Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Dàn Nhạc Đỏ_ (Leopold Trepper) (HẾT) 🔒

54 trả lời, 2.344 lượt xem — Trang 2 / 2
Sáu thất bại của Karl Giering
 
Giering bị sáu thất bại liên tiếp khiến cho Leopold càng kiên trì đấu tranh. Giering yêu cầu Leopold làm thế nào để không cho Cục trưởng biết anh đã bị bắt. Ngay lúc đó, Leopold đề xuất điện thoại cho ông chủ quán cà phê ở quảng trường Madeleine, rồi để ở đó một lá thư gửi “Andre” (Hillel Katz) nội dung: “Mọi việc rất tốt, tôi sẽ trở về trong vài ngày”. Đối với Giering, thư đó là lôgich. Hắn không biết trong DNĐ chỉ dùng điện thoại trong hoàn cảnh đặc biệt và dùng lời văn ngược lại: “Mọi việc đều tốt” có nghĩa là “Mọi việc đều xấu”. Katz sẽ hiểu rằng “tình hình rất xấu, tôi sẽ không trở về”, vậy Katz sẽ nhận được lời khẳng định nữa về việc Leopold bị bắt.
Thất bại thứ nhì: Vẫn qua điện đài của Kent, Đội Đặc nhiệm gửi một bức điện cho Cục trưởng đề nghị song song với quan hệ qua Leopold, Cục cho phép quan hệ thẳng với Đảng cộng sản Pháp. Giering giải thích thêm rằng lí do là “Leopold không chắc chắn” cho nên cần lập thêm một mối quan hệ nữa. Cục trưởng trả lời dứt khoát không cho phép. Cục trưởng nhấn mạnh rằng nếu các toán không an toàn thì không có lí do gì làm cho đảng bạn bị nguy hiểm.
Thất bại thứ ba: vẫn qua điện đài của Kent, Đội Đặc nhiệm lấy danh nghĩa của Leopold xin Cục trưởng báo trước cho lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp cho biết nơi, ngày và giờ gặp Michel, là đại diện lãnh đạo đảng. Cục trưởng trả lời đồng ý và cho những ý kiến và tọa độ rõ ràng của cuộc hẹn.
Đội Đặc nhiệm vô cùng khoái trí. Chúng họp ngay hội đồng chiến tranh, ra quyết định chưa nên bắt ngay Michel; ngược lại người liên hệ với Michel sẽ đề nghị Michel báo cho Cục trưởng rằng mặc dù Gestapo bắt bớ, nhưng Simex, Otto và DNĐ tại Paris vẫn bình yên.
            Bọn đặc nhiệm lạc quan quá sớm. Michel không đến nơi hẹn. Vì Giering và bè lũ không nắm được thủ thuật do Leopold quy ước với Michel trước khi bị bắt: hai người không đến điểm hẹn theo chỉ dẫn của Trung tâm, mà chỉ gặp theo hẹn ước của chính hai người vào hai ngày và hai giờ trước giờ hẹn.
Vì thế Giering đâm ra hoang mang, y hỏi Leopold tại sao Trung tâm chỉ thị điểm hẹn mà Michel không đến? Leopold giải thích rằng vì Michel là người sống tại chỗ, nắm được tình hình chắc hơn trung tâm cách xa hàng ba nghìn kimôlet, cho nên ông ta cảm thấy có chuyện gì xảy ra với Leopold.
Thất bại thứ tư: Giering gửi tiếp một bức điện qua đài của Kent, nội dung nói rằng Leopold gặp khó khăn khi dùng điện đài Marseilles, rằng đài của Đảng cộng sản Pháp không hoạt động nữa mà không có lí do. Hắn đề nghị bố trí cho gặp Pauriol (Duval) là người phụ trách đường liên lạc này. Cũng như với Michel, đề nghị Trung tâm ấn định địa điểm, ngày giờ gặp. Đội Đặc nhiệm lại một lần nữa hi vọng đạt mục đích, nhưng lại một lần nữa vỡ mộng vì Leopold cũng giao ước với Pauriol cách liên lạc như cách với Michel. Ngoài ra chỉ có Grossvogel được liên hệ với Pauriol. Đồng chí này có đến nơi hẹn như quy ước, nhưng không thấy ai, Grossvogel đã bị bắt trước đó rồi. Việc đó khiến cho Pauriol xác định những nghi vấn của đồng chí về việc Trung tâm bị đầu độc.
Giering ngày càng lúng túng: y đã đánh lừa được Trung tâm, nhưng chẳng có tác dụng gì bởi tại chỗ cấp dưới không chịu thi hành lệnh của Cục trưởng!
Thất bại thú năm của Giering... Từ năm 1941, hiệu kẹo Jacquin ở phố Pernelle, gần quảng trường Chatelet là hộp thư của DNĐ nhờ Đảng cộng sản Pháp chuyển giao, ở đây có một bà già rất đáng tôn trọng tên là Juliette Moussier; lãnh đạo cũng như nhân viên đều rất quý trọng bà. Bà tham gia Đảng cộng sản từ lâu. Noi đây khách khứa ra vào nhiều, nên Pauriol và Leopold dùng làm nơi trao đổi tài liệu trong khi mua vài thứ hàng hóa. Hộp thư này được dùng để truyền những báo cáo quan trọng nhất và trong một năm sáu tháng vẫn chạy đều. Ngoài Hillel Katz  là bạn của bà Juliette, chỉ hai ba đồng chí trong đó có Raichmann (sau khi tổ Atrebates bị vỡ) làm liên lạc với bà.
Bị bắt, bị tra tấn dã man, Raichmann đã khai cho Đội Đặc nhiệm về bà Juliette. Giering quyết định sử dụng hộp thư này... Một hôm Raichmann đến hiệu kẹo nhờ bà Juliette chuyển một bức thư cho “ông già” tức Leopold. Bà Juliette lạnh lùng từ chối vì đây là một sự hiểu lầm: bà không biết Raichmann cũng như “ông già”.
Giering lại bế tắc: tại sao bà Juliette từ chối “công nhận” một người mà trước đây bà đã từng quan hệ? Vì Giering không biết rằng sau khi Efremov bị bắt, Leopold đã nghi Raichmann cho nên đã chỉ thị DNĐ cắt mọi quan hệ với y; chỉ có ai đưa ra ám hiệu một chiếc khuy đỏ thì mới bắt liên lạc (trừ Katz và Leopold). Raichmann không biết được biện pháp an ninh mới này.
Giering lúc này cũng lúng túng về đối sách với bà Juliette: có nên bắt không? Giải pháp này chưa hay, vì bắt bà ta tức là hoàn toàn cắt mất đường liên lạc với Đảng cộng sản Pháp. Ngoài ra còn có nghĩa là thừa nhận “ông già” đã bị bắt và Raichmann làm việc cho phát xít Đức. Vậy là hắn lại “bế tắc”.
Thất bại thứ sáu thật là đau đớn cho Giering: giáo sư Wenzel vượt tù được...
Bọn Đức đã thu được sáu điện đài nhưng chưa biết tầm quan trọng của từng đài. Cái đài bị bắt vào mùa thu 1942 tại nhà các điệp viên từ Moscow phái tới bằng cách nhảy dù và làm việc tại nhóm Berlin là phương tiện đầu tiên của dàn nhạc dỏm. Đài của Efremov sau khi bị bắt vào tháng bảy bị khống chế và phát huy tác dụng nhất. Ngoài ra còn điện đài của Sesee và ở Hà Lan là đài của Winterink. Tại Pháp có đài Eiffel của Kent, và đài thứ hai mang tên là Eiffel 2 mà bọn Đức dùng theo tên chung là Marte Eiffel. Nhưng trong dàn nhạc dởm này, thiếu đài phát của Wenzel.
Ngay sau khi bị bắt, Wenzel bị tống giam vào Pháo đài Breendonk và bị tra tấn ở đây. Đến tháng 11, Đội Đặc nhiệm thấy sự cần thiết phải có Wenzel, thiếu mất cây đàn này không lừa được Moscow. Mà không thể thay Wenzel bằng người của Đội Đặc nhiệm, bởi vì “ông giáo sư” này là một đại kì tài, có “lối viết” rất riêng, lại chỉ Trung tâm quen “lối viết” đó mà thôi. Bọn Đức rất hài lòng khi thấy Wenzel nhận hợp tác với chúng.
Mặc dù bị giám sát rất chặt, nhưng Wenzel ngay từ buổi phát sóng đầu tiên đã phát được tín hiệu báo động như quy ước. Trung tâm thế là được biết nội dung các điện gửi tới đều là do kẻ thù viết ra.
Wenzel tham gia “hợp tác” với Đức thảo và điện đi hai bức điện mang tên “Germans” (bí danh của Wenzel) mà Leopold được biết nội dung qua nguồn của Liên Xô:
“Kính gửi Cục trưởng. Khẩn. Đường liên lạc quen thuộc với Sếp Lớn bị giám sát. Cho chỉ thị về việc hẹn gặp mới với Sếp Lớn. Tôi thấy gặp Sếp Lớn rất quan trọng. Germans”.
Và đây là bức điện thứ nhì:
“Kính gửi Cục trưởng. Thượng khẩn. Theo chúng tôi biết qua nguồn tin của Đức, quyển sách mật mã đã bị khám phá. Tôi chưa được báo trước việc gặp Sếp Lớn. Quan hệ của tôi với Cục trưởng vẫn thông suốt. Không có dấu hiệu bị giám sát. Tổ chức lien lạc với Trung tâm như thế nào? Xin Cục trưởng trả lời gấp. Germans”.
Hai bức điện này báo động cho Trung tâm, vì DNĐ chưa hề dùng khái niệm Sếp Lớn. Dần dần Wenzel lấy được lòng tin của Đội Đặc nhiệm (viết tắt là ĐĐN) nên anh được chúng cho trú ngụ trong một phòng tại phố Bình Minh (Aurore) ở Brussels cùng với điện đài. Đầu tháng giêng năm 1943, vị “giáo sư” đã đập chết tên lính gác khi nó lúi húi chất củi vào lò sưởi, lưng quay ra. Wenzel tống xác chết trong buồng rồi chuồn mất.
Đó là một tai họa đối với Giering. Wenzel có thể báo động cho Moscow mọi diễn biến của DNĐ ở Bỉ từ tháng bảy 1942. Sự thực anh trốn sang Hà Lan rồi dùng một điện đài chưa bị bắt để báo cáo với Trung tâm các sự kiện.
Tuy vậy, ĐĐN đã đạt được những kết quả rất quan trọng từ vụ phá vỡ tổ ở phố Atrebates: chúng đã phá được nửa tá điện đài đặt ỏ năm nước truyền hàng trăm bức điện về Trung tâm. Xét đoán qua trả lời của Trung tâm, Cục trưởng không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng Giering cũng bị sáu đòn thất bại đau đớn, liên tiếp trong chỉ vài tuần: những chỉ thị của Trung tâm không được thực hiện, vậy là bộ máy bị trục trặc ở đâu đó. Lâu đài bằng cát y đắp nên có nguy cơ sụp đổ lúc nào không biết.
Vậy trong tay đội trưởng ĐĐN chỉ còn mỗi con chủ hài: làm sao giành được Sếp Lớn hợp tác để làm Trung tâm yên lòng bằng cách sử dụng đường liên lạc của Đảng cộng sản Pháp. Mạo hiểm là lớn đối với Giering, nhưng y không còn cách nào khác.
Đến cuối tháng 12, những cuộc trao đổi giữa hắn, cùng tên phụ tá của hắn là Willy Berg với Leopold thay đổi giọng điệu. Không khí cũng thay đổi. Leopold đã chờ thời vận: nó đã đến...
 
0
Chuỗi tin đau lòng
 
Tuy “chơi” đấu trí căng thẳng với Giering, nhưng Leopold vẫn lo cho những đồng chí chưa bị bắt. Anh lo nhất là Grossvogel và Katz. Anh vững tin vào hai người đồng chí vì như Katz, anh đã bố trí cho về Antony là nơi trú ẩn rất chắc chắn, lại dự kiến sau đó chạy về Marseilles là vùng chưa bị Đức chiếm đóng.
Chính tên phó của Giering là Berg thông báo cho Leopold tin dữ:
- Ông có biết Katz của ông đã bị chúng tôi bắt rồi không?
- Bị bắt từ lúc nào?
- Khoảng ba tuần...
Thế là đến lượt Katz bị sa vào tay giặc. Chỉ mãi sau này Leopold mới được giải đáp vì sao bạn anh là người được bố trí bao nhiêu biện pháp an toàn mà vẫn bị nạn.
Bối rối sau khi Leopold bị bắt, Katz mất vài ngày chuẩn bị ra đi. Ngày 19-12, Cecile, vợ anh sinh con, anh không dám ra đi khi chưa bố trí cho vợ con được an toàn. Con trai cả của anh là Jean Claude đã về ở với em gái Maximovich ở lâu đài Billeron.
Năm 1943, Cecile Katz cho Leopold biết về chồng chị: ngày 28-11-1942 Katz cùng Grossvogel đến nhà hộ sinh thăm chị. Cả hai đều biết tin Leopold bị bắt và rất lo lắng. Ngày 1-12, Katz quay lại nhà hộ sinh để hôm sau đón vộ con về. Nhưng cái ngày mai đó không có nữa. Hôm đó anh ở Paris quá muộn, không trở về Antony lúc đã giới nghiêm, nên anh đến nhà cô bạn quen là Modeste Ehrlich, vộ một giáo viên Do Thái, cựu thành viên Lữ đoàn quốc tế.
Từ khi chiến tranh bùng nổ, nhà của Ehrlich trở thành hộp thư và nơi gặp gỡ. Chính nơi đây Raichmann đã gặp Katz đầu 1942. Sau khi Raichmann bị bắt và khai báo, ngôi nhà Ehrlich bị Gestapo giám sát chặt chẽ. Katz đã không tôn trọng chỉ thị của Leopold (không được dùng nhà này nữa) vì nghĩ rằng có thể trú ở đây vài giờ để sáng mai đi sớm. Bọn nhân viên Gestapo canh ngôi nhà này đã báo cho Reiser là trưởng ĐĐN Paris và bắt luôn Katz và Ehrlich. Leopold thuyết phục được Giering rằng Modeste không tham gia DNĐ vì DNĐ chỉ dùng nhà của bà đó nhưng không cho bà biết tính chất hoạt động của Đảng cộng sản; song bà vẫn bị đưa vào trại tập trung và chết tại đó.
Grossvogel cũng bị bắt vì DĐN đã dùng thủ đoạn khống chế thô bỉ. Cũng là sự trùng hợp đặc biệt, Jeanne Pesant, vợ Grossvogel, cũng ở cữ. Leopold vẫn đinh ninh rằng Grossvogel đã sang Thụy Sỹ là rất an toàn rồi, nhưng không ngờ Jeanne Pesant không chịu tránh ở một nơi thật an toàn, chị thuê một ngôi nhà ở ngoại ô Brussels, nên ngày 26-11 ĐĐN phát hiện được và bắt chị. Chúng đe nếu bà không viết thư hẹn Grossvogel cho gặp thì sẽ giết chết đứa con ngay trước mặt chị. Grossvogel cảm thấy có thể bị lừa, nhưng vì anh quá muốn gặp vợ con trước khi đi vào hoàn toàn bí mật, nên anh đã đến nơi hẹn là Uccle, phố Brunard và bị bắt tại đó ngày 16-12.
Bốn ngày trước, Berg đã ung dung báo cho Leopold:
- Hôm nay chúng tôi sẽ bắt Robinson...
Khá ba hoa như thường lệ, Berg khoe kế hoạch của ĐĐN. Sau này Leopold lợi dụng được kiểu nửa tình cảm này để ứng phó.
- Chúng tôi đã phát hiện được nó từ mấy tháng nay - Berg nói - Nhưng chúng tôi quyết định tóm cổ nó khi nó hẹn hò với một đối tượng mà chúng tôi đã biết. Reiser liền tổ chức bao vây quy mô lớn. Hàng chục mật vụ rải quanh điểm hẹn, ảnh đối tượng trong tay để nhận diện cho đúng. Tôi xin báo để ông biết rằng Reiser sẽ đề nghị ông đi theo chỉ nhằm thử phản ứng của ông. Bởi vì Reiser không có phép đưa ông ra đó; nếu không thì Trò Cao thủ sẽ hoàn toàn bị nguy hại, Nếu ông từ chối, ông ta sẽ kết luận và nói cho mọi người biết rằng ông từ chối hợp tác...
- Này ông Berg ơi, nếu tôi hiểu đúng thì Reiser đồng thời còn thăm dò và giương bẫy tôi nữa đấy...
- Ông suy luận ý đồ của ông ta thế nào tùy ông...
Được, tôi được báo trước. Leopold tự nghĩ như thế.
Đến trưa, họ dẫn Leopold đến gặp Reiser. Tay này cũng nhai lại điệp khúc như Berg:
- Này, Otto, hôm nay chúng tôi sẽ bắt Robinson!
Để bóp nhỏ vai trò của đồng chí, theo chiến thuật cổ điển, Leopold nói:
- Ông Reiser ơi, ông nhầm rồi, đó chỉ là một kẻ quấy rầy thôi. Hắn chẳng biết gì đâu!
- Cũng có thể - Reiser trả lời - Nhưng ông hãy để cho chúng tôi nhận định về giá trị của hắn ta. Dù thế nào ông cũng đi theo chúng tôi.
- Tùy các ông.
Reiser ngồi cứng trên ghế vì ngạc nhiên khi thấy thái độ của Leopold lại vui vẻ hồn nhiên và hòa nhã đến như thế.
Dù sao thì Berg cũng không nói dối.
Trên xe đi đến điểm hẹn, Leopold suy nghĩ cách biểu lộ thái độ và kết luận cách giúp Robinson là Leopold phải làm ầm ĩ sự có mặt của anh: Vả lại nếu bọn ĐĐN đã quyết định trưng bày Leopold tay bị còng nghĩa là chúng đã kết thúc Trò Cao Thủ bởi vì những bảo vệ viên của Robinson ắt trông thấy Leopold bị bắt. Nhưng xe đậu cách điểm hẹn 200m, Leopold bất lực dự vào cảnh tượng Robinson bị bắt.
Từ khi Franz Schneider bị bắt tại Bỉ vào tháng tám, Gestapo đã phát hiện dấu vết của Robinson. Người vợ cũ của anh thuộc toán Berlin và đứa con trai anh đang ở trong quân đội Đức đều bị bắt. Tại sao Gestapo không bắt anh ngay? Bởi vì bọn mật thám cho rằng anh này chỉ huy một toán cán bộ quan trọng cũ của Đảng cộng sản Pháp như Jules Humbert-Droz, cựu thư ký Đảng cộng sản Pháp, và Willy Munzenberg, cựu lãnh tụ Đảng cộng sản Đức.
Đó là do Gestapo hoang tưởng chứ làm gì có đơn vị mạnh đó. Humbert-Droz khi đó đã bị khai trừ khỏi Đảng cộng sản. Munzenberg cũng đã bị xóa tên trong Đảng cộng sản và trong Quốc tế Cộng sản từ năm 1937, năm 1940 anh này đã bị chính phủ Daladier tống giam trong trại người ngoại quốc. Tại nhà tù, hai nhân viên của Beria cùng bị giam với anh đã phụ trách việc thủ tiêu anh. Hai nhân viên này đã rủ anh cùng họ vượt ngục. Quá tin, anh đồng ý: người ta tìm thấy anh bị treo cổ ở cách trại giam hai trăm mét. Bọn Đức định tổ chức một phiên tòa ầm ĩ mà diễn viên chính sẽ là Robinson nhằm bôi xấu chủ nghĩa Bolshevik quốc tế trước con mắt của “châu Âu mới”.
Đến tháng 12, khi biết Robinson chỉ có một mình, nên ĐĐN quyết định bắt anh. Leopold gặp Robinson hai ngày trước khi các đồng chí Simex bị bắt. Leopold đã phân tích tình hình của DNĐ và hai đồng chí quyết định ngừng quan hệ. Trong cuộc gặp này Robinson cũng đã biết Schneider đã bị bắt. Anh không biết ngôi nhà ở Passy của anh đã bị giám sát.
Còn Maximovich cũng bị theo dõi từ lâu. Trong lễ “đính hôn” của anh với cô Hoffman-Scholz, nữ thư ký của Otto, Gestapo đã nghiên cứu hồ sơ ngoại kiều trong tàng thư cảnh sát Pháp. DNĐ biết tin này nhưng quá muộn, không còn thời gian để giấu hồ sơ của Maximovich đi. Gestapo nắm được rằng Maximovich có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản. Anh bị tước giấy thông hành ra vào khách sạn Majestic. Nguy hơn nữa là qua phát hiện các điện mật của DNĐ, hành động của Maximovich bị lộ hết. Như qua báo cáo về các thành phố Đức bị tàn phá, tin do “người yêu” của Maximovich là cô Hoffman-Scholz cung cấp sau chuyến về Đức thăm gia đình của cô, Gestapo tìm ra được nguồn cung cấp tin chính là Hoffman.
Maximovich bị theo dõi từ tháng 10. ĐĐN đã đến lâu dài Billeron tuyên bố cho cô Anna rằng chúng đã phát hiện anh em cô tham gia một lưới gián điệp chống lại Đế chế Đức... Chúng nói với Anna:
- Cô có thể giúp chúng tôi bằng cách tạo thuận lợi cho thủ trưởng của cô gặp một nhân vật Đức, có thể tại vùng tự do, cô đừng sợ, vì đây là một vụ có tầm quan trọng về chính trị...
Anna báo cáo ngay với Leopold về đề nghị của Giering. Lúc đó Leopold chỉ có thể diễn dịch yêu cầu hẹn hò của Giering là một thủ đoạn thô thiển nhằm bắt cóc Leopold. Có lẽ hắn định xây dựng cơ sở... cho sự hợp tác trong tương lai của DNĐ.
Tất cả những dấu hiệu đó cho thấy Maximovich bị đe dọa nghiêm trọng. Leopold đề xuất giúp anh trốn...
- Tôi không thể trốn - Anh trả lời - Vì tôi còn mẹ già và cô em gái nữa... Anh nghĩ xem, không có tôi thì họ sẽ sống nổi không? Nếu tôi bị bắt, tôi sẽ tự tử!
- Không, phải diệt hết bọn chó đó đi!
Anh giữ nguyên các thói quen, tiếp tục công việc như trước... Ngày 12 anh bị bắt trong phòng giấy của “người yêu”.
Springer hy sinh oanh liệt.
Anh rút về Lyon từ tháng 12-1941 và tiếp tục hăng hái hoạt động. Anh quan hệ với Balthazar, cựu bộ trưởng Bỉ, và viên lãnh sự Hoa Kì, và phát hiện nhiều nguồn tin tình báo mới. Đó là một chiến sĩ không biết mệt mỏi, hy sinh anh dũng sau khi dùng vũ khí chống lại bọn Gestapo.
Leopold đã gặp Springer vào tháng tư và khuyên anh nên thận trọng. Anh không muốn nghe và yêu cầu Leopold cho mật mã và Leopold đã cho. Khi Leopold hỏi anh có cần điện đài không, thì anh trả lời đã xin được Hoa Kì một điện đài nhỏ rất tốt.
Đến tháng 10, Leopold quay lại Lyon và lại khuyên Springer thận trọng, anh nổi nóng:
- Tôi biết rằng tôi và Flore, vợ tôi, có thể đi Hoa Kì, nhưng tôi không đi và bà ta cũng muốn ở lại với tôi. Thế binh sĩ trước nguy hiểm cũng lùi bước hay sao? Không, chúng tôi cũng phải chiến đấu như họ!.. Tôi là chiến sĩ trên tuyến đầu, tôi sẽ công tác đến ngày cuối cùng và, nếu chúng đến, tôi sẽ có cách tiếp chúng!
Springer đặt điện đài ỏ một làng cách Lyon 17km, anh nối đài đó với dây cáp cao tần ở gần đó...
- Nếu chúng đến - Anh nói - Tôi sẽ cho nổ tung hết!
Nhưng anh không kịp cho nổ. Một đêm, Springer trở về phòng vợ chồng anh thuê ở Lyon... Hai người quy ước với nhau mật hiệu để báo động khi nguy hiểm, nhưng đêm đó tối mò, anh không nhìn thấy ám hiệu, khi bước vào cổng tay lăm lăm súng lục: liệu Gestapo có chờ mình ở trên gác không? Chẳng cần, anh bất chấp nguy hiểm... Khi mở cửa: Chúng đã có mặt ỏ đây, tên đứng, đứa ngồi, bâu lại như đàn nhặng. Anh bắn vào chúng làm hai tên bị thương, rồi anh định uống thuốc độc mà anh lúc nào cũng mang sẵn trong người...
            Bị giam tại Lyon, Springer lại bị chuyển vào nhà tù Fresnes hôm sau. Trong bốn ngày anh bị tra tấn liên tiếp. Để tránh khai báo anh vượt qua lan can nhà cầu trên tầng bốn lao vào không trung. Hôm đó là ngày lễ Noel...
Em trai và Yvonne, em gái họ của Springer, sau chiến tranh mới biết rõ về hoàn cảnh người anh của họ hy sinh thế nào khi họ xem tác phẩm của đại tá Remy nhan đề “Cuốn sách của lòng dũng cảm và của nỗi lo sợ” (Livre du courage et de peur). Ở trang 27 tập 2 có ghi như thế này: “Ngày lễ giáng sinh bắt đầu bằng một vụ tự sát. Một người chán đời đã lao qua ban công nhà cầu của một tầng nhà cao. Nhiều tù nhân nghe thấy một tiếng đục của thân người đó rơi xuống đất...” Tả như thế đúng cả, chỉ trừ động cơ tự sát của Springer không phải vì chán đời, mà chỉ vì anh không muốn phải khai báo dưới đòn tra tấn. Leopold hiểu rất rõ con người này nên có thể khẳng định Springer đủ can đảm để quyết định như vậy. Anh đã đón bọn Gestapo bằng tràng súng lục, anh đã định uống nhân ngôn: hành vi cuối cùng của anh tại nhà tù Fresnes hoàn toàn thuộc về phong thái của những người chiến sĩ gương mẫu hy sinh trong khi chiến đấu với quân thù. Sau này gia đình đã cải táng cho anh và đưa di cốt của anh về nghĩa trang quê hương. Chính phủ Bỉ đã truy tặng huân chương cho Springer.
Kaethe Voelkner biết mình cũng bị lộ vì địch đã dịch được mật điện của DNĐ. Tháng 12 cô về Đức thăm gia đình. Ba mươi năm sau, người chú của cô kể lại việc cô bị bắt cùng đồng đội là anh Podsialdo khi cô trở về nhà vào đầu tháng giêng.
Bọn Gestapo ở Lyon do tên Barbie nổi tiếng cầm đầu đã bát Joseph Katz và Schreiber, họ không phải là thành viên của Dàn Nhạc Đỏ. Joseph là em của Katz, có lần đã xin gia nhập DNĐ nhưng Leopold không chấp nhận vì không muốn một gia đình mà có hai người cùng làm công tác tình báo, một nghề thật là nguy hiểm. Còn Schreiber quen Leopold ở Palestine, vốn là đảng viên Cộng sản tích cực nhưng không giáo điều, thường hay phê bình khiến cho nhũng người lý luận cố chấp không ưa. Anh tình nguyện xin sang Tây Ban Nha chiến đấu thì bị từ chối bởi họ coi anh là người đi trệch đường lối. Mùa hè 1940, khi Leopold đến Paris, anh cố đi tìm Schreiber. Theo bà vộ Schreiber thì năm 1939 chồng bà đã lập một doanh nghiệp chuyên mua lại xe ôtô cũ. Cục Tình báo Hồng quân chú ý đến doanh nghiệp này nên cử một sĩ quan bí danh là Fritz đóng vai giám đốc kinh doanh cho doanh nghiệp này. Trong một ngày mùa thu năm đó, cảnh sát đến garage này kiểm tra theo lệ thì Fritz sợ quá liền nhảy qua cửa sổ rồi trốn vào sứ quán Xô viết với lý do bị cảnh sát khủng bố. Một cán bộ sứ quán này dại dột ghi tên và địa chỉ của Schreiber trên lịch bàn. Phản gián Pháp theo dõi sứ quán Xô viết đã lục soát garage của Schreiber và tạm giữ ông chủ. Sau khi hiệp ước Xô - Đức ra đời, chính quyền Pháp lại bắt Schreiber rồi đưa vào trại tập trung. Khi quân Đức tiến vào Pháp, ông chủ garage này vẫn nằm trong trại. Leopold định tổ chức cho Schreiber vượt ngục, nhưng tùy viên quân sự Susloparov của sứ quán Liên xô chủ trương dùng phương thức hợp pháp nên đã cho tên Schreiber vào danh sách công dân Xô viết bị bắt nay phải tha. Schreiber được tha nhưng khi Đức đánh Liên Xô, anh đang sống tại Marseilles trong khi vợ con anh đã chạy sang Moscow rồi. Anh rút vào bí mật, nhưng rồi anh bị bắt và hy sinh.
Joseph Katz cũng mất tích khi bị đi tập trung... Theo Leopold hai chiến sĩ này bị chết do Otto Schumacher tố cáo với Đức. Otto là loại nội gián của mật thám Đức cài vào Dàn Nhạc Đỏ. Chính hắn đi thuê nhà nơi Wenzel bị bắt. Sau khi toán DNĐ Bỉ bị khủng bố, hắn về Paris cư ngụ tại nhà Arlette Humbert-Laroche, liên lạc viên giữa Robinson và Leopold Trepper. Tháng 11-1942, mặc dù Leopold cấm nhưng hắn vẫn xuống Lyon liên hệ với Springer và Germaine Schneider. Tháng 12, hắn quay lại nhà Arlette và nhờ cô này liên lạc với Robinson. Arlette lúc đầu lưỡng lự nhưng sau lại nhận lời. Cả Arlette cũng như Springer và Robinson đều bị bắt và hi sinh...
Arlette Humbert-Laroche là thành viên của Dàn Nhạc Đỏ, say mê tên chỉ điểm của Gestapo mà không biết... Cô là một thanh nữ đáng yêu, tế nhị, đã để lại nhiều bài thơ hay (Năm 1946 nhà xuất bản Sự thật (Editions Realites) cho ra mắt bạn đọc tập thơ này do Charles Vildrac đề tựa với những ý chính như sau: Ngay vào mùa hè 1941 cô đã cho Vildrac đọc thơ của cô để xin ý kiến... Đến cuối 1942 cô để cho người gác nhà của Vildrac mnột phong bì to đựng tất cả những bài thơ của cô để Vildrac giữ hộ, mà không nói rõ lí do, cô cứ để cho Vildrac suy đoán. Anh không được gặp lại cô nữa...”).
Có lẽ Arlette cảm thấy số phận mình như thế nào cho nên mới viết vào mùa xuân năm 1939 những vần thơ như sau:
            Moi aussi, je voudrais
            Laisser mon parfum
            Sur la Terre
            Et faire en sorte que les hommes
            Mes frères
            Se souviennent de moi...
Tạm dịch:
            Em cũng muốn để hương lại
            Trên thế gian
            Để làm sao những con người
            Những anh chị em
            Mãi mãi nhớ đến em...
 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.11.2013 03:14:21 bởi hoi_ls>
Người tù đặc biệt
 
Ngày 25-11, sau khi hỏi cung Leopold lần đầu, Giering phải lo giam giữ tù nhân ở đâu và như thế nào nhằm đảm bảo yêu cầu kế hoạch của ĐĐN.
Phải giam ở chỗ khá cách biệt không để ai biết người bị bắt, không để nó trốn và thông tin ra ngoài.
Điểm cuối này thật là khó, vì ĐĐN chưa bao giờ bịt hết thông tin, nhất là đối với DNĐ. Trước hết phát xít còn dùng lại một số cai ngục trước chiến tranh. Cho nên số lưu dung này có người thông tin cho kháng ch iến, chuyển hộ thư từ mặc dù họ không tham gia vào một tổ chức. Vì thế mà DNĐ mới nám được tình hình những thành viên bị bắt giam tại nhà tù Saint-Gilles Prison ở Brussels, sau vụ Atrebates.
Ở Pháp, anh em DNĐ bị bắt đều bị tập trung vào một khu đặc biệt của nhà tù Fresnes. Khi phải cho tù nhân di chuyển, chúng bắt tù nhân đội mũ chụp chỉ để hở mắt. Quản trị nhà tù cũng không được biết nhân thân tù nhân. Các cơ quan khác của Đức cũng không được hay biết. Mỗi nhân viên ĐĐN phụ trách một hoặc vài tù nhân và không được thắc mắc về những tù nhân khác. Sau khi bắt được Leopold, các biện pháp phòng ngừa còn được tăng lên nữa.
Từ khi đến đóng tại Paris, đội đặc nhiệm lấy trụ sở của An ninh Pháp ở phố Saussaies làm trụ sở. Ngày 26-10, chúng đưa Leopold xuống tầng trệt là chỗ có những phòng kho bạc của cảnh sát Pháp trước đây. Giering chuyển hai phòng lớn ở đây thành xà lim giam Leopold. Phòng thứ nhất chia làm hai có lưới sắt và một cửa. Một nửa dùng làm nơi canh gác của hai tên SS ngày đêm coi Leopold, nửa kia làm nơi giam tù nhân đặc biệt này, có một giường nhỏ, một bàn và hai ghế. Cửa ra vào bọc thêm một vỏ sắt.
Sau hai ba ngày, Berlin ra lệnh cấm lính gác nói hoặc nghe tù nhân nói.
Sau khi Leopold được đưa xuống tầng trệt, Giering giới thiệu với Leopold: Willy Berg, là người chuyên trách lo toan cho Leopold. Hắn có quyền đến thăm tù nhân bất cứ lúc nào, chuyện trò bất cứ việc gì và ngày ba bữa cơm hắn lấy từ một trại lính gần trụ sở mang vào. Hàng ngày Berg dẫn Leopold đi dạo ở vườn trong.
Willy Berg sẽ giữ một vị trí đặc biệt trong chuyện sau này...
Người nhỏ, lùn, mặt đày và tay chắc đủ để đấm khi cần, trạc năm mươi. Trí thông minh vừa vừa, có trình độ đóng những vai phụ một cách cần mẫn của Giering. Là bạn thân tín của trưởng ĐĐN, hắn là người duy nhất biết những bí mật và tham vọng của Giering, là tên duy nhất nắm được đầy đủ công việc của đội và kế hoạch của Trò Cao thủ. Là cảnh sát nhà nghề, hắn bước vào nghề từ thời Hoàng Đế, tiếp tục làm cảnh sát thời cộng hòa Weimar rồi phục vụ tiếp cho phát xít. Hắn thường được giao những công việc khó khăn và mờ ám: Ví dụ như hắn đã từng đi bảo vệ cho Ribbentrop khi tên ngoại trưởng phát xít này sang Moscow kí hiệp ước Đức - Xô.
Trong một số sách nói về Dàn nhạc đỏ có loan truyền tin Willy Berg là gián điệp đôi đã thông tin cho Leopold mọi chủ trương của ĐĐN.... Không hề có chuyện như thế.
Điều có thật là ngay từ phút đầu tiên tiếp cận Berg, Leopold đã cảm thấy có thể lợi dụng được tên này vì hắn ta một con người có nhược điểm và rất đau khổ, cá nhân y trải qua những thảm cảnh. Hai đứa con bị chết vì bệnh bạch hầu, đứa thứ ba chết vì bom ném trúng nhà của hắn; vợ hắn đã phát điên đòi tự tử vì những thảm họa gia đình và phải vào nhà thương điên. Vậy về tâm tư hắn rất khổ. Vào cuối 1942 này, cũng như bạn hắn là Giering, hắn cảm thấy Đức khó chiến thắng. Hắn tự xác định trong khuôn khổ ĐĐN đường lối cư xử theo hai phương án: Có thể chiến tranh sẽ kết thúc bằng chiến thắng của Liên Xô và Đồng minh, trong tình thể đó hắn đã đối xử tử tế, đã tạo điều kiện thuận lợi cho Leopold trong Trò Cao thủ: hoặc nếu phát xít chiến thắng, thì hắn cũng sẽ là anh hùng trong cuộc chiến đấu “chống cộng sản lật đổ”. Berg mới vào đảng quốc xã và tuy mồm nói những quan điểm phát xít cực đoan, nhưng bụng rất hoài nghi chính trị. Qua những ý kiến phát biểu của hắn. Leopold có thể tóm gọn quan điểm chính trị của Berg như sau: “Tôi đã từng là cảnh sát thời Hoàng Đế, đã từng là cảnh sát của Cộng hòa Weimar, tôi nay là cớm của Hitler, ngày mai tôi cũng có thể làm đầy tớ cho chế độ của Thaelmann”.
Trong những ngày đầu bị giam, với lí do muốn học tiếng Đức cho tinh thông, Leopold nhờ Berg chuyển nguyện vọng của mình xin cấp trên cho cuốn từ điển, giấy, bút chì, báo chí. Đề nghị trên được chấp nhận. Leopold rất hi vọng - hi vọng hơi hão huyền - sẽ gửi được báo cáo cho Trung tâm. Khi nào và bằng cách nào chuyển háo cáo đó thì chưa biết. Lúc này được những thứ vật liệu như thế đã là một nguồn động viên to lớn đối với một người tù: có giấy bút để viết, biết được tình hình thế giới.
Rõ ràng, anh không thể viết tự do theo ý muốn, vì ngày đêm anh bị giám sát. Lính gác ngày thay nhau hai lần vào lúc 7 giờ và 19 giờ. Thay đổi lính liên tục, không bao giờ có người gác cũ... Chúng theo dõi liên tục hàng mấy tiếng đồng hồ không rời một giây... Muốn đạt được mục đích, Leopold phải tìm cách đòi lính gác chỉ là một số thôi thì mới liên hệ được với chúng.
Anh quyết định nói với Giering...
- Thật ra ông làm trái ý muốn của ông là tuyệt đối giữ bí mật việc bắt giữ tôi. Trong có 15 ngày mà hơn 50 lính gác đã thay nhau canh giữ tôi, chỉ một lính ba hoa rằng trong trụ sở phố Saussaies có một “tù nhân đặc biệt” thì đâu còn là bí mật như ông muốn nữa.
Tên trưởng ĐĐN bị nhận xét của Leopold mở mắt ra cho nên từ đó hắn chỉ bố trí 6 tên thay nhau canh gác Leopold thôi.
Quan hệ giữa Leopold và Berg dần dần trở nên thân mật hơn. Trong những cuộc dạo chơi ở vườn trong, tí một hắn nhả ra ít tin tức về ĐĐN, nhất là về ý đồ của đơn vị này. Berg thậm chí để lộ ra tình hình của bọn trùm cảnh sát tại thủ đô Berlin nữa.
Có lần Berg khôn khéo nửa nạc nửa mỡ nói đùa:
- Này ông Otto, tôi mong chúng ta sẽ thành công và chiến tranh sớm kết thúc... Nếu chẳng may có toán lính Đức đưa ông ra pháp trường, tôi sẽ đến xiết tay ông để vĩnh biệt ông!
Leopold trả lòi Berg cũng theo lối đó:
- Nếu chẳng may có toán lính Xô viết đưa ông đứng trước cọc hành hình, thì tôi hứa với ông rằng tôi cũng sẽ đến bắt tay để chào vĩnh biệt ông.
Vào nửa cuối tháng 12, nhiêu tù nhân DNĐ định tự sát ở nhà tù Fresnes. Berlin ra lệnh trói giật cánh khuỷu các tù nhân lại. Với Leopold chúng ưu tiên là trói đàng trước. Trong hoàn cảnh như thế không thể viết được... Leopold phàn nàn với Berg. Hắn động lòng nói rằng hắn thông cảm khó ngủ lắm khi tay bị trói, rồi hắn dạy cách lách tay ra khỏi còng. Trong những đêm khuya, lính gác cứ tưởng Leopold không thể hành động gì nên chúng ngủ khì khì, lúc đó Leopold mới viết, viết trên những mẩu giấy để báo cáo.
Leopold xin Berg đổi giường vì hẹp và đệm cứng quá, Berg đồng ý và cho một giường sắt, có đệm tốt. Leopold lợi dụng bốn chân giường sắt rỗng làm nơi giấu giấy tờ.
Sau đó ít lâu, ba sĩ quan quân y SS đến khám nghiệm toàn thân Leopold... Berg giải thích cho Leopold:
- Khám toàn thân ông để nắm chắc tình hình sức khỏe của ông xem ông có thể chịu đựng nổi kiểu hỏi cung “tăng cường” hay không... Bác sĩ đã kết luận sau khi khám toàn thân ông rằng ông không phải là người Do Thái và ông Giering rất vui về chuyện này...
Sau này Leopold mới hiểu vì sao Giering có kết luận như thế: hắn cho rằng kết luận Leopold xuất thân là “một người Aryan quý báu” thì Berlin mới dễ chấp nhận kế hoạch Trò Cao thủ của y. Trong giới lãnh đạo cấp cao làm sao họ có thể duyệt được một kế hoạch có một tên Do Thái hợp tác, làm sao họ tin được lời nói của kẻ thuộc “nòi giống hạ đẳng”.
Giering cần một người Aryan và vì thế những lời giải thích của hắn đượm nhiều hài hước. Có một lần Leopold đã nói với Giering rằng anh sinh trong một gia đình Do Thái, khi mới sinh ra cha mẹ đã cắt bao quy đầu cho anh. Câu trả lời của Giering khiến cho Leopold phải ngạc nhiên:
- Anh làm tôi chết cười... Đó là chứng cứ rằng tình báo Xô viết đã làm thật là giỏi! Anh biết không, khi bắt đầu chiến tranh, cơ quan tình báo quân sự Đức có cử sang Hoa Kì những điệp viên đã hị cắt bao quy đầu để họ công tác thuận lợi. Khi họ bị bắt, thủ đoạn này đã bị phát hiện vì bao quy đầu mới bị cắt!
Giering đã bị ngâm tẩm quá nặng bởi những truyện tình báo đến mức hắn cho rằng Leopold đã được các chuyên gia y tế Nga cắt bao quy đầu.
Sau đó nhiều lần Leopold vẫn cắt nghĩa cho Giering rằng anh là người Do Thái. Do đó mới có suy luận rằng một người rơi vào tay Gestapo mà tuyên bố như thế chỉ là nói dối mà thôi...
Giering quyết định cho đi xác minh. Tại nhà bà Grossvogel ở Brussels họ tìm được một hộ chiếu cũ mà Leopold dùng ở Palestine năm 1924 mang tên thật của Leopold là Leopold Trepper, sinh ngày 23-2-1904 tại Novy-Targ. Tháng 12-1942, nhân viên ĐĐN đã đến Novy-Targ tìm dấu vết của Leopold. Bọn này báo cáo về ĐĐN rằng chúng không phát hiện được một dấu vết gì bởi vì thị tứ này đã “quét sạch loại mối Do Thái và nghĩa trang đã bị cầy xới lên rồi...”.
Sau xác minh, Giering càng tin Leopold không phải là người Do Thái, rằng khi được phái sang Palestine, cơ quan tình háo Xô viết đã tạo ra nhân vật Do Thái, Trepper chỉ là bí danh.
Đối vỏi Leopold, điều quan trọng là Gestapo chưa biết tên chiến đấu của anh: Leiba Domb.
ĐĐN giữ bí mật theo một phương pháp rất lạ: trên cửa xà lim nhốt Leopold, chúng treo một cái bảng “chú ý, tù nhân đặc hiệt, cấm vào”, chỗ này hàng ngày cả chục người qua lại, cho nên sau này Leopold được biết trong ngụy quyền khắp Paris loan tin đồn về “một tù nhân Xô viết đặc biệt”.
Còn số lính gác tuy rất kỉ luật theo lối Đức nhưng vẫn không khống chế được tính tò mò của chúng. Dù bị cấm trao đổi, trò truyện với Leopold, nhưng rồi chúng vẫn không giữ được kỉ luật. Lợi dụng đêm khuya chắc không còn ai bất chợt đến, chúng trò truyện có khi hàng giờ với người tù mà chúng canh giữ, qua đó giúp cho Leopold một số điều bổ ích. Hai trong số lính gác là hai tên ngu dốt, còn những tên khác tuy tham gia SS nhưng không mù quáng nhắm mắt trung thành với chủ nghĩa phát xít. Theo lệnh trên, chúng có thể giết, bắn hạ ngay Leopold, nhung dù sao chúng cũng có ít nhiều cảm tình. Có tên thổ lộ khi khấn trời hắn cầu mong trời giải thoát cho linh hồn Leopold! Anh ta thậm chí còn xin chuyển giúp thư của Leopold gửi cho gia đình...
 
0
Sẽ sớm trả thù
 
Giering hoàn toàn thất bại về việc lập quan hệ với Đảng cộng sản Pháp mà không qua Leopold. Để tránh may rủi khi phải dùng Leopold, hắn phải tìm đến con bài cuối cùng còn lại là Katz hoặc Grossvogel.
Trong suốt tháng 12, ĐĐN ra sức tấn công Grossvogel vì chúng cho rằng Grossvogel là phó của Leopold thì phải biết phương sách quan hệ với lãnh đạo ĐCSP. Còn Grossvogel thì kiên quyết giữ vũng thỏa thuận giữa anh và Leopold là anh chỉ phụ trách buôn bán kinh doanh trong DNĐ chứ không biết gì khác. Giering quyết dịnh dùng đến những thủ đoạn đểu giả, tàn nhẫn của phương sách khống chế...
Chúng tuyên bố hoặc Grossvogel khai báo, hoặc chúng sẽ giết chết vợ con anh trước mặt anh. Anh không dao động, thái độ bình tĩnh và can đảm của anh khiến cho nhiều tên Đúc ác ôn cũng phải kiềng. Anh trả lời ĐĐN:
- Các ông có thể bắt đầu giết chúng tôi từ tôi, vợ tôi hoặc đứa bé, điều đó không có gì là quan trọng. Các ông sẽ không thể biết gì hơn.
Giering và bọn cảnh sát mật biết rằng không thể dọa nạt được Grossvogel cho nên chúng đành phải ngừng tra tấn anh. Về phần Leopold, anh tuyên bố thẳng với Giering rằng nếu còn hành hạ Grossvogel, thì anh sẽ không hợp tác vào Trò Cao thủ bởi vì Grossvogel, là con người tuyệt đối cần thiết cho kế hoạch và trước sau Trung tâm cũng sẽ biết tình hình.
Thất bại với Grossvogel, ĐĐN chuyển sang đánh Katz vì chúng hi vọng dùng anh làm liên lạc viên với Juliette. Sau này vào tháng tư năm 1943, khi gặp nhau tại nhà tù Neuilly, Katz đã kể hết cho Leopold, thật là rùng rợn không kém địa ngục.
Vì Raichmann khai tầm quan trọng của Katz, cho nên ĐĐN ra sức khai thác Katz. Bước đầu chúng tán tỉnh dụ dỗ Katz gặp Juliette mang thư của ĐĐN đưa cho Juliette để bà này chuyển cho lãnh đạo ĐCSP...
- Otto là thủ trưởng của tôi - Katz trả lời bọn đặc nhiệm - Tôi chỉ tuân theo lệnh của ông đó mà thôi...
Dụ không được, ĐĐN lại dùng thù đoạn dọa giết vợ con Katz đang bị Raichmann canh giữ ở lâu dài Billeron. Lại vô vọng, vì Katz bác bỏ yêu cầu của Giering.
Thế là đến giai đoạn tra tấn liên miên. Chủ trương là của Reiser, phụ trách ĐĐN ở Paris. Bọn Đức thay đổi chiến thuật bằng cách đòi Katz khai hết những điều anh biết về DNĐ vì chúng cho rằng anh này biết rất nhiều. Thực tế thì Katz biết hết những bí mật quan trọng. Chúng tra tấn anh liên tiếp đến một chục ngày; rồi tên Eric Jung tên đồ tể của ĐĐN, bắt đầu ra tay. Vì Katz không đầu hàng, nên Berlin phái một toán đặc biệt về hỏi cung mạnh, cao cấp về tra tấn, những tên vô lại tay đầy máu... đến trợ lực. Katz một mực trả lời theo bài bản đã bàn với Leopold:
- Xin hỏi Otto, ông đó sẽ cho các ông biết, còn tôi tôi chỉ là một nhân viên quèn của Simex, tôi không biết bí mật nào cả...
Rồi vì kiệt sức, anh tự sát bằng cách cắt tĩnh mạch, nhưng bọn SS ngăn lại.
Giering từ Berlin về thấy tình trạng của Katz quá tồi tệ, liền tìm cách sửa sai của cấp dưới. Y biết rằng Katz sẽ có ích cho kế hoạch Trò Cao thủ và một khi chưa có lệnh của Leopold, Katz sẽ không khai háo gì.
Y đủ sáng suốt để nhận thức được với một con người chịu được những đòn tra như thế, dám tự sát, sẽ là một con người làm việc được cho y. Y phái Berg đến báo cho Leopold ràng chủ trương tra tấn Katz không phải là của hắn, rồi hắn yêu cầu Leopold bảo Katz phải đến Juliette. Với ý đồ đó, y quyết định cho Katz gặp Leopold, do một mình Berg cùng dự, không có phiên dịch. Vì Katz không nói được tiếng Đức, còn Berg không biết tiếng Pháp, cho nên Leopold đề xuất cho dùng tiếng Yiddish là thứ tiếng pha giữa tieng Hebrew với tiếng Đức. Giering chấp nhận mà không biết rằng y đã tạo cho Leopold một cơ hội quý giá: trong khi trao đổi, Leopold sẽ dùng một số từ hoàn toàn là Hebrew để nói cho Katz biết ý kiến khuyên giải và chỉ thị của mình.
Mấy ngày chưa cho gặp nhau vì Giering muốn để cho những vết thương trên người Katz thành sẹo đã...
Leopold không bao giờ quên được lần gặp Katz. Chúng đưa anh vào căn phòng có Berg và Leopold đang chờ. Mới xa nhau có một tháng thôi mà bây giờ không nhận nổi Katz. Anh đã biến thành con người khác. Anh đến gần rồi ôm chầm lấy cổ Leopold rồi anh khóc. Anh không có kính và quanh mắt anh bị nhiều vết rạch...
- Anh hãy nhìn em đây này, chúng đã hành hạ em: chúng đâm kính vào mắt em. và anh hãy xem hai bàn tay em!
Katz đưa hai bàn tay nhàu nát, mất hết móng, quấn bao nhiêu băng. Anh tiến sát tai Leopold thì thầm vào tai Leopold rất tự hào:
- Em không khai một lời nào!
Berg đứng xa xa quan sát kỹ cảnh tượng, nói xen vào:
- Không phải chúng tôi đâu, chính là tên Jung tàn ác đấy!
Làm cho Katz bình tĩnh, động viên anh, tăng thêm dũng cảm cho Katz trong tình trạng như thế thật là khó biết bao, Leopold nhẹ nhàng nhưng kiên quyết nói với Katz:
- Em hãy bình tĩnh, Katz ạ, sẽ sớm trả được mối thù này!
Hai người ngồi với nhau khoảng hai tiếng. Berg nhiều lần phải ra trả lời điện thoại. Lợi dụng những lúc đó, Leopold căn dặn Katz cung cách khi đến nhà bà Juliette phải nói những gì.
Cuối giờ, mặt Katz rạng rỡ hẳn lên. Hai đồng chí lại có khả năng hành động và họ lấy lại được ý chí giành lấy thắng lợi.
 
0
Bốn lần gặp Juliette
 
Bà Juliette Moussier lúc nào cũng trung thành với vị trí của bà. Bà đã trụ vững. Rõ ràng đó là biểu hiện của lòng dũng cảm khác thường. Nằm trong tay quân thù mà không lùi bước đã là một thành tích; không dao động, đối mặt và giữ vị trí khi đã biết mình bị giám sát, khi bắt bớ vây quanh mình thường xuyên, bất cứ lúc nào cũng có thể bị kẻ thù đến bắt, đó mới là một chiến tích phi thường.
Bà Juliette biết rằng người ta còn cần mình, bà sẽ đi đến tận cùng với tư cách đảng viên đích thực. Leopold đã quy ước với bà rằng trong phạm vi phòng ngừa sự biến, bất cứ ai do Leopold cử đến đều phải có ám hiệu là cái khuy đỏ (ta nhớ lại Raichmann thất bại vì không biết ám hiệu này). Leopold không phóng đại sự thật, anh đã nói trước với bà rằng hiệu kẹo chắc chắn bị giám sát nhưng rất cần rằng bà phải ở lại. Ngoài ra Leopold cũng còn dặn bà cắt quan hệ với kháng chiến. Fernand Pauriol tiếp tục quan tâm đến bà.
Theo chủ trương thỏa thuận hôm Katz gặp Leopold có Berg chứng kiến, Katz phải vờ “đi”. Lúc trở về, anh sẽ kể lại rằng Juliette đã tiếp anh, nhưng vì mất quan hệ với ĐCS cho nên bà còn phải đi tìm sau một tuần sẽ trả lời kết quả. Katz đi lần thứ hai mang về sẽ trả lời: quan hệ của Juliette bằng lòng gặp, nhưng họ sợ và đòi phải là Leopold mang thư đến. Tất cả lịch trình đó nhằm buộc Giering phải để Leopold gặp bà Juliette, có như thế Leopold mới đưa được báo cáo về Trung tâm.
Tại sao phải đi đi lại lại như vậy? Để làm cho Giering và các sếp của tên này ở Berlin yên tâm...
Giering lưỡng lự về việc có nên hay không nên để Katz tham gia Trò chơi, hắn tâm sự với Leopold:
- Katz là sứ giả lý tưởng bao nhiêu trước khi hắn chuyển sang tay chúng tôi, thì nay tôi lại ngại hắn chơi xỏ chúng tôi bấy nhiêu... Ai mà có thể vững tâm đối với một người đã từng bị hành hạ quá tệ như thế, rằng hắn sẽ không làm trái lại với điều người ta yêu cầu hắn?
Về bản chất, tính toán của tên này thật là một lôgic hoàn hào. Leopold phải cố gắng giảng giải cho hắn yên tâm:
- Như ông biết, Katz không có tâm địa phản bội đâu, ông ta nhiệt liệt tán thành kế hoạch hòa hình riêng rẽ, chính chỉ điều đó đã hướng ông ta đi theo con đường ấy...
Giering vẫn chưa hết dè dặt, hắn bắt Katz phải kí cam kết nếu trốn, hoặc tìm cách báo cho bà Juliette thì vợ, con và Leopold sẽ bị bắn chết.
Katz kí liền cam đoan.
Nhiều ngày trước khi Katz đến hiệu kẹo, ĐĐN chuẩn bị nhộn nhịp. Reiser tổ chức một kế hoạch khá lớn: quây khu vực lại, các toán Gestapo đi xe đen tuần tra các phố xung quanh.
Kế hoạch diễn ra trôi chảy: Katz có Berg đi kèm đã vào hiệu kẹo; anh ra về có gói kẹo cầm tay và kể lại cho Giering như đã bàn với Leopold: sẽ gặp lại bà Juliette vào thứ bảy sau. Giering rất hài lòng và quyết định lần sau Katz sẽ chuyển đến hiệu kẹo một báo cáo gửi cho Trung tâm những tin tức đáng mừng: mọi việc đều tốt đẹp, lưới DNĐ vẫn toàn vẹn, có thể tiếp tục theo đường đã định.
Leopold thuyết phục được Giering cho anh đề nghị với Cục trưởng cắt mọi liên hệ trong một tháng vì Leopold không hành động khác thế nếu anh còn được tự do. Thời hạn phụ đó nhằm tạo cho bà Juliette có đủ thời giờ để thoát thân (Leopold sẽ chỉ thị cho bà khi anh gặp bà). Việc liên hệ giữa bà với Leopold có thể như hẹn vì Katz lần thứ hai trở về nói rằng điều kiện dứt khoát phải là đích thân Leopold mang báo cáo đưa cho bà.
Bản báo cáo của Leopold đã viết xong. Trong điều kiện không bị tù, viết báo cáo cho Trung tâm chỉ vài giờ là đủ. Nhưng trong tù phải chơi trò ú tim với bọn gác tù thì khác. Anh phải viết ban đêm vì cần phải tránh tên Berg tò mò bất thần xục tới, chứ bọn gác tù thì đã quen với việc anh viết “để học tiếng Đức”. Chắc nhất là viết vào lúc hai ba giờ sáng là lúc bọn gác tù cũng ngủ gục trên bàn (còn anh vì mất ngủ nên bọn gác cho bật đèn suốt đêm để anh đọc sách, báo). Anh viết trên những mẩu báo dùng pha tiếng Yiddish, Hebrew và Ba Lan. Nếu có bị tóm bản báo cáo đó, trong khi địch dịch ra để đọc được, anh đã có đủ thời giờ để ứng phó.
Để thuyết phục Trung tâm, Leopold phải lược lại tình hình theo thời gian từ ngày 13-12-1941. Phải báo cáo về các vụ bắt bớ, kể rõ thời gian, địa điểm, hoàn cảnh. Tình hình, tình thần, khí tiết của những người bị bắt. Phải kể đến các điện đài bị bắt, những điện bị dịch ra, những khóa mật mã bị khám phá. Lại phải báo cáo đầy đủ về kế hoạch Trò Cao Thủ: mục tiêu chính trị, quân sự, phương tiện sử dụng. Cuối cùng là danh sách toàn bộ các đồng chí có thể sẽ bị bắt.
Phần hai báo cáo, Leopold đề xuất hai miếng đánh trả:
Trường hợp 1: Trung tâm xác định cần tiếp tục Trò Cao thủ và chủ động chơi. Cục trưởng gửi vào ngày 23-1-43 một điện chúc mừng lễ Hồng quân và ngày sinh của Leopold.
Trường hợp thứ nhì: Trung tâm thấy không cần tiếp tục Trò Cao thủ. Trung tâm tiếp tục trong 1, 2 tháng gửi điện để đừng tỏ ra phản ứng thô bạo với bản báo cáo của Leopold.
Ngoài ra Leopold gửi một thư riêng cho Jacques Duclos để giải thích về tình trạng nghiêm trọng. Leopold xin đồng chí chuyển hộ bản báo cáo của anh cho Dimitrov, đồng chí này sẽ chuyển báo cáo của Leopold đến lãnh đạo ĐCS LX. Leopold còn nêu danh sách 20 người cần có biện pháp bảo vệ tức thời. Đứng đầu danh sách là Pauriol và Juliette.
Trong thời gian đó, ĐĐN chuẩn bị cho Katz gặp Juliette lần thứ hai. Giering không biết viết báo cáo cho Trung tâm bằng thứ mật mã nào. Kent khai DNĐ khi gửi điện qua trung gian ĐCS phải dùng loại mật mã đặc biệt. Leopold thẳng thừng chối cãi. Cuối cùng Giering quyết định bức điện viết bằng tiếng Nga và dùng mật mã của Kent.
Đây cũng là một dấu hiệu báo động cho trung tâm vì các điện đều dùng trước kia bằng tiếng Đức, viết bằng mực bí mật và ĐCS dùng mật mã riêng của ĐCS.
Cuộc gặp lần thứ hai diễn ra theo bài bản cũ: vây khu vục, giám sát. Giering tin rằng Juliette sẽ chấp nhận tài liệu của Katz. Bà ngạc nhiên khi thấy Katz trở lại với bức điện và một gói kẹo... Với nụ cười hóm hỉnh, Katz kể rằng các đồng chí rất lo lắng về số phận Leopold; những tin đồn về việc anh này bị bắt bắt đầu lan ra. Juliette đã được lệnh đình chỉ nhận những tài liệu do chính Leopold trao cho. Dù thế nào thì Katz đã quy ước việc Juliette gặp Leopold.
Rất lo lắng, Giering hỏi ý kiến Leopold, anh nói:
- Điều này không có gì là lạ. Việc bắt tôi đã xảy ra hai tháng rồi, từ đó đến nay không ai gặp tôi ở đâu, tôi không xuất hiện bất cứ chỗ nào, liên lạc với ĐCS bị cắt đứt. Tôi nhiều lần đã dự báo với ông sẽ xảy ra tình huống như thế. Ông hãy đứng vào vị trí đảng viên cộng sản Pháp. Vào địa vị của họ tất nhiên họ sẽ rất nghi ngờ. Tất cả điều đó đều do lỗi của ông. Ông không chịu cho tôi tham gia Trò Cao thủ, bây giò hỏng hết rồi.
Giering trả lời Leopold với giọng thật thà rằng y đã muốn cho Leopold tham gia từ đầu, nhưng các sếp của y ở Berlin không nghe mặc dù trong nhiều bản báo cáo y đã nhận định Leopold có thiện chí. Berlin ngại ĐCS dùng vũ lực để giải thoát cho Leopold.
Leopold phát biểu:
- Dù thế nào đi nữa, trong một tuần lễ nữa thôi nếu tôi không được gặp Juliette thì Trò Cao thủ sẽ đi tiêu. Phần tôi, tôi xin quay lại nhà tù Fresnes.
Sau lần gặp này, Giering đi máy bay về Berlin. Vài ngày sau y quay lại với sự đồng ý của cấp trên.
Trong thời gian y đi vắng, Leopold đã nói một cách thân mật với Berg là người được Giering trao cho trách nhiệm thăm dò ý đồ thật của Leopold. Qua những lần nói chuyện đó, Leopold nắm được rằng Himmler rất quan tâm đến Trò Cao thủ. Đối với Leopold, anh cho rằng vụ này có vẻ rất xấu.
Kế hoạch Juliette phải thành công. Leopold nhận định rằng nếu kế hoạch thất bại thì tất cả tù nhân trong vụ Dàn Nhạc Đỏ sẽ bị thủ tiêu.
Suốt cuộc đời Leopold bao giờ cũng hết sức bảo vệ sinh mạng con người, nhưng trong canh bạc này, anh tin rằng anh có lí đối với sinh mạng của các đồng đội. Có những lúc tất cả trách nhiệm đổ lên đầu của một người. Anh không mong đợi có thể xin ai cho ý kiến. Anh đã chọn và ba chục năm sau, anh tự hào là đã chọn đúng.
Chiều thứ năm - hai ngày trước khi gặp Juliette - anh đã nói chuyện lâu với Giering. Đối với y, đây là mưu toan cuối cùng như y khẳng định với Leopold. Y thú thật rằng ở Berlin y đã gặp rất nhiều khó khăn khi xin chủ trương về cuộc gặp này và tất cả trách nhiệm sẽ do y phải gánh. Y nói:
- Tôi rất quan tâm đến thành công của cuộc gặp này. Bởi vì nếu chúng ta lấy được lòng tin của đảng, quan hệ với Trung tâm sẽ tốt đẹp hơn. Bàn về các giả thuyết để ông xử lí: Tôi loại trừ khả năng phản phúc của ông. Tuy nhiên nếu ông chưa hoàn toàn tin tưởng vào khả năng có hòa bình riêng rẽ, tôi sợ rằng ông lợi dụng cuộc gặp Juliette để báo trước bằng cách này hay cách khác cho bà ta. Tôi xin nói trước với ông rằng nếu ông trốn, hoặc báo trước cho Juliette thì tất cả tù nhân thuộc DNĐ ở Bỉ và ở Pháp đều sẽ bị tôi cho bắn hết.
Leopold nổi khùng:
- Đe dọa như thế đối với một người mà ông định cộng tác để kiến lập nền hòa bình riêng rẽ khiến tôi phải nghĩ rằng tốt hơn hết là đi ngay đến tình huống mà tôi chờ từ lúc tôi bị bắt. Ông hãy đưa tôi ra bắn đi!
Y không dám dọa Leopold nữa. Y đã thấy rõ ràng, nhưng vì chót huênh hoang với các sếp sẽ giành được thắng lợi to lớn cùng với Leopold, cho nên y đành phải chịu may rủi cho Leopold gặp Juliette. Nhưng y vẫn cảnh giác.
Đêm hôm trước ngày gặp, Leopold không sao ngủ được. Anh dự kiến tất cả tình huống có thể xảy ra. Anh nghĩ ràng Giering không dám khám người anh vì nếu làm như thế, anh sẽ không tham gia kế hoạch của y nữa. Anh sợ “bọn bạn” của Giering khiêu khích. Tên trùm Gestapo Paris là Boemelburg và tên sếp Đội đặc nhiệm Paris đang mong Giering thất bại. Chúng có trách nhiệm bảo vệ an ninh cho chuyến gặp gỡ này. Dễ dàng chúng có thể giả vờ có người chạy trốn rồi bắt Juliette. Berg đã báo cho Leopold rằng nhiều thành viên ĐĐN cho rằng cứ bắt Juliette là giải quyết được vấn đề.
Cuối cùng Leopold quyết định đi gặp nhưng tay không. Nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, anh sẽ hẹn Juliette gặp lần nữa để chuyển hai tài liệu, của Giering và của Leopold.
Chiều thứ bảy này, trên sân trụ sở phố Saussaies y như có chiến tranh vậy. Bao nhiêu nhân viên Gestapo phải đi vây khu phố và quảng trường Chatelet. Berg phải vào hiệu kẹo cùng với Leopold, nhưng Leopold ngại có thể có những nhân viên khác ở trong cửa hiệu.
Juliette rất sung sướng được gặp lại Leopold. Họ ôm hôn nhau, lợi dụng lúc đó Leopold rỉ tai Juliette rằng anh sẽ quay lại gặp bà vào thứ bảy sau để trao một tài liệu, bà phải chuyển tài liệu đó ngay sau khi Leopold ra khỏi cửa hiệu kẹo. Hai người phải trốn biệt cho đến khi chiến tranh kết thúc. Juliette ghi nhận hết một cách bình tĩnh và tự nhiên và đưa cho Leopold một phong chocolates.
Khi trở về Saussaies, Giering rất hoan hỉ. Hắn ngạc nhiên khi Leopold nói chưa chuyển được tài liệu. Leopold giải thích:
- Juliette cho tôi biết bà không còn phụ trách việc liên lạc nữa, nhưng một đảng viên mà bà không quen biết có mặt ở cửa hiệu và đã kiểm tra thấy không có chuyện gì. Lần hẹn sau, bà có thể nhận tài liệu.
Lập luận này khá lôgic nên làm cho Giering yên tâm, hắn tỏ ra mãn nguyện về ba cuộc gặp Juliette.
Kì gặp cuối cùng và quyết định được ấn định vào thứ bảy cuối tháng giêng năm 1943, ngay sát giờ sắp đóng cửa hiệu. Leopold chọn ngày giờ đó là có ý, bởi anh biết cửa hiệu nghỉ chủ nhật và thứ hai, nữ đồng chí Juliette sẽ có đủ thời giờ để trốn thoát.
Đêm hôm trước, anh lấy bản báo cáo trong “két sắt” và đơn giản giữ nó trong túi, trên có 1 khăn mùi soa. Giering tìm anh để bàn chuyện một lúc, trong khi “quả bom” đặt cách y chỉ gang tấc.
Việc chuyển bản báo cáo diễn ra khá êm ả, giám sát đã giảm và kín đáo hơn... Leopold luồn vào bàn tay Juliette cả hai tài liệu và dặn nữ đồng chí rằng bức điện đã mã là của bọn Đức, còn bản báo cáo lớn là do Leopold viết, nữ đồng chí chuyển cả hai cho Trung tâm. Anh ôm hôn bà và nhắc lại rằng bà cần trốn. Anh không bao giờ gặp lại nữ đồng chí vì những ngày khó khăn sau chiến tranh đã không cho anh điều kiện gặp lại nữ đồng chí đó.
Anh quay về xà lim, lòng thư thái. Anh tin chắc bản báo cáo sẽ đi đến nơi và sẽ làm cho Trung tâm thay đổi hoàn toàn thái độ. Dù Cục trưởng chủ trương thế nào đối với Trò Cao thủ, nhưng có một điều chắc chắn là kẻ thù không còn khả năng khai thác vô tội vạ những điện đài của DNĐ, nguy cơ bị đầu độc đã được giải quyết.
Anh chỉ còn chờ trả lời mà thôi.
Tuy không hoan hỉ lắm, nhưng Giering nhận xét với Leopold rằng y sung sướng đạt kết quả: Juliette đã nhận bức điện, và y tin rằng nhân viên phản gián Xô viết có mặt ở cửa hiệu kẹo nhất định phải công nhận Leopold vẫn còn tự do.
Giering hài lòng, tốt thôi, nhưng Leopold dự kiến khó giải thích cho y về việc Juliette trốn mất: anh tin rằng ĐĐN sẽ giám sát hiệu kẹo Jacquin.
Việc bà Juliette trốn mất, Leopold suy nghĩ anh không có quyền làm cho bà nguy hiểm lâu dài hơn cũng như Pauriol vậy.
Sáng thứ ba là ngày cửa hiệu kẹo mở cửa, Leopold thấy Giering đến xà lim của anh với vẻ mặt lo lắng. Hắn nói:
- Ông Leopold ạ, cái bà đó không đến làm việc...
- Sau những chuyện bắt bớ này - Leopold giải thích - Đây là một phản ứng tự nhiên. Juliette sợ có chuyện xích mích với nhân viên của ông...
Chuyện đến đây kể cũng khó bào chữa: Giering bắt đầu thấy nghi ngờ. Một tuần sau, hắn cử một đội viên ĐĐN đến hiệu kẹo để hỏi về Juliette, phái viên trở về báo cáo rằng bà giám đốc hiệu kẹo cho biết rằng Juliette nhận được điện tín của một bà cô già ốm nên phải về thăm bà cô đó.
Giering ngày càng lo lắng. Hắn nói với Leopold:
- Ông biết đấy, ĐCS có lẽ ngờ vực rằng ông không còn tự do khi ông đến hiệu kẹo gặp Juliette...
- Tôi nghĩ rằng Juliette đã hành động theo sự thôi thúc của phụ nữ, với phụ nữ ai mà đoán được... Chúng ta chờ phàn ứng của Trung tâm, chỉ điều đó mới quan trọng, chỉ điều đó mói là quyết định - Leopold trả lời.
Giering lắc đầu; Leopold chưa phá tan được ngờ vực của hắn... Điều làm Leopold lo lắng hơn chính là phản ứng của Trung tâm. Nhiều đêm anh phân tích rằng nhận khuyết điểm đâu phải là dễ, phải anh dũng lắm mới dám nhận khuyết điểm, mà Trung tâm suốt trong năm 1942 đã phạm biết bao nhiêu khuyết điểm! Có lúc anh nghĩ có lẽ những khuyết điểm đó cũng có thể do một tên nội gián của Đức chui vào Trung tâm rồi xúi giục Cục trưởng phạm phải những khuyết điểm đến như vậy... Trong những đêm dài mất ngủ anh nghĩ liên miên đến quá khứ rồi anh tiếc Berzin không còn để lãnh đạo Cục Tình báo Hồng quân Xô viết nữa.
Ngày 23-2-1943. Một ngày không thể quên được đối với Leopold...
Giering rất vui vẻ vào xà lim của Leopold với vẻ chiến thắng thông báo cho anh rằng đài của Kent vừa mới nhận được hai bức điện của Cục trưởng; hắn khoe với anh và cho anh đọc:
“Ngày kỉ niệm Hồng quân quang vinh, ra đời và ngày sinh của đồng chí (Leopold định reo lên vui sướng, Trung tâm đã nhận được báo cáo rồi) Cục gửi lời chúc nồng nhiệt nhất. Cục biết ơn công lao của đồng chí, quyết định đề xuất lên Chính phủ tặng thưởng huân chương vũ trang cho đồng chí.”
Và bức điện thứ hai:
“Otto, chúng tôi đã nhận được điện của đồng chí gửi qua các bạn của chúng ta. Mong rằng tình hình sẽ tốt đẹp hơn. Nhận định rằng cần phải đảm bảo an toàn cho đồng chí nên tạm ngừng liên lạc cho đến khi có lệnh mới. Hãy liên lạc trực tiếp với chúng tôi. Sẽ có chỉ thị mới và cụ thể về công tác của lưới của đồng chí trong tương lai. Cục trưởng.”
Leopold không giấu giếm sự vui mừng. Mọi sự cố gắng của chúng tôi sẽ được đền bù; sáng kiến Trò Cao thủ chuyển sang tay Quân đội Xô viết. Đây là thời điểm phục thù!
Giering cũng mặt mày rạng rỡ:
- Thật là hoàn hảo, hoàn hảo, chúng ta có bằng chứng là Trung tâm tin chúng ta!
Cũng thời gian đó, vợ Leopold sơ tán sang Siberia với các con, nhận được điện sau đây của Trung tâm:
“Chồng của đồng chí là một vị anh hùng. Đồng chí đó công tác cho chiến thắng của Tổ quốc chúng ta.”
Kí tên: đại tá Epstein, thiếu tá Polakova, thiếu tá Leontiev.
 
0
Địa ngục Breendonk
 
Địa ngục không kể chuyện của mình ra: người ta sống, ngác ngoải sống, thường thường người ta ở nơi đó. Bao giờ người ta cũng đau khổ ở nơi đó. Những ai chưa nếm mùi Gestapo tàn ác thế nào thì không thể hình dung nổi. Nhưng óc tưởng tượng không thể leo lên đến trình độ ghê rợn được nâng lên thành hệ thống. Đối với những chiến sĩ của Dàn Nhạc Đỏ vượt khỏi địa ngục, trong tâm khảm của họ chỉ còn sót lại những kỉ niệm xương thịt đau xé thường làm cho giấc ngủ của họ không thể ngon lành vì chúng hay hiện lại thành ác mộng. Bánh xe lịch sử vẫn tiếp tục cuốn đi tàn sát và tội ác, diệt chủng và tra tấn. Máu khô nhanh hơn mực in trên trang một các nhật báo. Trong tâm khảm của loài người dần dần mờ đi tiếng gầm rú và tính chất ác liệt của chiến tranh. Thậm chí từ nay trở đi người ta còn mô tả địa ngục có dáng vẻ của cuộc đi chơi về nông thôn. Văn chương, truyền hình và điện ảnh biến cái đê tiện thành cái trong trắng. Những tên tội phạm chiến tranh làm giầu bên những bể bơi chạm chén chúc cho “thời đại đẹp đẽ”.
Cố ý hay vô tình, những tên thày cãi cho tàn bạo ngày nay với số lượng khá đông, chúng đang bênh vực cho chủ nghĩa phát xít hung ác.
Sử gia, đạo diễn cởi cho loại Gestapo - Muller, Karl Giering, Pannwitze, Reiser và đồng bọn chiếc tạp dề đầy máu của bọn đồ tể rồi khoác cho bọn đó chiếc áo lễ phục của kẻ quân tử. Những chiếc găng trắng che những bàn tay hộ pháp đã từng đánh đập, cắt xẻo, làm biến dạng con người rơi vào tay chúng nó. Những kẻ ngây thơ gào lên rằng những con người đó, quan chức cao cấp, quân nhân, chuyên gia phản gián, họ làm theo lệnh chứ sao. Những tên đầy tớ trung thành của phát xít Đức mà ngày nay, người ta giới thiệu với chúng ta như những công dân bình thản, tiến hành các nhiệm vụ hàng ngày một cách điềm tĩnh, chính chúng là những kẻ đã tuân theo mười điều dạy gây tội ác. Toàn thể những nhiệm vụ, trừ một nhiệm vụ mà chúng rất giỏi: đồ tể đẫm máu trong những hầm mà những người hi sinh vì lí tưởng hấp hối! Chúng chỉ là những kẻ thừa hành đơn thuần, chúng chỉ đơn giản làm theo lệnh ư? Ngày nay người ta phục hồi cho chúng. Hãy hỏi những chiến sĩ DNĐ còn sống sót, hãy đề nghị họ kể lại những gì họ đã trải qua. Anh mau vượt giòng thời gian đi. Cách đấy có ba chục năm, đấy là thời Trung cổ, và những tên “quân tử” Gestapo thoải mái thao diễn. Đối với những tù nhân, bảy chữ GESTAPO mãi mãi in đậm vào da thịt họ.
Ngày 7-12-1941, Hitler đưa ra sắc lệnh Nacht und Nebel (Đêm và Sương mù) nổi tiếng: “Trên các lãnh thổ bị chiếm đóng, được phép dùng mọi biện pháp đối phó với ai chống lại Đế chế 3 để thu thập tình báo. Có thể bắn bỏ chúng không cần xét xử.”
Cuối năm 1942, Canaris và Himmler kí một chỉ thị tên là “Đường lối Quốc tế cộng sản”, nội dung cho phép dùng mọi thủ đoạn để khai thác lời khai của nhân viên điện đài, mật mã, thông tín viên bị bắt. Còn đối với các trưởng lưới thì không tra tấn mà phải cố hết sức khống chế và sử dụng.
Đội viên Đội đặc nhiệm đã căn cứ vào chỉ thị kể trên để hành động... Trong suốt thời kì bị chiếm đóng, pháo đài quân sự Breendonk ở Bỉ là một trong những địa điểm chọn lựa theo tính chát man rợ của chủ nghĩa phát xít. Chính nơi đây biết bao nhiêu đồng chí chúng ta đã đau khổ hi sinh.
Breendonk được xây dựng năm 1906 ở cạnh con đường tù Brussels đi Antwerp. Trong chiến dịch 1940, nơi đây là đại bản doanh của vua Leopold III. Ngày 29-8 chuyển nó thành “trại đón tiếp” và ngày 20-9 những tù binh đầu tiên được nhốt vào đây. Lượng tù nhân tăng đều đều (11-1940 mới có 50) và đến tháng 6-1941 đã lên đến nấc mới, khi Đức bắt đầu tấn công Liên Xô.
Tù nhân ăn đói, lao động khổ sai, sỉ nhục, đánh và tra tấn hàng ngày. Từ tháng 9-1941 bọn SS Bỉ canh gác trại. Một trong những tên SS này đón tiếp những tù nhân mới bằng câu: “Đây là địa ngục, còn tao là quỷ dữ”.
Tên này không nói ngoa đâu... Phần lớn tù nhân không được xét xử: người bị Gestapo bí mật cho quá cảnh trại này rồi đưa đi giết. Người khác đến đây để bọn SS tra tấn lấy cung. Buồng hỏi cung nguyên là kho thuốc súng cũ. Bị treo bằng palăng lên trần nhà, tù nhân bị cực hình của thế kỉ trung cổ: kẹp ngón tay, kẹp đầu, tra điện, dí sắt nung đỏ, v.v... Khi tên chúa ngục Schmitt chưa bằng lòng về hỏi cung, liền cho chó xé thịt tù nhân. Khi sơ tán trại, bọn đồ tể đã xóa bằng hết dấu vết tội ác của chúng nhưng đâu xóa nổi tâm khảm của những tù nhân khi họ kể lại để mà viết nên cái nhà tù địa ngục này. Schmitt bị đưa trở lại nhà tù này khi y bị đưa ra tòa án tội phạm chiến tranh. Dĩ nhiên nó chẳng xúc động gì, cho rằng thực tế được giữ đúng (trừ những cảnh khủng khiếp) và xác nhận rằng cái nêm gỗ để đâm người rơi từ cái palăng xuống hơi cao!
Từ khi Efremov phản bội, nhiều đồng chí ở DNĐ Bỉ không có tin tức gì. Điện mật vẫn đánh đi mang tên họ, bọn Đức vờ làm người ta tin rằng các đồng chí đó đã phản bội... Thực ra những nhân viên điện đài DNĐ bị giam ở Breendonk không hề tham gia trò chơi. Qua điều tra của Leopold cùng với chính quyền Bỉ sau này đã thu được rất nhiều tin tức lí thú về họ.
Trước hết về Anton Winterinck, trưởng lưới DNĐ tại Hà Lan, bị bắt ngày 16-9-1942 do Efremov khai. Nhiều “sử gia” nhất là ở Tây Đức, đã viết về DNĐ rằng Winterinck quay phản, làm việc cho ĐĐN, rồi trốn thoát theo quân thù năm 1944. Leopold đã xác minh thấy hoàn toàn trái lại. Winterinck trước tiên bị giam trong nhà tù Saint-Gilles Prison ở Brussels, đến ngày 18-11-1942 bị chuyển về Breendonk. Cũng lúc đó điện đài của anh lại phát sóng... Nếu theo các “sử gia” viết về DNĐ thì Winterinck phải phát sóng giữa hai trận đòn tra tấn: đó là số phận của “tên phản bội này” trong hai năm trời... Những tên phản bội thực sự như Efremov được cho nhà ở đủ tiện nghi, khác hẳn với những xà lim trong pháo đài tội ác.
Ngày 6-7-1943, Winterinck bị điệu về nhà tù Saint-Gilles Prison và bị hắn tại Trường bắn quốc gia cùng ngày hôm đó. Để che giấu cái chết của anh, bọn đồ tể theo thói quen viết trên mộ anh “vô danh”.
Tiếp đến là Auguste Sesee , nhân viên điện đài, cũng “phản bội” như bọn phát xít nói: anh bị bắt ngày 28-8-1942, bị giam tại Breendonk đến tháng tư năm 1943, bị án tử hình, bị chuyển về Berlin và bị hành hình vào tháng giêng năm 1944.
Izbutski tức Bob: nhiều bức điện gửi về Moscow mang tên anh... Thực ra, anh bị đưa về Breendonk sau khi bị bắt vào tháng 8-1942, anh bị đối chất với Marcus Lustbader, em rể của Sarah Goldberg (sau khi Izbutski bị bắt, Sarah trốn thoát, tham gia kháng chiến, rồi bị bắt và bị đày vào trại Auschwitz. Izbutski bị tra tấn dã man đến mức không còn ra người nữa (theo lời kể của Lustbader sau khi anh này ra khỏi trại Auschwitz) và bị hành hình ngày 6-7-1944 trong nhà tù Charlottenburg ở Berlin.
Alamo và David Kamy cũng bị giam ở Breendonk tháng sáu 1942. Bị tra tấn rồi bị kết án tử hình bởi tên biện lí quân sự Roeder ngày 18-2-1943. Kamy bị bắn ngày 30-4, nhưng Alamo được Leopold cứu vì Leopold nhớ Alamo làm việc cho Molotov, trong một lần bàn với Giering, Leopold “phát hiện” cho Giering rằng Alamo là cháu của ngoại trưởng Liên Xô. Giering đã báo cáo lên Goering và tên này đã hạ án tử hình cho Alamo, nhưng anh bị đưa đi đày; khi chiến tranh kết thúc anh được tìm thấy ở một trại tập trung gần biên giới giáp Italia, rồi anh được Hoa Kì trao trả Liên Xô.
Sophie Poznanska, nữ mật mã viên ở phố Atrebates, đã treo cổ trong xà lim nhà tù Saint-Gilles Prison, ngày 28-9-1942.
Hersch và Mira Sokol sau khi bị bắt ở Pháp, vài tháng sau cũng bị đưa về Breendonk, ngày 9-6-1942. Một nữ tù nhân đã kể lại rằng: “Mira bị mật thám tìm mọi biện pháp tra tấn để lấy cung, bà Betty Depelsenaire kể: Sau nhiều ngày bị còng tay sau lưng, dỗ dành chị khai cung, bọn SS dùng đến tra tấn..Tên hỏi cung tóm tóc Mira lôi xềnh xệch như một con vật qua một hành lang hẹp và tối đến một cái phòng không cửa sổ, không có thông gió, chỉ có mùi thịt cháy và mùi mốc xộc lên mũi làm thót cả tim. Một cái bàn, một cái ghế đẩu, một dây thừng to treo trên trần bằng một cái ròng rọc, một điện thoại nối thẳng với cơ quan mật thám Brussels. Tên hỏi cung ra lệnh cho Mira qùy xuống và cúi xuống ghế đẩu. Chiếc roi da quật một, hai lần. Bọn mật thám thấy cần đánh mạnh hơn nữa. Tên cai ngục và hai tên SS, những cảnh cẩu, trợ lực. Sau khi tháo còng, Mira phải giơ tay ra đằng trước. Họ cùm, xiết một nấc cùm và định vị chiếc thừng, như vậy thân Mira có thể bị kéo dần lên và phải đứng kiễng bằng ngón chân. Roi da quật tới tấp. Roi này chưa đủ mạnh. Chúng dùng dùi cui để đánh mạnh hơn. Rồi đến thanh gỗ chắc và rắn hơn. Mira kêu để đỡ đau, nhưng không khai.
Tức giận, tên hỏi cung mồ hôi đổ trên trán, quyết định kéo thừng lên cao nữa đến mức thân thể Mira bị lơ lửng trong không trung. Trọng lượng thân thể dồn lên cổ tay, và cạnh chiếc cùm thép cắt thịt cô. Thân thể cô đung đưa, chúng đánh không chính xác, tên chúa ngục ra lệnh cho tên SS lấy tay giữ Mira lại rồi cứ thế nó quật bằng thanh gỗ. Mira không chịu được nữa, cô ngất lịm. Khi cô tỉnh lại, cô thấy hai hàn tay tím ngắt, hoàn toàn biến dạng. Mira lại đứng dậy và cô sẵn sàng đối đầu với quân thù. Tức điên người, bọn chó săn lại tra tấn cô như lần trước.
Mira lại ngất lịm. Hôm nay, tên đồ tể đành bỏ cuộc.
Hersch và Mira còn phải trải qua những đòn tra tấn man rợ như thế hàng mấy tháng trời. Hai vợ chồng nắm được mật mã sáu trăm bức điện mật chuyển qua điện đài của họ nhưng họ giữ bí mật đến cùng. Bọn đồ tể định làm run sợ hai nạn nhân bằng cách cho Mira dự những buổi tra tấn Hersch và ngược lại. Hersch bị ốm, người sút chỉ còn 37 kg. Viên thầy thuốc của trại ngạc nhiên về sức chịu đựng của anh:
- Ủa, hắn chưa chết này. Thật là một tay cứng rắn. Thật là đáng ngạc nhiên thấy con người có thể chịu đựng lâu đến thế...
Nhưng tên chúa ngục muốn kết thúc và nó đạt yêu cầu đó: con quỷ này đã cho đàn chó ngao cắn xé anh cho đến chết (Để che giấu vụ giết người này, tên đồ tể ghi trong hồ sơ Hersch là bị bắn. Mộ anh nằm trong số 300 mộ chiến sĩ ở Trường bắn quốc gia Brussels. Thế mà tên văn sĩ Đức Heinz Hohne dám viết trong cuốn “Khẩu hiệu” rằng:  Sokol bị thủ tiêu!)
Còn Mira Sokol hy sinh trong một trại giam của Đức vì suy kiệt.
Jeanne, vợ của Grossvogel, bị giam bốn tháng ở Breendonk và cũng chịu một số phận như các đồng chí của chị. Cũng tại đây hy sinh Maurice Pepper, liên lạc viên với Hà Lan, bị bắn ngày 28-2-1944, Jean Jeusseur, trong nhà có điện đài bị phát hiện, Maurice Beublet, cố vấn pháp luật hãng Simex, đều bị giam tại Breendonk mấy tháng, bị tra tấn và đến năm 1943 thì bị xử bắn tại Berlin. William Kruyt, thành viên toán Hà Lan, nhảy dù khi đã sáu mươi ba tuổi, bị bắt ngay khi vừa xuống đất, định tự sát nhưng không kịp; bọn Gestapo tra tấn để khai thác về người nhảy dù thứ hai cùng anh. Anh không khai, bọn Đức đưa anh đến nhà xác lật vải liệm lên cho anh xem tử thi của đồng đội: đó là đứa con ruột của anh bị bắn chết ngay khi vừa chạm chân xuống đất. Kruyt bị đưa về Breendonk và bị xử tử.
Cũng tại Breendonk, Nazarin Drailly, giám đốc hãng Simexco năm 1942 và bị bắt ngày 6 tháng giêng năm 1943 tại nhà một người bạn gái. Anh bị đưa về pháo đài này rồi bị tra tấn bằng chó ngao, hai chân anh bị chó xé nát thịt, tên chúa ngục cho anh ra nhà thương Antwerp để cưa chân đi. (Một bạn tù của anh kể lại cho bà Germaine Drailly sau chiến tranh rằng ông Nazarin cho tôi biết khi ông bị đưa đến trại Breendonk thì bị bọn mật thám Đức dày xéo một trận nên thân rồi tên thiếu tá Schmitt thả chó ngao xé nát thịt hai chân ông). Khi chúa ngục đưa anh trở lại trại, anh bị lên án tử hình rồi đưa lên Berlin để vào trại tập trung như phần lớn thành viên của Dàn Nhạc Đỏ bị bắt tại Bỉ và Pháp. Germaine, vợ anh, và hai con anh đi cùng chuyến xe lửa: anh đi qua mặt vợ mà vợ anh không nhận ra anh vì anh trắng bệch như một xác chết. Một người nào đó hích vào chị:
- Chồng bà đó!
Chị chỉ còn trông thấy chồng mình có năm phút ở hành lang. Anh hỏi Germaine:
- Em có nhận thấy gì không? Anh có một chân ngắn một chân dài.
Chị không còn được trông thấy anh nữa. Anh bị chém đầu ngày 28-7-1943 tại Berlin. Còn Germaine Drailly sau nhiều năm bị giam ở nhiều nhà tù, đến ngày 19-3-1945 chị hi sinh vì phát xít thả hơi ngạt. Trại tập trung chị bị bom ngày 15. Chị chạy trốn, khi vượt con sông đào chị không biết bơi. Gestapo bắt lại chị và đưa về Sachsenhausen. Chị thuộc nhóm chiến sĩ hi sinh cuối cùng trong những ngày cuối của chiến tranh.
Trong chuyến xe lửa đó, vợ chồng Corbin , vợ chồng Jaspar, Robert Breyer, Suzanne Cointe, Vladimir Keller, Franz và Germaine Schneider, vợ chồng Griotto là những chiến sĩ bị sa vào tay giặc tại Pháp đã gặp lại những đồng chí ở Bỉ: Charles Drailly, em của Nazarin Drailly, Robert Christen, Louis Thevenet sản xuất thuốc lá, Bill Hoorickx, nghệ sĩ họa sĩ, bạn thân của Alamo, Henri Rauch, người Tiệp có họ với Margarete Barcza, làm việc chủ yếu cho Anh, ngại lẫn lộn màng lưới, anh rút khỏi Simex năm 1942, nhưng đến tháng 11 thì bị bắt, anh hi sinh vì suy kiệt ở trại Mauthausen.
Trong 27 chiến sĩ qua trại Breendonk thì 16 chiến sĩ bị tử hình, những chiến sĩ khác của DNĐ bị đưa vào các trại tập trung với dấu hiệu “Nacht und Nebel” (có thể bị giết chết không cần xét xử).
Nhờ lời làm chứng của bà Betty Depelsenaire, chúng ta được biết vào tháng tư năm 1943 trong xà lim tử hình Moabit ở Berlin có Jeanne Grossvogel, Kaethe Voelkner, Suzanne Cointe, Rita Arnould, và Flore Velaerts. Các chị chờ thi hành án một cách rất dũng cảm khiến cho những cai ngục cũng phải khâm phục... Trước ngày bị hành hình, Suzanne Cointe còn hát, và Flore còn khiêu vũ. Khi bị đưa ra pháp trường, Rita Arnould xin lỗi Flore vì Rita đã khai ra Springer là chồng của Flore và được tha thứ. Còn Kaethe khi nghe toà án phát xít tuyên bố án mình tử hình đã giơ quả đấm và thét lên bọn hội đồng xét xử: “Tao sung sướng đã đóng góp cho chủ nghĩa cộng sản một số công tác”. Nàng đã cùng Suzanne, Flore và Rita hi sinh trước nòng súng của quân thù.
Tên Manfred Roeder là tên công tố tham gia tất cả các phiên tòa xử DNĐ. Y có biệt hiệu là “mật thám của Hitler” vì bản chất độc ác. Ngày nay nó đang làm phó thị trưởng một thị trấn nhỏ tại Tây Đức. Ngày 16-9-1948 y tuyên bố trước viên dự thẩm phụ trách vụ án của y (vụ này kết thúc bằng miễn tố!): “Tôi biết rằng số lượng tổng cộng những người của DNĐ bị tuyên án chỉ từ hai chục đến hai mươi lăm người, trong đó có một phần ba bị tử hình... Đầu tháng tư 1945 tôi đã đề xuất lên Goering ân xá cho các phụ nữ bị kết án tử hình và Goering đã đồng ý.”
Roeder còn tuyên bố thêm rằng ở Berlin trong số 74 người bị cáo có 47 người bị hành hình. Nhưng kết quả kiểm tra của Leopold thấy khác.
80 chiến sĩ bị bắt tại Pháp và Bỉ, 32 người bị kết án tử hình, 45 người bị đưa vào trại tập trung trong đó 13 người không bao giờ được trở về. Ở Đức, trong tổng số 130 người bị bắt thì 49 người bị xử bắn, 5 người chết do bị tra tấn và 3 người tự tử.
Đó, sự thật là như thế và cũng chưa phải đã hết... Số phận của Marguerite Marivet, nữ thư kí Simex tại Marseilles, Modeste Ehrlich, Schreiber, Joseph Katz, Harry Robinson, hai người em gái và người anh rể của Germaine Schneider ra sao?
Biết bao nhiêu người trong trắng đã bị bắt bớ vì hoạt động trong DNĐ? Nhiều gia đình bị bắt toàn bộ như gia đình Drailly, Grossvogel, Schneider, Corbin. Leopold đã tìm thấy trong tàng thư của cảnh sát Đức sau vụ Atrebates, thực tế họ không tham gia DNĐ nhưng vẫn bị bắt như Marcel Vranckx, Louis Bourgain, Reginald Goldmaer, Emile Carlos, Boulangier.
Theo lệnh của Berlin, các hồ sơ về DNĐ tại lâu đài Gamburg đều bị đốt cháy vào mùa xuân 1945. Sau chiến tranh chỉ còn sót lại một bản của Muller đề từ tháng 12-1942 và những tài liệu của Cục phản gián quân sự.
Đại úy Piepe là kẻ đã phát hiện ra điện đài của DNĐ ở phố Atrebates sau này kể rằng Cục phản gián quân sự từ mùa hè 1942 bị gạt ra khỏi vụ án DNĐ.
ĐĐN thỉnh thoảng thông báo cho đơn vị đó một số tình hình đã bị cắt xén hoặc không toàn diện.
Sau chiến tranh bọn ĐĐN tìm cách trốn tránh tội lỗi đã thêu dệt nhiều chuyện rất lố lăng: nếu tin vào chúng thì kết quả chúng thu được đều do thành viên kể cả thủ trưởng DNĐ thú nhận, hợp tác mà có. Còn tra tấn ư? Chúng không hề nghe thấy, trông thấy hoặc thực hiện, chúng chỉ là những chiến sĩ, những hiệp sĩ dũng cảm chỉ dùng biện pháp trung thực mà thôi. Than ôi, để xâm phạm chân lí một cách đểu cáng nhất, để che đậy những tội ác trời chu đất diệt của chúng, chúng đã bịa ra những đồng minh, đồng phạm tưởng tượng. Dối trá không thể vĩnh cữu và chân lí bao giờ cũng sáng tỏ...
Ở Pháp, Bỉ và Đức, đối với hàng chục chiến sĩ của Dàn Nhạc Đó cái chết chỉ là nấc thang cuối cùng của chiếc thang to lớn đau khổ rắc trên mỗi bậc thang. Họ chết để tiêu diệt họa phát xít, trong tình trạng đau khổ nhất, họ mang trong lòng niềm hi vọng sắt đá rằng một ngày kia, thế giới đã thay đỗi sẽ chứng minh cho họ và sẽ nhớ đến họ. Ngày mai là hôm nay. Thế giới vận động không ngừng, và sự im lặng ngày càng dầy lên. Những tên chỉ huy Đội đặc nhiệm chuyên án Dàn Nhạc Đỏ ở Berlin hoặc ở Paris có bao nhiêu lí do để xóa sạch thống kê tội lỗi của chúng. Tên của chúng viết trên các thống kê đó. Như tên tư lệnh SS Reiser cầm đầu ĐĐN Paris từ tháng 11 năm 1942 đến tháng bẩy năm 1943. Tay đặt trên ngực trái, hắn tuyên bố: “Tại cơ quan của tôi, không bao giờ dùng đến tra tấn”. Hắn tưởng lương tâm hắn yên tĩnh, tên Reiser. Biết bao nhiêu lần bàn tay của hắn đã kí lệnh cho bọn nhân viên hỏi cung tăng cường tra hỏi những người tù mặc dù tay của Reiser không đánh tù nhân? Ai đã ba lần trong một tháng ra lệnh tra tấn Corbin Alfred? Ai đã ra lệnh hành hạ vợ chồng đồng chí Sokol đến chết? Cơ quan của Reiser không tra tấn... vì thiếu dụng cụ chăng? Chính tên Reiser đã xin Berlin những dụng cụ tối tân cùng nhân viên hỏi cung mạnh đến tăng cường cho cơ quan của hắn.
Heinrich Reiser chỉ là một điển hình. Trong ĐĐN từ ở Berlin đến ở Paris thiếu gì những điển hình như thế, chúng đã được những ông chủ mới che dấu, bao che bằng lá bài hòa giải.
Chúng là những tên nào, khiến chúng ta phải không ngừng đấu tranh? Chắc chắn không phải chúng sinh ra đã có những tính chất man rợ đó, cũng chẳng phải vừa lọt lòng mẹ chúng đã biết hô “Heil Hitler!”.
Ta thấy trong Gestapo số đồ tể không phải đều là những tên phát xít kì cựu, vì nhiều đứa đã từng tham gia phong trào nước cộng hòa Weimar. Heinrich Muller, mà người ta thường gọi là tên Gestapo Muller thuộc vào loại mẫu gốc. Đến năm 1939 hắn mới vào đảng quốc xã, nhưng trước đó hắn đã mang nặng tư tưởng phát xít. Óc đầy tư tưởng chống cộng sản đã biến tên thuộc cánh hữu, ngoan đạo đó trở thành một sản vật tiềm tàng của Gestapo. Dưới thời nước cộng hòa Weimar, nó đã tỏ ra có khiếu làm cớm. Đối với hắn, trời phú cho hắn khiếu làm cớm. Mới 19 tuổi, hắn bước vào đời với chân nhân viên cảnh sát Munich. Mười năm sau, tức là năm 1929, hắn trở thành đội viên chống phong trào cộng sản trong Đội 4 của cảnh sát Munich. Khi bọn quốc xã lên, hắn xin theo Heydrich và được chọn làm phụ tá cho tên này. Năm 1936, Muller được đề bạt làm trùm Gestapo. Sau đó y tham gia đảng quốc xã và năm 1941 được thăng hàm tướng cảnh sát và SS. Trên cương vị thủ trưởng Gestapo, khi đã lên đến tột đỉnh của công danh, y chủ trương kế hoạch Trò Cao Thủ.
Hai phụ tá của Muller là Panzinger, giám đốc Ban 4A cơ quan an ninh quốc gia, và Kopkov, thủ trưởng ban chống cộng sản. Hai tên phó này cầm đầu Đội Đặc nhiệm chống Dàn Nhạc Đỏ, lập ra vào tháng tám năm 1942 để tập trung công tác đấu tranh chống Toán Berlin của DNĐ. Ta cần nhớ tên hai người này vì chúng là thủ phạm của các tội ác đối với Toán Berlin của DNĐ. Lý lịch của hai tên này cũng không khác Muller là bao.
Panzinger bắt đầu vào làm Cảnh sát Munich từ năm 1919 khi mới 16 tuổi. Bắt đầu thế chiến, y vào Đảng quốc xã. Đây là giai đoạn vinh thăng của nhũng tên cớm đồ tể như hắn và bè lũ. Thực ra phương thức và phương pháp hoạt động của Gestapo đều là sự nối tiếp của cảnh sát Weimar được phát triển hơn mà thôi.
Những tên đồ tể kể trên chẳng những chúng gây chết chóc cho DNĐ mà chúng còn gây ra biết bao nhiêu tội ác nữa trên những vùng Đức chiếm đóng khác. Như tên Reiser từ mùa hè 1940 đến tháng 11-1942 là trưởng ban đặc biệt chống các hoạt động cộng sản ở Paris. Eric Jung, thành viên của ĐĐN ở Paris, phụ trách những vụ giết người bẩn thỉu.
Karl Giering là tên cớm điêu luyện về thủ đoạn khiêu khích, 25 tuổi tham gia cảnh sát Berlin chuyên trách chống cộng sản ở Liên Xô cũng như trong QTCS và phong trào xã hội chủ nghĩa trong chính nước Đức. Trước kia y điều tra vụ mưu sát Hitler, sau đó y theo lệnh của Heydrich tổ chức vụ li gián cục trưởng cục cán bộ QTCS Piatnitski, rồi vụ li gián nguyên soái Tukhachevski. Khi phát hiện ra vụ Dàn Nhạc Đỏ, Giering đã được trao trọng trách là đứng đầu ĐĐN Paris và Brussels.
 
0
Trung tâm giành chủ động
 
Ngày 23 tháng hai năm 1943, ngày hai bức điện của Trung tâm gửi đến, Leopold nói chuyện rất lâu với Giering. Hắn cho Leopold biết hắn đã báo cáo ngay cho cấp trên ở Berlin biết nội dung các điện đó; cảm tưởng của các sếp đó giống như của hắn là giai đoạn khó khăn nhất của kế hoạch như thế là đã vượt qua và nhu vậy có thể tiếp tục Trò Cao Thủ như đã định. Là tên cáo già trong nghề cho nên Giering đã cho kiểm tra những tin tức chứa đựng trong hai bức điện. Búc thứ nhất là cần quan tâm nhất: hắn hỏi Kent xem Cục có thói quen gửi điện mừng nhân ngày lễ Hồng quân không. Kent lúc này một mặt lo sợ Leopold bằng cách này hay bằng cách khác đã báo cho Moscow và mặt khác bắt đầu thấy cần tìm cơ hội chuộc lại tội lỗi, cho nên hắn đã khẳng định việc mừng đó là chuyện đã thành thói quen. Thời gian đó Kent còn lộ ra những biểu hiện thiện chí như cố giữ khoảng cách đối với bọn Đức và thái độ này hắn giữ cho đến khi Leopold biến mất.
Giering rất xúc động thấy Leopold được đề xuất khen thưởng. Hắn nhận định đó là dấu hiệu Trung tâm tin tưởng Leopold, đó là điềm lành và làm cho hắn có thêm uy tín đối với cấp trên của hắn vì Berlin phải công nhận ràng ý kiến đề xuất của hắn Leopold vào cuộc chơi là đúng. Nhưng về điểm thứ hai thì hắn ngập ngừng: Leopold đã đề nghị Trung tâm cắt quan hệ trong một tháng với Đảng cộng sản Pháp, và Cục trưởng quyết định cắt hẳn!
Biết tỏng thâm ý của Giering (lần ra tận Jacques Duclos và lãnh đạo bí mật của Đảng cộng sản Pháp qua trung gian là Juliette) cho nên Leopold rất hiểu nỗi thất vọng của tên cớm này. Tên chống cộng điên cuồng này thế là hết hi vọng đánh rất đau Đảng của Jacques Duclos và có thể bắt ngay lãnh tụ này nữa. Khó có cái gì làm cho hắn đỡ đau. Leopold phải khuyên giải hắn:
- Dù sao nêu ông đứng vào địa vị của Cục trưởng, ông cũng sẽ không thể làm khác được, ông cũng phải ra lệnh như thế mà thôi. Ngay từ đầu phải cấm quan hệ với Đảng Cộng sản, chỉ vì điện đài của DNĐ thiếu cho nên mới vi phạm điều cấm đó. Còn bây giờ điện đài đủ rồi, ông muốn liên lạc lúc nào cũng được, thế thì chúng ta cần gì đến đường liên lạc của Đảng cộng sản Pháp nữa?
Vài hôm sau, điện mới của Cục trưởng gửi đến chỉ dẫn mở rộng tối đa cơ sở của các điện đài và quy định chức năng rõ ràng cho từng đài, giới hạn chặt chẽ trong lĩnh vực thông tin quân sự mà thôi. Cục trưởng cũng yêu cầu cho biết tình hình về Simex và Simexco. Giering quyết định trả lời hai hãng đó đã bị Gestapo phá rồi nhưng DNĐ vẫn tồn tại không bị thiệt hại gì vì những cuộc bắt bớ đó. Trả lời như vậy là tên trùm ĐĐN có thể tự do trừng trị những người phụ trách hai công ty đó nhưng vẫn tiếp tục tiến hành kế hoạch Trò Cao Thủ với Moscow. Vậy là số phận của các đồng chí Simex đã bị bắt rất đáng lo ngại. Tên Manfred Roeder khát máu đến Paris vào tháng ba năm 1943 để tổ chức các vụ xét xử giả vờ, thực chất đó chỉ là một vụ tàn sát đã được dự tính từ trước. Những “tên thẩm phán” không thu thập được những chứng cứ quyết định là những bị cáo đó có trong tổ chức DNĐ, nhưng chúng vẫn kết án tử hình Alfred Corbin, Robert Breyer, Suzanne Cointe, Kaethe Voelkner và Podsialdo. Keller bị kết án tù. Đối với Robert Breyer là người không tham gia DNĐ mà bị kết án tử hình thì thật là một vụ giết người không hơn không kém. Nhờ những lời khai tại dự thẩm của Leopold và Grossvogel mà cứu được Ludwig Kainz, kĩ sư của hãng Todt tại Paris. Sau chiến tranh mới biết tin Alfred Corbin, Robert Breyer, Griotto, Kaethe Voelkner, Suzanne Cointe, Podsialdo và Nazarin Drailly đã bị hành hình cùng với các thành viên DNĐ ở Berlin, trong nhà tù Plotzensee vào ngày 28-7- 1943. Giering đã trao đổi bức điện đầu tiên với Trung tâm từ khi Leopold báo cáo được tới Moscow về việc lưới bị đánh phá...ĐĐN lao hết sức vào cuộc tấn công đầu độc. Chúng tìm mọi cách bịt tin đã bắt được Grossvogel, Katz, Maximovich, Robinson, Efremov, và Kent. Chúng cũng chuyển Leopold từ trụ sở phố Saussaies sang trụ sở Neuilly... Ngay giữa trụ sở Gestapo, Leopold đã làm được bản báo cáo cho Trung tâm. Giering và bè lũ vẫn kể những gì chúng muốn, chuyển điện theo chủ trương của chúng với mục đích mờ ảo về hòa bình riêng rẽ, nhằm đầu độc Moscow bằng cách thu lượm trong tủ những tin tức cũ kỹ, cố đào bới óc tưởng tượng của những tên cớm và khiêu khích đồi bại: chẳng cần. Vì đối mặt với chúng là Moscow đã biết tỏng âm mưu của chúng rồi.
Ở góc phố Victor Hugo và phố Rouvray ở Neuilly, trùm Gestapo Paris tên là Boemelburg, có một khách sạn riêng đã nhốt những tù nhân đặc biệt. Nơi đây có mười buồng, mặt trang trí bằng những hàng cột trắng, có một bãi cỏ ở phía trước và một vườn rau ở phía sau, trông thật là sang. Xung quanh là hàng rào sắt bao bọc và những hàng cây to xanh tốt che khuất được mắt người qua lại hình bóng của những tù nhân nổi tiếng nhốt trong đó. Với tính hợm hĩnh điển hình, Boemelburg và những tên quốc xã dưới quyền rất hãnh diện được tiếp nhận những “vị khách” có tiếng như Albert Lebrun, tổng thống cuối cùng của nền cộng hòa thứ ba của Pháp. Andre Francois-Poncet, nguyên đại sứ Pháp tại Đức, đại tá de la Rocque, trùm đảng Chữ Thập Lửa, Largo Caballero, cựu tổng thống nước cộng hòa Tây Ban Nha. Ngoài những nhân vật đó, còn một đại tá tình báo Anh đang bị Gestapo sử dụng. Boemelburg tiệc tùng suốt ngày. Người gác cổng kiêm nấu bếp cùng hai cô con gái cũng ra vẻ hãnh diện với những vị khách quý.
Leopold bị giam ở tầng hai trong một căn phòng trang trí kiểu cổ; cửa sổ không có lưới thép, cửa ra vào luôn luôn bị khóa chặt. Khi anh muốn đi ra ngoài phải báo cho lính gác, mỗi ngày được đi dạo hai giờ trong vườn sau, tuyệt đối không được nói chuyện với tù nhân khác. Ngôi nhà này do một đơn vị lính Slovak canh gác, cũng giống như bọn chủ, số lính này say sưa tối ngày. Chúng hò hét, hát hỏng ầm ỹ...Leopold nẩy ra ý trốn, nhưng nghĩ đến vai trò trong Trò Cao Thủ lại thôi. Trong những đêm không ngủ, anh đã hình dung mình phải phá cửa ra, đập chết tên lính gác và chuồn thẳng...
Vài ngày sau khi chuyển sang khách sạn Neuilly, Berg báo cho Leopold rằng sẽ đưa Katz sang ở cùng Leopold. Anh rất vui khi được tin này, nhưng thục ra chúng đưa Katz nhốt ở tầng hầm cùng với tên phản bội Schumacher thì Leopold hiểu ngay Gestapo định để Schumacher điều tra về ý đồ thực sự của Leopold. Bắt đầu, tên phản bội kể với Katz rằng y nhận xét Leopold không thực sự đầu hàng, mà chỉ tìm cách đánh lừa bọn Đức. Leopold liền phàn nàn với Berg về thủ đoạn kể trên sẽ đem lại những sự nghi kị trong khi thực hiện kế hoạch. Thế là chúng đưa Schumacher đi nơi khác ngay.
Katz được phép thăm Leopold và cùng đi dạo trong vườn sau khách sạn. Biết chắc có máy nghe trộm gài trong phòng, nên hai người tìm cách làm yên lòng Gestapo khi họ cùng ở trong phòng, nhưng chỉ khi ra vườn họ mới dùng tiếng Yiddish hoặc tiếng Hebrew để bàn về công việc. Katz đau buồn về số phận của những đồng chí bị bắt và lo lắng về tình trạng gia đình các đồng chí đó đều bị coi là những con tin. Đến tháng 3 năm 1943, Kent và vợ được chuyển đến khách sạn Neuilly. Kent suốt ngày mã những điện Giering gửi về Trung tâm. Những bức điện này đều ký tên Leopold mặc dù anh đã tuyên bố không liên quan gì đến vì anh không hay biết tí gì về những bức điện đó. Giering hỏi ý kiến Leopold về những điện của Trung tâm gửi cho hắn và về những trả lời của hắn cho Trung tâm. Thỉnh thoảng Berg đến để dẫn Leopold sang trụ sở phố Saussaies. Anh thường gặp Boemelburg. Tuy Boemelburg là đồng nghiệp lâu năm với Giering và Berg nhưng ba tên này ghét nhau, nhất là khi Berlin báo cho Boemelburg không được nhúng mũi vào công việc của ĐĐN thì tên này phát khùng lên. Berg dặn Leopold:
- Ông cần xa lánh Boemelburg, nhất là khi tên đó say rượu. - Lời khuyên này vô ích vì Boemelburg có mấy khi tỉnh.
Có một buổi chiều Leopold cùng Berg từ Saussaies trở về khách sạn thì có nhiều tiếng nổ. Thấy Leopold ngạc nhiên, Berg dẫn Leopold ra vườn. Boemelburg đang ỏ đó, người lảo đào, say khướt, súng lục trong tay... Leopold hỏi Berg:
- Hắn bắn vào ai đó?
- Ông cứ nhìn, nhìn kĩ vào - Berg trả lời.
Boemelburg đã làm một số bia toàn là hình các lãnh đạo Liên Xô và Đảng cộng sản Pháp; cạnh đó là loạt ảnh vẽ hình tượng trưng cho người Do Thái. Đó là những mục tiêu của tên trùm Gestapo Paris sau những giờ đi nốc rượu và đi trấn áp.
Boemelburg tiếp tục tập bắn... Cứ mỗi làn nó bắn là con chó ngao sủa ầm lên. Bỗng Boemelburg đập vào đầu con chó và thét:
- Câm ngay, Stalin, câm ngay!
Thấy Leopold, nó nói:
- Ông đã thấy tôi đặt cho con chó này cái tên đẹp chưa: Stalin?
- Ồ, ông ơi - Leopold trả lời - Tôi cho rằng đặt tên như thế xấu lắm, vì tôi cũng thấy ở Moscow những con chó có tên là Hitler...
Điên tiết, lại say, Boemelburg chồm vào Leopold, súng chĩa vào anh.
Berg nhảy xổ vào lấy thân che cho Leopold:
- Tròi ơi, Otto! - Berg kêu lên.
Sau đó Berg mắng Leopold:
- Suýt nữa thì tai vạ, Trò Cao Thủ suýt nữa thất bại một cách vớ vẩn!
 
0
Đội đặc nhiệm sa bẫy
 
Vào thời kì đó Leopold bắt đầu được đi lại trong nội thành và ngoại ô Paris. Anh đạt được điều này nhờ một thủ đoạn rất hợp lý mà Giering phải giải quyết. Ngay trong buổi khai cung đầu tiên Leopold đã bịa ra với Giering rằng có đơn vị đặc biệt làm công tác phản gián nhằm bảo vệ tuyệt đối bí mật cho Dàn Nhạc Đỏ. Anh kể rằng anh vẫn thường kì báo cáo cho Trung tâm biết những nơi anh thường lui tới (hiệu cà phê, hiệu cắt tóc, hiệu ăn, may quần áo, bách hóa) và thời gian lui tới những nơi đó. Làm như vậy để đơn vị phản gián mà anh không biết mặt nắm được dấu vết của anh. Nay bỗng nhiên anh không còn lui tới những nơi kể trên nữa, thì Trung tâm sẽ sinh nghi. Trong bản báo cáo lên Trung tâm Leopold đã đề nghị Cục trưởng yêu cầu phải có mặt Leopold ở những nơi kể trên, và Trung tâm đã trả lời theo hướng đó, nên Giering buộc phải đồng ý cho Leopold đi lại trong thành phố Paris. Rồi việc đó trở thành thói quen. Những buổi đầu tiên thường có ba ô tô, xe giữa có Leopold, xe trước và sau đi kèm, nhưng sau chỉ có 1 xe tới những điểm hẹn tưởng tượng trong nội thành cũng có khi ra cả ngoại ô thủ đô. Bọn Gestapo đã vất vả giám sát những chuyến đi lung tung này khiến cho Leopold khoái trí vì đã thu hút bọn Gestapo vào những việc vô ích và tất nhiên phải bớt việc truy lùng những thành viên DNĐ còn ở ngoài vòng tù đày. Những chuyến đi như thế cũng làm cho Gestapo bớt cảnh giác và cũng hé mở một lối để Leopold trốn thoát.
Trong những chuyển đi lại như thế, Leopold quan sát thấy bọn lính không dùng giấy chứng nhận của Gestapo, mà dùng loại giấy giả của Bỉ, Bắc Âu hoặc Hà Lan. Thủ đoạn này dể tránh Kháng chiến chú ý tấn công bọn chúng. Và nếu bị cảnh sát Pháp kiểm tra thì cũng giấu được quốc tịch thật của những lính gác người Đức.
Leopold nhân đó cũng xin Giering cho giấy tờ giả:
- Nếu ông không muốn tôi gặp phiền hà khi bị cảnh sát Pháp kiểm tra, thì xin ông cũng cho tôi một thẻ căn cước...
Giering chấp nhận đề xuất này, cho nên mỗi khi ra ngoài, Berg phát cho Leopold một thẻ căn cước giả và một số tiền, sau khi đi về lại nộp lại cho Berg. Đây cũng là một sơ hở của địch để Leopold khai thác sau này.
Cho đến khi kế hoạch về bà Juliette xảy ra, Trò Cao Thủ có thể tóm tắt như sau: Bọn Đức ngồi trên ngụa... còn Trung tâm thì ngồi dưới. Dàn Nhạc Đỏ đã thay màu, bẩy điện đài đã bị khống chế và Moscow đã bị dàn nhạc nâu bao vây. Trung tâm càng bị đầu độc hơn thế vì ý kiến chỉ thị của Trung tâm chưa hề thay đổi về chất lượng.
Ngoài ra bọn Đức tất phải hiểu rằng dù Cục trưởng đã trả lời sau ngày 23- 2- 1943 chúng vẫn còn phải cung cấp trong nhiều tháng những tin tức về quân sự. Kể từ khi những người chủ trương ký hòa ước riêng rẽ với Phương Tây có thể chứng minh rằng họ biết những ý đồ đi theo chiều hướng đó, và do đó họ được thông tin kĩ càng về các kế hoạch ngoại giao và chính trị, thì họ cũng cần thiết được thông tin kĩ càng về mặt quân sự.
Ngày nay rõ ràng nhữrm cố gắng của Himmler để có hòa bình riêng rẽ với phương Tây cũng trùng về thời gian với những ý đồ của ĐĐN bắt đầu tiến hành Trò Cao Thủ. Leopold nêu ra hai ví dụ để chứng minh:
Vào tháng chạp năm 1942 luật sư Langbehn được Himmler đồng ý đã quan hệ với Đồng minh ở Thụy Sĩ và Thụy Điển.
Ngày 23-8-1943 Himmler bí mật gặp Popitz công tác ở Bộ nội vụ Đức nhưng tham gia Kháng chiến. Popitz lúc đó ra điều kiện dứt khoát cho Himmler phải hy sinh Hitler để đi đến hòa bình riêng rẽ. “Heinrich trung thành” đành lòng trình bày trả lời của Noocmăng nghĩa là theo Popitz, Himmler chấp nhận cách giải quyết đó. Langbehn liền sang thụy Sĩ ngay để thông báo tin mừng đó cho những đối tác thuộc phe Đồng Minh. Thế mà cũng trong tháng đó, tháng tám năm 1943, thủ trưởng mới của ĐĐN là Pannwitz cố đẩy mạnh Trò Cao Thù lên.
Sai lầm của Himmler là đã đánh giá quá lớn mâu thuẫn nội bộ phe Đồng minh. Đúng là mặt trận thứ hai còn chậm mở ra, nhưng không vì thế mà được nhận định rằng Anh Mỹ không muốn liên minh với Liên Xô để chống phát xít nữa. Chiến tranh càng tiến triển, triển vọng quân đội Đức chiến thắrm ngày càng giảm, một bộ phận lớn tướng lĩnh Đức được bài học thất bại Stalingrad mở mắt, đã nhận ra rằng giải pháp duy nhất cho nước Đức quốc xã là hòa bình riêng rẽ. Đó là tâm trạng của kẻ bị đắm tàu bám lấy vật trôi giạt dù vật đó đã mục nát. Tin tưởng đến phút chót hòa bình riêng rẽ, ảo tưởng đến mụ cả tâm trí, Himmler và phe lũ đều nghĩ rằng cần phải đầu độc Moscow.
Sau khi nhận được báo cáo của Leopold, Trung tâm chủ trương thế nào? Trước hết gây ra cảm giác rằng Trung tâm không biết gì về việc lực lượng của DNĐ đã bị khống chế.
Những bức điện Trung tâm gửi đều đề tên nhiều trưởng toán, vì thế Leopold lợi dụng điều này để thuyết phục Giering chớ nên xử lý vội Grossvogel, Katz và những người khác. Lập luận của Leopold có lôgich như sau:
- Ông Giering ạ, Trung tâm có thể bất thần yêu cầu trực tiếp quan hệ với họ, nếu ông đưa họ ra xử, hoặc nếu các ông tuyên án họ, thì chính các ông tự làm lộ đấy.
Giering đồng ý.
Trung tâm lội dụng Trò Cao Thủ để moi tình hình quân sự. Từ tháng hai 1943, bọn Đức buộc phải cung cấp tình hình mà một lưới bình thường và thậm chí giỏi giang cũng khó mà thu thập được. Cuối cùng, Trung tâm có cách ngăn chặn hẳn âm mưu của Đức xâm nhập vào các lưới chưa bị lộ.
Một vấn đề lí thú: Moscow yêu cầu những tin tức quân sự nhưng ai là người quvết định cung cấp hay không? Trước hết phải có sự đồng ý của những ngưòi phụ trách Trò Cao Thủ ở Berlin là Gestapo- Muller và Martin Bormann. Sau đó ĐĐN phải lên xin Bộ Tham mưu quân đội phát xít mặt trận phía Đông. Chính nguyên soái von Rundstedt quyết định cho tin. Vì không thân thiết lắm với Himmler và Gestapo, viên soái này cũng chẳng nắm được mục đích của Trò cao thủ, cho nên ông ta ngạc nhiên khi phải cung cấp tin tức quân sự về mặt trận Liên Xô. Còn các cấp chỉ huy cao cấp ở Berlin đành phải đồng ý cung cấp tin cho Liên Xô nhưng cũng tự an ủi rằng đó chỉ là tin tức về mặt trận phía đông mà thôi. Trong khi đó Trung tâm đặt ra những câu hỏi ngày càng quan trọng cho Hồng quân.
Trong tàng thư của Cục phản gián quân sự Đức ỏ Berlin còn những tài liệu liên quan đến những điện của Cục trưởng cho thấy mục tiêu mà Trung tâm chú ý. Có thể tóm tắt bằng vài chữ: thu thập tối đa tình hình quân sự.
Sau đây là vài ví dụ:
20- 2- 1943, điện gửi Otto:
“Yêu cầu gửi những tin tức về vận chuyển các đơn vị quân đội cùng vũ khí từ Pháp sang mặt trận”.
Hôm sau điện tiếp:
“Những sư đoàn Đức nào còn để dự bị và để ở đâu? Vấn đề này rất quan trọng đối với chúng ta”.
Ngày 9-3, Trung tâm hỏi tình hình các đơn vị Đức đóng ở Paris và Lyon, phiên hiệu các sư đoàn, các loại vũ khí.
Loại yêu cầu như trên khiến cho DĐN rất lúng túng. Không thể không trả lời, mà trà lời bằng tin giả thì rất nguy hiểm. Xem xét kĩ thấy Moscow hỏi như thế không phải là để biết tin mới mà chủ yếu nhằm xác minh những tin túc đang có trong tay Trung tâm. Bức điện sau đây cho thấy điều đó:
“Những sư đoàn nào đang đóng tại Chalons-sur-Marne và Angouleme? Theo tin của ta, ở Chalons là sư đoàn 9 bộ binh và sư đoàn xe tăng số 10. Xác minh”.
ĐĐN có cách nào khác đành phải trả lời đúng hôm 2-4:
“Sư đoàn mới SS ở Angouleme chưa có phiên hiệu. Lính mặc đồng phục xám với cầu vai đen và dấu hiệu SS”.
Ngày 4-4, điện tiếp theo cung cấp chi tiết về vũ khí của sư đoàn này.
Hầu như ngày nào Trung tâm cũng điện đòi và ĐĐN phải trả lời rất cụ thể. Cái giá của những kẻ mơ tưởng có hòa bình riêng rẽ đã phải trả như vậy đấy.
Trung tâm còn hỏi tình hình quân Đúc đóng ở Hà Lan và Bỉ, tên các sĩ quan chỉ huy và kết quả của những trận không quân Anh ném hom.
Von Rundstedt ngày càng nghi ngờ và bất bình về yêu cầu cung cấp tình hình ngày càng chính xác. Đến ngày 30-5-1943 điện yêu cầu tin tức của Trung tâm làm cho Bộ Tham mưu Đức bộc lộ mâu thuẫn gay gắt với các cơ quan bí mật của Đức. Điện yêu câu như sau:
“Otto, yêu cầu cho biết tình hình quân Đức chuẩn bị dùng hơi ngạt. Hiện nay có vận chuyển loại vũ khí đó hay không? Trên sân bay có chứa những bom hơi ngạt không? Chứa ở đâu và bao nhiêu? Cỡ loại bom đó? Dùng loại hơi nào? Sức phá thế nào? Đã thử nghiệm loại khí đó chưa? Có tin gì về loại chất độc mới mang tên là Gay- Helle không? Cần huy động toàn bộ nhân viên trong lưới ở Pháp vào công tác này...”
Lần này thật là quá đáng. Bộ tư lệnh quân Đức bàn với nhau thôi cung cấp tin. Tất nhiên ĐĐN không đồng ý. Giering qua giải các điện DNĐ báo cáo về Cục trước khi bị phá, đã biết có báo cáo của DNĐ về hơi ngạt của Đức. Kaethe Voelkner và Vasily Maximovich nắm chắc tình hình phát minh hóa học của Đức.
Thủ trưởng ĐĐN Berlin chủ trương phải trả lời yêu cầu của Trung tâm, dù chỉ trả lời một phần thôi. Về phía Bộ tham mưu quân đội Đức nhân cơ hội này lên tiếng phản đối mạnh mẽ.
Trước hết ngày 20-6-1943, Cục phản gián quân sự báo cáo Berlin rằng “từ ít lâu nay, theo Bộ tổng tư lệnh quân Đức, cục trưởng ở Moscow đưa ra những yêu cầu quá chính xác... Bộ Tổng tư lệnh thấy rằng không thể cung cấp theo yêu cầu như thế, ví dụ họ yêu cầu trả lời chính xác phiên hiệu các sư đoàn, trung đoàn, tên các sĩ quan chỉ huy ... Bộ Tổng tư lệnh cho rằng nếu trả lời những yêu cầu như thế sẽ phương hại lớn đến an ninh...”.
Von Rundstedt còn viết thêm: “Tôi cho rằng không cần phải tiếp tục trò chơi này nữa”.
Rõ ràng Bộ Tổng tư lệnh quân Đức kiên quyết chống lại Trò cao thủ. Ngày 25- 6, BTTL còn cho nổ quả bom khẳng định rằng: “BTTL QĐ Đức nhận định rằng không thể cung cấp tin tức nữa, vì rõ ràng kẻ thù ở Moscow đã phát hiện ra Trò chơi này...”
Đó là quan điểm của trùm Cục phản gián quân sự Wilhelm Canaris là người chống lại những thủ đoạn của bè lũ Gestapoo-Mule và Himmler. Thực ra, cục trưởng CPG QS, Schellenberg, trùm phản gián Đưc và Rundstedt đều không được biết về mục đích Trò chơi. Trong tình hình nhu thế, họ sợ và nghi ngờ là có lý. Họ đã được giải thích ràng Trò cao thủ nhằm phát hiện những lưới tình báo xô viết trên lãnh thổ các nước bị chiếm đóng, nhưng với BTTL quân Đức, lập luận đó chưa thể thuyết phục khi phải cung cấp những bí mật quan trọng về quân sự. Còn ĐĐN lại thấy rằng so với những tin tức DNĐ cung cấp trước lúc bị phá thì những tin tức phải cung cấp chưa là cái gì.
Những lý lẽ của ĐĐN cuối cùng đã thắng, phái quân sự phải cung cấp tin nhu trước. Ngày 9-7 có lệnh dứt khoát của Berlin phải làm như vậy.
Trung tâm đưa ra những yêu cầu vượt ra khỏi phạm vi quân sự, như yêu cầu báo cáo tình hình về đội quân Vlasov.
Vlasov là một viên tướng Hồng quân trẻ và xuất sắc đã bị bắt làm tù binh cùng sư đoàn của hắn. Hắn biết số phận của hắn là tù binh khi trở về Liên Xô sẽ nguy hiểm thế nào và vì thế hắn đã đầu hàng quân Đức một cách thực sự. Đức yêu cầu hắn lập một đội quân Nga chiến đấu cạnh quân Đức. Đứng đầu đạo quân này sẽ là các sĩ quan xô viết mất tinh thần nhưng không muốn vào trại tù binh Đức.
Một toán chuyên gia tư tưởng phát xít vận động Vlasov và binh lính của hắn. Đói, bị bỏ rơi, bị phản bội, suy kiệt, lính xô viết đã chấp nhận vào lính Đức. Và Đội quân giải phóng Nga ra đời.
Đạo quân này không có mục tiêu chính nghĩa nào cho nên sức chiến đấu rất kém. Bọn phát xít chủ yếu dùng đạo quân Vlasov vào việc trấn áp nhân dân Liên Xô.
Vào mùa hè năm 1943 tất nhiên Cục tình báo Hồng quân cần nắm thực trạng của đạo quân này: số lượng binh lính, nơi đóng quân, tên các sĩ quan và các loại vũ khí, tính chất công việc, tư tưởng...Trung tâm cần nắm sâu rộng... Còn về phía quân Đức vì chẳng hi vọng nhiều về số tay sai này cho nên chúng đã cung cấp đầy đủ tình hình Vlasov.
Đến tháng tư năm 1943, Trung tâm cung cấp cho Otto kết quả đầy đủ trận Stalingrad. Giering ngạc nhiên nên hỏi Leopold tại sao Trung tâm phải cung cấp cho Otto tin tức này. Leopold giải thích:
- Thỉnh thoảng Cục vẫn có thông báo như thế nhằm giúp cho tôi nắm được tình hình chính xác về quân sự ở một địa bàn nhất định.
- Tiếc thật - Giering trả lời Leopold - Nhưng Kent cho tôi biết ràng đây là lần đầu tiên mới có loại thông báo như thế này…
Có nhũng việc kể từ một trình độ nào đó mà Kent không được biết. Sau này Leopold mới biết ý nghĩa, mục đích của thông báo đó của Cục: chính là nhằm làm cho nội bộ Đức bối rối cho nên phải thông báo về thiệt hại quá lớn, lớn hơn rất nhiều thông báo của Đức về thất bại ở Stalingrad. Bộ tổng tham mưu Đức đã báo cáo bóp quá nhỏ đi những thiệt hại của mặt trận Stalingrad. Với cách kể trên Trung tâm đã cung cấp cho Himmler những con số xác thực để y tâu lên Hitler!
Vững tâm được Trung tâm tin tưởng, ĐĐN bát đầu tung ra những loạt tuyên truyền nhằm gây rối cho liên minh chống phát xít và đầu độc kẻ thù; tuy hơi thô bạo nhưng cho ta thấy được quy mô các phương tiện của bọn muốn có hòa bình riêng rẽ dùng để đi tới mục tiêu. DNĐ tung ra một loạt điện mang tên Leopold báo cáo về Trung tâm nói rằng căn cứ vào nguồn của một đợt điều tra do Goebbels tiến hành trong nhân dân Đức về quan điểm kết thúc chiến tranh cho thấy dư luận nhân dân rất chống Liên Xô. Theo những điện báo cáo đó thì người Đức tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng, nhưng nếu phải thương lượng thì mọi người đều phát biểu rằng nên riêng với phương Tây để có hòa bình riêng rẽ.
Những điện khác báo cáo về tình hình tư tưởng binh lính và sỹ quan Anh Mỹ, ràng theo những điệp viên DNĐ liên hệ được với các phi công Anh bị bắn hạ trên vùng trời Paris đang điều trị tại bệnh viện Clichy đều phản đối việc họ phải hy sinh cho Liên Xô và tất cả số này đều tán thành hòa bình với nước Đức.
Khi Giering đưa những bức điện đó cho Leopold xem, anh đã phải cố nhịn cười vì anh nghĩ ràng trò trẻ này làm thế nào đánh nổi vào tư tưởng của Liên Xô. Trung tâm cũng chẳng lạ gì với thủ đoạn điều tra dư luận của Goebbels là tên chuyên gia về chỉ huy lương tâm; làm gì có chuyện tự do tư tưởng trên đất Đức quốc xã!
Giering còn tôn vinh Leopold bằng cách hỏi ý kiến anh, anh đã trả lời anh hoàn toàn đồng ý với nội dung các điện đó và thêm lời nhận định rằng những tin tức đó sẽ “làm cho Moscow phải suy nghĩ”. Giering khoan khoái lao vào hướng tuyên truyền trong không khí như thế - nhằm gây chia rẽ các nước Đồng minh - bằng cách điện báo cáo về việc Anh bán súng tiểu liên cho Đức. Hắn đưa ra bằng chứng là sen đầm Đức ở cảng Calais ở miền bắc nước Pháp vẫn dùng tiểu liên của Anh, vì Đức đã mua được tiểu liên đó ỏ các nước trung lập, phía Anh chỉ đòi có một điều kiện là Đức không được dùng tiểu liên đó tại mặt trận Liên Xô.
Tin tức đó chẳng có căn cứ vững vàng: không có chứng cứ gì rằng Anh đã đồng ý bán như thế, những tiểu liên đó có thể là súng của Anh nhưng trong chiến đấu bị rơi vào tay quân Đức. Kiểu tung tin đó chẳng thể nào che dấu được sự thật là trong thời gian đó, các nước đồng minh đã gửi cho Liên Xô bao nhiêu vũ khí.
Cũng trong thời gian đó Giering định lợi dụng Dàn Nhạc Đỏ để xâm nhập vào bộ máy tình báo xô viết tại Thụy Sĩ.
Bộ máy này được thành lập trước thế chiến, do Alexander Rado chỉ huy. Anh là một đảng viên cộng sản từ tuổi thanh niên, đã tùng tích cực tham gia cuộc khởi nghĩa ỏ Hungari do Bela Kun lãnh đạo. Ngoài ra Rado còn là một nhà địa lý có tên tuổi, biết nhiều ngoại ngữ. Toàn bộ hoạt động của bộ máy tình báo xô viết này đều hưóng vào Đức quốc xã. Về nguyên tắc, DNĐ không có quan hệ gì với bộ máy đó, nhưng vào năm 1940, Cục Tình báo Hồng quân có cử Kent sang Thụy Sĩ huấn luyện về điện đài và cung cấp mật mã cho Rado. Chủ trương này là sai lầm nghiêm trọng vì Trung tâm còn nhiều khả năng làm như thể không cần giao cho Kent. Hai năm sau, khi Kent bị bắt và đầu hàng y đã khai báo về địa chỉ mật mã và tần số điện đài của Rado.
Những điện mật Rado gửi đi từ ba điện đài đều bị Đức thu được. Nhung dù Kent khai báo vẫn rất khó địch được mật mã của Rado, cho nên Giering phai cử điệp viên sang làm việc này.
Đường lối trung lập của Thụy Sĩ gây khó khăn cho Đức. Giering chủ trương dùng Franz Schneider, công dân Thụy Sĩ, là người thuộc nhóm Efremov bị bắt ở Bỉ và là người có quan hệ với nhiều điệp viên rất quan trọng của Rado. Từ Schneider, Giering biết được thành phần bộ máy tình báo xô viết tại Thụy Sĩ, nhưng ba lần tiếp cận bộ máy này đều thất bại.
Lần đầu, hắn dùng một nhân viên quen biết Rado từ trước tên là Yves Rameau. Tên này gạ Rado xin hợp tác vì y có nhiều quan hệ với kháng chiến Pháp và với lưới của Kent. Rado cảm thấy nghi ngờ y dương bẫy nên từ chối không tiếp chuyện.
Lần thứ nhì, Giering cử một nữ nhân viên Đức đóng vai là Vera Ackermann, một nữ mật mã viên trong toán DNĐ ở Pháp mà Leopold đã cho đi xa sau khi vợ chồng đồng chí Sokol bị bắt. Trước hết Vera được cử xuống Marseilles, sau đưa về Clermont-Gerrand để tránh bị bắt. Kent khai ra địa chỉ Vera, Giering định bắt và giữ Vera cho đến khi kết thúc chiến tranh để không làm lộ kế hoạch đóng giả Vera xâm nhập vào lưới của Rado, bằng cách báo cho Trung tâm rằng phải đưa cô Vera sang Thụy Sĩ để đảm bảo an ninh. Kế hoạch này có nhiều khả năng thành công. Một lần nữa phải chống lại mưu kế đó, Leopold nói với Giering:
- Nhân viên đó sẽ bị phát hiện ngay, Kent tưởng rằng chỉ có tôi biết địa chỉ của Vera Ackermann, đúng, cô đang ỏ Geneva...
Kế hoạch thứ hai của Giering thế là không thực hiện được và Vera vẫn ở ẩn trong một làng thuộc vùng Clermont-Gerrand cho đến khi kết thúc chiến tranh.
Kế hoạch thứ ba do Kent bày ra sẽ cử một liên lạc viên đến gặp Alexander Foote, cánh tay phải của Rado. Giering hỏi Leopold về cách liên lạc trước kia. Leopold đã cho Giering cách liên lạc giả để nếu Giering thục hiện sẽ làm cho Foote biết ngay là nguy hiểm phải tránh.
Ngoài ra trong hồi kí, Foote kể rằng Trung tâm đã cảnh háo cho anh nguy cơ và chỉ thị cho anh không nhận gặp gỡ và đề phòng điệp viên Đức theo dõi tìm ra địa chỉ nhà anh. Còn Giering đã chỉ dẫn cho điệp viên của y chuyển cho người mà điệp viên phải gặp một cuốn sách bọc giấy bóng vàng ỏ trong có những điện mật, rồi yêu cầu người đó chuyển cuốn sách và điện đó về Trung tâm và quy định làn gặp tiếp theo... Kiểu hành động như thế dù lật mặt nạ của hắn vì chứng tỏ hắn không bao giờ hoàn thành được nhiệm vụ thực sự. Chẳng ai ngốc đến mức trong chiến tranh, một điệp viên đi đến biên giới lại mang theo điện mật để trong cuốn sách như thế mà lính biên phòng lại không sinh nghi.
Thời đó, tài liệu truyền đi dưới hình thức vi phim dấu trong quần áo. Và không điệp viên nào lại dại dột hẹn hò mà không báo trước. Tất cả những hớ hênh đó khiến cho Foote từ chối quan hệ với phái viên của Giering. Tên này trở về tay không.
15 ngày sau, Trung tâm gửi một điện cho Kent tỏ ý ngạc nhiên rằng giao liên lại là điệp viên của Gestapo. Giering gỡ thể diện bằng cách giải thích rằng giao liên thật bị bắt và Gestapo đã phải cử một nhân viên thay thế vào đó.
Các kế hoạch xâm nhập lưới của Rado bằng DNĐ của Giering lần lượt thất bại. Nhưng vị trí tình báo Xô viết ở Thụy Sĩ quá quan trọng cho nên bọn Đức chưa chịu từ bỏ. Đích thân Schellenberg phụ trách việc xâm nhập này. Sau nhiều cố gắng lâu và kiên trì, hắn cũng đưa được một điệp viên bắt nhân tình với Rose B., mật mã viên của một trong ba điện đài của lưới Rado. Sau đó vợ chồng Masson tự giới thiệu là điệp viên xô viết cũ, đã xâm nhập được tiếp và báo cáo về Berlin những tình hình chính xác về hoạt động của lưới đó. Cuối cùng Schellenberg ép rất mạnh thủ trưởng cơ quan tình báo Thụy Sĩ phá lưới Rado. Kế hoạch đó cần nhiều thời gian, cho nên đến tận 1944 Rado vẫn tiếp tục báo cáo về Liên Xô những tin tức quý báu và quan trọng về quân sự do các sĩ quan cao cấp của Đức cung cấp.
Giering cũng gặp khó khăn về chi phí cho DNĐ. Trước khi bị phá, lưới DNĐ có hai công ty Simex và Simexco tài trợ, Moscow không phải lo gì về tài chính cho DNĐ. Vì Giering đã viết trong những báo cáo rằng hai công ty trên đã bị khủng bố, cho nên lô- gich là phải xin tài trợ.
Leopold đã cố vấn cho Giering làm cho hắn trở nên lố bịch: trước hết anh xui nó xin tài trợ cho nhóm ở Bỉ và Hà Lan do Vanzen đứng tên. Từ Bulgaria, gửi đến một hộp đậu đựng 10 bảng. ĐĐN thấy lạ không hiểu làm sao Trung tâm lại gửi cho số tiền còm cõi như vậy. Leopold giải thích rằng:
- Rất đơn giản thôi, Trung tâm rõ ràng muốn thử xem đường liên lạc có tốt hay không rồi mới chuyển những món tiền lớn hơn.
Chúng chờ lâu Trung tâm gửi tiếp tiền cho chúng.
ĐĐN yêu cầu gửi cho toán ở Hà Lan một số tiền lớn, dưới tên người nhận là Winterinck: Trung tâm trả lời đồng ý nhưng với điều kiện phải cho biết chính xác địa chỉ “một hộp thư” hoàn toàn an toàn. ĐĐN cho địa chỉ của một đảng viên cộng sản Hà Lan cũ… Nhưng Trung tâm báo hộp thư này: tại sao lại lấy địa chỉ mà Gestapo đã biết? ĐĐN giải thích một cách lúng túng. Trung tâm liền chủ động cho địa chỉ Bohden Cervinka, kĩ sư người Brussels, dặn đến đó lấy 5000 đô la. ĐĐN phấn khởi cử một nhân viên đến nhận thì bị viên kĩ sư đó cự tuyệt, cho là một chuyện nhạo báng ông. Một lần nữa ĐĐN bị vỡ mộng.
Trung tâm lại cho Efremov một địa chỉ của một tay buôn đồ nghĩa trang, tay này còn nợ cơ quan hành chính Moscow 5 vạn quan. Thâm ý của Trung tâm là ĐĐN hãy “chôn” ý đồ xin tài trợ đi...
 
0
Tên đồ tể ở Prague
 
Tháng sáu năm 1943 tình hình sức khỏe của Giering trở nên trầm trọng: bệnh ung thư cổ họng ngày càng nặng. Leopold khuyên hắn nên chữa bằng rượu mạnh cognac nhưng cũng không khỏi (chẳng cần ai khuyên, hắn cũng là tay bợm rượu rồi). Hắn càng uống nhiều hơn vì hắn không có hi vọng qua khỏi. Mặc dù những báo cáo của hắn về Berlin đều là những bản tin chiến thắng, nhưng hắn vẫn chưa thật tin. Rõ ràng hắn đã nhận xét với cấp trên của hắn để làm các vị này yên lòng rằng Sếp Lớn Leopold đã ngả về phe Đức, nhưng trong những cuộc trao đổi giữa hắn với Leopold, hắn luôn nhắc đi nhắc lại điều mà hắn lo ngại: vì lí do sâu xa gì mà thúc đẩy Leopold tham gia Trò cao thủ? Trả lời của Leopold trước sau như một: triển vọng hòa bình riêng rẽ giữa Liên Xô và Đức.
Hắn không hoàn toàn tin, hắn đã biết Leopold là người Do Thái, vẫn trung thành với chủ nghĩa cộng sản và kiên quyết chống quốc xã.
Giering là tên cớm thông minh nhưng là một người Đức thuần túy cho nên luôn luôn lý luận theo lôgich. Giả dụ có ai phát hiện cho hắn rằng Leopold nằm trong xà lim ngày đêm bị canh giữ mà vẫn viết được báo cáo và chuyển đến Juliette, thì hắn sẽ trả lời rằng: không thể có. Ngay chuyện có “những toán phản gián xô viết” khiến cho y lo ngay ngáy, nhung hắn không bao giờ nghi ngờ rằng không có những toán đó, thế mới là lôgich.
Một quan điểm xuyên suốt hành vi của hắn: chỉ thủ trưởng của Đội Đặc nhiệm là phải nắm được hết công việc của kế hoạch. Sau mỗi lần nốc cognac, hắn thường nhắc lại với Leopold rằng nguyên tắc hành động của hắn là: “Người chỉ huy một trò chơi lớn như tôi phải biết định mức độ chân lý và dối trá trong quan hệ với những người tham gia cuộc chơi... Đối với những người lãnh đạo ở Berlin, quan trọng là làm cho họ yên tâm bằng cách thuyết phục họ rằng dù có gì đi nữa thì mọi việc vẫn tiến hành tốt. Còn những quân nhân - họ chẳng hiểu nhiều về những tế nhị của kế hoạch này - và với Cục phản gián quân sự, điều tốt nhất là đừng cho họ biết nhiều, chỉ cho họ biết điều gì mà tôi cho là cần thiết mà thôi. Người nắm hết sự thật duy nhất chỉ có tôi”. Những cấp dưới hắn chỉ biết đến gì mà cần cho việc của chúng mà thôi.
Khi Pannwitz thay Giering đứng đầu ĐĐN, hắn chỉ hiểu biết tình hình ở Pháp qua những bản báo cáo gửi về Berlin là những cái xa vời so với thực tế tại chỗ. Leopold lo ngại Pannwitz sẽ đưa Trò Cao Thủ đến những tình thế đẫm máu hơn nữa. Cũng thời gian này Reiser chuyển về Gestapo ở Karlsruhe. Vậy là những đối tác chính của Leopold đều thay đổi cả.
Leopold gặp Pannwitz lần đầu tiên vào tháng bẩy năm 1943. Anh nhớ kĩ lúc hắn vào phòng của anh, tại Neuilly. Anh rất chú ý và tò mò quan sát tên trùm ĐĐN mới. Kẻ sắp trở thành kẻ thù chính của anh. Về thể chất, hắn khác Giering. Trẻ, to, mặt tròn và hồng, ánh mắt sắc sau đôi kính dầy, ăn mặc chải chuốt, dáng điệu tiểu tư sản. Vừa điềm tĩnh, vùa sôi sục, toát ra hình ảnh một hòn bầy nhầy, khó nắm được.
Pannwitz sinh năm 1911 tại Berlin. Thời niên thiếu, hắn tham gia hướng đạo sinh đạo thiên chúa. Giáo dục theo đạo thiên chúa của gia đình đưa hắn đến trường thần học, nhưng sau ba năm y bỏ về nhà. Khi hắn 22 tuổi thì Hitler lên nắm chính quyền. Hắn là nhân viên cảnh sát hình sự, chuyên trách những vụ trọng án. Rồi hắn xin sang cảnh sát chính trị. Để leo lên trong chế độ quốc xã, con đường chắc chắn nhất, nhanh nhất là vào Gestapo. Số phận mỉm cười với hắn. Hắn được chú ý và ưu ái. Con sói non tiếp cận con sói vua, hắn trở thành một trong những cộng sự của Heydrich là tên tập hợp quanh mình những con người có năng khiếu, có óc phiêu lưu, tham tàn. Trong số này sau nổi lên là Schellenberg, Eichmann.
Ngày 29-9-1941 Heydrich được phong làm phó toàn quyền Bohemia-Moravia và đóng trụ sở ở Prague. Cánh tay phải của Heydrich là Pannwitz. Một thời kì đau thương khủng khiếp rơi xuống dân tộc Tiệp (Czech). Các trại tập trung đầy tù nhân; hàng trăm người kháng chiến bị bắt, tra tấn, đầy đọa, bắn giết. Anh và chính phủ Tiệp lưu vong quyết định thả du kích nhảy dù xuống Tiệp để trả miếng khủng hố trắng của phát xít. Ngày 27-5-1942 Heydrich đi trên xe bị du kích phục kích. Hắn bị thương nặng và đến ngày 4-6 thì chết.
Cuộc trả thù thật là khủng khiếp. Bản thân chịu trách nhiệm bảo vệ Heydrich mà không làm tròn trách nhiệm đối với chủ, Pannwitz ra tay tàn sát. Goebbels ra lệnh giết người Do Thái trước tiên. Hàng trăm người Do Thái trong trại Theresienstadt bị tiêu diệt. Trên toàn đất Tiệp ba nghìn người bị bắt, và sau khi Heydrich chết, khủng bố càng khủng khiếp hơn. Thật là cuộc tắm máu. Riêng tại nhà tù Prague 1.700 người Tiệp bị hành quyết; ở Brno 1.300 người. Ngày 10-6, toàn bộ dân làng Lidice từ ông già đến trẻ con đều bị tàn sát, riêng phụ nữ thì bị đày vào Ravensbruck.
Đích thân Pannwitz đã chỉ đạo việc điều tra thủ phạm cuộc phục kích và cũng chính hắn là người chịu trách nhiệm những cuộc tàn sát đó. Chắc chắn hắn không quên, hắn thường trông thấy bóng của những vô vàn nạn nhân của hắn, những cảnh tra tấn liên miên trong những hầm của nhà tù Prague. Cuối cùng chính là hắn đã chỉ huy trung đoàn SS tấn công nhà thờ Saint Charles-Borromee là nơi toán du kích đã phục kích Heydrich đang ẩn nấp trong nhà thờ này.
Sau những sự kiện đó, Pannwitz bị các sếp ở Berlin rầy la, cho nên hắn tìm cách mai danh ẩn tích bằng cách xin ra mặt trận Nga. Hắn chỉ ở mặt trận này có hơn tháng rồi chuồn vì không chịu nổi khí hậu khắc nghiệt ở đó. Đầu năm 1943 hắn trở về Berlin làm cộng sự cho Gestapo-Muller, phụ trách nghiên cứu các báo cáo của ĐĐN từ Paris gửi về. Sau đó sếp mới của hắn nhận xét hắn có đủ khả năng tiến hành trò “đại chính trị”. Pannwitz khá giầu óc tưởng tượng. Sau khi từ Prague trở về Đức, hắn đề xuất kế hoạch tiêu diệt kháng chiến Tiệp. Hắn giải thích rằng bắt một người yêu nước sẽ có mười người khác vùng lên. Vậy chỉ còn một giải pháp là: bắt giữ bọn lãnh đạo và khống chế họ mà sử dụng. Một khi họ đầu hàng Đức nhưng vẫn giữ cương vị cũ trong kháng chiến, họ sẽ tàn phá các phong trào bí mật.
Kế hoạch của Pannwitz trên giấy thì rất hấp dẫn, nhưng trong thực tế không phù hợp với tính khẩn trương của tình hình. Tại Tiệp Khắc Gestapo không còn thời gian, nó phải đánh nhanh đánh mạnh, cho nên phải dùng lại những phương pháp cũ.
Khi đọc những hồ sơ của ĐĐN Paris, Pannwitz nhẩy chồm lên: ở đó ít nhất người ta đang áp dụng đề án của hắn; ở đó ít ra người ta cũng đã hiểu. Và Pannwitz còn tin hơn Giering về sự đúng đắn của quan điểm của mình cho nên hắn lao vào đề án không cần phải đánh mà Sếp Lớn và những thành viên khác của DNĐ đã phải chạy sang hàng ngũ của Đức. Kế hoạch của hắn rõ ràng là: xin thay thế Giering đang ốm nặng sắp phải rời nhiệm sở; để đạt được nguyện vọng đó, hắn vận dụng hết những ô dù của hắn.
Khi gặp Pannwitz lần đầu, Leopold không nghi ngờ con người có dáng vẻ của một viên kế toán hãng kinh doanh nhỏ nhưng hai bàn tay vấy toàn máu của những người Tiệp yêu nước, một tên vờ ra vẻ là một người quân tử chỉ làm những đại sự về chính trị thôi. Hắn sẽ thực hiện ý đồ của hắn, hắn đã đến đúng thời điểm. Các sếp của hắn ỏ Berlin nhận định rằng giai đoạn đầu của Trò Cao Thủ đã qua. Sau khi đã làm mọi việc - và đã hi sinh nhiều rồi - để giành được sự tin tưởng của Trung tâm, nay phải đi xa hơn, bước sang giai đoạn hai.
Tình thế mới đòi hỏi chính sách mới. Chiến tranh đã bước sang giai đoạn mới. Từ trận đại thắng ở Stalingrad, cỗ máy quân sự của Nga đã chuyển bánh và không vật gì có thể cản được nó nữa. Ngày 10-7-1943, quân Hoa Kỳ đã đổ lên đảo Sicily, ngày 25 Mussolini bị lật đổ. Triển vọng Anh Mỹ đổ bộ lên bờ biển phía Tây Âu ngày càng đến gần. Ở Berlin, chúng biết không thể chiến thắng bằng quân sự. Himmler, Schellenberg, Canaris không còn ảo tưởng gì về kết cục cuối cùng, từ nay đặt tất cả hi vọng vào giải pháp hòa bình riêng rẽ với phương Tây. Nếu hiểu niềm hi vọng đó và lập luận đó, Trò Cao Thủ sẽ có giá trị hàng đầu. Cho nên phải tăng nhanh nhịp điệu lên. Pannwitz đến Paris mang theo chỉ thị như thế.
Phải, cần tiến hành nhanh lên. Từ mùa hè 1943, Martin Bormann, cánh tay phải của Hitler, chú ý sát sao vụ này. Chẳng những hắn lập một nhóm chuyên viên phụ trách sửa soạn vật liệu phục vụ cho Trò Cao Thủ, mà hắn còn tự tay thảo những chỉ thị.
Hitler biết việc này, nhưng chắc không biết thâm ý của lũ tay chân. Đứng về phái chống lại chiến lược đó nổi lên hàng đầu là Canaris và Von Ribbentrop. Sự chống đối của ngoại trưởng Ribbentrop làm phiền cho kế hoạch bởi vì muốn cung cấp tin tức về đối ngoại bắt buộc phải qua tay hắn. Từ khi Bormann đích thân nắm kế hoạch này, tình thế có khác đi: ông ta có đủ thẩm quyền cần thiết để ngăn chặn những ý kiến do dự của Ribbentrop và Von Rundstedt cộng lại. Kể từ lúc đó trở đi kế hoạch Trò Cao Thủ mới mang tên là kế hoạch Con Gấu. Khi được tin bắt được Leopold, Trùm Gestapo Paris là Boemelburg đã thốt lên: “Rốt cuộc nay chúng ta đã tóm được con gấu xô viết!”. Tất cả những mưu sĩ đó không còn lo ngại con gấu sẽ tát vào chúng vì con thú rừng này đã bị chúng nhốt vào cũi, nhưng chúng đã quên mất câu tục ngữ rằng “chớ có đe hàng tổng khi chưa đỗ ông nghè”.
Pannwitz bắt đầu lên tiếng. Trước hết hắn phê phán người tiền nhiệm phụ trách ĐĐN. Hắn tuyên bố trước Leopold rằng Reiser coi vụ này với nhãn quan của một tên cớm thiển cận, còn Giering lại quá thận trọng cho nên tiến hành Trò Cao Thủ quá chậm chạp. Hắn giải thích cho Leopold rằng đáng lẽ phải bước sang giai đoạn chính trị từ lâu rồi. Tính toán của Pannwitz cho thấy hiểu biết về tình báo của hắn có nhiều khuyết điểm. Tuy có kinh nghiệm về hoạt động phản gián giúp cho y tránh không để ai báo cáo sai hoặc phóng đại, nhưng hắn lại hoàn toàn mù tịt về những điều trái sự thật chứa đựng trong những trình bày của Giering cho cấp trên ở Berlin.
Tên trưởng ĐĐN đề nghị Leopold chuyển tù nhà tù Neuilly đến một tư gia có lính gác kín đáo; theo ý kiến của hắn cũng là ý kiến của các sếp, liên lạc với Moscow bằng điện đài trở nên không đủ, vậy phải bước sang giai đoạn khác là liên hệ trực tiếp. Hắn dự định sẽ cử một phái viên đến Trung tâm để thông báo cho Moscow ý nguyện của một nhóm quân nhân Đức quan trọng để thảo luận về hòa bình riêng rẽ với Liên Xô. Đặc phái viên này sẽ mang theo những tài liệu chứng minh quan điểm đó, đồng thời cả tài liệu có những chứng cứ ngược lại chứng minh rằng trong những giới khác của Đức người ta cũng tìm giải pháp hòa bình riêng rẽ... với phương Tây.
Mục đích của kế hoạch đẹp đẽ đó nhằm phá vỡ khối liên minh chống phát xít...Chúng sẽ không chịu từ bỏ ý kiến. Pannwitz rất thiển cận, nhưng trên hết, đó là một tên phát xít thuần túy, thấm đầy óc tự cao nòi giống, biết rất rõ Leopold là người Do Thái, và mù quáng bởi lòng khinh rẻ ngốc nghếch đó cho nên hắn đã đánh giá thấp kẻ thù. Phải là người hoàn toàn vô ý thức và hoàn toàn bị đầu độc mói tưởng tượng rằng những chiến sĩ của DNĐ có giây phút nào đó chủ trương đi với bọn quốc xã. Cuộc chiến đấu của DNĐ là sống chết, nhưng tên Pannwitz không đủ khả năng hiểu nổi điều đó.
Được nghe báo cáo kế hoạch đưa phái viên sang Moscow, Himmler cho rằng quá may rủi. Pannwitz cho biết Himmler ngại phái viên đó có thể bị cộng sản thuyết phục mất. Điển hình những người Đức tham gia DNĐ ở Berlin hãy còn mới rượi trong tâm trí của hắn. Làm sao những người như Schulze-Boysen, Arvid Harnack lại có thể trở thành gián điệp của Liên Xô, làm sao những con người giầu có và đáng trọng trong xã hội Đức lại tham gia chống lại chủ nghĩa quốc xã, điều đó vượt quá lý trí của hàng ngũ Gestapo.
Pannwitz không ngã lòng: hắn đề nghị gợi ý Trung tâm cử một phái viên sang Paris. Leopold làm ra vẻ ủng hộ đã trả lời rằng ý kiến đó có thể thực hiện được. Về Kent, hắn cho rằng ý kiến đó là không tưởng. Như chiếc con lắc quay giữa hai vị trí, Kent quay về lập trường phản bội. Hắn muốn chứng tỏ lòng trung thành đối với thủ trưởng mới và trở lại phía đối lập. Vợ hắn sắp ở cữ, hắn không muốn gia đình hắn mất ổn định. Cuối cùng Leopold thuyết phục được Pannwitz bằng lập luận rằng nếu còn để Kent dính vào vụ này thì toàn bộ kế hoạch sẽ trở thành trò hề mà thôi.
Một bức điện đài gửi cho Trung tâm trình bày rằng một nhóm sĩ quan Đức muốn liên hệ với Moscow, đề nghị Moscow cử một phái viên sang gặp người Đức, sẽ hẹn gặp phái viên tại nhà của Hillel Katz  tại số 3 phố Edmond-Roger. Giao hẹn cứ 10 ngày, Leopold lại chờ tại đó phái viên của Moscow.
ĐĐN ra sức chuẩn bị cuộc gặp này. Pannwitz và cấp dưới bàn mãi về lịch trình của cuộc gặp. Cùng với Berg, Leopold sẽ gặp để cùng phái viên chuẩn bị cho cuộc hẹn: Pannwitz sẽ đóng vai đại diện của nhóm sĩ quan Đức. Thái độ say sưa của hắn khi xây dựng cái lâu đài trên băng thật là đáng tức cười. Chó sói khoác áo choàng của người chăn cừu, tên đồ tể ở Prague đóng vai nhà trung gian với Moscow.
Trong khi chờ đợi cuộc gặp gỡ “Lịch sử” này, Pannwitz khăng khăng mở rộng tầm hoạt động của các điện đài. Còn chuyện lưới của Rado thì hắn chẳng chú ý đến nữa. Chính Schellenberg nắm vụ Rado, đối đầu với Gestapo-Muller, sếp trực tiếp của Pannwitz. Sự tranh giành giữa các phe trong chế độ quốc xã được đặt lên trên cả lợi ích của Đế chế 3. Leopold có chứng cứ khi hai phái viên của Schellenberg đến Paris yêu cầu được gặp Leopold và Kent về lưới của Rado. Pannwitz dặn Leopold đừng kể những gì anh biết về Rado.
Tham vọng của Pannwitz là xâm nhập các lưới tình báo xô viết tại Thụy Điển và Thổ Nhĩ Kỳ nhằm mở rộng Trò Cao Thủ. Dưới danh nghĩa của hãng Vua cao su, Leopold và Grossvogel trước kia đã đặt cơ sở hoạt động ở Đan Mạch, Thụy Điển và Phần Lan. Muốn nối lại những quan hệ đó, phải thông qua Leopold và Grossvogel. Hai người chiến sĩ này tìm cách phá mưu mô của Pannwitz.
Thời kỳ đó, Trung tâm tập trung quan tâm đến tình hình ở Italia sau khi Mussolini bị lật đổ, và cũng trong thòi kỳ này nhiều giới ở Berlin thử bắt quan hệ với phương Tây. Allen Dulles, trùm tình báo Hoa Kì, khi đó đã gặp nhiều phái viên Đức tại Thụy Sĩ. Trung tâm được thông tin nhờ Trò Cao Thủ.
Về phần Pannwitz hắn ngày càng nóng lòng sốt ruột chờ phái viên của Trung tâm. Cái hướng sai đó khiến cho hắn rất thất vọng: Trung tâm chẳng bao giờ phái người sang gặp hắn. Leopold đã biết trước như vậy, nhưng anh cũng được dạo chơi mấy lần đến phố Edmond-Roger. Cuối tháng tám, anh đã được gia đình Katz tiếp đón nồng hậu. Ngôi nhà này đã trở thành cái bẫy, Raichmann trở thành miếng mồi, mồi bị mốc meo nhưng đối tượng chẳng thấy đâu cả.
Trông thấy Leopold vào nhà này, Raichmann không đủ can đảm để lại gần, mặt hắn cúi gằm xuống, đứng cách một khoảng xa. Còn Leopold trong lúc “chờ đợi” đã suy nghĩ về cái dốc mà tên này cũng như Efremov hoặc Mathieu đã trượt xuống. Họ đã theo những con đường khác nhau, nhưng họ đã để bản thân họ lăn xuống cái hố là phản bội lại đồng chí. Pannwitz đối xử với họ cũng khác nhau. Mathieu là một “cộng tác viên danh dự”, Efremov đã chọn quốc gia Ukraine, nhưrm Raichmann lại bị “ông chủ” xếp vào loại bét và dù gì đi nữa, hắn cũng vẫn bị tên phân biệt chủng tộc siêu hạng Pannwitz coi là “tên Do Thái bẩn thỉu”.
Pannwitz không quên những sự phân biệt đó đối với bọn tay sai khi hắn vội vã rút khỏi Paris sắp được giải phóng; hắn dù phải rút chạy nhưng không quên khẩu hiệu hàng đầu mà Đế chế III dạy hắn là mối hằn thù đối với người Do Thái. Mathieu được trả tiền và cho thôi việc. Tên này đã phục vụ tốt, phản bội giỏi, nó xứng đáng với cái lương phản bội. Efremov được ưu ái hơn: nó nhận một hộ chiếu giả và ít tiền để trốn sang Mỹ latinh. Raichmann bị tù tại Bỉ: nó không hiểu rằng dù phản bội nhưng đối với bọn quốc xã một người Do Thái không bao giờ lấy lại được danh dự! Mười ngày sau, theo kế hoạch của Pannwitz, Leopold cùng Katz trở lại Edmond-Roger, để chờ phái viên của Liên Xô. Raichmann định gỡ lại lòng tin. Hắn mời Katz cho gặp riêng và xin Katz nói với Leopold rằng hắn biết hai người còn tiếp tục đấu tranh và hắn hối tiếc việc hắn đã làm. Hắn đã trình bầy sở dĩ hắn quay phản vì vợ con hắn bị đe dọa và cũng vì thủ trưởng Efremov của hắn phản bội đã khai báo ra hắn và những người khác. Bây giò hắn sẵn sàng làm một việc gì đó để chuộc tội... Katz vờ không hiểu ý kiến của hắn.
Không thể nào tin được hắn. Đã phản bội một lần thì lần sau có cơ hội hắn sẽ phản bội nữa. Chính hai tay của hắn đã đóng chặt cái lối về. Khi đã phó mặc cho kẻ thù tùy ý khu xử thì chỉ còn có hai lựa chọn. Giữa đầu hàng và kháng chiến là một vực thẳm không thể qua được. Không thể từ phản bội trở thành người kháng chiến được.
 
0
“Sếp lớn đã vượt ngục”
 
Tháng chín năm 1943. Hôm đó Willy Berg đến thăm Leopold tại nhà tù Neuilly như thường lệ, nhưng hắn vừa vào thì Leopold nhận thấy hắn khác thường. Hắn có vẻ rất sôi động, như hắn vừa mới nhận một tin khác thường. Leopold lạnh cả sống lưng khi cho anh biết tin:
- Thật là tuyệt vời, Duval đã bị bắt!
Trong báo cáo hồi tháng giêng, Leopold đã nhấn mạnh rằng cho Pauriol (Duval) trốn biệt đi. Anh ta bị truy nã rất ráo riết, nhưng đến đầu mùa hè thì Leopold được tin bọn Đức đã mất dấu vết của anh. Vậy tại sao anh lại rơi vào tay Gestapo? Leopold rụng rời chân tay, rồi Berg cho biết rõ hơn: Pauriol bị bắt ngày 13-8 tại Pierrefitte, ở phía bắc Paris. Trước đó mấy ngày một điện đài của Đảng cộng sản Pháp bị rơi vào tay Gestapo; một điện báo viên trốn thoát và liên hệ với Pauriol. Đồng chí này đồng ý và thế là bị rơi vào bẫy.
Tuy nhiên Gestapo chưa biết rõ Pauriol. Từ 1940 Pauriol là một trong những đảng viên hữu hiệu nhất của Đảng cộng sản Pháp trong bí mật. Đồng chí lãnh đạo cơ quan điện đài đồng thời gắn với Dàn Nhạc Đỏ. Chính đồng chí đã đào tạo các điện báo viên - cũng chính đồng chí lắp những điện đài phát và đồng chí còn là người chịu trách nhiệm liên lạc giữa Juliette và lãnh đạo Đảng Cộng sản. Hồi tháng giêng đồng chí đã giữ một trong những vai chính của kế hoạch Juliette. Sau khi nhận được tài liệu quí báu gửi cho Trung tâm, đồng chí còn phải chuyển tài liệu của Leopold cho Đảng. Ngoài ra, từ khi trụ sở ở phố Atrebates bị vỡ ngày 13-12-1941 ở Brussels, đồng chí đã cùng với Grossvogel lập ra một nhóm đặc biệt chịu trách nhiệm xác định những vụ bắt bớ các thành viên DNĐ ở Bỉ và ở Pháp. Cuối cùng, trước khi bị bắt, Leopold cùng đồng chí đó đã quy ước thủ tục liên lạc để phát hiện hoạt động của ĐĐN chống lại Trung tâm. Vậy đồng chí đó biết hoạt động của kế hoạch Trò Cao Thủ.
Nhắc lại những việc trên để thấy vai trò rất quan trọng của Pauriol. Đồng chí khai nhỏ giọt, rằng chỉ là thợ máy bình thường, một nhân viên quèn. Than ôi, đến cuối tháng, bọn ĐĐN lục trong tàng thư những người tình nghi tham gia Đảng cộng sản, chúng thấy ảnh của Fernand Pauriol và phát hiện ra rằng chúng đã bắt được Duval quan trọng mà chúng đã truy nã mãi không nổi.
Thiệt hại thật là to lớn… Leopold hiểu rất rõ Duval, tin rằng đồng chí có thể chấp nhận hy sinh tính mạng, nhưng làm sao mà đoán được đồng chí có thể chịu đựng được những đòn tra tấn dã man của phát xít. Ai có thể đảm bảo rằng đôi môi của đồng chí bị đánh đập mà không khai ra một tên người? Vì vậy, mặc dù tuyệt đối tin vào đồng chí Leopold vẫn chuẩn bị tình huống sụp đổ của những gì anh đã xây đắp nên, kể từ “ trò chơi” do chính anh dàn dựng.
Qua Berg, Leopold biết được tình thế của Pauriol: vừa dụ vừa tra tấn, bọn đồ tể hỏi về một vấn đề chủ chốt: lãnh đạo Đảng Cộng sản đã báo cho Moscow việc Leopold và đồng đội trong DNĐ bị bắt chưa?
Đồng chí một mực khai rằng rất ít lần anh có nhận được nhũng gói nhỏ dán kín để chuyển cho một giao liên mà anh không biết mặt. Vai trò của anh chỉ là trung gian giữa Juliette và cấp trên.
Thuyết phục, tra tấn, khống chế cũng chẳng làm đồng chí khai gì khác. Đồng chí đã giữ được khí tiết. ĐĐN đe sẽ giết vợ và con gái anh... không ăn thua. Con người tuyệt vời này, người đảng viên phi thường này đã đương đầu vững vàng với bọn quỷ dữ tròn một năm. Pannwitz và những tên tay sai ý thức hoàn toàn được tầm quan trọng của tù nhân này dù cả năm hỏi cung nhưng chúng vẫn không hết hy vọng khui được bí mật của anh...
Leopold sống những ngày đầu tháng chín trong tình trạng kinh hoàng, trong trạng thái không biết gì về khí tiết của đồng chí Pauriol. Anh trải qua những ngày đêm không ngủ, bị giằng xé bởi những mâu thuẫn, ngập chìm trong những giả thuyết kinh khủng, tìm cách đối phó, thay đổi tình thế hiểm nghèo này. Ngày tháng trôi qua, anh theo dõi khổ nạn của Pauriol. Anh sẵn sàng gánh chịu điều xấu nhất, số phận của anh, nhất là số phận của Trò Cao thủ đang tùy thuộc vào một con người trong hầm tra tấn đang học để biết những giới hạn của đau đớn. Đồng chí không tìm thấy giới hạn đó.
Những đòn đau nối tiếp nhau; ngày 10-9 Berg cho biết ĐĐN vừa mới phát hiện ở vùng Lyon một điện đài bí mật của Đảng cộng sản Pháp cùng với số lượng lớn điện mật và hồ sơ. Bọn Đức cho rằng chúng đã phát hiện được điện đài trung ương của lãng đạo Đảng Cộng sản. Trong số điện bắt được, chúng hy vọng sẽ phát hiện những điện liên quan đến DNĐ gửi về Trung tâm qua Đảng cộng sản Pháp.
Giông tố ngày càng trở nên khủng khiếp; Leopold được tin ĐĐN quyết định mời toán đặc biệt chuyên giải mật mã đến Paris để khám phá số điện mật của Đảng cộng sản Pháp. Ngày 11-9 Leopold đã trông thấy tên tiến sĩ trứ danh Vauck cùng số cộng tác viên và Berg làm việc ở trụ sở Gestapo Paris phố Saussaies và Berg cho biết công việc giải mã tiến triển tốt. Chỉ có một vấn đề là tìm trong số điện đó những gì liên quan đến DNĐ. Berg cho biết đó chỉ là việc ngày một ngày hai mà thôi.
Leopold biết rằng ở phía nam nước Pháp, Đảng Cộng sản có một điện đài lớn và anh nghĩ rằng bản báo cáo anh chuyển về Trung tâm qua Juliette vào tháng giêng 1943 phải qua đài này. Nghiêm trọng hơn nữa là bản báo cáo này do Đảng Cộng sản mã chứ không phải Leopold mã, nếu Vauck phá được mật mã của đảng thì sẽ đọc được những báo cáo của anh.
Kết luận đơn giản, rành rành là Trò Cao thủ sắp bị lật tẩy. Cần phải hành động, và hành động ngay tức khắc trước khi Leopold gặp nguy cơ. Những đêm mùng 10, 11 và 12 đối với anh là những đêm đầy ác mộng. Anh thấy bất cứ lúc nào bọn chúng cũng có thể phát hiện ra sự thật, lúc nào chúng có thể nhe nanh dơ vuốt vồ lấy anh. Anh không sợ chết, không sợ tra tấn vì đó là những bạn đồng hành của anh hàng ngày, anh chỉ e sợ đến tận từng thớ thịt sự nhục nhã cao độ một khi lời đe dọa của Giering “Ông Otto ạ, ông đã thua...” lại trở thành sự thật. Xuất hiện là kẻ chiến bại trước bọn vô lại!
Không thể được. Phải trốn. Vượt ngục là kháng chiến. Vượt ngục là hi vọng được chết trên cương vị người chiến sĩ. Trong những ngày bão tố trong lòng này, Leopold cố dấu những điều đó lộ ra nét mặt. Để giữ kín tâm trạng, anh nói chuyện hàng giờ liền với Berg, anh gặp Pannwitz và những tên khác trong ĐĐN, anh nói những chuyện làm dịu lòng, làm cho chúng tin rằng anh rất sung sướng thấy những bức điện đã dịch ra rõ khẳng định giả dụ của anh về những tin tức do Đảng Cộng sản gửi đến Moscow.
Ngày 11-9, trong khi dạo trong vườn sau, Leopold cho Katz biết tình hình xảy ra: anh này cũng đi đến kết luận cũng giống Leopold: Bất cứ lúc nào các anh sẽ bị phát giác. Leopold đề nghị Katz cùng trốn vào đêm 12 rạng 13. Ra khỏi buồng và hầm là nơi giam hai người không khó khăn gì; đi đến cổng có lính Slovak canh giữ cũng chẳng khó hơn. Sẽ đập chết tên lính gác, vượt cổng rồi khóa trái cổng lại. Hai người lại có thêm thuận lợi là bọn lính gác thường say sưa, tuy còn phải tính đến bọn lính gác khác. Nhưng hai người cũng có cơ hội.
Katz tán thành kế hoạch trốn nhưng riêng anh, anh cho rằng anh không có quyền trốn, rằng không phải anh sợ chết trong tù mà anh quyết định ở lại. Anh nghĩ ràng nếu anh trốn thì vợ anh và hai con gái của anh đang bị Gestapo giám sát tại lâu đài Billeron sẽ bị trả thù. Leopold tính toán lập luận đó đúng, nhưng anh nhắc Katz về trường hợp thực hiện kế hoạch với bà Juliette cũng đã suýt giết anh. Anh trả lời:
- Hoàn cảnh lúc đó khác bây giờ. Khi đó tôi hành động vì lợi ích chung nhằm báo động cho Trung tâm biết âm mưu của ĐĐN. Tôi có quyền và nghĩa vụ liều tính mạng của tôi và của gia đình tôi; cái được thua quá quan trọng và vượt quá tình thế khó nghĩ của cá nhân. Ngày nay, chỉ mình tôi liên can và như vậy không cần xảy ra nguy hiểm cho vợ và các con tôi.
Nói sao với Katz nào? Bác bẻ anh sao được? Leopold đành im... Katz thuộc vào loại ưu tú suốt đời vị tha, hi sinh. Không, anh không thể trả lời Katz, nhưng anh rất biết rằng sau khi anh trốn thì bọn Gestapo dã man sẽ không tha Katz đâu.
Hôm sau, Leopold cho Katz biết kế hoạch vượt mới của anh. Katz chúc anh may mắn và yêu cầu anh nếu thành công thì cố hết sức cứu vợ con anh. Anh khẳng định đó là nguyện vọng duy nhất của anh. Tối 12, Leopold vĩnh biệt người bạn chiến đấu thân yêu. Hai người cố nén xúc động.
Bây giờ Leopold phải tập trung vào kế hoạch vượt ngục. Sẽ rất khó khăn, không được phép sơ xuất, anh điểm lại những yếu tố của kế hoạch, cân nhắc lại cơ sở thành công để kết luận rằng chưa có lúc nào thuận lợi như lúc này: Berg hàng ngày đến Neuilly đưa anh về Saussaies, sự giám sát đã nới lỏng dần dần, chiếc xe thứ nhì giám sát sau xe của anh đã thôi không đi theo nữa, trong ô tô của anh ngoài Berg chỉ còn có tên lái xe là người của Gestapo mà thôi. Tên lái xe còn bận việc lái, Berg đã lơi lỏng cảnh giác vì đã bị tình cảm với Leopold ru ngủ. Điều kiện là tối ưu. Ngoài ra vì gia đình sa sút nên Berg sinh ra đau ốm, hắn lại dùng rượu để giải sầu, mà càng uống rượu, hắn càng đau.
Những điểm yếu của Berg là sơ hở của ĐĐN mà Leopold đã tính để tận dụng khi cần. Anh tỏ ra săn sóc súc khỏe của hắn, có lần anh hứa sẽ dẫn hắn đến hiệu thuốc Bailly ở 15 phố Rome để mua loại thuốc uống vào sẽ hết đau dạ dày. Gợi ý này Leopold có dụng ý vì anh đã quan sát thấy hiệu thuốc có hai cổng, lại gần ga xe điện ngầm.
Khi Leopold đến trụ sở phố Saussaies, tiến sĩ Vauck báo cho anh biết rằng hôm sau hắn sẽ dịch được các bức điện mật của Đảng cộng sản Pháp. Vậy ngày 13 sẽ là ngày hạn cuối cùng Leopold phải trốn. Nếu chậm thì cái bẫy sẽ sập xuống cổ anh. Leopold quyết định thực hiện kế hoạch: ngày mai Berg sẽ đến dẫn anh đến trụ sở Gestapo phố Saussaies vào quãng buổi trưa. Hắn chắc chắn sẽ yêu cầu đi ra hiệu thuốc và cùng vào hiệu thuốc. Anh dự định sẽ tiến đến quầy trả tiền rồi vọt ra cổng sau để trốn. Berg sẽ gặp khó khăn: la lên bằng tiếng Đức ở giữa đám đông khách hàng là người Pháp thì chẳng có tác dụng gì, nếu bắn thì vướng khách hàng. Nếu hắn đuổi theo thì Leopold tin rằng anh sẽ chạy nhanh hơn, còn hắn với trạng thái say rượu hầu như thường xuyên thì không sao bắt được anh. Anh hy vọng sẽ có vài phút để chui xuống ga xe điện ngầm, rong về ga cuối đường Neuilly và lên xe lửa về vùng Saint Germain là nơi anh có cơ sở. Không thể đi xe lửa đến ga Saint-Lazare vì nhất định Gestapo sẽ báo động và vây chặt khu vực này để bắt anh. Ngoài ra anh có sẵn giấy tờ của ĐĐN trao cho anh cùng với món tiền mỗi khi ra khỏi nhà tù này.
Anh sẵn sàng hành động. Suốt đêm anh suy nghĩ và hình dung ra cuốn phim hành động: vượt ngục thành công.
Ngày 13 tháng chín 1943, Leopold hơi bồn chồn, anh hy vọng không có chuyện gì cản trở kế hoạch của anh, rằng Berg dù cố ốm nặng hơn nhưng cũng không nghỉ và đưa người khác đi thay. Không, mọi việc suôn sẻ: đúng 11 giờ rưỡi hắn vẫn đến. Hai người lên xe ra khỏi cổng, Leopold ngoái lại thấy Katz đứng nhìn, anh ra hiệu vĩnh biệt. Anh biết rằng không bao giờ anh còn đưực gặp người bạn chiến đấu đó nữa. Hai người không thể trao đổi bằng lời, nên chỉ vĩnh biệt bằng cử chỉ thôi.
Berg trao thẻ căn cước và giấy 500 quan Pháp, với vẻ đầy lòng thương, anh hỏi thăm tình hình súc khỏe của Berg:
- Hôm nay ông thấy sức khỏe ra sao?
- Ngày càng đau hơn... chúng ta phải đi đến hiệu thuốc thôi.
Hắn ngủ gà ngủ gật khi xe đến hiệu thuốc Bailly, Leopold hích nhẹ và bảo:
- Chúng ta đến nơi rồi, ông vào hiệu chứ?
- Ông lên mua thuốc rồi quay lại mau nhé...
Hắn muốn gì? Có phải đây là mánh khóe không? Có phải hắn muốn thử anh không? Rất bình tĩnh, anh nhìn thẳng vào mắt hắn và chỉ cho hắn biết:
- Nhưng này Berg, hiệu thuốc Bailly có một cổng khác đấy.
- Tôi hoàn toàn tin tưởng ông – Hắn vừa cười vừa nói - Ông cũng biết tôi mệt lắm không thể leo gác cao được...
Leopold không nhắc lần thứ nhì, anh vào hiệu thuốc... và vọt ngay ra cổng sau. Chỉ vài phút, anh đã ngồi trên xe điện ngầm, rồi anh thay xe diện đến cầu Neuilly, đi xe buýt đến khu Saint Germain. Dần dà anh lấy lại đưọc bình tĩnh. Theo bản năng, anh quan sát xung quanh chẳng thấy ai để ý đến mình; anh bắt đầu tưởng tượng ra phản ứng của Berg. Ít ra trong mươi phút Berg chưa có phản úng gì vì đó là một thời gian phải có trong một cửa hiệu đông khách. Lo lắng, Berg lên tầng gác hiệu thuốc tìm khắp nơi, lại mất thêm mươi phút nữa. Không thấy Leopold, hắn liền chạy về trụ sở phố Saussaies để báo động, lại thêm mười phút nữa. ĐĐN ít ra phải mất 50 phút mới có mặt tại hiệu thuốc Bailly. Lúc đó Leopold đã ở một nơi khá chắc chắn...
Anh đến khu Saint Germain lúc 12 giờ rưỡi. Anh được tự do nhưng mà thứ tụ do mong manh vì là tù vượt ngục đang bị Gestapo truy nã. Tại sao anh chọn khu Saint Germain? Trước hết anh chọn nhà của những người ít quen biết hơn là bạn bè thân thiết. Anh không thể làm hại các đồng chí trong DNĐ chưa bị bắt. Và cũng có thể Gestapo đã cài nội gián trong số anh em còn chưa bị bắt. Anh biết Georgie de Winter có thuê một căn nhà nhỏ ở Vesinet năm 1942. Không biết bà có còn ỏ đó không, bà là công dân Hoa Kỳ, khi Hoa Kỳ tuyên chiến với Đức, bà phải lui vào bí mật với thẻ căn cước Bỉ dưới tên là Thevenet, sinh trưởng ở một làng ở miền Bắc. Giấy tờ này cũng chưa đảm bảo nếu phát xít kiểm tra kỹ.
Anh cũng biết đứa con trai của bà Georgie được gửi ở một nhà nội trú ở Saint Germain do hai nữ tu sĩ giáo viên cai quản, tìm nơi đây cũng có khó khăn vì không biết cháu bé còn ở đó hay không? Cháu có chuyển đi nơi khác không? Dù sao chọn hướng này là đỡ nguy hiểm nhất, anh có thể nhờ vả Georgie và anh hy vọng sẽ tìm được bà.
Anh dễ dàng tìm thấy trường nội trú. Một cô gái Nga mở cổng cho anh vào. Anh liền dùng lời nói thật với hai nữ tu sĩ về hiện trạng của anh. Anh rất ngạc nhiên thấy hai nữ tu sĩ không xúc động gì khi anh kể thực trạng của mình là tù vượt ngục và điều này anh không bao giờ quên được. Hai bà cho anh biết cháu Patrick đâ chuyển đi nơi khác ở với một gia đình tại Suresnes, còn Georgie tuy đã hủy hợp đồng thuê nhà nhưng hình như vẫn còn ỏ lại Vesinet. Hai bà để cả buổi chiều gọi điện thoại cho Georgie và mời anh ở lại trường nếu chưa liên hệ được với Georgie. Đến tối thì hai bà liên hệ được với Georgie. Bà này chạy vội đến, rất cảm động, không tỏ vẻ sợ sệt là liên hệ với một người bị truy nã, quyết tâm hành động. Hai người từ biệt hai nữ tu sĩ sau khi đã cảm tạ sâu nặng.
Chao ôi, cái ngày 13 tháng chín này là một ngày gì? Nó phải là một ngày đau đớn cho tên Pannwitz và bè lũ…
Leopold nghĩ rằng anh đã giành được một điểm rất quan trọng đối với ĐĐN và lấy lại được quyền kiểm soát tình thế. Cuộc chiến đấu lại bắt đầu. Tuy thế, anh làm sao vô tình với những bất trắc đang chờ anh?
Chẳng bao lâu, anh đã nhận thấy nhà bà Georgie chưa phải là chỗ ẩn náu vững chãi. Trong khu vực chơ vơ này, hai người khác giới rất dể bị chú ý. Phải chuyển ngay nơi ẩn. Anh nghĩ anh không phải là một tù vượt ngục bình thường, mà anh đang gánh trên vai những trách nhiệm to lớn. Cho đến hôm nay, Georgie vẫn chưa biết những công tác của anh, bà chỉ biết chung chung rằng anh có tham gia chống phát xít. Chẳng bao giờ bà thắc mắc, nhưng bây giờ bà đã hiểu rằng liên hệ giúp đỡ anh là một mối nguy hiểm to lớn. Anh chẳng những có trách nhiệm với bà và cháu Patrick, mà đối với cả những ai đã giúp đỡ anh. Cuộc chiến đấu tiếp tục. Triển vọng tự chôn vùi mình trong một cái lỗ cho đến hết chiến tranh là không thể có đối với anh. Anh phải liên lạc ngay với đồng chí Michel, giao liên của Đảng cộng sản Pháp, để báo cáo cho Trung tâm biết rằng anh đã vượt ngục. Bằng bất cứ giá nào anh cũng phải biết bản báo cáo của anh có qua điện đài mà Gestapo mới bắt được hay không? Giải đáp được câu hỏi này mới quyết định được tương lai của kế hoạch Trò Cao Thủ. Cuối cùng vấn đề cũng rất quan trọng là bảo vệ những đồng chí còn đang nằm trong tay của Gestapo sau khi anh vượt ngục. Để thực hiện được những dự kiến đó, chỉ còn trước mắt anh có vài ngày. Sau đó, chắc chắn bọn ĐĐN sẽ tìm được dấu vết của anh và lao theo truy nã...
“Otto đã trốn rồi!”… Khi Berg đến Saussaies và báo tin dữ kể trên, bọn ĐĐN đều rụng rời chân tay. Nhanh chóng, Pannwitz tự thấy trách nhiệm chính là do y. Hắn phản ứng theo lối nhà đi săn cỡ lớn đuổi theo con thú bằng bất cứ giá nào. Với kinh nghiệm trấn áp cả nước Tiệp Khắc sau khi Heydrich bị ám sát, hắn áp dụng ngay ở Paris. Chỉ một thời gian ngắn, hiệu thuốc Bailly bị bao vây, khám xét kỹ lưỡng những nơi mà Pannwitz cho là Leopold có thể ẩn nấp, hắn lệnh bắt hàng chục khách hàng. Nhà ga Saint-Lazare bị vây, các chuyến tàu bị kiểm tra kỹ càng. Gestapo cho soát tất cả nhũng nơi Leopold hay lui tới: hiệu càphê, hiệu cắt tóc, bách hóa, may mặc, hiệu ăn. Hắn áp dụng chiến thuật dùng lưới vây bắt cá, tóm hàng trăm người tình nghi là may ra có một người khai ra dấu vết của Leopold. Không kết quả. Hắn dùng đến thủ đoạn cuối cùng: khủng bố những thành viên của DNĐ.
Để đánh lạc hướng của ĐĐN, Leopold viết thư gửi Pannwitz: anh trình bày rằng anh không phải trốn tù, mà anh buộc phải biến mất. Hai người lạ mặt đã sáp người anh ở hiệu thuốc, đưa ra mật hiệu đã qui ước với trung tâm khi gặp toán phản gián. Hai người đó đã khẳng định ràng Gestapo sắp bắt anh nên họ có nhiệm vụ phải đưa anh đến nơi an toàn. Anh trình bày với Pannwitz rằng anh cân nhắc cần phải theo hai người đó, không làm trái ý họ “để không làm tổn hại đến kế hoạch chung”. Họ đã đưa anh lên xe hơi rời khỏi Paris, cách Paris một trăm kilômet, họ đã đáp xe lửa sang biên giới Thụy sĩ. Anh viết thêm rằng lợi dụng sơ hở của hai người lạ mặt, anh đã bỏ lá thư này tại Besancon để báo tin cho Pannwitz biết. Trong phần tái bút. Leopold viết rằng Berg không chịu trách nhiệm về sự cố bởi vì dù Berg có mặt trong hiệu thuốc cũng chẳng ứng phó được gì hơn. Một trong hai nữ tu sĩ nhà trường nội trú Saint Germain đã giúp bỏ lá thư này tại Besancon cho Leopold.
Viết như thế, Leopold nhằm đánh lạc hướng Pannwitz rằng anh đã đi xa Paris lắm rồi, hãy bớt đà truy nã, đồng thời đề phòng Gestapo nếu không cảm thấy bản báo cáo của anh gửi về Trung tâm trong tàng thư của Đảng cộng sản Pháp ở đài phát bị bắt, thì giúp cho Trung tâm có thể tiếp tục Trò Cao thủ, mặc dù anh đã vượt ngục.
Ngay tức khắc, vối dũng khí lớn Georgie đi tìm liên lạc với Đảng cộng sản Pháp. Leopold có khả năng tìm mối liên hệ này bằng cách gọi điện thoại theo qui ước và để lại một tin nhắn ràng: “Ông Jean mới bị mổ, cần thuốc bệnh”.
Khi nhận được tin như thế, Đảng cộng sản Pháp đã cử giao liên đến một trong bốn địa điểm liên lạc đã qui ước ở Paris. Sau hai ngày Georgie gọi điện, có một cô gái đến gặp bà tại Vesinet, thuộc ngoại ô phía tây. Georgie xin cho Leopold thẻ căn cước, thuốc độc và tin tức về bản báo cáo do Juliette chuyển hộ. Hôm sau, cô gái trở lại mang theo giấy tờ căn cước, một viên nhân ngôn để khi cần thì tự sát... đồng thời Leopold nhận được một tin làm anh chưng hửng... đài của Đảng ở vùng Lyon chỉ dùng để truyền những bài tuyên truyền cho những khu vực khác, cho nên Gestapo chỉ bắt được những truyền đơn không bí mật. Sau này Leopold mới biết rằng đồng chí Jacques Duclos thấy nội dung bản báo cáo của Leopold gửi về Trung tâm quá quan trọng không thể dùng điện đài mà phát đi được, nên cho giao liên đặc biệt chuyển sang London rồi từ đó dùng túi thư ngoại giao chuyển về Trung tâm ở Moscow. Vậy là trốn tù của Leopold trở nên vô ích, nếu anh biết tin đó từ trước ngày 13 chứ không phải ngày 17 thì anh sẽ ở lại nhà tù Neuilly và ĐĐN không có khả năng phát hiện Trò Cao thủ.
Nghiêm trọng hơn: việc anh vượt ngục có khả năng làm hại kế hoạch đó mà Trung tâm rất coi trọng. Từ nay Leopold cũng không thể để cho Gestapo bắt sống anh.
Sáng hôm đó Georgie đã khóa cổng như mọi khi bà ra khỏi nhà. Các cửa sổ đều đóng suốt cả ngày. Làm như thế để gây cảm giác ràng ngôi nhà không có người ở... Có tiếng chuông bấm dài, bấm hai lần. Leopold đã vội mặc quần áo định trốn, nhưng vị khách thôi bấm chuông. Báo động sai.
Ngày hôm sau lại có người bấm chuông: tiếp theo có tiếng gõ cổng rất mạnh, khiến cho hai chủ nhà phải bật dậy. Leopold đã vội mặc quần áo, ra cửa sổ định nhảy vào không trung nếu địch ập vào, nhưng tiếng đập cửa ngừng và anh nghe thấy ông chủ nhà giải thích với Georgie rằng ông đến tìm mấy ngày qua vì muốn giới thiệu ngôi nhà với những khách mới muốn thuê và khi thấy nhà đóng cửa im ỉm ông chọn giờ người bán sữa đem hàng đến thì ông bấm chuông...
Hai sự cố đó khiến cho hai người ở trong nhà phải quyết định sớm rút. Họ có bằng chúng rằng họ có thể bị nguy hiểm vì sơ xuất. Rút là cần thiết, nhưng trong hoàn cảnh bị bầy mật thám truy nã sao mà khó thế... Và đi đâu bây giờ? Hai người bàn đi tính lại, cuối cùng chọn phương án đến xin ở nhờ nhà anh chị Queyrie, nơi cháu Patrick đang trú ngụ. Họ sống ở Suresnes. Bà mẹ của Queyrie trú tại một căn hộ nhỏ trong một khu um tùm cây gần đó. Vì bà cụ đang đi vắng, nên Leoppn có thể tạm trú vài hôm ở đó. Anh có vài ngày vượt trước bọn ĐĐN. Tính cẩn thận không cho phép ảo tưởng quá. Gestapo vẫn có thể truy tìm được anh qua điều tra bà Georgie. Sớm muộn chúng có thể lần theo đường Vesinet, đến Suresnes. Đúng một tuần sau, chúng mò đến trường nội trú ở khu Saint Germain sau khi đã bắt giữ nhiều người thân và họ hàng của Georgie. Qua đó chúng biết được tin cháu Patrick, con bà Georgie, đang trú tại ngoại vi Paris. Một tin thật là quí cho bọn mật thám Đức: được biết Georgie đã từng học khiêu vũ ở quảng trường Clichy, chúng đến đó và tìm ra một bạn học của Georgie là Denise, qua Denise, chúng biết cháu Patrick trú tại khu Saint Germain.
Bọn Gestapo tiến sát Leopold: chưa ở Suresnes được ba hôm thì anh nhận được điện thoại của hai nữ tu sĩ báo tin có một người đàn ông đến nhờ chuyển hộ một vật gì đó cho bà Georgie. Theo mô tả, Leopold nhận thấy tên đó chính là Kent, nay đã trở thành tên quân sư cho bọn ĐĐN, tên này có mặt tại bất cứ điểm nóng nào của cuộc truy lùng Leopold... Ba ngày sau, một nhóm người tò mò lại đến trường nội trú đó. Trong số này có cả Katz!
Sau khi Leopold trốn thoát, ĐĐN tập trung sức tấn công vào Katz. Tên trưởng ĐĐN tính rằng dùng Katz sẽ lần ra Leopold. Cho nên trước khi tra tấn, Pannwitz dùng mưu bắt Katz gọi điện cho vợ hẹn gặp tại Paris. Vợ Katz thừa biết chồng bà ta đã bị Gestapo bắt từ tháng chạp năm 1942, bà cũng biết thừa rằng nếu mình lánh mặt, sẽ bị trả thù ngay. Chỉ còn một giải pháp là trả lời điện thoại. Bà gặp Katz tại một quán cà phê có hai người lạ mặt đi kèm. Tuy phải làm theo sự bắt buộc của Pannwitz (điều này chưa chắc là có thật) nhưng Katz đã rỉ tai được vợ về tình hình của Leopold rằng: “Các bạn của anh rất lo lắng cho số phận của Otto và họ đều chờ đợi anh đó quay lại ngay...”.
Hiểu theo nghĩa thật tức là Leopold đã vượt ngục. Chỉ mình Pannwitz thấy cần phải làm như vậy. Không kết quả gì. Hắn quyết định dùng biện pháp quen thuộc (bắt bớ, tra tấn) và tiến hành kế cuối cùng là đưa Katz cùng mật thám đến vùng Saint Germain.
Cũng tại đây, Katz lại làm nên công cán; con mồi đã thoát khỏi người đi săn. Sau khi đặt vài câu hỏi vô thưởng vô phạt về Georgie và Patrick, anh đã rỉ vào tai của một nữ tu sĩ rằng: “Ông Gilbert đang gặp nguy cơ chết người, Gestapo đang truy lùng ông ta”.
Katz anh hùng cho đến giờ phút cuối cùng vẫn chiến đấu cho chính nghĩa, để cứu nguy cho người khác anh không ngần ngại hy sinh thân mình.
Sau này, khi Paris được giải phóng, Leopold cùng một đồng chí tên là Alex Lesovoy có đến nhà tù Neuilly. Ông canh cổng là người Pháp, tên Prodhomme, đã kể về sự hy sinh của Katz. Mười ngày sau khi Leopold trốn tù, ĐĐN đêm nào cũng đưa anh về trụ sở Gestapo ở phố Saussaies. Sáng sáng chúng đưa anh về trông người thật tang thương. Nỗi đau khổ của anh ngày cành tăng lên, các vết thương chưa lành lại bị đánh thêm thành thương nữa. Người gác cổng lợi dụng những lúc đưa thức ăn cho anh để hỏi han anh. Bọn đồ tể phố Saussaies đã kết anh vào tội tổ chức cho Leopold trốn, biết nơi trốn mà dấu. Thêm tội nữa là đã báo động cho Leopold trong khi đến khu Saint Germain.
Ông Prodhomme còn nhớ như in cái hôm Katz đầy thương tích trên mặt và hai bàn tay đã thổ lộ cho ông:
- Sau chiến tranh, thế nào ông Gilbert cũng đến đây. Xin ông nhắn giúp ông ấy rằng mặc dù tôi bị đau đớn, bị tra tấn, tôi không luyến tiếc gì hết, rằng tôi rất sung sướng đã làm những gì tôi đã làm. Chỉ xin ông ấy chăm sóc các con tôi…
Vài giờ sau ĐĐN dẫn Katz đi.
Leopold không được biết Katz hy sinh trong tình huống như thế nào, chỉ tên Pannwitz là biết, vì nó đã tra khảo anh, đã giết anh không cần xét xử. Leopold vẫn thấy anh, Katz, người chiến sĩ anh hùng, coi cái chết nhẹ như lông hồng để xây đắp cho tương lai tươi đẹp hơn ngày nay.
ĐĐN bắt hai nữ tu sĩ ở Saint Germain. Rất dũng cảm, các chị không khai báo, không khai về việc mang thư của Leopold đến Besancon để bỏ vào thùng thư. Hôm sau, ĐĐN đánh vào Vesinet; đàn chó sắp kéo nhau đến Suresnes. Vậy phải mau chóng cứu chị Queyrie (chị chuyển về Correze với Patrick), còn Georgie và Leopold lại phải nhổ neo. Đi về hướng nào? Leopold chọn hướng gia đình ông bà Spaaks là hai người mà Leopold đã gặp lần đầu tiên vào mùa hè năm 1942, khi anh đến báo cho họ biết bạn của anh chị là vợ chồng Sokol đã bị bắt. Leopold rất thán phục thái độ bình tĩnh và can đảm của hai người khi nhận được tin dữ đó. Hai người rất tin vào Sokol sẽ không chịu khai báo gì hết. Thực tế diễn ra đúng dự định của Claude và Suzanne Spaaks: hai vợ chồng Sokol đã hy sinh cho sự nghiệp chống phát xít, không hé môi khai báo bí mật nào của DNĐ cho bọn mật thám Đức.
Lòng tin tưởng lẫn nhau là điều đảm bảo nhất cho quyết định của Sokol. Georgie đến nhà Spaaks kể cho họ biết tình hình xảy ra, họ đã cam đoan giúp đỡ Leopold. Tia sáng trong đêm tối... Claude đến gặp Leopold trong phòng anh đang trốn. Thật là sự động viên lớn khi thấy mình không bị lẻ loi. Điều quan trọng nhất là phải tìm được một chỗ ẩn chắc chắn, không nên có liên quan đến kháng chiến. Điều kiện thứ hai: Lập quan hệ với Đảng cộng sản Pháp.
Trước hết phải có chỗ ẩn, vì không thể nấn ná lại Suresnes được nữa, sau đó chuyển đến chỗ chắc chắn hơn. Denise, bạn học khiêu vũ của Georgie, đã cho bà này mượn chìa khóa tầng hầm mái của chị ở phố Chabanais. Georgie và Leopold ẩn ở đó đêm ngày 24-11. Leopold miễn cưỡng phải trú ở đây vì anh nhận thấy Denise không chắc chắn và có lẽ anh rơi vào miệng sói cũng vì nơi đây.
Leopold không ngủ được, suốt đêm canh cánh sắp có mật thám Đức ập đến bắt anh. Sáng hôm sau, anh nhẹ nhõm chuyển sang nhà Spaaks. Linh cảm của anh tỏ ra đúng vì vừa bị bắt, Denise đã khai địa chỉ của anh chị Queyrie cho nên chị ta được tha ngay. Lúc này Pannwitz tưởng là sắp tóm được Leopold rồi. Muộn quá. Hiệu kèn bắt thú chưa nổi được măc dù anh Queyrie còn ỏ nhà.
Pannwitz quay sang hướng khác. Tưởng rằng Patrick là con Leopold, hắn dự định sẽ tìm ra nơi chị Queyrie và cháu Patrick rồi đặt nhà chị Queyrie thành cái bẫy để bắt Leopold. Hắn giả là “người hàng xóm” của anh chị Queyrie gọi điện báo cho chị Queyrie rằng chồng chị bị gãy chân, chị phải về nhà ngay. Nhưng chị Queyrie cảnh giác không về nhà.
Tên đội trưởng ĐĐN không nản chí, vì con của Otto không chịu về, thì hắn sẽ đến tận nhà ở Correze đưa cháu Patrick về. Thế là hắn tổ chức cuộc tìm Patrick ở Correze. Biết rằng vùng Correze có nhiều du kích. Pannwitz đưa một đoàn xe đầy mật thám lên đường để bắt một điệp viên nguy hiểm của Dàn Nhạc Đỏ mới lên bốn tuổi!
Công vụ hoàn tất. Pannwitz xoa tay mãn ý. Sau hai tuần săn lùng Leopold, nay hắn coi như đã nắm được đằng chuôi. Con của Sếp Lớn đang nằm trong tay của ĐĐN, sẽ tóm được thằng bố của nó, hắn chắc mẩm hơn nữa khi đưa tấm ảnh của Leopold cho cháu Patrick xem để hỏi cháu: “ông này” là ai, thì cháu trả lời: “Bố Nanou”. Pannwitz không biết rằng cháu bé có thói quen gọi Leopold như thế, cũng như cháu thường gọi chị Queyrie là “Mẹ Annie”.
Leopold vừa lo cho cháu bé, lại vừa lo mẹ cháu, bà Georgie, cũng sẽ bị ĐĐN vây bắt. Sau này được biết bọn Đức đứa thì chủ trương đưa Patrick về Đức, đứa khác chủ trương giữ cháu để nhử cha cháu mà bắt. Khó bắt cháu đi tù, Gestapo đành đưa cháu cho chị Queyrie nhưng chuyển hai người vào tổ chức bị Đức trưng dụng. Chúng đưa hai người về Suresnes vào tháng riêng năm 1944 và cho canh gác ngày đêm. Chúng hy vọng rằng Leopold vì thương nhớ con thế nào cũng quanh quẩn Suresnes để chúng tóm cổ Leopold lại.
Pannwitz nhầm to. Leopold trốn ở nhà Spaaks. Nhưng vợ chồng đồng chí này tuy tin cậy được, nhưng do họ tham gia vào lực lượng kháng chiến cho nên rất dễ bị mật thám phát hiện. Ngay từ năm 1942 chị Suzanne Spaaks đã tham gia vào việc cứu trẻ em Do Thái, gia nhập Phong trào quốc gia chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, ngay vào tháng chín năm 1943 khi chị giúp Leopold chị đang tham gia nhiều tổ chức cộng sản cũng như De Gaulle. Leopold và vợ chồng Spaaks đi đến nhất trí là phải tách nhau ra thì mới là thận trọng và các đêm sau, anh phải sang giáo đường Oratoire, nơi có vị giáo sĩ Do Thái thường nhận cho các cháu người Do Thái mà chị Spaaks đưa tới trú ẩn. Rồi từ giáo đường này, nhờ Spaaks can thiệp, Leopold chuyển đến trú ở một nhà dưỡng lão... Có thể nhà dưỡng lão là nơi tránh Gestapo cũng tốt, nhưng Leopold nghe thấy tiếng dưỡng lão là đã ớn tận tủy.
 
0
Một trận đấu căng thẳng với Gestapo
 
Mới ba mươi chín tuổi, thủ trưởng Dàn Nhạc Đỏ, nay Leopold buộc phải đóng vai về hưu ít nhiều lão suy tại một ngôi nhà yên tĩnh tên là Nhà Trắng (Maison Blanche) tại Bourg-la-Reine. Anh chẳng còn có cách lựa chọn nào khác và đành quyết định đóng vai một con người ốm yếu cần có sự trông nom của hộ lí. Không thể để bà Georgie có mặt ở đây, Leopold phải thuê bà May, vội góa của một ca sĩ ứng tác khá nổi tiếng, căm ghét phát xít và sẵn sàng lao vào cuộc chiến đấu bí mật. Anh biết ơn bà Georgie đã tìm được một con người hiếm có như thế vì trong hoàn cảnh nguy hiểm của anh có một người kiên quyết đối đầu với hiểm nguy thật là khó đấy. Bề ngoài bà May phải đóng một bà dì già nua rất tận tụy. Trên thực tế, bà là giao liên.
Ban đầu Leopold sống hình thản ỏ Nhà Trắng, nhưng dần dà anh nhận xét có nhiều khách trọ cũng khổ tâm là phải đóng vai của các ông già bình thản. Không nghi ngờ gì những biểu hiện mâu thuẫn với cùng độ tuổi cũng như tình cảnh thật của họ. Giống như anh, họ có dấu hiệu phải đóng kịch để khỏi bị bọn Đức chú ý... Không khí trong nhà ký túc là thân ái, nhưng ai cũng giữ kẽ hình như là không tin những người xung quanh nên thường mang cơm vào phòng riêng để ăn. Đúng, đây là một ngôi nhà dưỡng lão không bình thường...
Khả năng chống lại kế hoạch của Pannwitz không lớn nhưng Leopold vẫn tìm cách chống: cuối tháng chín, anh viết cho hắn bức thư thứ hai. Bức thư trước anh kể rằng hai nhân viên phản gián đã buộc anh sang Thụy Sĩ, nhưng Pannwitz đã lần ra được dấu vết của anh ở Saint Germain, Vesinet, và Suresnes... Nhằm cung cấp cho Pannwitz một giải thích có thể chấp nhận được, anh kể cho hắn rằng được phản gián xô viết đồng ý, anh đã trở về Paris.
Anh thấy ngay mâu thuẫn: người ta sẽ đặt ngay câu hỏi: “Thế bạn không còn cách gì hay hơn là báo cáo cho Đội Đặc nhiệm biết thành phố mà anh đang ở hay sao? Đối với một người đang trốn tù mà thú nhận như thế là tối kiến! Đơn giản việc đó giống như chỉ cho người đi săn những dấu vết của con mồi, thật là vô cùng liều lĩnh...” Anh thông cảm sâu sắc với sự ngạc nhiên đó, nhưng anh thấy tâm lí khá sơ lược của một tên Gestapo thường là ta nói ta ở Paris, thì nó sẽ truy tìm anh ở khắp bốn phương trời châu Âu!
Leopold có một lí do nghiêm túc nữa: Paris là thiên đường của những lén lút và trong tình thế của một người bị truy lùng đã cắt được những quan hệ đã có thì người đó có nhiều khả năng chắc chắn chạy thoát khỏi những kẻ đang truy đuổi người đó.
Anh đã viết bức thư với giọng bình tĩnh, chắc chắn, tỏ lộ sự phẫn nộ về thái độ của ĐĐN, lên án ĐĐN đã cố tình gây sợ hãi khi bắt bớ những người không liên quan gì đến DNĐ. Anh viết thêm rằng anh sẽ đối lại với ĐĐN một cách thỏa đáng nếu ĐĐN tha những người đã bị đơn vị này bắt giữ.
Tưởng rằng ĐĐN chủ động ngay từ đầu trong Trò Cao thủ, Pannwitz phải bối rối vì bức thư kể trên. Hắn tự hỏi về ý đồ của Leopold, hắn không hiểu vì sao sau khi trốn thoát mà Leopold vẫn chưa báo cáo toàn bộ sự thật cho Trung tâm. Rõ ràng hắn mù mờ về việc Moscow đã nắm chính xác tình hình kể từ ngày xảy ra kế hoạch Juliette, vào tháng hai năm 1943.
Leopold trước hết lo lập lại liên lạc với Trung tâm qua trung gian là Đảng cộng sản Pháp; anh hi vọng sẽ lập lại được qua trung gian là chị Suzanne Spaak. Chị tuy không phải là Đảng viên nhưng chị hợp tác với bác sĩ Chertok, một thầy thuốc trẻ có quan hệ với một đảng viên cộng sản là luật sư Lederman. Luật sư là một trong những người có trách nhiệm chính trong lực lượng kháng chiến người Do Thái tại Pháp và Leopold đã gặp ngày trước, khi anh tham gia Đảng cộng sản Pháp. Trên bình diện cả nước, luật sư này có quan hệ với trưởng ban các chiến sĩ quốc tế là đồng chí Kowalski, phó thủ trưởng cơ quan Nhân công Di cư trong Đảng cộng sản Pháp.
Leopold quen Kowalski: Đây là một đồng chí anh rất cần vì đồng chí này vừa biết lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp vừa biết Michel, người liên lạc giữa anh với Đảng cộng sản. Liên hệ được với Kowalski không dễ dàng; cứ ngày một và ngày rằm, anh cử phái viên đến nhà thờ Buttes-Chaumont là một điểm liên hệ thường xuyên được qui ước từ lâu với Trung tâm. Liệu điểm này còn hoạt động không? Ngày 1-10 Georgie đến đó nhưng không thấy ai.
Anh chị Spaak đã đưa Georgie đi xa nhờ sự giúp đỡ của hai bạn nữ người Anh tên là Ruth Peters và Antonia Lyon-Smith, là hai người sống bí mật ở Paris. Antonia đề xuất sẽ viết thư cho bác sĩ De Joncker, một quan hệ của cô sống tại sát biên giới Thụy Sĩ, một người chống phát xít tận dụng vị trí chỗ đang ở để giúp đỡ những người tị nạn qua Thụy Sĩ. Trong khi chờ trả lời, anh quyết định đưa Georgie trốn ở một làng nhỏ vùng La Beauce, gần Chartres để khi có hiệu lệnh sẽ qua biên giới Thụy Sĩ. Nhưng Georgie không chịu chờ, ngày 14- 10 bà lộn về Bourg-la-Reine. Anh đành phải thuyết phục bà quay về Beauce. Trước khi về đó, bà lén đưa mảnh giấy cho bà May có ghi địa chỉ của bà để tìm bà cho dễ. Bà May đã giữ địa chỉ này. Có dự kiến bà sẽ đến chỗ hẹn trong ngày hôm đó tại Buttes-Chaumont.
Leopold đã sửa soạn kĩ với bà May về cuộc hẹn đó. Bà phải đến xa nhà thờ một quãng, rất tránh đi qua nhà bà ở gần đó sau khi đã liên hệ được.
Denise là bạn học khiêu vũ ngày xưa với Georgie. Từ dạo đó, có dấu hiệu bà này quan hệ với ĐĐN. Có chứng cứ về việc này sau vụ khám xét ở Suresnes cho thấy bà ta đã từ từ phản bội. Mà Denise rất quen bà May và có địa chỉ của bà này.
Bà May là một bà già rất cởi mở, thông minh, rất ghét phát xít, độ lượng, hăng hái, nhưng chưa có kinh nghiệm công tác bí mật không hợp pháp, dễ sơ hở đối với bọn Gestapo nhà nghề. Bà tâm sự rằng bà có một cậu con trai mà bà rất yêu quý, nhất là từ sau khi chồng bà mất, đang bị bắt làm tù binh. Leopold suy nghĩ bà sẽ là một đối tượng ngon lành cho kẻ địch nếu bà bị bắt. Vì thế Leopold đã phải dặn bà gặp phải tình huống bị địch bắt thì ít nhất phải giữ im lặng trong hai đến ba tiếng đồng hồ.
Cuộc hẹn ỏ Buttes-Chaumont đã định vào giữa trưa. Leopold đợi bà một tiếng rưỡi là cùng. Thời gian trôi đi mà vẫn không thấy bà ta trở lại. Đến ba giờ cũng chẳng có ai. Không còn nghi ngờ gì hẳn là bà ta gặp trở ngại rồi đây và anh bắt đầu đưa ra các giả dụ.
Theo Leopold thì bà May chẳng có gì phải gặp phiền toái ở địa điểm hẹn mà chỉ có Georgie, Trung tâm và Leopold biết. Giả thiết thứ nhì: bà đã không nghe lời dặn của Leopold mà cứ qua nhà bà. Sau này Leopold biết đúng như thế. Bà đợi ở nhà thờ 15 phút, không thấy ai. Đáng lẽ bà phải trở về Bourg-la-Reine, bà lại qua nhà với hi vọng may ra có tin tức hoặc thư từ của đứa con đang bị bắt làm tù binh. Nhưng nhà của bà đã bị bọn mật thám ngụy của tên Lafont dùng làm cái bẫy. Chúng đã bắt được bà May, khám phá thấy trong túi có mẩu giấy ghi địa chỉ của bà Georgie ở vùng Beauce.
Denise đã cung cấp địa chỉ của bà May để mật thám Gestapo đặt bẫy.
Tức giận vì bị sa bẫy bà May đã đánh trả lại bọn mật thám. Lafont báo ngay cho Pannwitz biết thành tích của hắn và Pannwitz đã lệnh đưa bà May về trụ sở phố Saussaies. Bà đã bị chúng khai thác cái địa chỉ kia nếu không khai chúng sẽ trị con bà. Bà May đã im lặng được vài tiếng đồng hồ, đến 18 giờ bà suy sụp, khai ra địa chỉ của Leopold tại Nhà Trắng, địa chỉ của Spaak và khai ra việc bà là giao liên giữa vợ chồng Spaak và Leopold.
Tội nghiệp cho bà May, con người không có kinh nghiệm hoạt động bí mật... Trong vài giờ đồng hồ bọn truy nã Leopold đánh được một đòn rất nguy hiểm. Anh chị Spaak, Georgie và Leopold đều gặp nguy hiểm. Leopold phải xử lí thật nhanh. Lúc 15 giờ, không thấy bà May quay về, anh phải xin gặp ngay bà giám đốc Nhà Trắng để báo cáo cho bà biết tình hình vừa xảy ra, báo động cho bà biết bọn Gestapo sẽ đến và đề nghị bà cảnh báo cho những “khách trọ đặc biệt trong nhà”. Ngay tức khắc, bà khuyên các vị khách đó di chuyển ngay.
Về phần mình. Leopold quy ước với bà giám đốc Parrend rằng nếu có ai gọi điện thoại thì bà trả lời rằng Leopold đang đi dạo chơi và sẽ trở lại Nhà Trắng lúc 19 hoặc 20 giờ. Anh nghĩ rằng Pannwitz chưa tung ngay quân đến Nhà Trắng mà chỉ tìm cách làm yên lòng Leopold về việc bà May trở lại muộn. Còn Leopold thì tìm cách đánh lừa bọn ĐĐN rằng anh sẽ đi dạo và trở về lúc 19 giờ một cách vô tư; Pannwitz sẽ tập trung lực lượng vào điểm Bourg-la-Reine vì hắn không thể tung lực lượng ra cả hai điểm trong một lúc. Vào lúc 15 giò rưỡi, anh rời Nhà Trắng sau khi hủy thẻ căn cước; nhưng giữ các giấy tờ do Đảng cộng sản Pháp cung cấp cho anh chứng nhận anh là Đức kiều, là loại giấy giúp anh tự do đi lại cả trong giờ giới nghiêm. Anh cố ý để lại hết hành lí, cửa buồng mở toang để gây cảm tưởng rằng anh không đi hẳn. Cố ý tăng thêm cảm tưởng đó, anh để thêm quyển sách mở trên bàn, chăn rũ tung, thuốc bệnh trên bàn ngủ. Tất cả những chi tiết đó nhằm thuyết phục bọn Gestapo ngồi chờ anh trở về Nhà Trắng.
Anh rất bình tĩnh. Đó là loại phản xạ khi anh gặp nguy biến. Anh khó còn khả năng cứu gia đình Spaak khỏi bàn tay tên Pannwitz và bè lũ. Anh bước thẳng đến Plessis-Robinson. Trời đẹp, khách bộ hành dạo chơi đông. Người qua lại có vẻ vui vẻ và vô tư, thật là trái ngược với tâm trạng trăm mối tơ vò trong anh.
Bỗng anh trông thấy đồng chí Michel, liên lạc viên giữa anh và lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp.
Michel có người đi cùng. Anh rất muốn tiếp cận, báo tin bi thảm của tổ chức và xin đồng chí cho lời khuyên và giúp đỡ, nhưng anh không dám. Anh không có quyền làm hại Michel. Có thể anh đang bị theo dõi. Anh tự cấm một cách nghiêm khắc liên hệ với những người mà có thể bị vạ lây. Anh tìm cách tự thuyết phục rằng một người tù vượt ngục thì phải tự lực, nhưng điều này tuy có làm cho anh thấy thêm sức mạnh song không giải quyết được vấn đề: làm thế nào đây? Đi đâu bây giờ? Anh biết rồi: cứu anh chị Spaak. Nhưng đi đâu? Đó là vấn đề khác...
Màn đêm buông xuống. Nỗi cô đơn bị truy nã... Leopold tự nhắc câu hỏi: làm gì bây giờ? Đột ngột, anh gần như không suy nghĩ, gọi taxi và bảo người lái đưa anh tới địa chỉ nhà Spaak ở phố Beaujolais...
Thật là một ý nghĩ kỳ lạ và anh phân định lí lẽ phản bác: đến Spaak thật ra là nhảy vào miệng hùm! Đồng ý, đồng ý, nhưng anh còn cách khác để cứu anh chị Spaak cơ mà? Liều vậy, không còn cách nào khác.
Ít ra anh cũng có một điều chắc chắn: Gestapo đã hành động. Vào lúc 6 giờ tối, anh đã điện đến Nhà Trắng, có một người lạ trả lời anh:
- Bà Parrend không có nhà...
- Xin ông lên buồng của tôi và báo cho dì tôi là bà May rằng tôi sẽ trở về lúc 8 giờ tối, xin dì chờ tôi để ăn bữa đêm... - Leopold bình tĩnh trả lời tên lạ mặt đó.
Sau này Leopold được biết những lời của anh điện về khiến cho bọn ĐĐN khoan khoái.. Bình tâm, ngày càng chắc mẩm sắp tóm được tên vượt ngục, chúng yên chí chờ. Chúng chờ Leopold tại Nhà Trắng, nhưng anh cũng lo lắng có thể chúng cũng chờ anh ở cả nhà Spaak nữa. Anh suy nghĩ rằng bọn mật thám Đức ngay từ đầu đã bắt được bà May khai hết dưới những đòn tra tấn man rợ của chúng, thì chúng chẳng khờ khạo gì mà không tận dụng những lời khai đó. Con người dưới sức ép tra tấn bắt đầu khai nhỏ giọt ra tên một người, một việc. Nắm được thắng lợi bước đầu, bọn chuyên gia về đau đớn của con người sẽ tiếp tục tra cho đến khi chúng khai thác được hoàn toàn. Chúng biết rằng chúng có đầy đủ khả năng thành công. Leopold không ảo tưởng: bà May đã già cho nên khó chịu nổi tra tấn so với người trẻ đầy sức sống, bà lại thiếu được đào tạo về hoạt động bí mật, không có những người như Hillel Katz , như Sokol... đã hi sinh dưới đòn tra tấn không một lời khai báo.
Taxi dừng trước nhà Spaak. Cuộc chạy đua nước rút bắt đầu. Anh có cảm tưởng như kiểu sĩ quan thời Nga hoàng dí súng ngắn vào thái dương với một viên đạn nhét hú họa vào ổ đạn. Đôi khi cò súng đập vào khoảng không, nhưng đôi khi nó đập đúng vào viên đạn.
Leopold xuống xe, từ từ thu hết sức lực. Anh lại một lần nữa, thêm một lần nữa sắp bước vào giới hạn của số phận. Không còn rút lui được, chắc như vậy. Anh bước lên cầu thang, tay lăm lăm viên nhân ngôn, bấm chuông. Vài phút chờ đợi, cánh cửa mở.
Thoáng nhìn, anh gặp ánh mắt bạn. Anh bạn đứng trước mặt anh, mạnh khỏe bình thường. Anh rất sung sướng, nhưng vì quá vội, không còn thời giờ hoan hỉ nữa. Qua ánh mắt dò hỏi của anh, Spaak hiểu ngay: trong nhà có ai nữa không? Qua thái độ của Spaak, anh hiểu ngay rằng anh có thể yên tâm; lúc này anh mới thấy tim anh đập lại bình thường. Anh nói ngay: Spaak ơi, phải rút khỏi nhà ngay đi!
Phản ứng của Spaak khá lạ lùng:
- Sao, khi nghe tiếng chuông bấm, tôi tưởng là bọn Đức. Số phận của người kháng chiến bao giò cũng nằm trong tâm trạng như thế... Nhưng anh đang bị truy nã như thế mà dám đến đây báo động cho tôi như thế này thì thật là quá lạ lùng! - Spaak trả lời Leopold.
- Tôi không thể làm khác được sau khi khu Saint Germain bị vây, Leopold trả lời. Không thể để thêm một ai bị bắt nữa.
Phải, ý nghĩ đó đã ám ảnh Leopold. Tóm lại, giờ đây là giây phút cảm động nhất... Nhưng hai người không còn thì giờ để chờ đợi cho tâm trí trở lại bình thường. Phải hành động ngay, đối phó ngay. Phải xem gia đình Spaak có ai, làm thế nào để báo cho họ, đưa họ ra khỏi vòng vây của Pannwitz. Hai anh quyết định Suzanne, vợ Spaak, và hai con Spaak phải rút ngay về Orleans ngay hôm sau vào lúc chín giờ đêm. Spaak sẽ dẫn họ ra ga và về nhà bạn bè, sau đó chị Spaak và hai cháu sẽ rút sang Bỉ, còn Spaak ở lại và rút vào bí mật.
Đó là vấn đề gia đình Spaak. Nhưng còn vấn đề thứ hai khó chống trả, cần phải xử lí rất gấp: cuộc gặp của Leopold với Kowalski, đại diện Đảng Cộng sản, đã định vào ngày 22-10 tại Bourg-la-Reine, giờ chưa định rõ, bác sĩ Chertok sẽ điện trước hai ngày cho Spaak, nhưng ngày hẹn thì bà May đã nắm được trước khi bà bị bắt, vậy phải hủy hết!
Chỉ còn một tuần lễ nữa là đến ngày hẹn rồi. Muốn liên hệ được với Kowalski phải qua bác sĩ Chertok và luật sư Lederman. Tìm được hai vị này trong bóng tối đâu phải dễ dàng. Thật là khó khăn, thậm trí không thể làm được. Nhưng nếu để Kowalski, người phụ trách trên qui mô toàn quốc những đơn vị chiến đấu ngoại quốc, có quan hệ với bộ tham mưu của lực lượng FTP (1), người tin cậy của Đảng cộng sản Pháp, rơi vào tay phát xít thì vô cùng tai hại.
Vậy bằng bất cứ giá nào cũng phải cản đồng chí đó rơi vào tay Gestapo. Trước khi hai người chia tay. Leopold thỏa thuận với Spaak một số biện pháp và hẹn sẽ gặp lại nhau vào tối ngày 21-10 tại nhà thò Ba Ngôi (La Trinite).
Rồi hai người bước xuống cầu thang, không nói một lời. Hai người bắt tay nhau và khi sắp sửa chia tay, Spaak hỏi Leopold:
- Anh đi đâu bây giờ? Anh có chỗ trú ẩn chưa?
- Anh đùng lo, tôi có rồi...
Nơi trú ẩn của Leopold ư? Đó là hè đường Paris… Thật là cảnh tượng đau lòng khi hai người cùng bước vào đêm tối...
Leopold vào một quán rượu nhấm nháp vài li để điểm lại tình hình trong cái ngày 15 bi thương này: Georgie ra đi, anh chắc bà sẽ được an toàn, chờ bà May trở lại, rồi anh phải rút khỏi Bourg-la-Reine, đến gặp Spaak. Chỉ có một điều làm cho anh thêm sức mạnh là anh không bị động chịu đòn mà đã chống lại những miếng đòn của địch. Bằng cách giữ ĐĐN lại Nhà Trắng, anh đã cứu được vợ chồng Spaak.
“Ta đã thắng chúng nó”, tiếng hò chiến thắng của mọi người chống phát xít, nay anh có thể reo lên như vậy. Một mình ngồi trên chiếc ghế của quán cà phê nho nhỏ này, trước cái ly, bị Gestapo truy nã, anh mang tinh thần của kẻ chiến thắng. Nhưng chiến tranh chưa kết thúc. Anh vẫn giữ được tinh thần lạc quan. Anh đã thắng chúng nó trong bao lâu? Làm gì? Đi đâu? Ngày mai?
Và sau đó?
Sau khi chia tay Spaak, anh buộc phải tính toán, kiểm điểm lại. Giành được một điểm quan trọng: bọn ĐĐN, Lafont, lúc này đây đang phải huy động tổng lực để truy tìm anh. Chỉ có một điều là bọn chó đó đang bị phải buộc mõm để rình rập anh. Tại sao Pannwitz và bè lũ lại im ắng như vậy? Vì chúng không biết Leopold đã hay chưa thông báo cho Moscow cho nên chúng phải dè dặt chưa đánh tiếng ầm ĩ được. Giả dụ Trung tâm chưa biết tin Leopold vượt ngục, mà Pannwitz báo động rầm rộ thì khác nào báo động cho Trung tâm biết tin đó.
Trên đường phố, trong quán cà phê hoặc chiếu bóng, anh cảm thấy tương đối an toàn. Hòa mình vào lẫn dòng người dân Paris, anh cảm thấy khá yên tâm. Ngoài ra anh còn tấm căn cước Đức kiều khiến anh có một số quyền cao hơn người Pháp, nhờ có nó, anh có thể đi lại ban đêm.
Một Đức kiều khi qua Paris vài ngày? Chắc là hắn sẽ tận hưởng các thú vui. Nhưng lúc này anh làm sao mà hưởng lạc được? Rời quán, anh vào một rạp chiếu bóng. Anh chẳng nhớ hôm đó rạp chiếu phim gì, anh chỉ nhớ ghế ngồi thật là thoải mái, bóng tối thật là thuận lợi cho nghỉ ngơi. Và thời gian trôi đi, thế là đã đủ đối với anh.
Hết phim, anh đi về phía ga Montparnasse. Đêm đã khuya. Anh lượn đi luợn lại các phố để chờ rạng đông. Một ngày mới bắt đầu. Sau những sự kiện sôi động hôm qua, thời gian trước mắt anh là một khoảng trống to lớn, anh phải đếm từng giờ, tùng phút, cô đơn, bất chắc rình rập. Chưa có việc làm, anh gọi điện đến ĐĐN ở Nhà Trắng, qua điện thoại của một quán cà phê:
- Xin lỗi ông, Leopold nói với một người lạ, hôm qua tôi bị bạn giữ nên không về nhà được. Chiều nay sau khi đến bác sĩ tôi sẽ trở về...
Như vậy, chẳng phải chỉ có mình anh chờ đợi tối đến.
Anh lại bước chân đi trên các hè phố, thỉnh thoảng ghé vào quán cà phê, hoặc hiệu ăn. Rồi lại lang thang như chiếc vỏ ốc lăn trên bãi cát. Chân bước chậm, óc sôi động, mắt quan sát, thần kinh căng thẳng và cảnh giác. Khi đêm xuống, anh mới thấy rằng anh không thể lại qua đêm ngoài trời được nữa. Anh cần có chiếc giường để ngả lưng ít ra là vài tiếng. Một chiếc taxi chở anh ra ga Montparnasse rồi ga Orleans, anh thiu thiu ngủ. Khi đến ga , không thấy anh dậy, anh lái xe ngạc nhiên, đánh thức anh. Lúc đó vẻ mặt anh ra sao? Chắc là không bình thường. Anh lái xe là một người đã đứng tuổi, mặt có vẻ thiện cảm và thông minh, cúi xuống hỏi anh:
- Ông có lẽ không biết có chỗ nào để cư trú phải không? Nếu ống muốn tôi mời ông đến nhà tôi... Nhưng tôi cần phải chạy thêm một chuyến nữa rồi mới trở về nhà được...
Ông lái xe hiểu rằng anh đang trong cơn bĩ cực mặc dù anh không hề nói một lời nào với ông... Anh tin ông và xin trả tiền cước xe. Ông lái sống trong một tầng hầm mái một mình. Nếu ông ta sống trong một cung điện, chắc Leopold cũng chẳng sung sướng hơn. Sự có mặt của ông làm anh vui lên, anh không còn cô đơn nữa. Một ánh tình bạn lóe lên trong đêm tối của kẻ bị truy nã... Anh rất ngạc nhiên thấy ông không hỏi một ý tò mò nào. Hai người trò chuyện trong bữa cơm thanh đạm về chuyện chiến tranh, thiếu thốn, giới nghiêm, nạn bị chiếm đóng... Anh ngủ thiếp đi, sung sướng. Bốn giờ sáng, anh tỉnh dậy thấy như đổi đời. Ông lái đưa anh ra ga phía Bắc mà anh kể với ông rằng anh phải lên tàu sớm. Anh chia tay sau khi cảm ơn nhiệt liệt trong tình cảm như hai người bạn nối khố. Đối với ông lái xe Leopold là gì nhỉ? Có lẽ là người tỉnh khác trôi dạt lên thủ đô và nay trở lại quê hương.
Ông già thân mến! Leopold không biết ông là ai và có thể không bao giờ biết rõ về ông. Nếu ông còn sống và được đọc những trang trong hồi kí “Trò Cao thủ” của Leopold Trepper, ông sẽ thấy Leopold xin nhắn ông rằng anh không bao giờ quên được những gì ông đã giúp anh trong cái đêm hôm đó.
17 tháng 10. Leopold mong manh hi vọng nối lại liên lạc. Chị Spaak đồng thời với cuộc hẹn gặp đại diện Đảng Cộng sản, còn bố trí cho Leopold gặp một người bạn của chị tên là Grou Radenez thuộc toán kháng chiến quan hệ với London. Anh dự định thông qua quan hệ này để liên lạc với sứ quán xô viết tại Anh. Hẹn gặp tại cửa nhà thờ Auteuil vào buổi trưa. Anh đến chỗ hẹn đúng giò. Thận trọng như mọi khi, anh đến gần khu vực nhà thờ thì trông thấy một xe Citroen đen mà bọn mật thám Đức thường dùng đậu trước cổng nhà thờ. Vừa còn chút thời giờ quay gót chuồn. Anh không bao giờ biết được vì sao lại có hiện tượng đó, hay là người hẹn đã bị bắt.
Georgie bị bắt chiều hôm 17-10 tại làng nhỏ xứ Beauce. Sau này Leopold mới biết tin đó. Chính bọn Lafont tóm được mẩu giấy ghi địa chỉ của chị trong túi bà May hôm 15 nên chúng bắt được chị. ĐĐN đã chờ hai hôm mới hành động.
Không thấy Leopold quay lại Nhà Trắng, Pannwitz cho rằng anh đã chạy trốn về Beauce. Làng nhỏ đã bị Gestapo vây chặt, chúng rình suốt hai ngày, đến tối mới hành động, Pannwitz và Berg lăm lăm súng ngắn xông vào nhà. Nắm được hai con bài là Georgie và con của bà, Pannwitz mừng rỡ là sẽ đánh phá tận cùng. Nhưng tra tấn, khống chế cũng có khi chẳng có tác dụng gì.



(1) FTP là lực lượng du kích của ĐCS Pháp chống phát xít.
 


 
0
Toàn bộ mật thám lao vào truy lùng
 
Leopold không biết tại sao Georgie lại bị bắt. Cho đến ngày Giải phóng, anh vẫn không hiểu nguyên nhân. Mãi sau này anh mới biết tại mẩu giấy ghi địa chỉ của chị.
Cuộc hẹn hụt ngày 17 tại nhà thờ Auteuil càng làm cho Leopold tăng cường cảnh giác vì không thấy ai đến nơi hẹn. Gestapo đã rình quanh đó. Vậy phải thôi lang thang trên đường phố. Nhưng đã quá trưa rồi, không đủ thời gian để có kế gì khác nữa. Lại phải đi lang thang tiếp, qua một cửa hiệu thấy đề biển “Nur fur Deutschen”. Đó là một trong những nhà chứa dành riêng cho quân đội phát xít. Nhiều lần bọn ĐĐN đã kể cho anh nghe về nhà chứa này, nơi chúng hay lui tới, ở gần đường Champs-Elysees.
Đã nửa đêm, Leopold cần có nơi ẩn trong bốn năm tiếng. Những tiếng hò, tiếng hát vang trong ngôi nhà này. Lính tráng say sưa cố tránh hình ảnh chiến tranh bằng những thú vui xác thịt có tổ chức. Chúng say đến mức chẳng đứa nào thèm để ý đến anh. Đối với các cô gái làm nghề mua vui cho những tên hiếu chiến này thì Leopold cũng chỉ là một tên Boche như những tên Đức khác. Thực tế, anh đẩy cửa bước vào. Anh tránh phòng khách vì chỗ đó đông người, anh đề nghị mụ chủ đưa anh lên thẳng tầng trên. Anh ngồi thỏm vào ghế bành êm ái. Một lúc thì “một nữ nhân viên” bước vào và hỏi thẳng anh:
- Dùng nửa giờ hay cả đêm?
Tất nhiên anh chẳng nghĩ gì đến chi tiết đó... Nửa tiếng thì quá ngắn để anh có chỗ ngả lưng. Anh trả lời chưa vội, xin cho một chai champagne để hai người làm quen nhau đã. “Cô chiêu đãi viên của anh” thi hành và quay lại ngay với chai rượu Pháp. Anh nhấm nháp chưa hết li đầu tiên đã thấy đầu óc quay cuồng. Anh nặng nề đứng lên, loạng choạng và cứ để nguyên quần áo lăn ra giường dưới con mắt ngạc nhiên của cô gái. Nửa giờ sau Leopold tỉnh lại và quan sát nơi anh đang nằm. Cô gái bình tĩnh và nhẫn nại nhìn anh nửa tỉnh nửa mê và chờ anh tỉnh hẳn. Anh đứng dậy và hai người bắt đầu nói chuyện. Cô gái hiểu đây là một khách đặc biệt đến chốn này không phải để hưởng những thú vui theo chương trình của nhà chứa.
Cô nhìn thẳng vào mắt Leopold và hỏi:
- Nhưng tại sao ông đến đây, ông đến một khách sạn có hơn không? Hay là ông sợ cái gì? Ông chẳng có cái gì phải sợ ở nhà này, ông biết đấy, ở đây không bao giờ thấy bọn hiến binh Đức đến... Ông có thể ở đây tùy theo ý muốn, ông sẽ được an toàn hơn chỗ khác...
Leopold trả lời rằng anh chẳng có gì phải sợ sệt. Anh cho cô xem giấy chứng nhận Đức kiều của anh. Cô ta bắt đầu tuôn ra cơ man nào những chuyện về sĩ quan Đức hay lui tới nhà này. Anh nghĩ bọn Gestapo còn thiếu giáo dục cảnh giác cho những cô gái ở đây. Anh cũng biết được khá rõ về tình hình tư tưởng “cao” của các sĩ quan quân đội Đức cuối năm 1943 này, nó cũng đen tối không kém gì cái đít chai mà chúng đang tu ở dưới tầng trệt.
Năm giờ sáng, anh rời nhà chứa, trước khi ra phố, anh bảo cô gái tính tiền...
- Không, em không dám lấy tiền của ông vì em chẳng làm được gì để nhận tiền của ông...
- Thì cô cứ nhận đi nào, coi như biểu hiện của tình bạn mà!
Cuối cùng cô nhận và dặn anh:
- Ông hãy cẩn thận nhé, đừng lang thang trên đường phố! Nếu ông không có chỗ ở, hãy đến nhà em, ông sẽ an toàn hơn...
Được, nhưng anh phỏng đoán trong nhà này, sự nghỉ ngơi của chiến binh không thể vĩnh hằng được!
18 tháng 10. Hôm nay là ngày thứ tư. Leopold tiếp tục lang thang. Anh đi quanh quẩn, chưa biết mình nên đi đằng nào. Qua phố này phố nọ, anh đến trước trụ sở của Đảng thân quốc xã do Marcel Deat cầm đầu. Lúc này bỗng một khẩu hiệu trên háo “Sự nghiệp” của Deat lóe lên trong trí nhớ của anh: “Chết cho Danzig”. Tên lãnh tụ cũ của Đảng xã hội bây giờ lại thúc đàn cừu của nó đi chết cho Hitler!
Cũng lúc đó, bỗng anh nhớ rằng trong cùng một ngôi nhà này có một nữ y tá tên là bà Lucie ngày xưa đã từng tiêm thuốc cho anh. Lúc này anh nảy ra ý nghĩ kiếm nơi ẩn tại ngôi nhà này, ngôi nhà có trụ sở của Tập hợp quốc gia bình dân, là phong trào tích cực nhất về cổ vũ nhân dân hợp tác với phát xít. Anh ngoái nhìn xa xa là phố Saussaies có trụ sở của tên Pannwitz đang truy lùng anh rát ráo riết. Khu này ít người dám lai vãng.
Ý nghĩ của anh thật là lẩm cẩm, nhưng đó chỉ là bề ngoài thôi. Bởi vì quan hệ của anh với bà Lucie chẳng ai biết, hơn nữa ĐĐN sẽ bất ngờ về việc Leopold dám lẩn tránh ở sát ngay trụ sở của chúng. Chỉ có một trở ngại là có một số người đứng ở cổng. Anh chờ khi họ đi xa rồi, đến 10 giờ đêm anh quyết định vào ngôi nhà này, ở phần không có bọn “tay sai Đức”.
Leo lên tầng bốn, anh bấm chuông nhà bà Lucie. Bà mở cửa, nhận ra anh và tái mặt đi:
- Ông có việc gì thế? - bà Lucie hỏi, - ông ốm à?
Leopold kéo bà vào trong nhà để trình bày. Bà nói thêm:
- Ông hoàn toàn khác trước, ông không còn là người mà tôi gặp trước đây nữa.
Con người mà bà biết trước đây là một nhà công nghiệp Bỉ qua Paris vài ngày. Leopold nói luôn một hơi:
- Bà Lucie ạ, tôi là kẻ trốn tù đang bị Gestapo truy nã ráo riết, bà có thể cho tôi ở trong nhà bà trong vài ngày được không? Xin bà cứ trả lời thẳng thắn cho tôi, tôi xin bà, được hay không được. Nếu không được, tôi không van nài bà, tôi sẽ đi ngay lập tức!
Nước mắt bà tràn đầy khóe thu ba. Bà trả lời với một giọng đau sót:
- Tại sao ông lại nghĩ tôi có thể từ chối ông, dù chỉ một giây thôi?
Bà dẫn anh vào một căn phòng và bảo anh:
- Ở đây ông sẽ an toàn. Ông có thể ở đây bao nhiêu lâu tùy theo ý của ông, tôi đi tìm cái gì cho ông uống nhé!
Leopold vào giường: vải trải giường trắng toát, chăn đệm ấm đã chờ anh. Anh thư giãn hết sức lực và lăn ra ngủ. Khi bà Lucie trở vào buồng Leopold, anh mới tỉnh dậy. Chắc chắn dáng hình anh tiều tụy như kẻ sắp chết, cho nên bà Lucie cứ hỏi anh:
- Thế chúng nó làm gì ông! Chúng nó hành hạ ông như thế này à?
Sau khi dùng cơm, anh lại ngủ, nhưng không sao nhắm được mắt. Người anh đã trở lại hình thường, anh kiểm tra những giờ phút vừa qua. Có lẽ đã nửa đêm khi anh nghe thấy có tiếng chuông bấm ở cổng. Có phải bọn Gestapo hay không? Anh vội cầm lấy ngay viên nhân ngôn.
Có tiếng đàn ông. Hình như có tiếng nói rất nhỏ. Có tiếng chân đến gần cửa buồng anh và bà Lucie đi vào đem theo một luồng ánh sáng. Anh hỏi:
- Ai đó?
Có lẽ bà hiểu giọng xúc động của anh, bà lại gần giường anh và nói với một giọng thật là thành thật... nhưng với một vẻ ngây thơ khiến người nghe không thể giận được:
- Ông Gilbert ạ, ông hãy bình tĩnh, đó là một người bạn của tôi, ông ta là sĩ quan quân đội Pháp, tham gia kháng chiến và đến đây để qua đêm...
Hai chiến sĩ kháng chiến cùng trú ở một nhà, sát nách tên Pannwitz, thật là quá nhiều, quá đông… Anh giải thích cho bà Lucie và ung dung đề nghị mình đi nhà khác. Bà từ chối và đi ra. Họ nói nhỏ. Một lúc sau, bà quay lại, khép cửa và nói:
- Xong rồi, ông ta đã đi đến một địa chỉ khác rồi...
Hôm sau, ngày 19, anh trở dậy và bị sốt nặng. Không thể nhấc mình nổi, phải nằm và lần đâu tiên trong đời anh lăn ra ngủ với đầy ảo giác. Cả cuộc đời anh đã diễn ra như một cuộn phim, hình ảnh nối tiếp nhau diễn ra, lúc có thứ tự , lúc chồng lên nhau, lúc cắt quãng nhau. Những cảnh đời anh ở Ba lan, Palestine, ở Moscow rồi ở Paris nối tiếp nhau không theo một thứ tự nào. Mọi cảnh diễn ra xa xôi nhưng lại rất gần, tối và sáng, mờ ảo và trật tự, anh thấy người cha từ trần. Với sức mạmh và hiện thực kì lạ, anh thấy sống lại những cảm súc đã qua, vui và buồn, đau thương lẫn yêu thương. Cơn mơ kéo dài đó đã làm cho anh không rơi vào tình trạng mất phương hướng. Dần dần, hiện tại kéo anh trở lại bình thường.
Một hiện tại mẫu mực, đáng lo ngại. Trong hai ngày nữa anh phải gặp Spaak ở nhà thờ Ba Ngôi. Ngày 22 tháng 10 hẹn gặp Kowalski ở Bourg-la-Reine tại một ngôi nhà có Gestapo phục kích! Tâm hồn anh kinh hoàng: anh chị Spaak có được an toàn không? Spaak đã kịp báo động cho Kowalski chưa? Đau đớn quá, anh lại ngủ say đến tận sáng bảnh mắt hôm 20. Anh đọc tờ Paris Buổi chiều (Paris-Soir), báo của ngụy quyền, bỗng anh đọc thấy ở trang hai có dòng tin vặt “Edgar, tại sao anh không gọi điện cho tôi? Georgie.” Anh đọc đi đọc lại mấy lần và hiểu rõ: Pannwitz đã bắt mất Georgie rồi. Kín đáo báo tin chiến thắng, tên đó cảnh cáo anh phải ra đầu thú. Sau này anh được biết Pannwitz hai lần dùng báo để báo tin chiến thắng của hắn. Sau khi vây bắt ỏ Correze, hắn đã đưa lên báo dòng chữ “ Georgie, tại sao bà không tới. Patrick đã đến ở nhà chú nó rồi”.
Việc Georgie bị bắt làm cho Leopold choáng váng vì không thể ngờ được, cho nên anh phải giành lại chủ động ngay tức khắc. Tối 20, anh ra khỏi căn hộ của Lucie đi gọi điện thoại hai lần. Trước hết gọi đến phố Beaujolais để kiểm tra xem nhà Spaak đã bị Gestapo chiếm chưa. Nhà của hạn anh không thể nào mà Gestapo lại buông tha, trừ khi nó đặt bẫy ở đó. Việc không có ai trả lời đã giải thích thực trạng ngôi nhà Spaak.
Gọi cú điện thoại thứ hai là đến Nhà Trắng, phố Bourg-la-Reine. Anh xin nói chuyện với bà Parrend. Một giọng của người nước ngoài trả lời rằng bà đó đi vắng. Anh nhắn lại rằng anh không trở lại Bourg-la-Reine nữa và anh sẽ gặp bà tại nhà của bà ở Paris. Cáu kỉnh, đầu dây bên kia yêu cầu anh phải nhắn lại ý kiến nhắc: anh phải nói rất chậm ý kiến kể trên. Ý đồ của anh là gì? Là đánh lạc sự chú ý của Gestapo càng được nhiều càng tốt để chúng không chú ý đến Nhà Trắng trước khi Kowalski rơi vào bẫy. Thật là một hành động hầu như tuyệt vọng, nhưng anh nhắc lại câu nói nổi tiếng: “Không có tình huống thất vọng, chỉ có con người thất vọng mà thôi...”.
Giữa lúc đó, ngày 21 tháng 10, Leopold đi tìm gặp Spaak tại nơi hẹn là nhà thờ Ba Ngôi. Để giết thời giờ và xua đuổi lo lắng, anh ngồi ngắm qua cửa sổ xe cộ của ĐĐN ra vào qua lại trụ sở phố Saussaies. Chúng nó có vẻ bị cuốn vào một trận lốc... Đến 21 giờ, anh đến gần nhà thờ Ba Ngôi. Trời tối như mực, cách vài mét cũng không trông thấy gì. Anh cố giữ bình tĩnh, một điều không dễ dàng do những sự kiện mới xảy ra. Cuối cùng anh gặp Spaak đang chờ anh.
Hai người ôm chầm lấy nhau, không nói lên lời.
Anh cần biết tình hình ngay. Phút xúc động qua đi, anh chỉ hỏi được một câu: Tình hình thế nào?
Khi hai người đi về phía phố Clichy, Spaak kể cho Leopold biết vợ con anh đã sang Bỉ ngày 17, vợ anh không chịu đi vì không cho rằng tình thế không nguy hiểm đến thế, anh buộc phải ép chị lên tầu. Anh qui ước với vợ rằng nếu chị kí tên “Suzette” trong thư nghĩa là tình hình bình thường, nhưng nếu kí là “Suzanne” tức là không tin được nội dung là thư đó nữa.
Ba tuần sau, Suzanne Spaak bị tố cáo và ngày 8 tháng 12 năm 1943 chị bị bắt. Thế là bắt đầu quãng đời đau khổ của chị, nó kết thúc bởi cái chết của chị vào tháng tám năm 1944.
Nhưng cái hôm 21 tháng mười đó, Leopold được tin chị và hai cháu đã sang Bỉ, anh mừng lắm. Thảo luận với Spaak về cuộc hẹn ngày hôm sau với Kowalski. Nội dung không vui vẻ. Bác sĩ Chertok phải gọi điện ngay cho Spaak hôm 19 để qui định giờ hẹn. Spaak đã quay lại nhà để chờ Chertok. Đúng bữa trưa, vào giờ qui ước, chuông điện thoại reo. Spaak hét trong máy: “Thất hẹn rồi, đùng ai tốn công nữa!”.
Đầu dây bên kia cúp máy luôn.
Bác sĩ Chertok liệu có hiểu ra không? Liệu anh có báo kịp cho Kowalski không? Toàn là những câu hỏi đầy lo âu...
Đó cũng là cuộc gặp Spaak lần cuối cùng trong thế chiến. Chỉ sau ngày giải phóng, họ mới gặp lại nhau. Trong khoảng giữa hai cuộc gặp đó, máu đã chảy dưới các chiếc cầu của Paris...
Leopold quay lại nhà bà Lucie, bị ám ảnh bởi cuộc hẹn với Kowalski. Cách duy nhất để đánh lạc hướng bọn ĐĐN là về Nhà Trắng, là thu hút sự chú ý về con mồi được ưa thích là thu ĐĐN chú ý vào anh. Sau khi suy tính, anh tiến hành lịch trình: sáng sớm mai 22 tháng 10, anh gọi điện đến nhà Spaak. Một giọng nữ trả lời. Anh hỏi:
- Tôi có vinh hạnh được nói chuyện với ai đó?
- Tôi là nữ thư kí của ông Spaak...
Spaak chưa hề có thư kí riêng. Vậy là Đội đặc nhiệm đã đến đó rồi. Con bé tự xưng là thư kí của Spaak chỉ là mật thám Đức mà thôi. Anh lấy giọng nghiêm trang, nói tiếp:
- Xin cô nói với ông Spaak rằng ông bạn Henri của ông sẽ đến đó thăm ông vào lúc 14 giờ... Xin cảm ơn cô, đây là một việc rất quan trọng đấy.
- Vâng, tôi sẽ nhắn hộ ông.
Rồi anh bỏ máy xuống.
Anh biết thủ đoạn đó hơi lộ, nhưng với bọn Gestapo không phải lúc nào cũng tế nhị với chúng, có khi dương bẫy thô sơ như thế chúng vẫn mắc. Dù thế nào đi nữa, thủ đoạn làm lệch hướng của Leopold đã đạt kết quả ngay: lúc 14 giờ Pannwitz và bầy chó đã xông ngay vào nhà của Spaak. Trong khi ấy, tại Bourg-la-Reine, bác sĩ Chertok và luật sư Lederman phục gần đó đã kịp đón chặn Kowalski. Số may vẫn còn mỉm cười với các anh.
Ngày 22 tháng 10 là kỉ niệm ngày sinh của mình, Spaak, anh định kiếm mấy chai có chất cay ở nhà anh. Trước khi đi, anh gọi điện cho bà phục vụ, bà Melandes, vì hai người đã qui ước mật hiệu với nhau đề phòng bất trắc: nếu bà nói “thưa ông thân mến” tức là tình hình bình thường, anh có thể về nhà tự do, ngược lại nếu bà trả lời cụt lủn “ông” có nghĩa là gặp nguy hiểm.
Claude Spaak gọi điện thoại. Bà Melandes trả lời liên tiếp: “ông”, rồi bà thét lên: “Đó là tất cả những gì tôi có thể nói với ông đấy!”.
Nếu đến như thế mà Claude không hiểu, thì thật là nguy hiểm... Đến lúc đó, đường dây bị ngắt một cách tàn bạo. Điên tiết, bọn chó Gestapo lao vào đánh bà Melandes.
Cũng vào ngày 22- 10 đó, trên tờ Paris - Buổi chiều (Paris-Soir) lại xuất hiện tin nhắn như sau “Edgar, tại sao anh không gọi điện thoại?”
Nhưng tên Pannwitz nói để chính hắn nghe mà thôi.
 
0
Đội đặc nhiệm bị giám sát
 
Bốn mươi ngày trôi qua kể từ khi Leopold Trepper trốn tù, bốn mươi ngày bi thảm, căng thẳng không ngừng và lo âu... nhờ có chỗ ẩn náu của bà Lucie, lần đầu tiên Leopold mới có tâm trạng ổn định và bình tĩnh để kiểm tra lại thành công cũng như những thất bại của mình.
Về thất bại, tuy sự kiện này không phụ thuộc vào ý muốn của mình, vì có sự phản bội của Denise giúp cho Gestapo tìm ra dấu vết của anh tại Saint Germain, Vesinet, và Suresnes, gây ra việc bắt bớ hai nữ tu sĩ ở Saint Germain, anh chị Queyrie và cháu bé Patrick. Về phần bản thân anh, anh thấy mình có hai lỗi: trước hết chậm đưa Georgie đi lánh, sau là lỗi nặng hơn là đã dùng bà May là người quá dễ bị tổn thương và không có kinh nghiệm. Vì bà mà Gestapo biết được sự có mặt của Leopold ở Bourg-la-Reine, địa chỉ của Georgie ở Beauce, quan hệ của Leopold với anh chị Spaak, cuộc hẹn gặp Kowalski. Thành công của anh là nhờ bạn bè giúp anh đã chống lại được ý đồ của Pannwitz: anh chị Spaak được báo động kịp thời, Kowalski thoát kịp cái bẫy, và sự tự do của chính anh.
Qua tất cả các sự kiện đó, anh rút ra kết luận rằng kiểu hành động không kế hoạch đưa đến tai hại nặng nề và anh phải phải lập một tổ chức mới tránh được những thảm kịch lớn như vậy. Anh quyết định thành lập một toán giám sát và hành động gồm những chiến sĩ có kinh nghiệm.
Trong kế hoạch của anh, Alex Lesovoy là một đới tượng lí tưởng để hợp tác.
Lesovoy không thuộc Dàn Nhạc Đỏ. Gốc Nga, đến Pháp khi còn nhỏ. Sau nhiều năm tham gia quân Lêdương (Legion), anh được nhập quốc tịch Pháp. Là chuyên gia nha khoa, trước chiến tranh anh có một phòng thí nghiệm lớn ở Chaussee d'Antin.
Về chính trị, anh tỏ thái độ chính trị rõ rệt. Đảng viên cộng sản, tham gia cuộc nội chiến Tây Ban Nha, anh đã làm kẻ thù khiếp sợ vì có biệt tài chế tạo những khối nổ nhỏ dấu trong sách, thư hoặc gói nhỏ để giết những tên đồ tể Tây Ban Nha. Nhiều tên đã ăn đòn của anh.
Leopold quen Mira, vợ Lesovoy, khi còn là nữ sinh trung học ở Tel Aviv. Sinh ra ở Palestine, cô tham gia phong trào thanh niên cộng sản tại đó.
Năm 1941, Alex đã đến gặp Leopold xin tham gia công tác chiến đấu. Là quân nhân, tính thích mạo hiểm, đó là những đối tượng rất quí để tiến hành những kế hoạch nguy hiểm, nhưng Trung tâm duyệt quá chậm đơn xin của anh, nên anh tham gia vào tổ chức khác.
Sau khi Leopold bị bắt, Đội đặc nhiệm chú ý đến anh vì có tên trong một số bức điện của Dàn Nhạc Đỏ, nhưng Leopold đã kéo dài chuyện bắt bớ anh nên anh không bị Gestapo hỏi đến. Nhưnn phản gián Tây Ban Nha cung cấp cho Gestapo một bức ảnh của anh với ghi chú “đối tượng rất nguy hiểm”. Nếu bị bắt, anh nhất định sẽ bị dẫn độ về Tây Ban Nha. Nhưng Leopold đánh lạc hướng điều tra của Đội đặc nhiệm tuy anh biết Alex ở Paris, nhưng hướng ĐĐN truy lùng Alex ở phía Nam nước Pháp. Lưới vây ngày càng tới gần Alex, thì Leopold trốn tù. Điều đầu tiên, Leopold báo động cho Alex, khuyên anh nên tham gia du kích. Alex đề nghị Leopold cùng tham gia du kích với anh, nhưng Leopold từ chối, anh liền nói:
- Tôi sẽ ở lại với anh, tôi sẽ cắt đứt mọi quan hệ cũ và tôi sẽ giúp công tác của anh...
Hai anh em thỏa thuận như vậy. Khi Leopold ở Bourg-la-Reine, hai người đã phác ra một chương trình hành động nội dung chính là lập một nhóm kiểm soát đặc biệt.
Bắt đầu, Alex lập một nhóm nhỏ gồm 6 đến 8 người. Mỗi người nhận một nhiệm vụ nhất định, theo nguyên tắc chặt chẽ là không được biết nhau. Nhiệm vụ của nhóm là theo dõi từng bước hoạt động của Đội đặc nhiệm, dự kiến những cú đánh của ĐĐN và đối phó lại, báo trước cho những người gặp nguy hiểm và giúp họ trốn lánh đi, lập mối liên lạc cần thiết.
Khi Leopold gặp lại Alex tại nhà bà Lucie, vào cuối tháng 10-1943, anh không để mất thời gian. Đã liên lạc với Đảng cộng sản, năm đảng viên có kinh nghiệm đã sẵn sàng hành động. Leopold gặp Alex yêu cầu tìm cho một thẻ căn cước mà anh có khả năng tìm kiếm được: thẻ căn cước của một nhà buôn vùng bắc Pháp mà làng quê sinh ra anh đã bị bom tàn phá, tòa thị chính bị san bằng, hồ sơ hộ tịch đã bị bom phá hết. Như vậy doanh nhân bất hạnh đó không còn gia đình, bè bạn, nhà cửa.
Hai người quyết định gặp lại nhau tại nhà do bà Lucie tìm hộ cho.
Từ ngày vượt ngục, mối quan tâm lớn nhất của Leopold là tạo cho Trung tâm tiếp tục được Trò Cao thủ, điều đó khiến cho anh phải hai lần viết thư cho Pannwitz. Qua hỏi cung bà Georgie de Winter, Pannwitz ảo tưởng hơn về ý đồ của Leopold. Theo hướng dẫn của anh trong tình huống bị bắt, Georgie phải vờ không biết gì về cái kế hoạch quá phức tạp và khó hiểu đó. Bà khẳng định những gì anh đã viết trong thư gửi Pannwitz, và nói thêm rằng Leopold thường hay nói đến hòa bình riêng rẽ và rằne Leopold hay nhắc đến đường lối của Bismarck.
Tuy nhiên, Pannwitz hiểu (tin và đó là điều quan trọng) rằng Trở Cao thủ chỉ phụ thuộc vào thiện chí của Leopold, cho nên hắn trở nên bồn chồn. Định khai thác lợi thế này, Leopold sau khi Suzanne Spaak bị bắt, đã viết bức thư thứ ba cho Pannwitz. Anh nhắc hắn chưa chịu tha một người nào và đe hắn: “Nếu ông không thả con tin, tôi sẽ phá tan Trò Cao thủ của ông...!”. Để làm cho tên này thấy rõ quyết tâm của mình, Leopold đã trực tiếp gọi điện thoại cho Pannwitz để nhắc lại lệnh của anh. Sau này bạn đọc sẽ thấy tác dụng của lệnh này. Nhưng đồng thời tên trưởng Đội đặc nhiệm cũng cuống cuồng lên...
Vừa gặp nhau, Alex đã chìa cho Leopold một tài liệu kì quặc:
- Đây là một món quà của bạn anh...
Quà gì? Đơn giản chỉ là bản sao một hức điện gửi cho mật thám các nơi: “Truy lùng Jean Gilbert. Nó đã xâm nhập vào tổ chức cảnh sát để phục vụ cho kháng chiến. Đã trốn mang theo tài liệu. Phải bắt bằng mọi biện pháp. Báo cáo cho Lafont.”
Kèm theo là ảnh chụp Leopold sau khi bị Gestapo bắt giam và nhận dạng của anh này. Treo giải thưởng lớn cho ai bắt được, hoặc cung cấp tin. Đồng thời tại Pháp, Bỉ, Hà Lan, mọi đơn vị Gestapo, phản gián quân sự, mọi cơ quan hành chính, kinh tế, quân sự, của Đức đều nhận được áp phích kèm theo ảnh của Leopold với dòng chữ: “gián điệp rất nguy hiểm đang trốn tránh”.
Hiển nhiên sáng kiến của Pannwitz đánh đấu một bước ngoặt trong chiến lược mà hắn định áp dụng đối với Leopold.
Alex và Leopold nhận định cùng nhau về lí do tên trưởng ĐĐN thay đổi ý kiến. Hai người nhận xét: cho đến nay, Pannwitz và bè lũ mới tự truy lùng Leopold thôi, chưa báo động, chưa huy động cảnh sát Pháp và quân đội chiếm đóng. Sau khi biết chắc rằng Leopold chưa có thể liên lạc được với Trung tâm kể từ khi Leopold vượt ngục, Pannwitz quyết định làm Leopold mất hết uy tín đối với Trung tâm. Chứng cứ của chủ trương này là Kent được lệnh gửi một báo cáo về Trung tâm nói rằng Leopold đã trốn. Theo lập luận của Pannwitz sau khi nhận được tin này, Trung tâm biết Leopold đã bị bắt và không còn tín nhiệm anh nữa. Bằng cách tung tin Leopold xâm nhập cảnh sát để khiêu khích, Pannwitz hi vọng Kháng chiến sẽ không thèm dùng Leopold, đưa cái tên Lafont vào nhằm tăng cường việc gây rối trong vụ án mờ ám này.
Đó là những ý đồ của Pannwitz... Mục tiêu chủ yếu của hắn là tóm cổ Leopold. Toàn bộ các lực lượng quân Đức, quân ngụy, mật thám đều được huy động vào để bắt cho bằng được Leopold. Leopold trở thành đối tượng của trăm nghìn con mắt cú vọ, con mắt của kẻ thèm lĩnh thưởng, nhưng may cho anh là ảnh không giống hình thật của anh: mặt anh không còn tròn béo như ngày trước, ria mép đã mọc rậm, lại có một đôi mắt kính. Ngoài ra bà Lucie còn tìm cho anh một chỗ ẩn nấp vữmg trãi: vào tháng 11 năm 1943, anh trú ngụ tại phố Maine, nhà của một nhân viên ngân hàng Credit Lyonnais. Lí lịch, nhân thân của anh cũng được thay đổi: nay là một con người cô đơn, ốm đau và số phận thật là hẩm hiu. Cả gia đình anh đã chết vì bom. Những người láng giềng gặp anh ở cầu thang được nghe những dư luận về những nỗi đau khổ của anh đều tỏ lòng thương hại. Ông chủ nhà tên là Jean (quên mất họ), độc thân, là con người thông minh và bình thản, đối xử với anh rất tốt. Ông không hề biết gì về nhân thân của Leopold cho nên chỗ trốn mới này vững chắc đến mức Leopold đã ở suốt cho đến tháng giêng năm 1945 khi anh sang Liên Xô.
Pannwitz đã tuân theo lời kêu gọi của Leopold viết trong bức thư thứ nhì, vì hắn cũng sợ Leopold tiết lộ cho Trung tâm biết về Trò Cao thủ, cho nên dần dà hắn phải tha tù binh, đồng thời hắn tung hết lực lượng truy lùng anh. Ngày 8 tháng 1 năm 1944, hắn đưa trên háo tin vặt “Patrick vẫn khỏe mạnh, cháu đã trở về nhà”. Ít lâu sau, gia đình Queyrie được tha, rồi đến bà May tuy bị kết án tử hình nhưng vẫn được tha theo lệnh riêng của Goering.
Tên trưởng ĐĐN đưa thêm một sáng kiến khá nguy hiểm: hắn thống kê tất cả những người quen biết Leopold, đe sẽ bắt giam họ nếu họ thấy Leopold đến thăm mà không trình báo mật thám. Alex và Leopold liền kiểm lại tất cả những quan hệ và đều thông báo cho họ thủ đoạn độc địa đó.
Qua thăm dò hai người, họ đều thấy thủ đoạn không chế đó có hiệu nghiệm và bắt đầu trở thành hiện thực. Leopold đến thăm một người chủ hiệu đồ khăn vải ở phố Haussmann mà Leopold quen từ lâu. Bà này cho biết có mấy người trong đó có tên Kent (qua tả nhận dạng đúng là tên này) đã đến hiệu của bà để ra lệnh như trên. Hoảng hốt, bà hứa sẽ thi hành một khi thấy Leopold đến bà sẽ cầm chân lại và báo cho Gestapo biết.
Cũng thủ đoạn như thế đối với một bà giáo già mà Leopold đã thuê nhà khi còn đóng vai chủ doanh nghiệp Bỉ. Bà lão khi thấy Leopold đến đã suýt chết ngất. Bà kể lại rằng có hai người đàn ông (trong đó chắc chắn có tên Kent) đã đến nhà bà, xuất trình thẻ nhân viên cảnh sát, đọc cho bà nghe lá thư của thống chế Petain động viên “những người Pháp tốt” đi tố cáo một “kẻ thù nguy hiểm của đất nước” có tên là Gilbert. Bà giáo khẳng định việc chúng đưa bức thư của Petain khiến bà xúc động nhưng bà nghĩ rằng đó là thư giả. Hai tên mật thám đã bắt bà phải kí vào một tờ cam đoan rằng bà đã đọc bức thư của Petain. Chuyến đến thăm của hai anh đã làm cho bà giáo hoảng hốt...
- Nếu chúng quay lại, nếu chúng quay lại, bà nhắc đi nhắc lại, nếu chúng biết rằng tôi không báo cho chúng...
Leopold nhận định bà giáo này sẽ gặp nguy hiểm vì anh và bà sẽ không chịu nổi cuộc điều tra mới. Anh bảo bà giáo già:
- Bà ơi, sau khi chúng tôi ra khỏi nhà, bà hãy đến máy điện thoại báo cho chúng biết chúng tôi đã đến đây. Bà giải thích rằng bà không thể báo nhanh hơn được, như vậy bà sẽ thoát...
Bà ngơ ngác nhìn Leopold, còn anh tuy hoảng nhưng tâm hồn cảm thấy nhẹ nhõm.
Anh cầm lấy va li. Hai anh vừa đi khỏi nhà thì thấy bà già cầm máy điện thoại. Alex nhìn kĩ Leopold, không tin. Có thể anh cũng thông cảm với nỗi kinh hoàng của bà già. Anh chẳng nói nên lời. Hai người bước đi. Chính Leopold phá tan sự im lặng:
- Tôi biết chúng nó, hôm nay là chủ nhật, giữa ban chiều, ở trụ sở Gestapo chẳng có mấy nhân viên đâu, phần lớn chúng còn đang bận nhậu nhẹt ở các quán quanh đó...
Leopold không nhầm. Sau ngày giải phóng, anh tìm hiểu tường tận chuyện kể trên: bọn Đội Đặc nhiệm còn lo nhậu nhẹt cho nên ba giờ sau khi nhận được điện thoại của bà giáo già chúng mới đến nhà bà.
Leopold lại gửi cho Pannwitz bức thư thứ tư và là bức thư cuối cùng để báo cho hắn biết rằng anh đang ốm cho nên thôi hoạt động... Anh viết thêm: “Ông có thể tiếp tục Trò Cao thủ. Tôi sẽ không cản trở ông, với điều kiện ông không được bắt giữ những người vô tội.”
 
0
Bọn đồ tể để lại dấu vết
 
Năm 1940 bọn Đức đã trưng dụng khách sạn riêng của ông Weil-Picard ở phố Cour-rcelles với lí do duy nhất rằng ông chủ là người Do Thái. Tất cả tài sản của những người Do Thái như ông tiêu bị tịch thu đưa lên xe lửa chở về Đức cho bọn trùm phát xít sử dụng. Goering chỉ huy các vụ cướp đoạt có tổ chức này và đoạt phần lớn nhất tài sản cướp được. Bộ sưu tầm tranh của Weil-Picard thuộc loại đẹp nhất nước Pháp khiến cho bọn trộm cướp rất thèm nhưng ngôi nhà chưa bị chiếm đoạt.
Chính tại nhà này, vào tháng tư năm 1944 Pannwitz cảm thấy mùa xuân này có thể là mùa xuân cuối cùng được ở Paris, nên đã chuyển ĐĐN đến đây. Bọn tra tấn người cảm thấy ngày chiến bại sắp tới. Trên khắp châu Âu, nhân dân bị áp bức đã đứng lên. Ở Pháp, Kháng chiến tiêu hao kẻ thù. Thay cho “bàn tay chìa” cho nhân dân Pháp là những hàng rào thép gai, súng liên thanh đặt ngay trước các nơi quân Đức đóng quân, hoặc trong các cuộc diễu hành của những toán hữu nghị Pháp - Đức... dưới sự che chở của Hitler.
Khách sạn riêng của Weil-Picard bị ĐĐN biến thành pháo đài. Cổng chắn bằng ụ cát. Ra vào bằng một cổng nhỏ. Cổng chính có súng liên thanh chĩa ra ngoài, hai bên hông là những đơn vị lính gác nghiêm ngặt. Mảnh đất cạnh khách sạn là garage ô tô của quân Đức. Khách đến ĐĐN đều qua cái garage này rồi lén luồn qua cổng ngách mà vào. Các hầm rượu biến thành xà lim. Gallery tranh nay trở thành buồng tra tấn. Mỹ thuật nhường chỗ cho kinh hoàng. Trong khách sạn này vào tháng tư 1944 đứa con của Kent và Margarete Barcza ra đời.
Tất cả những biện pháp đề phòng của Pannwitz biểu hiện giờ giải quyết lịch sử sắp tới, Paris sắp bừng tỉnh và đường phố sắp mọc lên những vật chướng ngại. Cùng Alex, Leopold thảo đề án phối hợp với một toán FTP cản đường rút chạy của đội Đặc nhiệm khi thời cơ đến. Toán của Alex có nhiệm vụ giám sát chặt chẽ khách sạn, chụp hàng trăm bức ảnh những tên ra vào trụ sở này. Ghi chép đầy đủ những việc đi lại của Kent và Margarete, việc vận chuyển tù nhân, việc ra vào của những chiếc xe Citroen đen. Một người Do Thái tên là Levy mà bọn Đức bắt làm vườn đã cung cấp nhiều tin tức quí báu.
Mục tiêu là bao vây ĐĐN khi Paris được giải phóng, không cho chúng nó thoát bởi một một toán 30 chiến sĩ FTP. Hai anh đã dự báo về Trung tâm kế hoạch của các anh nhờ Đảng cộng sản Pháp chuyển giao báo cáo. Nhưng Trung tâm không trả lời cho nên hai anh không thực hiện kế hoạch đó.
Cuộc phiêu lưu tội ác của Pannwitz sắp kết thúc, nhưng tên đồ tể ở Prague không chịu chết chìm cùng con tàu đang cháy. Tham vọng của hắn là lấy lại uy tín, thậm chí chạy sạch tội, bởi hắn biết chắc hắn sẽ phải ra trước tòa án của loài người, sau đó là tìm mọi cách xóa sạch những dấu vết những tội lỗi tàn bạo mà hắn đã gây ra.
Đối với Moscow, hắn cũng lật ngửa bài. Bằng thủ đoạn công bố bản thông cáo ầm ĩ gửi cho toàn thể các cơ quan cảnh sát để báo cho Moscow rằng Leopold đã trốn, hắn nghĩ ràng làm như thế là vô hiệu hóa Leopold đối với Trung tâm đồng thời thừa nhận rằng Sếp Lớn đã ở trong tay Gestapo và rằng tất cả những điện đánh từ nhiều tháng qua đều do ĐĐN viết. Vậy là hắn đã vạch trần Trò Cao Thủ. Hắn biết rằng trong phe Đồng minh không còn ai nghiêm chỉnh chủ trương kí hòa ước riêng rẽ với nước Đức đang tan rã. Đó không phải là sáng kiến lẻ tẻ của vài nhân vật xung quanh Hitler chưa chịu từ bỏ hy vọng xảo quyệt và ngoan cố liên hệ với Anh Mỹ để thuyết phục quốc trưởng: tất cả đều đã xong. Từ khi xảy ra vụ ám sát hụt mình, ngày 20 tháng 7 năm 1944 quốc trưởng đã cấm tiếp tục kế hoạch Con Gấu, tức là tên gọi mới của Trò Cao Thủ.
Đó là một điều. Nhưng các tham vọng cá nhân của Pannwitz lại là điều khác. Tuy là một đày tớ trung thành nhất, tay dính đầy máu trong những cuộc tắm máu, đã là trùm nhũng tên sát nhân ở Prague, chế độ quốc xã sụp đổ, mặc, hắn tháo chạy để bảo toàn tính mạng của hắn đã. Hoặc cũng như những tên khác, hắn sẽ trốn sang Mỹ la tinh, hoặc hắn sẽ bị tóm cổ và đưa ra tòa xét xử bọn tội phạm chiến tranh - giải pháp này không thể xảy ra - hoặc cuối cùng là hắn vẫn giữ mối quan hệ với Trung tâm với hy vọng Liên Xô vẫn coi trọng những dịch vụ đã làm.
Pannwitz đã chọn khả năng thứ ba. Leopold có chứng cớ rằng cho đến tháng 5 năm 1945, được tên Kent trung thành hợp tác, Pannwitz đã tiến hành trò chơi riêng. Cho đến giò chót của cuộc chiến, hắn vẫn gửi tin tình báo quân sự đi. Kent đã báo Trung tâm rằng hắn có quan hệ với một nhóm quan chức cao cấp của Đức có khả năng cung cấp những tin tức có giá trị hàng đầu. Vào tháng 7 năm 1944, khi quân Đồng minh đã tiến sát Paris, Kent điện hỏi Trung tâm nên ở lại Paris hoặc đi theo quân Đức! Và Trung tâm đã trả lời nên theo phát xít nhưng vẫn giữ liên lạc với Trung tâm. Tất nhiên Pannwitz rất hài lòng về chủ trương đó vì hắn cho rằng quan hệ với Liên Xô sẽ giúp hắn thoát hiểm được. Vậy Trò Cao thủ với sự can thiệp của Pannwitz mang thêm quy mô thứ ba. Mưu kế của Himmler ban đầu là phá vỡ liên minh chống phát xít bằng đầu độc cả Nga, Anh và Mỹ. Với những điện đài của DNĐ, ĐĐN làm cho Nga tin rằng Đồng minh sẵn sàng thương lượng với Đức, đồng thời Himmler cũng dùng thủ đoạn đó đối với Anh Mỹ. Giai đoạn đầu này tất nhiên không thể tiến quá xa. Đến giữa năm 1943 kết cục của Thế chiến đã rõ. Đến lúc này, nhũng tên trùm quốc xã lái Trò Cao thủ về hướng tìm kiếm hòa bình riêng rẽ thực sự với Anh Mỹ đối với Himmler, nhưng còn với Bormann là người tổng kiểm soát vụ án thì kém chắc chắn hơn.
Dù thế nào thì cũng đã quá muộn. Ý đồ này không có hy vọng thành công bởi vì từ Roosevelt cho đến Churchill và Stalin đã thấy chắc thắng rồi nên không muốn thương lượng. Chính giai đoạn này vào năm 1944 Pannwitz cố dùng Trò Cao thủ nhằm mục tiêu cá nhân của hắn.
Trước khi ngả hẳn về phía Liên Xô, Pannwitz muốn quét sạch nhà mình, tức là loại những nhân chứng biết về hoạt động của hắn ở ĐĐN. Tên đồ tể ở Prague lúc nào cũng ra vẻ dưới cái mặt nạ của một điệp viên. Thủ tiêu, ám sát, hắn có thói quen rồi. Lần lượt các cái đầu rụng. Lần lượt, các đồng chí DNĐ bị bắt tù, tra tấn và bị hành hình. Trước tiên Leo Grossvogel là người vào tháng 5 năm 1944 bị kết án tử hình đang bị giam tại nhà tù Fresnes từ cuối năm 1942, Pauriol và Suzanne Spaak bị giam cũng tại Fresnes và cũng bị kết án tử hình.
Việc kết án tử hình Grossvogel là một dấu hiệu báo động. Leopold và Alex tin rằng những đồng chí khác sẽ chết theo, vì ĐĐN đã quyết định sát hại những tù nhân trước khi chúng chạy trốn. Maximovich và Robinson cũng chung số phận như vậy.
Tất cả những án tử hình này đều xảy ra vào những tuần cuối trước khi Paris được giải phóng. Pauriol và Suzanne Spaak bị xử bắn ngày ] 2 tháng 8 năm 1944 tại nhà tù Fresnes. Ngày 6 và 7, Izbutski bị hành hình tại Berlin. Jeanne Pesant, vợ Grossvogel, bị hành hình tại Berlin ngày 6 và 8. Sau chiến tranh, Pannwitz bào chữa cho hắn rằng “Các điệp viên Dàn Nhạc Đỏ bị hành quyết theo lệnh của tôi đều đã bị kết án tử hình trước khi tôi nhận chức…”. Không đúng, dù sao thì trưởng ĐĐN vẫn có quyền hoãn thi hành án; sở dĩ hắn không hoãn vì hắn muốn quét sạch nhà trước khi hắn chạy trốn.
Leopold viết về lí do Suzanne Spaak và Pauriol bị giết chết khi Paris sắp được giải phóng, điều mà hai đồng chí này hằng mong ước: Trong nhiều tháng ròng, Pannwitz rất muốn Pauriol và Suzanne Spaak khai báo vì hắn biết rằng hai đồng chí đó hiểu rõ Trò Cao thủ.
Hắn quyết định thủ tiêu họ trong cơn hoảng loạn chạy trốn. Hai chiến sĩ đã bị ám sát một cách hèn hạ ngay trong xà lim rồi bị bí mật đem chôn. Đểu cáng hơn, hắn viết thư cho Paul-Henri Spaak, anh rể của Suzanne Spaak, lúc đó là ngoại trưởng chính phủ Bỉ lưu vong, để làm yên lòng ông này rằng hắn đã thực hiện mọi biện pháp bảo vệ tính mạng cho chị. Vị ngoại trưởng Bỉ có thể yên tâm: Suzanne sẽ được an toàn cho đến khi chiến tranh kết thúc... Ai biết Pannwitz đều có thể hình dung rằng khi hắn viết bức thư kể trên cũng là lúc hắn đưa Suzanne cho bọn đồ tể thủ tiêu chị.
Ngày 27 tháng 8 năm 1944, sau ngày giải phóng, Leopold và Alex đã đến nhà tù Fresnes để tìm các đồng chí. Không một ai có đủ khả năng cung cấp chính xác tình hình, nhưng sau khi điều tra, hai anh được biết hai đồng chí này không đi theo bọn Đức. Với sự hiểu biết quy luật của Gestapo là nếu không điệu tù nhân đi tức là chúng đã giết họ và chôn ở quanh quanh nhà tù mà thôi. Hai anh đã đến các nghĩa trang gần Fresnes, lục soát các sổ sách ghi việc chôn cất. Người Đức có tính chính xác, thường đăng kí người chết với tên, họ, ngày sinh, ngày hành quyết, trừ trường hợp nạn nhân của Pannwitz bị tên này tìm cách che đậy các dấu vết để chạy tội...
Sau nhiều ngày điều tra các nghĩa trang phía nam Paris, hai anh lần ra được vết của hai đồng chí, ở Bagneux. Trong sổ sách đăng kí vào thời gian hai đồng chí mất tích, thấy ghi “một phụ nữ Bỉ”, “một người Pháp”. Vậy rõ là Suzanne Spaak và Pauriol rồi. Hai anh vặn hỏi người giữ nghĩa trang. Lúc đầu họ ra vẻ không biết gì, nhưng vặn mãi cuối cùng họ phải nói thật rằng vào tối ngày 12 tháng 8 bọn Đức đem đến hai hòm, bắt họ đưa đến khu đất trũng của nghĩa trang. Chúng trưng dụng hai công nhân đào mả, bắt đào hai hố, rồi chúng hạ hòm xuống, rắc một thứ bột hóa học để mau làm tử thi rữa. Đó là thủ đoạn Pannwitz dùng để xóa hẳn tội lỗi của hắn.
Vào tháng 3 năm 1974, tại Đan Mạch. Helene Pauriol kể cho Leopold cảnh chị gặp Fernand Pauriol lần cuối cùng, việc chị được tin anh hi sinh cũng như tìm thấy thi hài của anh tại Bagneux như sau:
“Vào đầu tháng giêng năm 1944, tôi nhận được một bức thư của chồng tôi, theo địa chỉ bà Helene Pauriol ngụ tại nhà bà Prunier, phố Bãi Cỏ Lớn (Grande-Pelouse), Vesinet. Chỉ có vài hàng chữ yêu cầu tôi đến phố Saussaies để thăm và mang cho anh một bộ quần áo.
Tôi làm đúng như lá thư, nhưng mang theo cháu bé.
Đến nơi tôi tự trách mình điên mới mang cháu bé đến. Tôi có nguyện vọng được trông thấy anh xem anh còn sống hoặc sức khỏe thế nào. Mang cháu bé đến đây là dại dột vì có thể bị mật thám bắt giữ cháu. Chúng cho tôi lên gác bốn. Tôi được đưa vào một phòng chờ chừng dăm phút thì hai người Đức đó vào, có chồng tôi đi theo. Anh ngồi xuống cạnh tôi, vẫn mặc bộ quần áo hôm bị bắt, có nhiều vết máu, anh cầm lấy vali. Ở trong phòng với anh ấy chừng mười lăm phút thì chúng đưa tôi ra ngoài và đưa anh lên chiếc xe của Gestapo. Và thế là hết.
“Sau đó bặt tin anh, nhưng tôi được tin là trong tù Fresnes có cuộc nổi dậy của tù nhân, tôi băn khoăn không biết anh ấy còn ở trong tù này hay chúng đã đưa anh đi đâu. Không thể nào anh ấy chết được. Anh biết đấy, có những lập luận không lôgich, nhưng vẫn cứ hi vọng rằng người nào chết chứ anh ấy không thể chết. Nhất là anh ấy còn quá trẻ, tôi tự nhủ: không thể như thế được, anh ấy có thể ở đâu đó, hoặc đã bị đưa đi đầy, hoặc có thể anh ấy đi trên chuyến tàu đó. Ngày giải phóng, tôi đến tòa báo Nhân Đạo vì ở đây có những thống kê danh sách, ở đây trả lời tôi không thấy tên anh, không thấy trong danh sách, nhưng tôi vẫn hi vọng... Chủ nhật đầu tiên của tháng 10 năm 1944, có người gọi cửa nhà tôi, tôi thấy một thanh nữ hỏi tôi có phải là vợ của Pauriol không, tôi trả lời “Phải”, cô gái hỏi tôi “có được vào nhà không?” - Mời cô vào. Tôi mời cô ngồi xuống ghế và cô hỏi tôi: “Chồng bà có phải bị bắt không?” Tôi trả lời: “Phải, nhưng tôi nghĩ rằng ông ấy sắp trở về, tôi sẽ có tin tức...”
“Cô gái hơi lưỡng lự, rồi bảo tôi: “Thưa bà, tôi có một tin buồn báo cho bà, chồng bà đã...” Tôi tức giận đuổi cô ra khỏi nhà. Không thể như thế được, chuyện như thế không thể có được. Tôi nói: “Tôi xin lỗi,...”. Cô gái đưa cho tôi lá thư của chồng tôi, cô giải thích: Trong bì thư có lá thư cuối cùng của anh ấy, có nhẫn cưới và một cái phiếu do mục sư nhặt được. Bà biết đấy, trong nhà tù Fresnes có ông mục sư Đức này để thăm nom tù nhân, có thể ông ta đã theo ông này đến tận nghĩa trang Bagneux nên mới thu được chiếc phiếu màu xanh này trong có ghi: “Người vô danh, bị bắn chết ngày 12 tháng 8”. Đến đây thì tôi mới hiểu. Nhưng tôi vẫn tự nhủ chưa chắc là đã hết. Có thể bị nhầm lẫn gì chăng. Tôi cố tìm hài cốt của anh. Đến ngày 14 tháng 11 năm 1944 thì tôi được thăm. Tại Bagneux chỉ có hai người bị bắn chết, một bà người Bỉ và một người Pháp bị bắn hôm đó. Khi người ta mở áo quan lên, anh mặc bộ quần áo do tôi mang đến cho anh hôm đó... Đấy là một bộ len mỏng màu xám. Chính là anh...”
Toàn bộ tù nhân DNĐ trừ Pauriol và Suzanne Spaak, đều bị Pannwitz đưa về Đức. Georgie de Winter bị chuyển tù nhà tù Neuilly đến nhà tù Fresnes, ở đây chị đã liên lạc với chị Suzanne Spaak, rồi ngày 10 tháng 8 năm 1944 bị đưa ra ga phía Bắc. Trên sân ga, chị gặp Margarete Barcza và hai đứa con của mụ này. Pannwitz ra tận ga đưa tù nhân, hắn còn đe chị Georgie rằng nếu chị chạy trốn thì hắn sẽ trùng trị cháu Patrick, con của chị. Tên Pannwitz đến giờ phút chót hãy còn ra tay chống chế...
Chuyến tàu đưa Georgie đầu tiên đến Karlsruhe, nơi tên Reiser sau khi bị cách chức đã đến đây làm thị trưởng. Tên này có ra ga dưới danh nghĩa là đón nhưng thực tế là nhắc lại lời dọa của Pannwitz. Sau đó Georgie bị chuyển sang các nhà tù và trại tập trung ở Leipzig, Ravensbruck, Frankfurt, và Saxenhausen.
Kent cùng đường. Thất bại của phát xít Đức khiến cho tên này run sợ. Nó sợ nhất là Leopold sẽ tố cáo nó với Liên Xô. Hắn thi hành trung thành chủ trương của Pannwitz tiêu diệt hết các nhân chứng, sự khám phá cuối cùng của nó là nghiêm trọng nhất.
Cuối năm 1940, Cục trưởng yêu cầu Leopold thăm dò Waldemar Ozols, tức Solja là điệp viên cũ của Liên Xô. Tuy Trung tâm nghi viên tướng người Latvia cũ từng chiến đấu trong hàng ngũ phe cộng hòa ở Tây Ban Nha có liên quan đến ngụy quyền Vichy, nhưng Trung tâm muốn thăm dò khả năng hợp tác với Solja. Sau khi điều tra, Leopold báo cho cục trưởng không nên dùng con người này vì không bảo đảm an toàn. Kent biết rất rõ việc này vì chính hắn đã dịch và mở khóa các điện mật giữa Trung tâm và DNĐ về việc này.
Giering chú ý Solja. Cảm thấy ý đồ xấu của ĐĐN, Leopold đã đánh lạc hướng chuyện này, nhưng khi Leopold sắp trốn tù thì Pannwitz tìm được dấu vết viên tướng. Kent đã tìm ra Solja. Thật là tại họa: Kent xin được viên tướng giới thiệu hắn với Legendre, cựu trưởng lưới Mithridates. Quá mất cảnh giác, Legendre tưởng Kent vẫn là điệp viên xô viết, đã cung cấp cho nó danh sách chiến sĩ kháng chiến Pháp. Hơn nữa, theo sự vật nài của Kent, ông còn cung cấp tình hình quân sự tại những vùng quân Dồng minh mới giải phóng... Pannwitz đã nhiệt liệt khen tên chó săn này. Khi Legendre hỏi xem Liên Xô cần những tin tức gì, thì Kent trả lời rằng Anh Mỹ không hợp tác với Liên Xô về tình báo và tình trạng này sẽ gây ra những tác hại lớn. Kent hi vọng lưới của Legendre sẽ bổ sung cho thiếu sót này.
Khi bám đuôi ĐĐN rút ra khỏi Paris, có một tên đã nhẩy xổ vào người gác cổng khách sạn Weil-Picard và đe:
- Mày liệu hồn đấy, nếu mày khai báo!
Chính tên đó là thằng Kent!
Cuối cùng thì ngày vĩ đại cũng đến... Ngày 25 tháng 8 năm 1944, từ sáng tinh mơ Alex Lesovoy đến tìm Leopold tại phố Maine. Hai anh vội đến ngay khách sạn phố Courcelles có trụ sở của ĐĐN.
Paris được giải phóng. Hai anh đến phố Rivoli thì còn đánh nhau dữ dội. Ngay tức khắc, hai anh nói chuyện với du kích đang đấu súng với quân Đức.
Tay đeo băng, sơ mi phanh ngực, những thanh niên thét lên để cổ vũ nhau đánh đuổi quân xâm lược áp bức. Họ có một lô lựu đạn nhung chẳng biết cách dùng.
Hai chiến sĩ bí mật nay được ra công khai đã hòa vào cuộc chiến đấu cuối cùng này. Alex đã dạy du kích cách tháo chốt và ném lựu đạn. Kết quả thật là đẹp mắt: bọn lính Đức đã phải tháo chạy tán loạn.
Tiếp đó, hai anh tham gia vào chiếm khách sạn Majestic là tổng hành dinh của quân đội Đức... Đến chiều thì hai anh đến phố Courcelles. ĐĐN đã bỏ chạy cách đấy hai giờ.
Hai anh đã vào được hang ổ của Pannwitz và bè lũ khát máu. Leopold ngẹn ngào trông thấy những nơi các đồng đội của anh đã bị hành hạ và hành quyết. Hai anh bước chân cẩn thận không vì sợ, mà vì cảnh tượng khủng khiếp. Chúng đã rút chạy một cách vội vã. Các phòng đầy giấy tờ chưa thủ tiêu kịp. Trong nhà hầm, biến thành xà lim đầy rơm mủn. Cạnh đó là một nhà tắm: trên tường, dưới đất, trong bể nhà tắm đầy những vết máu... Đó là nơi bọn phát xít tra tấn anh em. Trên tầng hai, trong gallery cũng có những vết máu đen trên tường. Hai anh em lên gác ba. Trên bàn của một buồng có những giấy tờ đầy con số. Chắc chán đây là buồng mật mã của Efremov. Người gác cổng khẳng định nhận xét của hai anh: Tên Efremov đã rút chạy cùng ĐĐN.
Hai anh thu nhặt nhiều tài liệu cần thiết và chụp nhiều bức ảnh ngôi nhà của tội ác. Những tư liệu làm chứng cứ, hai anh sẽ chuyển về Moscow.
 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.12.2013 00:01:14 bởi Ct.Ly>
CÁC CHIẾN SĨ ĐẦU TIÊN CỦA DÀN NHẠC ĐỎ


 
 
Hillel Katz (trái), Suzanne Spaak, Fernand Pauriol
 
 

 
Léo Grossvogel  và vợ ông  Jeanne Pesant
 
 

 
Jules Jaspard và vợ
 

 
 
Alfred Corbin và vợ
 

 
 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.12.2013 00:15:49 bởi Ct.Ly>
NHỮNG THÀNH VIÊN KHÁC CỦA LƯỚI
 
 

 
David Kamy (ở trên), Makarov (Alamo) và Sophie Poznanska
 
 
 
Isidore Springer và vợ Flore Velagst , Johan Wenzel
 
 

 
Từ trái, Sarah Goldberg , Herman Ozbutski và Georgie de Winter
 
 
 
Vera Ackerman, Hersh và Mira Sokol
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.12.2013 00:24:34 bởi Ct.Ly>
CÁC NGƯỜI LÃNH ĐẠO TOÁN DÀN NHẠC ĐỎ Ở BERLIN


 
 
 
Harro Schulze-Boysen trong văn phòng của ông tại Bộ Không quân


 
 
 
Arvid và Mildred Harnack, Adam Kuchoff
0
Phần III
TRỞ VỀ
 
Chuyến đi kì quặc
 
Trong căn hộ ở phố Strasbourg của một bà già làm liên lạc cho Leopold với Alex, sau vài ngày Paris được giải phóng, Leopold nhận được một bức điện khen ngợi hoạt động của anh và yêu cầu anh chờ phái đoàn quân sự xô viết đầu tiên đến Paris.
Đâu đâu cũng hừng hực không khí tự do đã trở lại, nhưng không khí hưng phấn này cũng không làm cho Leopold đơn giản và sớm buông súng xuống. Vì đôi khi kẻ thù chờ cho kẻ chiến thắng sơ hở là nó đâm luôn nhát dao vào lưng mình. Cái thằng Pannwitz tuy đã rút chạy nhưng ai dám đảm bảo ràng nó không thể cài một quả bom nổ chậm hoặc một tên tay sai ở lại để thủ tiêu anh?
Sự nghi ngờ này là có căn cứ: toán Alex đã phát hiện có dấu vết những tên đáng nghi đang tìm Leopold. Chúng đã mò đến ngôi nhà cũ của Katz tại phố Edmond-Roger, và tại một số nhà có trong thống kê của Gestapo. Những tên vô lại, những tên tay sai của Lafont chắc chắn đã nhận lệnh của Pannwitz đi tìm để trả thù Leopold. Vì vậy Leopold chẳng dại gì mà ra công khai hoàn toàn để giơ sườn ra cho những kẻ thù đang lẩn quất đâm anh. Anh sống nửa bí mật tại ngôi nhà ỏ phố Maine.
Ngày 23 tháng 11 năm 1944 chiếc máy bay xô viết đầu tiên từ Moscow hạ cánh xuống gần Paris, đưa Maurice Thorez và đại tá Novikov, trưởng phái đoàn quân sự phụ trách hồi hương người Nga về nước. Novikov tiếp Leopold rất tình cảm và cho biết anh có thể dùng máy bay mới đến này để quay về Moscow.
Đến ngày 5 tháng 1, Leopold mới lên được máy bay, có hộ chiếu xô viết mang tên giả. Có 12 người trên máy bay, trong đó có Alexander Rado và phó của Rado là Alexander Foote, là hai người Leopold được gặp tại nhà của Novikov.
Chiến tranh còn đang diễn ra ác liệt tại Trung Âu, cho nên máy bay phải đi vòng xuống phía Nam, qua Italia, xuống Bắc Phi. Đỗ tại đấy hai ngày. Leopold được tiếp đón rất mặn mà, chuyện trò thân mật với đoàn phi hành. Sau đó lại cất cánh sang Cairo. Rado ngồi cạnh Leopold, giảng cho anh nghe về những vùng bay qua, vì Rado vốn là nhà địa lí có tiếng. Những hành khách khác ít trò truyện. Tuy nhiên một người trạc sáu mươi tuổi người thấp và mập, tay chai sạn chứng tỏ là một người lao động chân tay, tự giới thiệu với Leopold ông là Chliapnikov, lãnh tụ tổ chức Công Nhân Đối Lập. Vốn là thợ luyện kim, đảng viên Bolshevik lão thành, trong những năm 1920 và 1921 đã cùng Alexandra Kollontai chủ trương trong đảng cho công đoàn được độc lập đối với đảng và nhà nước và cho công nhân được quyền đình công. Tự hào là công nhân cổ xanh, bàn tay chai sạn, ông đã từng bị Lenin châm chọc cay độc “Lúc nào đồng chí cũng đề cao bản chất vô sản tích cực của mình...”
Tuy thế, cũng chính Lenin đã bênh vực Chliapnikov khi Ban chấp hành trung ương quyết định khai trừ nhóm Công Nhân Đối Lập. Chắc đồng chí già này đã bị gạt ra trong thời kì thanh đảng như nhũng đảng viên Bolshevik lão thành khác.
“Sau khi nhóm Công Nhân Đối Lập thất bại, Chliapnikov giải thích cho Leopold, tôi đã được Lenin giúp đõ rời Liên Xô sang sống tại Paris và làm nghề thợ mộc. Chiến thắng của Hồng quân và lòng tha thiết với tổ quốc đã khiến tôi quay về với đất nước của tôi. Tôi đã viết thư cho bạn Molotov của tôi, nhờ giúp cho tôi và ông đã trả lời rất nồng nhiệt và động viên tôi trở về. Tôi chắc Molotov sẽ ra sân bay đón tôi. Tôi rất nóng lòng phục vụ đảng và đất nước...”
Ở Cairô, hành khách về Liên Xô được bố trí ở trong khách sạn. Hôm sau họ đến sứ quán xô viết để thăm. Trừ Rado không có mặt. Leopold nhận thấy Rado không mua bán gì với số tiền được phát. Hôm tiếp tục lên máy bay để sang Liên Xô, Rado không có mặt. Về khách sạn tìm không thấy anh. Chăn gối không dùng đến, túc là anh không ở khách sạn. Hay là anh bị tấn công?
Leopold đã gặp Rado tối hôm trước vì Rado đến phòng của anh và đưa ra nhiều câu hỏi:
- Anh có biết điều kiện sinh sống tại Ai Cập không? Anh có nghĩ rằng có thể sinh sống ở đây được không?
Đến trưa, mọi việc tìm kiếm Rado đều không thấy kết quả. Máy bay đành tiếp tục hành trình sang Iran. Trên đường bay, gặp bão cho nên máy bay phải bay thật cao để tránh mây dữ. Cả máy bay đều vô cùng lo lắng. Nhưng cuối cùng cũng đến được Teheran, thủ đô Iran.
Thời tiết xấu nên hành trình bị chậm lại. Foote và Leopold được triệu đến sứ quán xô viết, tùy viên quân sự Liên Xô cho hai anh biết rằng ông đã báo cáo việc Rado về Moscow. Ông nghĩ rằng hai anh này có thể cho ông biết tin tức về Rado.
Tất nhiên Foote là người lo nhất vì Rado là thủ trưởng của anh. Anh có thể bị tình nghi là đồng lõa với Rado. Foote nói với tùy viên xô viết:
- Tại sao ông lại muốn tôi về Moscow báo cáo về hoạt động của chúng tôi tại Thụy Sĩ? Tôi sẽ bị tình nghi. Chẳng ai tin những điều tôi nói đâu.
Trong khi bay về Liên Xô, Leopold suy nghĩ về Rado. Anh biết rằng Rado đã hoàn thành vượt yêu cầu của Trung tâm và không có ai có thể khiển trách được anh. Cuộc đời chiến đấu của anh bát đầu từ khi còn rất trẻ tại Hungari cùng với Bela Kun đã giúp anh tích lũy rất nhiều kinh nghiệm chính trị. Tại Thụy Sĩ anh đã đóng góp rất lớn cho chiến thắng. Với kinh nghiệm sống cũng như tri thức khoa học sâu sắc của mình, anh nhận định rằng dù chiến thắng, nhưng chẳng có gì thay đổi tại vương quốc của OGPU anh nhìn trước được số phận của anh tại Moscow. Chẳng hào hứng gì trước triển vọng chết trong ngục Stalin, anh đã biến mất tại Cairo, sau khi đã thận trọng sắp xếp cho vợ và các con anh sang Paris sinh sống. (Tự do của Rado chẳng được bao lâu vì sau khi tị nạn trong một trại của Anh, Liên Xô đã đòi trả anh ngay tức khắc và kiên quyết. Rado đã bị OGPU bắt đưa về Nga sau vài tháng trốn.)
Sự thật này khiến cho Leopold thấy mình ngây thơ, vì anh đã tưởng rằng chiến tranh chấm dứt, nạn khủng bố sẽ ngừng và chế độ sẽ đổi mới. Anh cũng đã từng sống trải qua những trận thanh trừng, nhưng có một thực tế khiến anh phải quay về Nga: gia đình anh đang ở Liên Xô. Anh không may mắn là vợ con ở Pháp, cho nên anh không dám hành động sơ suất gây hậu qủa cho vợ con anh.
Moscow đang đến gần... Biết bao nhiêu tình cảm trái ngược nhau, chủ yếu là lòng vui sướng sắp gặp lại những người thân xa cách bao nhiêu năm trường. Khi máy bay hạ xuống sân bay, anh thấy mình bằng lòng với mình rằng đã làm tròn nhiệm vụ, anh tự hào về đóng góp, nay xứng đáng được nghỉ ngơi. Anh nghĩ đến những đồng chí, những người đã nằm xuống và những người đã bị hành hạ.
Trong đêm tối, bước xuống cầu thang, anh cố tìm xem có người thân ra đón không. Vô ích, chẳng ai đón anh, cũng chẳng có hành khách nào khác. Một toán sĩ quan tập hợp thành ban đón tiếp. Quân nhân ra đón các chiến sĩ, thôi thì cũng được.
Những sĩ quan cấp cao - những đại tá - tiến lại gần Leopold và chào anh nồng nhiệt. Họ mời anh lên xe. Trong ánh sáng bất chợt, anh nhận ra một người hồi 1937 mới là đại úy. Nay anh đã lên như thế là nhanh. Leopold đặt ngay câu hỏi mà anh rất nóng hỏi, từ khi anh trở về:
- Vợ và các con tôi đâu?
- Xin anh khỏi phải lo lắng - Một sĩ quan trả lời anh - Chị và các cháu rất khỏe mạnh, riêng chị còn đang điều dưỡng trong một nhà nghỉ. Chúng tôi không báo tin cho chị vì chúng tôi không biết chính xác ngày anh trở về. Cục trưởng định sẽ để anh hai ba tuần lễ nghỉ tại một căn nhà để anh chuẩn bị bản báo cáo của anh. Chúng tôi dẫn anh đến đó đây.
Họ đã bố trí cho anh trú tại một căn hộ hai phòng của một đại tá đang đi công tác vắng. Vợ và cô con gái đại tá đó đón tiếp Leopold. Trước khi tạm biệt, hai vị đại tá hộ tống chỉ vào một cậu đại úy trẻ:
- Đây là sĩ quan hầu cận của anh, cậu đó sẽ phục vụ mọi yêu cầu của đồng chí...
Cách li để giúp anh làm báo cáo! Sĩ quan hầu cận, anh có nhu cầu gì đâu! Thái độ nửa nạc nửa mỡ của hai viên đại tá, và nhất là sự vắng mặt của vợ anh, tất cả những yếu tố đó gây cho anh một cảm giác lạ lùng, nghi hoặc.
Anh trú trong ngôi nhà mới, ít ra cũng khang trang hơn hè phố Paris mà anh phải lê những bước chân nặng nề sau khi anh phải rời Nhà Trắng.
Tối hôm sau, có ba người đến thăm anh, một mặc thường phục, hai mặc quân phục. Anh nhận ra chàng mặc thường phục vào năm 1938 là một cán bộ phụ trách công tác chính trị của Cục. Chức danh chính thức đó che dấu một thực tế khác: anh ta là tướng của Bộ Nội vụ.
Họ đưa đến một mâm cơm thịnh soạn, nhưng giữa bữa Leopold đưa ra câu hỏi mà anh rất quan tâm:
- Các anh có nhận kịp thời bản báo cáo tháng giêng năm 1943 mà tôi gửi qua trung gian Đảng cộng sản không?
- Có, có, chúng tôi đã nhận được bản báo cáo đó và chúng tôi quan tâm đến nó.
Một phút im lặng, rồi viên tướng thay đổi đề tài trao đổi:
- Thế anh định làm gì trong tương lai?
Leopold suy nghĩ rằng việc đó do Cục quyết định.
Nhưng anh trả lời:
- Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ về tình báo, giai đoạn đó trong cuộc đời của tôi coi như kết thúc, mhung trước khi lui về Ba Lan tôi muốn trình bày với Cục về toàn bộ công việc đã trải qua trong cuộc chiến tranh...
Với giọng dằn từng tiếng, Leopold nói tiếp:
- Tôi muốn Cục giải thích về nhũng sai lầm nghiêm trọng của lãnh đạo Cục.
Viên tướng soi mói sa sầm nét mặt:
- Thế tất cả những điều anh quan tâm chỉ có thế thôi à?
- Vậy có phải ngẫu nhiên mà anh không quan tâm đến vấn đề đó phải không?... Trước hết, tôi xin đặt một yêu cầu về kế hoạch cuối cùng của Dàn Nhạc Đỏ…
- Đồng ý, viên tướng cắt ngang, ngày mai chúng tôi sẽ nghiên cứu đề xuất của anh....
Ngày hôm sau, hai đại tá đến gặp Leopold. Anh nhận xét ngay rằng hai người này nắm rất chắc hồ sơ Dàn Nhạc Đỏ. Anh bắt đầu nói:
-Tôi tin rằng Grossvogel, Maximovich, Makarov, Robinson, Sukulov hãy còn sống. Họ có thể và phải được cứu, nhưng quan trọng là phải biết các anh còn giữ quan hệ với Pannwitz hay không?
- Nó trốn vào vùng núi Alps của nước Áo, đó là nguồn tin chắc chắn báo cho chúng tôi như vậy...
Đến đây, Leopold đề nghị phái hai sỹ quan đến gặp Pannwitz, hai sĩ quan này phải nắm chắc vụ Dàn Nhạc Đỏ, nói cho Pannwitz biết rằng từ tháng giêng năm 1943, Cục đã biết rõ Trò Cao thủ vì Leopold đã báo cáo. Pannwitz phải chấp nhận tìm mọi cách cứu những chiến sĩ Dàn Nhạc Đỏ còn bị giam (1) và hãy hứa với nó sẽ chiếu cố nó sau chiến tranh, nếu không như thế Himmler và Bormann sẽ được thông tin. Nếu chúng biết rằng Cục đã thao túng việc này từ lâu thì Pannwitz sẽ là người phải chịu trách nhiệm và sẽ buộc hắn phải trả giá rất đắt vì chúng vẫn còn khả năng buộc Pannwitz phải trả giá. Đề xuất này theo Leopold là hoàn toàn phù hợp với công lí và lôgich. Hai đại tá hứa sẽ trình bày đề xuất này lên Cục.
Tuần lễ đầu tiên Leopold viết báo cáo cùng với nữ thư kí đánh máy. Tuy nhiên anh càng ngày càng nhận thấy cách cư xử không phải loại giành cho người chiến sĩ đã lập được nhiều thành tích.
Ba ngày sau khi đến Moscow, Bộ Nội vụ mới mang trả va li cho anh. Ngay khi rời sân bay anh mới biết rằng anh cầm va li của Chliapnikov vì hai va li giống hệt nhau. Chính Chliapnikov cũng thừa nhận rằng anh cũng nhầm. Hai sĩ quan Bộ Nội vụ mang đổi va li cho hai người.
Chức danh của hai vị đại sứ rất có ý nghĩa: Rõ ràng Chliapnikov đang nằm trong tay Bộ Nội vụ, và Leopold bây giờ mới hiểu ra rằng Molotov đã lừa Chliapnikov khi viết bức thư rất nồng nhiệt mời Chliapnikov trở về tổ quốc. Đối với một đảng viên Bolshevik lão thành phấn khởi được trở lại Tổ Quốc mang hết sức tàn để phục vụ, mà đối xử tệ như vậy thật là bất nhân. Xe ô tô mà Molotov hứa ra đón người bạn già thật ra lại là xe của Bộ Nội vụ đến đưa Chliapnikov vào thẳng nhà tù Lubianka.
Chức trách duy nhất của viên sĩ quan hầu cận Leopold chỉ là giám sát anh. Thời giờ rỗi rãi của anh này là để ve vãn cô con gái chủ nhà... Một chiều cậu ta đi vắng, Leopold đã vào buồng của cậu ta và đọc thấy trên bàn bản háo cáo của cậu ta giám sát Leopold về hành vi, lời nói, thậm chí còn thêm thắt cho sai lệch đi nữa... Leopold liền lấy bút sửa lại bản báo cáo bằng bút đỏ và phê ở lề những chỗ báo cáo láo...
Cậu bé trở về buồng rất khuya và hôm sau cậu biến mất.
Tóm lại Leopold thấy mình ở trong trạng thái bị giam cầm.
Cục phái sĩ quan “hầu cận” khác với phong thái khác. Anh mời Leopold xem phim, anh chấp nhận... Trong rạp Leopold đâu có chú ý phim, mà anh tập trung dự đoán xem họ làm gì với anh.
Mười ngày sau, ba sĩ quan cũ lại mang cơm tối đến nhậu. Thức ăn dồi dào, rượu uống tha hồ, nhưng tình cảm nhạt nhẽo, họ mong lấy vật chát để gây tình cảm. Viên tướng Bộ Nội vụ cất tiếng trước tiên:
- Anh định làm gì trong tương lai?
- Như tôi đã trình bày: quay về Ba Lan đất nước đã sinh ra tôi, nhưng trước khi đó tôi muốn bàn luận với Cục.
Viên tướng lắc đầu: rõ ràng đối tượng ngoan cố. Câu trả lời khô khan:
- Nếu anh gắn quá chặt với quá khứ, anh Otto ạ, không phải chúng tôi là người nói về chuyện đó! Chuyện đó do chỗ khác xử lí. - Viên tướng nhấn mạnh bẩy từ này. - Anh hiểu chứ?
- Tôi rất hiểu và tôi xin nói thẳng với anh rằng: tôi chẳng cần biết chỗ nào sẽ bàn luận với tôi.
Đến đây là quá rồi. Viên tướng đứng dậy và bước ra khỏi buồng cùng với hai người sĩ quan kia, không chào một lời. Chắc chắn anh ta đi báo cáo. Thái độ của anh làm hại anh. Tham vọng cục giải thích và mơ tưởng về Ba Lan thân yêu, thật là một ý đồ phi lí, quá quắt, không thể tha thứ được... Hai bên chưa đụng đến các đĩa thức ăn khá đắt tiền.
Hôm sau, một đại tá khác đến và bảo Leopold:
- Anh phải thay đổi chỗ ở.
Leopold sẵn sàng chờ đón điều xấu nhất. Anh thu xếp hành lí và đi theo đại tá leo lên xe. Đêm tối mờ nhưng Leopold không lạ gì Moscow cho nên anh nhận ra con đường dẫn tới trụ sở Lubianka ở quảng trường Dzerjinski.
Qua cổng nặng nề thứ nhất, đến một cổng thứ nhì. Viên đại tá câm như hến bám sát Leopold, bấm chuông, trao đổi với người nào đó qua lỗ nhìn vài câu. Cổng mở. Hai người vào phòng tiếp tân. Viên đại tá rút trong túi ra một biên lai đưa cho sĩ quan trực ban kí nhận rồi quay lại phía Leopold bắt tay nồng nhiệt và lâu khiến anh rất ngạc nhiên. Đại tá đứng yên trong vài giây, nước mắt lưng tròng và ra đi.
Leopold nhìn xung quanh... Anh đang đứng giữa đám mây mù. Sự thật làm anh không còn nhìn thấy gì nữa: anh trở thành tù nhân. Tù nhân trong nhà tù Lubianka.



(1) Pannwitz thừa quyền hoãn thi hành án đối với những tù nhân nằm trong tay y với lí do họ cần cho “công tác” của hắn. Tất nhiên lúc này Leopold chưa biết số phận của các đồng đội thật chính xác.
 


 
0
Cuộc đời trong nhà tù Lubianka
 
Cái tên Lubianka đã được cả thế giới biết đến vì nó là biểu tượng của sự khủng bố của GPU. Trụ sở bộ an ninh Liên Xô nằm giữa Moscow. Ở giữa tòa nhà này có một ngôi nhà nhỏ hơn giành cho khoảng vài trăm “vị khách có hạng”. Nhiều hành lang dài nối bộ với nhà tù không phải ra ngoài.
Leopold ngồi ở phòng chờ. Mỗi bên phòng này có hàng chục khoang nhỏ. Người ta đưa anh vào một khoang, đồ đạc chỉ có một cái bàn và một chiếc ghế đẩu. Cánh cửa đóng sầm lại.
Anh thấy rất mệt mỏi, ngồi phịch xuống ghế, bất dộng, hết hơi, khống thể phản ứng được. Anh cảm thấy óc trống rỗng, không hoạt động nổi. Anh sờ đầu, sờ tay: “ừ, đúng là ta, ta đang ở đây, đang là người tù ở Lubianka”.
Một tiếng ra lệnh: Tại sao anh không cởi quần áo ra?
Anh hiểu đó là lệnh cho anh, từ viên hạ sĩ mặc áo choàng trắng và anh trả lời:
- Tại sao lại cởi quần áo? Tôi có thấy giường phản gì đâu!
- Cởi quần áo ra và đừng hỏi vặn gì nữa!
Anh tuân lệnh và chờ đợi, mình trần như nhộng. Cửa lại mở, hai người mặc áo choàng trắng vào. Trong cả tiếng đồng hồ, họ khám rất kĩ quần áo, những thứ trong túi và vứt thành đống. Khi khám những thứ đó xong, một người ra lệnh:
- Đứng lên!
Thế là hai hạ sĩ khám người anh từ đầu đến chân. Nếu họ có ống nghe thì anh sẽ cho đó là hai ông thầy thuốc. Họ khám tai, tóc, bắt há mồm, thè lưỡi, sờ nắn tất cả, bắt anh giơ hai tay lên:
- Nâng dương vật lên. Nâng cao hơn nữa! Quay người lại, bành mông đít ra.
Họ cúi sát mông anh, bực quá anh châm chọc:
- Các anh đánh rơi cái gì trong đó hả?
- Đừng có chọc tức chúng tôi nhé, nếu không thì sẽ biết tay. Mặc quần áo lại.
Họ lục va li và rút ra cân cà phê chưa rang mua ở Iran.
- Cái này là cái gì?
- Đại mạch đấy mà...
Họ để lại cân cà phê cùng với những thứ tù nhân được đem vào tù. Họ kê những thứ bị giữ lại: cravat, giây đeo, giây giầy vv... Một trung uý đến kí nhận những thứ đã giao và dẫn Leopold vào xà lim có hai giường. Trên một giường có một người nằm quay mặt vào tường, hai tay để lên chân.
- Giường của anh dó, cởi quần áo ra và nằm xuống.
Leopold tuân lệnh nhưng không sao ngủ được; suốt đêm anh không chợp nổi mắt, cứ ba phút lỗ nhìn lại mở và một con mắt hiện ra nhìn anh. Vì anh mở mắt nên lính gác rất chú ý. Anh rút được kinh nghiệm rằng nếu không ngủ được thì cứ nhắm măt lại sẽ không bị rình rập nữa.
Sáng đến. Một bàn tay đưa qua ghisê bữa ăn sáng: một bát chất lỏng đen đen có mùi cà phê, một ít đường và một khoanh bánh mì. Tiếng nói qua ghisê: khoanh bánh để ăn cả ngày đấy. Anh đang gặm miếng bánh nhưng không nuốt nổi vì nó mềm oặt như bột đang nặn. Anh bạn tù thức dậy chào anh rồi im bặt. Đó là một sĩ quan.
Bốn ngày trôi qua. Không một ai gặp anh. Ngày thứ năm, khi lính đổi gác, một hạ sĩ hỏi anh:
- Anh có đề nghị gì không?
- Có, Leopold trả lời, tôi muốn gặp trưởng nhà tù!
- Để làm gì?
- Tôi muốn gặp lãnh đạo bộ Nội vụ vì có một việc rất quan trọng không trực tiếp liên quan đến tôi.
Hai ngày nữa trôi qua. Một sĩ quan đến và bảo anh đi theo. Hai người qua những dãy hành lang dài đến một căn phòng bé nhỏ có một bà trao biên lai cho viên sĩ quan. Một sĩ quan khác đến kí giấy và đẫn anh qua một hành lang dài nhưng có dải thảm. Hai người vào một thang máy rồi vào một buồng rộng, trải thảm đỏ, trên tường treo ảnh Stalin. Sau chiếc bàn dài là một người còn trẻ mặc thường phục. Ông có chiếc cravat rất đẹp. Ông đứng dậy và nói giọng miền nam, ông nói với Leopold:
- Vậy là anh! Chính anh là người tham gia cái lưới tình báo to lớn do bè lũ phản cách mạng Berzin chỉ huy?
Mồm miệng ông ta cau có, căm hờn khi bật ra những câu cuối cùng.
- Anh có biết anh đang ở đâu không?
- Có chứ, nếu nơi này được trang hoàng lộng lẫy hơn thì tôi có thể nói rằng đây là hang ổ của bọn phát xít!
Ông ta tức giận, ra hiệu cho Leopold đến gần cửa kính rồi chỉ cái nhà tù và hỏi:
- Anh có biết anh đang ở chỗ kia là chỗ nào không?
- Tôi biết chứ...
- Tại sao anh lại để bè lũ đó lôi cuốn vào việc làm phản bội tại nước ngoài?
- Xin lỗi, tôi chưa biết chức vụ của ông.
- Tướng...
- Thưa đồng chí tướng quân, tôi chưa bao giờ công tác cho một bè lũ nào. Trong chiến tranh vừa qua, tôi chỉ đạo một lưới tình báo của cục tình báo trong bộ tổng tham mưu Hồng quân, tôi tự hào về những việc tôi đã làm.
Thay đề tài, ông ta hỏi Leopold:
- Tại sao anh xin gặp bộ Nội vụ?
- Khi tôi đến Moscow, tôi đã đề xuất việc này với hai đại tá tình báo, nhưng không được hồi âm. Không phải việc riêng của tôi, mà đây là sinh mạng của những đồng chí trong mạng lưới tình báo của tôi. Tôi đề nghị đồng chí cho gặp một vị lãnh đạo của Cục để bàn về kế hoạch này.
- Được sẽ hay. Còn lúc này, kết thúc!
Anh lại được đưa trở về xà lim. Hai ngày sau, anh được hai người mặc thường phục tiếp chuyện. Hai người này thuộc về cơ quan tình báo hay là thuộc về Cục đặc biệt của bộ an ninh, thành lập năm 1943, do Abakumov chỉ huy? Dù sao họ cũng nắm chắc vụ việc này của anh. Họ nói:
- Yêu cầu cho biết dự kiến của anh. Không cần đưa vấn đề cứu nhân viên như anh đề nghị. Phần lớn nhân viên đó không thuộc biên chế quân nhân của tình báo.
- Những chiến sĩ Dàn Nhạc Đỏ không phải là cán bộ quân sự sao? Họ đã chẳng cống hiến cuộc đời cho các anh hay sao?
- Chúng tôi chỉ quan tâm mỗi một việc thôi: Đưa Pannwitz và Kent Sukulov về Moscow. Nếu anh có đề xuất cụ thể, chúng tôi sẽ thực hiện...
Vài ngày sau, lại gặp nhau. Leopold hỏi:
- Các anh có quan hệ điện đài với Pannwitz không, nếu không quan hệ thì có thể lập lại nhanh chóng được không?
- Chúng tôi có liên lạc thưa thớt. Chúng tôi có thể liên lạc với hắn...
Leopold quên mất vị trí hiện nay của mình, anh trình bày một mạch dự kiến của anh:
- Cho đến lúc tôi trốn tù vào tháng chín năm 1943, Pannwitz và lãnh đạo của nó đều tin rằng Trung tâm chưa khám phá ra Trò Cao thủ. Chúng đều sợ rằng sau khi tôi trốn được sẽ thông báo chho Trung tâm. Vì thế nên Pannwitz cho dán cáo thị khắp nơi truy nã tên gián điệp Jean Gilbert. Như thế nhằm “vô hiệu hóa” tôi đối với Cục...
- Đúng, khi Kent đã gửi cho Trung tâm bức điện giải thích rằng những cáo thị đó nhằm thông báo việc bắt giữ và vượt ngục của anh, một sĩ quan trả lời. Nhưng Trung tâm chủ trương tiếp tục Trò Cao thủ cho nên đã trả lời Kent rằng Otto có lẽ đã phản bội...
- Đúng thế, phải phao cái thuyết đó. Trong khoảng cách đều, cứ gửi điện cho Pannwitz đặt ra cái câu hỏi: Otto đâu? Sau vài tuần, các anh báo cho Kent, Pannwitz biết rằng Cục nhận được tin Otto đã trốn sang Nam Mỹ. Được tin đó, hai tên này bắt đầu tính nước nghiêm chỉnh là sang Liên Xô, nhưng khi thực hiện kế hoạch này, các anh tuyên án tử hình tất cả các chiến sĩ Dàn Nhạc Đỏ hãy còn trong tay của Đức: Pannwitz trước khi ra đi sẽ tiêu diệt hết các nhân chứng biết tội ác của hắn...
Leopold nhấn mạnh thêm:
- Đồng thời, các anh phải tiến hành vận động cho việc cứu hết những người còn sống sót...
Hai người mặc thường phục không trả lời, đứng dạy và ra về. Leopold bị chuyển sang một xà lim nhỏ trong mấy tuần lễ. Một mình... Chế độ khắc khổ hớn trước nhiều: Sáu giờ sáng một cai ngục hét qua cửa: Dậy!
Người tù nhỏm dậy, cầm lấy cái bô vào nhà vệ sinh. Vào đây tối đa ba mươi phút. Quay ra lavabô. Hai phút rửa ráy. Quay về xà lim. Bảy giờ: ăn sáng. Một bát cà phê nhưng chất nước là đun sôi, một miếng đường, khẩu phần bánh mì. Trong xà lim phải theo nội qui Cấm: cấm nằm hoặc ngồi quay mặt ra cửa. Chỉ được đi từ tường này tới tường kia, nghỉ trên ghế nhỏ. Và phải đi, đi tiếp, tổng cộng mỗi ngày phải bước hàng mấy kilômet... Bữa trưa chỉ vẻn vẹn một cà mèn xúp với nội dung là nước váng mỡ lềnh bềnh đại mạch. Bữa tối cũng vậy. Trong thời sau đại chiến, mọi thứ đều thiếu thốn, khẩu phần ăn của người tù cũng chỉ có như vậy. Xúp thường là đầu cá mòi nấu; đói quá đành phải ăn rồi cũng quen, phải ăn để khỏi chết.
Mười giờ đêm, ghisê lại mở và lại có tiếng quát của cai ngục:
- Ngủ đi.
Ác mộng bắt đầu. Ngay nằm trên giường cũng phải theo luật: nằm ngửa, hai tay để trên chăn, mặt quay về lỗ nhìn... Ánh sáng rọi suốt đêm. Không thể quay người, không thể tránh nổi luồng ánh sáng rọi vào mi mắt. Về sau, anh học được kinh nghiệm của người bạn tù: để chiếc bít tất lên mắt mà ngủ.
Trò xiếc lại bắt đầu... Người ta đưa Leopold đến gặp viên sĩ quan hỏi cung.
Trong buồng hỏi cung: một bàn con và một chiếc ghế con cho người tù, một bàn cho viên đại úy hỏi cung.
- Để hai tay lên bàn! Viên sĩ quan ra lệnh. Họ tên?
- Trepper Leopold.
- Quốc tịch?
- Do Thái.
- Do Thái mà tên là Leopold à? Đó không phải là tên của người Do Thái.
- Tiếc rằng anh không thể đặt câu hỏi đó cho cha tôi, vì người đã chết mất rồi.
- Công dân nước nào?
- Ba Lan.
- Thành phần gia đình?
- Anh hỏi cái gì thế?
- Bố anh có làm thợ không?
- Không.
Hắn ghi: thành phần gia đình tiểu tư sản... Nghề nghiệp?
- Nhà báo.
- Đảng phái?
- Từ 1925, đảng viên Đảng cộng sản.
Hắn vừa nói vừa viết: Và đương sự khai rằng mình đã tham gia Đảng cộng sản từ năm 1925...
Cuộc hỏi cung kết thúc. Leopold bước ra khỏi phòng họng tắc nghẹn: công dân Ba Lan, Do Thái, “thành phần” tiểu tư sản. Đó là lí lịch qua hai chục năm chiến đấu của mình. Anh muốn khóc nhưng anh cầm nước mắát lại vì khống muốn để họ khoan khoái vì thấy anh khóc.
Đêm nào anh cũng bị lôi đi hỏi cung suốt cho đến 5 giờ rưõi sáng. Qua một tuần lễ không được ngủ, anh tự hỏi liệu mình còn chịu đựng được bao nhiêu lâu nữa... Anh nhớỏ lại kỉ niệm tuyệt thực trong nhà tù của Anh ở Palestine, nhưng thấy không gay go bằng mất ngủ. Anh thấy hỏi cung đây làm cho anh suy kiệt...
- Anh hãy khai ra tội ác anh gây ra cho Liên Xô. Viên sĩ quan hỏi cung hỏi.
- Tôi không gây một tội ác nào cho Liên Xô!
Chán, viên sĩ quan vờ như không để ý đến
Leopold, hắn đọc báo rồi thỉnh thoảng nhắc lại câu hỏi, không thèm nhìn anh. Anh trả lời như cái máy:
- Tôi chẳng gây ra một tội ác…
Câu hỏi thưa dần. Thời gian trôi đi... Anh ngồi im trên chiếc ghế con bảy tiếng một đêm.
Tảng sáng, họ đưa anh trở lại xà lim. Chưa được mấy thời gian, cai ngục đã thét: Đứng dậy. Họ muốn đè bẹp anh.
Ba tuần lễ hành hạ như vậy trôi qua. Đến tuần lễ thứ tư, vào buổi tối, một người nhỏ nhắn, mặt bệnh hoạn, bước vào phòng hỏi cung. Hắn đang trong tình trạng cực kì kích động. Đó là viên đại tá thủ trưởng đơn vị hỏi cung nổi tiếng tàn ác của nhà tù Lubianka. Ông ta thích tự tay tra tấn. Ông hỏi viên đại úy:
- Kết quả khai thác ra sao?
- Chẳng có gì. Nó ngoan cố không khai ra tội lỗi; nó chưa bắt đầu khai...
Viên đại tá quay về phía Leopold và tuôn ra nửa tiếng đồng hồ chửi bới, đe dọa, đào từ ba bốn đời đối tượng lên.
Sau này Leopold mới biết đó là bài bản quen thuộc của viên đại tá hỏi cung. Leopold im lặng, không phản ứng. Thấy đụng phải bức tường, viên đại tá ngừng chửi nhưng đe: thời gian nghỉ mát ở Lubianka chấm dứt. Tao sẽ có cách bắt mày phải khai. Mày phải thú nhận tội lỗi của mày!
Điên cuồng, ông ta mở cửa và thét:
- Tống cổ tên đểu giả này ra khỏi đây!
Các cai ngục vội vã chạy đến, lúc này mới là một giờ sáng. Leopold phải chịu đựng màn xiếc của tên hề để được nhắm mắt vài tiếng đồng hồ.
Những đêm sau anh không bị lôi đi hỏi cung nữa.
 
0
Nhà tù Lefortovo
 
Leopold đã ỏ Lubianka hơn một tháng... Một đêm, cai ngục vào xà lim của anh và ra lệnh quen thuộc:
- Đi theo tôi. Mang hết đồ đạc theo.
Họ đưa Leopold lên chiếc xe tải nhỏ đề chữ “Thịt”, “Bánh mì”, “Cá”. Nửa giờ thì đến nhà tù nổi tiếng khắp Liên Xô mane tên là Lefortovo. Đây là nhà tù quân sự thời Nga hoàng, có chế độ khắc nghiệt cho nên ai vào đây thì cũng thành tật. Sau cách mạng Tháng Mười, nhà tù này bị giải thể, nhưng năm 1937 Stalin cho dùng lại để giam Tukhachevski và các đồng chí trong lãnh đạo Hồng Quân. Cấu trúc trong nhà tù giống như rạp xiếc: nhà ba tầng vây quanh một chiếc sân trong.
Leopold lại bị khám người. Quần áo bị nhúng vào thuốc trừ trùng nên nhũn ra. Anh bị tống vào một xà lim ẩm ướt, có ống dẫn nước từ lavabô đến nhà xí.
Hôm sau, anh bị cạo trọc đầu. Anh phản đối:
- Tôi chưa phải là thành án, không được cạo trọc đầu tôi.
- Mặc kệ, vào đây phải theo lệ ở đây, nếu bướng thì sẽ bị húi hai đường tôngđơ trên đầu.
Cai ngục ở đây ác hơn ở Lubianka. Không để một phút nghỉ ngơi cho người tù. Lúc nào chúng cũng mở lỗ nhìn, bước vào xà lim với đủ lí do: anh đi quá nhiều, ngồi quá lâu, cử động quá ít v.v...Còn thức ăn tệ hơn Lubianka.
Tối tối, từ 10 giờ trở đi nhà tù trở nên nhộn nhịp vì những tiếng mở đóng cửa, tiếng chân người đi khai cung...Vài ngày sau đến lượt Leopold. Viên đại úy đưa ra những câu hỏi kì quặc:
- Anh cho biết: là công dân Ba lan, sao anh vào được Liên xô? ai đã giúp anh vào đây?
Anh nghe những câu trả lời của Leopold với thái độ mỉa mai đểu giả, không thèm ghi chép gì. Kéo dài suốt đêm hỏi cung. Được nghỉ vài đêm, viên đại úy lại lôi anh ra khai thác:
- Anh có biết lũ lãnh đạo cái trường gọi là cộng sản mà anh học trong ba năm ra sao không?
Leopold nêu tên vài đảng viên Bolshevik lão thành như Marchlevski, Budzinski, Frumkina...
- Toàn thể bọn cặn bã đó đã bị lột mặt nạ phản cách mạng , anh có biết không?
- Này anh kia, tôi xin nói thẳng rằng tôi rất tự hào đưọc đứng trong hàng ngũ những tên cặn bã đó.
- Tiếc rằng anh đã rời Liên xô nếu không thì số phận anh đã được định đoạt từ lâu rồi và tôi chẳng phải mất thì giờ với anh như hôm nay. - Viên sĩ quan đáp lại với bộ mặt lạnh như băng giá. - Anh hãy khai ra những tội ác của anh chống Liên Xô...
Suốt đêm hỏi cung, hắn không hề hỏi đến công tác của Leopold trong chiến tranh, cũng chẳng hỏi gì về Dàn Nhạc Đỏ. Anh cảm thấy mình bị giam cầm chỉ vì anh thuộc về “bè lũ” những đảng viên lão thành đã bị loại bỏ thời trước thế chiến...Việc anh còn sống là một hiện tượng bất thường nay những sĩ quan hỏi cung muốn “sửa sai”.
Một đêm, vào lúc bốn giờ sáng, sau khi bị hỏi cung, Leopold trở về xà lim thì cửa xà lim lại mở ra, hai cai ngục khiêng một người nằm bất động trên cáng. Họ ném người đó vào giường còn trống và rút ra im lặng. Leopold lấy một miếng vải ướt lau mặt cho người kia đang rên. Đó là một sĩ quan Xô viết vừa bị tra tấn về. Đến sáng, cai ngục đưa anh ta vào xà lim khác.
Đêm xuống, anh bị đưa lên phòng hỏi cung. Lần này là viên đại tá hỏi:
- Sáng nay anh đã nhìn thấy, anh nghĩ sao?
- Anh định nói về người bị tra tấn mà các anh đưa vào xà lim của tôi chứ gì?
- Phải, tôi cảnh báo cho anh biết rằng chúng tôi cũng có thể đối xử với anh như vậy đó. - Viên đại tá nói.
- Xin đại tá hãy nghe đây này: Tôi long trọng tuyên bố với anh rằng nếu một trong số các anh đụng đến tôi thì từ đó trở đi các anh sẽ không bao giờ nghe thấy tiếng nói của tôi nữa. Nếu các anh áp dụng kiểu đối xử bẩn thỉu như thế, tôi sẽ coi các anh như những kẻ thù của Liên xô, và tôi sẽ phản ứng dù chết cũng làm.
Viên đại tá trùm nhà tù nhìn Leopold một lát, ngạc nhiên với lời tuyên bố kể trên, rồi bắt đầu chửi bới loạn xạ. Cuối cùng hắn đóng sầm cửa và rút lui...
Viên sĩ quan hỏi cung khuyên Leopold nên biết điều, đừng khiêu khích đại tá. Leopold đáp lại:
- Tôi không coi các anh là đại diện của chế độ Xô viết. Tôi hi vọng và muốn các anh đừng sống dù một ngày nữa. Còn đối với những người mà hôm nọ anh nói đến và các anh đã giết chết họ, thì các anh cũng liệu hồn: rồi các anh sẽ chịu số phận như vậy đấy.
- Tại sao anh chửi tôi, viên đại úy phản ứng lại, tôi chỉ thi hành nhiệm vụ mà thôi...
- Nhiệm vụ của anh à? Anh đừng tưởng rằng tôi ngây thơ đến mức không biết gì sau khi Kirov chết nhé? Ở đây là “Cối xay Con quỷ”, nhưng đừng quên rằng trong cái “Cối xay Con quỷ” này, nhiều người như các anh cuối cùng đã kết liễu tính mạng như những nạn nhân mà các anh đã giết chết họ.
Hắn không trả lời. Sự tức giận đã làm cho Leopold dịu bớt tâm hồn. Trước khi ra khỏi phòng cung anh nhắc lại:
- Trong nhiều năm, anh có thể đua cho tôi nhiều câu hỏi: hãy thú nhận những tội lỗi đối với Liên xô: thế thì các anh sẽ chỉ được nghe tôi trả lời trước sau như một rằng: tôi không gây một tội lỗi nào chống Liên xô.
Đó là cuộc gặp cuối cùng giữa hai người.
Nhiều tuần lễ trôi qua, Leopold nằm trơ trọi trong xà lim. Một đêm, lại màn kịch cũ diễn ra:
- Thu xếp đồ đạc và đi theo tôi...
Đi đâu? Leopold rất ngạc nhiên thấy mình lại trở về Lubianka.
Gần hai tuần lễ, anh được yên. Rồi một đêm, anh lại bị hỏi cung. Lần này một đại tá hỏi anh. Trạc bốn mươi tuổi, mặt mày dễ có cảm tình, anh mời Leopold ngồi. Không khí khác thường. Ông cầm bao thuốc lá Kazbek loại sang và mời anh một điếu. Trong chiến tranh Leopold nghiện thuốc nặng nhưng ba tháng qua anh không được hút. Anh nhìn điếu thuốc, rất thèm, nhưng trả lời:
- Không, tôi không hút, xin cảm ơn.
Cầm điếu thuốc có nghĩa là bước vào tròng, bắt đầu đầu hàng. Câu hỏi đâu tiên của viên đại tá làm cho Leopold thấy lạ:
- Anh thấy thế nào? Anh có mệt mỏi vì những cuộc hỏi cung không?
Thế mình đang ở đâu đây? Leopold tự hỏi. Đã mấy tháng nay có ai quan tâm đến sức khỏe của anh đâu. Bọn trùm hỏi cung đã thay đổi chiến thuật.. Đến khoảng hai giờ thì viên sĩ quan ngừng hỏi, và các lần sau cũng như vậy... Hai tháng trời trôi qua, thật là tiến bộ lớn. Viên đại tá không lập biên bản, mà chỉ ghi chép thôi. Thường thường ông ta nói về Paris, Brussels, Rome, Berlin, chứng tỏ ông này đã đi khắp châu Âu và có kinh nghiệm về phản gián. Dần dà ông ta hỏi về công tác trong chiến tranh của Leopold, về quá trình cài cơ sở ở Brussels, việc đưa vợ con sang đó, những kỉ niệm về chiến tranh ở phương Tây... Qua những câu hỏi này, Leopold nhận xét đại tá đó nắm rất chắc vụ Dàn Nhạc Đỏ nhưng không nắm được các chi tiết cho nên chưa giải đáp được thắc mắc rằng một vài nhân vật không chuyên về tình báo tại sao lại thiết lập được một lưới tình báo qui mô lớn như thế. Anh để cho Leopold mấy đêm không hỏi đến. Anh được ngủ yên và chớm nở hi vọng. Anh day dứt về gia đình. Anh biết cảnh các gia đình tù nhân chính trị, nhưng anh không thể tưởng tượng nổi rằng vợ con anh bị đầy sang Siberia... Một đêm, không dằn nổi mình, anh đã nói với viên đại tá rằng anh lo cho số phận của vợ con anh. Đại tá không nói gì, nhưng vài ngày sau ông ta cho Leopold biết ông mới gặp vợ con Leopold và đưa số quà của Leopold mua từ Cairo cho gia đình Leopold và nói rằng ông đã gặp Leopold khi đi công tác ở nước ngoài...
- Vậy gia đình tôi không bị đưa sang Siberia chứ? Leopold hỏi.
- Xin bình tĩnh, vợ con anh vẫn yên ổn.
Tuy không tin hẳn, nhưng anh hơi yên tâm, từ nay anh sẵn sàng chịu cảnh tù đầy. Một đêm tháng sáu, viên đại tá tìm Leopold vào lúc hai giờ sáng, vừa cười vừa hỏi:
- Anh hãy đoán xem tôi vừa ra sân bay đón ai nào? Đón Pannwitz và Kent. Pannwitz đem theo nữ thư kí, điện đài và 15 vali. Trong lúc cuồng nhiệt, nó mang theo danh sách các điệp viên Đức hoạt động trên đất Liên xô và khóa mật mã của Roosevel cùng với Churchill.
Đêm hôm đó, Pannwitz và lũ tay chân ngủ tại Lubianka. Thật là cảnh trớ trêu của Lịch sử: Nhạc trưởng Dàn Nhạc Đỏ cùng với tên trưởng Đội đặc nhiệm Đức ở chung một nhà tù.
Đêm hôm đó, cuộc hỏi cung hướng về Pannwitz và những tội ác của nó. Leopold đã kể cho viên sĩ quan hỏi cung về việc Suzanne Spaak, Fernand Pauriol bị giết như thế nào, những mưu đồ xóa sạch dấu vết tội ác của Pannwitz.
Trong bốn tháng, anh kể về Dàn Nhạc Đỏ một cách tỉ mỉ, về Trò Cao thủ, cuộc gặp Juliette, quan hệ với Berlin, v.v... Sang tháng thứ năm anh không bị hỏi cung nữa. Viên đại tá làm báo cáo rút từ những ghi chép của anh. Một đêm anh gọi Leopold, đưa tài liệu cho anh:
- Đây là biên bản, anh đọc đi và nếu thấy chính xác thì kí tên.
Leopold đọc lần đầu, rồi lần thứ hai; bàng hoàng. Viên đại tá đã lập biên bản trái hẳn lời khai của Leopold...
- Xin đại tá hãy nghe đây, một trong hai chúng ta đã điên... Biên bản này sai từ dòng đầu đến dòng cuối.
- Vậy anh không muốn kí chứ?
- Tất nhiên đời nào tôi lại kí nhận bốn trang biên bản phản sự thật như thế...
Ông ta điềm tĩnh nói:
- Anh không kí chứ?
- Tất nhiên là không.
Viên đại tá cầm lấy biên bản, đặt lên bàn, rồi bàn về những chuyện tào lao... Hài kịch này kéo dài hai tuần lễ... “Anh kí chứ?- Không - Vậy là anh không kí chứ? – Không - Tại sao anh không kí?
Một đêm, trùm nhà tù với bộ mặt vàng khè và luôn luôn máy cơ vào hỏi viên đại tá:
- Này, vụ này kéo dài bao nhiêu thời gian nữa?
Leopold trả lời:
- Cho đến ngày cuối đời tôi.
Lại một tràng chửi rủa... Rồi viên đại tá đe:
- Anh chớ quên rằng anh có gia đình đấy. Còn ngoan cố thì gia đình anh sẽ phải trả giá đắt đấy.
Leopold bị gọi đi vào ban đêm đến một phòng cuối hành lang. Viên đại tá hỏi cung đang ở trong phòng. Anh ta mời Leopold ngồi vào ghế của anh, trên bàn không có biên bản, anh nói:
- Tôi thôi điều tra, tôi chuyển toàn bộ hồ sơ lên cấp trên.
Leopold ngạc nhiên nói:
- Nếu anh đã viết được một biên bản dối trá như thế cũng chẳng thay đổi gì đến tôi. Một điều tra viên khác sẽ thay thế, các anh đều cùng một duộc cả.
- Vậy là anh nghĩ rằng tất cả bọn tôi đều là bọn đầy tớ của ma quỷ cả hay sao?
- Tôi nghĩ như vậy đó. Hình thức thay đổi, nhưng mục tiêu vẫn như thế; từ bộ trưởng cho đến nhân viên dưới cùng của cái “cơ quan” này đều nhằm theo một mục tiêu: diệt cán bộ ưu tú của Đảng.
- Tôi muốn nói thật với anh này... Nếu tôi không tin anh tôi chẳng nói nhé. Nếu anh kể lại với cấp trên của tôi điều mà tôi sẽ nói với anh, tôi sẽ bị nhốt xà lim như anh ngay đêm nay... Điều trước hết tôi muốn nói với anh là anh hãy giữ vững kiên định và ý chí không lay chuyển trong những năm tù đầy sắp tới. Nhất là đừng làm điều gì bậy bạ...
- Làm bậy gì? Anh đoán rằng tôi sẽ tự tử phải không ? Ồ không đâu. Tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Toàn bộ ý chí của tôi chỉ hướng vào một mục tiêu: sống lâu hơn các anh.
Viên đại tá nhìn Leopold và cười buồn bã:
- Tôi mong anh nói như thế. Tôi quyết định không tiếp tục hỏi cung anh vì lương tâm con người và của Đảng viên cộng sản không cho tôi làm như trước. Tôi biết rằng tôi sẽ bị phiền hà rất nghiêm trọng nhưng tôi sẵn sàng gánh chịu. Trước khi chia tay, tôi xin giải thích cho anh điều mà tù nhân như anh không biết. Anh tưởng rằng bi kịch của chúng ta tồn tại tại đây, tại Bộ An ninh này chứ gì? Sai lầm: Chúng tôi chỉ là những kẻ thừa hành chính sách của Stalin và của lãnh đạo đảng...
- Những kẻ thừa hành trung thành...
- Rất đúng, nhưng Bộ An ninh không phải là một tổ chức đứng trên đảng. Nó phải vâng lời đảng. Tất nhiên khi thực hiện kế hoạch của Stalin có thể lãnh đạo Bộ An ninh tỏ ra sốt sắng quá mức và vượt khỏi giói hạn. Stalin đã tuyên bố rằng cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho nên Bộ An ninh phải thủ tiêu ngày càng nhiều kẻ thù để chứng minh quan điểm kể trên của Stalin là đúng...
-Tại sao phần lớn những sĩ quan hỏi cung lại tàn ác đối với các bị cáo mà họ biết là vô tội?
- Đùng nên coi tất cả các nhân viên ở đây đều cùng một giuộc. Bọn trẻ ít kinh nghiệm, chúng làm việc với niềm tin rằng chúng tiêu diệt kẻ thù của đảng, của Stalin và của Liên xô. Những cán bộ khác làm việc không với lòng tin như thế đâu: họ không tin điều họ đang làm. Nhưng nếu họ từ chối, ngày mai họ sẽ bị đưa lên ghế kẻ bị cáo. Khủng bố là động cơ của chế độ. Cuối cùng là những phần tử “kiếm chác” và những “kẻ bạo tàn”.
- Một vấn đề làm tôi thắc mắc... Khi tôi còn ở Paris, nguyên soái Golikov đã đi đến các trại tù binh trong các vùng giải phóng và đã long trọng tuyên bố rằng: Nhân danh đảng và Stalin, mọi người Nga không may rơi vào tay quân Đức đều được nghênh đón tại Tổ quốc. Nhưng khi hàng vạn, hàng chục vạn tù binh Nga trở về nước đều bị bắt giữ và đưa đi đày. Tại sao lại như thế?
- Anh biết đấy, Stalin dự kiến sẽ có chiến tranh với các nước đồng minh hôm qua, cho nên ông chủ trương thanh lọc tất cả những tầng lớp, những giới mà ông cho là nguy hiểm cho an ninh của Liên xô, trước hết là những người đã chiến đấu ở Châu Âu: binh lính, sĩ quan, điệp viên... Stalin còn tuyên bố rằng trong các sắc tộc ở Liên xô, có những “khâu yếu”. Sau chiến thắng, ông nâng cốc chúc mừng nhân dân Nga, nhưng cũng chỉ cho Bộ An ninh những kẻ bị tình nghi: Ucrain, Belorussia, Châu Á, Ouzbek, Do Thái, tóm lại là tất cả các dân tộc thiểu số. Tất cả những điều đó một ngày kia sẽ kết thúc, lãnh đạo đảng sẽ thay đổi, nhưng tôi không muốn tòng phạm với những tội ác đó. Số phận của anh cũng như số phận các cán bộ lão thành trong kíp của Berzin, đã được quyết định trước khi anh bị hỏi cung... Nhưng lương tâm cộng sản không cho phép tôi tiếp tục.
Trong khi đại tá nói, Leopold kéo bao thuốc lá và rút một điếu rồi châm lửa... Đại tá ngạc nhiên:
- Anh hút à?
- Tôi nghiện nặng.
- Thế anh không nhận thuốc suốt năm tháng qua chỉ vì tôi đứng ở tuyến khác. Tôi không tiếc khi nói thẳng thắn với anh: anh đã chứng minh rằng anh sẽ không kết liễu đời mình như những người mất hết lòng tin nên đã chọn cái chết dần chết mòn...
Đã là bảy giờ sáng, mặt trời bắt đầu mọc. Hai người bắt chặt tay nhau khá lâu. Khi Leopold ra cửa, đại tá còn nói thêm:
- Hi vọng rằng chúng ta sẽ gặp nhau ở ngoài cái nhà tù này.
Cuộc nói chuyện giữa một tù nhân và một đại tá an ninh làm cho Leopold đăm chiêu mấy tuần lễ liền... Trong vương quốc dối trá và làm giả này, chân lí vẫn thắng; chiến thắng tạm thời nhưng vẫn là tia sáng rọi vào xà lim tối tăm của Leopold…(1)
Trong thời gian này, Bộ An ninh tìm mọi cách xóa sạch dấu vết Leopold có mặt tại Lubianka. Anh không phải là người duy nhất bị áp dụng chính sách khoảng trống và im lặng. Luba, vợ anh, đã được chính thức báo tin rằng chồng chị đã bị mất tích trong chiến tranh... Người mất tích đang sống sờ sờ cách ngôi nhà mình có bao nhiêu xa. Quy chế người mất tích không rõ ràng, tuy vợ con không được lĩnh trợ cấp, nhưng không đến nỗi phải đầy sang Siberia. Luba mua một túp lều ở ngoại ô Moscow để sống với hai đứa con: nếu có bạn bè nào từ Pháp sang thăm chẳng hạn, đó là biểu hiện rằng vợ con Leopold vẫn được tự do và khỏe mạnh.
Đầu năm 1946, Leopold lại bị đưa về nhà tù Lefortovo và ở lại đây một năm. Một viên thiếu tá phụ trách hỏi cung anh. Biết rằng chủ trương xử lí Leopold đã có rồi, nên viên thiếu tá cũng chẳng cần hỏi cung khai thác gì nhiều. Nhưng hắn áp dụng thủ đoạn khác: hành hạ tối đa Leopold. Trước hết Leopold bị nhốt chung xà lim với một sĩ quan Hồng quân, anh này bị tố cáo là gián điệp Mỹ chỉ vì anh là tù binh Đức trong một trại do quân Mỹ đến giải phóng. Cả gia đình anh ở Belorussia bị phát xít tàn sát cũng không giúp được anh hưởng khoan dung hoặc trắc ẩn.
Rồi xà lim được thêm một tù nhân nữa. Đó là một trong những tên trùm Gestapo ở Belorussia, đã từng giết hại dân lành ở quanh Minsk. Leopold sau khi nghe tên này kể về những kỉ niệm tội ác đã hỏi nó:
- Thế có lúc nào anh thấy hối hận về những tội ác gây ra không?
- Hối hận gì, tôi chỉ thi hành lệnh trên thôi. Tôi chỉ có những cơn ác mộng diễn lại những hình ảnh khủng khiếp mà tôi đã chứng kiến. Các anh đừng ngạc nhiên khi nghe thấy tôi kêu thét lúc đang ngủ nhé.
Sĩ quan xô viết lặng im nghe tên phát xít kể, anh tái mét mặt, thân thể run bắn người, mắt quắc nhìn tên tội phạm. Anh nói khẽ nhiều lần:
- Có lẽ chính thằng này đã tàn sát gia đình tao.
Tên phát xít đi khai cung. Leopold và viên sĩ quan đề nghị nhà tù chuyển tên phát xít đi chỗ khác. Cai ngục khinh bỉ trả lời:
- Các người quên mất chính các người cũng là những tên cặn bã như thằng đó. Không việc gì phải chuyển chỗ tên đó.
Hắn đóng sầm cửa, ra khỏi phòng giam.
Khoảng một giờ sáng, tên mật thám Đức trở về, nằm xuống và ngủ ngay. Leopold và viên sĩ quan chưa ngủ được. Bỗng tên phát xít hét tướng lên. Thật là kinh khủng và không chịu nổi.
Viên sĩ quan vùng dậy, tóm họng và đập đầu tên phát xít vào tường... Tên mật thám tỉnh ngay... bàng hoàng, hai tay ôm lấy đầu và hỏi cái gì đã xảy ra...
- Anh đã báo trước cho chúng tôi rằng đêm đến anh có thể kêu hét, Leopold trả lời, nhưng anh không báo trước rằng anh còn vùng vẫy nữa. Anh vừa mới húc đầu vào tường đấy.
Cảnh tượng vừa qua đã vang âm cả dãy xà lim, lính gác vội chạy tới. Leopold và viên sĩ quan chẳng hé môi, nhưng lính trông thấy cảnh tượng liền hiểu ngay. Họ rút đi không hỏi một câu.
Ngay đêm hôm sau, khi đi khai cung, Leopold bị sỹ quan điều tra hỏi ngay:
- Anh không thấy mình là tù nhân nữa, mà đã leo lên ghế quan tòa rồi.
- Đồng chí ám chỉ gì thế? - Leopold trả lời.
- Thôi, đừng giả vờ nữa anh...Việc nện tên Gestapo là anh hay bạn tù kia?
Leopold nhìn thẳng vào mặt viên hỏi cung:
- Đó là việc của hai chúng tôi. Và tôi xin báo trước cho ông biết rằng nếu còn để tên giết người đó ở chung thì chúng tôi không chịu trách nhiệm việc gì sẽ xảy ra; có thể còn nghiêm trọng hơn thế nữa cơ.
Anh quay về xà lim và không thấy tên Đức còn ở chung nữa.
Thay vào là một sĩ quan Hồng quân bị mảnh đại bác phạt mất một góc trán. Anh ta bị chấn thương sọ não cho nên phải đi vào viện tâm thần mấy tháng.
Sau hôm viên sĩ quan thương binh này vào ở chung, xà lim này được ăn xúp cải bắp: thực ra chỉ lều bều vài lát cải thôi. Anh thương binh thấy thức ăn tồi tệ quá liền càu nhàu:
- A, bọn Do Thái, bọn Do Thái bẩn thỉu, chính chúng mày là nguồn đau khổ của chúng tao.
Leopold tóm lấy vai anh thương binh rồi lắc và nói:
- Này anh bạn ơi, hãy bình tĩnh và im mồm đi, tôi xin báo cho anh biết rằng trước mặt anh là một người Do Thái đây.
Anh thương binh im bặt ngay và xin lỗi rằng anh ốm đau nén không tự giữ được mình...
Rồi đến lượt đại tá Pronin... Leopold nhận ra ngay anh này khi vừa bước vào xà lim mặc dù anh đã thay đổi nhiều về thể chất. Pronin phụ trách tại Trung tâm trong những ngày đầu của Dàn Nhạc Đỏ về mọi vấn đề. Anh già đi nhiều và trên mặt anh còn in nhiều dấu vết đau khổ anh trải qua. Hai người ôm hôn nhau và đều ngạc nhiên thấy cùng bị giam trong một nhà tù.
- Tại sao anh cũng phải vào đây?
- Thế còn anh, anh làm gì ở đây?
Cánh cửa mở tung, viên sĩ quan bước vào, tóm cánh tay Pronin và nói:
- Chúng tôi nhầm, anh không phải ở xà lim này.
Nhầm thật không? Đây chẳng qua chỉ là màn kịch nói với Leopold rằng việc thanh trừng những cán bộ cũ của Cục tình báo vẫn tiếp tục. Thủ đoạn này còn áp dụng với Klausen, nhân viên điện đài của Richard Sorge. Anh này từ Vladivostok đến, sau khi nằm ở bệnh viện lâu. Rất gầy, mặt co dúm và ốm yếu vì bệnh tật, anh khó khăn mới vươn nổi thân hình cao lớn bị bệnh tật làm còng xuống. Tinh thần suy sụp, mất phương hướng, anh chẳng hiểu vì sao sau khi bị Nhật bỏ tù lâu ngày, nay trở về tổ quốc anh lại bị bắt giam. Thực ra với những ai không hiểu lôgich của Bộ An ninh Liên xô thật không thể hiểu nổi. Chính Klausen cho Leopold biết tin Richard Sorge đã bị bọn Nhật bắn chết ngày 7 tháng 11 năm 1944.
Sau này Leopold còn ở chung với một người trạc sáu mươi, xanh xao, rất hình tĩnh và tự tin. Anh là điệp viên ẩn nấp cuối cùng của Liên xô ở Trung quốc, sau khi trở về Liên xô thì bị bắt giam. Anh kể về công tác trước kia của anh một cách dửng dưng, như là chuyện đã qua hẳn rồi, Leopold không hề kể về công tác trước kia của anh vì ngại An ninh cài “con cừu” hoặc máy ghi âm vào xà lim để nghe trao đổi của tù nhân. Sau này anh mới dần được biết vài mẩu tin về Wenzel. Một sĩ quan bị tù từ năm 1945 kể cho Leopold rằng anh có sống chung với một sĩ quan người Đức, mà anh sĩ quan này có cùng bị tù với Wenzel. Qua lời của viên sĩ quan thì Wenzel bị hành hạ ghê gớm sau khi bị bắt, bị suy kiệt nhưng vẫn giữ niềm hi vọng tai qua nạn khỏi.
Ngược lại, Leopold không trông thấy cả Pannwitz lẫn Kent.
(Năm 1955 Pannwitz được tha sau khi Tây Đức can thiệp với Liên xô).



(1) Năm 1955, Leopold gặp lại viên đại tá an ninh này trong một xí nghiệp tắm ở Moscow. Anh cho biết sau vụ từ chối hỏi cung Leopold, anh đã bị chuyển và bị mất hàm đại tá. Hai năm sau anh ra khỏi Bộ An ninh.
 


 
0
Ngôi nhà của những người nửa sống nửa chết
 
Vĩnh biệt Lefortovo...
Lần này xe chở tù rời Moscow đi về phía rừng. Sau nhiều giờ xe đưa Leopold đến một ngôi nhà ở giữa rừng, bề ngoài ngôi nhà này không có vẻ gì là một nhà tù. Leopold có nghe đồn về nhà tù được người tù gọi tên là “biệt thự nghỉ cuối tuần trong rừng” (dacha) còn tên thật thì Leopold không nắm được. Một lính gác lại gần và thì thầm với Leopold: Ở đây muốn nói phải nói thầm.
Thiết kế và quản lí ở đây cố hết sức tránh gây tiếng động. Cửa không nghiến, khóa không kêu, hành lang không phát tiếng động. Anh bị đưa thẳng vào xà lim. Cái xà lim kì lạ: dài ba bước, rộng hai. Giường bật vào tường. Một cánh phản nhỏ và một ghế đẩu là toàn bộ trang trí nội thất. Tường bọc chất cách âm. Trên cao có một lỗ cáo nhỏ thông hơi. Im lặng: Anh nghe im lặng. Tuyệt đối, dày dặn, ép chặt vào người rất khó chịu. Đây là thế giới của im lặng. Đèn chói mắt suốt đêm, Leopold cố lắng xem có tiếng động nào không. Không.
Anh chồm dậy. Ai đó nói vào tai anh. Lính gác lệnh cho anh thức dậy. Hắn đi hai chiếc giày phớt to đùng. Cửa mở không một tiếng động.
Đã sáng rồi. Thời gian trôi đi không làm cho con người quan tâm.
Ngày, tháng, trôi qua trong im lặng của thần chết. Leopold mất cả khái niệm ngày đêm, thời gian trôi qua. Chẳng ai hỏi anh, nói với anh. Bữa ăn đưa qua ghisê không một lời nói. Xà lim trở thành nấm mồ, Leopold thấy mình đang bị chôn sống. Thỉnh thoảng có tiếng hú phát ra tù một xà lim xa xa của một người tù điên loạn. Anh ta hú giọng người chết bởi anh thấy không khí đây là nhà mồ, anh hú để được nghe thấy tiếng người.
Làm thế nào để chịu đựng nổi cảnh này? Suốt ngày chỉ ba bước tiến, ba bước lùi trong xà lim. Phải có một ý chí kinh khủng để sống qua cái hình bóng thần chết này. Sau những nạn không ngủ được tại Lefortovo, nay vào nhà tù này tha hồ mà ngủ, ngủ không còn sợ bị gọi dậy, bị điệu đi hỏi cung. Leopold rồi quen với cách sống cô liêu này bằng những suy nghĩ của anh về những câu tự hỏi mình, những nỗi lo sợ, những lí trí của chính mình. Anh đã đứng được bằng những bạn đồng hành đó. Rồi chẳng ngờ, họ đến dẫn anh vào một căn phòng có một sĩ quan và hai người mặc thường phục: đó là những chuyên gia xác minh tình trạng của con người nửa sống nửa chết.
Viên sĩ quan hỏi:
- Này, anh cảm thấy thế nào?
- Cảm ơn, rất tốt, tôi rất hài lòng...
- Rất hài lòng à? - Viên sĩ quan ngạc nhiên - Thế suốt ngày anh làm những gì, sống một mình, chẳng thấy ai, chẳng đọc gì?
- Sách à? Có, tôi có một cuốn sách.
Ba tên nhìn nhau. Chế độ hình như không có tác dụng...
- Sách à? Nhưng anh làm thế nào viết sách được?
- Tôi viết trong đầu.
- Thế anh có thể cho biết đề tài gì không?
- Được, đề tài là các anh, các anh và những người đồng lõa của các anh. Đó là đề tài cuốn sách của tôi.
- Thế anh có yêu cầu đưa anh sang một nhà tù bình thường không?
- Thế nào cũng được, tôi có thể ở lại đây.
Họ đưa anh về xà lim. Anh sống trong im lặng, thỉnh thoảng có tiếng hú của những người tù điên loạn. Anh cảm thấy thật dễ dàng tù nhân ỏ đây sẽ bị lây bệnh hú như chó sói. Anh cảm thấy chính anh cũng cần phải mở miệng để hú. Anh lại bị lôi đi khai cung với những nhân vật cũ...
Hai tháng ròng rã anh đã sống trong nhà tù kinh khủng này. Hai tháng chúng định làm cho anh sụp xụống. Chúng hi vọng anh sẽ phải quỳ gối lạy xin chúng chuyển sang nhà tù khác. Họ chờ anh đầu hàng. Chúng tưởng thời gian ủng hộ chúng, hy vọng anh sẽ chỉ còn là cái giẻ rách phải liếm giầy của chúng. Không, anh không đầu hàng, anh đập tan lạc quan của chúng, anh sẽ thét vào mặt chúng:
- Nếu chúng bay định làm tao chết gục ỏ đây, tao sẽ đứng vững bất kể thời gian...
Chúng không trả lời, chúng nhìn tên khờ này quấy rối ý đồ của chúng. Trong óc một cán bộ an ninh quan liêu thì một tù nhân trong nhà gây điên này phải trở thành điên. Lôgic của nó là như vậy. Nhưng làm sao đánh gục nổi những người có sức lục và ý chí đấu tranh. Chừng nào anh còn sức lực đó, anh còn đấu tranh...
Vài ngày sau, anh lại bị điệu về Lubianka và anh cảm thấy mình đã trải qua những ngày khó khăn nhất. Thôi hỏi cung. Chỉ có một lần anh được dẫn lên Bộ để “thảo luận một cách hữu nghị”.
Bước vào buồng của tướng Abakumov mới thăng chức Bộ trưởng an ninh. Leopold thấy lí do mời anh thật là trớ trêu...
Vẫn chiếc cravat tuyệt đẹp, Abakumov hỏi Leopold:
- Tại sao anh có vẻ phấn khởi thế?
- Vì tôi thấy kì quặc đối với một người tù khi đọc áp phích mời “thảo luận hữu nghị”! Ông thường quen tiếp tù nhân theo lối khác cơ mà...
- Anh hãy cho tôi biết tại sao trong lưới của anh lại có nhiều người Do Thái như thế?
- Thưa công dân tướng quân, trong lưới của tôi có 13 quốc tịch tham gia; người Do Thái tham gia lưới của tôi không phải có phép đặc biệt và cũng không bị phân biệt đối xử nào đối với họ. Tiêu chuẩn duy nhất của việc lựa chọn là ý chí chiến đấu chống chủ nghĩa quốc xã đến cùng. Người Bỉ, Pháp, Hà Lan, Bắc Âu, Đức, Ucrain, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, cùng nhau chiến đấu và coi nhau như anh em. Tôi tuyệt đối tin tưởng những đồng chí Do Thái tiến hành hai cuộc chiến tranh: chống chủ nghĩa quốc xã đồng thời chống âm mưu tiêu diệt dân tộc của họ. Đối với họ, phản bội không phải là lối thoát, không như loại Efremov hoặc Sukulov chỉ vì mạng sống mà bán rẻ dân tộc mình.
Abakumov tránh đối đáp, nhưng chuyển sang luận điểm trước kia đã nói với Leopold:
- Anh biết đấy, chỉ có hai cách tri ân điệp viên: hoặc gắn huân chương đầy ngực anh ta, hoặc chặt đầu hắn... Nếu anh không làm việc với bè lũ phản cách mạng Tukhachevski- Berzin thì ngày nay anh được hưởng bao nhiêu vinh dự, nhưng anh đã đi theo bè lũ đó cho nên anh đáng hưởng xà lim của nhà tù...Anh có biết hiện nay cơ quan mật vụ của Hoa kỳ và Canada vẫn đang tìm kiếm anh không? Một lưới của ta ỏ Canada bị khám phá. Trên nhiều tờ báo Bắc Mỹ những chuyên gia đã nhận ra phong cách của Sếp Lớn.
Diễu cợt, vô sỉ, rất khoái về điều mình châm chọc, Abakumov nói thêm:
- Anh có biết nếu anh không bị giam thì anh sẽ gặp nguy hiểm như thế nào không? Ở đây anh được yên tĩnh, hoàn toàn an toàn.
Leopold lấy giọng của một viên chức Bộ An ninh để trả lời:
- Thưa bộ trưởng, tôi xin cảm ơn về sự quan tâm đến an toàn của tôi...
- Không dám, không dám... À tôi biết rõ ràng chế độ giành cho anh có thể chưa thật lí tưởng...Chúng tôi không có các điều kiện như vua nước Anh để ưu đãi những điệp viên của nhà vua, phong tước và cấp nhà cửa đẹp cho chúng; còn chúng ta như anh biết thì nghèo, chỉ cấp những cái gì ta có... Cái chúng ta có là... nhà tù. Nhà tù anh thấy cũng không đến nỗi tồi phải không?
Rồi ông ra hiệu rút lui.
Trở về xà lim, Leopold nhận định chắc chắn rằng công tác của anh ở Dàn Nhạc Đỏ không phải là điều tranh cãi. Không, điều họ kết tội anh chính là được tướng Berzin chọn lựa: sĩ quan hỏi cung dũng cảm đã từ chối xử lí hồ sơ anh đã nói ra sự thật: anh đã bị tình nghi từ năm 1938.
 
0
Bài học lịch sử
 
Việc hỏi cung Leopold đã xong, nhung anh biết rõ anh đã bị kết tội trước khi bị điều tra... Ngày 19 tháng sáu nám 1947, Hội đồng ba ngành gồm đại diện Bộ An ninh, Kiểm sát và Tòa án đã tuyên phạt anh một mức án nặng là 15 năm tù. Anh bị kết án cũng như bị tình nghi như bao nhiêu người khác bởi những nhân viên thừa hành của Stalin. Anh chống án và một phó kiểm sát viên gặp anh:
- Bản án này hoàn toàn bất công, Leopold phát biểu, và ông chẳng ngạc nhiên khi thấy tôi chống án.
- Anh biết đấy, ở Liên Xô những tên phản bội và những tên gián điệp đều bị kết án tử hình; đối với anh, lợi ích quốc gia buộc phải cách ly anh...
- Như vậy tôi chắc rằng ông chẳng biết gì về công tác của tôi trong thời gian chiến tranh.
- Nếu vậy thì anh hãy trình bằng văn bản lên Viện trưởng Kiểm sát Tối cao...
Chế độ ngu dân còn để cho tù nhân một cơ may là mỗi tháng được hai lần khiếu bằng giấy lên kiểm sát viên. Bộ An ninh, Ban chấp hành Trung ương, thậm chí cho Stalin những yêu cầu của mình. Leopold sử dụng cơ may này bằng cách viết lại rất chặt chẽ toàn bộ lịch sử Dàn Nhạc Đỏ rồi gửi dần lên Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao Liên Xô. Anh hi vọng rằng với tính quan liêu giấy tờ của chế độ Stalin, những khiếu nại của anh sẽ có tác dụng, dù anh là người tù ở nơi hoang vắng như Siberia hoặc trong ngục tối. Con người sẽ chết, nhưng văn bản còn lưu lại và các tàng thư ngày càng tích lũy nhiều tài liệu.
Ngày mùng 9 tháng giêng năm 1952, hội đồng ba ngành giảm án cho Leopold từ 15 năm xuống 10 năm. Nhận được tin này, Leopold chẳng lấy làm vui gì, vì anh biết rằng sau khi ra tù, nếu chế độ không thay đổi thì anh sẽ bị đưa đến một xó nào đó của vùng Siberia lạnh lẽo. Sau này anh được biết bản báo cáo của anh không vô ích...
Năm 1964, khi Leopold về sống tại Ba Lan, một nhà báo của hãng Novosty gọi điện thoại cho anh:
- Anh chắc còn nhớ tôi, nhà báo nói, tôi cùng làm báo Sự thật với anh vào năm 1935 đây mà... Cùng với hai nhà văn, tôi phụ trách việc viết lịch sử Dàn Nhạc Đỏ, và tôi còn thiếu tài liệu về nhóm Thống nhất do anh lãnh đạo hồi còn ở Palestine...
- Thế phần còn lại thì anh có biết không?
- Có biết và tôi hi vọng sẽ có dịp bàn tới...
Vài tháng trôi qua. Nhà báo đó đã cùng phái đoàn sang dự lễ kỉ niệm lần thứ 22 ngày khu Do Thái khởi nghĩa tại Warsaw. Anh đã kể lại lí do anh biết đến lịch sử Dàn Nhạc Đỏ:
- Năm 1964, tôi gặp phó Viện trưởng Kiểm sát Liên xô để viết một bài về Richard Sorge mà người ta đã nói nhiều vào thời đó... Ông ta nghe tôi trình bày xong, liền đứng dậy, tiến về tủ sắt. Ông ta nói: “Richard Sorge đã được mọi người biết đến, nhưng còn một lưới tình báo khác cũng đem lại thành tích lớn như thế... ”. Ông mở tủ sách rút ra một bó hồ sơ... Ông nói tiếp: “Đây này, đây là những ghi chép, nhưng tôi báo trước cho bạn rằng chỉ được công bố những tài liệu này sau khi được ban chấp hành trung ương cho phép nhé... ”. Tôi hỏi ông ta có biết tên trưởng lưới DNĐ là ai không, ông phó viện trường trả lời “Trepper”...  Thật là ngạc nhiên... Rất quan tâm đến chuyện này, tôi đề nghị ban chấp hành trung ương và ban chấp hành trung ương chỉ định một hội đồng gồm ba nhà văn trong đó có tôi viết lịch sử lưới tình báo này. Không may tác phẩm đó chưa được công bố vì đảng cộng sản Đông Đức cho rằng còn quá sớm để nói đến những điệp viên ở Berlin...
Như vậy những bài viết của Leopold không vô ích. Tàng thư của Liên xô là vĩnh cửu, chỉ chờ ngày tài liệu được công bố...
Chưa đến thời kì được trả tự do cho Leopold. Cuộc đời đi tù của anh bắt đầu... Anh đã sống qua nhiều nhà tù, chỉ có nhà tù Butirki - trại lính ngày xưa dưới thời nữ hoàng Catherine II - là đỡ khổ nhất vì có phòng rộng, thoáng khí và sáng sủa. Khi nhà tù Lubianka chật thì Leopold lại bị chuyển nhà tù. Điều này chứng minh làn sóng trấn áp ngày càng tăng... Stalin thực hiện phương ngôn Nga “Nơi linh thiêng không bao giờ vắng người”... Các cơ quan an ninh thi đua trấn áp. Nhà tù là nơi giam cầm những phần tử ưu tú của đất nước. Những đợt trấn áp liên tiếp dồn vào nhà tù kĩ sư, sĩ quan, giáo sư.
Ngay khi bắt đầu chiến tranh lạnh - năm 1947 - Stalin trấn áp những ai không nồng nhiệt với ông trong tình huống nổ ra thế chiến mới. Sắc tộc thiểu số được liệt vào loại “mắt xích yếu” nên trở thành đối tượng đàn áp mạnh. Một lần nữa quân đội lại bị thanh lọc.
Thực ra Stalin - nhà chiến lược tài ba sau Alexander Đại Đế - đại nguyên soái khó chịu với uy tín của Zhukov, người chiến thắng ở Berlin. Ông coi việc Eisenhower mời Zhukov sang thăm Hoa kì là điều sỉ nhục không thể chịu nổi đối với ông. Zhukov trở thành kẻ cạnh tranh, đối thủ, một nguy cơ của ông. Nguyên soái này sau khi được phong thưởng các danh hiệu cao quý rồi đưa đi làm tư lệnh... quân khu Odessa. Tất cả các sĩ quan dưới quyền ông đều bị đưa vào tù. Năm 1948, người Do Thái thuộc khâu yếu đã bắt đầu bị đàn áp. Sau đến lượt những “Kẻ tái phạm” tức là những kĩ sư, nhà khoa học được rút ra từ các nhà tù để phục vụ cho chiến tranh nay lại quay về tù.
Tuy có những kẻ đích thực có tội, nhưng chỉ là tối thiểu số: Vlasov và bộ tham mưu của quân “giải phóng”, những tên Gestapo đã từng gây tội ác trên đất Liên xô, những phần tử Bạch vệ đã từng chống lại Hồng quân.
Ngoài thiểu số đó, Leopold gặp toàn những người vô tội. Mỗi người vô tội đó có thể viết hàng cuốn sách về những cống hiến của họ cho đảng và cho Liên xô mà nay họ được trả công bằng mười, mười lăm hoặc hai mươi năm tù, ở Lubianka cũng như ỏ Lefortovo hoặc ở Butirki, Leopold đã gặp nhiều nhà trí thức đã sống cuộc sống mẫu mực và cao quý. Như vài vị sau đây... 
 
0
Những cuộc gặp gỡ kì lạ trong nhà tù của Stalin
 
Khi Hồng quân Liên xô bị thất bại trong buổi đầu chiến tranh, Leopold đã gặp một sĩ quan cao cấp bị bắt làm tù binh. Người lính xô viết đã thề rằng không để mình bị bắt sống, mà phải dành viên đạn cuối cùng để tự sát. Nhưng không ai chiến đấu chỉ với lời thề: khi bắt đầu xâm lược Liên Xô, quân Đức đã bao vây nhiều sư đoàn xô viết. Nhiều binh sĩ trốn thoát, nhưng cũng nhiều người bị bắt làm tù binh. Những binh sĩ này bị kết tội là đã không tự sát. Những ai trốn thoát khỏi vòng vây trở về quân đội thì bị liệt vào tội làm gián điệp. Trong cả hai trường hợp đều bị bỏ tù.
Leopold đã sống trong xà lim với ba vị tướng xô viết. Người thứ nhất đã tham gia nội chiến khi còn trẻ; đầu thế chiến anh chỉ huy một sư đoàn Cossacks, đơn vị này bị vây. Sư trưởng bị thương nhưng trốn thoát và ẩn trong một nhà nông dân. Được dân chữa chạy xong anh vượt được vòng vây phát xít trở về quân ngũ. Anh bị hỏi cung ngay: “Tại sao anh trở về? Bọn Đức trao nhiệm vụ do thám gì cho anh?”
Choáng váng, anh bị tống vào Lubianka...
Bạn tù thứ hai cũng là một sư đoàn trưởng đã từng tham gia nội chiến. Quân Đức bao vây và đánh tan sư của anh, anh cùng số binh lính còn sống quay vào rừng tổ chức du kích chiến. Rồi quân Đức lại tiến công, viên tướng bị thua phải cùng hai đồng chí vượt vòng vây trở về với Hồng quân. Anh bị bắt vì bị nghi làm gián điệp. Tội của anh là sao không chết trong những tình huống gay gắt như thế. Anh cũng bị đưa về Lubianka...
Viên tướng thứ ba bị tống vào Lubianka chẳng có lí do gì hết. Tội của anh là đã công tác trong bộ tham mưu của Zhukov trong chiến tranh.
Cả ba vị tướng vẫn giữ vững lí tưởng, vẫn tin vào chủ nghĩa cộng sản và coi nhẹ những lời phỉ báng của số quản giáo độc ác. Họ vẫn giữ chiếc mũ đính sao đỏ, họ giải trí và giải sầu bằng những ván bài domino nặn bằng bánh mì.
Có một hôm, tay quản giáo mới cấp trung sĩ vào xà lim bắt người tù phải chào hắn. Ba vị tướng không thèm đứng chào. Một vị quát: Từ khi nào một vị tướng Hồng quân phải đứng lên chào một hạ sĩ quan?
Viên hạ sĩ quan kia thôi không dám ép nữa.
Trong khi đánh bài, họ thường trao đổi với nhau về tình hình và một trong số vị tướng đó đã nhận định vụ án của ông không phải là một sự cố cá nhân, mà chính là do chủ trương của Stalin.
Có quá nhiều chứng cớ chứng tỏ đây là một chủ trương đàn áp có hệ thống trên qui mô rộng lớn. Ví dụ chuyện hai bác sĩ người Do Thái là hai anh em ruột mà một vị tướng kể cho Leopold nghe. Hai bác sĩ này công tác trong một bệnh viện Belorussia bàn với nhau về tình huống quân Đức tràn vào thì xử trí như thế nào. Một người bác sĩ trưởng quyết định ở lại để bảo vệ các bệnh nhân trong vùng bị địch chiếm đóng. Và thực tế ông đã cứu được nhều mạng người. Bác sĩ kia kiên quyết không lưu lại vùng địch nên cùng các thầy thuốc khác rút vào khu du kích. Sau chiến tranh, vị bác sĩ trưởng bị bắt về tội cộng tác với địch, còn người em cũng bị bắt về tội bỏ bệnh nhân đi trốn...
Năm 1949, hoặc năm 1950, Leopold có bạn tù là một nhà tâm lý bác sĩ có tiếng của Liên Xô, gốc Do Thái ở Vilna. Ông hầu như đồng hóa thành người Nga về ngôn ngữ, phong tục, văn hóa. Chiến tranh ông vào quân đội chỉ huy đơn vị y tế quân đội tham gia giải phóng các nước vùng Baltic. Sau chiến tranh, ông trở thành bác sĩ tâm thần riêng cho con trai Stalin. Vasily, con trai thứ hai của Stalin được phong hàm tướng lúc hai mươi ba tuổi, là một phi công xoàng bợm rượu nổi tiếng cả Liên Xô. Vị bác sĩ tâm thần có tiếng này phải chịu trách nhiệm chữa bệnh nghiện rượu cho vị tướng trẻ đó. Sau khi chữa khỏi bệnh cho cậu công tử, Bộ An ninh thấy bác sĩ biết qúa nhiều chuyện nên quyết định bắt giam ông. Suốt quá trình lấy cung, an ninh chẳng đả động đến chuyện con Stalin, mà chỉ hỏi về tội sôvanh Do Thái. Chứng cứ ư? Khi Hồng quân tiến vào Riga hoang tàn, hàng trăm đứa trẻ lang thang trộm cắp. Vị tướng tư lệnh trong thành phố yêu cầu ông bác sĩ lập ra một trung tâm giáo dưỡng số trẻ lang thang đó. Ông đã tập hợp được số trẻ đa số là người gốc Do Thái. An ninh tóm lấy lý do đó để quật ông bác sĩ về tội sôvanh Do Thái:
- Rõ ràng anh đã ưu ái số trẻ Do Thái hơn số quốc tịch khác.
- Đâu có, sở dĩ trẻ Do Thái đông nhất vì chúng thuộc về loại gia đình khốn khổ nhất.
Các cuộc hỏi cung ngày càng lộ rõ tính bài Do Thái. Khi bổ sung biên bản, viên hỏi cung hỏi bác sĩ:
- Quốc tịch gì?
- Nga.
- Anh không phải Nga, anh chỉ là một tên Do Thái bẩn thỉu. Tại sao anh che dấu quốc tịch Do Thái?
Vị thầy thuốc tâm thần chỉ vì đã chữa bệnh cho con Stalin mà bị mắc nạn. Một người hỏi cung khác đến hỏi anh quốc tịch gì, anh khai:
- Tôi quốc tịch Do Thái.
- Anh không biết xấu hổ khi nhận là quốc tịch Do Thái hay sao? Quốc tịch thật của anh là Nga cơ mà!
- Chính tại nơi đây, trong cái nhà tù này tôi mới biết quốc tịch của tôi là Do Thái. Tôi không xấu hổ khi dân tộc tôi đã sản sinh ra cho nhân loại Jesus, Spinoza và Marx. Nếu các ông không cho người Do Thái hòa nhập vào một nước xã hội chủ nghĩa thì mặc thây các ông. Ngày nào nhân loại xóa bỏ phân biệt dân tộc, quốc gia người Do Thái chúng tôi sẽ là những người đầu tiên chứng minh tư tưởng quốc tế của chúng ta.
Khi trở về xà lim, Leopold thấy thái độ của vị thầy thuốc rất tự hào. Không khác gì khi anh trình người cha tác phẩm khoa học đầu tiên của anh và được người cha khen: “Cha rất sung sướng được thấy con thành đạt. Cha hi vọng tình thế này sẽ diễn ra lâu dài và một ngày kia con không phải tủi hổ vì con là người Do Thái”.
Sức khỏe của thầy thuốc suy giảm, anh không còn sức kháng cự và theo lời kể của nữ bác sĩ nhà tù Lubianka, anh đã chết vì suy tim.
Leopold sung sướng khi đang bị vào tù năm 1948 được làm bạn xà lim với một cựu bác sĩ hải quân vui nhộn trạc năm mươi tuổi, to khỏe, lạc quan, dí dỏm. Anh mang đến xà lim không khí thư giãn hơn nữa là vui nhộn. Đề tài vui nhộn của anh thường chính là cuộc đời của anh.
Trong chiến tranh, do biết tiếng Anh nên được phái về công tác tại Bộ Hải quân ở thủ đô vối chức trách sĩ quan liên lạc với đoàn thày thuốc Hoa Kỳ. Khi chiến thắng, anh bị bắt. Lý do? Gián điệp, bằng chứng? Lá thư của một thày thuốc Mỹ gửi cho anh bắt đầu viết bằng hai chữ: bạn thân mến. Sĩ quan hỏi cung nói:
- Dear Friend, nghĩa là gì? Nghĩa là bạn thân. Chẳng là chứng cứ tội gián điệp hay sao? Tại sao Mỹ không gọi tôi là bạn thân? Không thể được...
Lôgich không thể cãi được! Khi điều phi lý đã được quan trọng hóa thì chỉ hài hước mới lay động được nó. Anh bạn hải quân đã sử dụng hài hước một cách thường xuyên tuy không hy vọng lay động nhưng cũng làm anh hài lòng. Khi được tin Liên Xô công nhận nhà nước Israel và cử sĩ quan sang huấn luyện cho đội quân nước này, anh bạn hải quân lại đùa:
- Đáng lẽ đừng để tôi ở lại nhà tù này, xin cử tôi sang Palestine để phục vụ cho Liên Xô.
Anh đã đề nghị như vậy trong một buổi hỏi cung.
- Phái một con chó phản cách mạng sang Palestine ư? Chúng tôi chỉ cử những sĩ quan ưu tú đã được thử thách sang đó mà thôi.
Trong môi trường tù đầy, những chuyện vặt đó đều trở thành những trò giải khuây duy nhất cho người tù. Nó có tác dụng giúp họ chịu đựng, đứng vững được. Trong cảnh ảm đạm không có ngày về, nụ cười là biểu tượng cho sự sống.
Đến năm 1956, Leopold gặp lại anh hải quân đó, anh vẫn hài hước và chính có hài hước mà anh sống sót.
Trong số bạn tù cũng có những phản diện.
Vào khoảnn năm giờ sáng...  Cánh cửa mở, một quân nhân ăn mặc bảnh bao bị đưa vào xà lim. Leopold chưa phân biệt được đó là người Trung Quốc hay là người Nhật Bản vì trời còn nhập nhoạng. Người đó tự giới thiệu là tướng Tominaga, tham mưu trưởng quân đội Nhật tại Mãn Châu, bị bắt tù binh vào cuối thế chiến. Hắn đã bị đưa làm nhân chứng trong phiên tòa xét xử bọn tội phạm chiến tranh, mở tại Tokyo. Ngay hôm đầu tiên, nhìn thấy bữa cơm, hắn xin gặp giám thị nhà tù:
- Tôi bị đau dạ dày nặng, tôi không thể ăn những thứ này. (Leopold thấy bữa ăn này cũng chẳng đến nỗi, vì các sĩ quan được nhà ăn sĩ quan cung cấp).
Tominaga phàn nàn:
- Tôi không cần những thứ này, tôi không đòi hỏi gì qúa đáng: chỉ vài quả chuối mỗi ngày!
Hắn không hiểu vì sao các bạn tù phá lên cười: ở Moscow sau chiến tranh mà đòi ăn chuối thì khác gì đòi ăn cam trên bắc cực...
Tominaga đành thôi đòi chuối, nhưng được nhà tù cho ăn theo chế độ đặc biệt. Vì nhà tù đề phòng viên tướng Nhật nói lộ những lời cung khai, cho nên mới đưa Tominaga vào chung xà lim với các tù nhân mà họ tưởng là không biết tiếng Nhật cũng như tiếng Anh. Thật là sai lầm vì Leopold cũng như một vị tướng Nhật có biết tiếng của Shakespeare, tuy nói không giỏi. Một hôm, Tominaga nói bằng tiếng Pháp và kể rằng y đã từng làm tùy viên quân sự tại Paris. Từ đó giữa những người bạn tù này không gặp khó khăn gì trong giao tiếp. Leopold hỏi Tominaga:
- Anh có biết gì về Richard Sorge không?
- Tất nhiên tôi biết, vì khi xảy ra vụ đó, tôi đang là thứ trưởng bộ quốc phòng.
- Vậy tại sao Sorge bị kết án tử hình từ cuối năm 1941 mà đến tận 7 tháng 11 năm 1944 mới bị hành hình? Tại sao các ông không đề nghị đánh đổi? Nhật và Liên Xô chưa tuyên chiến với nhau (mãi đến 7 tháng 8 năm 1945 Liên Xô mới tuyên chiến với Nhật).
- Hoàn toàn sai, ba lần chúng tôi đề nghị đại sứ Liên Xô tại Tokyo đánh đổi Sorge với một tù binh Nhật. Cả ba lần chúng tôi đều nhận được cùng một câu trả lời: “Chúng tôi không biết cái anh chàng Richard Sorge là ai”.
Báo chí Nhật đã đăng bao nhiêu tin rằng Sorge có quan hệ với sứ quán Liên xô. Sorge là người đã cảnh báo Liên Xô âm mưu tiến công của Đức, là con người đã báo cho Liên Xô đang túi bụi chiến đấu với Đức ở Moscow rằng Nhật không đánh Liên Xô, tạo điều kiện cho bộ tổng tham mưu Xô viết điều các sư đoàn còn sung sức từ Siberia về cứu Moscow. Thế mà lại nói rằng họ không biết Sorge.
Người ta thích để Richard Sorge bị xử bắn còn hơn phải gánh thêm một nhân chứng về tội lỗi của họ khi chiến tranh kết thúc. Chủ trương đó không phải của sứ quán mà là của Moscow. Sorge chết vì quá thân với Berzin. Từ khi cục trưởng tình báo Hồng quân bị xử tử. Sorge bị coi là gián điệp đôi, hơn nữa là Trotskyite. Hàng tháng điện của anh không được dịch ra, cho đến khi trung tâm nhận ra cái chân giá trị của những tin tức về quân sự của anh. Sau khi anh bị Nhật bắt giam, lãnh đạo cục đã bỏ rơi anh như vứt bỏ một cái bọc công kênh: đó là chủ trương của nhóm lãnh đạo mới của cục tình báo Hồng quân.
Moscow để “tên vô danh” Richard Sorge bị bắn chết ngày 7 tháng 11 năm 1944.
Nhân chứng khác của lịch sử...
Con người đó người nhỏ nhắn, mặt gầy nhưng cương nghị. Anh ta đã kể lại đời anh khiến cho Leopold nhận ra đó là tên phó của tướng Vlasov! Con người có số phận lạ kỳ...
Cách mạng tháng Mười nổ ra khi hắn là sĩ quan trẻ của Nga hoàng. Nặng tư tưởng chống Bolshevik, hắn ôm hận với cuộc cách mạng này bằng quyết tâm trả thù: hắn xung vào Hồng quân. Thời gian trôi đi hắn chờ thời cơ phục thù. Quân Đức xâm lược Liên Xô làm cho hắn phấn chấn hẳn lên. Hắn là tên đầu tiên tham gia đội quân “giải phóng” của Vlasov. Chẳng mấy chốc tên chống cộng cuồng tín này nhận thấy đội quân này chỉ là màn kịch lừa dối nhằm giúp phát xít tuyên truyền. Trở thành chính ủy của Vlasov, hắn cố nhồi nhét vào binh lính tư tưởng quốc xã. Giữa hai con đường: làm tù binh ăn đói hoặc tham gia đội quân giải phóng, nhiều tù binh Nga đã chọn con đường thứ hai. Hắn kể rằng trong những lần đụng độ đầu tiên, phần lớn lính ngụy này đã đào ngũ chạy sang hàng ngũ Hồng quân. Một đơn vị phi công sau bao nhiêu khó khăn mới lập được bỗng kéo nhau bay về phía sân hay Xô viết.
Ngay trong bộ tham mưu của Vlasov, các sĩ quan chọn ăn nhậu hơn là đọc cuốn “Cuộc chiến đấu của tôi” của Hitler. Năm tháng trôi qua, đội quân ngụy này bị Đức chuyển thành đội quân đàn áp nhân dân vùng bị chiếm đóng.
Hắn bị giam cùng xà lim với Leopold suốt thời gian xét xử Vlasov và bộ tham mưu của y. Tối tối, hắn kể lại phiên tòa rất tỉ mỉ với thái độ của người quan sát chứ không phải là bị cáo.
Hắn kể rằng hôm đầu tiên trước tòa Vlasov muốn long trọng tuyên bố với vị trí của một vị anh hùng:
- Dù các ông quyết định thế nào, tôi sẽ đi vào lịch sử!
Tòa im lặng. Bỗng một giọng the thé từ phía các bị cáo vọng ra:
- Đúng, anh sẽ bước vào lịch sử qua cái đũng quần.
Đó là tiếng của viên phó của tướng Vlasov, kẻ đùa dai đến cùng. Sau khi tòa tuyên án treo cổ, tòa hỏi ai có ý kiến gì không. Tên bạn tù của Leopold đứng lên nghiêm trang phát biểu ý kiến:
- Tôi có một đề nghị: Tôi khẩn khoản xin tòa đừng treo cổ tôi bên cạnh Vlasov!
- Tại sao thế? - Chủ tọa phiên tòa hỏi.
- Người Vlasov rất to, còn tôi lại nhỏ xíu. Treo cổ cạnh nhau sẽ khiến cho buổi lễ mất không khí trang nghiêm đi!
Khi cai tù dẫn y sang khu xà lim tử hình, y xiết tay các bạn tù và tuyên bố: Tôi đã và sẽ còn là kẻ thù không đội trời chung với chế độ Xô viết. Tôi chỉ ân hận có một điều: đã đi theo cái đạo quân Vlasov thối nát đó.
Hắn nói điều đó với ý thức đầy đủ.
Tuổi tác không làm cho thân hình cao lớn của tên này còng xuống. Quần áo ngược với dáng đi thanh lịch: chiếc quần ngắn thò cả bắp chân, chiếc varơ quá rộng vắt trên vai...  Hắn bước vào xà lim của Leopold như đi vào phòng khách của giới thượng lưu: hắn đến gần từng người rồi tự giới thiệu tên với cái giọng xun xoe hơi ngả đầu xuống.
Hắn tự giới thiệu với Leopold: Vitali Szulgin...
Anh nhìn hắn sửng sốt: Vitali Szulgin, trùm Trăm Đen (Black Hundred) (1)?
- Chính tôi, tôi cho rằng anh đã đọc cuốn sách xuất bản tại Moscow về chuyện của tôi; nhưng hãy cẩn thận, sách đó còn xa sự thật...  - Szulgin thanh minh.
- Tôi trước hết phải cho anh biết rằng tôi là người Do Thái.
- Trong tù chúng ta chẳng có gì phải giấu diếm nhau, nhưng tôi xin báo để cho anh biết rằng từ nhiều năm tôi không còn bài Do Thái nữa. Năm 1935 tại Paris, tôi đã phát biểu trong một cuộc họp trước tổ chức Tam điểm về vấn đề “Tại sao tôi không còn bài Do Thái nữa”.
Rồi Szulgin lên giường cạnh Leopold và bắt đầu kể lại cuộc đời mình. Vào buổi đầu chiến tranh, bọn quốc xã mời hắn sang Berlin tham gia phong trào chống cộng sản. Nhưng mặc dù chống cộng triệt để, có cảm tình với phát xít, hắn đã từ chối vì hắn nhận xét rằng những tên Đức đó chẳng quan tâm gì đến việc nước Nga đỏ hay trắng, nó quan tâm chủ yếu là chiếm được những vùng lãnh thổ bao la. Suốt thế chiến, hắn mai danh ẩn tích trong một làng nhỏ bên Nam Tư. Sau chiến tranh, hắn quyết định quay về Liên Xô vì chiến thắng đã làm cho tư tưởng đại tộc Nga nổi bùng lên. Lưu luyến đất mẹ, hắn quyết định kết thúc cuộc đời trên đất Nga, dù có phải vào tù.
Hắn đến trình diện sứ quán Liên xô tại Belgrade. Viên sĩ quan trực ban trẻ ngạc nhiên thấy một người tự nguyện vào tù, tra cứu danh sách những người bị truy tìm. Szulgin không có tên trong danh sách:
- Ông có thể đi đi, chúng tôi không biết ông.
Nhưng hắn không thất vọng. Hôm sau hắn lại đến. Một viên đại tá trực ban. Từ lúc Szulgin xưng tên, đại tá đứng dậy, xông thẳng vào Szulgin và thét:
- Chính mày là Szulgin, kẻ đã tổ chức những vụ tàn sát người Do Thái ở nước Nga phải không?
- Thế là có người còn nhận ra tôi - Tên trùm Trăm Đen kêu lên.
Người ta đưa hắn lên máy bay về Moscow. Hắn hằng mơ ước trở thành phi công, nay được mở đầu chuyến đi máy bay trong đời theo lộ trình Belgrade - Lubianka.
Rồi đến việc hỏi cung...
- Cần gì phải mất thì giờ - Hắn tuyên bố với sĩ quan hỏi cung. Ông cứ đưa tôi vào xà lim tôi sẽ viết lịch sử cuộc đời tôi và những tội ác của tôi chống lại Liên Xô...
Hắn viết hàng trăm trang. Mỗi khi hắn đi khai cung, hàng trăm sĩ quan xúm vào nghe hắn khai vì đây là buổi khai cung bổ ích. Szulgin đã tiếp phần mới lạ vào lịch sử nước Nga trước cách mạng tháng Mười. Với cương vị trùm Trăm Đen, hắn đã cùng hai phái viên nữa tham gia phái đoàn các chính đảng đến gặp Nga Hoàng đòi ông vua này thoái vị. Nicholas II đang mải đánh cờ, khi thấy có chuyện đòi ông thoái vị đã vui vẻ kêu lên:
- Thôi, thế là xong!
Szulgin kể thêm:
- Các anh có biết không, đó là vị vua đần độn nhất trong triều đình nước Nga.
Quan điểm chính trị của Szulgin khá kỳ quặc. Hắn thường thuyết người ta nghe luận điểm ưa thích: sự vĩ đại của nước Nga:
- Đất nước chúng ta dưới sự lãnh đạo của Stalin đã trở nên một đế quốc tầm cỡ thế giới. Ông ta đã đạt được mục tiêu mà các thế hệ người Nga hàng mong ước. Chủ nghĩa cộng sản sẽ biến mất như một vật xấu xí, nhưng đế quốc vẫn tồn tại. Tiếc rằng Stalin chưa phải là Nga hoàng, mặc dù ông có đủ các phẩm chất của Nga hoàng. Cộng sản các anh không hiểu gì về tâm hồn Nga. Dân tộc Nga có nhu cầu gần như tôn giáo là được một người cha lãnh đạo để giao phó số phận cho người cha đó. A, tiếc rằng Stalin lại là Bolshevik!
Tôi không muốn được tha, bởi vì ở đâu tôi cũng sẽ bị đón tiếp như các anh đã đón tiếp tôi. Tôi hi vọng sẽ được cấp một xà lim để tôi yên tĩnh viết lịch sử đất nước ta...
Hắn vốn là một tên bài Do Thái cuồng nhiệt, là kẻ đã tổ chức bao nhiêu vụ tàn sát người Do Thái lại được trả lại tự do trước những đảng viên cộng sản. Hắn được cấp một đất ở một làng quê và cho đến ngày nay hắn tiếp tục viết những sách nịnh chế độ Stalin.
 



(1) Đảng Trăm Đen gồm những toán vũ trang chuyên gây ra các vụ tàn sát người Do Thái trước năm 1917.
 


 
0
Được trả tự do
 
Đầu tháng ba năm 1953 chế độ nhà tù Lubianka bỗng trở nên khắc nghiệt hơn. Những lỗ nhìn ở các xà lim bị bịt lại, không cho đi dạo nữa. Lính gác rầu rĩ. Tù nhân tự hỏi: liệu cuộc chiến tranh mới nổ ra chăng?
Một buổi sáng, hàng loạt đại bác nổ. Các sĩ quan trong tù thừa nhận đó là đại bác bắn trong một buổi lễ chính thức. Vậy là lễ mừng hay là lễ tang? Nhìn đầu các cai ngục, tù nhân đoán là lễ tang. Rồi mọi việc lại trở lại bình thường...  Một hôm có một tù nhân mới đến cho biết rằng Stalin mới chết. Các tù nhân phản ứng khác nhau, chẳng ai luyến tiếc Stalin, một số lo chế độ mới sẽ còn cay nghiệt hơn. Nỗi lo lắng này trở nên căng hơn khi tù nhân bị chuyển sang nhà tù Lefortovo. Sang tháng năm, Leopold bị gọi lên gặp giám thị:
- Anh có thể viết đơn xin Hội đồng ba bộ xét lại án cho anh.
Leopold vội viết đơn ngay trong phòng của giám thị gửi ban bí thư, gửi đích danh Beria là người phụ trách về an ninh. Hai tháng trôi qua. Leopold gửi thư lên giám thị để hỏi vì sao anh không được trả lời. Giám thị lại gọi anh lên và hỏi:
- Tại sao anh lại viết thư gửi đích danh Beria?
- Thế đó chẳng là tập quán hay sao? - Leopold ngỡ ngàng hỏi.
- Viết cho bộ trưởng an ninh hoặc gửi ban bí thư trung ương.
Leopold quay về xà lim và được tin Beria đã bị cách chức, không còn lãnh đạo bộ an ninh quốc gia nữa. Đến tháng tám, tù nhân lại được quay về Lubianka. Anh vào phòng Abakumov trước kia nhưng ngạc nhiên không thấy vị tướng đó, mà có người khác đến thay. Đó là một vị tướng già, đầu hói, râu rậm. Tướng quân thấy Leopold vào liền đứng dậy chào anh rất thịnh tình:
- Xin mời Lev Zacharevich ngồi xuống.
Leopold ngạc nhiên vì bao nhiêu năm qua có ai gọi tên và họ anh theo lối Nga như thế đâu.
- Anh đã xem báo những năm vừa qua chưa? - Vị tướng hỏi.
- Đọc báo? Không, làm gì được đọc.
- Trước hết tôi xin tự giới thiệu: Cách đây vài tuần tôi là Thứ trưởng Bộ An ninh; trước kia tôi là người cộng tác thân cận của Dzerzhinski nhưng tôi đã từ bỏ công tác đó vì không hợp với tôi. Tôi mang ít báo cho anh đọc và anh cho nhận xét với cương vị không phải tù nhân...
Viên tướng gọi nước chè và bánh kẹp thịt, rồi cho anh xem số báo đề ngày 16 tháng 1 năm 1953. Ở trên trang có một tiêu đề: “Những tên gián điệp và sát nhân khốn nạn nấp dưới mặt nạ giáo sư y khoa”. Và ở trang cuối có thông báo của hãng TASS tóm tắt vụ án áo trắng: “Mới đây, co quan an ninh quốc gia đã khám phá một toán gián điệp y khoa có mục đích giết các lãnh đạo Liên Xô bằng chất độc. Kèm theo tên chín người trong có sáu giáo sư Do Thái có tiếng của Liên Xô”. Phần lớn số khủng bố này quan hệ với tổ chức quốc tế Do Thái theo chủ nghĩa dân tộc tư sản”.
Viên tướng theo dõi phản ứng của Leopold sau khi anh này xem xong báo:
- Theo ý kiến thành thật của anh về vụ án này là thế nào?
- Lố bịch, nếu định thủ tiêu các nhà lãnh đạo, thì dùng nhũng chuyên gia, việc gì phải dùng đến thày thuốc...
- Đúng thế! Trong vụ này chúng tôi đã phát hiện ra sự thật, nhưng tiếc rằng chậm quá...
Ông đưa cho Leopold tờ Sự Thật ra ngày 4 tháng 4 năm 1953. Ở trang hai có thông báo của Bộ Nội vụ như sau: Đã chứng minh được lời khai của các bị cáo rằng những lời buộc tội họ đều do các nhân viên điều tra Bộ An ninh Quốc gia cũ dùng những phương pháp điều tra không thể chấp nhận được và bị luật pháp xô viết cấm dùng.
Vị tướng lấy lại tờ báo:
- Theo ý kiến thành thật của anh về vụ án này là thế nào?
Vị tướng đưa ra tờ báo cuối cùng là tờ Sự Thật ra tháng bảy năm 1953 báo tin đã khai trừ Beria ra khỏi ban chấp hành trung ương, ra khỏi ĐCS, cách hoàn toàn chức vụ của “tên kẻ thù của nhân dân” ra khỏi Bộ An ninh. Viên tướng nói:
- Anh là người đầu tiên trong bản danh sách tù nhân mà bộ quyết định điều tra lại bởi vì chúng tôi biết rằng anh vô tội.
Khi Leopold quay lại xà lim và kể lại việc vừa qua không khí xà lim sôi động hẳn lên. Ai cũng hi vọng vài hôm sau một bạn tù của anh là tướng được gọi lên phòng hỏi cung và ở đây anh được báo tin rằng hồ sơ của anh đang được xét lại.
Trong thời gian đó, việc thanh trừng xảy ra mạnh mẽ. Tân Bộ Trưởng An ninh, Serov, thân cận của Khrushchev, chỉ đạo thanh trừng. Sau khi Beria bị loại vào ngày 26 tháng 6, đến lượt Abakumov cravát lòe loẹt, bị bắt, cũng như Rumin, nhà “sáng chế” ra vụ án Áo trắng.
Vào tháng chạp năm 1953, một sĩ quan mới nghiên cứu hồ sơ của Leopold: không hỏi cung ban đêm nữa, mà vào ban ngày. Ngôn từ cũng thay đổi hẳn: viên sĩ quan nắm chắc vụ Dàn Nhạc Đỏ không dùng cụm từ “những điệp viên của lưới” mà dùng cụm từ “những anh hùng chiến đấu chống chủ nghĩa quốc xã”..
Sang đến tháng giêng 1954 thì xong biên bản mới. Viên sĩ quan điều tra báo cho Leopold biết rằng hồ sơ của anh sẽ được chuyển lên Tòa án quân sự tối cao và anh sẽ được trả lại tự do.
Đến tháng hai, Leopold được chuyển vào bệnh viện nhà tù Butirki cùng số bạn tù được xét lại vụ án. Trong nhiêu tuần lễ, các thày thuốc ra sức phục hồi sức khỏe cho số tù nhân đã bị đầy đọa trong bao nhiều năm trường. Khi số này trở về nhà tù, các xà lim biến thành như khách sạn: thức ăn dồi dào, sách, báo, cai tù nhã nhặn tận tụy phục vụ như các phục vụ viên khách sạn...  Thời gian cũng thay đổi!
Ngày 23-3, Leopold được gọi lên Bộ An ninh, được một viên tướng chúc mừng sinh nhật lần thứ 50 của anh và ngày thành lập Hồng quân. Ba tháng sau, vào ngày 23 tháng 5 năm 1954, anh lại được Bộ triệu tập. Anh được đón tiếp long trọng, một sĩ quan đọc quyết định của Tòa án quân sự tối cao: Anh được hoàn toàn phục hồi, mọi tội danh trước kia buộc cho anh đều bị tuyên bố là không có căn cứ.
Từ từ, óc Leopold ghi những lời đó và diễn dịch ra: Anh sẽ ra tù, lấy lại tự do, tìm lại gia đình. Bỗng họng anh ngẹn ngào; anh lẩm bẩm: Thế còn gia đình tôi ra sao?
- Anh đừng lo ngại. Một sĩ quan sẽ đưa anh về nhà. Ngày mai lãnh đạo cục sẽ tiếp anh để giải quyết mọi vấn đề vật chất để tri ân những công lao anh đã đóng góp cho Liên xô nhằm đảm bảo cho anh sống với gia đình một cách xứng đáng...
Họ đưa cho anh quyết định trả tự do. Leopold kí nhận, nhìn viên tướng già và hỏi ông:
- Tôi còn phải kí gì nữa không?
Anh biết rằng thông thường một tù nhân được tha còn phải kí bản cam kết phải im miệng về tất cả những gì xảy ra trong thời gian bị giam cầm...
Viên tướng đỏ mặt...
- Không, tuyệt đối không! Anh có quyền và thậm chí có nhiệm vụ phải kể tất cả biến cố anh đã trải qua trong những năm bị thẩm vấn... Chúng tôi không còn sợ chân lí nữa. Chúng ta cần có chân lí nó cần cho chúng ta như dưỡng khí vậy...
Than ôi, cái phong trào “trăm hoa” đó chẳng tồn tại được bao lâu thì tù nhân được tha lại buộc phải giữ im lặng. Nhưng Leopold sung sướng vì được nghe thấy những lời nói đó, những lời nói chỉ đạo cách xử thế trong suốt cuộc đời của anh. Nó đến rất muộn màng. Những trường thoại đẹp đẽ về toàn bộ chân lí, nhưng một khi người ta xây dựng vương quốc trên dối trá và làm giả, người ta chẳng dễ gì phát hiện ra con đường chân lí.
Thế là xong. Leopold được một đại tá dẫn ra khỏi nhà tù Lubianka sau khi vào đây chín năm bẩy tháng.
Tiếp xúc đầu tiên của anh với toàn bộ ánh sáng thật lạ kì. Anh như người say rượu, bước chân khó khăn, tầm nhìn như bị mờ đi và anh khó phát hiện không gian bao la không có chấn song giới hạn.
Hai người lên xe và xe lăn bánh ngay. Một ý nghĩ ám ảnh anh: Sẽ gặp vợ con trong vị thế nào? Các con anh có nhận anh không. Và Luba? Họ có được báo trước việc anh được tha không? Xe đến làng Babuchkin nhỏ bé, cách Moscow mười hai kilôrnet. Hai người dừng xe trước căn nhà số 22 phố Naprudnaia...  Viên đại tá nói gọn thon lọn:
- Đây rồi.
Leopold bước xuống và xe chạy đi. Anh đứng im một lúc lấy hơi thở vì qúa xúc động và cũng để ngắm bộ quần áo lố lăng của mình: Chiếc ba lô lủng lẳng trên tay, chiếc quần và áo thun mà bạn tù cho, anh trông như một gã lang thang...  Bộ quần áo của anh lúc bị bắt đã rách nát và bỏ đi rồi, bây giờ chỉ sót lại chiếc áo bađơxuy cũ kỹ đã từng phục vụ anh trong những đêm đông lạnh buốt. Anh hỏi chủ nhà 22 gia đình Trepper sống ở đâu...
Người đàn ông nhìn anh từ đầu đến chân rồi với giọng nửa tò mò nửa thù địch trả lời cụt lủn:
- Đằng sau nhà này, trong túp lều kia kìa...
Túp lều: Người ta không thể tìm cho gia đình anh chỗ nào hơn một túp lều à? Anh đi một vòng sau ngôi nhà mới thấy một túp lều thật bằng gỗ, rất nghèo nàn... Anh lại gần và gõ cửa. Một thanh niên mở cửa: Đó là Edgar, con anh...  Nó không nhận ra anh, nó nhìn anh với vẻ nghi ngờ. Anh hiểu rằng chuyến trở về này chẳng thuận lợi. Anh được tự do, nhưng chưa hề tưởng tượng ra rằng giành lại được tự do sao mà khó thế. Anh giữ bình tĩnh nói với con:
- Tôi là bạn của cha cháu, tôi đưa tin tức về cha cháu...
Nó nhìn anh chằm chằm và lắc đầu:
- Ông nhầm rồi, chúng cháu không còn cha, người đã chết trong chiến tranh rồi...
Anh thấy đôi chân muốn khuỵu xuống, phải ra sức bình sinh mới đứng thẳng được:
- Thế anh cả cháu đâu, cậu ấy không có nhà à?
- Không, anh ấy ở Moscow, tối nay mới về nhà.
- Thế mẹ cháu đâu?
- Mẹ cháu đang ở tỉnh khác...
Anh cảm thấy mệt nhoài, rất mệt: Con anh đã đón anh như một người lạ đến quấy rầy nó.
- Chú rất mệt, cháu có thể cho chú nằm nghỉ ở buồng bên cạnh được không?
- Nếu chú muốn, xin chú nằm trên giường...
Edgar mang đến một chén cà phê rồi biến mất.
Anh chìm trong tuyệt vọng bao la, không có giới hạn. Là người tùng trải qua tất cả những thử thách mà vẫn giữ vững được niềm hi vọng, nay anh quỵ ngã. Xúc động làm anh sụp xuống và nước mắt chạy quanh mắt anh. Anh thấy mình là người lạ trước vợ con mình: Ý nghĩ đó xé nát tim anh, ngực anh bị đau đớn khôn cùng. Hàng giờ anh đã khóc như con trẻ. Đôi lúc anh đã giữ bình tĩnh, cố phân tích, cố bấu víu vào một niềm hi vọng, nhưng vô ích. Anh chẳng còn gì, anh đã mất hết. Anh nằm vật ra như thế. Bỗng cửa mở. Họ thì thầm ở buồng bên. Anh nhổm dậy và hé cửa: Michel, đứa con trai cả của anh vừa trở về. Anh tự giới thiệu và cố sức thì thầm:
- Chào cháu, thế cháu có nhận ra chú không?
Nó quan sát anh khá lâu, suy nghĩ và trả lời:
- Xin lỗi ông, không, cháu không nhớ rằng đã gặp chú...
Nó cũng thế...
Anh nài nỉ:
- Vậy cháu thử nhớ lại khi còn niên thiếu...
- À thực ra, cháu cảm thấy hình như đã gặp chú ở đâu đó...
Sau này Michel kể rằng người đàn ông anh đã gặp hôm đó giông giống người cha nó, nhưng cái ông già tóc hoa râm và giáng vẻ ôm ốm chỉ hơi giống hình ảnh người cha của nó. Ngoài ra phải biết rằng nó đã được thông báo chính thức rằng cha nó đã bị phát xít giết chết rồi cơ mà.
Anh cố giữ bình tĩnh để nói với Michel:
- Chú là bố của con đây...  Bố đã trở về Liên xô đã mười năm và cũng trong mười năm đó bố đã bị tù...  Họ mới trả lại tự do cho bố và đưa bố về với các con...  Con cần hỏi bố gì không?
- Một câu hỏi thôi - Michel trả lời - Tại làm sao người ta bỏ tù bố? Ở nước ta, người vô tội không thể nào bị bỏ tù mười năm.
Leopold ngồi phịch xuống ghế. Hình như anh rất xanh. Anh rút một tờ giấy từ trong túi ra đưa cho con: Đó là tuyên bố của Tòa án tối cao Liên xô khẳng định những tội danh tố cáo anh đều không có căn cứ và anh đã được phục hồi.
Michel đọc và im lặng. Sắc mặt của nó có thay đổi...
- Bây giờ, Leopold bảo con, ta giả định rằng chúng ta có thể ôm hôn nhau chứ...
Nó tiến lại gần. Anh ôm lấy con và...
Anh cảm thấy một niềm vui rất dịu dàng và rất mạnh mẽ; anh vội hỏi:
- Mẹ đâu?
- Mẹ đi Georgia đã hai hôm rồi. Mẹ là thợ ảnh rong. Mẹ đến đó đều đều ba tuần mới trở về để mang tiền nuôi gia đình. Con sẽ đánh điện báo tin cho mẹ...
Khi nhận được điện có nội dung: “Bố đã trở về, xin mẹ về nhà ngay” Luba cứ tưởng là một việc làm khiêu khích của cơ quan an ninh. Tuy thế chị cũng không thể gạt phắt khả năng này cho nên chị vay tiền để trở về nhà. Xe lửa chật khách, chị phải trình bức điện mới được thu xếp chỗ ngồi trong buồng dành cho công nhân đường sắt.
Cuối cùng Luba trở về... Sau mười lăm năm xa cách, thoạt nhìn thấy nhau đã giá trị hơn ngàn diễn văn...  Khóc vì vui và chen lẫn nỗi buồn...  Không có sự phục hồi nào xóa nổi những năm tháng mất mát và điều khẳng định nào còn khuấy lại nỗi ưu tư.
Hạnh phúc đối với anh hình như còn mong manh...  Anh sống những thời gian này như trong mơ vì còn khả năng bị thực tế tàn phá một cách thô bạo.
Rồi cả khu phố loan tin “Chồng bà Luba đã trở về”. Hàng xóm, người tò mò và tất nhiên cả những chỉ điểm viên kéo đến. Bao nhiêu bàn tay giơ ra với Leopold, anh phải bắt tay, phải kể chuyện và giải thích...
Vài hôm sau, một chiếc xe lộng lẫy đỗ trước nhà gỗ của anh. Một đại tá đến truyền đạt lời mời của Cục trưởng cục tình báo Hồng quân mời anh đến cục. Anh lại vào căn phòng năm 1937 tướng Berzin gặp anh. Một vị tướng khá già bước ra xiết tay anh một cách dạt dào tình cảm...
- Vậy mà - Ông nói - Vậy mà!
Ngạc nhiên về cách mào đầu này, Leopold gay gắt đặt câu hỏi:
- Tại sao trong nhiều năm Cục trưởng không bênh vực tôi?
- Nhưng ai có thể bênh vực anh - Viên tướng cười - Chúng tôi cùng ở một nơi với anh. Chỉ sau khi Stalin chết, chúng tôi mới có thể loại trừ bè lũ chịu trách nhiệm bắt giữ những điệp viên khi họ trở về Liên xô. Anh hãy coi những năm ngồi tù như thời gian chiến đấu chống quân thù. Hãy quên quá khứ đi. Vào tuổi năm mươi anh vẫn còn trẻ. Chúng tôi sẽ hết sức khôi phục sức khỏe cho anh và chuyển anh về sống tại trung tâm thủ đô. Chúng tôi đã đề nghị chính phủ trả lương hưu cho anh. Và bây giờ anh dự định làm gì?
- Tôi xin như năm 1945: Trở về Ba Lan đất nước của tôi. Công tác tình báo của tôi đã kết thúc ngày giải phóng Paris. Sau đó tùy thuộc vào ý chí của tôi.
Lưỡng lự một chút, vị tướng nói:
- Nhưng các con anh đều được giáo dục tại Liên xô. Ở lại Liên xô hợp lý hơn, nơi đây anh được hưởng tất cả các quyền lợi xứng đáng với con người như anh. Anh dễ kiếm việc làm...
- Không, tôi vẫn là công dân Balan. Trong chiến tranh, ở nước tôi ba triệu người Do thái đã bị thủ tiêu. Vị trí của tôi là sống trong cái cộng đồng bé nhỏ đã sống sót sau lễ thiêu sinh...
Ông chúc anh may mắn và từ biệt. Đó là lần quan hệ cuối cùng của anh với cơ quan tình báo. Từ ngày hôm đó, anh quay lại những kỉ niệm thời kì hoạt động tình báo xô viết. Đối với anh, những kỉ niệm đó lạ thay như là của thời kì tiền sử vậy.
Cục trưởng giữ lời hứa. Anh được vào viện dưỡng bệnh trong nhiều tuần lễ; vài tháng sau, anh được phân một căn hộ và đến năm 1955, anh được nhận lương hưu vì có công đối với Liên Xô. Trên sổ hưu trí của anh, những năm ngồi tù được tính là những năm công tác trong cơ quan tình báo.
Một nhiệm vụ rất đặc biệt!
 
 
Hết
 
0
Dàn Nhạc Đỏ_ Leopold Trepper
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn hoi_is   đã góp sức cho thư viện     
 
           
📎 thank-you




0
«« « 1 2 » »»