn vị bạn, nhưng với Binh Chủng TQLC/VN thì mỗi khi một tiểu đoàn đi hành quân thì sẽ được tăng phái 2 CV Mỹ, một CV đi với tiểu đoàn trưởng (cánh A), một CV đi với tiểu đoàn phó (cánh B). Cấp đại đội thì không có CV đi theo, trừ khi đại đội đó đi riêng với nhiệm vụ đặc biệt.
 
Nhiệm vụ của CV Mỹ khi đi hành quân với tiểu đoàn TQLC/VN là liên lạc với các trực thăng Mỹ để xin tản thương, tiếp tế, quan trọng nhất là khi tiểu đoàn đụng trận thì liên lạc và phối hợp với hệ thống CV Mỹ để xin yểm hỏa lực Pháo Binh, Không Quân Mỹ. CV chỉ có nhiệm vụ theo dõi diễn tiến hành quân, báo cáo và xin yểm trợ hỏa lực, đôi khi góp ý, nhưng không đi vào chi tiết kế hoạch hành quân của đơn vị trưởng. Các CV luôn có sổ tay ghi chép mọi diễn biến trong ngày, như một cuốn nhật ký hành quân để xác định trách nhiệm rõ ràng và đó chính là những tài liệu quý giá chính xác về sau này
 
Cũng xin nói thêm là khi đi hành quân, CV tự túc mang theo lương thực và vật dụng cá nhân, tiểu đoàn chỉ cung cấp người mang máy truyền tin cho họ mà thôi. Khi chấm dứt hành quân thì nhiệm vụ của CV cũng hết và họ trở về nơi cư trú riêng. Nhưng vì TQLCVN là đơn vị tổng trừ bị, đi hành quân liên tục, dài ngày khắp 4 vùng chiến thuật nên các CV Mỹ gần như là quân số cơ hữu của tiểu đoàn, Việt-Mỹ thân thiện và sống chết bên nhau. Mặc dầu được luân phiên thay đổi về nghỉ nhưng có nhiều CV vẫn muốn đi với TQLC. Có CV đã trở về Mỹ sau khi hết nhiệm kỳ, nhưng rồi “nhớ rừng” họ lại xin quay trở lại với TQLC/VN. Đại Úy CV Campbell là một trong những người đó.
 
Thomas Campbell là CV cho Trâu Điên Trưởng Lê Hằng Minh, trong trận Phong Điền, Huế, ngày 29/6/1966, Trung Tá Lê Hằng Minh tử trận thì CV Campbell cũng bị thương, người mang máy cho ông tử trận nhưng ông ta không xin tải thương mà ở lại tiếp tục chiến đấu.
 
Sau khi Tr/Tá Lê Hằng Minh tử trận, Thomas Campbell xin tiếp tục ở lại và làm cố vấn cho Trâu Điên Trưởng Ngô Văn Định (Đồ Sơn) thêm 3 nhiệm kỳ nữa cho tới Mậu Thân 1968 thì Campbell về Mỹ dạy môn lãnh đạo và chỉ huy tại Đại Học Austin Texas và viết sách. Trong tựa đề một cuốn sách, Đại Tá hồi hưu Thomas Campbell đã viết như sau:
 
***
 
Preface
 
_ Long ago, I was young and full of passion for adventure, glory, excitement and faraway places. I satisfied those powerful yearnings tenfold over in the U.S Marines.
 
The greatest of all those adventures began in November 1965 when I was assigned as an advisor to the Vietnamese Marines. I thought that I would make them better Marines, but in the final analysis they made me a better Marine. I learned things from them that are not taught in American military schools. My best teachers were Major Le Hang Minh, Major Nguyen The Luong, Major Dinh Van Ngo, Captain Nguyen Xuan Phuc and Minh’s ever faithful bodyguard.
 
This is the story and the lessons.
 
Co van My
Tom Campbell
Austin, Texas.
 
***.
 
Năm 1968, sau khi Thomas Campbell rời Trâu Điên về Mỹ thì Đại Úy John Sheehan đến thay thế Thomas làm cố vấn trưởng, và cố vấn phó là Trung Úy Carl White. CV John Sheehan làm việc với Trâu Điên Trưởng Ngô Văn Định suốt thời gian Têt Mậu Thân tới trận Cầu Khởi và Bời Lời cho tới ngày 6 tháng 1/1969 thì Trung Tá Ngô Văn Định vả Đại Úy Sheehan cùng bị thương trong trận U Minh. Sau đó thì cả hai ông cùng rời Trâu Điên, Trung Tá Định lên làm Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng TQLC, còn Đại Úy Sheehan thì về Mỹ, tiếp tục trong quân đội, chức vụ sau cùng của John Sheehan là Đại Tướng 4 sao, Tư Lệnh NATO, rồi hồi hưu năm 1997.
 
(“General Sheehan retired from the Marine Corps on September 24, 1997 and, a year later, joined Bechtel International, the 5th-largest privately owned company in the U.S., as a Senior Vice President.”).
 

 
Ngày 6/1/1969, Đồ Sơn bị thương khá nặng vì đạn B40 nên Sheehan cấp tốc tải thương Trâu Điên ra tàu bệnh viện HQ Mỹ, ở đó Đồ Sơn được cứu sống, nếu như…! Còn CV Sheehan bị nhẹ nên ông ta không tản thương. Khi về Mỹ, Sheehan đã mang cái đuôi đạn B40 (RPG) về để làm kỷ niệm. Sau 30/4/75, khi liên lạc được với Trâu Điên Ngô Văn Định thì Gen Sheehan đã gửi trả lại cái đuôi đạn B40 ấy cho Đồ Sơn để làm kỷ niệm. Ông Sheehan viết:
 
Col Dinh, 
This RPG belong to you. You fought well and were good leader. 
I could not have a better friend to fight alongside. 
The RPG is a little dirty but it looks better than it did at 01:30 on January 6th, 1969. 
God Bless and Semper Fi! 
Jack Sheehan 
Gen USMC



(RPG.Đuôi đạn B40, kỷ vật của Gen USMC Sheehan )
 
Đi Tìm Cố Vấn Cố Nhân.
 
Như tôi đã viết ở trên, cấp đại đội không có CV đi theo, trừ khi đi riêng một mình với nhiệm vụ đặc biệt, tôi là đại đội trưởng thường được Đồ Sơn cho cố vấn đi theo, rồi các CV này ra đi hoặc bị thương, thời gian chưa đủ để “tôi nhớ tên anh, tôi viết tên anh trên đá trên hoa..”. Nay, sau khi thấy những tên tương tự trên Bức Tường Đá Đen, tôi nhờ Đồ Sơn và Sheehan tìm họ và chuyển dùm tới họ lời hỏi thăm cám ơn của chúng tôi.
 
1/Người đầu tiên tôi muốn hỏi thăm là Thomas Campbell.
 
Tom (Thomas) là CV trưởng của Trâu Điên Lê Hằng Minh (1966), còn tôi chỉ là trung đội trưởng nên không có gì liên quan đến công việc, còn giao tiếp thì lại càng không, dù họ rất lịch sự, vì vốn liếng tiếng Anh của tôi không đủ để tâm tình mà chỉ có danh từ Việt-Mỹ pha lẫn nhau trong lúc cần thiết khi đụng trận, thí dụ như nói CV gọi “phở bắc”, “gà cồ”, tức là xin pháo binh CV hiểu liền, báo có “ký-lô” (killed: chết), whiskey (wounded: bị thương) để CV gọi trực thăng tải thương. CV xin trực thăng Mỹ tải thương và yểm trợ thì lúc nào được đáp ứng nhanh chóng. Chiến trường, mỗi khắc giá đáng ngàn vàng đó quý vị ơi.
Nói đến ngôn ngữ Việt-Mỹ khi đụng trận thì tôi nhớ đến Trâu Điên Nguyễn Xuân Phúc, trong lúc khẩn cấp tại trận Hạ Lào, TQLC và VC trộn với nhau, vì an ninh quân bạn, phi công Mỹ chưa thả bom nên Robert Lửa Phúc yêu cầu:
- I’m Crazy Buffalo Battalion commander! Please give me all you have at xxx (tọa độ).
 
Phi công còn chần chừ thì anh Phúc hét vào máy:
-Oh my God! Trời ơi! I’m ground commander. Go ahead, do it, please!
 
Tôi nhờ Đồ Sơn và Sheehan hỏi thăm Thomas là vì trong trận Trâu Điên bị phục kích tại cây số 17 QL1 (Phong Điền), Trâu Điên Lê Hằng Minh tử trận, Thomas bị thương, anh Phúc, Hợp và tôi bị thương, nhưng Thomas, Hợp và tôi không xin tải thương mà tiếp tục ở lại chiến đấu, nhìn nhau với vết thương thấm máu, mỉm cười rồi mời nhau điếu thuốc, chỉ có thế thôi.
Sau vài ngày hỏi thăm vể Thomas Campbell thì tôi nhận được email của Đồ Sơn báo cho biết đã có thư của Gen Sheehan, ông ấy viết như sau:
 
***
Col. Dinh; as you know Tom Campbell was one of my closest friends. I was in Houston when he was undergoing cancer treatment at MD Anderson Hospital. He always spoke with tremendous pride about his time with you and the Trau Dien Bn. I think he was responsible for convincing me to request an assignment with the VNMC when I returned to Vietnam.
I will always treasure our relationship and as well as my relationship with Carl. Difficult times make friendship stronger and special.
 
As a matter of historical correctness, I appreciate the promotion to Major; but I was a Captain my entire tour with the VNMC. The USMC was slow on promotions–probably about the same as the VNMC.
 
Thank you for your kind words and dedication to those Marines both US and Vietnamese you are remembering.
Trau Dien.
LN 2
 
***
 
Ông Gen Sheehan đã ký tên là …Trau Đien LN2 mà không là Gen USMC như trước nữa, LN2 tức là Leatherneck 2, là ám danh truyền tin của Cố Vấn Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên.
 
Thật là vui với kỷ niệm “đơn vị cũ, chiến trường xưa”, ý của một Gen USMC muốn nhận ông là Trau Dien, muốn trở lại với Trâu Điên để cùng chiến đấu bên nhau, bảo vệ VN Tự Do, nên tôi sẽ tôn trọng nguyện vọng của Gen John Sheehan, từ đây, mỗi khi nhắc tới Gen Sheehan thì tôi sẽ chỉ viết ngắn gọn là LN2.
 
Không chỉ Gen Sheehan, mà còn một Gen USMC khác nữa, cũng là cố vấn Trâu Điên, năm 2008 ông đã đến thăm Tiểu Đoàn Trưởng và các Đại Đội Trưởng Trâu Điên tại Little Saigon, đó là Gen Hoar. Năm 1966, Trung úy Joseph Hoar là CV Trâu Điên ở Cồn Tiên và sau đó là các tiểu đoàn TQLC khác nữa.
 

(Trâu Điên Cương, Phán, Cấp, Hoar, Đồ Sơn, Dzoan, Cự)             (Gen Joseph Hoar).
 
Chẳng phải vì “thấy sang bắt quàng làm họ” mà tôi đưa hình hai vị tướng 4 sao vào bài viết này, mà chính quý vị ấy đã nhận mình là “Trau Dien” và đến với chúng tôi như những “đồng đội” gần nửa thế kỷ về trước, dù ngày nay chúng tôi là những quân nhân bị “gẫy súng”. Quý vị ấy đã đến với chúng tôi như nước Mỹ đã mở rộng vòng tay đón chúng tôi. Đó cũng là lý do tôi chọn tựa đề cho bài viết này là “Trâu Điên Và Cố Vấn Mỹ, dù muộn nhưng vẫn phải nói”, nói để cám ơn quý vị đã anh dũng chiến đấu và hy sinh bên cạnh Trâu Điên nói riêng và Binh Chủng TQLCVN nói chung. Đã có tới 5 vị Cố Vấn hy sinh bên cạnh các tử sĩ TQLC/VN và hầu như CV nào cũng bị thương. Bây giờ tôi xin tiếp tục hỏi thăm tin tức về các CV khác:
 
2. Các cố vấn tử thương và bị thương trong trận Cầu Khởi là ai?
 
Sau gần 9 tháng hành quân Mậu Thân ở Saigòn, khi tình hình ở Thủ Đô đã trở lại thanh bình thì tháng 9/68, Chiến Đoàn B/TQLC, trong đó có Trâu Điên, được tăng phái cho Nhẩy Dù, dưới quyền chỉ huy tổng quát của Tướng Dư Quốc Đống, để lùng và diệt địch vùng Khiêm Hanh và Bời Lời, Tây Ninh, nơi Tiểu Đoàn 14D Chủ Lực và Trung Đoàn 33 VC đang lẩn trốn.
 
Sáng 14/9/68, từ quận Khiêm Hanh, Đồ Sơn cho lệnh đại đội tôi nhẩy trực thăng “diều hâu” vào mục tiêu Cầu Khởi, để tìm TĐ14D, nếu đụng địch thì Tiểu Đoàn sẽ vào tiếp viện và tiêu diệt địch. Vì đại đội tôi đi riêng nên có một cố vấn đi theo.
Khi đại đội tôi vừa nhẩy trực thăng xuống mục tiêu Cầu Khởi thì bị địch bao vây và tấn công ngay, nhờ kế hoạch hành quân đúng và có CV đi theo nên đã kịp thời liên lạc với hệ thống CV Mỹ xin yểm trợ Pháo Binh, máy bay B57 và trực thăng võ trang Cobras can thiệp kịp thời. Chúng tôi đứng vững để tiểu đoàn nhẩy vào diệt và mọi diễn biến đã đúng như tiên liệu, Trâu Điên hoàn thành nhiệm vụ.
 
Điều không may là đang lúc sôi động thì CV bị trúng đạn, ông ta được tải thương và 1 đại úy cố vấn khác xuống thay thế, nhưng đến 11 giờ đêm, khi đang điều động trực thăng tải thương các thương binh TQLC thì đại úy CV này lại bị thương nữa nên đã được phi hành đoàn trực thăng mang đi luôn. Cả 2 CV đến với tôi quá nhanh và đi cũng nhanh nên tôi không nhớ rõ tên, hơn 40 năm sau, nay tôi nhờ Đồ Sơn và LN2 tìm tung tích của họ để gửi lời cám ơn. Vài ngày sau tôi nhận được email của Đồ Sơn với nội dung đại ý như sau:
 
***
 
_ “ Hi Cấp. Theo tài liệu của Gen Sheehan tìm được thì cố vấn đi với ĐĐ1 của Cấp nhẩy vào Cầu Khởi ngày 14/9/68 là SFC Charles James Moore thuộc Airborne Ranger, Ông Moore tình nguyện nên Đại Úy John Sheehan cố vấn trưởng TĐ2 đồng ý cho đi. Sau đó thì Moore bị pháo kích rồi tải thương, nhưng Moore đã chết trên đường tải thương lúc 4 giờ chiều. Còn Đại Uý thuộc Airborne Ranger đến thay Moore rồi cũng bị thương lúc 11 giờ đêm, được phi hành đoàn trực thăng tải thương luôn với thương binh TQLC thì chưa tìm ra danh tánh, sẽ trả lời sau”.
 
***
 
Như vậy là tôi đã rõ số phận của 2 vị CV đánh trận Cầu Khởi ngày 14/9 với chúng tôi. Đại đội tôi chỉ chọn có 90 người cho nhiệm vụ này và đã bị TĐ14D VC bao vây, trận chiến kéo dài một ngày một đêm, nhưng chúng tôi vẫn đứng vững, vì nhờ có các CV đã hết lòng kêu gọi hỏa lực PB và KQ yểm trợ. Dù Trâu Điên đã diệt được TĐ14D, nhưng chúng tôi rất buồn khi một CV tử thương, một bị thương chưa tìm ra danh tánh. Chúng tôi xin chân thành chia buồn cùng gia đình các vị CV này. CV đã giúp chúng tôi chiến thắng trong tình thế “chỉ mành treo chuông” rồi các CV ra đi, còn chúng tôi thì đến, đến định cư ngay trên quê hương của các ông.
 
3/ Những Cố Vấn Trận Bời Lời?
 
Ngày 14/9/68 tôi đụng trận Cầu Khởi thì ngày 16/9/68, Đại Đội 1 của tôi và ĐĐ3 của Đ/Úy Trần Văn Thương lại nhẩy trực thăng vào mục tiêu mật khu Bời Lời, để chụp 50 VC mà máy bay quan sát L19 phát giác ra chúng đang dừng quân tại đây.
Vì 2 đại đội đi riêng, coi như cánh B, Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Nguyễn Kim Đễ đi học, nên cố vấn phó là Đại Úy Carl White đi với tôi. Khi 2 đại đội vừa nhẩy khỏi trực thăng xuống mục tiêu là đụng liền (máy bay quan sát L19 cho tin rất đúng, nhưng chưa chính xác, vì không phải chỉ có 50 VC, mà là 3 tiểu đoàn VC thuộc Trung Đoàn 33 đang ém quân tại đây, vì có nhiều súng phòng không, tài liệu và vũ khí tịch thu được, cùng lời khai của tù binh).
 
Sau khi xung phong vào mục tiêu thì cố vấn Carl White ngã xuống, nhắm mắt, mặt trắng bệch, tôi không rõ ông bị thương ở đâu, nhưng thấy tình trạng nguy hiểm nên xin tải thương cho ông ta ngay và một cố vấn khác được thả xuống thay thế.
Trước khi nói tiếp diễn tiến cuộc đụng độ thì tôi xin mở ngoặc ở đây để nói về cố vấn phó TĐ2/TQLC là Carl White.
 
Trong trận Mậu Thân ở Saigòn trước đó, khi đại đội tôi tiến quân trên đường Hậu Giang, để đến giải tỏa khu vực cư xá Phú Lâm thì Carl White bị “sniper” VC cho một viên vào trán, viên đạn xuyên qua nón sắt, vì đã chui qua cuộn băng cứu thương cá nhân gài trên nón sắt nên yếu đà và bị nón nhựa giữ lại, chỉ đủ sức chạm vào và để lại cục u tụ máu trên trán White. Sau trận này thì Carl White được thăng đại úy.
 

(hình chụp Carl White ngay tại Chợ Lớn, trên trán còn cục u, cạnh đó là “nhà bán”).
 
LN2 trả lời cho Đồ Sơn về Carl White, theo tài liệu mật vừa được giải mà thì nguyên văn như sau:
_ “at 1555H Capt White was Medivac for Heat Prostration  by the 2nd Bn C and C heliopter.”
 
Như vậy Capt White đã được trực thăng C&C của Đồ Sơn và Sheehan bốc đi bình an, không phải là White mà tôi đọc được trên bức tường đá đen, xin chúc mừng ông. Tôi còn được biết thêm, với kỷ niệm hòn bi ở trán, sau này Carl White đã viết cuốn hồi ký về Trâu Điên và Mậu Thân, xin trích:
 
***
 
TRÂU ĐIÊN!
 
Crazy Buffaloes In Cholon Gap.
(by Major Carl White, United States Marine Corps (Retired).
 
After massive Viet Cong and North Vietnam­ese Army forces launched their Tet Offensive against South Vietnam in the last hours of January 1968, the South Vietnamese Marine Brigade’s 2nd Rifle Battalion was among the units distinguising themselves in the successful defense of Saigon.
 
One of six battalions in the brigade, the 2nd Battalion was commanded by a battle-hardened veteran of near­ly 13 years of combat, Major Ngô Văn Định. A national hero, he had been decorated for gallantry many times, wounded seriously four times, and regarded among the military leadership of South Vietnam and the U.S. Ma­rine advisors who had served with him as a courageous and exceptionally skilled battlefield commander.
 
His battalion was one of the most highly acclaimed military units in the country–from any nation–well known throughout South Vietnam. In 1966, U.S. Presi­dent Lyndon B. Johnson had awarded it the Presidential Unit Citation for heroism in the Battle of Phung Du. The battalion was the first in the Vietnamese Marine Brigade to receive that highest of U.S. unit awards.
 
***
 
Cố vấn phó Carl White được bốc đi thì có CV khác đến thay thế. Sau khi nhận lệnh Đồ Sơn, tôi thả trái khói màu vàng đánh dấu bãi đáp cho trực thăng thả CV xuống, nhưng đến khi nghe Đồ Sơn nói CV đã xuống rồi, Cần Thơ (danh hiệu của tôi) đã gặp CV chưa?
_ Chưa thấy! Lạ quá!
 
Tôi cho lùng sục xung quanh thì phát giác cách chỗ tôi chừng 100m, khu vực tuyến VC, cũng có khói màu vàng đang bốc lên. Tôi “tá hỏa tam tinh” vội báo cho Đồ Sơn biết và xin ông xác nhận điểm thả CV. Ngay lúc đó, đang bay C&C, Đồ Sơn cũng nhận ra dưới đất có 2 vị trí khói vàng và ông cho biết CV đã bị thả xuống vị trí trước tuyến VC rồi!
 
Khi phát giác sự nhầm lẫn tai hại này thì Đồ Sơn rồi Chiến Đoàn Trưởng Tôn Thất Soạn và cả hệ thống cố vấn yêu cầu (ra lệnh) tôi cho người đi cứu cố vấn ngay!
 
Thật là rắc rối, chúng tôi đang đụng, VC đang bao vây, giằng co nhau chiếm từng gốc cây, bụi tre gai, súng phòng không rất mạnh khiến trực thăng khó khăn vào vùng yểm trợ, làm cách nào tiến gần 100m đến trái khói vàng kia? Hơn nữa, chưa biết CV ở vị trí nào, sống chết ra sao, một nhiệm vụ “vô kế khả thi”.
 
Tôi đã nhận lệnh của cấp trên đi tìm và cứu CV ngay, nhưng tôi cũng nhận ra hàm ý của lời căn dặn thêm là phải hết sức cẩn thận kẻo …“Bắc-Bình, Gay-Go”.
 
“Bắc-Bình Gay-Go” có nghĩa là “B.G”, là Bình Giả, những gì xẩy ra tại trận Bình Giả, Phước Tuy, ngày 31/12/1964 chúng tôi hiểu cả rồi, chỉ vì thượng cấp QĐ “ở trên trời” ra lệnh “bằng mọi giá” cho TĐ4/TQLC đi tìm xác phi cơ, phi công! Rồi cái giá phải trả là TĐ4 hy sinh thêm hằng trăm sinh mạng khác. Nay tôi phục cấp chỉ huy của tôi đã sáng suốt, dày đạn kinh nghiệm chiến trường, ông hiểu khả năng của thuộc cấp nên ra lệnh cho tôi cẩn thận, tùy cơ ứng biến, nhưng tôi chưa biết “biến” bằng cách nào, trong khi mỗi giây phút chậm trễ là rất nguy hiểm cho cố vấn và chính chúng tôi. Thiếu CV và CV đang trong tình trạng sinh tử này thì chúng tôi sẽ khó mà có yểm trợ hỏa lực từ phía HK.
 
Tôi nhớ mãi trong cuộc hành quân giải tỏa đồn Đức Cơ năm 1965, các phi cơ đang quần thảo trút bom đạn xuống mục tiêu thì một “thần sấm” trúng phòng không, phi cơ chúi xuống rồi nổ còn phi công bay ra, cánh dù lơ lửng bay theo chiều gió đưa phi công về phía địch, biên giới Việt Miên, lập tức các phi cơ bỏ mục tiêu mà bay vòng tròn quanh cánh dù, các trực thăng cũng bay theo và bắn xuống đất nơi mà dù lơ lửng bay ở trên cao… tôi không rõ số phận phi công đó.
 
Một điều đáng quan tâm nữa liên quan tới vụ trực thăng thả lầm CV vào tuyến VC là Đại Úy Thương ĐĐ3 đã báo cho tôi biết anh đã trông thấy một trực thăng bị “xịt khói” rồi bay đi cùng thời điểm CV được thả xuống. Tôi không có thì giờ nghĩ về trực thăng bị bắn ra sao mà tìm cách cứu CV. Chợt Hạ Sĩ 1 Nguyễn Văn Thà, người mang máy cho tôi, hốt hoảng la:
_ Ông thầy coi kìa.
 
Theo hứơng tay chỉ của Thà, qua ống nhòm, tôi đã nhận ra một cánh tay từ bụi rậm đưa lên rồi mất hút. Quả quyết đây là cố vấn bị thả nhầm vị trí, đã sẵn kế hoạch trong đầu, tôi ra lệnh ngay cho trung đội trưởng là Thiếu Úy Huỳnh Vinh Quang, tập trung tất cả đại liên M60 và M79 của đại đội tác xạ tối đa và liên tục vào tuyến VC mà phía ngoài bãi đáp là nơi CV núp. Có lẽ VC chưa phát giác ra vị trí CV núp, mà nếu có thấy thì chúng quyết bắt sống chứ không bắn chết, giá trị sống chết khác nhau.
Trong khi các súng M60 và M79 bắn tối đa vào tuyến VC thì Trung Sĩ 1 Trần Tráng dẫn tiểu đội bò dưới hỏa lực của mình để yềm trợ cho HS1 Bùi Ngọc Đường và HS Nguyễn Văn Hợi chạy thật nhanh đến nơi có CV núp. Đường và Hợi là hai cận vệ đã cứu tôi thoát chềt nhiều lần nên tôi tin tưởng và hy vọng Đường và Hợi sẽ hoàn thành nhiệm vụ.
 
Khi viết lại việc này, tôi xin phép không đi vào chi tiết diễn tiến cuộc cứu CV, nhưng thật căng thẳng và lo âu, hồi hộp từng giây, tay tôi liên tục đốt thuốc, vừa kéo xong một hơi thì vất đi, đốt điếu khác, tôi đã phải làm một việc lần đầu tiên quá khả năng của tôi.
 
Tôi thở phào khoan khoái khi thấy Đường cõng một người trên lưng, lom khom lúp súp chạy về, Hợi thì vừa phụ đẩy vừa canh chừng phía sau, tiểu đội của Trần Tráng cũng đang rút lui theo. Cái hình ảnh không bao giờ tôi có thể quên được là khi vừa chạy về tới chổ tôi đứng thì Đường ngã vật ra, CV Mỹ ngã theo, cả hai thân hình nhuộm máu.
 
CV đã được cứu, vui hơn nữa là tất cả toán cấp cứu đi và về đầy đủ, trừ 4 người trong tiểu đội của Trần Tráng bị thương nhẹ. Tr/Úy CV bị bắn vào nách, trực thăng đã xuống bốc người bị thương đi ngay và thả một thiếu tá CV khác xuống thay thế, tôi không kịp nhìn bảng tên của họ. Sau đó tôi không biết tin tức của trung úy CV này sống chết ra sao.
 
Sau cuộc hành quân, CV Mỹ ở trên Sư Đoàn đã gửi xuống cho đại đội tôi một số huy chương, trong đó có 1 Bronze Star là cao hơn cả, tôi biết phần thưởng danh dự này sẽ thuộc về ai. Nếu CV hỏi ý kiến tôi thì tôi sẽ đề nghị cho Đường, Hợi và tiểu đội Trần Tráng mỗi người 1 Silver Star hay cao hơn.
 
Hạ Sĩ 1 Bùi Ngọc Đường, ngừơi cận vệ, người bạn thân tín của tôi mang Bronze Star, anh còn được Thiếu Tá Lê Đình Bảo, Trưởng Phòng Chính Huấn Sư Đoàn TQLC thưởng cho 1 xe Honda 50. Đường không nghĩ đến những gì sẽ được hoặc sẽ mất khi lao vào lửa đạn, anh xứng đáng được nhận các phần thưởng này, nhưng rất tiếc “TQLC sống hùng sống mạnh nhưng không sống lâu”, Đường chưa kịp chở người yêu dạo phố Sài Gòn bằng Honda thì anh tử trận sau đó trong một cuộc hành quân sang Miên.
 
Người cõng CV về là Bùi Ngọc Đường đã tử trận, thế còn các cố vấn thì sao? Tôi đã nhờ Đồ Sơn hỏi LN2 thì nhận được 2 email nguyên văn như sau:
 
***
 
On Tue, Aug 26, 2014 at 7:57 PM, John Sheehan wrote:
Col, Dinh; we think the Marine in question is I/Lt Joe Bargerstock. He was shot in the chest and upper body, more serious than originally thought –spent a long time in the hospital. He ultimately retired after 20 years in the Marine Corps. Carl White talks to him and Carl will give you the detail info​.
 
Hope this helps.
Your friend and fellow Marine
Jack
 
——————-
 
Col. Dinh.​ As I was going through my records in search of the information you requested I came across a picture of the team of VN Marines who rescued Lt Bargerstock. The squad leader was awarded a Bronze Star and the others were awarded achievement medals. The picture was taken a month or so after the fight.
 
I will send you a copy of the picture in the morning. ( I need to go buy a new memory card)
S/F
Jack.
 
***
 
Theo email thứ nhất của LN2 trên đây thì Tr/Úy CV được cứu về từ tay Việt Cộng là I/Lt Joe Bargerstock chỉ bị thương nặng và đã giải ngũ, giả sử ngày đó vì xuống giúp tôi mà ông có mệnh hệ nào thì tôi buồn lắm. Tin ông bình an và giải ngũ, ông và tôi cùng mừng và xin chúc ông khỏe trẻ mãi.
 
Tuy nhiên, niềm vui không trọn vẹn, theo tài liệu mật vừa được giải mã, cuộc hành quân Bời Lời này có 2 CV bị thương, 3 người Mỹ thuộc phi hành đoàn trực thăng chết.
 
Ngày đó, khi Đ/Úy Trần Văn Thương báo cho tôi biết có 1 trực thăng bay lên bị bắn xịt khói, tôi đã nghĩ đây là trực thăng chở CV Joe đến thay cho Carl White bị bắn nên họ đã vội vàng thả Joe xuống rồi bay đi, nay thì đúng như tôi đoán, nhưng rất buồn là cả phi hành đoàn 3 người đã “nổ” theo trực thăng!
 
Còn email thứ hai thì LN2 nói về huy chương tặng cho toán “rescued LT Joe”, trong đó có 1 Bronze Star. Dầu sao thì cũng cám ơn quý vị, nhưng khi xông vào chỗ chết để tìm sự sống cho Lt Joe Bargerstok thì đó cũng như nhiệm vụ Trâu Điên cứu đồng đội mà không bao giờ nghĩ đến việc sẽ mất gì (mạng), sẽ được gì (huy chương, thăng cấp). Vả lại Trâu Điên mà LN2 gắn Bronze Star lên ngực thì đã được “hòm gỗ cài hoa”, Quốc Kỳ phủ quan tài, đó niềm vinh dự tối cao của một quân nhân VNCH nói chung, TQLC và Trâu Điên nói riêng, vì vấn đề tế nhị đối với gia đình người đã tử trận, tôi không thể đưa tấm hình đó vào bài viết này được.
 
Major Ward, Người Hùng…
 
Theo tin LN2 cung cấp thì CV xuống thay cho Trung Úy Joe Bargerstock là Thiếu Tá H.T.Ward, CV của Chiến Đoàn. Major Ward đã cùng tôi trải qua một đêm vô cùng hồi hộp.
 
Vì phòng không của VC khá mạnh, nên cho đến chiều tối cánh A của Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn vẫn không xuống được nên Đồ Sơn cho lệnh tôi và Đ/Úy Thương phối hợp phòng thủ đêm tại chỗ còn Đồ Sơn, Ban 3 Lâm Đồng và Chiến Đoàn Trưởng Saigòn thì bay C&C suốt đêm để theo dõi địch di chuyển và yểm trợ tinh thần cho chúng tôi.
 
Dựa vào địa thế một mặt là rừng tre gai rậm rạp, mặt kia là bãi đáp trực thăng (LZ) trống trải, chúng tôi biết địch, nếu tấn công đêm thì chúng chỉ có thể tấn đêm từ phía LZ, nên tôi đã bàn với CV Ward thiết lập sẵn kế hoạch hỏa lực, nhất là hỏa lực của trực thăng võ trang cobras.
 
Gần về sáng, đúng như dự đoán, VC tấn công mãnh liệt từ hướng LZ, chúng đã vào sát tuyến phòng thủ của chúng tôi, muốn dùng biển người, nhưng đây là lúc CV Ward ra tay. Theo như kế hoạch đã tính trước, các trực thăng cobras theo hướng dẫn của CV cứ phóng hỏa tiễn và bắn đại liên sát tuyến phòng thủ của chúng tôi, buộc địch tan tác và rút lui.
 
Chúng tôi không đi vào chi tiết diễn tiến trận tấn công đêm của VC, nhưng quả thật là gay cấn và hồi hộp, nếu không có Major Ward với tài điều khiển cobras thì 2 đại đội 1&3 Trâu Điên đã bị biển người của 3 tiểu đoàn Trung Đoàn 33 tràn ngập, dĩ nhiên yếu tố con người, tinh thần chiến đấu của Trâu Điên là quyết định.
 
Ngày 17/9, trời vừa sáng, cánh A của Đồ Sơn đã xuống mà còn thấy VC chạy tán loạn từ LZ trốn vào rừng. Nhưng rất tiếc 2 Trâu Điên lại bị hy sinh vào giờ thứ 25, Hạ Sĩ 1 Thà, người mang máy cho tôi, và cũng là người đã phát giác ra vị trí CV Joe núp, Thà thấy cây B40 nẳm cách tuyến chừng 20m, anh vội bỏ máy, chạy ra lựơm B40, nhưng một tiếng nổ kinh hồn, tên VC đã tự sát bằng chất nổ gài đầy người khiến nó và Thà biến mất trong đám cây cỏ sình lầy, còn Hạ Sĩ Tha đi với Đại Đội Phó Lâm Tài Thạnh cũng bị tử thương khi đi thu lượm chiến lợi phẩm.
 
Một điều khá bất ngờ với tôi là vị Tư Lệnh chỉ huy chiến dịch lùng và diệt địch này là Tướng ND Dư Quốc Đống cũng xuống ngay vị trí phòng thủ của 1 Đại Đội Trâu Điên khi khói súng chưa tan, ông hài lòng với kết quả mà chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Theo tài liệu mật của Mỹ vừa đựơc giải mã thì kết quả trong trận Cầu Khởi và Bời Lời như sau:
 
Trong cuộc Hành Quân Cầu Khởi ngày 14/9/68 có một CV chết là Charles James Moore và 1 đại úy CV Mỹ bị thương. Trâu điên 3 tử trận, 10 bị thương.
 
Hành quân Bời Lời ngày 16/9/68 có 3 người Mỹ thuộc phi hành đoàn chết và 2 CV bị thương. Trâu Điên 6 bị thương và 2 tử thương ( đó là HS1 Thà và HS Tha)
 
Vũ khí của VC thu được:
1 SC 61ly, 11 AK, 2 Đại liên, 1 B40, 2 súng trường SKS, 3 VC bị bắt và 53 xác VC nằm trước truyến phòng thủ của Trâu Điên.
Cuộc hành quân lùng diệt địch Cầu Khởi Bời Lời của Trâu Điên kết thúc bằng một màn cười ra nước mắt, chết tới nơi cũng cười. Khi vừa đóng quân đêm xong thì lệnh thượng cấp bắt Trâu Điên phải di chuyển gấp đi nơi khác để B52 trải thảm vùng này, nhưng khốn khổ thay khi ra khỏi tuyến chừng 500m là đụng nặng, tiến không được mà đứng yên thì B52 đến! Đây là lúc Đồ Sơn và LN2 phải làm việc với thượng cấp vô cùng cấp bách và dĩ nhiên với bao mạng người, thượng cấp buộc phải chấp thuận lời yêu cầu của Đồ Sơn và LN2 mà điều B52 đi chỗ khác.
 
4/ Cố Vấn Bị Mất Cánh Tay, Nay Ra Sao?
 
Sau trận Cầu Khởi và Bời Lời thì Trâu Điên đi U Minh, ngày 6 tháng 1/69, Đồ Sơn và LN2 cùng bị thương vì B40 thì Th/Tá Nguyễn Xuân Phúc về làm Trâu Điên Trưởng. Ngày 16/9/69, trong cuộc hành quân tâi kinh Cán Gáo tình Chương Thiện, anh Phúc giao cho tôi chỉ huy cánh B và có CV đi theo. Khi từ ruộng nước tiến vào bìa làng thì ban chỉ huy cánh B bị đụng nặng, tôi bị gẫy chân tay, “trào máu họng”, CV bị bay một cánh tay, cận vệ của tôi tử trận, các hiệu thính viên bị thương. Cố vấn được tải thương đi đâu, tình trạng thế nào thì cho đến nay tôi cũng không biết, đó là một trong những lý do tôi viết bài này để hy vọng biết được tin ông ta vẫn bình an mạnh khỏe, dù là một thương phế binh.
 
Còn tôi được đưa bệnh viện Phan Thanh Giản Cần Thơ cấp cứu rồi chuyển tiếp về bệnh viện Lê Hữu Sanh Thị Nghè SG. Khi tỉnh dậy thì tôi thấy “Bà Mẹ Quê” của tôi đang lấy tay cạy những vết máu và bùn đã khô trên mặt tôi, nước mắt mẹ già chảy xuống mặt con làm tôi mở mắt ra, thấy con tỉnh lại, mẹ già đưa tay quẹt nước mắt, run run nói:
_“Con bị thế thế này nhưng còn sống là mẹ mừng rồi”.
 
Bà mẹ Việt Nam cũng như tất cả bà mẹ các dân tộc khác, thương con vô cùng, nhất là các con vì nhiệm vụ mà lao vào lửa đạn. Quý độc giả đã coi cuốn phim “We Are The Soldiers”, đã nhìn thấy cảnh các bà mẹ, người vợ lo âu sợ sệt khi thấy người bưu tín viên đi vào cư xá, họ sẽ thở phào nếu người mailman đi qua, nhưng họ sẽ hốt hoảng, ngã xuống rồi ngất đi khi người mailman dừng trước cửa. Mẹ tôi đã xỉu, đã chết giấc như thế khi nghe tin tôi bị thương, vậy thì các bà mẹ, các bà vợ của các Cố Vấn Mỹ đã đi với tôi rồi bị thương, tử thương là hình ảnh của mẹ tôi.
 
Đã gần nửa thế kỷ qua, nay, 2014, tôi mới có dịp ôn lại những kỷ niệm xưa, đã quá muộn, nhưng muộn còn hơn không, muộn vẫn phải nói lời cám ơn đến các vị Cố Vấn, đến các bà mẹ, các người vợ của các quân nhân Mỹ nói chung, và các cố vấn Mỹ nói riêng đã bị thương và hy sinh trên chiến trường Việt Nam.
 
Nếu tôi chỉ nói lời cám ơn “xuông” thì chưa đủ, mà còn phải khuyến khích các con cháu phục vụ nước Mỹ, quê hương thứ hai của chúng tôi. Con của các TQLCVN như Lương Xuân Đương, Đoàn Trọng Cảo, của Cần Thơ, Hà Nội v.v.. đã là cấp chỉ huy, là USMC và các quân binh chủng khác nữa trong quân đội Hoa Kỳ. Trước kia chúng ta là đồng minh, nay chúng ta là “đồng bào”.
Trâu Điên và Cố Vấn Mỹ đã sát cánh cùng nhau trong cuộc chiến, là đồng minh, là đồng đội, chúng tôi cùng giúp nhau sao cho nhiệm vụ được hoàn thành tốt đẹp, đúng như Cố Vấn Thomas Campbell đã viết trong tựa đề cuốn sách:
“ I thought that I would make them better Marines, but in the final analysis they made me a better Marine.”



(Cấp trước khi bị thương)                     (Các đại đội trưởng: Cấp bó bột chân tay, Hợp, Dzoan, Tiền)
 
Ghi Chú: Nếu các binh chủng bạn có những tiểu đoàn nổi tiếng như Sấu Thần, Cọp Ba Đầu Rằn, Song Kiếm Trấn Ải v.v.. thì Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến( TQLC) chúng tôi cũng có những tiểu đoàn nổi tiếng, một trong những đơn vị đó là Trâu Điên, tức Tiểu Đoàn 2/TQLC. Trong bài viết này tôi xin dùng danh xưng “Trâu Điên”, và các Tiểu Đoàn Trưởng là “Trâu Điên Trưởng”.
Tôi xin chân thành cám ơn Trâu Điên Trưởng Đồ Sơn và cố vấn trưởng Trâu Điên John Sheehan đã cung cấp cho tôi tài liệu để tôi viết bài này. ( MX Tô Văn Cấp)
 
Phila Tô 
©T.Vấn 2014


Đăng nhập để trả lời
0



NGỒI ĐÓ CHI CHO THÊM BUỒN CHIẾN HỮU
ngồi đó chi cho thêm buồn chiến hữu
đứng lên đi, tôi cho mượn một bờ vai
đã dập nát bởi hòn tên mũi đạn
nhưng cũng còn đủ chỗ cho nhau tựa một lần

bờ vai lệch một thời gánh oằn lưng trách nhiệm
tổ quốc non sông danh dự con người
trao bó cờ lấy cớ để làm quen
và để nhỏ lệ với nhau tri ân những anh hùng liệt nữ

những trai làng từ bỏ nông trang
ôm súng đạn đi làm người hào kiệt
những sĩ tử thoắt biến thành tử sĩ
không trở về cố lý buổi phân kỳ...

anh người Lính tuổi đời non thế kỷ
anh Chiến Binh còn đương tuổi xuân thì
tôi một thời cũng đã khoác chinh y
và như thế chúng ta là bè bạn

ngồi đó chi cho thêm buồn chiến hữu
đi theo tôi trả lại cỗ quan tài
mua lá quân kỳ mai phủ kín đời trai
thay da ngựa bọc thây miền quan tái

xòe tay ra, tôi tặng tấm thẻ bài
để cạo gió nơi địa đầu biên ải 
mài làm dao giải thoát kiếp tù binh
khi thất trận cho hào hùng sĩ khí

tôi vẫn nhớ bốn lăm năm về trước
những Marines kiêu dũng của đồng minh
cùng chúng tôi tiêu diệt lũ âm binh
cũng vãi đái ra quần khi lâm trận

kẻ nói láo giờ đây lâm trọng bịnh
bởi một thời làm gã điếm đi đêm
hắn tổng thống mấy lần từng trốn lính
ngọai trưởng kia phản chiến cũng ra trò

ngồi đó chi cho thêm buồn chiến hữu
đứng lên đi giũ sạch những ưu phiền
chiến tranh làm cho nhân loại cuồng điên
theo tôi, đi làm mấy ly phiên phiến

mấy mươi năm thân đất khách quê người
xong phận tù đã thoát lũ đười ươi
tôi vẫn nhớ ngày cuối thu ảm đạm
nghĩa trang quen lắm những bia mồ

non sáu mươi nghìn ... con số những anh hùng
đã một thời vì nước Việt lao lung
bia vinh danh muôn thuở chẳng lu mờ
tôi trân trọng tri ân và mãi nhớ

ngồi đó chi cho thêm buồn chiến hữu
lấy bản đồ ra tôi chỉ cho xem
đi hết nghĩa trang có một rặng liễu xanh
dừng lại đấy ghi danh mà giữ chỗ...

ngồi đó chi cho thêm buồn? Chiến Hữu!


Chiều Oak Hill Memorial Park .San Jose.California- Veterans Day.Nov11.2014.Dzuylynh
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.11.2014 14:16:06 bởi Ct.Ly>

CĂN CỨ ALPHA

BĐQ Đoàn Trọng Hiếu


 
Đồi 46 căn cứ Alpha hay còn gọi là ngọn đồi máu có lẽ vẫn còn ghi đậm trong tâm khảm của các chiến sĩ hai Liên Đoàn 3 và Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân, hay nói đúng hơn là với Tiểu đoàn 30 BĐQ dưới sự chỉ huy của thiếu tá Võ Mộng Thúy, và tiểu đoàn 52 BĐQ dưới sự chỉ huy của thiếu tá Lê Quý Dậu.
       Đồi 46 nằm cách ngã ba Krêk khoảng hơn 3 cây số về hướng đồn điền cao su Mimôt, trên lãnh thổ Kampuchia, vùng này do Sư đoàn 25 Bộ Binh chịu trách nhiệm.  Từ sau trận chiến tại thung lũng Dambe, gần bờ sông Mêkông thuộc tỉnh Kampongcham, giữa hai Liên Đoàn 3 và 5 BĐQ, cùng với Lữ đoàn 3 kỵ binh tử chiến với 3 công trường trừ 5, 7, 9 của quân CS Bắc Việt vào những tháng 3 và 4 năm 1971.  Sau khi rút ra từ Dambe, hai Liên đoàn 3 và 5 BĐQ được tăng cường cho Sư Đoàn 25 BB, Liên đoàn 3 trải quân dọc theo QL7 về hướng Kampongcham, từ căn cứ Lò than đến căn cứ Anh Đào.  Liên đoàn 5 trải dọc từ ngã 3 Krêk về đồn điền Mimôt.   Tiểu đoàn 30 BĐQ trấn giữ căn cứ Alpha nằm trên ngọn đồi 46 vị trí cuối cùng về phía đông của LĐ5.
 

 
       Vào tháng 8/71, một trung đoàn thuộc công trường 7 được tăng cường tiểu đoàn 429 đặc công, bao vây tấn công căn cứ Alpha.  Vòng vây thu hẹp dần, sau hơn một tháng bị địch bao vây thắt chặt, hai đại đội của TĐ30 hoạt động bên ngoài căn cứ đã dần dần phải rút vào bên trong.  Trước tình hình nghiêm trọng, chi đoàn 2/18 Sao Bắc Đẩu do trung úy Phi Điểu là Chi đoàn trưởng và Đại đội 3/52BĐQ do trung úy Nguyễn Ngọc Tỉnh (K23TĐ) là Đại đội trưởng, được lệnh vào tăng cường hoạt động vòng ngoài, để giải tỏa áp lực đang đè nặng lên căn cứ Alpha.  Trước quân số quá đông và hỏa lực quá mạnh của các loại vũ khí nặng như 57 ly không giật, các loại chống chiến xa như B40, B41, khiến lực lượng tăng cường xoay sở chống đỡ rất khó khăn và di chuyển liên tục.  Nhiều dàn phòng không 12ly7 đặt dọc theo bìa rừng cao su cách QL7 hơn năm trăm mét, khiến cho vấn đề tiếp tế và tải thương vô cùng khó khăn.  Sau hơn 3 ngày quần thảo, chi đoàn 2/18 và đại đội 3/52 đã phải triệt thoái ban đêm, trên đường rút lui chiếc xe M113 chỉ huy, cán trúng một trái bom chưa nồ khiến nó nổ tung, tr/úy Phi Điểu và một số binh sĩ hy sinh, đại đội 3/52 cũng thiệt hại nặng, gần 10 tử thương và một số bị thương, nhưng tất cả đều được mang ra khỏi trận địa.
       Hai ngày sau, một cuộc hành quân giải tỏa căn cứ Alpha được thi hành với sự tham dự của 3 đại đội còn lại của TĐ52 BĐQ và Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh.  Chỉ huy cuộc hành quân là thiếu tá Lộc,Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 18, Thiếu tá Lê Quý Dậu, Tiểu đoàn trưởng TĐ52 BĐQ là phụ tá.  Đây là một cuộâc hành quân tấn công đúng nghĩa, một sự phát huy hiệu quả nhất, toàn hảo nhất của nhị thức Bộ Binh - Thiết Giáp.
       Sáng sớm ngày N, lực lượng hành quân xuất phát lúc 5 giờ sáng, di chuyển đến ngã ba Krêk thì bắt đầu khai triển đội hình thành ba mũi tiến quân:
       a/ Mũi thứ nhất, bên cánh trái, là Chi đoàn 1/18 chiến xa với Đại đội 4/52 tùng thiết dưới sự chỉ huy của Đại úy Trương Thanh Minh, BĐQ đi dọc theo QL7 cách chừng hơn 300 thước
       b/ Mũi thứ hai, đi giữa, gồm Chi đoàn 3/18 với Đại đội 1/52 do Trung úy Lê Văn Hiếu (K25TĐ) làm Đại đội trưởng, mũi này đươc chỉ huy bởi đại úy Đức (Đức Hòa) Chi đoàn trưởng Chi đoàn 3/18.
       c/ Mũi thứ ba, đi bên cánh phải, là Chi đoàn 2/18 với Đại đội 2/52 do Trung úy Lộc (K19TĐ) là Đại đội trưởng, mũi này đươc chỉ huy bởi Thiếu tá Hồng Khắc Trân (K19ĐL) Tiểu đoàn phó TĐ52BĐQ.
       Thời gian này tôi làm Đại đội phó Đại đội 1/52, buổi chiều trước cuộc hành quân, Chuẩn úy Nguyễn văn Mạnh Trung đội trưởng Tr/đ 1, nhận sự vụ lệnh biệt phái về nhiệm sở cũ (Mạnh là nhân viên Ty Thuế vụ tỉnh Kiến Hòa) tuy nhiên anh cũng xin được ở lại để tham dự cuộc hành quân.  Trung úy Lê Văn Hiếu ĐĐ trưởng cũng nhận được công điện từ hậu cứ đánh lên, vợ anh vừa cho chào đời đứa con trai thứ hai, nhưng anh cũng không đành giao đơn vị cho tôi trong lúc dầu sôi lửa bỏng.
       Sáng sớm ngày N, tôi cùng Trung đội 3 của Thượng sĩ Diệu đi cùng Chi đội của Thiếu úy Nhiều.  ,Nhiều khóa 6/68 sau tôi hai khóa, anh nói với tôi:
        - Hôm nay Thiếu úy Hiếu coi Thiếu úy Nhiều đánh giặc, không đẹp không lấy tiền.
 

 
       Tôi đã đi với Nhiều nhiều lần.  Người sĩ quan Thiết giáp gan dạ và phản ứng rất nhanh, đồng thời người tài xế cũng không kém ông thầy.  Họ phối hợp rất nhịp nhàng với nhau bằng những ám hiệu riêng.  Năm ngoái, khoảng tháng 10/70, cũng tại khu vực Mimôt này, tôi cũng đi chung xe với Nhiều, chúng tôi bị phục kích tại một vườn chuối.  Khi trái B40 đầu tiên khai hỏa vọt khỏi đầu chúng tôi, thì bằng một ám hiệu riêng, viên tài xế nhấn hết ga, lao thẳng vào phòng tuyến Việt cộng.  Anh điều khiển chiếc xe như anh chàng biểu diễn môtô bay, chạy ngang chạy dọc, chạy tới chạy lui, dùng hai lằn xích day, nghiến, nghiền các vị trí hầm hố, trong khi chúng tôi dùng lựu đạn và hỏa lực cá nhân, cũng như các xạ thủ của cây 50 và hai cây 30 gắn trên xe bắn như mưa bão vào các vị trí chung quanh.  Nhiều thường nói "nó muốn rang mình thì mình cũng phải xay nó chớ".  Vì thế nên đã được anh em ở Thiết Đoàn 18 ưu ái tặng cho cái tên là "Thiếu úy Liều".  Tôi bèn trả lời Nhiều một câu cho vui:
       - Tao vốn đau tim, đi chung với mày có ngày nó ngừng đập??  Khi rời tuyến xuất phát, ba cánh quân tiến song song, khoảng một giờ sau thì chỉ còn cách căn cứ Alpha, do Tiểu đoàn 30 BĐQ trấn giữ khoảng ngót cây số, mũi thứ ba bên cánh phải chuyển hướng bọc xuống phía nam của căn cứ, mũi thứ nhất và thứ hai chúng tôi ép trái về hướng đông bắc, để tiến về phía bắc căn cứ.  Khi đến ngang căn cứ, cả hai cánh quân dàn hàng ngang để tiến về khu rừng cao su ở hướng bắc khoảng cách chừng 800 thước.  Khoảng cách thu hẹp dần, 700 rồi 600, rồi bất thình lình ngay trước đầu xe khoảng cách không đầy 50 thước, bọn Việt cộng đồng loạt nổ súng trên một trận tuyến hàng ngang đối diện với chúng tôi.  Những cây B40 thi nhau gởi những "trái bắp chuối" cùng các loại vũ khí cá nhân nổ chát chúa.  Xe trung úy Lê Văn Hiếu bị trúng đạn bốc cháy.  Mấy thầy trò ông văng ra khỏi xe, người tài xế tuy tử thương nhưng chiếc xe vẫn lao về phía trước mang theo viên Thiếu úy Chi đội trưởng và Hạ sĩ Xuân BĐQ.  Chiếc xe chỉ chịu dừng lại khi nó đụng vào môt gốc cao su và bốc cháy.  Cùng lúc đó một trái B40 vọt qua đầu chúng tôi.  Tôi chỉ kịp hét vào tai người xạ thủ cây đại liên 50 bảo ông bắn chúi xuống nữa, vì địch chỉ cách đầu xe không đầy 30 mét.  Tôi chưa kịp lệnh cho anh em BĐQ nhảy xuống xe thì Th/u Nhiều đã dùng gót giầy ấn vào gáy người tài xế.  Nhận được mật hiệu, người tài xế nhấn ga cho chiếc xe chồm lên lao thẳng vào phòng tuyến đối phương, rồi bằng một động tác thật điêu luyện, anh kéo cái cần lái bên trái cho chiếc xe quay ngang để lọt lằn xích bên phải xuống dãy giao thông hào.  Chiếc xe nghiêng sang bên phải, làm ba binh sĩ rơi vào trong thùng xe, một người văng xuống đất ngay trên phòng tuyến của Việt cộng, nhưng anh đã nhanh chân chạy về phía sau.  Còn tôi nhờ ngồi chung với anh xạ thủ cây 50, nên bám lại được.  Chiếc xe chạy tới rồi lại chạy lui, day qua nghiến lại, những tiếng hét thất thanh chỉ vừa lọt qua miệng đã ngưng vì đã bị xích sắt nghiền nát.  Chiếc xe rú lên chạy về phía trước mấy thước nữa rồi vọt lên khỏi giao thông hào trở về với đội hình hàng ngang của Chi đoàn, cũng phải ít nhất năm bảy tên bị "sinh Bắc tử Nam".  Sự việc diễn ra chớp nhoáng, tôi chỉ kịp dơ ngón tay cái lên với Nhiều rồi nhanh nhẹn nhảy xuống xe lệnh cho các trung đội bố trì hàng ngang xen kẽ với Thiết giáp.  Chạy về phía Tr/úy Lê văn Hiếu, thấy ông may mắn chỉ bị tức, tôi kéo hai binh sĩ mang máy truyền tin theo rồi đến gặp Đại úy Đức, yêu cầu cho tác xạ yểm trợ tối đa để chúng không dám ngóc đầu lên.  Anh em BĐQ sẽ bò dưới hỏa lực tiếp cận chúng để thanh toán chúng bằng lựu đạn, khi trái khói vàng ném ra thì hỏa lực thiết giáp sẽ chuyển hướng tác xạ để BĐQ xung phong chiếm mục tiêu.  Tôi chọn cách đánh này vì khi cùng chiếc M113 cán lên phòng tuyến địch, tôi nhận ra chúng chỉ có giao thông hào chữ chi và hầm ếch.
       Sau khi lệnh được truyền ra đến từng xa đội, cũng như đến các trung đội, mọi binh sĩ đều sẵn sàng, tôi báo cho đại úy Đức biết để ra hiệu lệnh tấn công.  Những cây đại liên 50 nổ...kình ...kình... kình... xen lẫn với tiếng đại liên 30 cạch ..cạch.. cạch...nổ phía sau lưng nghe thật chát chúa.  Tôi cầm sẵn trái khói vàng cùng 3 Trung đội căng hàng ngang bò lên, khi khoảng cách còn không đầy 15 mét, những tiếng ầm ầm của hết loạt lựu đạn này đến loạt lựu đạn khác được ném ra lọt xuống giao thông hào.  Xen lẫn với những tiếng thét thất thanh, một vài tên sống sót bỏ phòng tuyến vùng chạy, nhưng lập tức bị đốn ngã bởi lưới đạn dầy đặc.  Tôi ném trái khói về phía trước và ra lệnh xung phong khi hỏa lực thiết giáp chuyển hướng.
       Những tiếng hô "Biệt Động Sát! Biệt Động Sát! Biệt Động Sát!," vọng sâu vào trong rừng cao su rồi dội lại, đang cùng Đại đội lao mình về phía trước vừa xung phong vừa bắn xối xả để cướp tinh thần địch.  Vượt khỏi dẫy giao thông hào hơn 30 mét tôi ra lệnh ngừng lại bố trí và cho các tổ khinh binh quay ngược lại lục soát mục tiêu, tôi chợt thấy Tr/u Hiếu, Đại đội trưởng đã đứng sau lưng, tôi lên tiếng:
       - Sao trung úy không ở đằng sau nghỉ cho khỏe!
       - Tao sợ mày nóng ẩu rồi nướng thằng Mạnh nên tao đã ở sau lưng mày từ lúc đầu, nhưng thấy mày chơi có bài bản nên để mày làm.
       Kết quả trận đánh thật không ngờ, 52 vịt con phơi xác tại trận, bắt sống 1, gần 40 cây súng gồm B40 và AK bị tịch thu.  Bên ta cháy một xe M113, phía Thiết giáp 1 Th/u và 1 tài xế hy sinh, phía BĐQ Hạ sĩ Xuân tử thương trong xe, ngoài ra gần chục binh sĩ bị thương nhẹ.
 

 
 
 
       Mũi thứ nhất do Chi đoàn chiến xa và Đại đội 4/52 cũng chạm địch, kết quả 14 vịt con bỏ xác tại trận, bên ta bị thiệt hại nhẹ, trong số anh em bị thương có Đại úy Trương Thanh Minh, Đại đội trưởng đại đội 4/52.
        Mũi thứ ba ghi nhận không có chạm địch.  Theo khai thác sơ khởi từ tên tù binh do đại đội chúng tôi bắt được, thì sau hơn một tháng bao vây tấn công, nhằm tiêu diệt Tiểu đoàn 30 Biệt Động Quân, nhưng không thành công, nên chúng đã ra lệnh rút.  Đại đơn vị của chúng đã rời trận địa đêm qua và hai đại đội còn lại sẽ rút vào đêm nay, nhưng không may cho chúng đã bị chúng tôi tấn công ngày hôm nay nên trọn một đại đội của chúng đã phải đền tội.  Đây cũng quả là điều may mắn cho chúng tôi, vì nếu đại đơn vị của chúng còn bám quanh trận địa, thì chắc trận chiến cũng chẳng dễ dàng.  Tuy nhiên nếu gặp lại đoàn 429 đặc công thì cũng là điều kỳ thú, vì giữa TĐ52BĐQ chúng tôi và đoàn 429 đặc công của chúng có rất nhiều duyên nợ, từ chiến trường nội địa sang đến ngoại biên, mới tháng 7/70 chúng đã dùng 3 mũi đặc công để tấn công chúng tôi, nhưng với kinh nghiệm chống đặc công đầy mình, nên ngót 30 tên không tên nào chạy thoát, báo hại đơn vị trợ chiến của chúng nằm chờ ở ngoài đợi lệnh để vào ăn có đã lãnh đạn pháo u đầu sứt trán, phải rút lui.
       Buổi chiều, sau khi đóng quân xong, tôi cùng hai y tá tháp tùng xe thiết giáp quay lại nơi chiếc xe đang còn âm ỉ cháy, để thu hồi xác những anh em hy sinh.  Tôi cho gói Hạ Sĩ Xuân vào hai lớp poncho, giao cho một tân binh vừa mới về đơn vị cũng tên Xuân, để sáng mai cho theo chuyến trực thăng về Tổng Y Viện Cộng Hòa.
       Nằm gối đầu lên chiếc balô sau khi nghe hết chương trình Dạ Lan từ chiếc radio transitor, tôi chuyển sang đài của bọn "giải phóng".  Sau một bài hát hi ha hi hô theo điệu nhạc Trung cộng, một giọng nữ the thé miền Bắc cất lên: "Ngày hôm nay Mặt trận giải phóng miền Nam và nhân dân giải phóng Khmer đã tiêu diệt toàn bộ thiết đoàn xe bọc thép mang số 18 và tiểu đoàn 52 quân biệt động ngụy Sài Gòn tại chiến trường Kampuchia, lập thành tích chào mừng quốc khánh mùng 2 tháng 9 và ngày giỗ chủ tịch hồ chí minh vĩ đại".
       - Mẹ kiếp! Đúng là nói láo như vẹm!  Tôi chửi thề một tiếng, tắt chiếc radio rồi chìm dần vào giấc ngủ chập chờn trên bãi chiến trường vẫn còn vương mùi khói súng...





Đăng nhập để trả lời
0
ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

Một phần tư thế kỷ mỏi mòn chờ đợi, họ mới đến được bến bờ tự do

Phải mất đến 25 năm chờ đợi mỏi mòn ở Thái Lan, ông Sabay Kieng mới đặt chân đến phi trường quốc tế Pearson International Airport của Canada của Toronto hôm thứ bảy qua.

 

Nhiều người ra phi trường đón gia đình ông Sabay Kieng. Photo Courtesy: DAVID COOPER / TORONTO STAR
 
Cali Today News - Ông Kieng là một trong số 14 thuyền nhân VN đến được Toronto, khởi đầu một cuộc sống tự do mới mẻ. Người đàn ông đã 42 tuổi ngỡ ngàng vì có nhiều đồng hương gốc Việt đến phi trường đón họ và vỗ tay vang lừng.
 
Ông nói nhỏ nhẹ: “Tôi thật không ngờ chúng tôi được đón tiếp như thế này”. Vợ ông là người Thái Lan tên Thaury và 3 đứa con của ông cũng nằm trong số người định cư đầu tiên đến Canada.
 
Gia đình ông Kieng là nằm trong nhóm đầu tiên của 105 người Việt tị nạn sẽ đến Canada từ đây đến cuối năm 2014, sau một thỏa hiệp đạt được giữa chính phủ liên bang Canada và cộng đồng VN từ năm 2005.
 
Họ đúng là những thuyền nhân bị bỏ quên. James Nguyễn, Chủ Tịch Hiệp Hội Người Việt của Toronto nói: “Những người VN này sống trong bóng tối quá lâu, giờ đây họ mới được bước ra ánh sáng, đây là giây phút xúc động cho cả cộng đồng người Việt”
 
Có 60,000 thuyền nhân từ Đông Dương được tái định cư ở Canada, chưa đầy 2 năm sau năm 1979. Nhưng số phận của ông Kieng và hàng trăm người khác không may mắn như thế, họ bị kẹt lại Thái Lan và làm đủ nghề để sống còn, vì họ không phải là công dân Thái Lan
 
Ông Nguyễn cho hay chính phủ của Thủ Tướng Harper đồng ý chấp nhận cho 105 người Việt đến Canada, nhưng họ phải tự lập. Cộng đồng người Việt ở Toronto đã quyên được trên 200,000 đô la để giúp đỡ đồng hương mới đến, đồng thời tìm chổ ở và việc làm cho họ.
 
Tình dân tộc tràn trề, mỗi gia đình Việt mới đến sẽ có 5 gia đình gốc Việt tài trợ. Trong lúc giấc mơ của nhiều người tị nạn Việt mới đến chỉ mong sao con cái họ đi học đàng hoàng ở Canada thì ông Nguyễn nói: “Tôi cũng là thuyền nhân từ Malaysia, giờ đây đến lượt tôi phải giúp đỡ đồng bào đến sau”
 
Trường Giang
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
 
(xin mời bấm lên ảnh hay bấm vào link dưới để nghe bài hát)
 
 
TRẢ LỜI THU PARIS
thơ đông hương | nhạc & trình bày Dzuylynh
Album Hương Thời Gian.Nov 27.2014
 
 
Thu biết yêu, nên Paris nắng ấm
lạnh dừng chân bên dốc, ngõ công viên
lá vàng khóc trong mưa, chưa ai dỗ
tim nhị kiều loang lổ những niềm riêng...


*
mùa thay áo, tượng buồn, rưng mắt lệ
người tình xa, vàng úa chạm lên vai
đàn sẻ cũ vù bay, quên, lại để
trên lối về hồn cỏ nỗi không ai...

*
dọc dòng Seine, chim hải âu từ biển
nghiêng cánh dài chào người đứng tầm xa
và giọt nhớ long lanh rèm mi ngấn
gọi tên người òa rơi xuống,loang ra...

*
thiếu anh lắm nên nỗi buồn rất hiểu
quyện khói cay trong mái tóc ngọc ngà
café ngọt, đắng nụ cười hàm tiếu
điêp khúc sầu quay quắt mãi âm ba

*
buồn xa vắng, thánh đường chuông đêm đổ
bóng anh gù, khóc Esméralda
lá dẻ xưa phủ dấu chân chưa nhạt
mơ môt ngày ai... có nhớ... hương xa

 
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
Người cựu chiến binh già - Vĩnh Toàn
 


 
Rồi đêm dài cũng hết, liếc thấy đã gần 11 giờ 30, tôi thu dọn lại những việc riêng của mình để sửa soạn ra bãi đậu, đóng sổ và kiểm tiền cho mấy người sắp hết ca về nghỉ.

Trời khuya vắng lặng, tất cả chuyến bay đến đều đã đáp xong. Trong bãi đậu, một hai nhóm khách nhận hành lý trễ đang rảo bước tìm về xe của họ với hành lý kéo lê rồn rột theo sau. Áng chừng phải mất 10 phút cho đám khách nầy lấy xe và lái ra cổng trả tiền, tôi thong thả rảo bước vòng quanh mấy trạm xem lại cửa nẻo. Mây vần vũ, gió lạnh, thế nào đêm nay cũng mưa to và bên trong booth, tức là cái trạm của người thâu tiền, máy móc và các hộc tiền sẽ ướt sũng nếu cửa để hở, vì khu vực phi trường trống trải, gió lồng lộng, chỉ cần mở hé cửa chừng một ngón tay, nước mưa sẽ vung vãi đầy trên các máy móc tính tiền và hệ thống đó hôm sau ắt gặp đủ thứ trở ngại.

Sau khi tắt hết các đèn chiếu sáng lối ra, cảnh vật trở nên âm u, chỉ còn đèn trong booth hắt xuống thành vệt dài trên nền xi măng xám xịt. Tôi chợt giật nẩy người khi suýt đụng vào một đống đen thui đang ngồi bệt xuống thềm, dựa lưng vào thành sắt đằng sau cái booth, thở phì phò, " hắn" phải mệt nhọc lắm mới ngồi đại xuống thềm xi măng lạnh lẽo đang ướt đẫm sương đêm. Một người da đen, trong chiếc áo bông bù xù, không rõ đàn ông hay đàn bà, đội chiếc mũ vải có vành nhỏ chung quanh như của mấy người lính biệt kích năm xưa hay đội, trời tối quá không nhìn được rõ mặt, tôi e ngại bước lui lại, hỏi:



- Sao "you" lại ngồi ở đây? You có cần giúp gì không?
Hơi thở phì phò đáp lại:
- Tôi không tìm được xe của mình…
rồi ngưng một chút như để lấy hơi thêm, hắn cáu kỉnh:
- Cái phi trường chết tiệt của mấy ông rắc rối quá, làm người ta lẫn lộn lung tung!
- Không đâu…
 Tôi nói và chỉ vào hàng xe đang tiến đến gần cổng trả tiền, tôi  bảo hắn:
- You có thấy mấy người kia không, họ tìm ra xe mình rất dễ dàng.
Hắn nói gần như lẩm bẩm trong miệng:
- Tôi không giống như họ.
Dĩ nhiên rồi, tôi thầm nghĩ, và để chấm dứt đôi co, tôi hỏi ngay:
- Xe you đậu ở đây bao lâu rồi?
- 7 ngày.
- OK, nhưng you có chắc là đậu trong bãi nầy không, phi trường còn có nhiều bãi đậu khác nhau nữa đó.
Hắn im lặng, tỏ vẻ phân vân, tôi hỏi tiếp:
- Vé gởi xe  của you màu gì?
- Chẳng biết nữa, nó ở trong xe. Cái xe thì màu xanh, dark blue, Chevy 2000.
Sợ hắn nổi giận tôi không dám nói là ở trong nầy, dark blue Chevy 2000 có cả trăm chiếc như thế.
- Thôi cho tôi bảng số xe, tôi sẽ tìm ra nó nằm ở đâu rồi chỉ đường cho you đến đó, OK?
- Bảng số xe ư?
- Vâng, chúng tôi kiểm kê xe hằng đêm, bằng bảng số. You có vẻ không nhớ sốxe mình hả?
- No way..

Những ngày đầu mới vào làm ở đây, tôi rất ghét những người chỉ có  bảng số xe của mình mà cũng không nhớ được, nhưng sau một thời gian, tôi mới hiểu ra là họ có thể có nhiều xe, và thay đổi xe luôn chứ không phải chỉ đi có một chiếc, và cũng không phải khi nào xe chạy hết nổi mới đổi chiếc khác như mình nên tôi mới hết thấy bực mình về chuyện đó, còn giờ đây, một người mà sức khỏe tàn tệ như thế nầy thì việc không nhớ được số xe mình cũng là điều dễ hiểu, không đáng phải thắc mắc lắm.

Nhìn đoàn xe ra cổng đã gần hết, tôi sắp phải làm việc nên bảo người da đen:
- Gọi phone về nhà you xem có ai nhớ được số xe không rồi cho tôi hay, tôi phải đóng sổ cho người cashier nầy ra về đã rồi quay lại với you sau nhé.
Hắn nhìn tôi lo lắng:
- Còn ai ở nhà nữa đâu, chỉ có vợ tôi mà cũng đang ở đây với tôi.
- Thế thì tôi chịu thua luôn, làm sao giúp you được.

Rồi nhìn hắn ái ngại, tôi nói thêm cầu may:
- Trước khi đi, you ráng tìm xem có cái thứ giấy gì có thể có số xe ở trong đó không, giấy đăng bộ xe của DMV, giấy mua bảo hiểm xe… cố gắng lên, đó là cách sau cùng để có thể giúp ông được đấy – bây giờ thì tôi biết hắn là đàn ông rồi.
Hắn lồm cồm đứng dậy, một người đàn ông đen, mặt mày thô kệch, râu bạc lún phún đầy 2 bên má, chắc cũng phải 6, 70 tuổi hoặc hơn nữa, bước chân nặng nề đến bên quầng sáng của ánh đèn, khó khăn lắm mới móc ra được cái ví dày cộm, rồi lần lượt lôi ra các thứ giấy tờ. Tôi vừa làm việc mình vừa liếc nhìn giùm cho hắn, thấy cái giấy in chữ xanh quen thuộc của DMV, tôi thở phào: Nó kìa. Nhưng không phải, đó chỉ là cái giấy chứng nhận người đàn ông là handicap thôi, một người thương tật, thảo nào đi  đứng khập khiểng, chậm chạp. Hình như một bàn tay cũng không sử dụng được, chỉ để chận cái ví cho tay kia lục lọi giấy tờ mà thôi. Tôi ái ngại nói với bà cashier người Mễ cũng đang theo dõi câu chuyện:

- Nầy Rosa, thôi bà đếm tiền đi nhé, tôi phải giúp hắn một tay đây.
- OK, dĩ nhiên, trông "him" cũng đáng thương quá, nhưng bà níu tay tôi nói nhỏ: mà ông coi chừng trễ giờ của tôi nhé, gần 12 giờ rồi đấy.
- Không sao đâu Rosa, tôi quay lại với bà ngay.

Trong cái mớ giấy tờ hỗn độn của gã đàn ông da đen nầy, tôi thoáng thấy được một loại giấy làm tôi rất xúc động, mà nếu không nhìn thấy nó, chưa chắc tôi đã hết sức giúp đỡ ông lúc ấy, loại giấy đó là cái thẻ DAV Goldcard Membership. DAV là Disabled American Veterans, Cựu chiến binh tàn phế Mỹ. Không biết ông ta có phải là một cựu chiến binh hay không, nhưng đã đóng góp giúp đỡ cho hội CCB nầy, đóng góp khá lâu và có thể là khá nhiều nên mới có thẻ Goldcard như thế, chia sẻ tiền trợ cấp tàn phế của mình cho những người tàn phế khác, thật cảm động, ông già da đen nầy cao hơn những gì tôi đã đánh giá về ông, "đừng đánh giá một con người qua bề ngoài của họ", bài học nầy đã được dạy tự bao giờ mà cứ vấp phải hoài. Tôi thấy ngượng, không dám nhìn vào mặt ông trong lúc ông cứ nhìn tôi chờ đợi. Tôi nhẹ nhàng nói :

-Giữ chặt những thứ nầy ông nhé, không thì gió thổi bay mất.
Sau khi bà Rosa xong việc và rời khỏi booth, thấy ông già có vẻ tin cậy mình và thân thiện hơn, tôi hỏi:
- Vợ ông đang đợi ở đâu?
- Trước cửa thang máy tầng 3, tôi cứ ngỡ là mình đậu xe ở đó.
- Được rồi, ông có nghĩ là còn loại giấy tờ nào liên quan đến chiếc xe nữa không?
 Ông già lục lọi thêm nữa rồi đưa ra một cái giấy…chỉ có số VIN.
 Thấy ông tìm giấy tờ một cách quá khó khăn và chậm chạp, tôi hỏi:
- Tôi có thể tìm giúp ông được không?
- Why not?... please!.

Cầm lấy cái ví và mớ giấy tờ hỗn độn vào trong cho khỏi bị gió thổi bay, tôi cẩn thận xếp cất lại những giấy tờ không cần thiết, và do đó ngỡ ngàng thấy được thêm một phần trái tim bao la nữa của ông lão tàn tật, đó là một phong bì có in sẵn địa chỉ của PVA, và xuyên qua ánh đèn sáng trắng, tôi thấy đã có một tấm check nằm sẵn ở bên trong. Tấm check ký bao nhiêu tiền thì tôi không biết, nhưng PVA và cái logo có hình người ngồi xe lăn thì với tôi không lạ gì, đó là Paralyzed Veterans of America, Cựu chiến binh bại liệt Hoa Kỳ. Hoá ra ông già đen đúa xấu xí nầy đây là ân nhân của cả 2 hội Cựu chiến binh Mỹ. Tôi không biết rõ lắm những hoạt động của 2 hội nầy vì không bao giờ đọc hết những giấy tờ của họ gởi, nhưng tôi biết họ là những cựu chiến binh, phục vụ giúp đỡ lại cho những cựu chiến binh khác yếu đuối, tàn phế hơn mình, hay nói theo cách những người Việt mình hay nói, tàn nhưng không phế.

 
Chúng tôi đứng nhìn nhau, đầy thiện cảm. Tôi nhìn ông, và không giấu diếm sự ngưỡng mộ nhưng không dám nói ra vì mình coi lén giấy tờ riêng tư của người khác, còn ông thì nhìn tôi tin cậy, nghĩ là chắc tôi sẽ tìm ra được chiếc xe của ông, tuy vậy, cuối cùng vẫn không có một chi tiết gì hơn về chiếc xe của ông cả, tôi quyết định phải chở ông đi vòng quanh các bãi đậu để cho ông nhìn từng chiếc một, và như vậy tôi có thể về nhà trễ hơn thường ngày chừng nửa giờ.

Tôi bảo ông gọi cho bà vợ, dặn cứ chờ tại chỗ và hỏi bả xem có nhớ được gì thêm về việc đậu xe hay không rồi cho biết khi tôi trở lại, vì tôi phải vào văn phòng nộp hết báo cáo của  cashier mới chấm dứt nhiệm vụ của mình hôm nay. Hơn 20 phút sau, quay lại với xe riêng của mình thì bà vợ của ông cũng đã đến đó, với mớ hành lý hỗn độn. Bà cũng là một người  da đen, nhỏ con, nói năng nhỏ nhẹ dịu dàng thật khác hẳn với anh chồng .

Họ tự giới thiệu: Paul và Helena, trong lúc chúng tôi đã yên vị trên xe.
-  Gọi tôi là Tony ông bà nhé.
- Okedo.

Paul bật ra tiếng OK mà những người lính hay dùng làm tôi nghe mà xúc động, tưởng như nghe bạn mình đang nói trên tần số vô tuyến như những ngày nào.
Họ có vẻ rất yên tâm, thoải mái hẳn ra, còn tôi rất vui được có dịp giúp đỡ những người có tấm lòng tốt như họ.

Paul không phải là người vui chuyện kể lể ba hoa như những người da đen khác, ông nói ít giọng trầm trầm có lẽ tại tuổi già, tôi khơi chuyện của mình trước mà cũng có ý ngầm tìm hiểu thêm về Paul :
- Ở tuổi của ông chắc có nghe nói đến chiến tranh Việt Nam, quê hương của tôi đó Paul, tôi rời quê sang đây đã 15 năm .
Cả 2 người  im lặng hồi lâu, rồi Paul cất giọng khàn khàn.
- Tôi đã ở đó…  đơn vị tôi đóng đâu đó trên vùng cao nguyên, tên là An Khê.
- Thật thế ư, còn tôi thì ở Pleiku, không xa nơi đó là bao nhiêu, chắc ông cũng thường được yểm trợ từ phi trường Pleiku chứ.
- Vâng, dĩ nhiên…hầu như mỗi ngày,  và rồi một lần… chuyện chết tiệt ấy xảy ra cho tôi, họ mang tôi về Mỹ, cưa cụt chân, và để tôi rời quân đội từ đó, năm 1967.
Sợ nhắc đến chuyện cũ làm ông không vui, tôi hỏi qua hướng khác :
- Năm 67, chắc ông còn trẻ lắm, lúc ấy đã có bồ chưa ?
- Vào ngày giải ngũ, tôi vừa đúng 20. Helena còn ở lại Việt Nam, nàng là một y tá, về Mỹ năm sau rồi lại phải sang Âu châu. Tôi trở lại trường Đại học, nhưng không học hành được gì, chỉ tối ngày biểu tình phản chiến, rồi nghiện ngập, chán chường, suýt tự tử. May sao đó là lúc Helena trở về…

Paul không biết diễn tả gì hơn nữa, chỉ chậm rãi gật gù, nói thêm nhè nhẹ :
- Nàng là một thiên thần, đối với tôi.
- Dĩ nhiên rồi, tôi thấy bà rất dịu dàng đối với ông…
và muốn nói thêm với Paul : Ông cũng là một thiên thần, tuy rằng đã gãy cánh, nhưng vẫn cứ là một thiên thần đối với những người bất hạnh khác. Nhưng tôi đã yên lặng. Paul chắc là loại người không thích những lời khen.

Chạy vòng chầm chậm qua các dãy xe, chúng tôi lại nói chuyện, Paul  và Helena  có vẻ thân mật, tin cậy hơn, họ kể thêm về cuộc sống gia đình, kể về tiểu bang Alabama, nơi ông và Helena lớn lên. Không văn hoa màu mè, Paul thành thực kể lại nỗi đau của những người lính trở về, nhất là những cựu chiến binh da đen như ông, những người nổi loạn bị cảnh sát đánh đập, dân tình cũng hất hủi, đến nỗi ông phải bỏ xe lăn tập đi nạng, rồi phải bỏ nạng đi bằng chân giả, cắn răng nuốt xuống nỗi đau vừa tâm hồn vừa thể xác để đi học, cố kiếm lấy mảnh bằng chỉ để làm giáo viên thôi, vì một bàn tay ông cứ tê liệt dần và rồi thì không còn cử động mấy ngón tay được nữa…

Tôi cố gắng trở lại cái điều mà tôi muốn hỏi :
- Là một cựu chiến binh, hẳn ông hiểu họ nhiều lắm nhỉ ?
- Đương nhiên rồi, tôi hiểu họ lắm ông Tony ạ, vì tôi đã từng là họ. Làm xong bổn phận của một người lính, cho dù có là một anh hùng đi chăng nữa, cụt chân trở về, cởi trả quân phục, họ như những con chim bị vặt trụi hết lông, không có ngay đến lớp áo để tự vệ, mà cũng không thể giấu mình hoài trong tổ được, phải chui ra ngoài để kiếm ăn nữa chứ…
…giọng ông vẫn trầm trầm như thương cảm cho những người cựu chiến binh nào đó, không hề có ẩn giấu một chút gì cay đắng cho chính số phận của mình …

 - Tôi luôn luôn cố gắng làm một cái gì cho họ, nhưng có làm được gì nhiều đâu, lâu lâu mới giúp được một món quà nhỏ trong cái trợ cấp của mình, thế thôi.
- Thế là đã nhiều lắm đối với ông rồi, Paul ạ. Càng thiếu thốn sự chia sẻ của ông mới càng cao quí. Thế bây giờ ông có làm một công việc gì thêm nữa không -  tôi nói nửa đùa nửa thật - chỗ chúng tôi  đang còn cần nhiều cashier lắm đó.
Paul bình thản trả lời :
- Làm gì còn thì giờ nữa ông, mẹ của Helena cảm ơn Chúa bà vẫn còn sống, Helena thì dạy học cho lũ trẻ và làm việc ở nhà thờ, tôi phải ở nhà chăm sóc bà cụ một buổi, còn buổi chiều vào Bệnh viện quân đội giúp việc thiện nguyện. Chúng tôi sống tạm đủ, có cần tiền vào việc gì nữa đâu …

Tìm được chiếc xe của Paul không khó lắm, tôi phụ giúp 2 ông bà chuyển đồ đạc sang xe họ, khi tôi vừa đóng nắp thùng xe thì 2 người đã đứng sát sau lưng. Trong tay cầm sẵn mấy tờ giấy bạc, bà Helena trang trọng nói :
- Cảm ơn Tony, nếu không có ông giúp thì đêm nay chúng tôi không biết sẽ ra sao trong cái phi trường rộng lớn nầy, chúng tôi hết sức biết ơn sự giúp đỡ của ông mặc dù ông chưa bao giờ biết chúng tôi, Chúa sẽ phù hộ cho ông .

Hít một hơi dài trấn tĩnh, tôi giữ chặt trong tay mình những bàn tay đen đúa của họ, nói chậm rãi :
- Hai người đừng bận tâm, tôi chỉ làm công việc thường ngày của mình thôi.  Vâng, tôi chưa hề gặp ông bà lần nào, nhưng ông Paul đây cũng đâu có biết một người Việt Nam nào mà ông vẫn sang chiến đấu cho quê hương chúng tôi, đổ máu trên đất nước chúng tôi, và cuối cùng đã bỏ lại những phần thân thể trên đất nước không phải là của ông mà là của chúng tôi, vì vậy tôi mới là người phải nói lên những lời cảm tạ và biết ơn quí bạn về việc đó…

Paul hẳn là  không thích nghe người khác ca tụng mình, ông lắp bắp :
- Thôi…thôi Tony, đó chỉ là làm nhiệm vụ thôi, đã ở trong quân đội thì ông cũng biết rồi.
- Vâng, cứ cho là như vậy, còn bây giờ thì sao, khi ông vẫn tiếp tục giúp đỡ đồng đội, những cựu chiến binh thương tật khác. Còn có nhiều người như mình nữa, ông Paul ạ, nghĩa là những cựu chiến binh như chúng ta, nhưng họ có làm như ông đâu. Khi nhìn thấy tấm thẻ DAV và PVA của ông, tôi kính phục tấm lòng của ông lắm, mặc cho chuyện gì đã xảy ra, ông vẫn không quên các quân nhân, các đồng đội, ghét chiến tranh nhưng yêu mến chiến binh ông nhỉ. Ông bà rất xứng đáng được Chúa phù hộ và bảo vệ. Số tiền nầy nếu ông bà muốn cho tôi thì cho phép tôi đóng góp vào phần giúp đỡ của ông bà cho họ nhé.

Thôi đã quá khuya rồi, xin tạm biệt, chúc hai ông bà lên đường bình an.

Cả hai người đều xúc động, họ cầm tay tôi khàn khàn nói tiếng cảm ơn, trong cái ôm vai của những người không quen biết nhưng đã hiểu nhau, tôi thấy mắt Paul đẫm ướt, nhưng chỉ một bên thôi, còn con mắt bên kia vẫn trong sáng, vô hồn. Ô, hoá ra những gì mà Paul bỏ lại trên quê hương tôi năm nào, không phải chỉ có một bàn tay, một bàn chân mà còn có thêm một con mắt nữa.

Ông Paul ơi, cơ thể ông thương tổn như vậy mà tấm lòng thì bao la vô cùng. Xin chân thành cảm ơn ông.



Vĩnh Toàn




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.12.2014 21:18:58 bởi da vàng>

 
 
Tôi biết chắc ngày tàn của chế độ Cộng sản Việt Nam  


 
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
Tôi biết chắc ngày tàn của chế độ Cộng sản Việt Nam   
 
(tiếp theo)
 
Đăng nhập để trả lời
0
 
ĐỌC BÁO GIÙM BẠN
Không thể tuyên dương kẻ phản bội
 

[image]https://lh5.googleusercontent.com/-WXBfdo6hJ7xSgWyOi-HOZVOp71WQu1YLv04M9LV6iaZfkNsWoXr6jOWiMPT4JsySUGoWJuPj0U7QcPcNc7bTjdGnTfn-90oFhMllWsQRBjJZqq2_bhXeLHISauFVfMFgQ" alt="1012907_618737491553490_2226205750821773168_n.jpg[/image]
Barbara Walters on Jane Fonda
 
Mời đọc, những kẻ phản bội nước Mỹ và quân đội Mỹ không thể được tuyên dương. Xin chuyển tiếp đến nhiều người thân quen.
 
Barbara Walters on Jane Fonda:
Barbara Walters nói về Jane Fonda:
Jane Fonda was on 3 times this week talking about her new book... and how good she feels in her 70's... She still does not know what she did wrong... Her book just may not make the bestseller list if more people knew.
 
Tuần này, đã 3 lần Jane Fonda nói về cuốn sách mới của bà ta... và về bà ta vẫn cảm thấy khỏe mạnh vô cùng ở lứa tuổi 70... Bà ta vẫn không biết những gì bà ta đã làm sai... Cuốn sách của bà lẽ ra không nằm trong liệt kê sách bán chạy nhất nếu thêm nhiều người đã biết.

 
Barbara Walters said: Thank you all. Many died in Vietnam for our freedoms. I did not like Jane Fonda then and I don't like her now. She can lead her present life the way she wants and perhaps SHE can forget the past, but we DO NOT have to stand by without comment and see her "honored" as a "Woman of the Century." (I remember this well.)
 
Barbara Walters đã nói: Cám ơn tất cả. Nhiều người đã chết ở Việt Nam cho tự do của chúng ta. Lúc đó tôi đã không thích Jane Fonda và giờ đây tôi cũng chẳng thích bà ta. Bà ta có thể sống cuộc sống hiện tại của bà ta cách nào bà ta muốn và có lẽ bà ta có thể quên đi quá khứ, nhưng chúng ta KHÔNG CẦN PHẢI đứng bên lề mà không bình luận gì và nhìn thấy bà ta "được vinh danh" như là một "Người đàn bà của thế kỷ." (Tôi nhớ kỹ điều này).
 
For those who served and/ or died... NEVER FORGIVE A TRAITOR. SHE REALLY WAS A TRAITOR!! And now President Obama wants to honor her!!!! In Memory of Lt. C. Thomsen Wieland, who spent 100 days at the Hanoi Hilton [infamous North Vietnam prison] --
 
Với những ai đã phục vụ và/hoặc đã chết... ĐỪNG BAO GIỜ THA THỨ CHO MỘT TÊN PHẢN BỘI. BÀ TA QUẢ THỰC LÀ MỘT TÊN PHẢN BỘI!! Và giờ đây Tổng thống Obama muốn tôn vinh bà ta!!!! Để tưởng nhớ Trung tá Thomsen Wieland, người đã trải qua 100 ngày ở khách sạn Hilton Hà Nội (nhà tù nổi danh của Bắc Việt).
 
IF YOU NEVER FORWARDED ANYTHING IN YOUR LIFE. FORWARD THIS SO THAT EVERYONE WILL KNOW! A TRAITOR IS ABOUT TO BE HONORED. KEEP THIS MOVING ACROSS AMERICA.
 
NẾU QUÍ VỊ CHƯA TỪNG CHUYỂN TIẾP BẤT CỨ ĐIỀU GÌ TRONG ĐỜI QUÍ VỊ, XIN CHUYỂN TIẾP BÀI NÀY ĐỂ MỌI NGƯỜI SẼ BIẾT! MỘT TÊN PHẢN BỘI SẮP ĐƯỢC VINH DANH. XIN CHUYỀN BÀI NÀY ĐI KHẮP NƯỚC Mỹ.
 
This is for all the kids born in the 70's and after who do not remember, and didn't have to bear the burden that our fathers, mothers and older brothers and sisters had to bear. Jane Fonda is being honored as one of the "100 Women of the Century."
 
Bài này dành cho mọi trẻ em sinh vào những năm 70 và sau đó không còn nhớ, và đã không phải mang gánh nặng mà cha mẹ và anh chị họ đã phải mang. Jane Fonda sắp được vinh danh như là một trong "100 người Đàn bà của Thế kỷ."
 
Barbara Walters writes: Unfortunately, many have forgotten and still countless others have never known how Ms. Fonda betrayed not only the idea of our country, but specific men who served and sacrificed during the Vietnam War.
 
Barbara Walters viết: Không may là, nhiều người đã lãng quên và còn không biết bao nhiêu người khác chưa từng biết làm sao cô Fonda đã phản bội không chỉ ý thức hệ của đất nước chúng ta mà còn rõ nét đã phản bội các người đàn ông đã phục vụ và hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam.
 
The first part of this is from an F-4E pilot. The pilot's name is Jerry Driscoll, a River Rat. In 1968, the former Commandant of the USAF Survival School was a POW in Ho Lo Prison, the "Hanoi Hilton."
 
Phần một của bài này là về một phi công F-4E. Tên của phi công là Jerry Driscoll, một chiến binh đơn vị River Rat. Năm 1968, nguyên Chỉ huy trưởng Trường Thoát hiểm Không quân Mỹ là một tù binh ở Hỏa Lò Hà Nội, "Khách sạn Hilton Hà Nội."
 
Dragged from a stinking cesspit of a cell, cleaned, fed, and dressed in clean PJ's, he was ordered to describe for a visiting American "peace activist" the "lenient and humane treatment" he'd received.
 
Bị kéo lên từ một hố bẩn thỉu của ngục cá nhân, bị tắm rửa, cho ăn, và bắt mặc một bộ đồ ngủ sạch, ông được lệnh mô tả cho một khách Mỹ "hoạt động cho hòa bình" đến thăm viếng, cách "đối xử khoan hồng và nhân đạo" mà ông đã nhận được.
 
He spat at Ms. Fonda, was clubbed, and was dragged away. During the subsequent beating, he fell forward onto the camp commandant 's feet, which sent that officer berserk. In 1978, the Air Force Colonel still suffered from double vision (which permanently ended his flying career) from the Commandant's frenzied application of a wooden baton.
 
Ông đã khạc nhổ vào cô Fonda, đã bị đánh bằng dùi cui, và đã bị lôi đi nơi khác. Trong lần bị đánh đập vì lí do đó, ông ngã chúi vào chân của viên chỉ huy trại làm cho tên sĩ quan đó giận điên lên. Năm 1978, vị Trung tá Không quân vẫn còn bị đau vì nhìn thấy hai hình (điều làm ông vĩnh viễn chấm dứt sự nghiệp bay của ông) vì bị viên chỉ huy trại đánh đập điên cuồng bằng gậy gỗ.
 
From 1963-65, Col. Larry Carrigan was in the 47FW/DO (F-4E's). He spent 6 years in the " Hanoi Hilton"... the first three of which his family only knew he was "missing in action." His wife lived on faith that he was still alive. His group, too, got the cleaned-up, fed and clothed routine in preparation for a "peace delegation" visit.
Từ 1963 đến 65, Đại tá Larry Carrigan ở đơn vị 47FW/DO (phi cơ F-4E). Ông đã trải qua 6 năm trong "Hilton Hà Nội"... ba năm đầu trong sáu năm đó gia đình ông chỉ biết ông bị "mất tích trong công vụ." Vợ ông sống trong niềm tin rằng ông vẫn còn sống. Nhóm của ông nữa cũng bị tắm rửa, cho ăn và cho mặc theo thường lệ trong việc chuẩn bị cho cuộc thăm viếng của "ủy ban hòa bình."
 
They, however, had time and devised a plan to get word to the world that they were alive and still survived. Each man secreted a tiny piece of paper, with his Social Security Number on it, in the palm of his hand. When paraded before Ms. Fonda and a cameraman, she walked the line, shaking each man's hand and asking little encouraging snippets like: "Aren't you sorry you bombed babies?" and "Are you grateful for the humane treatment from your benevolent captors?"
 
Tuy nhiên, họ đã có thì giờ để nghĩ ra một kế hoạch cho thế giới biết họ vẫn còn sống và vẫn sống sót.Từng người giấu kín một mẫu giấy tí xíu trong lòng bàn tay, với Số Xã hội của mình ghi trên đó. Khi diễu qua trước cô Fonda và một người quay phim, bà duyệt qua hàng người, bắt tay từng người và hỏi chuyện vụn vặt có chút khuyến khích như: "Ông không hối tiếc chuyện ông ném “bom trẻ nít” sao?" và "Ông có nhớ ơn cách đối xử nhân đạo nhận được từ những người nhân từ bắt giữ ông không?"
 
Believing this HAD to be an act, they each palmed her their sliver of paper. 
She took them all without missing a beat... At the end of the line and once the camera stopped rolling, to the shocked disbelief of the POWs, she turned to the officer in charge and handed him all the little pieces of paper...
 
Tin rằng đó CHỈ LÀ chuyện đóng kịch, họ từng người đưa vào lòng bàn tay cô mẫu giấy của họ. Cô ta nhận hết chẳng bỏ sót ai... Đến cuối hàng và một khi máy ngưng quay, trước cú sốc không tin được của các tù binh, cô quay viên sĩ quan chỉ huy và đưa cho hắn ta tất cả các mẫu giấy...
 
Three men died from the subsequent beatings. Colonel Carrigan was almost number four but he survived, which is the only reason we know of her actions that day.
 
Ba người chết vì bị đánh đập bởi lý do đó. Đại tá Carrigan suýt là người thứ tư nhưng ông đã sống sót, đó là nguyên do duy nhất chúng ta biết đến hành động của cô ta vào ngày đó.
 
I was a civilian economic development advisor in Vietnam, and was captured by the North Vietnamese communists in South Vietnam in 1968, and held prisoner for over 5 years. I spent 27 months in solitary confinement; one year in a cage in Cambodia; and one year in a 'black box' in Hanoi. My North Vietnamese captors deliberately poisoned and murdered a female missionary, a nurse in a leprosarium in Banme Thuot, South Vietnam, whom I buried in the jungle near the Cambodian border. At one time, I weighed only about 90 lbs. (My normal weight is 170 lbs.)
 
Tôi đã là một cố vấn dân sự về phát triển kinh tế ở Việt Nam và đã bị cộng sản Bắc Việt bắt tại Nam Việt Nam năm 1968 và bị cầm tù trên 5 năm. Tôi trải qua 27 tháng biệt giam, một năm nằm trong cũi ở Cambodia, và một năm trong 'hộp đen' ở Hà Nội. Đám bắt giữ Bắc Việt cố tình đầu độc và sát hại một nữ truyền giáo, một y tá tại trại cùi Ban Mê Thuột, Nam Việt Nam, mà tôi chôn trong rừng già gần biên giới Cambodia. Có một lúc, tôi chỉ còn cân nặng chừng 90 lbs (Trọng lượng bình thường của tôi là 190 lbs).
 
We were Jane Fonda's "war criminals". When Jane Fonda was in Hanoi, I was asked by the camp communist political officer if I would be willing to meet with her. I said yes, for I wanted to tell her about the real treatment we POWs received... and how different it was from the treatment purported by the North Vietnamese, and parroted by her as "humane and lenient." Because of this, I spent three days on a rocky floor on my knees, with my arms outstretched with a large steel weight placed on my hands, and beaten with a bamboo cane.
 
Chúng tôi đã là "tội phạm chiến tranh" của Jane Fonda. Khi Jane Fonda ở Hà Nội, tôi được viên sĩ quan chính ủy cộng sản của trại hỏi liệu tôi có muốn gặp cô ta. Tôi đã trả lời có, vì tôi muốn cho cô ta biết cách đối xử đích thực mà tù binh chúng tôi đã nhận được... và khác biệt đến chừng nào với cách đối xử người Bắc Việt ám chỉ và cô ta rêu rao như là "nhân đạo và nhân từ." Vì chuyện đó, tôi bị ba ngày quì trên nền đá, hai cánh tay giang ra với một quả tạ thép nặng trên hai bàn tay, và bị đánh bằng gậy tre.
 
I had the opportunity to meet with Jane Fonda soon after I was released. I asked her if she would be willing to debate me on TV. She never did answer me.
 
Tôi đã có cơ hội gặp gỡ Jane Fonda không lâu sau khi tôi được thả ra. Tôi hỏi bà ta liệu bà có sẵn sàng tranh luận với tôi trên truyền hình. Bà ta không bao giờ trả lời tôi.
 
These first-hand experiences do not exemplify someone who should be honored as part of "100 Years of Great Women." Lest we forget... "100 Years of Great Women" should never include a traitor whose hands are covered with the blood of so many patriots. There are few things I have strong visceral reactions to, but Hanoi Jane's participation in blatant treason, is one of them.
 
Các kinh nghiệm tự thân này chẳng minh họa một ai đó sẽ được vinh danh như là thành phần của "100 năm của Phụ nữ vĩ đại." Chúng ta lại càng không quên "100 năm của Phụ nữ vĩ đại" không bao giờ nên kể luôn vào một tên phản bội mà bàn tay đã nhuốm máu của bao nhiêu người yêu nước. Có một số điều tôi phản kháng tự thâm tâm, nhưng sự tham gia của Jane Hà Nội vào phản bội rùm beng là một trong đó.
 
Please take the time to forward to as many people as you possibly can. It will eventually end up on her computer, and she needs to know that we will never forget. RONALD D. SAMPSON, CMSgt, USAF 716 Maintenance Squadron, Chief of Maintenance DSN: 875-6431 COMM: 883-6343
 
Xin bỏ thời gian chuyển tiếp đến cho càng nhiều người càng tốt. Nó cuối cùng sẽ đến computer của bà ta, và bà ta cần phải biết rằng chúng ta không bao giờ quên. RONALD D. SAMPSON, CMSgt, USAF 716, Trung đội Bảo trì, Trưởng toán Bảo trì DSN 875-6431, COMM: 883-6343.
 
PLEASE HELP BY SENDING THIS TO EVERYONE IN YOUR ADDRESS BOOK.
IF ENOUGH PEOPLE SEE THIS MAYBE HER STATUS WILL CHANGE.
 
Xin giúp đỡ bằng cách gửi email này đến mọi người trong hộp thư của quí vị.
Nếu đủ số người thấy điều này, có thể tình trạng của bà ta sẽ thay đổi.







Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.12.2014 21:43:42 bởi dzuylynh>

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA CHÚNG TA

Lưỡng Quảng là Đất Việt


Vào tháng 8.1980, trong quá trình san lấp quả đồi Tượng Cương (Quảng Châu, Trung Quốc) để xây cao ốc, khi đào sâu vào núi đá khoảng 20m, đã phát hiện lăng mộ khổng lồ. Người nằm trong mộ là Triệu Văn Vương (Triệu Muội, Triệu Mạt, hoặc Triệu Hồ, lên ngôi 137 TCN), là cháu gọi bằng ông của Triệu Vũ Đế (Triệu Đà), đời vua thứ 2 của nhà Triệu nước Nam Việt.
Lưỡng Quảng là Đất Việt :  Tình Cờ Khám Phá Ra Kho Vàng Ngọc Trong Lăng Mộ 2.000 Năm Của Vua Nam Việt
Khi điều tra, các nhà khảo cổ khẳng định đây là ngôi mộ đá, được tạc vào trong lòng núi. Như vậy, chắc chắn phải có lối vào. Mở rộng khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện một lối vào, sâu đến 20 m. Lối vào đã bị lấp bởi những tảng đá lớn. Ngôi mộ nằm sâu trong núi đá, nên đã được bảo quản toàn vẹn suốt hơn 2.000 năm.
Theo tường thuật, thì hôm đó, chiếc máy múc xúc đất sâu vào núi, tạo ra lỗ thủng lớn. Dưới lỗ thủng là những phiến đá khổng lồ, máy múc không phá nổi. Doanh nghiệp đã dừng công việc, báo cáo chính quyền.
Quan tài gỗ và bộ quần áo được dệt bằng hàng ngàn mảnh ngọc, kết bởi sợi vàng
Quan tài gỗ và bộ quần áo được dệt bằng hàng ngàn mảnh ngọc
Vét hết lớp đất mịn, lộ ra quan tài gỗ và bộ quần áo được dệt bằng hàng ngàn mảnh ngọc, kết bởi sợi vàng. Bên trong bộ quần áo là dấu vết xương cốt đã mủn hết. Trong quan tài có 10 thanh kiếm khảm vàng. Xung quanh chủ nhân ngôi mộ là vố số vật dụng bằng vàng, ngọc cực kỳ tinh xảo.
Ngay lập tức, công tác khai quật bắt đầu. Các nhà khoa học đã gặp nhiều khó khăn khi tìm đường vào ngôi mộ, bởi lối vào được bố trí bởi các cơ quan bí mật. Phía sau cánh cửa đá có một bộ phận, mà khi đóng cửa, bộ phận đó tuột ra, làm vòm cửa đóng xuống. Khi cửa được đóng lại, thì ngôi mộ vĩnh viễn chìm vào quên lãng, không ai vào ra được nữa. Các nhà khoa học đã phải phá đá mới vào được bên trong.
Phần chính lăng mộ có diện tích 100 mét vuông, gồm 7 gian phòng, tường ốp đá xanh, trần được lắp ghép bằng những phiến đá lớn, dày, nặng cả chục tấn.
Các nhà khoa học đã kinh ngạc khi phát hiện tất cả các gian phòng đều chứa ăm ắp cổ vật, toàn vũ khí, vật dụng và châu báu.
Vét hết lớp đất mịn, lộ ra quan tài gỗ và bộ quần áo được dệt bằng hàng ngàn mảnh ngọc, kết bởi sợi vàng. Bên trong bộ quần áo là dấu vết xương cốt đã mủn hết. Trong quan tài có 10 thanh kiếm khảm vàng. Xung quanh chủ nhân ngôi mộ là vố số vật dụng bằng vàng, ngọc cực kỳ tinh xảo.
Tiếp tục bới lớp đất phủ ở phần ngực, thì phát hiện chiếc ấn vàng, núm rồng cuộn. Đáy ấn vàng khắc chữ “Văn Ðế Hành Tỷ”, theo lối tiểu triện.
Qua chiếc ấn này, các nhà nghiên cứu đã xác định người nằm trong mộ chính là Triệu Văn Vương (Triệu Muội, Triệu Mạt, hoặc Triệu Hồ, lên ngôi 137 TCN), là cháu gọi bằng ông của Triệu Vũ Đế (Triệu Đà), đời vua thứ 2 của nhà Triệu nước Nam Việt.
Trong sử sách, thời Tam Quốc, Tôn Quyền biết trong lăng mộ của nhà Triệu có rất nhiều châu báu, bảo vật, nên sai các tướng xua quân xuống Giang Đông tìm kiếm nhiều năm ròng. Tuy nhiên, quân Ngô chỉ tìm được mộ của Anh Tề, cháu gọi Triệu Đà bằng ông cố. Mặc dù vậy, quân Ngô cũng lấy được vô số vật báu, toàn là vàng, ngọc. Tuy nhiên, lăng mộ Triệu Đà, Triệu Muội ở đâu không ai biết, mặc dù giới khảo cổ, giới trộm cổ vật săn lùng ráo riết suốt hơn 2.000 năm qua.

Việc phát hiện lăng mộ Triệu Văn Vương vào thời kỳ đó, khiến các nhà khảo cổ Việt Nam quan tâm đặc biệt. Theo sử Việt, Triệu Đà được coi là một triều đại của Việt Nam trước công nguyên. Ông cùng với tướng Lữ Gia đã quật cường chống lại sự xâm lược của nhà Hán.
Theo sử Việt, Triệu Đà sống tới 121 tuổi, ở ngôi gần 70 năm. Vì sống thọ, nên truyền ngôi cho cháu là Triệu Văn Đế, chứ không truyền cho con.
Lăng mộ có kiến trúc tiền triều hậu tẩm, tức phía trước là triều đình, phía sau là cung điện, nơi vua ở. Tổng cộng có 7 căn phòng.
Tiền thất không có cổ vật, mà chỉ có những biểu tượng văn hóa. Nhưng từ căn phòng này, có 4 cửa thông sang các phòng bên.
Hai phòng phía đông và tây, bên hông mộ, gọi là nhĩ thất, chứa nhiều món đồ đồng, gồm chuông, nhạc nhí, binh khí và vô số món ngọc.

Kho chứa vàng, ngọc khổng lồ
Đằng sau phòng chính, tức địa cung, nơi đặt quan tài, là một căn phòng làm kho chứa. Đây là nơi chứa hàng ngàn cổ vật, là vật dụng vua dùng, toàn bằng vàng hoặc nạm vàng, đồ ngọc, đồ sứ, sành, đồng, sắt.
Các nhà khoa học đã lấy được tới hơn 200 món ngọc khí. Tất cả các món ngọc đều được chạm khắc tinh xảo, khiến các nhà điêu khắc ngày nay cũng phải kinh ngạc bởi sự sáng tạo, cầu kỳ.
Hơn 500 món đồng gồm đủ các loại, từ vật dụng đến binh khí. Phần lớn các món đồng đều nạm vàng. Đặc biệt quý là bộ áo bằng ngọc khâu bằng tơ vàng, gọi là ti lũ ngọc y. Đây là ti lũ ngọc y sớm nhất được tìm thấy ở Trung Hoa.
Trong mộ, quý nhất là 23 chiếc ấn, toàn bằng ngọc và vàng, một số ít bằng đồng mạ vàng. Như đã nói ở trên chiếc ấn Văn Đế Hành Tỷ là ấn vàng lớn nhất tìm thấy ở đời Hán. Hành Tỷ lớn, bằng vàng, lại núm rồng, chứng tỏ Triệu Vũ Đế, đến Triệu Văn Vương, dù thần phục nhà Hán, nhưng vẫn coi mình là vua, xã hội Nam Việt hoàn toàn độc lập với Trung Hoa.
Ngoài ra, còn có 36 đỉnh đồng, khắc chữ Phiên Ngung. Vô số vật dụng có nguồn gốc từ Trung Đông, Châu Phi. Những vật dụng phương Tây này chủ yếu là trang sức vàng, hạt châu, hộp bạc, hộp vàng, ngà voi.
 
Có 9 chiếc bình đồng khảm vàng lấp lánh tuyệt đẹp. 9 cái thạp đồng, với những hoa văn thuyền, người đội mũ lông chim, đi chân đất… là thứ đặc trưng của người Việt, giống hệt hoa văn trên các trống đồng, thạp đồng ở Việt Nam. Điều khiến các nhà sử học Việt quan tâm, là rất nhiều món đồ tinh xảo bằng đồng như nữu chung, gương đồng, bình hương liệu… có nguồn gốc từ Lĩnh Nam, gồm cả phần miền bắc Việt Nam và nam Trung Quốc bây giờ. Nhiều món đồ đến từ miền trung của Việt Nam.
Cung phi, nhạc công tuẫn tang theo
Điều đáng lưu tâm nữa trong lăng mộ Triệu Văn Vương, là có tới 15 người bị chôn sống. Những người bị tuẫn táng gồm người gác cửa, nhạc công, 4 cung phi và 7 người trong nhà bếp cùng các vật dụng, để phục vụ việc ăn uống. Ngoài ra còn có 2 người ở cạnh mộ chủ, có thể là vệ sĩ. Tục chôn sống theo người chết phổ biến thời phong kiến cổ đại, từ đời Tần về trước. Đến thời Hán, tục này không còn, nhưng rõ ràng vẫn duy trì ở Nam Việt.
Qua giám định pháp y, thấy rằng, những người này đều bị đánh mạnh vào ngực cho chết rồi mới chôn theo.
Qua nghiên cứu những di vật trong ngôi mộ này, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định rằng, từ hơn 2.000 năm trước, vùng Lĩnh Nam đã phát triển rực rỡ cả về kinh tế lẫn văn hóa. Vùng đất này không bị lệ thuộc vào Trung Nguyên. Các nền văn hóa tồn tại song hành, giao lưu, trao đổi với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, chứ không phải một chiều từ phương bắc đi xuống như người phương Bắc vẫn tuyên truyền.
Những vật dụng ở vùng Lĩnh Nam có niên đại trước thời Nam Việt, cũng đã khẳng định nền văn minh rực rỡ từng tồn tại ở vùng đất này. Nhiều vấn đề lịch sử cần được tiếp tục nghiên cứu và nhìn nhận lại từ lăng mộ Triệu Văn Vương.
Đông Phong
(Theo VTC NEWS)

Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.12.2014 16:34:01 bởi Phù vân>
ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

Bản Thánh Ca Bất Hủ “AVE MARIA”

Bản nhạc nổi tiếng khắp châu Âu ngay tức khắc sau hôm đó! Một số giáo hội Công giáo (trong đó có GHCGVN) không hài lòng vì lời ca mất đi chữ “Mater Dei” (mẹ Chúa Trời) nên chỉ dùng “Ave Maria” của Schubert trong nhà thờ. Nhà soạn nhạc Pháp Camille Saint-Saens (1835-1921) nằm trong số này; đã chẳng hóm hỉnh ví lời ca Gounod là “con ếch phình bụng mà không chết” trong khi “thính giả lên cơn cuồng si mê đắm trước con quái vật” đó sao! Sự thật nốt nhạc có chỗ lên cao quá khiến vài phụ nữ yếu “bóng vía” thời đó khi nghe đã ngã lăn đùng ra xỉu!


HÀ BẮC
 Trong mỗi dịp Noel (hay Christmas, Giáng Sinh), bản thánh ca “Ave Maria” của Franz Schubert (1825) và của J. S. Bach & Charles Gounod (1859) lại vang vọng nơi các giáo đường ở khắp các thôn làng hẻo lánh cho đến các kinh thành ánh sáng; cùng với các bản thánh ca bản xứ khác để mừng Chúa Cứu Thế giáng trần. Nhưng ít ai để ý đến nguồn gốc thế tục cũng như các tác giả vĩ đại của nó.
 
Nhạc sư Franz Peter Schubert người Áo sinh năm 1797 tại Lichtenthal, Vienna; tác giả của 600 tấu khúc nhạc cổ điển, vừa symphonie, sonate và quarte; trong đó nổi tiếng có 8 tác phẩm hòa tấu trong album “la Symphonie inachevée” và 4 tác phẩm: La Jeune Fille et la Mort, La Truite, Le Roi des Aulnes và một tuồng viết cho Opéra. Bản “Ave Maria” được viết năm 1825. Ông được miễn lính vì quá thấp (chiều cao 5.1 ½ inches). Ông không sử dụng thành thạo một nhạc cụ nào nên chú tâm vào việc dạy và sáng tác nhạc rồi mất năm 1828; chôn cạnh Beethoven theo di chúc. Nhạc sư người Đức Jean-Sébastien Bach sinh năm 1685 tại Elsenach chuyên viết nhạc thánh ca dùng cho cantates, passions, Messes, oeuvres d’orgue. Ba con trai của ông cũng là các nhạc sư nổi tiếng không kém: Wilhelm Freidemann (1710-1784), Carl Philipp Emanuel (1714-1788) và Johann Christian (1735-1782). Ông mất năm 1750. Nhạc sư người Pháp Charles Gounod sinh năm 1818 tại Paris, tác giả của các tấu khúc tôn giáo như “Mors et Vita”. . . và các tuồng sân khấu nổi tiếng như Faust, Roméo et Juliette, Mireille, Philémon và Baucis cho opéra. Ông mất năm 1893. 
 
Franz Schubert thoạt tiên tiếp xúc với bài văn vần Thiên Hùng Ca “The Lady of the Lake” của Sir Walter Scott viết năm 1810 bằng Anh ngữ nói về nhân vật Ellen Douglas cùng cha bị trục xuất rồi trốn lên cao nguyên Scotland; trong một hang đá gần hồ Loch Katrine đế tránh bị nhà vua trả thù. Trong một lúc sợ hãi và tuyệt vọng nhất, Ellen đã dâng lời cầu nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria cứu giúp. Scott đã dựa theo lời cầu khẩn bắt đầu bằng chữ “Ave Maria” này để đặt tên cho ca khúc là “Ellens’Third Song” (Ellens dritter Gesang - tức Opus 52 numéro 6, D. 839) lần đầu xuất bản năm 1826. Sau đó tựa bài bị biến mất; chỉ còn lời như sau: 
 
“Ave Maria, Maiden mild! – Listen to a maiden’s prayer! – Thou canst hear though from the wild – Thou canst save amid despair – Safe may we sleep beneath thy care – Though banish’d, outcast and reviled – Maiden, hear a maiden’s prayer! – Mother, hear a suppliant child! – Ave Maria! Ave Maria undefiled! – The flinty couch we now must share – Shall seem this down of eider piled – If thy protection hover hear – The murky cavern’s heavy air – Shall breathe of balm if thou hast smiled – Then Maiden, hear a maiden’s prayer – Mother, list a suppliant child! Ave Maria!”
 
Lời ca Anh ngữ này được chuyển qua Đức ngữ bởi Adam Storck, người đã đưa cho Schubert để viết ký âm pháp năm 1825 cho hợp với thánh ca và trình diễn lần đầu không có thu âm. Một nhà quý tộc đã đưa bản nhạc (đời) này vào một biệt thự ở Stevregg để giúp vui cho bà Bá Tước Weissenwolff. Sau đó có lẽ các tu sĩ Công giáo đã đặt lời Latin để dùng cho nhà thờ và đã được ưa chuộng đến độ xuất xứ kể trên của ca khúc đã mất hẳn tên và ngụ ý; để chỉ còn là “Ave Maria de Schubert” được thu âm trên 800 lần sau đó và hát nơi công cộng vô số lần thời đó cho đến nay.
 
Nếu “Ave Maria de Schubert” là tác phẩm của một cá thể thì “Ave Maria de Bach & Gounod” được xem như tác phẩm hợp soạn với lời Latin thay đổi, thêm bớt cho đến thế kỷ XV. Nhà soạn nhạc Charles Gounod, một trong các bậc thầy tiên phong thời ấy yêu Anna Zimmerman, con gái của Pierre Zimmermann, một viên chức trong “Conservatoire National de Musique et de Déclamation” ở Paris. Viên chức này là tay dương cầm nổi danh và là thầy của nhà soan nhạc Georges Bizet (1838-1875), tác giả của “Pécheurs de Perles, Jolie Fille de Perth, l’Arlésienne, Carmen . . .”. Một hôm, Zimmermann nghe Gounod đàn piano bản “Prélude de J. S. Bach, C majeur” hay hơn nguyên tác bèn yêu cầu cậu con rể tương lai đàn lại lần nữa rồi chép nốt theo phím đàn của Gounod. Ông bố vợ tương lai còn viết thêm bản nữa cho violon rồi mua đứt bản quyền của cậu Gounod với giá $200 francs; sau đó ông bán lại cho một nhà xuất bản. 
 
Sau khi ông cưới Anna năm 1852, bản “thánh ca” của Gounod được xuất bản với cái tên “Méditation au premier Prélude de Bach”. Sau đó Gounod quen Rosalie Jousset, người phụ nữ trẻ có giọng ca thánh thót du dương lạ lùng. Thế là Gounod viết thêm vài lời thơ vô thưởng vô phạt của thi sĩ Alphonse de Lamartine (1790-1869) vào bản nhạc; định để riêng tặng cho người phụ nữ có chồng này. Nhưng bà mẹ vợ đa nghi khó chịu đã bắt viết thêm “Ave Maria” vào ngay dưới lời thơ của Lamartine để bài hát được thuần tôn giáo hơn. Anh con rể lại phải điều chỉnh một số nốt thành “mineur” cho thích hợp. Khi sao lại và chuyển âm, Aurélie đã bỏ bớt chữ “mater Dei” (vẫn còn trong “Ave Maria de Schubert” lời 2) và mãi đến năm 1859 mới được xuất bản. Rồi Gounod lại quen Madame Miolan-Carvalho, một giọng virtuoso soprano tuyệt vời trong vở tuồng “Roméo et Juliette” để mời bà hát. Thế rồi “Ave Maria de Bach & Gounod” như ấn bản ngày nay lần đầu tiên được cất lên bởi nàng hôm 24/5/1859!
 
Bản nhạc nổi tiếng khắp châu Âu ngay tức khắc sau hôm đó! Một số giáo hội Công giáo (trong đó có GHCGVN) không hài lòng vì lời ca mất đi chữ “Mater Dei” (mẹ Chúa Trời) nên chỉ dùng “Ave Maria” của Schubert trong nhà thờ. Nhà soạn nhạc Pháp Camille Saint-Saens (1835-1921) nằm trong số này; đã chẳng hóm hỉnh ví lời ca Gounod là “con ếch phình bụng mà không chết” trong khi “thính giả lên cơn cuồng si mê đắm trước con quái vật” đó sao! Sự thật nốt nhạc có chỗ lên cao quá khiến vài phụ nữ yếu “bóng vía” thời đó khi nghe đã ngã lăn đùng ra xỉu!
 
Năm 1904 bản thánh ca “Ave Maria de Schubert” này được thu âm với giọng ca Alessandro Moreschi lúc đó trên 40 tuổi. Lời ca dựa trên kinh cầu Đức Bà lời Latin như sau: 
-Lời 1) “Ave Maria! – Gratia plena – Maria gratia plena – Maria gratia plena – Ave, Ave dominus – Dominus tecum – Benedicta tu in mulieribus – Et benedictus – Et benedictus fructus ventris – Ventris tui Jésus – Ave Maria”; 
-Lời 2) “Sancta Maria – Mater Dei – Ora pronobis peccatoribus – Ora, ora pronobis – Peccatoribus – Nunc et in hora mortis – In hora mortis nostrae – In hora mortis nostrae – Ave Maria”. 
 
Lời Xuân Mỹ: “Dâng Mẹ Maria, đây những linh hồn đầy ưu tư! – Khép nép trong lòng Mẹ ôi hết ưu phiền – Đàn con xin Mẹ âu yêm nối cho lành duyên – Hãy ban cho hương đời đã tan vỡ trong ngày qua – Và đưa tới nơi mơ hồ - Mẹ ôi, Santa Maria! - Lòng con run lên vì nghe tiếng chuông xa xa – Từ xưa thơ ấu, hoa xuân nở trong gió thơ – Tàn kiếp, mong linh hồn siêu thoát Thiên Đường kia! Ave Maria!”. 
 
Lời Phạm Duy: 
-1) “Ave Maria! – Ôi Nữ Trinh đầy hồng ân – Chính Chúa đã rủ tình thương đoái trông Mẹ - Mẹ ôi, danh Mẹ vinh hiển khắp trên trần gian – Chúa Giêsu Con lòng Mẹ ơn phúc tràn lan – Mẹ ban phát cho nhân trần – Mẹ ôi, con xin mừng Thiên chức Mẹ Chúa Trời! – Triều thiên uy linh mười hai ánh sao rạng ngời – Từ nơi cao sang, xin thương trần gian chúng con – Hằng ngóng trông mong phần vinh phúc trên Trời cao! – Ave Maria!”; 
-2) “Xin Mẹ Maria – Cho nước con qua ngày can-qua – Đã mấy mươi năm Mẹ ôi, sống trong mộng – Ngày mai, một ngày tan chinh chiến vui bình yên – Hãy ban cho một mùa xuân như ý quên sầu bi – Đầy ơn phúc trong tay Người – Mẹ ôi, bao la lòng Maria! – Này đây muôn kinh quỳ lạy tấu dâng lên Bà – Tạ ơn Thiên Chúa, Grabriel truyền tin khắp nơi – Trần thế thắm bao tình ơn Thánh Nữ Đồng Trinh! – Ave Maria!”. 
 
Lời ca của Lm. Anthony Vũ Hùng Tôn trong CD “Tin Tưởng Nơi Chúa” do ca đoàn Xuân Tâm, cộng đoàn CGVN giáo xứ Saint James Vancouver WA (TGP. Seattle WA) xuất bản năm 2000 như sau: 
-Lời 1) “Ave Maria! – Ơn rất dư đầy bao la – Maria dư đầy ơn phúc cao sa – Maria Mẹ đầy ơn phúc trời cao – Ave, Ave Chúa ở cùng Mẹ - Mẹ có Chúa ở cùng Mẹ - Mẹ được ơn hơn bao người thiếu nữ ở thế trần – Và Giêsu Con lòng Mẹ có phúc nhất đời – Và Giêsu Con thân yêu lòng Mẹ có phúc – Thật có phúc hơn mọi người sống trên trần gian – Ave Maria!”; 
-Lời 2) “Ave Maria! – Thiên Chúa ở cùng Mẹ - Xin nghe lời nguyện đoàn con trót trao Mẹ - Mẹ ơi, xin rủ thương lắng nghe lời ban – Chở che cho đoàn con chẳng xa tội nhơ – Cầu xin Mẹ xót thương tình! – Giờ đây như trong giờ con giã từ cõi trần – Mẹ thương đưa tay dìu con tới nơi yên hàn – Mẹ yêu cho nên con ở nơi Chúa! Mẹ cứu giúp con được lên chốn trời cao – Ave Maria!”.
 
Lời Latin của “Ave Maria de Bach & Gounod” như sau: 
 
-1)“Ave Maria – Gratia plena – Dominus tecum – Benedicta tu in mulieribus – Et benedictus – Fructus ventris tui Jesus – Sancta Maria, Sancta Maria, Maria! – Ora pronobis – Nobis peccatoribus – Nunc et in hora - In hora mortis nostrae – Amen!”. 
 
-2) Lời Phạm Duy như sau: “Cầu xin Maria – Thấm nhuần một lòng thương chúng ta – Đoái hoài một đàn con xót xa – Mến trìu một bàn tay thiết tha của Người – Mẹ ôi mà lòng trinh tiết tỏa ngời – Người mà tình thiêng muôn đời – Quỳ niệm một vòng hoa – Đặt trên thánh giá những khi chiều tà – Xin cầu một kiếp nào – Mối tình xanh mãi màu - Tiếng hát chầu đưa bao duyên lành mới qua cầu – Hoa trong muôn vườn ngát khoe màu – Người cười trong ánh nắng – Tiếng reo yên lành đây đó – Ta cùng nép dưới bàn thờ - Xin cầu lời thương nhau – Amen!”.
 
Trong các thập niên từ 1970, các giọng tenor và soprano của các danh ca Luciano Pavarotti, Placido Domingo, José Carreras, Renata Jebaldi . . . và sau này là Charlotte Church đã làm say đắm lòng mọi thính giả đạo đời với “Ave Maria” của ba nhà soạn nhạc trứ danh này; không chỉ vào mỗi dịp Noel mà tại các cuộc hòa nhạc cổ điển trong các hý viện nổi tiếng ở các thủ đô Âu Mỹ cũng như bên bức tường thành Jérusalem! Lời cầu nguyện thay vì được lập lại nhiều lần bằng hình thức lần chuỗi “Mân Côi” râm ran khẩn khoản; đã được trau chuốt để trở thành bài thánh ca bất hủ du dương, thánh thót, vang vọng chất ngất thiên đình; tồn tại đã gần 3 thế kỷ trong lịch sử Thiên Chúa Giáo; xuất phát từ tình người và lòng mộ đạo để chuyên chở lời kinh “Je Vous Salue Marie” như sau: “Je vous salue Marie! – pleine de grace –le Seigneur est avec vous – Vous êtes bénie entre toutes les femmes – Et Jésus, le fruit de vos entrailles, est béni – Sainte Marie, Mère de Dieu, priez pour nous, – Pauvres pécheurs, maintenant – Et à l’heure de notre mort – Amen!” (Kính mừng Maria đầy ơn phúc – Đức Chúa Trời ở cùng Bà – Bà được phúc hơn mọi người nữ - Và Giêsu con đầu lòng Bà cũng được phúc vậy - Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng tôi là kẻ tội hèn khi nay và trong giờ lâm tử”.
 
HÀ BẮC  
(tham khảo tài liệu của Max Cryer, St Gregory Hymnal, Encyclopédie de Musique, Cantiques Notés và các tài liệu khác)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.12.2014 12:33:07 bởi thiên thanh>
 
 
 
 
 
[themNhac]http://k003.kiwi6.com/hotlink/74io5x2g4y/tinhcamuadong2_final_tt.mp3
[/themNhac]
 
Bài Tình Ca Mùa Đông
Tác giả: Trầm Tử Thiêng
 
Bài tình ca mùa Đông anh hát giữa đêm trời giá 
Tình còn mãi chờ mong thấp thoáng bóng em vợi xa 
Hẹn hò sẽ vì nhau qua phong ba 
anh cố bước, đôi chân chậm quá! 

Để rồi sắp gặp nhau, mới biết em không đợi nữa 
Trời lại thêm mùa đông, cho tuyết than trên đầu non 
Kỷ niệm giăng ngập đêm nay trong mưa 
anh hứng nốt những giọt cuối mùa 
 
Êm êm, ngoài kia nhạc đêm đông! 
Anh nhớ khi mặn nồng, 
Xin cám ơn em một thời xuân 
 
Giờ còn đâu mà mong, 
cho chút duyên nghe còn ấm 
Bài tình ca mùa Đông 
hát mãi đôi môi lạnh câm 
Lòng thì vẫn hẹn cơn đau nguôi ngoai, 
Sao nỗi nhớ mỗi ngày mỗi đầy ...
Đăng nhập để trả lời
0
ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

Mặt Trận Đại Học thời Việt Nam Cộng Hòa

Một buổi chiều có nắng đẹp, hơi lạnh sau cơn bão đến Bắc California, vùng Thung lũng Silicon…Một số anh chị em cựu sinh viên các trường đại học Sài Gòn, đặc biệt là Văn Khoa và Luật Khoa đã đến gặp nhau trong một buổi họp mặt thân hữu để “trình làng” tập sách có tựa: Mặt Trận Đại Học thời Việt Nam Cộng Hòa.

Lê Bình
 
Cali Today News - Tác phẩm là tập hợp những bài viết từ năm 2009 của những sinh viên đại học Sài Gòn có tinh thần quốc gia, yêu tự do dân chủ, đã tham dự trong mặt trận “tình báo” để chống lại sự xâm nhập của cộng sản Bắc Việt vào sân trường Đại Học, tiêu biểu chóm nhóm sinh viên Cộng sản là Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng…với sự chỉ huy của Trần Bạch Đằng.
 
Buổi trao sách, diễn ra trong tình gia đình tại tư gia của một cựu sinh viên, trên đường Ridgeview Way, San Jose. Có khoảng gần 50 thân hữu tham dự, phần lớn là những cựu sinh viên Văn Khoa, Luật Khoa trong nhóm A 17, các cựu chủ tịch Ban Đại Diện Văn Khoa như Cựu Chủ Tịch Nguyễn Hữu Tâm, Phan Nhật Tân, cựu Phó Chủ tịch Ban Đại Diện VK Biện Thị Thanh Liêm, cựu thủ quỹ Ban Đại Diện VK Huỳnh …và một số nhân viên cảnh sát đặc biệt thuộc Phủ Đặc Ủy. Đặc biệt có sự hiện diện và nói chuyện của cựu Đặc Ủy Trưởng, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình.
 
Buổi nói chuyện xoay quanh những hoạt động của các cựu sinh viên Văn Khoa, Luật Khoa trước năm 1975. Những nhân chứng còn sống nói về một thời sôi nổi của tuổi trẻ dấn thân “Vừa miệt mài đèn sách vừa ý thức bổn phận của người sinh viên Quốc Gia, hăng hái tham gia các hoạt động nhằm loại bỏ ảnh hưởng của cán bộ Thành đoàn Cộng sản ra khỏi môi trường đại học…” Những tên tuổi gắn liền với những cuộc đấu tranh chống cộng sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật. Tác phẩm cũng trình bày những sự thật mà chưa có sách vở, báo chí nào nói đến mặt thật của những “sinh viên” Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm…v.v.

 
Cũng trong buổi mạn đàm “Mặt Trận Đại Học” người ta biết thêm về những hoạt động quả cảm của những sinh viên chân yếu tay mềm, các chị sinh viên Văn Khoa, Luật Khoa tham dự trong công cuộc đấu tranh chống cộng và đã trả giá bằng những năm tù khổ sai sau 1975. Có người 8 năm, có  người 13 năm. Chị Thanh Liêm tâm tình “Cuộc chiến đã qua hơn mấy chục năm, với tư cách một nữ sinh viên Văn Khoa bé nhỏ trong hàng ngũ sinh viên Quốc Gia, chúng tôi không khỏi tự cảm thấy chút hãnh diện vì ngày xưa đã sát cánh cùng bạn bè góp công sức mình vào việc ổn định tình hình Đại Học nơi hậu phương để ngoài tiền tuyến các anh chiến sĩ VNCH yên lòng chiến đấu chống lại Cộng quân xâm lăng.”

 
 
Điểm qua tác phẩm Mặt Trận Đại Học Thời Việt Nam Cộng Hòa, cựu Chủ tịch Văn Khoa Lý Bữu Lâm nhận xét “Làm sống lại linh động một thời sinh viên của chúng ta. Nội dung cuốn sách vinh danh hàng ngũ Sinh Viên Quôc Gia, vinh danh Giáo Sư, Sinh Viên đã thực sự đổ máu, đã ngã gục trước họng súng bạo lực phi nhân của Thành Đoàn Cộng Sản…”
 
Cựu sĩ quan Cảnh sát Đặc Biệt, Trần Hùng, người đã từng sát cánh cùng sinh viên trong Mặt Trận Đại Học cho biết “Quyển sách đã nói lên một phần khác của cuộc chiến đấu chống cộng sản. Cuốn sách cần được phổ biến rộng rải đến nhiều người vì cho đến bây giờ bọn cộng sản vẫn ra sách để nói “tốt” về phía họ.” Nhiều người có nhận xét tác phẩm là một phản biện, là chứng tích rõ ràng cho thấy những tác phẩm của cộng sản viết về thòi kỳ sinh viên “đấu tranh” là sai sự thật. Trong bài số 9 (trang 187) nói về những sự không thành thật của LM Chân Tín khi trả lời phỏng vấn về những vụ mà theo LM Chân Tín “Bắt bớ sinh viên”, sự thật về cái gọi là Ủy Ban Vận Động Cải Thiện Chế Độ Lao Tù do LM Chân Tín thành lập năm 1970 để vận động thả những tên VC đội lốt sinh viên đã bị bắt. Tác phẩm cũng nhắc đến Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoảng Phủ Ngọc Phan, Lý Chánh Trung, Nguyễn Ngọc Lan,  Nguyễn Đăng Trừng, Lê Hiếu Đằng…về tên sinh viên trùm tranh đấu Huỳnh Tấn Mẫm.

 
 
Nhìn chung, tác phẩm Mặt Trận Đại Học không phải là “sử” nhưng đó là tài liệu sống rất cần cho những nhà nghiên cứu viwết sử sau nầy. Tiến sĩ Trần An Bài nhận xét “Lịch sử gắn liền với sự thật. Nhưng những chế độ độc tài đảng trị luôn bóp méo sự thực khi viết lịch sử. Trong cuốn “Mặt Trận Đại Học” không chủ ý viết sử mà chỉ muốn trình bày sự thực như một nhân chứng, một người tham dự ở góc cạnh khá đặc biệt trong cuộc chiến Việt Nam. Đó là cuộc chiến tại các trường Đại Học của VNCH nhằm chống lại sự xâm nhập, phá hoại của VC. Cuộc chiến nầy đang bị cộng sản xuyân tạc và bóp méo sự thực để viết thành “lịch sử” truyền lại cho hậu thế.”
Một số tham dự cho biết nhận xét “Mới đọc lướt qua một vài bài nhưng đã thấy được nhiều sự thật cần được nói lên, viết ra cho mọi người thấy. Nhất là gìới trẻ sau nầy cần biềt về cha anh của họ đã làm gì.”
 
Sau cùng Ban Tổ Chức khoản đãi bữa ăn trưa. Buổi họp mặt trao sách chấm dứt lúc 3:00pm.
 
Tưởng cũng nên viết thêm. Trong buổi trao sách có sự hiện diện của cựu Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, ông đã nói về những cuộc chiến tình báo, trong đó có Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, xin ghi lại một vài nét về Phủ Đặc Ủy.
 

 
Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo (tiếng Anh: Central Intelligence Office, viết tắt là CIO) là cơ quan tình báo chiến lược trung ương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, trực thuộc Phủ Tổng thống.  Trụ sở đặt tại số 3 Bạch Đằng.
 
Phủ Đặc ủy được thành lập năm 1961 theo sắc lệnh số 109/TTP do Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký ngày 5 tháng 5 năm 1961. Cơ quan này có nhiệm vụ điều tra, thu thập tin tình báo chiến lược của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các nước có liên quan; cố vấn cho chính phủ về an ninh quốc gia.
 
Phủ Đặc ủy gồm các cơ quan trực thuộc như: Cục Tình báo Quốc nội (gồm các nha: Điệp báo (ban K), Phản gián (ban U) và Chính trị (ban Z)); Cục Tình báo Quốc ngoại; Trung tâm Thẩm vấn Quốc gia. Trong vùng kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa, ở mỗi vùng chiến thuật có 1 Đoàn công tác đặc biệt, thuộc Cục Tình báo Quốc nội. Ở nước ngoài, có các biệt cục trực thuộc Cục Tình báo Quốc ngoại như: Biệt cục Phú Xuân ở Pháp, Lam Sơn ở Anh, Thái Bình Dương ở Nhật, Tiền Giang ở Thái Lan, Phú Quốc ở Campuchia,...
 
Các Đặc ủy trưởng qua các thời kỳ: Trung tá Lê Liêm, Đại tá Nguyễn Văn Y, Trung tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Trung tướng Linh Quang Viên, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, Ông Nguyễn Phát Lộc
 
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 hầu như tất cả nhân viên của Phủ Đặc ủy đều bị kẹt ở lại và bị đi tù.
 
Lê Bình
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.12.2014 22:19:04 bởi Nguyệt Hạ>
 
 
 
 


Xin chúc anh Dzuylynh và gia quyến
mùa Giáng Sinh tràn đầy ơn lành
và một năm mới 2015 nhiều may mắn.

Nguyệt Hạ


 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.12.2014 15:59:28 bởi dzuylynh>
 
Nguyệt Hạ:

 

Xin chúc anh Dzuylynh và gia quyến
mùa Giáng Sinh tràn đầy ơn lành
và một năm mới 2015 nhiều may mắn.

Nguyệt Hạ


 
Thiên Thanh
 tt xin thân mến chúc ca nhạc sĩ Dzuylynh và các quý bạn Giai Điệu Phù Trầm 
một mùa Giáng Sinh vui tươi hạnh phúc và đầm ấm cùng những người thương yêu và bạn bè 
 

  ***

 Dzuylynh thân chúc BDH / VNTQ
Qúy thi hữu, văn nghệ sỹ, qúy tao nhân mặc khách ẩn danh, Giai Điệu Phù Trầm Fans
Các bạn Cát Ly, Huyền Băng, Nguyệt Hạ, Sen đất, Thiên Thanh, CàNa tn nguyen, Nghinh Nguyen, Tóc Nâu, Thúy Lan, Lê Phú Hải, Nguyên Đỗ, Đông Hương ...
cùng qúy quyến một mùa Giáng Sinh an lành, Năm mới vạn sự như ý.
 
           
 
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.12.2014 16:41:57 bởi Ct.Ly>
Qúy bằng hữu đã cùng Dzuylynh thưởng thức giọng hát Mezzo Soprano ngọt ngào của nghệ sỹ tài tử Bạch Vân, một bạn thân của GĐPT qua một ca khúc bất hủ không thể thiếu trong các Mùa Giáng Sinh của nhân lọai.
Ở một nơi rất xa, gần cực Nam tinh cầu.
Từ ánh sáng ấm áp của ngọn nến trắng, ly rượu vang nồng màu hổ phách, không gian đọng lại cùng chiếc Microphone và màn hình Karaoke, Bạch Vân, Hòang Vân trải tấm lòng phụng sự hồng ân, buông lơi giai điệu chân thành quyến rũ bởi bảy nốt nhạc phù phép... Những mong cho bạn bè có chút an bình trong cuộc sống phù phiếm chốn nhân gian tạm bợ này. Cám ơn bạn, Thanks nữ ca sỹ Bạch Vân mây trắng thật nhiều!
Trong khung cảnh êm đềm, thánh thiện của Mùa Lễ Giáng Sinh đang đến, một sớm tinh mơ. San Jose những đêm thức chờ mặt trời. Mưa ngòai trời lất phất, dư âm cơn bão rớt còn vương vất thung lũng cùng làn khói thuốc, cốc cà phê đen đặc sánh, ngồi nghe âm điệu thân quen mà thấy lòng ấm áp vô cùng...

Một lần nữa, Dzuylynh xin trân trọng gửi đến tiếng hát vô tiền khóang hậu từ một nghệ sỹ du ca lừng danh thế giới . Nam danh ca Martin Huken, người Hollant sinh năm 1953, ca sĩ Opera đã đoạt giải Holland Got Talent năm 2010, hiện rất nổi danh và đang trình diễn nhiều nơi trên hòan vũ.
Hãy nhìn cô bé con ngây thơ với đôi mắt trong veo hồn nhiên đầy thánh thiện thưởng thức trong suốt buổi trình diễn trên vĩa hè của người nghệ sỹ du ca này để thấy được âm thanh là huyền ngữ vô cùng. Quả thực âm nhạc huyền diệu qúa, âm thanh đến với con người là không biên giới, không phân biệt màu da sắc tộc và tôn giáo.
Nghe EVA MARIA với Martin Huken và bất chợt cảm thấy tâm hồn thật sự bình an, phẳng lặng...

Bên một góc phố, những viên gạch cũ kỹ đã làm vạch nối cho khán thính gỉa gần lại nhau hơn, giọt nước mắt hoen trên mi người thiếu phụ, những nụ cười rạng rỡ trên môi người, những bước đi lẩm chẩm của cô bé thiên thần, chiếc mũ nằm quạnh quẽ dưới lòng đường cũng có chút an bình. Thiên Chúa chính là người sẽ trả công bội hậu cho người hát và người nghe, người biết lắng nghe cuộc hành trình vô biên của âm thanh mầu nhiệm. Âm nhạc không quốc tịch, không ngôn ngữ, không biên giới và cũng không giai cấp. âm nhạc là vô cùng, vô tận.
Và hãy nhìn cái cách mà người ca sỹ trình diễn hết sức chân thành tha thiết để biết rằng tại sao ca khúc này có phép thần thông khiến cho những ưu phiền chốn nhân gian thốt nhiên lắng xuống, và tấm lòng từ tâm trong chúng ta mở ra thênh thang, thênh thang...
Nào, xin mời các bạn, hãy ngồi gần lại bên nhau cùng thưởng thức với Dzuylynh: Tiếng hát của một sứ gỉa mang thông điệp thiên phước đi vinh danh và rao giảng cho nhân lọai : Thông Điệp Tình Thương !
 
 
 AVE MARIA



Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.12.2014 23:49:20 bởi thương yêu>
CHUYẾN XE LỬA CHIỀU NOEL
 
gió buốt rét từng cơn qua thành phố
đi song song với bóng bước mình em
em mặc kệ nỗi buồn vui biểu lộ
nồng nàn hôm qua còn để kín dành
 
mưa bay bay, hạt nhiểu đầy vành nón
nón bằng len anh tặng Noel rồi
tay em xua cơn rứt ray gậm nhấm
mỗi một ngày lau chuỗi ngọc quanh môi
 
hai chéo áo tâm tư nhàu, tủi phận
gấu ống quần thấm ướt, cũng đôi khi
buồn qua em, xa anh, hằn giá lạnh
giữ không tròn để thấm ướt Paris
 
trời hư ảo Phố Hồng trong sương sớm
mù sân ga, chuyến tàu cuối sau cùng
em hơ mắt vào khói càfé nóng
tay chạm lên ngực trái, nhịp dập dồn
 
nhìn tấm vé đang cầm, em nôn nức
ngày cuối tuần, mình lên đón anh qua
có nhiều đâu, chỉ bài ba hôm nữa
vậy mà hình như tính mãi không ra
 
đông hương

quê hương em là Huế
quê tim em là anh
Đăng nhập để trả lời
0
ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

Lễ Giáng Sinh

Ta có thể cầu nguyện bất cứ ở đâu, một mình hoặc với người khác. Hãy nghĩ tới Thượng Đế nhiều hơn là hơi thở khiến cho cầu nguyện trở thành một thói quen.Và đừng cầu nguyện vào buổi sáng rồi suốt ngày sống như một con người man rợ độc ác.


Photo courtesy: www.freeimageswallpapershd.com
 
Bác sĩ Ý Đức ơi,
Christmas sắp đến rồi, bác sĩ có điều gì chia sẻ với độc giả về ngày lễ lớn này không. Thành Lê- 
 
Chào bạn Thành Lê,
 
Cảm ơn bạn đã nhắc nhở về lễ Giáng Sinh. Vậy chúng tôi xin tạm ngưng nói về sức khỏe để cùng đề cập tới ngày Christmas khá trọng đại này. Trọng đại vì đây là ngày đã được mọi quốc gia, mọi tôn giáo coi như ngày vui chung của nhân loại, chứ không riêng gì đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo. Do đó, có người đã nói, Christmas là một cơ hội hãn hữu để nhắc nhở mọi người  có bổn phận đối với những người mà ta không quen biết cũng như đôi khi không ưa thích.Và đồng thời mọi người cũng hân hoan hát các điệu nhạc Giáng sinh như “We wish you a Merry Christmas”, như “Silent Night”, Đêm Thánh Vô Cùng mừng Chúa Hài Đồng ra đời
 
…Ôi Chúa thiên đàng, cam nếm cơ hàn 
Nhấp chén phiền vương phong trần 
Than ôi Chúa thương người đến quên mình 
Bơ vơ chốn quên nhà lúc sinh thành 
Ai đang sống trong lạc thú 
Nhớ rằng Chúa đang đền bù…
 
Theo lời ghi lại thì khi Chúa Jesus cất tiếng khóc chào đời trong một cái máng cỏ ở hang Bethlelem có ba vị Vua phương Đông mang ba món quà đến để bày tỏ sự thành kính của họ. Trong khi đó, những người chăn cừu nghèo khó cũng lòng thành tặng Chúa Jesus hoa quả và những món đồ chơi do chính họ làm ra…
 
Lễ Giáng Sinh Christmas là lễ kỷ niệm  ngày sinh của Chúa Jesus. Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Christ là tước vị của Đức Giêsu, chữ Mas là Thánh lễ. Thượng Đế đã gửi con yêu quý của mình xuống thế để chuộc tội và mang lại tình thương, hòa bình, hạnh phúc cho nhân loại. Tuy là lễ riêng của tín đồ Cơ Đốc Giáo, nhưng hầu như mọi người đều trân trọng, chung vui. 
 
Với tất cả, Lễ Giáng Sinh là thời gian tuy ngắn ngủi nhưng tràn ngập thương yêu với những gói quà dưới cây Noel, sao sáng lung linh nơi cửa sổ, những cánh thiệp chúc tụng gửi đó đây, những bữa ăn đoàn tụ thân bằng quyến thuộc với tiếng cười nói hân hoan hạnh phúc, với tuyết trắng phủ kín sân nhà, đường phố…
 
Cho nên, tinh thần của Lễ Giáng Sinh là chia sẻ, bao dung, thương yêu và giảm thiểu giận hờn. 
 
Tiểu thuyết gia Oren Arnold gợi ý về quà tặng Giáng Sinh như sau: “Với kẻ thù, cho sự Tha thứ; với đối thủ cho sự Chịu đựng; với bạn bè cho Trái Tim; với khách hàng cho Phục Vụ Chu Đáo; với các cháu bé Làm Gương Sáng để cháu noi theo và với chính mình, cho niềm Tự Trọng”.
 
Trong thông điệp gửi cho nhân dân Hoa Kỳ, vị Tổng Thống thứ 30 của quốc gia này là Calvin Coolidge (1872-1933), nhắn nhủ: “Christmas không phải là một thời gian hoặc một mùa nhưng là một tâm trạng. Để chào mừng hòa bình và thiện ý, để có đầy đủ tình yêu thương”.
 
Tiểu thuyết  gia nước Anh là Charles Dickens ((1812–1870) cũng đồng ý với “ Tôi luôn nghĩ Christmas như là thời gian vui thú ; một thời gian thân tình, tha thứ, độ lượng, thoải mái; thời gian mà nam cũng như nữ dường như tự do rộng mở trái tim, do đó tôi xin Thượng Đế chúc lành cho Christmas”.
 
Tác giả Wilda English viết :”Thượng Đế ban cho ta ánh sáng của Christmas, đó là niềm tin;  ấm áp của Chrismas, đó là tình yêu; rực rỡ của Christmas, đó là sự trong sáng;  chính trực của Christmas, đó là công lý; lòng tin tưởng ở Christmas, đó là sự thật; mọi ý nghĩa của Christmas, đó là Chúa Giê Su”.
 
Kế cận những bên nhau hạnh phúc, Giáng Sinh còn quá nhiều người không mua, không nhận được quà tặng, không lo được bữa ăn ngon, những em bé bán diêm chết cóng trong đêm băng giá, những đứa con bị cha mẹ bỏ rơi, những người bệnh không được thuốc thang chăm sóc… 
 
Nhưng có Mother Teresa, người được Chúa Jesus kêu gọi để phục vụ những kẻ bất hạnh từ Giáng Sinh năm 1948. Bà từng nói “Mỗi năm tôi khởi  sự việc làm vào ngày Christmas”. 
 
Vì, theo bà, “Là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta để Thượng Đế thương yêu người khác qua ta…và  là Lễ Giáng Sinh  mỗi khi ta mỉm cười với anh em của ta và cứu giúp họ”.
 Đó là thánh ý Thiên Chúa.
 Mà trong Lễ Giáng sinh, thường thường người ta cũng hay cầu nguyện
 
Cầu nguyện không phải chỉ là sự thờ phượng mà còn là một nguồn sinh lực dồi dào, mạnh mẽ mà con người có thể tạo ra. 
 Ảnh hưởng của sự cầu nguyện lên tinh thần và thể chất có thể chứng minh được.  Ảnh hưởng đó được đo lường bằng sự phục hồi thể xác, đưa tới một trí tuệ sáng suốt, một lương tri ổn định và sự thấu hiểu những mặt khàc nhau trong sự giao thiệp giữa mọi người.
 
Nếu ta thành thật tạo ra một thói quen cầu nguyện, cuộc sống của ta sẽ thay đổi rõ ràng. Lời cầu nguyện sẽ để lại trong hành động và thái độ của ta những dấu ấn khó xóa nhòa. Một tác phong bình thản, một nét mặt ung dung tự tại ở những ai đã có một nội tâm phong phú. Trong chiều xâu của lương tri là ngọn lửa của nhân ái. Và con người tự nhìn thấy mình. Họ nhìn ra tính ích kỷ, thái độ kiêu hãnh, tâm trạng  sợ hãi, lòng tham lam, những sai lầm ngớ ngẩn của mình. Họ sẽ triển khai một nghĩa vụ đạo đức, một trí tuệ khiêm cung lâu dài. 
 
Câu nói, “Hãy cầu xin và sẽ được đáp ứng” đã được chứng minh bằng kinh nghiệm của nhân loại.Thực ra, cầu nguyện không thể mang lại sự sống cho em bé đã chút hơi thở cuối cùng hoặc chấm dứt được cơn đau thể chất. Nhưng cầu nguyện, như hạt radium, là nguồn sinh lực tự tạo sáng chói không bao giờ hết. Khi cầu nguyện, ta đã kết nối bản thân với nguồn sức mạnh bất tận đang quay cuồng trong vũ trụ. Ta xin một phần năng lượng đó cho nhu cầu thiếu hụt của ta để tăng cường bổi bổ. Nhưng đừng cầu nguyện Thượng Đế để thỏa mãn lòng ham muốn nhất thời. 
 
Ta có thể cầu nguyện bất cứ ở đâu, một mình hoặc với người khác. Hãy nghĩ tới Thượng Đế nhiều hơn là hơi thở khiến cho cầu nguyện trở thành một thói quen.Và đừng cầu nguyện vào buổi sáng rồi suốt ngày sống như một con người man rợ độc ác. 
 
Hơn bao giờ hết, cầu nguyện bây giờ là một gắn bó cần thiết trong nếp sống của con người. Thiếu quan tâm tới ý nghĩa của tôn giáo đã đưa thế giới tới ngưỡng cửa của sự diệt vong. Nguồn sức mạnh xâu sắc, toàn hảo nhất của chúng ta đã bị lãng quên một cách thảm bại. Cầu nguyện phải được tích cực áp dụng trong nếp sống của chúng ta. Vì nếu sức mạnh của sự cầu nguyện được áp dụng trong đời sống thường nhật thì còn nhiều hy vọng rằng những lời cầu nguyện cho một thế giới tốt đẹp hơn sẽ được đáp ứng. 
 
Để kết luận, xin mượn lời của nhà văn danh tiếng nước Anh Charles Dickens như sau, khi ông nói tới Christmas: “I will honor Christmas in my heart, and try to keep it all the year”, Tôi sẽ tôn vinh Christmas trong trái tim của tôi và trân trọng Christmas suốt năm”.
 
Mong sao mọi người chúng ta cũng như bạn Thành Lê thực hiện được như lời nhà văn này nhắc nhở.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
Xin cảm ơn lời chúc đẹp của anh Lynh nha.
TN xin chúc anh Lynh cùng gia quyến và toàn thể thân hữu của ngôi nhà trang trọng GĐPT một mùa Giáng Sinh ấm cúng, an lành, một năm 2015 hoàn toàn toại ý.
 
 
 
 
📎 Noël-5
Thơ rơi
[link=http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=787518]Trang chính
Đăng nhập để trả lời
0

tt xin thân mến chúc ca nhạc sĩ Dzuylynh và các quý bạn Giai Điệu Phù Trầm 
một mùa Giáng Sinh vui tươi hạnh phúc và đầm ấm cùng những người thương yêu và bạn bè 
 
[sm=40.gif][sm=40.gif][sm=40.gif]
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.12.2014 17:32:48 bởi thiên thanh>
 
 
 
 
* * *
 
 
 
[themNhac]http://k003.kiwi6.com/hotlink/w490xdj2zz/avemaria_bv.mp3[/themNhac]
 
 
  Xin Mẹ Maria cho nước con qua ngày can qua.
Đã mấy mươi năm, Mẹ ơi sống trông mong ngày mai,
Một ngày tan chinh chiến vui bình yên.
Hãy ban cho một mùa xuân như ý quên sầu bi.
Đầy ơn phước trong tay Người.
Mẹ ơi! Bao la lòng Maria.
Này đây muôn kinh quỳ lạy tấu dâng lên Bà.
Tạ ơn Thiên Chúa Gabriel truyền tin khấp nơi.
Trần thế thắm bao tình ơn Thánh Nữ Đồng Trinh.
Ave Maria

Dâng về Maria, Đây những linh hồn đầy ưu tư
Khép nép trong lòng Mẹ ôi hết ưu phiền
Đàn con xin Mẹ âu yếm nối cho lành duyên 
Hãy ban cho hương đời đã tan vờ trong ngày qua 
Và đưa tới nơi mơ hồ 
Mẹ ơi! Santa Maria
Lòng con rung lên vì nghe tiếng chuông xa xa 
Từ xưa thơ ấu hoa xuân nở trong gió thơ 
Tàn kiếp, mong linh hồn siêu thoát thiên đường kia
Ave Maria
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chúc OngLynh, Thiên Thanh, chị Đông Hương
Giáng Sinh an lành
 
Năm mới vạn sự như ý
 





Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.12.2014 12:16:08 bởi thiên thanh>
CUỘC TÌNH DƯỚI MƯA VÀ BÀI THÁNH CA BUỒN KHẮC KHOẢI 40 NĂM

Hạnh Lam

      
 
Cuộc tình dưới mưa và Bài Thánh Ca Buồn khắc khoải 40 năm
 



Gần nửa thế kỷ trôi qua, giai điệu Bài Thánh ca đó còn nhớ không em của nhạc sĩ Nguyễn Vũ vẫn không ngừng ngân vang, len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những vùng quê.
 
Kỷ niệm cuộc tình dưới mưa
 
Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944 tại Hà Nội nhưng suốt thời thơ ấu ông sống ở Đà Lạt. Những năm tháng tuổi thơ sống ở thành phố sương mù đã ảnh hưởng nhiều đến bước đường nghệ thuật của ông trong đó có “Bài thánh ca buồn”.
 
Không chỉ sáng tác nhạc, Nguyễn Vũ còn hát rất hay. Từ nhỏ, ông đã chơi được nhiều nhạc cụ như guitar, harmonica, piano…và hát cho Ban thiếu nhi của Đài Phát thanh Đà Lạt. Năm 12 tuổi (1956), cậu bé Tuấn Khanh đã đoạt giải Nhất đơn ca thiếu nhi do Đài Phát thanh Đà Lạt tổ chức. Nhạc sĩ Nguyễn Vũ và nhạc sĩ Đức Huy là anh em con cô, con cậu. Khi còn nhỏ Nguyễn Vũ và Đức Huy cùng sinh hoạt “sói con” (hướng đạo sinh) với nhau. Nguyễn Vũ thường qua nhà Đức Huy hướng dẫn cho Đức Huy chơi đàn thuở Đức Huy 14-15 tuổi.
Năm 1965, Nguyễn Vũ có tác phẩm đầu tay là ca khúc “Loài chim biển”. Hai năm sau, tên tuổi nhạc sĩ mới được giới yêu nhạc biết đến nhiều qua loạt ca khúc có chữ “cuối”:

 
 
“Bài thánh ca buồn” là một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh. (Trong ảnh: nhạc sĩ Nguyễn Vũ trình bày ca khúc Bài Thánh ca buồn
 
Nhạc sĩ Nguyễn Vũ cho biết: “Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế. Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời gian trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen…"
 
“Thuở tôi là một cậu bé 14 tuổi ngày đi lễ ở nhà thờ Con gà (TP.Đà Lạt), sở dĩ tôi “chịu khó” đi lễ chỉ vì thấy một cô gái rất xinh và ngoan đạo mỗi ngày vẫn đi ngang qua ngõ nhà tôi để đến nhà thờ. Trái tim vụng dại của thằng con trai mới lớn đập loạn nhịp trước bóng hình thiếu nữ tóc bồng bềnh trong gió cao nguyên. Ngày qua ngày, suốt hơn ba tháng trời, tôi âm thầm, lầm lũi làm “cái đuôi” của cô ấy. Kẻ trước người sau, mỗi bận đi lễ về phải đi bộ hơn 3km đường đèo nhưng một lời bẻ đôi tôi không dám thốt. Lòng thành của tôi chỉ được hưởng một ân huệ cỏn con: Tôi được biết cô ấy tên Th., lớn hơn tôi 2 tuổi…”.
 
Thế rồi một buổi chiều gần lễ Giáng sinh, tan lễ thì trời đổ mưa to, cô ấy nép vào một mái hiên trú mưa, tôi cũng…trú tạm bên cạnh, hai người đứng cách nhau độ một gang tay.. Lẫn trong tiếng mưa vang lên giai điệu quen thuộc của bản thánh ca “Đêm thánh vô cùng” (Silent Night) vẳng ra từ ngôi nhà gần đấy:
 
Cô ấy đưa tay hứng những giọt nước mưa và khe khẽ hát theo. Tôi lặng người. Giọng hát cô ấy buồn da diết. Tự dưng tôi cảm thấy run, khẽ đưa tay vuốt nhẹ những hạt mưa bụi li ti bám bên ngoài chiếc áo của cô ấy. Cô ấy bất chợt quay sang tôi nhoẻn miệng cười: “Cảm ơn nghen!”.
 
Mưa tạnh, “người trong mộng” đã khuất dạng tự bao giờ mà thằng con trai 14 tuổi vẫn còn đứng ngẩn ngơ vì " Người đi một nửa hồn tôi mất/ Một nửa hồn kia bỗng dại khờ"  
Ba ngày sau, gia đình tôi chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Tâm trạng tôi lúc đó y như người vừa đánh mất một vật quý giá. Từ đó, mỗi khi chợt nghe bài " Đêm thánh vô cùng" lòng tôi lại tái tê với ánh mắt, nụ cười hồn nhiên, thánh thiện tựa thiên thần của " người ấy"
 

Ôm hình bóng ấy cho đến mãi 14 năm sau, tình cờ nghe lại “Đêm thánh vô cùng” từ chiếc máy đĩa, bỗng dưng cảm xúc từ một mối tình thánh thiện, hồn nhiên như trẻ thơ – tưởng như đã vùi sâu dưới lớp bụi trần thời gian – chợt ùa về trong ký ức, thôi thúc tôi và “Bài thánh ca buồn” ra đời.
 
Chuyện tình buồn nhưng không bi lụy
 
Nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” được nhạc sĩ Nguyễn Vũ sáng tác trong hai tiếng vào một ngày tháng 10.1972 và được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, “Bài thánh ca buồn”nam ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên và ngay sau đó, nó trở thành ca khúc “hot” nhất trong mùa Giáng sinh năm đó. 
Cho đến nay có rất nhiều ca sĩ hát bài này nhưng ca sĩ Elvis Phương đã là người mặc định cho ca khúc một vị trí hoàn hảo, thổi vào đó dạt dào những cảm xúc từ khung trời kỷ niệm một chút gì tiếc nuối. Xa vắng, kết hợp giọng hát ở không gian cao, rộng, khoan thai, phát âm ca từ rõ ràng, lắng đọng, để rồi đẩy ca khúc lên. Biết bao nhiêu thế hệ người nghe, ca khúc vẫn không nhàm chán:“Cùng nhau quỳ dưới tượng Chúa cao sang/ Xin cho đôi mình suốt đời có nhau/ Vang trong đêm lành bài ca Thiên Chúa/ Khẽ hát theo câu: “Đêm thánh vô cùng”/ Ôi giọng hát em mênh mang buồn”.
 

 

Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn nhưng không bị lụy.
 
"Bài Thánh Ca Buồn"là một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh. Nó là ca khúc đã vượt qua sự thử thách của thời gian để trở thành hiện tượng văn hóa, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, nhân văn, thẩm mỹ, lịch sử khiến cho tác phẩm vì thế được cả những người Thiên Chúa giáo, lẫn những người ngoại đạo đều yêu thích.
 
Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn nhưng không bị lụy. Hơn 40 năm kể từ khi ca khúc “Bài thánh ca buồn” ra đời, đến nay nó vẫn được nhiều người nghe, thích và tiếp tục hát, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa dần.
 
Sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Vũ không lớn lao như nhiều nhạc sĩ khác nhưng “Bài thánh ca buồn” đã trở thành một trong những bản nhạc được yêu thích, nhất là trong các album nhạc giáng sinh.
 “Bài thánh ca đó còn nhớ không em/ Noel năm nào chúng mình có nhau/ Long lanh sao trời đẹp thêm môi mắt/ Áo trắng em bay như cánh thiên thần/ Giọt môi hôn dưới tháp chuông ngân”
Gần nửa thế kỷ trôi qua, cứ vào dịp lễ Giáng sinh, giai điệu bản tình ca “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, vẫn không ngừng ngân vang trong những đêm lành, len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những vùng quê… Hơn 40 năm, “Bài thánh ca buồn” vẫn luôn được người nghe yêu thích. Thế là quá đủ đối với một nhạc sĩ.
 
Hạnh Lam.

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ trình bày nhạc phẩm "Bài Thánh ca buồn" do chính ông sáng tác với lời nhắn gửi "hãy hát và hát đúng 2 từ trong nhạc phẩm của ông ...Vào những đêm "Thế Trần" đón Noel ....thay cho 2 từ "Thánh đường" mà mọi người vẫn thường hát. Xin cảm ơn.








http://nsvietnam.blogspot.ca/2014/12/cuoc-tinh-duoi-mua-va-bai-thanh-ca-buon.html#more
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.12.2014 09:39:17 bởi thiên thanh>
chuyên cười cuối năm 
 
Xã HƯu Vit Nht
Tràm Cà Mâu
 
 
 
(Truyện nầy được viết sau một buổi nói chuyện tiếu lâm với ba ông bạn, một từ Ba Lan, một từ Nga Xô và ông khác từ xứ Nicaragua. Ba xứ nầy trước kia theo xã hội chủ nghĩa. TCM )            
 
 
Từ miền Nam ra Bắc, năm 1945 ông Tý đang miệt mài đèn sách tại  đại học Hà Nội, hy vọng ra trường được bổ dụng làm quan tham tá,  thì xếp bút nghiên theo tiếng gọi của sông núi. Cầm súng đánh đuổi giặc Tây đang trở lại, để dành độc lập cho quê hương. Năm 1954 nước Việt Nam chia cắt ra hai miền, ông đi tập kết ra Bắc. Năm 1975, sau khi miền Bắc chiến thắng trong cuộc nội chiến tương tàn do súng đạn ngoại bang cung cấp và thúc dục, ông hân hoan trở về. Trong trí tưởng tượng của nhiều người bà con giòng họ,  thì ông là một  kẻ  anh hùng oai phong lẫm liệt, cưỡi ngựa chiến, mang chiến bào, cầm gươm báu sáng ngời chỉ vào thiên địa hiên ngang. Nhưng họ thất vọng, vì thấy ông, mặt mày bủng beo hốc hác, tiều tụy,  chân mang dép râu, đầu đội nón cối sờn mục và áo quần nhàu nát lụng thụng màu phân ngựa. Trong một bữa ăn đoàn viên do bà chị ông tổ chức. Một người cháu trẻ tuổi hỏi:
- “Trong chế độ cộng sản, thanh thiếu niên có quyền yêu đương không?”
 
Ông cười đáp:
- “Được chứ, đó là tự do cơ bản, ai cũng có quyền, nhưng phải báo cáo và thông qua tổ chức. Được tổ chức cho phép thì tha hồ, Nhưng nếu tổ chức không chấp thuận, thì không nên tiếp tục tình yêu sai trái đó”
 
Đứa cháu nhún vai cười mĩm. Hỏi tiếp:
- “Thưa chú, người ta nói rằng, chế độ tư bản bất công, người giàu kẻ nghèo chênh lệch. Chế độ cộng sản tạo được công bằng gần như tuyệt đối, là mọi người đều khốn khổ bần cùng như nhau. Ngoại trừ một nhóm đảng viên cao cấp. Có đúng như vậy không?”
 
- “Tuyên truyền phản động. Nhưng có lẽ không phải  là không có cơ sở."
 
Ông Tý gắp một mớ cá lòng tong kho tiêu vào chén. Ông hỏi:
- “Cá nầy là cá gì mà ngon quá. Kho tiêu cay, ăn thấm miệng.”
 
Bà chị dâu ông cười và trả lời :
- “Đây là cá lòng tong”
- “Cá lòng tong lá cá gì?”
- “Là một loại cá voi, đã được sống trong xã hội chủ nghĩa lâu năm.”
 
Cả nhà đều cười. Ông Tý đỏ mặt, nhưng không muốn tranh luận làm chi với những người mà ông cho là cực kỳ phản động. Ông Tý hỏi;
- “Ở đây có ai biết  cái khác nhau giữa xã hội chủ nghĩa với tư bản chủ nghĩa ? Tại sao ta xây dựng xã hội chủ nghĩa?”
 
Đứa cháu lại nghiêm mặt và trả lời:
 - “Trong tư bản chủ nghĩa, thiểu số tư nhân giàu có bóc lột nhân dân lao động. Trong xã hội chủ nghĩa, thiểu số của thiểu số đảng viên cầm quyền bóc lột toàn nhân dân, triệt để và khốc liệt hơn. Xã hội chủ  nghĩa được xây dựng nên, cho người người được dịp làm biếng hơn, phè hơn, hoặc không làm chi cả cho khỏe."
 
Ông Tý chưa kịp phản ứng thì bà chị dâu lại hỏi:
- “Tôi đố chú, nói được sự khác nhau ở dưới địa ngục tư bản, và địa ngục cọng sản?”  
 
Ông Tý lung túng:
 - “Tôi không biết. Chị nói cho tôi nghe với”
- “Dưới địa ngục tư bản, người có tội phải nhảy bàn chông, và tắm vạc dầu. Dưới địa ngục xã hội chủ nghĩa, cũng như vậy, nhảy bàn chông và tắm vạc dầu. Nhưng rất nhiều khi, thiếu chông, và thiếu dầu, nên chỉ nhảy sàn đất, và tắm không khí mà thôi.”
 
Cả nhà cùng cười. Ông Tý nói:
- “Thật là phản động và bôi bác.”
 
Đứa cháu gái kêu ông Tý bằng cậu nói:
- “Cậu biết không? Cách nay nhiều năm, trước thời chiến tranh, có một ông già nhà giàu vào một tiệm bách hóa và trả tiền mua hết tất cả hàng hóa trong tiệm, nhưng không mang về, để lại tặng không cho các khách hàng đến sau ông, họ khỏi trả tiền. Chủ tiệm cười, sung sướng đồng ý. Ông già bắc ghế ngồi trước cửa tiệm xem chơi. Sau khi vài người khách vào tiệm mua, được cho không khỏi trả tiền, thì dân chúng ào ào kéo đến. Mười lăm phút sau, cả cái tiệm thành đống rác, đổ vỡ tan hoang. Ông già ngồi cười. Chủ tiệm mếu máo hỏi ông già rằng: “Ông có thù ghét chi tôi không mà hại tôi đến thế? Tan nát cái tiệm rồi. Từ nay làm sao buôn bán chi được nữa ? Ác chi mà ác đến thế ông ơi! Tại sao thế? “ Cụ già chậm rải giải thích: “Tôi đã già quá. Tôi biết không thể sống cho đến ngày cộng sản vào đây. Tôi muốn được thấy tận mắt thế nào là xã hội cộng sản”.”
 
Bố của cháu gái lườm mắt nhìn con và nói:
- “Để cho cậu của con ăn ngon miệng, nói chi ba cái chuyện tào lao mà nghẹn  họng, nuốt không vô. Ngày vui đoàn tụ mà.”
 
Đứa cháu gái trả lời:
- “Nhưng con không ưa chế độ, xã hội đó.”
 
Ông Tý nhìn đứa cháu gái và nói:
- “Cậu hỏi con rằng, trong xã hội tư bản, con có thể bỏ việc mà đi chơi bất cứ khi nào con muốn không?”
- “Không bao giờ”
- “Trong xã hội tư bản, con có thể lấy phương tiện, vật liệu của sở về xây nhà riêng không?”
- “ Không bao giờ”
 
Ông Tý dồn tiếp:
- " Trong xã hội tư bản, con có thể  dùng thời giờ của sở để xây nhà riêng không?”
- “Không bao giờ.”
- “Chú cho con biết, trong xã hội chủ nghĩa, mọi người đều làm được những điều đó. Thế thì tại sao con không ưa thích xã hội chủ nghĩa?”
 
Một đứa cháu khác hỏi tiếp:
- " Đọc nghị quyết của đảng cộng sản, cháu thấy họ viết rằng: 'Trước đây chúng ta đang đứng trên bờ vực. Từ đó đến nay, chúng ta đã tiến được nhiều bước vượt bực’. Đứng trên bờ vực mà tiến được nhiều bước vượt bực, thì có lộn mèo xuống hố hay không? Trong bài diễn văn gần đây, đồng chí tổng bí thư có đọc: "Chế độ cộng sản đang ở chân trời". Có nghĩa là sao?”
 
Thằng cháu nhỏ khác cười giải thích:
- “Chân trời là cái ranh giới trông vào thì thấy như mặt đất giáp trời. Nhưng càng đi đến, thì càng xa, và không bao giờ gặp cả.”
 
Ông Tý đang nuốt miếng thịt heo béo bùi mà nghẹn họng, đưa tay vuốt ngực, ho hen. Bà chị dâu lại hỏi:
- “Tôi đố chú, nếu chế độ cộng sản thành lập được giữa sa mạc Sahara , thì chuyện gì sẽ xẫy ra sau đó?”
- “Tôi không biết”
- “Thì chỉ trong vài năm  thôi, sa mạc sẽ thiếu cát, và phải nhập cảng cát. Tương tự Liên Xô, là một xứ nông nghiệp, mà mấy chục năm qua phải nhập cảng lương thực.”
 
Bà chị dâu nhìn ông Tý mà hỏi thêm:
- “Chú nói ở miền Bắc, dân chủ gấp vạn lần các xứ tư bản. Thế thì chú có thể đứng ở lăng Bác Hồ, kêu tên bác ra mà chữi bác ngu hay không?”
 
Ông Tý nhìn mọi người, rồi nói:
- “Tôi có thể làm điều ghê gớm hơn nữa, mà chẳng sợ rắc rối, chẳng ai bắt bớ tôi”
- “Điều gì?”
- “Tôi có thể ra ' ị'  trước lăng Bác, mà không ai làm gì tôi cả. Dân chủ quá đi chứ?”
- “Có thật không?”  Bà chị dâu tròn mắt ngạc nhiên hỏi.
 
Ông Tý cười bí hiểm, nói:
- “Cứ 'ị' mà đừng tuột quần xuống thì thôi. Ai mà bắt bẻ?”
 
Đang ngồi ăn, bỗng nghe tiếng đạn đại bác bắn đì đùng . Bà chị dâu sợ hãi, hỏi ông Tý:
- “Có chuyện chi mà bắn súng dữ vậy? Có gì nguy hiểm không?”
 
Ông Tý giải thích:
- “Đồng chí bí thư thành phố Mát-cơ-va qua thăm, tham quan ngoại giao.”
 
Bà chị nhăn mặt nói:
- “Thế thì không ai bắn giỏi cả hay sao, mà bắn hoài không trúng ông ấy?”
 
Chị ông Tý xen vào câu chuyện:
- ‘Nầy cậu Tý, tôi nghe nói, khi hấp hối, bác Hồ nói với đồng chí Tổng bí thư rằng: “Ta lo lắm, liệu nhân dân có theo anh hay không?”. Đồng chí Tổng bí thư trả lời: “Chắc chắn theo”. Bác hỏi: "Có chắc không, nếu họ không theo thì sao?"  Đồng chí Tổng bí thư trả lời rất rành mạch rằng: “Bác đừng lo.  Họ phải theo tôi, nếu ai không theo tôi, thì tôi cho họ đi theo bác ngay.”  Chuyện nầy có thật hay không?”
 
Ông Tý lắc đầu nói:
- “Những chuyện bí mật của nhà nước như thế, chúng tôi không được quyền biết đến, và không ai được quyền tiết lộ.”
 
Một đứa cháu trai đặt câu hỏi:
- “Thưa chú, chắc chú chưa quên ông Adam là tổ phụ loài người, như đã chép trong Thánh Kinh. Theo chú thì ông Adam là người nước nào?”
- “Chú đã theo đảng cộng sản và bỏ đạo từ lâu. Không còn biết ông Adam là ông nào, và là người xứ nào nữa. Thế thì cháu nghĩ  ông ta là người xứ nào?”
- “Ông ấy là người Liên Xô ạ.”
- “Sao vậy?”
- “Vì ông ấy trần truồng, không có được một cái khố che mông, và trên tay chỉ có một trái táo, mà vẫn tin tưởng là đang sống tại thiên đàng!”
- “Khỉ, khỉ, bọn mầy đã bị Mỹ ngụy đầu độc tư tưởng. Cần phải được đi cải tạo thay đổi tư duy, có cái nhìn đứng đắn hơn về xã hội chủ nghĩa ưu việt. Các cháu có biết không, nước ta đang tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa.  Chỉ một thời gian ngắn nữa, chúng ta sẽ vượt lên, và đi trước cả nước Mỹ nữa”
- “Thưa chú, cháu đề nghị đi ngang nước Mỹ thôi, đừng đi trước họ” 
- “Sao vậy?”
- " Bởi mình mà đi trước, họ thấy cái quần rách nát lòi mông của mình thì kỳ lắm, xấu hổ"
Cả nhà cùng cười vang. Ông Tý cũng cười theo.
 
Một đứa cháu nói:
- “Chú đã nghe chuyện của bác Hai chưa? Bác Hai ra miền Bắc làm việc từ trước khi có chiến tranh. Không có tội gì cả, nhưng bác bị bắt giam. Vị cai tù hỏi bác bị kết án bao nhiêu năm, vì tội danh gì? Bác trả lời là bị kết án mười năm và không có tội danh gì cả. Ông cai tù trợn mắt lên, mắng rằng: "Láo khoét, thường thường, không có tội gì cả, thì chỉ bị kết án có bốn năm mà thôi."  Vợ bác ở nhà, gởi thơ vào trại tù than thở là không có ai xới đất làm vườn để trồng khoai. Bác gởi một thơ ngắn về nhà, ghi: “Chôn ở trong vườn”. Tuần sau, vợ bác gởi thơ lên, đại ý nói công an đã xới, đào khắp vườn, không bỏ sót một tấc đất nào cả. Bác gởi thơ về rằng: "Vườn đã được xới xong, chờ chi nữa mà không trồng trọt."
 
Ông Tý gắt lên:
- “Toàn cả chuyện bố láo. Nhưng chuyện sau đây, thì có thật. Có một anh cán bộ sở tôi, chạy gấp về nhà, thấy bà vợ đang nằm trên giường với một người đàn ông lạ. Anh gào lên rằng, bà chẳng được cái tích sự gì cả, giờ nầy mà còn nằm đó. Bà có biết trên cửa hàng lương thực đang bán khoai mì, chỉ còn lại mấy chục kí. Không chạy mau lên thì người ta mua hết bây giờ.”
 
Bà chị ông Tý nói:
- Khi bác Hồ mất, cậu biết chuyện gì xẫy ra không?”
- “Không. Chuyện gì thế ?”
- “Hôm ấy chú Huy trực . Có người kêu điện thoại vào xin được nói chuyện với Bác. Chú bảo bác đã qua đời. Một lúc sau, người ấy kêu  điện thoại lại và  được trả lời như cũ. Người đó kêu thêm hai ba lần nữa. Bực quá, chú Huy gắt lên: “Tôi đã nói, Bác chết rồi. Ông không nghe, không hiểu sao?" Bên kia đáp rằng: “Tôi nghe 'đã' cái lỗ tai quá, nên kêu đi kêu lại nghe thêm cho sướng tai”. Thế thì chú Huy chưa kể chuyện nầy cho nghe sao?”
 
Khi bữa cơm gần tàn. Ông Tý nói với các cháu:
- “Các con phải tích cực phấn đấu để sau nay được vào đoàn, vào đảng. May ra mới ngóc đầu lên được.”
- “Vâng, chúng cháu sẽ đi khám bệnh thần kinh trước. Đứa nào bị bệnh nặng, sẽ xin gia nhập đảng. Người ta kể rằng, khi gặp khó khăn, chính trị bộ bên Liên Xô cho người ngồi đồng, gọi hồn ông Các-Mác lên để vấn kế. Khi nhập đồng, thì hồn khóc rũ rượi.Hồn chỉ nói một câu, là cho gởi lời xin lỗi đến toàn thể nhân dân lao động khắp các xứ xã hội chủ nghĩa trên thế giới?”
 
Một người bà con hỏi, trong xã hội chủ nghĩa, thiên  hạ có thích chuyện tiếu lâm hay không? Ông Tý thành thực trả lời:
- “Nhiều người kể chuyện tiếu lâm, châm biếm mà bị tù đông lắm. Lần nọ, tôi gặp một anh chánh án nhân dân, đi ra khỏi tòa và cười rũ rượi, cười chảy nước mắt. Tôi hỏi sao vậy? Anh nói là vừa nghe một chuyện khôi hài tuyệt vời. Tôi yêu cầu anh kể lại.Anh quắc mắt lên hỏi tôi đã điên chưa mà yêu cầu anh kể. Vì người  kể câu chuyện đó, vừa bị anh kết án mười năm tù lao động khổ sai.”
 
Một bà hỏi ông Tý:
- “Có phải trong xã hội chủ nghĩa, thời gian qua mau hơn trong tư bản chủ nghĩa không?”
- “Chị muốn nói gì?”
- " Tôi đọc, thấy báo cáo của các hợp tác xã nông nghiệp, họ đạt thành tích thi đua, khoai sắn chỉ trồng qua đêm là đã gặt hái được.Thế nghĩa là sao? Làm được phép tiên sao?”
 
Ông Tý gật gù:
- “Báo cáo thành tích thì phải làm vậy. Không ai làm khác cả. Đó là cách khôn ngoan nhất để sống còn. Cấp trên họ cũng biết sự thực ra sao, nhưng họ lại muốn được thấy những báo cáo đó mà thôi”
 
Bà chị ông Tý lắc đầu bực mình nói:
- " Cậu bảo rằng xã hội cộng sản đã làm được những  điều tốt đẹp cho con người. Tốt đẹp ở đâu, cậu cho tôi xem vài thí dụ đi.”
 
Ông Tý bóp trán rồi trả lời:
- “Ví dụ như chị Năm Lài, trước kia mù chữ, đi chân đất, chuyên nghề chữi mướn, đánh ghen thuê. Bây giờ là chủ tịch hội phụ nữ yêu nước. Anh Tám Râu, thất học, nghèo không có quần xà lỏn mà mang, bây giờ đã có dép râu đi, và làm trưởng ban tuyên huấn giáo dục huyện. Và đồng chí Mười Búa , trước đây đâm thuê chém mướn ở bến xe, làm nghề hoạn heo, ai thấy cũng khinh bỉ, nhỗ nước bọt. Nay đã là một thành viên trong Bộ Chính Trị. Đó, cái siêu việt của xã hội chủ nghĩa, chị thấy chưa?”
 
Bà chị ông Tý nheo mắt nhìn kỹ, và hỏi ông:
- “Nầy, cậu bị thương tích trong trận đánh nào, mà bây giờ cái đầu cậu cứ gật gật mãi, và tay cậu cứ đưa lên, đưa xuống hoài vậy?” 
 
Ông Tý cười bẻn lẻn thú nhận:
- “Tôi làm đại biểu nhân dân ở quốc hội. Cứ gật đầu và dong tay nhất trí hoài nên thành tật, nay không thế nào chữa khỏi được.”
 
Bà chị hỏi:
- “Tại sao cậu lại binh vực và kính mến và thương yêu lão Ba Dừa? Lão đánh đập vợ mỗi ngày, tống cổ mẹ  ra đường, lấy trộm tài sản nhà nước, chơi cờ gian bạc lận, hiếp dâm con bé bán vé số. Có gì mà cậu binh vực hắn thế?”
- “ Dù gì đi nữa, đồng chí Ba Dừa cũng là một người cộng sản chân chính, nên tôi binh vực và kính trọng.”
 
Một giọng con gái rụt rè hỏi:
- “Nghe nói ở bên Liên Xô vĩ đại hàng năm có thi đua kể chuyện tiếu lâm phải không?”
- “Có. Người kể chuyện hay nhất, được lảnh giải 20 năm đi đày, người lảnh giải nhì được 15 năm, người lảnh giải an ủi được 10 năm. Tất cả đều được đi lao động khổ sai bên  Silberia.”
 
Đứa cháu cười và hỏi:
- “Theo chú, thì ai là người theo, ai là người chống cộng sản?”
- Người theo cộng sản là người cố tình như  “tin” vào Mác và Lê-Nin. Người chống lại cộng sản, là người “hiểu” rõ Mác và Lê-Nin.”
 
Buổi cơm đoàn tụ đã chấm dứt từ lâu, ông Tý cáo từ ra về. Ra  khỏi cửa nhà, ông lẩm bẩm:
- “Toàn cả một lũ cực kỳ phản động. Ông mà báo cáo, thì cả bọn đi tù cải tạo mục xương, mút mùa."
 
Tràm Ca Mâu
Mùa đông năm 2005
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.12.2014 20:29:01 bởi Phù vân>
 
6 năm nữa Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh của Trung Cộng?
T2, 12/29/2014 - 16:23 Tổ chức thông tin Wikileaks đã công bố một tài liệu mật của đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam gửi chính phủ Hoa Kỳ, có liên quan đến mối quan hệ bang giao hai nước Việt – Trung.

Wikileaks nói rằng, đây là tài liệu tuyệt mật ghi lại nội dung cuộc họp kín giữa ông Nguyễn Văn Linh, ông Đỗ Mười của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam và hai ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng là các nhà lãnh đạo cao cấp của Trung Cộng hồi đầu tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, mà dư luận thường gọi là “hội nghị Thành Đô.”
Theo tài liệu tuyệt mật này, đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam đề nghị chính quyền Trung Cộng cho Việt Nam hưởng quy chế tự trị trực thuộc chính quyền Bắc Kinh cũng như Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… để nhằm “bảo đảm sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam”.
Cũng theo tài liệu này, phía Trung Cộng đã đồng ý để cho Việt Nam thực hiện các bước cần thiết để “gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Hoa” trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm 2020. Vậy là chỉ còn 6 năm nữa đến khi Việt Nam sẽ thực sự trở thành một tỉnh của Trung Cộng, theo như tài liệi này cho biết. 
Thông tin mà Wikileaks tiết độ đã có từ năm 2010; và năm 2014 đã được hâm nóng trở lại; sau sự kiện giàn khoan HD-981 của Trung Cộng xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Từ khi được lan truyền trên mạng internet, thông tin này đã gây ra bất ngờ, tò mò, sự ngờ vực, theo sau đó là chỉ trích và căm phẫn CSVN “bán nước” trong người dân.
Những thông tin trên đây chưa có sự kiểm chứng là chính xác hay không. Bởi phía Trung Cộng và chính quyền CSVN chưa bao giờ hé lộ thông tin chi tiết về hội đàm Thành Đô năm 1990. Tuy nhiên, dựa vào những gì thực tiễn xảy ra tại Việt Nam có liên quan tới Trung Cộng, nhiều người cho rằng cho rằng những thông tin mà Wikileaks tiết lộ có thể là đúng sự thực.
Lại có một nhóm khác đưa ra quan điểm rằng: CSVN không dám làm chuyện “kinh thiên động địa” – “bán” cả đất nước như vậy. Trong hội đàm Thành Đô năm 1990, CSVN có thể chỉ đã chấp thuận những điểm bất lợi, chịu sự lệ thuộc lâu dài của Trung Cộng.
Để làm rõ thực hư vấn đề này, phong trào “Tôi/Chúng tôi muốn biết” đã được Mạng lưới blogger Việt Nam khởi xướng. Mục tiêu của phong trào này là gửi tới Quốc hội CSVN lá thư “Yêu cầu bạch hóa Hội nghị Thành Đô năm 1990”, nhằm công khai toàn văn hội nghị này, chứng minh CSVN có thực sự “bán nước” hay không cho toàn thể người dân được hay biết.
Tuy nhiên, yêu cầu này của phong trào “Tôi/Chúng tôi muốn biết” không được CSVN đáp ứng. Trái lại, chính quyền tung ra một lượng lớn công an, mật vụ ngăn cản người dân tới Quốc hội trao thư yêu cầu vào trung tuần tháng 10 vừa qua. Bên cạnh đó, CSVN cho các “dư luận viên”, “thợ viết báo” đưa ra những bài viết, luận điệu tuyên truyền, bôi xấu phong trào “Tôi/Chúng tôi muốn biết” và những người tham gia là “có dụng ý xấu, phá hoại đất nước, bị các thế lực thù địch, phản động giật dây, xúi dục” …
Thời đại này là thời đại thông tin, không còn chế độ phong kiến lạc hậu. Người dân đã đủ sức để nhận xét thực tế, không còn bị che mắt bởi những luận điệu tuyên truyền xưa cũ. Bất kể chuyện “bán nước” của CSVN có thực hay không, hội nghị Thành Đô năm 1990 cuối cùng cũng phải được minh bạch. Vấn đề là sớm hay muộn.
Năm 2024 sẽ tròn 50 năm Hoàng Sa bị Trung Cộng xâm chiếm. Chúng ta muốn giành lại Hoàng Sa, chúng ta phải khởi kiện và gạt bỏ những trở ngại đang hiện hữu cho việc đó. Do vậy, việc bạch hóa Hội nghị Thành Đô năm 1990 hết sức quan trọng. Bởi từ đó, tính chính danh của đảng cộng sản trên đất nước Việt Nam sẽ được quyết định. Người dân cần phải đối xử với đảng cộng sản ra sao, ứng phó với Trung Cộng thế nào, nhằm bảo vệ chủ quyền của quốc gia.
Trong phiên họp cuối năm mới đây, Bộ trưởng Công an CSVN đã chỉ đạo “kiểm soát việc tung các tài liệu không đúng sự thật về các đồng chí lãnh đạo trên mạng, gây chia rẽ nội bộ, nhất là trước thời điểm đại hội đảng” – trong đó chắc hẳn sẽ bao gồm những thông tin về Hội nghị Thành Đô 1990.
Nếu CSVN không làm điều gì khuất tất, có tội với đất nước, với người dân, tại sao lại phải sợ chuyện bạch hóa đó ?! Hơn nữa, CSVN nhận mình là “công bộc”, người dân là “chủ nhân” của đất nước, vậy tại sao “công bộc” không cho chủ nhân biết công bộc đã làm gì ?! CSVN càng giấu diếm, thì người dân càng có căn cứ và cơ sở để tin cái chuyện “kinh thiên động địa” kia là sự thực!
Nhật Nam / SBTN
Đăng nhập để trả lời
0
NHỮNG LỜI CUỐI CHO MỘT NĂM CŨ


Nguyễn Thị Từ Huy
Còn vài ngày nữa năm 2014 sẽ qua đi.
Ở Việt Nam nó sẽ qua đi và để lại rất nhiều đau đớn.
Năm 2014 để lại rất nhiều người trung thực và can đảm ở trong tù. Nó cũng để lại những người lương thiện đang trong nguy cơ bị tòa án lấy mạng sống để thế cho những kẻ có tội thực sự. Nó để lại bao nhiêu người dân lương thiện bị đánh chết ở cái nơi mà lẽ ra họ phải được bảo vệ, bởi những người sống bằng tiền thuế của họ và lẽ ra phải bảo vệ họ. Nó để lại những người phụ nữ quả cảm đang tuyệt thực đòi công lý. Nó để lại cả một xã hội trong tình trạng chấn thương tinh thần tập thể triền miên : oan ức nối tiếp oan ức, bất công nối tiếp bất công, mất mát nối tiếp mất mát, xót xa nối tiếp xót xa, phẫn nộ nối tiếp phẫn nộ. Ngay giữa thời bình mà hầu như chẳng có ngày nào được yên.
Năm 2014 còn để lại nguy cơ nô lệ cho cả một dân tộc.
Những ngày cuối năm dồn dập hung tin. Tôi không đủ năng lượng, không đủ thời gian, không đủ sự vững vàng tinh thần để đề cập đến tất cả các sự kiện. Xin nhường lại cho những người khác vụ việc những người tử tù oan, những người đang tuyệt thực, những cựu tù nhân lương tâm và những người hoạt động nhân quyền vô cớ bị đánh đập, và những vụ việc khác. Ở đây tôi dành vài lời cuối cùng của năm để nói về sự vụ bắt bớ các bloggers.
Đã có nhiều bài viết nhằm giải đáp câu hỏi vì sao các bloggers bị bắt. Trong bài này tôi đặt ra một câu hỏi khác : « Ai làm cho các bloggers bị bắt ? »
Câu trả lời tưởng như dễ dàng và đơn nhất : chính các bloggers bằng hành động làm blog đã tự dẫn mình đến chỗ bị bắt giam và phải vào tù.
Nhưng tôi cho rằng câu trả lời không đơn giản như thế.
Còn một câu trả lời khác : Chúng ta làm cho họ phải vào tù.
« Chúng ta » là ai ? Theo tôi, trong chữ « chúng ta » này có hai đối tượng (chữ « đối tượng » ở đây không được hiểu theo nghĩa mà công an thường dùng) : các tác giả có bài được giới thiệu và các độc giả của những bloggers ấy.
Ta hãy lấy trường hợp Bọ Lập làm ví dụ : blog Quê Choa chủ yếu đăng lại các bài viết đã đăng ở nơi khác, hoặc đăng bài của những người khác gửi đến Quê Choa, Bọ Lập viết blog rất ít và hầu như không viết về đề tài chính trị. Vậy không thể nói rằng Bọ Lập bị bắt vì các bài viết của Bọ Lập.
Bọ Lập bị bắt vì giới thiệu bài viết của những người khác. Chính các tác giả viết bài (trong có tôi) đã làm cho Bọ Lập phải vào tù.
Mặt khác, để biết ai là người làm cho Bọ Lập vào tù ta phải trả lời thêm câu hỏi này : nếu Quê Choa đăng bài nhưng không có độc giả hoặc ít độc giả thì chủ nhân của Quê Choa có bị bắt không ? Câu trả lời chắc chắn là « không ». Nếu blog không có độc giả hoặc ít độc giả thì chính quyền đâu cần bận tâm.
Chính là con số hàng trăm triệu lượt truy cập của Blog Quê Choa đã khiến cho chính quyền bất chấp hết cả luật pháp lẫn đạo lý để đưa con người tàn tật ốm đau ấy vào nhà giam.
Chính sự yêu mến mà độc giả dành cho Quê Choa đã làm cho Bọ Lập phải vào tù.
Việc bắt Hồng Lê Thọ hoàn toàn nằm trong logic này. Nguyễn Hữu Vinh tuy có viết bài, có bày tỏ chính kiến một cách rõ ràng, nhưng cũng không đi ra ngoài logic này, bởi trang Ba Sàm cũng giới thiệu tin và đăng lại bài của người khác, cũng có số lượt độc giả truy cập rất lớn.
Sự lan tỏa của các blog là điều mà các chính quyền dân chủ rất ủng hộ, cổ vũ, nhưng đó lại là điều mà một chính quyền độc tài không chịu đựng nổi. Và blog chỉ có thể lan tỏa được khi có sự quan tâm của độc giả.
Chúng ta, các tác giả và độc giả của blog Ba Sàm, blog Trương Duy Nhất, blog Quê Choa, blog Người Lót Gạch…, chúng ta đừng quên rằng chính chúng ta đã đẩy Nguyễn Hữu Vinh, Trương Duy Nhất, Nguyễn Quang Lập, Hồng Lê Thọ và những bloggers khác vào tù.
Chỉ còn lại là chúng ta có định làm gì cho họ không mà thôi. Một chữ ký, một bông hồng, một bài viết, đăng lại một bài của họ, nói lên một suy nghĩ về họ, tiếp tục công việc dang dở của họ (lập ra một blog khác, nếu không phải Quê Choa thì là Quê Tôi hay Quê Ta…, nếu không phải Người Lót Gạch thì là Người Lót Đường…), hay bất kỳ một hành động cá nhân hoặc hành động tập thể nào khác, để thể hiện chút tình đối với họ.
Việc các bloggers phải vào tù đặt chúng ta trước hai sự thật mà chúng ta phải đối diện: sự thật về chế độ, và sự thật về chính chúng ta.
Liệu chúng ta có thể im lặng nhìn họ ngồi tù  trong đau yếu bệnh tật?
Liệu chúng ta có thể hoan hỉ say sưa đón năm mới, bỏ mặc họ một mình sau chấn song lạnh lùng tàn nhẫn của chế độ và sau màn sương mù lạnh lẽo vô cảm của chúng ta???
Họ đã làm rất nhiều cho chúng ta.
Họ đã làm rất nhiều và đã vào tù để giữ cho chúng ta niềm hy vọng, để cho chúng ta còn có thể tự hào rằng Việt Nam vẫn có những con người đích thực.
Họ vào tù để chúng ta được sống trong sự thật.
Họ dùng chính cuộc sống của họ để trả giá cho tự do của chúng ta.
Chúng ta đừng quên điều đó. Đừng để sự hy sinh của họ thành ra vô ích.
Chúng ta cần giữ ngọn lửa mà họ đã nhen nhóm và nuôi dưỡng suốt những năm qua, thổi bùng nó lên trong bóng đêm đen tối và lạnh giá này để tiếp tục đi về phía bình minh…
Paris, 27/12/2014
Nguyễn Thị Từ Huy


Đăng nhập để trả lời
0
CIA - NỖI NHỤC CỦA " ĐỒNG MINH " HOA KỲ

40 năm sau 30 tháng 4, 1975, lật lại hồ sơ Thái Khắc Chuyên: Điệp Viên Hà Nội?

Cuộc chiến Việt Nam gây nên nhiều thảm cảnh gia đình. Gia đình Thái Khắc Chuyên là một và đặc biệt. Đêm 20/6/1969, ba lính mũ xanh Mỹ đẩy một ghe máy ra biển từ đảo Hòn Tre, Nha Trang trên có xác một người đàn ông Việt bọc trong áo mưa “poncho’’ quấn nhiều lớp xích sắt dầy cột vào hai niềng xe vận tải.

 Thân xác anh ta đã nằm sâu dưới đáy biển Đông nhưng tên nạn nhân trở nên nổi tiếng: Thái Khắc Chuyên, điệp viên nhị, tam, tứ trùng?
 
Thái Khắc Chuyên sinh năm 1938 tại Bắc Việt Nam. Cha là Thái Khắc Qui, mẹ Thái Thị Lục. Năm 1954 gia đình di cư vào Nam Việt theo HĐ Genève bằng tàu Mirabelle từ Hải Phòng cập bến Saigon lúc Chuyên 16 tuổi. Ba anh trai và hai chị em gái còn ở lại Bắc VN. Mẹ lo ngại các anh bị đi bộ đội nên đã liều lĩnh trở về Bắc nhưng bị bắt tại sông Bến Hải. Gia đình sau đó dời lên Đà Lạt rồi người cha xin được việc làm cho chính phủ VNCH. Chuyên làm cho một nhà thuốc tây do anh trai làm chủ nhưng sau vào Saigon đi học.
 
Chuyên di chuyển chỗ ở nhiều lần giữa Đà Lạt và Saigon khiến việc học không liên tục nên thi Tú Tài nhiều lần vẫn không đậu. Khi quân đội Mỹ vào Việt Nam, Chuyên làm cho hãng thầu RMK-BRJ của Mỹ được ba tháng thì bỏ đi làm thông ngôn lương cao hơn cho Green Berets, một binh chủng chuyên về tình báo của quân đội Mỹ đóng ở căn cứ Ashau, Đà Nẵng. Khi chiến cuộc tăng phần khốc liệt, Chuyên bỏ job để tránh nguy hiểm vì ba hôm sau đó căn cứ Ashau thất thủ vào tay VC. Sự trùng hợp này và nhiều sự kiện tương tự sau đó khiến người ta nghi Chuyên là gián điệp cho Hà Nội; hay ít nhất cũng để trốn quân dịch khi có lệnh tổng động viên năm 1968.
 
Tính đến ngày 6/5/1961, TT Kennedy đã gởi 400 lính mũ xanh sang VN để đối phó với VC sau khi MTGPMN ra đời và gia tăng hoạt động khủng bố. Đến ngày Kennedy chết, quân số này đã lên tới 12,000. TT Johnson kế nhiệm đã gởi nhiều sư đoàn bộ binh Mỹ để Mỹ hóa cuộc chiến theo kế hoạch vốn đã bị cố TT Diệm phản đối (gây nên cái chết thảm cho ông và bào đệ trong cuộc đảo chánh người Mỹ tổ chức ngày 1/11/1963). Trong số đó có đơn vị tình báo số 5 mang tên B57, bí danh Project Gamma mà Chuyên làm thông ngôn, một thông ngôn quèn không ngạch trật.
 
Do năng khiếu đặc biệt về Anh ngữ, nói tiếng lóng thành thạo như lính Mỹ nên Chuyên dễ kiếm được chân thông ngôn trước đó cho Civil Affairs, một cơ quan dân sự phụ trách về bình định và gián điệp, đóng ở Mộc Hóa, Tây Ninh. Chuyên hoạt bát, chăm chỉ, hăng say, đúng giờ; thậm chí làm việc ngoài giờ và cả ban đêm. Chuyên thẳng thắn; nói chuyện luôn nhìn thẳng vào mắt người đối thoại; chứng tỏ sự trung thực. Chuyên cũng là người ái quốc vì cha theo kháng chiến chống Pháp nhưng đã bỏ về thành làm việc cho quốc gia khi phát hiện bộ mặt thật của Việt Minh và gia đình ông đã theo giáo dân xứ đạo của mình di cư vào Nam lánh nạn Cộng-sản. Những thành viên còn lại trong gia đình còn kẹt lại vì đi không kịp hoặc bị cản trở. Đúng là ‘’chữ tài liền với chữ tai’’ vì tình báo Mỹ đặt câu hỏi: - Khả năng Anh ngữ giỏi của Chuyên sao không ở Saigon dạy học hay làm việc cho quân đội Mỹ ở các thành thị an toàn mà lại đi làm ở Mộc Hóa, một căn cứ địa mạnh của MTGPMN và các căn cứ sôi động khác? Cũng như tại Mỹ, có giỏi mà không bằng cấp thì trường nào mướn?
 
Đơn vị Mũ Xanh K57 có BCH đóng tại Nha Trang. Tổ trưởng trực tiếp đơn vị 142 của Chuyên là Trung-sĩ Alvin Smith, bí danh ‘’Sands’’, người mến mộ Chuyên, giới thiệu Chuyên cho CIA và cũng là người đã tạo ra đầu mối gây cái chết bi thảm cho anh sau này. Khi được nhận làm cho CIA, Chuyên có ám số SF7-166 và nhiệm vụ đi sâu vào đất Kampuchia thám sát và thâu thập tin tình báo cũng như tuyển điệp viên người bản xứ. Cấp trên của Smith là đại úy trẻ tên Bob Marasco, người thường chê các báo cáo của tổ 142 là vô dụng, và cũng là người sau này kê nòng súng hãm thanh vào đầu Chuyên đưa xác anh vào lòng đại dương. Marasco trả Chuyên về Civil Affairs và trả Smith về BCH ở Nha Trang.
 
Tại Nha Trang, Alvin Smith phát hiện một ảnh đen trắng tịch thu từ xác một VC trong một trận đánh hồi đầu năm 1969; trong đó có một cán binh CSBV, đội lốt VC mặc bà ba đen đội nón tai bèo đứng cạnh một sĩ quan VC cấp cao; mà mặt trông giống Chuyên (khả năng nhận diện người châu Á, nhất là về tuổi tác, của chuyên viên người phương Tây không chính xác; cán binh VC trong ảnh răng hô còn Chuyên thì không). Chuyên viên Budge Williams của B57 cũng không đoan chắc Chuyên là người trong ảnh. Khi đối chiếu ảnh của Chuyên trong đơn xin việc thì cũng không chắc đúng sai; mà hồ sơ lý lịch của Chuyên không hề có ghi chú gì về tất cả các công tác đã làm từ ngày gia nhập đến nay. Điều này khiến B57 nghi có gián điệp địch ngay tại các cơ quan hành chánh Việt-Mỹ quản lý hồ sơ của Chuyên! Cựu chỉ huy trưởng B57 là Bob Thrasher thì phân tích rằng lỗ tai của cán binh trong phim không giống của Chuyên; nhưng biết đâu tại bóng đen do chiếc nón tai bèo tạo sai biệt?! Thrasher đề nghị điều tra thêm rồi mãn nhiệm về nước. 
 
Trong nhiệm kỳ hai ở VN, Lee Brumley điều tra về Chuyên từ ngày 9/6/1969. Ông ta nghi Chuyên là điệp viên tam trùng Mỹ-BV-VNCH vì các điệp viên người Việt khác ở Tây Ninh và Kampuchia khai có một điệp viên cộng sản hoạt động trong vùng; có vợ ở Mộc Hóa (?); mà Chuyên đang làm ở tận thung lũng Ashau ngoài Trung lại bỏ về Tây Ninh cho gần vợ con lúc đó đã dời về đấy sinh sống! Hơn nữa trong một cuộc hành quân mà Chuyên được báo cho biết trước, VC đã phục kích thành công toán trinh sát của tổ. Brumley chờ ở Nha Trang suốt ba tuần không thấy hồi âm nên liền đánh điện về Saigon yêu cầu BCH của CIA trên lầu tòa đại sứ Mỹ gởi gấp chi tiết lý lịch mới nhất của Chuyên cho B57 ở Nha Trang; chỉ dùng đả tự viên người Mỹ để bảo mật! Tr/sĩ Smith thì chỉ biết chi tiết Chuyên có ba anh trai còn kẹt ở BV. 
 
Khi họ tìm Chuyên để gởi về Saigon điều tra bằng máy dò sự thật thì Chuyên đã bỏ Civil Affairs đi đâu mất. Hai chuyên viên CIA là Enking và Scrymgeour đi lùng kiếm Chuyên và định nhốt ở Okinawa hoặc Panama, hai nơi duy nhất mà CIA có nhà tù, để điều tra. Nhưng hai nơi đó xa; di chuyển rất tốn kém; mà nhà tù của đồng minh VNCH thì CIA lại không tin tưởng! Cuối cùng Smith cũng tìm ra nhà Chuyên số 53/1/46 đường Phan Thanh Giản Saigon. Smith dụ khéo để bắt Chuyên bằng lời hứa hẹn có job thơm mới, phỏng vấn sáng hôm sau 9 giờ. Thủ tục có điền đơn chi tiết hơn và khai với máy dò sự thật mang từ Nha Trang vào Saigon.
 
Đúng 10 giờ sáng ngày 12/6/1969, Chuyên ăn mặc chỉnh tề và lạc quan tin tưởng; đến điểm hẹn gặp Ed Boyle. B57 phải dùng thông ngôn của đơn vị tên Tạ Xuân Cường, bí danh Joel cho chắc chắn vì đã hết tin Chuyên. Trong cuộc thẩm vấn an ninh, chứ không phải phỏng vấn việc làm như đương sự lầm tưởng, Chuyên khai đã bỏ Ashau và các nơi khác như núi Cô Tô-Cần Thơ, Mộc Hóa-Tây Ninh vì sợ bom đạn. Năm 1966, Th.tá McBride của đơn vị 5-2 giới thiệu Chuyên làm việc cho ‘’Huỳnh Sơn’’ và sau đó được ‘’Ginger’’ ở sư đoàn 25BB kết nạp vào CIA. Nhưng Boyle biết Chuyên đã không chính thức được CIA nhận mà chỉ làm cho tình báo Mũ Xanh và Civil Affairs suốt sáu năm qua mà lý lịch vẫn trống trơn không ghi thành tích nào!
 
Sau một ngày dài thẩm vấn, Chuyên mệt mỏi và đòi về nhà nghỉ. Cotton, Smith và Joel đưa Chuyên về lúc 7:30 tối. Trên xe, Chuyên than phiền nhiều câu hỏi thù nghịch, thái độ hỏi nghi kỵ và máy móc giây nhợ rườm rà làm anh ta sợ sệt. Cha mẹ vợ có mặt ở nhà Chuyên nhìn người Mỹ một cách lo lắng. Có mặt cả em dâu là Lâm Hoàng Oanh tại nhà lúc đó. Chuyên phải trở lại cuộc thẩm vấn lúc 8 giờ tối với nhập đề trắng trợn hơn: - Anh có làm gián điệp cho Hà Nội không? Vợ và em dâu lo quá đã đến nơi thẩm vấn xin gởi Chuyên mảnh giấy tỏ ý lo ngại cho Chuyên. Chuyên được hai vệ sĩ người Nùng hộ tống về nhà đêm đó, đêm cuối cùng với vợ con.
 
Sáng hôm sau cuộc thẩm vấn tiếp tục. Máy dò sự thật báo kết quả là nói dối. Boyle nghi Chuyên (và cả vợ Chuyên cũng nên) là điệp viên CSBV và ra lệnh cho phụ tá Cotton tìm bác sĩ chích các loại thuốc như Saline, Thorazine, Sodium Pentathol qua tĩnh mạch của nạn nhân. B57 quyết định chở Chuyên về BCH ở Nha Trang để điều tra tiếp. Chuyên bị bịt mắt và ngủ vùi vì thuốc trong áo mưa “poncho’’, bị quẳng vào cốp xe tải chở ra phi trường TSN hôm thứ sáu 13/6/1969 (Thứ Sáu 13 là ngày xui xẻo theo người phương Tây: Chúa Tử Nạn - và TKC sắp tử vong!) với tài xế và ba lính Mũ Xanh trang bị tiểu liên. Họ lên kế hoạch sẵn sàng ứng chiến nếu bị nhân viên chính phủ VNCH tại TSN khám xét và bắt giữ. Tại TSN, một máy bay bí mật chờ sẵn. Cùng lúc đó, một Honda hai bánh bí mật ghé nhà vợ số 38 Phan Thanh Giản; đưa cho vợ Chuyên, Phan Kim Liên mảnh giấy từ biệt viết ngắn gọn vội vã: “Em và các con thân yêu, anh phải vắng mặt vài ngày vì công vụ. Đừng lo lắng! Anh chúc cả nhà vui khỏe! Hôn em...’’ Liên đọc lời chúc lạ thường “vui khỏe” chưa từng có của chồng mà lo sợ ra mặt. Linh tính báo trước một điềm chẳng lành đã tới!
 
Cuộc thẩm vấn tại BCH B57 ở Nha Trang tiếp tục từ 4g sáng hôm sau 14/6 với Brumley xoay quanh các điệp viên người Việt khác cho đến khi Chuyên ngủ vùi vì quá mệt và vì thuốc. Hôm sau Chuyên lại bị thẩm vấn từ 8g sáng suốt ngày, xoay quanh tấm ảnh cán binh VC, nghi vấn về vợ Chuyên và người đàn bà, vợ điệp viên CS nào đó ở Mộc Hóa, về đại úy Phan, đại úy Nguyễn Chiêu, về kế hoạch C&C (tình báo chiến lược của MACV), về Thu Linh hay Thu Ninh nào đó ..vv.. Khi Brumley nghỉ, Boyle tiếp tục thẩm vấn nạn nhân với sự giám định y khoa tâm thần thường trực của Bs. Allison. Boyle xoay quanh thời kỳ Chuyên ở Vũng Tàu và điệp viên Huỳnh nào đó. Khi Boyle nghỉ, Brumley lại tiếp tục quay lại đề tài các anh của nạn nhân ở BV và em dâu tên Lâm Hoàng Oanh.
 
Bốn giờ chiều 17/6 sau sáu ngày thẩm vấn liên tục với máy dò sự thật và thuốc Sodium Pentathol, Chuyên nổi giận theo tính nóng cố hữu của nạn nhân, bất hợp tác với điều tra viên và chửi rủa ‘’bọn Mỹ chúng mày ngu ngốc, không hiểu gì về Việt Nam’’, rằng “Mỹ sẽ thua trận’’...vv.. Máy dò sự thật thì báo kết quả Chuyên nói dối về chỗ ở năm 1964 và về việc Chuyên tiếp xúc với anh trai ngoài BV. Đây cũng là ngày thẩm vấn cuối cùng vì nạn nhân không còn muốn hợp tác. Số phận của Chuyên đã được định đoạt: Chỉ còn là cách thức thủ tiêu vì CIA không có nhà tù ở VN mà hai nhà tù kia của CIA thì quá xa; vả lại nhà tù của “đồng minh” VNCH thì không đáng tin cậy; chưa kể đồng minh này có thể sẽ khai thác tin tình báo của Mỹ từ Chuyên!
 
Th. tá Crew và Đ.úy Brumley gởi báo cáo cho Saigon và xin gặp đơn vị trưởng của họ là Đ. tá Bob Rheault để xin chỉ thị. Crew đề xuất nhiều cách giải quyết và nhấn mạnh rằng Chuyên là một tù nhân nguy hiểm vì Chuyên biết quá nhiều chi tiết về các mục tiêu hoạt động, nhân sự cũng như hệ thống trên-dưới, ngang-dọc của hệ thống tình báo Mỹ ở VN. Phụ tá Facey đề nghị đặt một thùng Conex nhốt Chuyên cho đến khi chiến tranh kết thúc nhưng không chắc thực hiện được và cần xin MACV chấp thuận. Người khác đề nghị thủ tiêu Chuyên trong rừng rậm hoặc chở sang nhờ Đài Loan giết, hoặc đạp Chuyên xuống biển từ máy bay trên cao độ, thủ tiêu bằng dao, chích thuốc độc hoặc thắt cổ nạn nhân ..vv..
 
Qua những hành động tự phát kiêu căng đầy tính kỳ thị của các cá nhân, đơn vị quân đội hay các chính trị gia Mỹ tại VN, chính nghĩa Tự Do, Dân Chủ đã bị lu mờ trước sự tuyên truyền tinh xảo và khéo léo của đối phương Cộng-sản. Thật có, giả có! Chẳng hạn: Nhiều lính của SOG đã đấu láo rằng muốn thắng cuộc chiến VN chỉ cần thực thi ba bước: gom hết người Việt thảy xuống tàu thủy, rào biên giới VN lại, rồi đánh đắm tàu thủy ấy là xong! Tại VN, Tướng Patton III, con của Tướng George Patton tốc chiến tốc thắng hồi thời Thế Chiến 2, nổi tiếng luôn để một sọ đầu lâu VC trên bàn giấy của mình! Số phận của các nguyên thủ quốc gia như Magsaysay, Pak Chung Hy, Lý Thừa Vãn, Ngô Đình Diệm đã bị các chính trị gia non nớt ngây ngô, các đại sứ hống hách và các đao phủ hiếu sát CIA của Mỹ định đoạt; bất kể khát vọng chính trị và lòng tôn kính của nhân dân các nước liên hệ đối với quốc gia và lãnh tụ của họ. Sự xâm phạm thô bạo chủ quyền các “đồng minh’’ là nhược điểm mà các chính phủ Mỹ chưa bao giờ chịu học hỏi và từ bỏ. Việc đối xử với các nghi phạm ở nhà tù Abu Ghraib tại Iraq năm 2003 sau này đã chứng minh điều đó. Trong việc thủ tiêu Chuyên, B57 và CIA đã tự ý quyết định số phận công dân một nước đồng minh, dù là tư chức của QĐ Mỹ hay của các hãng xưởng Mỹ ở VN, mà không hề tham khảo ý kiến; thậm chí còn giấu diếm chính phủ nước sở tại! Trong khi đó người Mỹ lại ngây thơ đối xử với các tên khủng bố Hồi giáo cực kỳ nguy hiểm bị nhốt ở Guatanamo bằng qui chế hiệp định Genève nhân đạo, mặc dù chúng chẳng phải tù binh có quân phục, cấp bậc, số quân như luật định! 
 
Nhu cầu thủ tiêu Chuyên càng cấp bách hơn khi nạn nhân ngày càng la hét, đập phá tường để mong thoát thân. Đơn vị QLVNCH đóng cạnh đó cũng không hề hay biết hoặc không được can thiệp. Đơn vị trưởng K57 là Đ. tá Bob Rheault thì chấp thuận việc thủ tiêu nhưng không dám công khai ra lệnh sợ liên lụy rắc rối cho giấc mơ ngôi sao Chuẩn Tường nằm trên ve áo. CIA ở Saigon và tại địa phương, qua chuyên viên Shackly, thì không công khai ra lệnh sợ rắc rối ngoại giao khi chính phủ VNCH phát giác nội vụ. Mọi người của B57 lại hiểu ngầm rằng sự im lặng suốt 10 ngày của CIA đồng nghĩa với sự chấp thuận, vì CIA có bao giờ nhận hoặc chối những gì họ làm và có bao giờ làm điều gì công khai đâu! 
 
Coi như “đèn xanh” không “cháy” nhưng có ‘’bật’’, tối thứ năm 19/6 lúc 7 giờ, nhóm sĩ quan K57 đưa một ghe máy ra Hòn Tre chờ nạn nhân đem từ Saigon ra. Boyle lái chở Chuyên bằng xe tải ra bờ biển rồi đè nạn nhân xuống lòng ghe, nhét vào poncho. Nạn nhân bị Brumley chích Morphine; bị bịt miệng bằng băng keo và trói thúc ké trước đó. Williams và Marasco phụ với hai người khiêng Chuyên ra ghe. Khi Morphine đã giảm, có tiếng rên rỉ từ trong poncho thì Morphine lại được chích thêm. Dù ghe đã ra xa ngoài khơi nhưng khi tiếng rên vẫn còn vì thuốc mới chích chưa hiệu quả, Brumley vội rút Colt-45 ra nhắm màng tang của Chuyên bóp cò nhưng súng không nổ. Williams và Brumley kéo Chuyên vào giữa ghe, quấn quanh poncho nhiều vòng xích sắt dầy và gắn theo hai niềng xe vận tải cho bảo đảm đủ nặng để xác nạn nhân được thủ tiêu dưới lòng biển an toàn. Họ kê đầu Chuyên lên thành ghe để máu bớt chảy trong lòng ghe; rồi Marasco kê nòng .22 ly có bộ phận hãm thanh vào đầu nạn nhân bóp cò. Nhưng lạ thay, súng lại bị kẹt đạn, có lẽ điều gì oan khiên đã ngăn cản viên đạn. Brumley giúp điều chỉnh cơ bẩm, nhét đạn vào nòng rồi đưa lại cho Marasco bấm cò. Lần này một tiếng kêu tựa vỏ xe xì lốp phát ra từ ống hãm thanh. Máu tươi, mảnh xương sọ và óc nạn nhân bắn tung tóe trên thành ghe, trong ghe và trên quân phục của xạ thủ. Williams và Brumley lăn xác nạn nhân xuống biển để thủ tiêu. Marasco đứng bất động nhìn theo để kiểm chứng. Về lại BCH/K57, họ thấy Smith và Crew nóng lòng ngóng đợi. Crew ra lệnh đốt bỏ quân phục dính máu nạn nhân để phi tang. Brumley và Boyle đem vật dụng cá nhân của Chuyên như bút, đồng hồ, nịt quần ..vv.. đi tận Đồng Hới đốt phi tang.
 
Mọi người xem mật vụ như đã đi vào dĩ vãng, riêng Smith lo âu vì sợ chính mình sẽ là mục tiêu kế tiếp bị cấp trên đem đi thủ tiêu để bảo mật vì chính Smith đã khám phá ra vấn đề ngay từ đầu và không tán thành việc thủ tiêu Chuyên. Smith sợ đến độ không dám ngủ tại phòng của mình mà lén hỏi thủ kho mượn nệm để ngủ mỗi đêm mỗi nơi khác nhau. Smith bị bắt và dẫn độ về Saigon bằng xe từ Nha Trang ngày 1/7/1969. Trong lời khai theo lệnh của hai sĩ quan quân cảnh tư pháp Bourland và Bidwell, Smith khai Đ. tá Rheault có dính líu. Smith bối rối viết tên nạn nhân lúc thì Chuyên, khi thì Khắc, lúc lại Thái, khi lại Chu Yên. Hôm 21/7, Tướng George Marbry phụ tá tình báo thừa lệnh Abrams ra lệnh nhốt tất cả 5 nhân viên can dự gồm Brumley, Boyle, Marasco, Williams, Middleton. Riêng nghi can chính là Đ. tá Rheault thì cố thương thuyết chỉ nhận tội nếu các thừa hành viên được miễn tố; nhưng đã thua lý lẽ của quân cảnh tư pháp Bourland rằng lời khai luôn để dành cho sự thật chứ chẳng để dành cho ai khác! Đ. tá quân cảnh tư pháp Frank Brandenburg đợi Rheault ngoài sân rồi bắt ông ta đưa lên xe.
 
Boyle bị thẩm vấn ngày 12/7 và bị giải về nhà tù Long Bình, nơi có cái tên tắt thật mai mỉa: LBJ (Long Binh Jail) đọc tắt giống Lyndon Baines Johnson! Boyle hốt hoảng xin gặp một tu sĩ, có lẽ với ý định tự tử vì Boyle biết theo luật Quân đội Mỹ, không ai có quyền đơn phương xử tử nghi can. Crew khai nửa chừng rồi thôi và đòi cung cấp luật sư. Marasco tự đánh máy lời khai, nhận tội nhưng không khai Rheault. Middleton vả lả với hai quân cảnh tư pháp khoảng một tiếng đồng hồ rồi bị tống giam. Ken Facey khai chỉ huy trưởng Rheault có ra lệnh giết Chuyên rồi Facey khóc. Trong nhà giam, Brumley giấu lưỡi lam dưới nệm phòng khi cần dùng (cạo râu hay cắt gân máu?). Tr.sĩ Kautson, thủ kho giữ ghe đã hợp tác hoàn toàn với quân cảnh điều tra. Tr.sĩ Wayne Ishimato gốc Nhật đóng vai Chuyên đi Kampuchia để cấp trên làm báo cáo giả rằng Chuyên còn sống và đang công tác bên đó, nay cũng không chối trước tòa án quân sự Long Bình. 
 
Theodore Shackley, chỉ huy CIA ở VN trình sự việc cho đại sứ Bunker xin chỉ thị. Bunker bảo việc này không dính đến ngành ngoại giao và bảo liên lạc Abrams xin ý kiến. Abrams bảo B57 là kế hoạch do CIA tài trợ và điều hành nên quân đội không chịu trách nhiệm. Ông bảo quân đội Mỹ đang bị rắc rối vụ Mỹ Lai chưa đủ hay sao còn ôm thêm chuyện này?! Shackley tuyên bố CIA không dính vào vụ giết người này dù CIA có tài trợ cho B57. Tại BCH/MAGV, Shackley từ chối không khai theo lệnh của hai quân cảnh tư pháp, viện lẽ CIA không nằm trong hệ thống quân đội và nhân danh tư cách hành pháp miễn trừ; nhưng phụ tá là Clement Enking vì gốc nhà binh nên bị thẩm vấn thay. Các tướng trong phòng nhìn cảnh thư hùng giữa tư pháp và hành pháp (CIA là một thứ chính phủ trong một chính phủ) mà phát ngượng!
 
Vợ Chuyên là Phan Kim Liên và em dâu Lâm Hoàng Oanh đến phòng thẩm vấn của K57 ở Saigon tìm Chuyên nhưng Brumley lánh mặt và đuổi khéo. Thất vọng, Liên đi nhờ chính phủ và quốc hội VNCH giúp can thiệp với tòa Đại Sứ Mỹ nhưng không kết quả. Người em dâu để lại địa chỉ chỗ làm: Sở Bình Định Nông Thôn 158 Pasteur Saigon, Tel. 922-5708 để K57 liên lạc. Tin Lâm Hoàng Oanh được học bổng du học Columbia University ở Mỹ càng làm cho K57 sợ toát mồ hôi: Hà Nội gởi điệp viên vào tận đất Mỹ!? 
 
Tại tòa án QS ở Long Bình kéo dài từ tháng 8/69, mỗi nghi can có một luật sư bào chữa. Riêng Middleton, sau khi nội vụ đã được tiết lộ cho báo chí và Quốc Hội Mỹ, đã được gia đình thuê luật sư dân sự là George Gregory ở S. Carolina sang VN biện hộ. Chánh án là Đ. tá Seaman, chưa có kinh nghiệm về tư pháp. Các luật sư đòi có đủ tất cả nhân chứng và bằng chứng, kể cả tài liệu từ Chính phủ VNCH và CIA, danh sách người di cư trên tàu Mirabelle năm 1954; nhất là phải có tử thi theo luật Mỹ! Các báo lớn nhỏ ở Mỹ đều đăng tin và theo dõi vụ án như New York Times, Charlotte Observer, Times, International Herald và Washington Post. Một số ký giả đã đến VN phỏng vấn các bên liên quan, kể cả CQ/VNCH, dân chúng địa phương và Đ.tá Lemembres, người thay mặt Rheault đang bị câu lưu.
 
Do đó, BCH/HQ Mỹ ở Saigon gửi điện yêu cầu đội rà mìn của hạm đội 7 ở Pearl Harbor cung cấp phương tiện dò tìm “ghe name” ở biển Đông VN. Khi bị HĐ7 từ chối viện lẽ không phải trường hợp cấp bách, tướng Potts phải mượn lệnh của Abrams mới được chấp thuận. Bảy ngày sau, tàu dò mìn USS Woodpecker đến duyên hải Nha Trang tìm xác TKC. Thợ lặn báo cáo sóng to gió lớn, bùn ngập tới đầu gối và tầm nhìn xa tối đa chỉ 7 feets nên yêu cầu để hôm sau. Chiều tối ngày thứ nhì, thợ lặn mới tìm thấy cái neo 100kg của chính con tàu dò mìn; hôm trước thả xuống giờ mới 24g đã trôi xa 100 yards. Họ bàn ra rằng với cường độ sóng gió này, xác TKC quẳng xuống cách nay 6 tháng chắc sẽ trôi dạt nửa đường đi Hà Nội! Thế là huề vốn! Bourland thất vọng trở về Long Bình.
 
Phan Kim Liên nghe tin Ls Gregory đến VN thì có đến khách sạn Caravelle tìm gặp và khóc lóc xin giúp tìm chồng nhưng Gregory viện cớ là luật sư bên bị can nên từ chối. Tờ Washington Post cử đại diện là Robert Kaiser và phụ tá là Vũ Thụy Hoàng qua VN tìm hiểu rồi đưa tin hôm 18/8/69 rằng vụ án đã bị cho chìm xuồng vì lý do chính trị. Được tin ấy, một anh của Kim Liên đòi đưa 8 ghi can ra tòa VNCH; còn Liên mướn luật sư viết thư gởi MACV và Bunker xin cho biết tình trạng sống chết của người chồng mất tích; bản sao gởi Thủ Tướng VNCH. Trong thư, Liên cũng cam kết chồng bà thuộc gia đình chống CS; không phải là VC cũng chẳng thể là điệp viên vì tánh rất nóng nảy không giấu nổi bí mật nào. TKC chỉ là thông ngôn quèn không ngạch trật. Thấy mình là trung tâm của vụ án mà chẳng ai đả động đến, Kim Liên liều thân đến tận tòa Đại sứ Mỹ để đưa thư hôm 18/8 chờ cả tiếng đồng hồ vẫn không được tiếp, đành để thư lại cho thư ký tiếp tân và ra về. Hôm sau, đại diện của Bunker đến nhà Liên tìm, gặp ông bố từ chối cho gặp Liên và từ chối trả lời mọi câu hỏi, có lẽ ghét người Mỹ. Phái viên ấy dặn ông cụ nhắn lại Liên hãy khiếu nại với quân đội Mỹ vì chồng Liên làm việc cho Green Berets Mỹ. Được lời nhắn ấy, Liên bỏ đòi hỏi đưa nội vụ ra tòa án VNCH, thay vào đó yêu cầu tòa Đại sứ và Quân đội Mỹ phải bồi thường thiệt hại. Liên bồng hai con trai nhỏ 2 tuổi và mới sanh, đến cổng tòa đại sứ khóc lóc, kể lể và qui trách nhiệm cho chính phủ Mỹ. Liên nguyền rủa rằng linh hồn chồng bà sẽ không tha thứ cho bọn giết người trong suốt cuộc đời của họ. Bà cũng đòi tự tử rồi ngất xỉu ngay trước cổng. Hôm 2/10/69 một sĩ quan phụ trách tài chính của quân đội Mỹ đến nhà Kim Liên trao 6,472 đô tiền mặt, trích từ quỹ đen của CIA, cho Liên; nói rằng số tiền “tử tuất’’ đó tương đương ba tháng lương của TKC kèm theo giấy cam kết yêu cầu bà ký từ nay không khiếu nại gì thêm, một hình thức bắt chẹt về mặt luật pháp. 
 
Tại VN, Đại sứ Bunker đánh điện cho bộ Ngoại giao, MACV và cả phái đòan Mỹ ở hội nghị Paris báo cáo về vụ kiện tụng. Ông viết rằng ‘’Kim Liên nhờ Thủ Tướng VNCH trong trường hợp chồng bà đã chết thì thư này thay thế văn kiện chính thức truy tố 8 người lính mũ xanh ra tòa án VN về tội giết người bất hợp pháp, vô nhân đạo và tàn bạo’’. Ông đại sứ kết luận bản báo cáo một cách lạnh lùng: “Bà Thái Khắc Chuyên khẳng định chồng bà không phải là điệp viên cộng sản’’. Tại Mỹ, đài NBC đưa tin chính quân đội Mỹ đóng hồ sơ vụ án. CBS thì bảo là CIA. ABC thì bảo là CIA và Nixon cho nội vụ chìm xuồng. Dân biểu Quốc hội liên bang Peter Rotino chửi rủa các tướng ở MACV và bênh vực gia đình Marasco. Ông đòi các can phạm phải được xử ở tòa án dân sự Mỹ để được công bình hơn tòa quân sự ở VN. Nhiều thư của các gia đình quân nhân tử sĩ Mỹ và các cử tri khác gởi thư cho dân biểu, nghị sĩ đại diện và cho cả Nixon yêu cầu giúp tha các can phạm lính mũ xanh ở VN.
 
Khi tin chính thức loan rằng các phạm nhân mũ xanh được thả, các ký giả quốc tế có làm một cuộc phỏng vấn ứng khẩu với các bên trong cuộc ngay trước tòa đại sứ Mỹ. Phan Kim Liên trong bộ áo tang trắng khóc sướt mướt kể lể rằng ‘’chồng tôi di cư vào Nam VN tìm tự do dân chủ và giúp người Mỹ thế mà người Mỹ lại giết anh ta rồi trốn lãnh trách nhiệm này’’. Các ký giả quốc tế bao quanh người quả phụ đau khổ với thái độ thương cảm và khó xử. Bà Liên đòi tự tử tại chỗ và gào thét ‘’họ phải hoặc lãnh trách nhiệm về cái chết của anh ta hoặc cái chết của tôi. Linh hồn chồng tôi sẽ theo họ suốt đời!’’. Khi Kim Liên ngất xỉu xuống đất, lính canh lặng lẽ đóng cổng tòa đại sứ.
 
Smith đáp chuyến bay World Airways khác chuyến bay của 7 người kia. Các ký giả quốc tế chờ họ tại sân bay San Francisco, CA. Bất đắc dĩ phải lại microphone vì đứng đầu hàng ngũ 8 người được thả, để trả lời câu hỏi ‘’Cá nhân ông có ra lệnh xử tử người đàn ông Việt mệnh danh là điệp viên nhị trùng không?’’, Rheault trơ trẽn nói: ‘’chả có gì chứng minh rằng nhận vật ấy là có thực cả!’’. Khi nhà báo ấy chưa thỏa mãn và hỏi tiếp: ‘’Rốt cuộc ông chối là không có giết người à?’’. Rheault trả lời ngay không suy nghĩ: ‘’đúng thế!’’. Bob Rheault sau có xin trở lại VN để phục vụ, hy vọng hoài bão lên cấp Tướng sẽ không chết non theo vụ án; nhưng Ngũ Giác Đài bảo Rheault đến bệnh viện quân đội Walter Reed ở thủ đô Mỹ để lãnh tiền và giấy giải ngũ, chấm dứt 26 năm kiêu hãnh từ ngày xuất thân trường võ bị West Point.
 
Sau 1975, Phan Kim Liên và hai con trai sống trong khó nghèo, cô quạnh ở thành phố nay đã đổi tên. Các anh trai của Chuyên kẹt lại Bắc Việt đã chỉ là thứ dân hạng bét của chế độ như bao nhiêu tín đồ Thiên Chúa giáo khác. Hồi tháng 8/1991, con trai cả của Thái Khắc Chuyên là Thái Quốc Việt vẫn tin cha mình còn sống; viết thư cho ký giả J. Stein hỏi về số phận của cha mình và thú nhận ‘’thật khó sống với những năm tháng dài ngờ vực. . .’’. Nó đâu biết rằng dân Mỹ thế hệ này vẫn còn ngờ vực sự lành lặn của vết thương chiến tranh Việt Nam. 
 
Lời xin lỗi cố TT. Thiệu và thú nhận của Kissinger sau này chưa đủ để tẩy sạch được vết nhơ danh dự ô uế: Phản bội chiến hữu đồng minh Nam Việt trung thành, giết hại lãnh tụ khả kính của họ để Mỹ hóa cuộc chiến; rồi lại Việt hóa cuộc chiến trở lại để trốn trách nhiệm. Và phải giải thích ra sao về trách nhiệm của giới chính trị gia Mỹ đối với niềm tự hào của một quân đội vốn chưa bao giờ chiến bại: Quân Đội Hoa Kỳ? 
 
Hà Bắc
(tham khảo tài liệu của J. Stein và Time
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
Đầu năm mới thì phải vui nên phải đọc điều vui để cười[:D][:D][:D][:D]
Sếp ốm (sưu tầm)
Nghe tin sếp bị cắm giằm
Phải vào bệnh viện siêu âm chụp hình
Phòng ban lãnh đạo rối tinh
Vội ngưng công việc rập rình viếng thăm
Người thì nựng sếp "măm măm"
Kẻ thì nắn bóp tay chân dỗ dành
Bao nhiêu là tấm lòng thành
Bấy nhiêu là những "tờ xanh" đi cùng
Sếp nằm thịt thắm da hồng
Quanh giường quà cáp chất chồng ngổn ngang
Ốm như hoa hậu đăng quang
CHI SẮC (Hải phòng)
Đăng nhập để trả lời
0
Cười rồi thì nhấm nháp cái gì cho ngon cái miệng. Mời các bạn ăn gỏi mít nha![:D][:D][:D][:D][:D]
📎 goimit4
Đăng nhập để trả lời
0
Nhấm nháp xong thì ngăm hoa lá cành
📎 hoabingoi|hoabingoi3
Đăng nhập để trả lời
0