Diễn Đàn » Phòng Lưu Trữ

Thăm khám vô sinh qua xét nghiệm tinh trùng

2 trả lời, 612 lượt xem — Trang 1 / 1
Thăm khám vô sinh qua xét nghiệm tinh trùng

Trong môi trường xã hội hiện nay, thường khi mỗi cặp vợ chồng lâu có con, mọi người hay đổ lỗi do người vợ, nhưng trên thực tế thì không phải vậy, tỉ lệ gây vô sinh hiếm muộn ở cả nam và nữ là ngang nhau, vì vậy, không nên chỉ xét ở một khía cạnh, rối muốn người phụ nữ phải điều trị thế này thế kia, thậm chí mua các loại thuốc chữa vô sinh lang băm về cho uống... như thế không những ảnh hưởng tới sức khỏe mà còn làm ảnh hưởng cả tình cảm hạnh phúc gia đình nữa. Khi 2 vợ chồng khó có con, cách tốt nhất hãy cùng nhau tới bệnh viện, cùng làm các xét nghiệm để tìm ra nguyên nhân thực sự. Dưới đây là các xét nghiệm vô sinh ở nam giới qua kiểm tra chất lượng tinh dịch:
Số lượng hồng cầu:
Hồng cầu không được phép có mặt trong mẫu tinh dịch. Khi xuất hiện hồng cầu có nghĩa rằng hang rào máu tinh hoàn đã bị tổn thương.

Có hay không tình trạng ngưng kết tinh trùng:
Nếu nhìn thấy những cụm tinh trùng dính vào nhau (đầu - đầu, đầu - đuôi) thì rất có thể có kháng thể kháng tinh trùng (antispersm- antibody). Tinh trùng ngưng kết có thể chứng tỏ có kháng thể kháng tinh trùng. Kháng thể kháng tinh trùng có thể xuất hiện ở những phần khác nhau trên cơ thể tinh trùng (đầu dính đầu, đuôi dính đuôi). Ngưng kết làm tinh trùng khó hoặc không vượt qua được ống cổ tử cung. Đo lường kháng thể kháng tinh trùng trên cơ thể của tinh trùng có giá trị chẩn đoán và tiên đoán bệnh vô sinh nam hơn là các giá trị đo bằng huyết thanh.

Phân tích tinh dịch đồ có hỗ trợ của máy tính tạo nên chất lượng cao hơn cho tất cả các chỉ số nhưng chi phí đắt tiền nên hay được sử dụng trong nghiên cứu hơn.

Đánh giá xét nghiệm tinh dịch đồ: chia làm nhiều mức độ.
1. Tất cả các chỉ số bình thường
2. Không có tinh trùng trong tinh dịch
3. Nhiều chỉ số bất thường: mật độ thấp (oligospermia), hình thái bất thường cao (teratospermia) vận động yếu (asthenospermia) và tinh trùng chết (necrospermia). Các yếu tố này có thể gây nênbệnh hiếm muộn vô sinh ở nam giới.

4. Hoặc có một chỉ số bất thường như: thể tích ít, mật độ thấp, di động kém, hình thái bất thường cao.
Các xét nghiệm chuyên sâu khác đánh giá khả năng thụ thai:

Các xét nghiệm để tìm hiểu thêm về tinh trùng có thể phải tiến hành. Các chỉ báo về số lượng tinh dịch, số lượng tinh trùng, hình thể và độ di động chỉ là những chỉ báo thô không chứng tỏ đầy đủ được khả năng đi tới vòi tử cung, tiếp xúc với noãn và các phản ứng acrosome, hòa nhập trong bào tương của noãn và hòa nhập nhân với nhau. Do vậy các xét nghiệm chức năng cần thiết phải làm thêm là:

- Tìm tinh trùng trong ống cổ tử cung (xét nghiệm sau giao hợp). Soi tươi trên kính hiển vi mẫu dịch lấy ở dịch cổ tử cung sau giao hợp 30 phút, trên tiêu bản này sẽ đánh giá có tinh trùng hay không, tinh trùng sống hay chết, có bị ngưng kết hay bất thường gì không?

- Nhuộm màng acrosome: Để phân biệt tinh trùng có phản ứng acrosome (dưới kính hiển vi điện tử). Pentoxylin có tác dụng tốt nâng cao phản ứng acrosome trong ống nghiệm.

- Thử nghiệm tính thâm nhập vào noãn của tinh trùng và khả năng cắt cụt đầu tinh trùng khi đã vào bào tương của noãn.

- Thử nghiệm nửa màng (hemizona assay) dùng zona pellucid của người, chia làm 2 trên kính hiển vi và thử với tinh trùng của bệnh nhân vô sinh và của người không bị vô sinh nam.

Hiện nhiều trung tâm điều trị vô sinh của ta mới chỉ thực hiện được một số xét nghiệm tinh dịch đồ bằng kính hiển vi thường và miễn dịch tinh trùng, chưa phát triển tốt các kỹ thuật khác.


Khi phát hiện tinh dịch của người chồng yếu hoặc không có tinh trùng, các bác sĩ chuyện khoa sẽ tìm hiểu nguyên nhân và áp dụng các phương pháp cũng như sử dụng các loại thuốc chữa vô sinhphù hợp, nhằm đem lại hi vọng làm cha làm mẹ cho các cặp vợ chồng. Chúc bạn thành công.
Chia sẻ cách chữa yếu sinh lý nam, xuất tinh sớm, liệt dương và các bài tập chữa thoát vị đĩa đệm 
Đăng nhập để trả lời
0
Những loại bệnh sỏi thận thường gặp

Người bệnh nên trang bị cho mình kiến thức về các loại sỏi và cách phòng ngừa chúng để giảm thấp nhất nguy cơ mắc bệnh.
Sỏi thận là một căn bệnh thường gặp. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp chữa bệnh sỏi thận và việc lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc nhiều vào bản chất của từng loại sỏi. Điều quan trọng là cá nhân mỗi người hoặc có người thân trong gia đình chẳng may mắc bệnh nên trang bị cho mình kiến thức về phân loại sỏi và cách để phòng ngừa chúng, từ đó giảm nguy cơ mắc bệnh. Đồng thời có cách điều trị đúng đắn và phú hợp, tránh để bệnh tạo biến chứng qua các bệnh thận khác thì việc điều trị sẽ khó khăn và nguy hiểm hơn như chữa bệnh viêm cầu thận, suy thận...
Sỏi canxi
Sỏi canxi là loại sỏi thường gặp nhất trong các loại sỏi, chiếm khoảng 80% các trường hợp. Bình thường, sỏi canxi cứng, có nhiều hình dạng, kích thước, mật độ khác nhau. Nguyên nhân chính là tình trạng nước tiểu quá bão hòa về muối canxi do tăng hấp thu canxi ở ruột hoặc tăng tái hấp thu canxi ở ống thận. Xét nghiệm nước tiểu sẽ thấy canxi niệu tăng cao. Bình thường thận đào thải khoảng 300 mg canxi qua nước tiểu trong một ngày, trong trường hợp nước tiểu bị quá bão hòa về muối canxi, lượng canxi đào thải qua nước tiểu có thể tăng lên 800 - 1.000mg trong 24h với chế độ ăn bình thường.
Nguyên nhân thứ 2 là giảm citrat niệu. Citrat niệu có tác dụng ức chế kết tinh các muối canxi. Khi có toan máu, nhiễm khuẩn tiết niệu, hạ kmáu thì thường citrat niệu giảm. Khi thiếu citrat nước tiểu sẽ bão hòa muối canxi tạo điều kiện kết tinh sỏi.
Nguyên nhân thứ ba là nước tiểu quá bão hòa về oxalat. Thức ăn chứa nhiều oxalat hoặc trong trường hợp ngộ độc vitamin C sẽ dẫn đến tình trạng này hoặc ở người bị viêm ruột, cắt một phần ruột non, người có rối loạn chuyển hoá. Những loại rau có hàm lượng oxalat cao bao gồm: cần tây, tỏi tây, củ cải, rau cải, khoai lang, đậu xanh, đậu tương, bí, ớt, cà tím, măng tây, đào lộn hột, rau diếp, nho, mận và trà...
sỏi canxi là loại sỏi thường gặp nhất, có nhiều phương pháp và thuốc chữa bệnh sỏi thận canxi này, nhưng không phải vì thế mà chủ quan, khi phát hiện bệnh, cần áp dụng các biện pháp điều trị ngay để tiêu sỏi khi đang còn nhỏ.

Sỏi struvite hay sỏi nhiễm trùng
Sỏi struvite chiếm khoảng 10% các loại sỏi thận. Sỏi struvit là do nhiễm khuẩn lâu dài đường tiết niệu, vi khuẩn giải phóng chất khiến giảm hòa tan struvit, tạo điều kiện hình thành sỏi. Người ta thấy sự xuất hiện sỏi struvite hầu như luôn luôn đi kèm với tình trạng tắc nghẽn hay nhiễm trùng đường tiểu. Vì thế, trong trường hợp này, việc dùng kháng sinh được xem là một bước bắt buộc, không thể thiếu trong quá trình điều trị bệnh sỏi thận.

Sỏi axit uric
Sỏi axit uric thường gặp ở những người có nồng độ axit uric cao, chiếm khoảng 10% các trường hợp sỏi thận. Sỏi axit uric không cứng và cũng không dễ phát hiện bằng tia X như sỏi canxi. vì thế dễ chua benh than khác mà không biết, không xác định được đúng bệnh, làm bệnh trầm trọng thêm, gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Nguyên nhân là do nước tiểu quá bão hòa acid uric tạo điều kiện gây sỏi urat và thường có tăng acid uric niệu đi kèm. Sỏi acid uric gặp trong tăng acid uric máu, bệnh gout, trong một số trường hợp di truyền, béo phì, những người tiểu đường kháng insulin Người bệnh nên có những xét nghiệm về bệnh mắc kèm và cần giảm ăn những thức ăn quá nhiều đạm.

Sỏi cystin

Sỏi cystin rất hiếm, hình thành do cystin bị đào thải nhiều qua thận nhưng ít hòa tan nên dễ đọng thành sỏi. Trong các loại sỏi thì sỏi cystin có tính di truyền rõ rệt nhất. Những người với tiền sử gia đình có người mắc bệnh có nguy cơ cao bị mắc loại sỏi này.
Tùy thuộc vào từng loại sỏi, kích thước lớn hoặc nhỏ của sỏi mà các bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp. Các loại sỏi nhỏ, sỏi bùn, sạn thận, bệnh nhân được chỉ định thuốc uống bào mòn sỏi, khi sỏi nhỏ đến một mức độ nhất định sẽ theo đường nước tiểu ra ngoài. Những loại sỏi lớn, kết hợp thuốc và các phương pháp y học hiện đại: tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi qua da, mổ nội soi, tán sỏi ngược dòng...
Đồng thời, bệnh nhân cần biết cấu tạo, phân chất sỏi của mình để có biện pháp ăn uống, sinh hoạt phòng bệnh tái phát.

Hiện nay có rất nhiều phương pháp và thuốc chữa bệnh hiệu quả như thuốc nam chữa sỏi thận, các loại thảo dược... vừa chữa khỏi bệnh mà tốt cho sức khỏe nữa. Để việc chữa trị đạt kết quả tốt, hãy tới các trung tâm chuyên khoa uy tín và chất lượng để được tư vấn và điều trị.
Chia sẻ cách chữa yếu sinh lý nam, xuất tinh sớm, liệt dương và các bài tập chữa thoát vị đĩa đệm 
Đăng nhập để trả lời
0
Tổng quan về bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống

Nếu chỉ dựa vào những cảm giác đau nhức, khó chịu ở lưng, nhiều người sẽ nhầm lẫn và điều trị nhầm qua những căn bệnh cột sống khác, mà không phải là bệnh thoát vị đĩa đệm như chua benh voi hoa cot song, hay thoái hóa khớp... Vì vậy, bài viết này sẽ tổng hợp đầy đủ những dấu hiệu, triệu chứng của căn bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống này.

1. Đại cương.
1.1. Định nghĩa.
Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh sống. Về giải phẫu bệnh có sự đứt rách vòng sợi, về lâm sàng gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình.
1.2. Bệnh căn và bệnh sinh.
- Yếu tố dịch tễ học:
+ Về giới: nam nhiều hơn nữ, thường chiếm tới 82%.
+ Tuổi: thường xảy ra ở lứa tuổi lao động từ 20-49 chiếm tới trên 90%.
+ Vị trí hay gặp: thường xảy ra ở đĩa đệm L4-L5 và L5-S1, do hai đĩa đệm này là bản lề vận động chủ yếu của cột sống.
+ Nghề nghiệp: đa số là những người lao động chân tay nặng nhọc.
- Yếu tố chấn thương: là nguyên nhân hàng đầu. Trong đó chấn thương cấp tính, mạn tính và vi chấn thương đều là những nguyên nhân gây ra thoát vị đĩa đệm. Tuy nhiên chấn thương gây ra thoát vị đĩa đệm chỉ phát sinh khi bệnh nhân bị bệnh lý hư xương sụn cột sống thắt lưng hoặc thoái hóa đĩa đệm.
- Thoái hóa đĩa đệm: đĩa đệm có thể bị thoái hóa sinh lý (lão hóa) hay thứ phát đến một mức độ nào đó sẽ không chịu đựng được một lực chấn thương nhẹ hay một tác động của tải trọng nhẹ cũng có thể gây thoát vị đĩa đệm.
- Những yếu tố gây nên thoát vị đĩa đệm:
+ áp lực trọng tải cao.
+ áp lực căng phồng của tổ chức đĩa đệm cao.
+ Sự lỏng lẻo trong từng phần với sự tan rã của tổ chức đĩa đệm.
+ Lực đẩy, nén ép, xoắn vặn quá mức vào đĩa đệm cột sống.
Nói tóm lại có thể khái quát, thoái hóa đĩa đệm là nguyên nhân cơ bản, tác động cơ học là nguyên nhân khởi phát và sự phối hợp của hai yếu tố đó là nguồn phát sinh thoát vị đĩa đệm. Muốn điều trị thoát vị ở trường hợp này, cần điều trị căn nguyên trước là dùng thuoc chua thoai hoa khop, tập vận động, bổ sung chất dinh dưỡng cho khớp thoái hóa.
1.3. Phân loại thoát vị đĩa đệm.
1.3.1. Phân loại theo sự liên quan với rễ thần kinh và tủy sống.
Rothman và Marvel đã chia thoát vị đĩa đệm ra sau thành 3 loại:
- Loại thoát vị trung tâm chủ yếu chèn ép tủy sống gây bệnh lý tủy.
- Loại thoát vị cạnh trung tâm chèn ép cả tủy và rễ thần kinh gây ra bệnh lý tủy rễ.
- Loại thoát vị cạnh bên còn gọi là thoát vị lỗ ghép chủ yếu chèn ép rễ thần kinh gây ra bệnh lý rễ.
Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong lâm sàng.
1.3.2. Phân loại theo liên quan với dây chằng dọc sau.
Wegeber chia các thoát vị đĩa đệm thành 2 loại:
- Thoát vị nằm trước dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau còn nguyên vẹn chưa bị rách.
- Thoát vị qua dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau bị rách, khối thoát vị chui qua chỗ rách vào trong ống sống.
Wood chia thoát vị đĩa đệm làm 4 loại dựa trên sự tương quan giữa khối thoát vị với vòng sợi, và dây chằng dọc sau:
- Loại 1: phồng đĩa đệm (normal bulge), vòng sợi chưa bị rách hết, nhân nhày vẫn còn nằm trong vòng sợi nhưng lệch vị trí.
- Loại 2: lồi đĩa đệm hay dạng tiền thoát vị (protrusion), khối thoát vị đã xé rách vòng sợi nằm ở trước dây chằng dọc sau.
- Loại 3: thoát vị thực thụ (extrusion), khối thoát vị đã chui qua dây chằng dọc sau, nhưng còn dính liền với phần nhân nhày nằm phía trước.
- Loại 4: thoát vị đĩa đệm có mảnh rời (sequestration), là có một phần khối thoát vị tách rời khỏi phần đĩa đệm nằm trước dây chằng dọc sau, có thể di trú đến mặt sau thân đốt sống. Mảnh rời này thường nằm ngoài màng cứng, nhưng đôi khi xuyên qua màng cứng gây chèn ép tủy.
Cách phân loại này liên quan chặt chẽ đến chỉ định và kết quả điều trị. Vì tỷ lệ bệnh nhân có phồng và lồi đĩa đệm tuy rất cao nhưng không nhất thiết phải điều trị phẫu thuật. Ngược lại, kết quả phẫu thuật lại đạt cao nhất ở nhóm thoát vị có mảnh rời và tiếp đến là thoát vị đĩa đệm thực thụ.
Ngoài ra còn có kiểu phân loại thoát vị theo vị trí: ra sau, ra trước, vào thân đốt (thoát vị Schmol).
2. Triệu chứng.
2.1. Lâm sàng.
- Hoàn cảnh phát bệnh: thường xuất hiện sau một chấn thương hay gắng sức của cột sống.
- Tiền sử: thường bị đau thắt lưng tái phát nhiều lần.
- Tiến triển: bệnh thường phát triển theo 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn đau cấp: Là giai đoạn đau lưng cấp xuất hiện sau một chấn thương hay gắng sức. Về sau mỗi khi có những gắng sức tương tự thì đau lại tái phát. ở giai đoạn này có thể có những biến đổi của vòng sợi lồi ra sau, hoặc toàn bộ đĩa đệm lồi ra sau mà vòng sợi không bị tổn thương.
+ Giai đoạn chèn ép rễ: Đã có những biểu hiện của kích thích hay chèn ép rễ thần kinh, xuất hiện các triệu chứng của hội chứng rễ: đau lan xuống chi dưới, đau tăng khi đứng, đi, hắt hơi, rặn... nằm nghỉ thì đỡ đau. ở giai đoạn này vòng sợi đã bị đứt, một phần hay toàn bộ nhân nhầy bị tụt ra phía sau (thoát vị sau hoặc sau bên), nhân nhầy chuyển dịch gây ra chèn ép rễ. Bên cạnh đó, những thay đổi thứ phát của thoát vị đĩa đệm như: phù nề các mô xung quanh, ứ đọng tĩnh mạch, các quá trình dính... làm cho triệu chứng bệnh tăng lên. Biểu hiện lâm sàng điển hình với hai hội chứng: cột sống và rễ thần kinh.
Ở các giai đoạn mới bắt đầu, cần phát hiện, thăm khám và dieu tri benh thoat vi dia dem kịp thời, càng sớm càng tốt, để tránh bệnh nặng lên, việc chữa trị sẽ rất khó khăn.
- Các hình thức thoát vị đĩa đệm:
+ Thoát vị đĩa đệm thành một khối: do gấp mạnh cột sống thắt lưng nên một phần lớn hay cả khối nhân bị lồi xuyên qua dây chằng dọc sau. Về triệu chứng do chèn ép rễ đột ngột nên sớm xuất hiện liệt cơ và rối loạn cơ vòng.
+ Thoát vị đĩa đệm hai bên: phía sau của vòng sợi có thể bị hư ở cả hai bên làm các mảnh vỡ nhân nhầy lồi ra cả hai bên cùng một lúc hoặc hai lần khác nhau, do đó bệnh nhân có thể bị đau cả hai bên cách nhau hoặc cùng một lúc.
+ Thoát vị đĩa đệm nhiều nơi (đa tầng), những không nhất thiết phải ở các đĩa đệm kế bên, và cùng một bên.
+ Thoát vị đĩa đệm nhân nhầy bị kẹt: nhân nhầy lồi qua vòng sợi có thể bị kẹt giữa các mép thân đốt sống kề nhau gây cơn đau đột ngột ở vùng thắt lưng. Đau tăng khi vận động cột sống, có thể kèm theo đau dây thần kinh hông to nặng. Đau có thể biến mất đột ngột khi nhân nhầy hết bị kẹt.
2.2. Cận lâm sàng.
2.2.1. X quang thường (thẳng - nghiêng): Tam chứng Barr:
- Gẫy góc cột sống thắt lưng.
- Xẹp đĩa đệm.
- Mất ưỡn cong sinh lý.
2.2.2. Chụp X quang bao rễ cản quang.
Dùng các thuốc cản quang có Iod, không ion hóa, không độc với tủy sống (như Amipaque, Lipamiro...) bơm vào bao rễ thần kinh, rồi chụp phim thẳng, nghiêng và chếch 3/4 phải và trái.
Trên phim chụp bao rễ, ta thấy hình ảnh bao rễ bị chèn ép có thể cắt cụt một rễ hay toàn bộ bao rễ. Đôi khi chỉ thấy dấu hiệu “đồng hồ cát” hoặc các trường hợp chèn ép bao rễ nhẹ. Đồng thời chúng ta có thể biết được chính xác vị trí đĩa đệm thoát vị, và thể thoát vị ra sau hay sau bên (hình 6.7).

2.2.3. Chụp cộng hưởng từ (MRI).
Chụp cộng hưởng từ (MRI): là xét nghiệm số 1 để đánh giá về cột sống đặc biệt là trong chẩn đoán thoát vị đĩa đệm, cho phép loại trừ các tổn thương bên trong tủy sống: trên ảnh MRI tổ chức có nhiều nước bị giảm tín hiệu trên ảnh T1 và tăng tín hiệu trên ảnh T2. Đĩa đệm bình thường có ranh giới rõ, giảm tín hiệu trên T và tăng tín hiệu trên T2 do có nhiều nước. Các đĩa đệm thoái hóa do không có nước nên trên T2 tín hiệu không tăng so với các đĩa đệm khác. Khối đĩa đệm thoát vị là phần đồng tín hiệu với đĩa đệm và nhô ra phía sau so với bờ sau thân đốt sống và không ngấm thuốc đối quang từ. Các ảnh cắt dọc giúp đánh giá toàn bộ cột sống, vị trí và số tầng thoát vị. Các ảnh cắt ngang cho thấy các kiểu thoát vị (trung tâm, cạnh trung tâm và lỗ ghép). Phối hợp hình ảnh cắt dọc và ngăng đánh giá được mức độ thoát vị chèn ép vào tuỷ sống và rễ thần kinh, gây đè ép khoang dịch não tủy và phù tủy cùng mức. Các chi tiết về xương trên MRI cho hình ảnh không rõ lắm.

3. Chẩn đoán

Dựa vào những đặc điểm của bệnh để đưa ra những chẩn đoán chính xác nhất, nhằm áp dụng những phương pháp và thuoc chua benh thoat vi dia dem phù hợp, có 2 hình thức để chẩn đoán chính như sau:

3.1. Chẩn đoán xác định.
- Lâm sàng: theo Saporta (1970) nếu có 4 triệu chứng trở lên trong số 6 triệu chứng sau:
(1) Có yếu tố chấn thương.
(2) Đau cột sống thắt lưng lan theo rễ, dây thần kinh hông to.
(3) Đau tăng khi ho, hắt hơi, rặn.
(4) Có tư thế giảm đau: nghiêng người về một bên làm cột sống thắt lưng bị vẹo.
(5) Có dấu hiệu chuông bấm.
(6) Dấu hiện Lasègue (+).
- Cận lâm sàng: X quang thường có tam chứng Barr, chụp bao rễ cản quang có hình ảnh chèn ép, chụp cộng hưởng từ thấy rõ hình ảnh đĩa đệm thoát vị.
3.2. Chẩn đoán định khu.
- Rễ L1-2: đau vùng bẹn và mặt trong đùi, yếu cơ thắt lưng - chậu.
- Rễ L3-4: đau mặt trước đùi, yếu cơ tứ đầu đùi và giảm phản xạ gối.
- Rễ L5: đau mặt ngoài đùi và cẳng chân, tê mu bàn chân và ngón cái.
- Rễ S1: đau mặt sau ngoài đùi, cẳng chân, tê ngón út, giảm phản xạ gót.
- Rễ S2: đau mặt sau trong đùi, cẳng chân, gan chân, yếu cơ bàn chân.
- Rễ S3, S4, S5: đau vùng "yên ngựa" đáy chậu, yếu cơ tròn tiểu tiện.

Thực tế hiện nay chưa có thuốc đặc trị các bệnh về xương khớp, các loại thuốc được sử dụng để chữa trị những căn bệnh này như thuoc chua benh viem da khop dang thap, thoái hóa khớp, thoát vị đĩa đệm, vôi hóa cột sống... chủ yếu là các loại thuốc chống viêm, giảm đau, rất có hại cho cơ thể. Vì vậy cần tăng cương phòng chống bệnh xương khớp, khi có bệnh cần phát hiện sớm để điều trị. Bệnh cần có sự kiên trì, ngoài việc sử dụng thuốc, điều quan trọng nhất cần áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu, vận động, để xương khớp được linh hoạt.
Chia sẻ cách chữa yếu sinh lý nam, xuất tinh sớm, liệt dương và các bài tập chữa thoát vị đĩa đệm 
Đăng nhập để trả lời
0